1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuân thủ tiêm tĩnh mạch an toàn và một số yếu tố ảnh hưởng của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa thành phố cần thơ năm 2019

106 44 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Tuân thủ tiêm tĩnh mạch an toàn và một số yếu tố ảnh hưởng của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2019” được triển khai với 2 mục tiêu cụ thể: 1 Mô tả thực h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO, BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LA THANH CHÍ HIẾU

TUÂN THỦ TIÊM TĨNH MẠCH AN TOÀN

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

HÀ NỘI, NĂM 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO, BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LA THANH CHÍ HIẾU

TUÂN THỦ TIÊM TĨNH MẠCH AN TOÀN

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

ĐẶT VẤN ĐỀ ………

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ………

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ………

1.1 Các định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu ………

1.1.1 Các định nghĩa liên quan đến thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn …

1.1.2 Nguyên tắc thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn………

1.2 Thực trạng tiêm tĩnh mạch an toàn trên thế giới và Việt Nam 1.2.1 Trên thế giới ………

1.2.2 Tại Việt Nam ………

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng ………

1.4 Nguy cơ và gánh nặng của tiêm không an toàn ………

1.5 Tiêu chuẩn đánh giá tiêm tĩnh mạch an toàn ………

1.6 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu ………

1.7 Khung lý thuyết ………

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ………

2.1 Đối tượng nghiên cứu ………

2.1.1 Cấu phần định lượng ………

2.1.2 Cấu phần định tính ………

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu ………

2.3 Thiết kế nghiên cứu ………

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu ………

2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng ………

2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính ………

2.5 Phương pháp thu thập số liệu ………

1

4

5

5

5

7

8

8

9

11

15

16

17

18

20

20

20

20

20

20

20

20

21

21

Trang 4

2.5.1 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu định lượng………

2.5.2 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu định tính ………

2.6 Các biến số, chỉ số nghiên cứu ………

2.7 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn ………

2.7.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức về tiêm tĩnh mạch an toàn…………

2.7.2 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn ………

2.8 Xử lý và phân tích số liệu ………

2.8.1 Số liệu định lượng ………

2.8.2 Số liệu định tính ………

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu ………

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ………

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ….………

3.2 Tuân thủ kiến thức, thực hành về tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ………

3.2.1 Tuân thủ kiến thức về tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ……….…

3.2.2 Tuân thủ thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ ………

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ … 3.3.1 Yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ 3.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ (kết quả định tính)……… ………

Chương 4: BÀN LUẬN ………

4.1 Thực hành về tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ………

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ………

21

22

24

25

25

26

26

26

26

26

28

28

31

31

36

40

40

41

48

48

51

Trang 5

4.3 Bàn luận về phương pháp nghiên cứu ………

KẾT LUẬN ………

KIẾN NGHỊ………

TÀI LIỆU THAM KHẢO ………

PHỤ LỤC ………

Phụ lục 1 Phiếu điều tra tìm hiểu kiến thức tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ……

Phụ lục 2 Bảng kiểm quan sát thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ…………

Phụ lục 3 Hướng dẫn phỏng vấn sâu (đại diện lãnh đạo bệnh viện phụ trách công tác điều dưỡng ………

Phụ lục 4 Hướng dẫn phỏng vấn sâu (điều dưỡng trưởng bệnh viện)

55 57 58 59 63 63 72 74 76 Phụ lục 5 Hướng dẫn thảo luận nhóm ……… 78

Phụ lục 6 Biến số nghiên cứu ……… 80

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CDC Trung tâm kiểm soát và phòng chống dịch

(Centers for Disease Control and Prevention)

SIGN Mạng lưới tiêm an toàn Toàn cầu

(Safety Injection Global Network)

(Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc) WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Bảng đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n=171) …….… Bảng 3.2 Tiếp cận thông tin về TAT của đối tượng nghiên cứu

(n=171) Bảng 3.3 Phân bố theo khoa lâm sàng ……… Bảng 3.4 Kiến thức chung về tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ (n=171)……… Bảng 3.5 Kiến thức về chuẩn bị người bệnh, điều dưỡng thực hiện

của điều dưỡng các khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ

(n=171)………

Bảng 3.6 Kiến thức về chuẩn bị dụng cụ, thuốc của điều dưỡng các

khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ (n=171)………

Bảng 3.7 Kiến thức về kỹ thuật tiêm thuốc của điều dưỡng các khoa

lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ (n=171)……… Bảng 3.8 Kiến thức về xử lý chất thải của điều dưỡng các khoa lâm

sàng BVĐK thành phố Cần Thơ (n=171)………

Bảng 3.9 Kiến thức tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng phân bố

theo khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ (n=171)………

Bảng 3.10 Tỷ lệ mũi tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ (n=342) ………

Bảng 3.11 Tỷ lệ mũi tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng phân bố theo khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ (n=342)………

Bảng 3.12 Yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến thực hành tiêm tĩnh mạch

an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ Biểu 3.1 Kiến thức về tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các

khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ………

Biểu 3.2 Tỷ lệ mũi tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các khoa

Trang 8

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Tiêm có vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh Năm 2012, Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn tiêm an toàn nhằm cung cấp những chỉ dẫn an toