1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG và một số yếu tố LIÊN QUAN đến sử DỤNG NHÀ TIÊU hợp vệ SINH ở NGƯỜI dân tộc THIỂU số DI cư, xã LONG sơn, HUYỆN đăk MIL, TỈNH đăk NÔNG, năm 2019

115 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 3,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân tộc thiểu số tại xã Long Sơn, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, năm 2019 .... Một số yếu tố liên quan đến tiếp cận và sử dụn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TỐNG NGỌC LÂM

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SỬ DỤNG NHÀ TIÊU HỢP VỆ SINH Ở NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ DI CƯ, XÃ LONG SƠN, HUYỆN ĐĂK MIL,

TỈNH ĐĂK NÔNG, NĂM 2019 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

Hà Nội-2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TỐNG NGỌC LÂM

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SỬ DỤNG NHÀ TIÊU HỢP VỆ SINH Ở NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ DI CƯ, XÃ LONG SƠN, HUYỆN ĐĂK MIL,

TỈNH ĐĂK NÔNG, NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

DANH MỤC HÌNH vi

TÓM TẮC NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm và tiêu chuẩn các loại Nhà tiêu hợp vệ sinh 4

1.1.1 Một số khái niệm trong nghiên cứu 4

1.1.2 Một số loại Nhà tiêu hợp vệ sinh và tiêu chuẩn vệ sinh trong sử dụng 5

1.2 Tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh 7

1.2.1 Trên thế giới 7

1.2.2 Tại Việt Nam 8

1.3 Một số yếu tố liên quan đến tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh 9

1.3.1 Chính sách của nhà nước và hỗ trợ các tổ chức tư nhân 9

1.3.2 Yếu tố xã hội/cộng đồng 12

1.3.3 Yếu tố cá nhân và gia đình 13

1.3.4 Yếu tố nhận thức 14

1.3.5 Điều kiện thuận lợi 14

1.3.6 Điều kiện thời tiết 15

1.4 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu 15

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.3 Thiết kế nghiên cứu 20

2.4 Cỡ mẫu 21

2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng 21

Trang 4

2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính 21

2.5 Phương pháp chọn mẫu 21

2.5.1 Chọn mẫu nghiên cứu định lượng 21

2.5.2 Chọn mẫu định tính: 21

2.6 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu nghiên cứu 22

2.6.1 Công cụ thu thập số liệu 22

2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu: 23

2.6.3 Quy trình thu thập số liệu 24

2.7 Các biến số nghiên cứu 25

2.7.1 Nhóm biến đặc điểm dân số học 25

2.7.2 Nhóm biến về việc thực trạng tiếp cận Nhà tiêu hợp vệ sinh 25

2.7.3 Nhóm biến về thực trạng sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh 25

2.7.4 Nhóm biến về điều kiện tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh 25

2.8 Các khái niệm, Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 27

2.8.1 Tiêu chí đánh giá Nhà tiêu hợp vệ sinh 27

2.8.2 Tiêu chí đánh giá kiến thức chung 28

2.8.3 Tiêu chuẩn đánh giá kinh tế hộ gia đình 29

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 29

2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu và gia đình 30

3.2 Thực trạng tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân tộc thiểu số tại xã Long Sơn, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, năm 2019 32

3.2.1 Thực trạng về tiếp cận Nhà tiêu hợp vệ sinh 32

3.2.2.Tình trạng sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh 35

3.3 Một số yếu tố liên quan đến tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân tộc thiểu số tại xã Long Sơn, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông 37

3.3.1 Các chính sách của địa phương 37

3.3.2 Yếu tố xã hội/cộng đồng 40

3.3.3 Yếu tố cá nhân và gia đình 43

Trang 5

3.3.4 Yếu tố năng lực và nhận thức của chủ hộ 46

3.3.5 Điều kiện thuận lợi 47

3.3.6 Điều kiện thời tiết 48

3.3.7 Một vài nguyên nhân không tiếp cận và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh 48

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 50

4.1 Thực trạng về Nhà tiêu hợp vệ sinh 50

4.1.1 Thực trạng về tiếp cận Nhà tiêu hợp vệ sinh 50

4.1.2 Tình hình sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh 52

4.2 Một số yếu tố liên quan về tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu HVS 53

4.2.1 Chính sách của nhà nước trong việc hỗ trợ tiếp cận và sử dụng NT HVS 53

4.3 Những hạn chế trong nghiên cứu: 56

5 1 Kết luận 57

5.1.1 Thực trạng tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân tộc thiểu số tại xã Long Sơn, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, năm 2019 57

5.1.2 Yếu tố liên quan đến tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân tộc thiểu số tại xã Long Sơn, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông 57

KHUYẾN NGHỊ 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

PHỤ LỤC 64

Phụ lục 1: Tổng hợp kết quả đánh giá các loại nhà tiêu hộ gia đình 64

Phụ lục 2: PHIẾU ĐIỀU TRA HGĐ 69

Phụ lục 3: BẢNG KIỂM NHÀ TIÊU 73

Phụ lục 4 HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU VÀ THẢO LUẬN NHÓM 77

HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU 79

CÁN BỘ LÃNH ĐẠO/CHUYÊN TRÁCH CẤP XÃ 79

HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU LÃNH ĐẠO THÔN 81

BỘ CÔNG CỤ HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM 83

Phụ lục 5: PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN THỨ CẤP 85

Phụ lục 6 Biến số, định nghĩa, phân loại và thu thập thông tin biến định lượng 88

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Thông tin chung chủ hộ gia đình 30

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thôn 31

Bảng 3.3 Thông tin về tình hình gia đình của đối tượng nghiên cứu 32

Bảng 3.4 Thực trạng HGĐ có Nhà tiêu và nhà tiêu HVS theo thôn 32

Bảng 3.5 Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng NT HVS trên tổng HGĐ 35

Bảng 3.6 Thực trạng về sử dụng NT HVS trên tổng số hộ có nhà tiêu 35

Bảng 3.7 Tỷ lệ sử dụng NT HVS trên số hộ có NT HVS 35

Bảng 3.8 Những tiêu chí không đạt của loại nhà tiêu tự hoại 36

Bảng 3.9 Tiêu chí không đạt đối với loại nhà tiêu thấm dội nước 36

Bảng 3.10 Những tiêu chí không đạt của loại nhà tiêu hai ngăn 37

Bảng 3.11 Yếu tố về sự hỗ trợ của địa phương với tiếp cận nhà tiêu hợp vệ sinh của hộ gia đình 39

Bảng 3.12 Yếu tố về sự hỗ trợ của chính quyền địa phương với sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh 40

Bảng 3.13 Thành phần dân tộc trên địa bàn xã Long Sơn ghi nhận tại thời điểm nghiên cứu 40

Bảng 3.14 Yếu tố dân tộc với tiếp cận nhà tiêu hợp vệ sinh 41

Bảng 3.15 Yếu tố cộng đồng dân tộc với việc sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh 41

Bảng 3.16 Yếu tố về thời gian làm nương/rẫy xa nhà với tiếp cận nhà tiêu hợp vệ sinh 42

Bảng 3.17 Điều kiện làm nương/rẫy xa nhà với sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh 42

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa đặc điểm của chủ hộ có Nhà tiêu HVS 43

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa đặc điểm hộ gia đình với có Nhà tiêu hợp vệ sinh 44 Bảng 3.20 Mối liên quan đặc điểm chủ hộ có NT HVS với sử dụng NT HVS 44

Bảng 3.21 Mối liên quan giữa đặc điểm HGĐ với việc sử dụng NT HVS 45

Bảng 3.22 Mối liên quan về năng lực chủ hộ với Nhà tiêu HVS 46

Bảng 3.23 Mối liên quan kiến thức về nhà tiêu và phòng bệnh với sử dụng Nhà tiêu 47

Trang 8

Bảng 3.24 Mối liên quan giữa đặc điểm thuận lợi của gia đình với sử dụng NT HVS 47 Bảng 3.25 Mô tả nguyên nhân chính người dân không tiếp cận NT HVS 48 Bảng 3.26 Nguyên nhân không sử dụng Nhà tiêu 49

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ cơ cấu các loại Nhà tiêu HVS 33 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ % hộ gia đình có Nhà tiêu hợp vệ sinh của xã Long Sơn, huyện Đăk Mil giai đoạn 2015-2019 (theo báo cáo trạm y tế xã) 34 Biểu đồ 3.3 Về số lượng nhà tiêu xây mới trong giai đoạn 2015-2019 (theo báo cáo trạm y tế xã) 38

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Khung lý thuyết 18

Trang 9

Tóm tắt nghiên cứu

Tiếp cận và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh là nhu cầu cơ bản của con người Vấn đề này không được giải quyết tốt là nguyên nhân 41% trẻ em dưới 5 tuổi bị thấp còi và thấp hơn 3,7cm so với nhóm sống vùng tỷ lệ người sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh đầy đủ Từ tháng 12/2018 đến tháng 8/2019, nhóm tác giả đã phỏng vấn 286 chủ

hộ gia đình là người dân tộc thiểu số ở phía Bắc nhưng sinh sống tại Đăk Nông

Phương pháp nghiên cứu: Với thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích và

xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS

Kết quả, bàn luận: Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh 38.8% cao hơn

so với nhóm dân tộc Dao ở Tuyên Quang và dân tộc Raglai ở Ninh Thuận Những yếu tố liên quan chủ yếu là trình độ học vấn, kinh tế hộ gia đình

Kiến nghị: Qua đó cho thấy nâng cao trình độ học vấn và kinh tế hộ gia đình

là giải pháp bền vững giúp cải thiện tiếp cận và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh

Từ khóa: Nhà tiêu hợp vệ sinh, dân tộc thiểu số, Đăk Nông, yếu tố liên quan

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay trên thế giới, vẫn còn 4,5 tỷ người không tiếp cận với Nhà tiêu hợp

vệ sinh (NT HVS), trong đó có khoảng 2,3 tỷ người không có Nhà tiêu (NT) Việc không kiểm soát được ô nhiễm môi trường do phân người gây ra là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hàng tỷ người mắc các bệnh truyền nhiễm hàng năm Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính, khi đầu tư 1 đô la cho cải thiện điều kiện vệ sinh, bao gồm cả sử dụng NT HVS sẽ giảm gần 6 lần chi phí y tế cho các bệnh dịch và giảm khoảng 890 nghìn người tử vong hằng năm[45]

Tại Việt Nam, nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội và gia đình về ý nghĩa và tầm quan trọng của các hoạt động vệ sinh nói chung đối với sức khoẻ, hạnh phúc của mỗi người dân, mỗi gia đình đối với sự phát triển bền vững của đất nước, dân tộc Việt Nam Từ ngày 19 tháng 6 năm 2012, Chính phủ đã lấy ngày 02 tháng 7 hàng năm là “Ngày Vệ sinh yêu nước nâng cao sức khỏe nhân dân”[17]; Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tỷ

lệ hộ gia đình (HGĐ) tiếp cận Nhà tiêu hợp vệ sinh ở nông thôn là 67%, tỷ lệ phóng

uế bừa bãi mức 2%[30] Tuy nhiên, việc tiếp cận và sử dụng NT HVS có sự khác nhau giữa các vùng miền, đặt biệt là vùng có nhiều người dân tộc thiểu số (DTTS) so với các vùng còn lại Tỷ lệ phóng uế bừa bãi ở Miền Núi phía Bắc - Tây Nguyên là 21%, nhưng riêng ở nông thôn của vùng này tới 31%, ở khu vực nhiều DTTS là 39%

và tỷ lệ HGĐ có Nhà tiêu không HVS ở đây lên đến 47% [30]

Việc thiếu tiếp cận các dịch vụ vệ sinh cơ bản, hành vi vệ sinh kém làm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy, nhiễm giun sán tăng cao và được xem là nguyên nhân đứng thứ hai phát sinh bệnh truyền nhiễm ở vùng miền núi phía Bắc của Việt Nam Minh chứng cho thấy chứng tiêu chảy và bệnh đường ruột mãn tính ở trẻ em có mối liên quan do yếu tố về môi trường với thiếu điều kiện vệ sinh, đã ảnh hưởng rất lớn đến phát triển của trẻ, với 41% trẻ em DTTS dưới 5 tuổi bị thấp còi Một trẻ em 5 tuổi sống ở vùng

mà cộng đồng ít sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh thì có chiều cao của trẻ đó thấp hơn 3,7cm so với một đứa khác trẻ sống ở cộng đồng tất cả mọi người sử dụng NT HVS[30]

Trang 11

Đăk Mil là một huyện của tỉnh Đăk Nông và Long Sơn là xã khó khăn nhất của huyện này, dân số khoảng 2.600 người với 375 hộ gia đình sống tại 4 thôn; 92,5%

là tộc thiểu số chủ yếu là Tày, Nùng và Dao[32], toàn xã có 25,3% hộ nghèo hộ cận nghèo, tỷ lệ hộ gia đình (HGĐ) có NT HVS khoảng 36%, thấp nhất của huyện Đăk Mil Thời gian qua, Ủy ban nhân dân huyện đã chỉ đạo ưu tiên cho những HGĐ nghèo, cận nghèo vay vốn ngân hàng chính sách để xây dựng công trình nước sạch và Nhà tiêu hợp vệ sinh Tuy nhiên, vấn đề NT HVS ở đây vẫn chưa cải thiện vì số hộ vay

sử dụng cho mục đích này rất hạn chế Cùng lúc này, từ năm 2012 đến 2017, bằng nhiều nguồn lực từ tư nhân, nhà nước đã hỗ trợ 150 NT HVS cho người dân ở đây nhưng theo phản ảnh của y tế thôn, bon thì số Nhà tiêu này lại rất ít được sử dụng đúng mục đích và xuống cấp hư hỏng Vậy những rào cản ảnh hướng việc tiếp cận và

sử dụng NT HVS ở cộng đồng dân cư ở đây là gì? Để giúp các nhà quản lý tìm được câu trả lời và có giải pháp cải thiện phù hợp cải thiện tình trạng đi tiêu tự do ngoài môi trường, từng bước nâng cao sức khỏe cho người dân tộc thiểu số là nội dung cấp

thiết Từ vấn đề thực tế tại địa phương, Tôi đã chọn đề tài nghiên cứu đánh giá “thực trạng và một số yếu tố liên quan đến sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh ở người dân tộc thiểu số di cư, xã long sơn, huyện đăk mil, tỉnh đăk nông, năm 2019

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân tộc thiểu

số di cư tại xã Long Sơn, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, năm 2019

2 Xác định yếu tố liên quan đến tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân tộc thiểu số di cư tại xã Long Sơn, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông năm 2019

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm và tiêu chuẩn các loại Nhà tiêu hợp vệ sinh

1.1.1 Một số khái niệm trong nghiên cứu

Nhà tiêu là hệ thống thu nhận, xử lý tại chỗ phân và nước tiểu của con người[24] Vệ sinh ở đây được hiểu là các hoạt động liên quan đến thu gom và xử lý phân người một cách an toàn, cụ thể là liên quan đến NT HVS của hộ gia đình Thu gom phân người một cách an toàn có nghĩa là thu gom và làm cô lập được phân người

và môi trường xung quanh Xử lý phân người an toàn nghĩa là tiêu diệt hầu hết các mầm bệnh, trứng giun sán có trong phân, làm cho phân trở nên an toàn đối với môi trường và con người[26]

Nhà tiêu hợp vệ sinh là Nhà tiêu bảo đảm cô lập được phân người, ngăn không cho phân chưa được xử lý tiếp xúc với động vật, côn trùng Có khả năng tiêu diệt được các mầm bệnh có trong phân, không gây mùi khó chịu và làm ô nhiễm môi trường xung quanh[24]

Phóng uế bừa bãi (đi tiêu tự do) là hành vi của con người đại tiện trực tiếp ra ngoài môi trường sống, dẫn đến ô nhiễm đất và nguồn nước Vì vậy sử dụng Nhà tiêu tạm (như hố đào, cầu tiêu ao cá ) cũng được xem nhà tiêu không hợp vệ sinh là đi tiêu tự do[26]

Tiếp cận là tiến sát gần, đến gần để tiếp xúc sự vật, đối tượng một cách từng bước bằng những phương pháp nhất định, tìm hiểu một hiện tượng, công việc đang được quan tâm[8] Theo các khái niệm về tiếp cận và Nhà tiêu hợp vệ sinh, thì tiếp cận NT HVS nghĩa là cách thức mà những người trong cùng một gia đình dễ dàng tiếp xúc thường xuyên được với NT HVS, khi phát sinh nhu cầu, trong thời gian sinh hoạt tại nhà Hay nói cách khác đó là luôn tồn tại tình trạng NT HVS ở hộ gia đình, tính trên cộng đồng sẽ là tỷ lệ độ bao phủ NT HVS ở tại cộng đồng

Sử dụng là lấy một vật, phương pháp hoặc cách thức nào đó làm phương tiện

để phục vụ cho nhu cầu, mục đích nào đó[8] Trong nghiên cứu này, sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh là cách thức của một người thường xuyên dùng NT HVS của gia

Trang 14

đình hoặc NT HVS dùng chung (có trên 02 hộ gia đình sử dụng cùng 1 Nhà tiêu) khi

có nhu cầu Việc sử dụng nhà tiêu phải đảm bảo theo đúng công năng của Nhà tiêu

và hướng dẫn của nhà chuyên môn, nhà sản xuất khuyến cáo

Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Vùng dân tộc thiểu số

là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Mỗi dân tộc có tên gọi riêng, xác định theo tiêu chí được pháp luật công nhận, phù hợp với nguyện vọng của đồng bào dân tộc Thành phần dân tộc do cơ quan có thẩm quyền quyết định và công bố theo quy định của pháp luật[15] Tại địa bàn nghiên cứu này có các dân tộc thiểu số

từ các tỉnh phía Bắc vào sinh sống gồm: Tày, Nùng, Dao

1.1.2 Một số loại Nhà tiêu hợp vệ sinh và tiêu chuẩn vệ sinh trong sử dụng

Cấu tạo chung của Nhà tiêu gồm 3 phần chính: (1) Phần bể chứa phân là nơi chứa phân thải và xử lý, kích thước và cấu tạo chi tiết phụ thuộc vào loại Nhà tiêu và

số lượng người sử dụng Nhà tiêu đó (2) Phần bệ là nơi người ngồi đi vệ sinh (3) Phần tường và mái che giúp che nắng, mưa và sự kín đáo cho người đi vệ sinh Cấu tạo và vật liệu xây dựng Nhà tiêu phụ thuộc vào nhu cầu và đặc điểm kinh tế hộ gia đình Trong 3 phần này, phần bể chứa và xử lý phân là quan trọng nhất vì nếu phần

bệ và phần che rất tốt, rất hiện đại nhưng phần hố chứa không kín, không xử lý được phân, để ruồi nhặng, côn trùng tiếp xúc trực tiếp với phân thì vẫn xem là không hợp

vệ sinh[2]

Trên thế giới có một số cách phân loại Nhà tiêu: (1) phân loại theo nguyên

lý xử lý phân gồm (Nhà tiêu tự hoại, Nhà tiêu tự thấm và Nhà tiêu khô) (2) phân loại Nhà tiêu có liên quan đến việc dùng nước (Nhà tiêu dùng nước dội và Nhà tiêu không dùng nước dội) Theo phân loại Nhà tiêu liên quan đến dùng nước, Bộ Y tế phân loại các Nhà tiêu hợp vệ sinh tương ứng theo từng nhóm như sau Đối với nhóm các loại Nhà tiêu không dùng nước gồm: Nhà tiêu chìm có ống thông hơi, Nhà tiêu hai ngăn sinh thái, Nhà tiêu hai ngăn sinh thái Vinasanres, Nhà tiêu hai ngăn ủ phân bằng năng lượng mặt trời, Nhà tiêu hai ngăn ủ phân bằng năng lượng mặt trời có phần trên di động, Nhà tiêu 3 ngăn ủ phân với rác thải hữu cơ Đối với nhóm các loại Nhà tiêu

Trang 15

dùng nước dội gồm: Nhà tiêu thấm dội nước 1 ngăn chứa, Nhà tiêu thấm dội nước 2 ngăn chứa, Nhà tiêu thấm dội nước với bể tự hoại, Nhà tiêu với bể tự hoại có ngăn lọc hiếu khí, Nhà tiêu bể tự hoại có ngăn lọc kỵ khí, Nhà tiêu với bể tự hoại có ngăn mỏng dòng hướng lên, Nhà tiêu vượt lũ có bể tự hoại bằng bê tông cốt thép, Nhà tiêu vượt lũ có bể tự hoại bằng nhựa composite, Nhà tiêu vượt lũ với bể tự hoại bằng nhựa composite có ngăn lọc và bể khí sinh học (biogas) quy mô gia đình[25] Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, xin đề cập đến các loại Nhà tiêu đang sử dụng phổ biến trên địa bàn tỉnh Đăk Nông gồm:

1.1.2.2 Nhà tiêu khô nổi

Là loại Nhà tiêu khô, có bể chứa phân xây dựng nổi trên mặt đất, yêu cầu về

vệ sinh trong sử dụng và bảo quản, gồm: Sàn Nhà tiêu phải đảm bảo khô, sạch, không

có mùi hôi, thối, không có ruồi, nhặng, gián trong, không để vật nuôi có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với phân, không làm phát sinh bọ gậy Giấy vệ sinh sau khi sử dụng phải

bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứa giấy bẩn có nắp đậy; Phân phải được ủ kỹ trên 6 tháng mới đưa ra sử dụng làm phân bón cho cây trồng Đối với có từ hai ngăn trở lên, lỗ tiêu ngăn đang sử dụng luôn được đậy kín, các ngăn

ủ được trát kín

1.1.2.3 Nhà tiêu tự hoại

Là loại dùng nước để dội sau mỗi lần sử dụng, bể chứa và xử lý phân kín, nước thải không thấm ra bên ngoài, phân và nước tiểu được lưu giữ trong bể chứa và được xử lý trong môi trường nước Có yêu cầu về vệ sinh trong sử dụng và bảo quản gồm: Sàn Nhà tiêu, bệ xí sạch, không dính đọng phân, nước tiểu; Không có mùi hôi,

Trang 16

thối, không có ruồi, nhặng, gián trong Nhà tiêu Có đủ nước dội, dụng cụ chứa nước dội không phát sinh bọ gậy, giấy vệ sinh sau khi sử dụng bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy

tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứa giấy bẩn có nắp đậy; Phân bùn phải được lấy khi đầy (nếu tiếp tục sử dụng), bảo đảm vệ sinh trong quá trình lấy, vận chuyển phân bùn, nếu không sử dụng phải được lấp kín

1.1.2.4 Nhà tiêu thấm dội nước

Là loại Nhà tiêu dội nước sau mỗi lần sử dụng, phân và nước đưa vào trong

bể chứa, hố chứa chìm dưới mặt đất có chừa các lỗ thấm để phân và nước tự thấm vào đất theo thời gian Có yêu cầu về vệ sinh trong sử dụng và bảo quản giống như Nhà tiêu tự hoại cụ thể: Sàn Nhà tiêu, bệ xí sạch, không dính đọng phân, nước tiểu; Không có mùi hôi, thối, không có ruồi, nhặng, gián trong Nhà tiêu Có đủ nước dội, dụng cụ chứa nước dội không phát sinh bọ gậy, giấy vệ sinh sau khi sử dụng bỏ vào

lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứa giấy bẩn có nắp đậy; Phân bùn phải được lấy khi đầy nếu tiếp tục sử dụng, bảo đảm vệ sinh trong quá trình lấy, vận chuyển phân bùn, nếu không sử dụng phải được lấp kín

1.2 Tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh

1.2.1 Trên thế giới

Vào năm 2000, các quốc gia thành viên của Liên hiệp quốc đã ký kết Tuyên

bố thiên niên kỷ mà sau này đã được phát triển thành Mục tiêu Thiên niên kỷ Việc

đề ra các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ là một phần quan trọng nhằm chung tay

nỗ lực xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn Trong đó mục tiêu thiên niên kỷ số 7 là đến năm 2015, giảm 50% dân số không tiếp cận nước uống an toàn và vệ sinh cơ bản Tuy nhiên, đến năm 2015, mới chỉ có 39% dân số toàn cầu (2,9 tỷ người) sử dụng NT HVS, và có 68% dân số thế giới (5,0 tỷ người) đang sử dụng các loại Nhà tiêu cải thiện, còn khoảng 2,3 tỷ người đã có Nhà tiêu nhưng không HVS và hơn 800 triệu người vẫn đi tiêu tự do[46] Như vậy, ước tính có trên 8,3 tỷ người trên thế giới chưa tiếp cận với NH HVS Trên thế giới, Australia và New Zealand là khu vực có tỷ lệ bao phủ NT HVS đã đạt 100%, tiếp đến là khu vực Bắc mỹ và Châu Âu là 97%, Đông Nam Á 77% trong khi đó khu vực Trung Á và Bắc Á chỉ 50%; Thấp nhất là khu vực Châu Phi và Saharan mới chỉ đạt 28%[47]

Trang 17

Ở khu vực Châu Á, Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỷ lệ người dân tiếp cận Nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 100%, tiếp đến là Malaysia với 99%, Philippies là 72%[47] Trung Quốc và Ấn Độ là quốc gia có dân số đông của thế giới tuy nhiên tỷ

lệ người dân chưa tiếp cận với Nhà tiêu hợp vệ sinh chiếm rất cao, lần lượt là 36% và 58% (tỷ lệ đi tiêu tự do là 56%) Lào quốc gia láng giềng với Việt Nam có tỷ lệ tiếp cận Nhà tiêu hợp vệ sinh là 60% và vẫn còn 35% dân số đi tiêu tự do[47]

Trong các thống kê cho thấy, ở nhóm các nước đang phát triển có tỷ lệ tiếp cận Nhà tiêu là 68% và cao hơn những nước kém phát triển 32% và người ta ước tính trung bình cứ 10 người đi tiêu tự do, trong đó có 9 người sống ở khu vực nông thôn[47]

1.2.2 Tại Việt Nam

Tính đến năm 2015, toàn quốc có khoảng 89,4% hộ gia đình nông thôn đã tiếp cận với Nhà tiêu, tuy nhiên tỷ lệ hộ gia đình tiếp cận với NT HVS chỉ mới đạt 65% Như vậy, toàn quốc vẫn còn hơn 10% hộ gia đình (HGĐ) nông thôn chưa tiếp cận Nhà tiêu, 35% chưa tiếp cận được với Nhà tiêu hợp vệ sinh và còn khoảng 20 triệu người đi tiêu tự do[28] Trong đó: vùng Đông Nam Bộ cao nhất, tiếp đến Bắc Trung bộ, đồng bằng Sông Hồng, Duyên hải Miền Trung lần lượt là (86,0%, 85,0%, 79,0, 72,0%); ba vùng có độ bao phủ thấp là Tây Nguyên, Miền Núi phía Bắc, Đồng Bằng Sông Cửa Long lần lượt là (61,0%, 58,0%, 57,0%)[28]

Tỷ lệ hộ gia đình tiếp cận NT HVS ở vùng nông thôn giai đoạn 2012 - 2015 năm tăng từ 2-3% (năm 2012 là 57%, 2013 là 60%, năm 2014 là 62% và năm 2015

là 65%)[27], tốc độ tăng tiếp cận của hộ gia đình nông thôn chậm so tiến độ mục tiêu

đề ra tới năm 2025 chấm dứt đi tiêu tự do

Tính tổng chung toàn quốc, hiện nay còn trên 10% hộ gia đình chưa tiếp cận với Nhà tiêu, nhưng ở khu vực nông thôn là 26% và khu vực miền núi phía Bắc – Tây Nguyên con số này tăng lên đến 39% và đặc biệt nhóm hộ gia đình người dân tộc thiểu số chưa tiếp cận Nhà tiêu là 47%[44], cho thấy để tăng tỷ lệ độ bao phủ Nhà tiêu và Nhà tiêu hợp vệ sinh cần quan tâm và thúc đẩy việc tiếp cận Nhà tiêu với người dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số là cần thiết Ở các tỉnh Điện Biên, Lào Cai, ở nhóm dân tộc thiểu số thì người Nùng có tiếp cận Nhà tiêu cao nhất 83,1%,

Trang 18

tiếp đến người Tày 73,5%, Thái 58,1%, thấp nhất là H’Mông 8,9%[7] Đối với các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên tiếp cận Nhà tiêu và Nhà tiêu hợp vệ sinh lần lược là

Ê Đê (32,6%; 4,8%), M’Nông (41,1%; 9,3%) và Ra Glai (23,7%; 2,9%)[9]

Về thực trạng sử dụng Nhà tiêu ở hộ gia đình: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng Nhà tiêu tự hoại chiếm tỷ lệ cao nhất 50%, sử dụng Nhà tiêu thấm dội nước hợp vệ sinh chiếm 12%, Nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ là 6,8% và Nhà tiêu chìm có ống thông hơi là 2,0%[27] Hộ gia đình lựa chọn sử dụng Nhà tiêu tự hoại và thấm dội nước hợp

vệ sinh ở khu vực Miền Đông Nam Bộ là cao nhất 89,3%, tiếp đến là vùng Duyên hải Nam Trung bộ 69,2%, đồng bằng sông Hồng 68,7% thấp nhất là ở các tỉnh Miền núi phía Bắc 38,8%[27]

Đối với loại Nhà tiêu hai ngăn hợp vệ sinh được chọn sử dụng cao nhất ở vùng Bắc trung bộ 16,8%, Miền núi phía Bắc là 14%[27]; Loại Nhà tiêu chìm có ống thông hơi hợp vệ sinh lại được hộ gia đình chọn sử dụng nhiều nhất ở vùng Tây Nguyên 6,6%[27] Đối với nhóm dân tộc thiểu số thì tỷ lệ sử dụng và bảo quản NT HVS chiếm rất thấp, người M’Nông 3,9%, Ê Đê 3,0%, Mường 2,2%, Ra Glai 1,1%, các dân tộc còn lại dưới 2,0%[9]

Tỷ lệ độ bao phủ của NT HVS và tỷ lệ sử dụng NT HVS thường không tương đồng nhau và cứ tăng 10% độ che phủ của nhà NT HVS thì có 5,8% sử dụng NT HVS (Beta = 0,58 95% CI: 0,30, 0,80; p <0,01)[39]

1.3 Một số yếu tố liên quan đến tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh

1.3.1 Chính sách của nhà nước và hỗ trợ các tổ chức tư nhân

1.3.1.1 Trên thế giới

Một trong những yếu tố thuận lợi liên quan đến việc tiếp cận và sử dụng NT HVS đáng kể đến là sự quyết tâm và vào cuộc mạnh của hệ thống chính trị của lãnh đạo quốc gia Đáng kể nhất vào năm 2014, ngài Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi là người đã khởi động dự án “Sứ mệnh Ấn Độ sạch” với mục tiêu loại bỏ hoàn toàn đi tiêu tự do và xây dựng NT HVS cho mọi hộ gia đình vào năm 2019[48] Các hộ gia đình đã nghe nói về chương trình “Sứ mệnh Ấn Độ sạch” và những người biết về chương trình có NT HVS nhiều hơn gấp đôi so với những người không có nghe, không biết về chương trình[36] Sau đó 1 năm (2015), Chủ tịch Trung Quốc, ông Tập

Trang 19

Cận Bình đã đề xuất cuộc cách mạng Nhà tiêu ở khu vực nông thôn đã đòi hỏi sự phối hợp của nhiều cơ quan của chính phủ với quyết tâm phấn đấu đạt 85% NT HVS đến năm 2020 và xóa bỏ đi tiêu tự do vào năm 2030[42]

Trong thời gian qua, một số quốc gia đang phát triển, các khoản đầu tư tài chính cho vệ sinh rất khiêm tốn nhưng đã giảm tới 60% tỷ lệ dân số thiếu tiếp cận NT HVS đó là nhờ vào sự áp dụng khéo léo của đường lối chính trị, để thay đổi hành vi

và các chuẩn mực xã hội Tạo kích cầu xây dựng NT HVS cho cộng đồng nói chung

và đặc biệt là trong những người đang thực hiện đi tiêu tự do tự đầu tư xây dựng NT HVS[38]

Ngoài ra, các tổ chức phi chính phủ là một cấu phần quan trọng thúc đẩy tăng đầu tư về tài chính và kỹ thuật để phát triển cải thiện vệ sinh cơ bản Vào năm 2011, Quỹ Bill và Melinda Gates (BMGF) đã khởi động một chương trình nghiên cứu có tên là Reb Rebvent the toilet Challenge (RTTC), nhằm xây dựng các dịch vụ vệ sinh bền vững và có lợi nhuận tài chính hoạt động trong môi trường đô thị nghèo nàn ở cả hai khu vực phát triển[48]

1.3.1.2 Tại Việt Nam

Chính phủ Việt Nam luôn nổ lực để cải thiện cơ hội tiếp cận và sử dụng NT HVS, đặc biệt quan tâm đến khu vực nông thôn và vùng dân tộc thiểu số, điều này thể hiện từ các chính sách

Cách đây 21 năm vào năm 1998, Chính phủ đã ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 1998-2005 là giai đoạn đầu tiên của Chương trình, giai đoạn thứ 2 là từ năm 2006-2010 Chương trình nước sạch – Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn thứ 3 từ năm 2012-2015 được

cụ thể hóa bằng Quyết định 366/2012/QĐ-TTg ngày 31/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ[16] Chương trình trong giai đoạn này đã nâng cao vai trò của chính quyền địa phương các cấp về vấn đề vệ sinh nông thôn, tăng nguồn lực cho vệ sinh Điểm mới của Chương trình trong giai đoạn này là Chính phủ đã phân rõ trách nhiệm theo đúng lĩnh vực chuyên môn của từng ngành Y tế, Giáo dục và Nông nghiệp, trong đó phân công rõ nhiệm vụ thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực vệ sinh hộ gia đình do Bộ

Y tế đảm nhiệm (giai đoạn trước vai trò của Bộ Y tế không thực sự rõ ràng)

Trang 20

Ngày 19 tháng 6 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định

số 730/QĐ-TTg về lấy ngày 02 tháng 7 hàng năm là Ngày Vệ sinh yêu nước nâng cao sức khỏe nhân dân[17] Để giải quyết vấn đề vệ sinh góp phần phòng chống dịch bệnh, cải thiện sức khỏe người dân, tăng cường sự tham gia của tất cả các cấp các ngành và xã hội trong đó các cơ quan quản lý nhà nước nắm giữ vai trò chủ đạo Đồng thời ngày 26 tháng 11 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 29/CT-TTg về việc tổ chức triển khai phong trào Vệ sinh yêu nước nâng cao sức khỏe nhân dân

Nhằm duy trì và phát huy tốt những thành quả đạt được trong thực hiện Mục tiêu Thiên kỷ, ngày 13 tháng 01 năm 2014 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 05/NQ-CP về việc thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ trong lĩnh vực y tế, trong đó

đã chỉ rõ lồng ghép nhiệm vụ thực hiện về vệ sinh môi trường vào nội dung hoạt động của Phong trào Vệ sinh yêu nước nâng cao sức khỏe nhân dân, Chương trình mục tiêu Quốc gia về nông thôn mới và các chương trình khác[18]; Tăng cường các hoạt động truyền thông thay đổi hành vi, vận động người dân đầu tư xây dựng NT HVS, chấm dứt tình trạng đi tiêu tự do, ưu tiên nguồn lực cho vùng có tỷ lệ Nhà tiêu thấp (vùng miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long) Để tạo điều kiện thuận lợi để các Chương trình được thực hiện có hiệu quả, ngày 16 tháng 4 năm

2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 62/2004/QĐ-TTg về tín dụng thực hiện Chương trình Nước sạch vệ sinh nông thôn

Song song với các chính sách đã nêu trên, vấn đề Vệ sinh nông thôn tiếp tục được quan tâm, điều này thể hiện bằng Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020; Quyết định số 491/QĐ-TTg về ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

Ngày 8 tháng 4 năm 2014, trong Hội nghị cấp cao lần thứ 3 về Nước và Vệ sinh cho mọi người được tổ chức tại Washington DC, Hoa Kỳ Tại Hội nghị này, đại diện Chính phủ Việt Nam đã cam kết chấm dứt tình trạng đi tiêu tự do quy mô toàn quốc vào năm 2025 Qua đó, cho thấy các văn bản chính sách về vệ sinh môi trường

đã khá đầy đủ và toàn diện[30]

Trang 21

Từ việc phân công trách nhiệm rõ ràng của Chính phủ, Bộ Y tế đã tích cực triển khai hướng dẫn chỉ đạo các địa phương triển khai xây dựng 51.226 NT HVS cho hộ gia đình trên toàn quốc chủ yếu ở khu vực nông thôn, vùng dân tộc thiểu số, đồng thời hiệu quả của các hoạt động truyền thông cũng đã khuyến khích hộ gia đình

tự đầu tư xây dựng 1.904.408 NT HVS các loại[27]

Luôn đồng hành với các Chương trình do chính phủ phê duyệt, sự tham gia tích cực của các tổ chức quốc tế đã phối hợp cùng Bộ Y tế triển khai nhiều dự án nhằm tăng tiếp cận vệ sinh cơ bản, NT HVS ở những vùng khó khăn Đáng kể nhất

là Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc (Unicef) triển khai dự án “Vì sự sống còn của trẻ em” theo mô hình vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ, thành công của dự án là đã tiến hành công nhận 170 cộng đồng/làng, bản chấm dứt tình trạng đi tiêu tự do tại 7 tỉnh

dự án Trong giai đoạn 2013-2017, Ngân hàng thế giới triển khai Chương trình nước sạch và vệ sinh nông thôn dựa trên kết quả tại 8 tỉnh đồng bằng sông Hồng, đã xây mới 59.265 Nhà tiêu hợp vệ sinh Tổ chức Đông Tây Hội Ngộ triển khai dự án Cải thiện cộng đồng dựa vào kết quả -WASHOBA tại Bến Tre, Bình Định, Thái Nguyên

và Bắc Giang đã vận động 14.948 hộ gia đình nghèo làm Nhà tiêu hợp vệ sinh, tăng

tỷ lệ tiếp cận với Nhà tiêu hợp vệ sinh tại mỗi tỉnh từ 8,7 đến 15,6%[27], ngoài ra còn một số tổ chức khác đang triển khai tại nhiều khu vực khác trên toàn quốc

Một nghiên cứu cho thấy nhóm đối tượng đích được hỗ trợ được hỗ trợ xây dựng Nhà tiêu hợp vệ sinh thì có điều kiện tiếp cận cao hơn 3,1 lần so với nhóm không được hỗ trợ (p<0,05)[19] Việc có những chính sách hỗ trợ xây dựng Nhà tiêu hợp vệ sinh sẽ là điều kiện thuận lợi để người nghèo có thêm cơ hội tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh

1.3.2 Yếu tố xã hội/cộng đồng

Sự tác động của người đứng đầu: các tổ chức, hội nhóm có ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp cận NT HVS của hộ gia đình Sau khi tập huấn kỹ thuật truyền thông kích hoạt cộng đồng làm chủ về vệ sinh cho các vị chức sắc trong thôn, làng, nhóm trưởng của các hội, kết quả mang lại rất tích cực, sau 02 năm có 1,15 triệu người được tiếp cận với các loại NT HVS[33]

Các chuẩn mực và tập quán văn hóa xã hội xung quanh việc đi tiêu tự do:

Trang 22

Quan niệm của người dân cho rằng đi tiêu tự do ngoài rừng hay ngoài đồng

là thoải mái sạch sẽ là 88,6%, trong đó H’mông 25%; Khơ Mú 33.3% và Phù Lá 29.2% và đi tiêu trong NT là không thoải mái, nóng và có mùi là 80,5% [29], đất rộng người thưa, đi tiểu và đại tiện chỗ nào cũng được, không cần phải làm Nhà tiêu Đồng thời, do đặc thù hầu hết thời gian làm việc trong ngày là trên nương/rẫy cách xa nhà nên giải pháp đi tiêu tự do tại rẫy là tối ưu nhất, ảnh hưởng đến việc sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh[10] Chính vì thế trong tiềm thức, họ cho rằng không có gì phải xấu hổ khi đi vệ sinh tự do trong rừng và ngoài đồng (91,1%), cho rằng xây dựng Nhà tiêu tốn nhiều chi phí và công sức (46,4%); việc sử dụng, bảo quản Nhà tiêu hợp vệ sinh mất nhiều thời gian và công sức 82,9%[7]

1.3.3 Yếu tố cá nhân và gia đình

Tuổi: Có mối liên quan đến sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh, nhóm tuổi từ

41-59 tuổi và nhóm trên 60 tuổi thì có tỷ lệ sử dụng Nhà tiêu thường xuyên hơn nhóm từ 21-40 tuổi[43]

Dân tộc: Có sự khác biệt về tiếp cận Nhà tiêu hợp vệ sinh giữa các nhóm dân tộc, trong đó dân tộc Mường có tỷ lệ tiếp cận cao nhất (chiếm 49,4%), dân tộc Tày 33,5%, thấp nhất là các dân tộc khác như Dao, Thái (chiếm 4,7%)[19]

Tôn giáo: Tôn giáo không liên quan đến việc tiếp cận và sử dụng NT HVS nhưng với uy tín của người đứng đầu của tôn giáo thì họ có ảnh hưởng tạo nên thành công của một can thiệp[43]

Trình độ học vấn: Có mối liên quan giữa trình độ học vấn của người chủ hộ với tỷ lệ bao phủ NT HVS Những người có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên thường có NT cao gấp 2,1 lần so với nhóm người có trình độ từ tiểu học trở xuống (p<0,01) Những người có kiến thức tốt về NT thì có NT HVS cao gấp 3,1 lần

so với những người có kiến thức không đạt ( p<0,05) [22]

Điều kiện kinh tế hộ gia đình: Một nghiên cứu ở Ethiopia, quốc gia châu Phi cận Sahara, cho thấy việc thiếu tiếp cận với Nhà tiêu hợp vệ sinh chủ yếu ở vùng nông thôn và tập trung ở phân khúc người nghèo ở thành thị[37] Những nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy về mối liên hệ chặt chẽ giữa kinh tế hộ gia đình với việc tiếp cận NT HVS Những hộ gia đình có điều kinh tế thấp, có khả năng tiếp cận với NT

Trang 23

HVS giảm 3,7 lần so với những hộ gia đình giàu[34] Những người nghèo rất cần có

NT HVS nhưng phải lo từng bữa ăn cho con[40], cho gia đình nên không thể có kinh phí để đầu tư sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh

Quy mô hộ gia đình: Số thành viên trong gia đình thường có mối liên quan đến khả năng sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh[43]

Giới tính: Động lực về nhu cầu tiếp cận Nhà tiêu hợp vệ sinh ở nam và nữ có

sự khác nhau, thường phụ nữ có nhu cầu về NT HVS nhiều hơn so với nam nhưng họ kín đáo hơn và thường không phải là người đưa ra quyết định xây dựng và các khoản đầu tư về tài chính[40] Phụ nữ sử dụng Nhà tiêu thường xuyên hơn nam giới là 2,24 lần (p <0,001)[43]

1.3.4 Yếu tố nhận thức

Một Nghiên cứu khác lại phát hiện ra rằng nhận thức của người sử dụng đã ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp cận Nhà tiêu hợp vệ sinh “có rất ít người nhận thấy

sự tiện lợi và đóng góp tích cực của NT HVS, mà chỉ nhận thấy những hạn chế của

nó như tốn chi phí xây dựng (30%) và bảo trì (17%) và có mùi hôi (9%) chính vì thế

họ đã không chọn xây dựng Nhà tiêu HVS để sử dụng

Biết nguyên nhân chính gây ra bệnh tiêu chảy, bệnh dịch: Vệ sinh bẩn là nguyên nhân chính của bệnh tiêu chảy (p ≤ 0,001)[35] Đến 93,2% người dân tin rằng Nhà tiêu hợp vệ sinh có thể giúp cho họ phòng chống một số bệnh[7]; Những hộ gia đình có người biết được lợi ích của việc sử dụng NT HVS sẽ phòng chống được bệnh tật thì có NT HVS cao hơn gấp 3,1 lần so với nhóm không biết lợi ích này Nhóm đối tượng biết lợi ích của sử dụng NT HVS hạn chế mùi xú ế thì có tiếp cận NT HVS cao gấp 2,8 lần nhóm không biết[19]

1.3.5 Điều kiện thuận lợi

Kín đáo, riêng tư an toàn: Sự hiện diện của cửa và mái Nhà tiêu làm tăng đáng kể khả năng các thành viên trong gia đình sử dụng Nhà tiêu[43] Nhà tiêu hợp

vệ sinh đảm bảo sự riêng tư ( p≤ 0,001) có vai trò ảnh hưởng tỷ lệ sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh cao hơn những nhóm khác[35]

Trang 24

Trong nghiên cứu quan sát hoặc định tính, nhận thấy rằng việc bảo trì Nhà tiêu tốt, tăng khả năng tiếp cận và sử dụng, ngược lại nếu điều kiện vệ sinh của Nhà tiêu kém thì tần suất sử dụng sẽ giảm hơn[39]

Lối đi đến Nhà tiêu hợp vệ sinh: Những thách thức về khả năng sử dụng Nhà tiêu liên quan đến sự bẩn thỉu trên đường đi, những con đường hẹp và những con dốc cao khiến việc tiếp cận để sử dụng Nhà tiêu lại trở thành một thách thức đối với người dùng, đặc biệt là phụ nữ[40] Qua đây cho thấy việc xây dựng Nhà tiêu ở quá xa khu vực ở là một bất tiện đối với phụ nữ trong việc tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu

1.3.6 Điều kiện thời tiết

Việc sử dụng Nhà tiêu có liên quan theo mùa, người dân sẽ sử dụng Nhà tiêu thường xuyên hơn vào mùa mưa, thời tiết lạnh là 55,6% và vào mùa nóng 47,4%, có

sự chênh lệch về tầng suất sử dụng là 8,2% (p ≤ 0,01)[43]

1.4 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu

Đăk Nông được tách ra từ các huyện phía nam của tỉnh Đăk Lăk cũ từ năm

2004, ở khu vực Nam Tây Nguyên, diện tích tự nhiên khoảng 6.514 km2, dân số hiện nay khoảng 650 nghìn người; có 40 dân tộc cùng sinh sống, trong đó, dân tộc thiểu

số khoảng 164 nghìn người, chiếm tỷ lệ 31,37% so với tổng dân số toàn tỉnh Dân tộc thiểu số tại chỗ là M’Nông, Mạ, Ê đê chiếm 10,33% dân số toàn tỉnh Tỉnh có 1 thị

xã, 7 huyện và 71 đơn vị hành chính cấp xã[14] Trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2015, thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch – VSMT nông thôn nhưng tất cả các chỉ số đánh giá đều không đạt mục tiêu chương trình[13] Từ năm 2016, đến nay, tỉnh Đăk Nông đang thực hiện Chương trình mở rộng quy mô vệ sinh và nước sạch nông thôn dựa trên kết quả vay vốn Ngân hàng thế giới giai đoạn 2016-2020[30] Tính đến năm 2018, tỷ lệ bao phủ NT HVS toàn tỉnh là 65,7%, nhưng không đồng đều ở các huyện, sắp xếp từ cao đến thấp lần lượt là Thị xã Gia Nghĩa (tỉnh lỵ), Đăk Mil, Đăk Song, Krông Nô (80,2%; 78,4%; 69,3%; 69,2%) và có hai địa phương có tỷ lệ đạt thấp dưới 50% là Tuy Đức 44,6 và Đăk G’Long 44,3%[12]

Đăk Mil là huyện biên giới nằm cách Thị xã Gia nghĩa khoảng 60km về hướng Tây Bắc, có 1 thị trấn và 9 xã, dân số khoảng 106 nghìn dân gồm 19 dân tộc sinh

Trang 25

sống chủ yếu là người kinh, êđê, Tày, Nùng[3] Long Sơn là một xã được tách ra từ

4 thôn của xã Đăk Săk cũ vào năm 2006[32] Đến nay, có 375 hộ khoảng 2.680 người, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 92,5%, cư ngụ tại 4 thôn, chiếm đa số là dân tộc Tày, đến Nùng, Dao và H’Mông[21];

Qua những tài liệu đã tìm thấy, các nhà khoa học trên thế giới đã những nghiên cứu sự tiếp cận cũng như sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh ở các nước như Ấn

Độ, Zambia, Ethiopia[33, 35, 41] Ở Việt Nam, chúng tôi có rất nhiều những nghiên cứu liên quan đến vấn đề nhà tiêu hợp vệ sinh về các mô hình, về kiến thức, thái độ thực hành về ảnh hưởng của tỷ lệ NT HVS đến sức khỏe trẻ em…nhưng các nghiên cứu về sự tiếp cận và sử dụng NT HVS chưa phong phú Gần đây có nghiên cứu về tình trạng sử dụng NT HVS và các yếu tố liên quan tại huyện Đăk Hà tỉnh Hòa Bình[19], hay là nghiên cứu liên quan đến kiến thức và thực hành sử dụng NT HVS

ở xã Bình Tân, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định[1] Nhắc đến Tây Nguyên, chúng ta nghĩ ngay đến là rừng núi linh thiên, hùng vĩ, ở đó có buôn làng với những nhà rông

và nhà dài của người dân tộc thiểu số tại đây như Ê đê, Gia Rai, Mơ Nông và những phong tục sinh sống mang sắc thái riêng…Nhưng trong những thập niên gần đây, Vùng Tây Nguyên đã có những phát triển về kinh tế, giao thương đã thuận lợi với các vùng miền và trở thành vùng đất tiềm năng của các dân tộc khác Họ đến sinh sống trên Tây Nguyên nói chung và Đăk Nông nói riêng, đồng thời mang theo những nét văn hóa, phong tục, tập quán canh tác cũng như sinh hoạt mang bản sắc riêng, chủ yếu là các dân tộc thiểu số ở phía Bắc Họ đã có những đóng góp tích cực làm tăng sắc màu văn hóa dân tộc ở Tây Nguyên Trong thời gian qua, đã có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề vệ sinh môi trường nói chung và NT HVS đối với người dân tộc thiểu

số ở vùng Tây Nguyên, nhưng chủ yếu nghiên cứu trên nhóm dân tộc thiểu số tại chỗ như Ê đê, M’Nông, Gia rai Trong khi đó, những chính sách về dân tộc của Nhà nước ta rất bình đẳng Nhằm tìm hiểu những đặc thù riêng với đối tượng dân tộc thiểu

số ở phía Bắc, Tây Bắc vào Tây Nguyên sinh sống xem họ có những rào cản gì về tiếp cận và sử dụng NT HVS Trong nghiên cứu này, tôi kế thừa các yếu tố liên quan đến tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh các nghiên cứu trước [22, 34, 40, 43]

và có điểm mới là kết hợp nghiên cứu đồng thời cả nội dung tiếp cận và sử dụng Nhà

Trang 26

tiêu hợp vệ sinh trên cùng một đối tượng là người dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc, Tây Bắc đến sinh sống ở Tây Nguyên nói chung và Đăk Nông nói riêng Mong đợi của nghiên cứu là cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý, nhà chuyên môn về vệ sinh môi trường xây dựng kế hoạch can thiệp hiệu quả hơn như về thông tin truyền thông, biện pháp hỗ trợ của chính quyền địa phương, các cấp, các ngành bao quát hơn nhưng cũng mang tính đặc thù cho từng nhóm đối tượng, từng bước giải quyết vấn

đề vệ sinh môi trường ở khu vực nông thôn của tỉnh Đăk Nông

Trang 27

1 Yếu tố chính sách, thể chế:

- Chương trình hành động cấp quốc gia, khu vực, ngành

- Chính sách ưu đãi, đặc thù

- Quy định chế tài…

2 Yếu tố về cộng đồng:

vệ sinh đúng công năng

4 Yếu tố về nhận thức:

Trang 28

Yếu tố tiếp cận và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh:

Thứ nhất là, yếu tố cơ chế chính sách: Ở đây được hiểu là những quy định, những mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu do cấp ủy, hội đồng nhân dân huyện, xã đề ra để phấn nhằm cải thiện điều kiện môi trường sống cho nhân dân Từ đó, sẽ được cụ thể hóa bằng các kế hoạch, chương trình hành động

Thứ hai là, các đặc tính, đặc trưng của cá nhân (tuổi, giới tính, học vấn, dân tộc…), từ đó tạo nên đặc trưng gia đình (kinh tế giàu/nghèo) Việc “đại tiện” là một nhu cầu về sinh lý của mỗi người, thuộc về nhu cầu bản năng, do đó bị ảnh hưởng rất lớn về hành vi mang tính thói quen, cũng như quan niệm của mỗi cá nhân Do đó, những đặc trưng của từng cá nhân, đặc thù của gia đình sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp cận và sử dụng NT HVS

Thứ ba là yếu tố điều kiện thuận lợi: Bố trí nhà tiêu phù hợp với không gian nhà ở, phù hợp cho mỗi người trong gia đình, trong đó người già, trẻ em, phụ nữ là đối tượng cần được quan tâm hơn, từ đó phát huy được công năng sử dụng NT, tạo điều kiện thuận lợi nhất để mọi thành viên trong gia đình sử dụng nhà tiêu đã được đầu tư Quyết định sử dụng hay không sử dụng NT HVS

Thứ tư, nhận thức của người là những hiểu biết của người dân trong cộng đồng về các loại NT HVS, về công năng sử dụng, lợi ích của nhà tiêu mang lại đối với bản thân, gia đình và cộng đồng dân cư Từ những nhận thức đó, phát sinh nhu cầu tiếp cận và sử dụng NT HVS

Thứ năm là yếu tố thời tiết, khí hậu: Là điều kiện thời tiết khí hậu ảnh hưởng đến việc chọn loại nhà tiêu để sử dụng Như những vùng nắng nóng khô hạn thiếu nước sinh hoạt không thể đầu tư loại nhà tiêu dùng nước mà phải loại nhà tiêu khô Hoặc mưa nhiều quá không đủ chất độn để sử dụng loại nhà tiêu khô, tạo ra mùi hôi trong nhà tiêu, dẫn đến không sử dụng Hoặc vào mùa mưa không tiện cho việc đi tiêu tự do (ướt mưa) sẽ lựa chọn dùng nhà tiêu

Thứ sáu là sự ảnh hưởng của cộng đồng dân cư: Ở đây thường là những quy định, những thông lệ được được cộng đồng thống nhất ban hành để mọi người thực hiện, đôi khi có tính quyết định còn có thể lớn hơn so với những quy định pháp luật

Ở đây chỉ xét về những quy định liên quan đến vệ sinh môi trường

Trang 29

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Người chủ hộ gia đình dân tộc thiểu số sinh sống ổn định tại xã Long Sơn;

- Nhà tiêu của hộ gia đình;

- Đại diện cán bộ địa phương:

+ Trưởng thôn;

+ Chủ tịch uỷ ban nhân dân xã Long Sơn;

+ Trưởng trạm Y tế xã Long Sơn

+ Phó giám đốc Trung tâm Y tế huyện Đăk Mil

+ Chuyên trách VSMT của Trung tâm Y tế huyện Đăk Mil

- Sổ sách, báo cáo, văn bản chỉ đạo, chương trình về chương trình vệ sinh nước sạch và Nhà tiêu hộ gia đình từ năm 2015-2019

Tiêu chí chọn

Chủ hộ gia đình: Là người có vai trò quyết định các công việc chính trong gia đình, từ 18 tuổi trở lên, có khả năng nghe, hiểu và trả lời đầy đủ câu hỏi phỏng vấn bằng tiếng phổ thông

Nhà tiêu của hộ gia đình được chọn vào nghiên cứu;

Những người cung cấp thông tin chính (trưởng thôn, đại diện UBND xã….): Có thời gian công tác và tham gia lĩnh vực vệ sinh môi trường ít nhất 2 năm

Tiêu chí loại

- Những đối tượng không đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu;

- Những người mắc bệnh nặng, không thể tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 12/2018 đến tháng 8/2019

Địa điểm: Xã Long Sơn, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích, định lượng kết hợp định tính Nghiên cứu định tính thực hiện sau khi có kết quả sơ bộ tỷ lệ NT HVS ở các

Trang 30

thôn, thông tin từ nghiên cứu định tính nhằm hỗ trợ, bổ sung thêm cho kết quả nghiên cứu định lượng

2.4 Cỡ mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng

Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính mẫu một tỷ lệ

2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính

- Thực hiện 06 cuộc phỏng vấn sâu gồm (Trưởng thôn; Phó trưởng thôn 01, Chủ tịch uỷ ban nhân dân xã Long Sơn, Trưởng trạm Y tế xã Long Sơn, Phó giám đốc Trung tâm Y tế huyện Đăk Mil, chuyên trách VSMT của Trung tâm Y tế huyện Đăk Mil)

- Thực hiện 02 buổi thảo luận nhóm, mỗi nhóm có sự tham gia của 04 đại hộ gia đình người dân tộc thiểu số có tham gia phỏng vấn trong nghiên cứu định lượng

2.5 Phương pháp chọn mẫu

2.5.1 Chọn mẫu nghiên cứu định lượng

Căn cứ danh sách hộ gia đình do trạm y tế xã Long Sơn cung cấp, sàng lọc

ra có 347 hộ gia đình dân tộc thiểu số để tổ chức phỏng vấn Thực tế các điều tra viên

Trang 31

Mẫu định tính được chọn có chủ đích cho các cuộc phỏng vấn sâu, là những người phụ trách chương trình nước sạch và Nhà tiêu hợp vệ sinh tại địa phương:

- Phó giám đốc Trung tâm Y tế huyện Đăk Mil;

- Cán bộ chuyên trách VSMT ở TTYT huyện Đăk Mil;

- Chủ tịch UBND xã;

- Trưởng trạm Y tế xã Long Sơn;

- Thôn phó thôn Nam Sơn;

- Trưởng thôn Tây Sơn;

Đại diện hộ gia đình tham thảo luận nhóm cũng được chọn có chủ đích và được chia thành 02 nhóm như sau:

Nhóm có tỷ lệ Nhà tiêu thấp thuộc thôn Đông Sơn: Hộ gia đình sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh mỗi nhóm 4 người chủ hộ gia đình (tương ứng 4 mô hình NT: Tự hoại, thấm dội nước, hai ngăn, chìm có ống thông hơi)

Nhóm HGĐ không sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh thuộc Nam Sơn (02 hộ nghèo, 02

hộ không nghèo)

2.6 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu nghiên cứu

2.6.1 Công cụ thu thập số liệu

2.6.1.1 Nghiên cứu định lượng

- Các thông tin đã được thu thập thông qua phiếu phỏng vấn được NCV xây dựng dựa vào mục tiêu nghiên cứu, khung lý thuyết và tham khảo một số nghiên cứu có liên quan [4, 5, 19, 20] như phụ lục 2; Quan sát đánh giá các tiêu chí nhà tiêu

hộ gia đình được sử dụng theo bảng kiểm của Bộ Y tế [23], cụ thể như phụ lục 3 Phiếu phỏng vấn và bảng kiểm quan sát sẽ được thử nghiệm trên 3-5 hộ gia đình và được điều chỉnh cho phù hợp trước khi tiến hành thu thập số liệu chính thức.

- Các công cụ hỗ trợ gồm bút chì, bút mực, bộ tờ rơi về 4 mô hình Nhà tiêu hợp vệ sinh (Nhà tiêu thấm dội nước, Nhà tiêu tự hoại, Nhà tiêu chìm có ống thông hơi, Nhà tiêu hai ngăn sinh thái)

2.6.1.2 Đối với nghiên cứu định tính

Trang 32

- Nội dung phỏng vấn sâu/thảo luận dựa theo được nghiên cứu chính xây dựng khung hướng dẫn phỏng vấn sâu /thảo luận nhóm dựa trên khung lý thuyết đồng thời

bám với mục tiêu nghiên cứu (phụ lục 4) Tất cả các cuộc phỏng vấn/thảo luận được

thực hiện ở phòng đảm bảo sự riêng tư, không bị người khác làm phiền trong khi phỏng vấn/thảo luận

- Nội dung cuộc phỏng vấn/thảo luận được ghi âm lại bằng điện thoại đi động (khi có sự đồng ý của người cung cấp thông tin), đồng thời sử dụng bút, giấy để ghi chép những thông tin chính

2.6.1.3 Đối với số liệu thứ cấp

Điều tra viên đã làm việc trực tiếp với trưởng trạm y tế xã Long Sơn để thu thập các số liệu đã soạn sẵn như phụ lục 5

2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu:

Cấu phần định lượng: Phỏng vấn trực tiếp chủ hộ gia đình bằng phiếu phỏng vấn có cấu trúc về điều tra hộ gia đình Đối với những hộ gia đình có nhà tiêu, điều tra viên lựa chọn bảng kiểm phù hợp thông qua quan sát để đánh giá NT

+ Thảo luận nhóm:

Tìm hiểu những lý do khiến người DTTS chưa tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh; Sự tiếp cận thông tin, tuyên truyền những chính sách hỗ trợ của chính quyền với cộng động Nhà tiêu hợp vệ sinh

Cuộc phỏng vấn/thảo luận nhóm sẽ được ghi âm và thư ký buổi thảo luận (cán bộ trung tâm y tế) sẽ ghi chép tóm tắt nội dung

Trang 33

2.6.3 Quy trình thu thập số liệu

Nghiên cứu định lượng

- Thứ nhất là, sử dụng 2 điều tra viên (ĐTV) là cán bộ đang công tác tại trạm

y tế xã Long Sơn có am hiểu về địa bàn của xã và có kinh nghiệm trong tổ chức điều tra cộng đồng; Tại từng thôn đã huy động nhân viên y tế thôn hỗ trợ dẫn đường Sử dụng 2 giám sát viên (GSV) là cán bộ của trung tâm y tế huyện Đăk Mil là có chuyên môn là cử nhân y tế công cộng; Lực lượng này đã được tập huấn, hướng dẫn kỹ quy trình, kỹ thuật điều tra và cách thức thu thập thông tin

- Tiến hành thu thập thông tin: Chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm gồm 01 ĐTV,

01 y tế thôn dẫn đường và 1 GSV thực hiện điều tra tại các hộ gia đình của 02 thôn

+ ĐTV theo hướng dẫn của y tế để tiếp cận HGĐ dân tộc thiểu số sinh sống tại thôn theo cổng liền cổng từ hộ dân tộc thiểu số ở đầu thôn đến hộ ở cuối thôn Tại mỗi HGĐ, ĐTV đề nghị cho gặp trực tiếp người chủ hộ, tự giới thiệu về bản thân, mục đích chuyến viếng thăm gia đình Trường hợp nếu chủ hộ đi vắng xin hẹn giờ gặp lần 2, 3 Khi đến 3 lần không gặp chủ hộ gia đình thì ĐTV ghi nhận lại vào danh sách và bỏ qua hộ gia đình này Sau khi sàng lọc đúng ĐTNC, ĐTV thực hiện các bước giới thiệu về nghiên cứu, đọc Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu và chỉ thực hiện phỏng vấn khi được sự đồng ý của ĐTNC và thực hiện các bước theo đúng quy trình Hội đồng đạo đức phê duyệt ĐTV đặt câu hỏi theo Phiếu phỏng vấn cho người DTTS (Phụ lục 1) và ghi kết quả trả lời vào Phiếu phỏng vấn này

+ GSV đi cùng ĐTV để thực hiện 10 phiếu phỏng vấn đầu tiên, sau đó rà soát lại các phiếu ĐTV đã hoàn thành để chọn ngẫu nhiên 20% số phiếu để phóng vấn, kiểm tra lại và yêu cầu ĐTV bổ sung những thông tin còn thiếu hoặc điều chỉnh những thông tin chưa chính xác (nếu có) ngay tại hộ gia đình

- Sau khi hoàn thành điều tra toàn bộ đối tượng nghiên cứu trong xã, ĐTV nộp phiếu phỏng vấn ĐTNC có đủ chữ ký của ĐTV và GSV cho nghiên cứu viên (NCV) chính NCV chính sẽ kiểm tra số lượng, chất lượng các thông tin ghi trên từng phiếu, yêu cầu ĐTV và GSV bổ sung thông tin nếu chưa đạt yêu cầu Trước khi nhập thông tin của các phiếu vào phần mềm quản lý nhập liệu (Epidata 3.1), tiến hành ghi

mã số phiếu từ 001 đến hết số lượng thu được cho toàn xã

Trang 34

Nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được tiến hành sau khi thu thập, điều tra xong số liệu định lượng; Nghiên cứu viên chính là người trực tiếp thực hiện các cuộc PVS và là người điều hành 02 thảo luận nhóm Đối với TLN nhờ 01 nhân viên trạm y tế xã Long Sơn đảm trách, địa điểm TLN là nhà văn hóa của thôn Nam Sơn và Tây Sơn

Đối với số liệu thứ cấp

NCC liên hệ trực tiếp trưởng trạm Y tế xã xã Long Sơn và đề nghị cung cấp

số liệu ngay sau buổi phỏng vấn

2.7 Các biến số nghiên cứu

2.7.1 Nhóm biến đặc điểm dân số học

- Các thông tin chung về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu: Tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn

- Thông tin về hộ gia đình

2.7.2 Nhóm biến về việc thực trạng tiếp cận Nhà tiêu hợp vệ sinh

- Hộ gia đình có/không Nhà tiêu

- Hộ gia đình có/không Nhà tiêu HVS

- Loại Nhà tiêu hiện có tại hộ gia đình: Loại Nhà tiêu tự hoại, thấm dội, hai ngăn, chìm có ống thông hơi

2.7.3 Nhóm biến về thực trạng sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh

- Hộ gia đình có/không sử dụng Nhà tiêu

- Hộ gia đình có/không sử dụng thường xuyên Nhà tiêu HVS

- Loại hình Nhà tiêu hộ gia đình đang sử dụng: Loại Nhà tiêu tự hoại, thấm dội, hai ngăn, chìm có ống thông hơi

2.7.4 Nhóm biến về điều kiện tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh

- Nhà tiêu xây dựng gần/xa khu vực nhà ở

- Nhà tiêu có/không đảm bảo tính riêng tư, an toàn khi sử dụng

- Điều kiện về thời gian làm việc xa nhà ít/nhiều

- Điều kiện về có/không nhận được sự hỗ trợ của chính quyền địa phương trong việc xây dựng Nhà tiêu hợp vệ sinh

Biến số nghiên cứu định lượng được mô tả chi tiết như phụ lục 6

Trang 36

2.8 Các khái niệm, Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

2.8.1 Tiêu chí đánh giá Nhà tiêu hợp vệ sinh

Thực hiện theo bảng kiểm tình trạng Nhà tiêu ban hành theo Thông tư 15/2006/TT-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế, gồm đạt 100% các tiêu chí chính và trên 50% các tiêu chí phụ, cụ thể:

- Đối với loại Nhà tiêu tự hoại hợp vệ sinh: Phải đạt 10 tiêu chí chính (Bể xử

lý gồm 3 bể; bể xử lý phân không lún sụt; nắp bể chứa phân được trát kín không rạn nứt; mặt sàn nhẵn, phẳng, không lún, sụt; bệ xí có nút nước; có ống thông hơi; có đủ nước dội; dụng cụ chứa nước dội không có bọ gậy; không mùi hôi; nước từ bể xử lý chảy vào cống hoặc hố thấm, không chảy tự do ra xung quanh) và đạt ít nhất 3 trong

6 tiêu chí phụ sau (Mặt sàn Nhà tiêu không trơn, không đọng nước, không có rác, giấy bẩn; Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứa có nắp đậy; Không có ruồi, côn trùng trong Nhà tiêu; Bệ xí sạch, không dính đọng phân; Được che chắn kín đáo, ngăn được mưa nắng; Vệ sinh xung quanh sạch sẽ;

- Đối với Nhà tiêu thấm dội nước hợp vệ sinh: Phải đạt tất cả các tiêu chí chính gồm (Không xây ở nơi thường bị ngập úng; Cách nguồn nước, sinh hoạt từ 10

m trở lên; Bể xử lý phân không lún sụt; Nắp bể chứa phân được trát kính không rạn nứt; Mặt sàn nhẵn, phẳng, không lún, sụt; Bệ xí có nút nước; Có đủ nước dội; Nước

từ bể chứa phân hoặc đường dẫn phân không thấm, tràn ra mặt đất; Không có mùi hôi) và đồng thời đạt ít nhất 3 trong các tiêu chí phụ (Mặt sàn Nhà tiêu không trơn, không đọng nước, không có rác, giấy bẩn; Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứa giấy bẩn có nắp đậy; Không có ruồi, côn trung trong Nhà tiêu; Bệ xí sạch, không dính đọng phân; Được che chắn kín đáo, ngăn được nước mưa, nắng; Vệ sinh xung quanh sạch sẽ)

- Đối với Nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ hợp vệ sinh: phải đạt tất cả các tiêu chí chính gồm: Tường ngăn chứa phân kín, không bị rò rỉ thấm nước; Cửa lấy phân trát kính bằng vật liệu không thấm nước; Mặt sàn nhẵn, phẳng, không lún, sụt;

Có nắp đậy cả 2 lỗ tiêu; Lỗ tiêu được đậy kín; Không sử dụng đồng thời 2 ngăn; Có

đủ chất độn và thường xuyên đổ chất độn sau mỗi lần đi đại tiện; Không lấy phân trong ngăn ủ ra trước 6 tháng; Ngăn ủ phân nắp được trát kín; Không có mùi hôi, thối;

Trang 37

Không có bọ gậy trong dụng cụ chứa nước dội, nước tiểu) và ít nhất 3 trong các tiêu chí phụ gồm (Mặt sàn và rãnh dẫn nước tiểu sạch, không đọng nước; Giấy bẩn được

bỏ vào lỗ tiêu hoặc thùng chứa có nắp đậy; Không có ruồi, côn trùng trong Nhà tiêu; Miệng lỗ tiêu không dính phân; Vệ sinh xung quanh sạch sẽ; Ống thông hơi có đường kính từ 90mm trở lên, đầu ống cao hơn mái 40cm trở lên và có lưới chắn ruồi; Được che chắn kín đáo, ngăn được mưa nắng)

- Đối với Nhà tiêu chìm có ống thông hơi hợp vệ sinh: Phải đạt tất cả các tiêu chí chính gồm (Không xây dựng ở nơi thường bị ngập úng; Cách nguồn nước, sinh hoạt từ 10 m trở lên; Miệng hố phân cao hơn mặt đất ít nhất 20 cm; Mặt sàn nhẵn, phẳng, không lún, sụt; Có nắp đậy kín lỗ tiêu; Có đủ chất độn và thường xuyên đổ chất độn sau mỗi lần đi đại tiện; Không có mùi hôi, thối; Không có bọ gậy trong dụng

cụ chứa nước dội, nước tiểu; ống thông hơi có đường kính từ 90mm trở lên, đặt cao hơn mái 40cm trở lên và 3 trong các tiêu chí phụ (Mặt sàn và rãnh dẫn nước tiểu sạch, không đọng nước; Lỗ tiêu được đậy kín; Giấy bẩn được bỏ vào lỗ tiêu hoặc thùng chứa có nắp đậy; Không có ruồi, côn trùng trong Nhà tiêu; Miệng lỗ tiêu không dính phân; Vệ sinh xung quanh sạch sẽ; Được che chắn kín đáo, ngăn được mưa nắng)

2.8.2 Tiêu chí đánh giá kiến thức chung

Kiến thức chung trong nghiên cứu này là đánh giá khả năng đối tượng nghiên cứu có hiểu biết tối thiểu nhất về các loại NT HVS cũng như các bệnh có thể liên quan đến sử dụng NT HVS (chỉ cần nghe ở đâu đó và kể lại được ít nhất 01 hoặc vài thông tin liên quan) Thiết kế đánh giá nhằm phục vụ mục tiêu của nghiên cứu làm sáng tỏ yếu tố liên quan kiến thức cả về nhà tiêu và phòng bệnh đến tiếp cận và sử dụng NT HVS của đối tượng nghiên cứu, cụ thể:

Kiến thức chung đạt: Là đối tượng nghiên cứu trả lời ít nhất 01 trong các ý

từ 1 đến 5 ở phần trả lời của câu C28, đồng thời trả lời 1 trong các ý từ 1 đến 5 của phần trả lời câu C29 và ở trả lời được ý số 2 và 3 phần trả lời câu C30

Kiến thức không đạt: Là đối tượng trả lời ngoài những phần được nêu ở phần trả lời của các câu C28, C29, C30, hoặc trả lời nhưng không đạt ứng điều kiện đạt như đã nêu ở trên

Trang 38

2.8.3 Tiêu chuẩn đánh giá kinh tế hộ gia đình

Về kinh tế hộ gia đình: đánh giá theo Thông tư số BLĐTBXH ngày 28 tháng 6 năm 2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, được xác định là có sổ hộ nghèo hoặc cận nghèo do UBND xã cấp

17/2016/TT-2.9 Phương pháp phân tích số liệu

Nghiên cứu định lượng

- Số liệu được làm sạch trước và sau khi nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS Kết quả được chia thành 2 phần:

- Phần mô tả: thể hiện tần số, tỷ lệ của các biến trong nghiên cứu

- Phần phân tích: đưa ra những mối liên quan giữa một số yếu tố với việc tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh, bằng kiểm định χ2, độ mạnh của mối liên quan được xác định thông qua tỷ số chênh (OR) và khoảng tin cậy của OR

Nghiên cứu định tính

- Các bản ghi âm được gỡ và ghi chép lại bằng Word, nghiên cứu viên tóm tắt lại thông tin theo ý chính, sau đó mã hóa theo các nội dung phân tích

2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện sau khi Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của Đại học y tế công cộng theo chấp thuận theo Quyết định Số 234/2019/YTCC-HD3, ngày 24/04/2019, với mã số: 019-234/DD-YTCC

- Điều tra viên đã giải thích rõ về ý nghĩa, mục đích cho ĐTNC và chỉ thực hiện khi đối tượng tham gia hoàn toàn tự nguyện Mọi thông tin cá nhân của ĐTNC đều được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu này

- Sau khi nghiên cứu được công bố, sẽ có báo cáo phản hồi cho địa phương,

là cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp cải thiện vấn đề này trong tương lai

Trang 39

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu và gia đình

Nghiên cứu được tiến hành tại xã Long Sơn của huyện Đăk Mil, tỉnh Đắk Nông, với tổng số đối tượng tham gia nghiên cứu là 286 người dân tộc thiểu số, phân

bố ở 4 thôn (Đông Sơn, Tây Sơn, Nam Sơn và Tân Sơn):

Bảng 3.1 Thông tin chung chủ hộ gia đình

Trang 40

Tỷ lệ chủ hộ là nam tham gia trong nghiên cứu 60,8% và chủ hộ là nữ 39,2%

Độ tuổi trung bình đối tượng là 38, thấp nhất 18 tuổi và cao nhất là 79 tuổi, nhóm tuổi từ 18-39 tuổi có tỷ lệ tham gia cao nhất 54,2% và nhóm thấp nhất là từ 60-79 tuồi 6,6% Người dân tộc Nùng tham gia nghiên cứu chiếm tỷ lệ 50,3%, dân tộc Tày 24,5%, đến Dao 22,7% và H’Mông và dân tộc khác 7,0%

Chủ hộ có trình độ học vấn tiểu học 32,5%, tiếp đến là trung học cơ sở 29,0%,

tỷ lệ mù chữ 24,8% và biết đọc biết viết 6,3%; Có 94,4% đối tượng làm nương/rẫy

Tôn giáo, tín ngưỡng của đối tượng là gồm thiên chúa giáo 0,7%, phật giáo 2,1%, còn lại chủ yếu họ thờ gia tiên 97,2%

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thôn

tộc thiểu số

Số đối tượng tham gia nghiên cứu

n (%)

Trên địa bàn xã hiện có 347 hộ người dân tộc thiểu số sinh sống, trong đó đã tiếp cận 286 chủ hộ gia đình tham gia nghiên cứu chiếm tỷ lệ là 82,4% Thôn Tây

Ngày đăng: 31/01/2021, 14:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Quốc Bảo (2016), Thực trạng kiến thức, thực hành sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh và các yếu tố liên quan của hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh xã Bình Tân, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, năm 2016, Đại học y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức, thực hành sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh và các yếu tố liên quan của hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh xã Bình Tân, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, năm 2016
Tác giả: Phạm Quốc Bảo
Năm: 2016
2. Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Hòa Bình (2014), Hướng dẫn kỹ thuật xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh: Hòa Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn kỹ thuật xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh
Tác giả: Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Hòa Bình
Năm: 2014
3. Hữu Hải, Thành Đạt, và Anh Dũng (2018 [cited 2019 9/8]). Diện mạo mới ở Đăk Mil, https://dantocmiennui.vn/xa-hoi/dien-mao-moi-o-dak-mil/180372.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diện mạo mới ở Đăk Mil
4. Cao Thị Hòa (2016), Nghiên cứu áp dụng loại nhà tiêu hợp vệ sinh cho hộ gia đình Dao tại xã Châu Sơn, huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang theo hướng bền vững, thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu áp dụng loại nhà tiêu hợp vệ sinh cho hộ gia đình Dao tại xã Châu Sơn, huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang theo hướng bền vững
Tác giả: Cao Thị Hòa
Năm: 2016
5. Trần Đỗ Hùng và Phạm Văn Tuyến (2013), Khảo sát thực trạng hố xí hợp vệ sinh ở các hộ gia đình của xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai năm 2011, Y học thực hành, số 6/2013(874) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thực trạng hố xí hợp vệ sinh ở các hộ gia đình của xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai năm 2011
Tác giả: Trần Đỗ Hùng và Phạm Văn Tuyến
Năm: 2013
6. Lê Thị Thanh Hương và Lưu Văn Trị (2018), Thực trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng người dân tộc thiểu số Raglai và một số yếu tố liên quan tại huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận Năm 2018, Y học cộng đồng, số Số 46 tháng 12/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng người dân tộc thiểu số Raglai và một số yếu tố liên quan tại huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận Năm 2018
Tác giả: Lê Thị Thanh Hương và Lưu Văn Trị
Năm: 2018
7. Trần Hùng Minh (2010), Điều tra ban đầu về nước, nhà tiêu và hành vi vệ sinh tại Điện Biên và Lào Cai: Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra ban đầu về nước, nhà tiêu và hành vi vệ sinh tại Điện Biên và Lào Cai
Tác giả: Trần Hùng Minh
Năm: 2010
8. Công ty cổ phần Truyền thông Việt Nam (2011 [cited 2019 10/02/2019]). Sohatracuu,http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Ti%E1%BA%BFp_c%E1%BA%ADn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sohatracuu
9. Cục y tế dự phòng Việt Nam (2007), Vệ sinh môi trường nông thôn Việt Nam: Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh môi trường nông thôn Việt Nam
Tác giả: Cục y tế dự phòng Việt Nam
Năm: 2007
10. Cục y tế dự phòng Việt Nam, UNICEF, và water supply and sanitaion reference centrer (2007), Vệ sinh môi trường ở một số dân tộc thiểu số Việt Nam,Hà Nội, Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh môi trường ở một số dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Cục y tế dự phòng Việt Nam, UNICEF, và water supply and sanitaion reference centrer
Năm: 2007
11. Phạm Thị Nga (2011), Đánh giá quá trình triển khai xây dựng mô hình nhà tiêu hợp vệ sinh tại xã Đạo Đức, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, năm 2011, Thạc sỹ, luận văn, Đại học Y tế công cộng Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá quá trình triển khai xây dựng mô hình nhà tiêu hợp vệ sinh tại xã Đạo Đức, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, năm 2011
Tác giả: Phạm Thị Nga
Năm: 2011
12. Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đăk Nông (2018), Báo cáo kết quả hoạt động năm 2018, định hướng hoạt động năm 2019: Đăk Nông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả hoạt động năm 2018, định hướng hoạt động năm 2019
Tác giả: Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đăk Nông
Năm: 2018
13. Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Đăk Nông (2016), Báo cáo kết quả hoạt động Y tế dự phòng năm 2015 và triển khai nhiệm vụ năm 2016: Đăk Nông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả hoạt động Y tế dự phòng năm 2015 và triển khai nhiệm vụ năm 2016
Tác giả: Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Đăk Nông
Năm: 2016
14. UBND tỉnh Đăk Nông (2018 23/01/2019]). Giới Thiệu Chung Về Tỉnh Đăk Nông, http://www.daknong.gov.vn/web/guest/gioi-thieu-chung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới Thiệu Chung Về Tỉnh Đăk Nông
19. Trần Phúc Quỳnh (2015), Thực trạng sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh của hộ gia đình và các yếu tố liên quan tại huyện Đắc Hà, tỉnh Hòa Bình, năm 2015, Thạch sỹ, Đại học y tế công cộng Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh của hộ gia đình và các yếu tố liên quan tại huyện Đắc Hà, tỉnh Hòa Bình, năm 2015
Tác giả: Trần Phúc Quỳnh
Năm: 2015
20. Nguyễn Văn Sĩ và Lê Thị Thanh Hương (2016), Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2016, Y học cộng đồng, số 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2016
Tác giả: Nguyễn Văn Sĩ và Lê Thị Thanh Hương
Năm: 2016
21. Trạm y tế xã Long Sơn (2019), Báo cáo giám sát nước sạch và vệ sinh môi trường hộ gia đình 6 tháng năm 2019: Long Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo giám sát nước sạch và vệ sinh môi trường hộ gia đình 6 tháng năm 2019
Tác giả: Trạm y tế xã Long Sơn
Năm: 2019
22. Nguyễn Văn sỹ (2016), Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến mức độ bao phủ nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2016, Thạc sỹ, Đại học Y tế công cộng Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến mức độ bao phủ nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2016
Tác giả: Nguyễn Văn sỹ
Năm: 2016
25. Cục quản lý môi trường y tế (2010), Tài liệu hướng dẫn xây dụng, sử dụng, bảo quản nhà tiêu hộ gia đình, nhà xuất bản y học: Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn xây dụng, sử dụng, bảo quản nhà tiêu hộ gia đình
Tác giả: Cục quản lý môi trường y tế
Nhà XB: nhà xuất bản y học: Hà Nội
Năm: 2010
26. Cục quản lý môi trường y tế (2014), Sổ tay hướng dẫn lập kế hoạch thực hiện hợp phần vệ sinh (dành cho cán bộ cấp tỉnh, huyện): Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn lập kế hoạch thực hiện hợp phần vệ sinh (dành cho cán bộ cấp tỉnh, huyện)
Tác giả: Cục quản lý môi trường y tế
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w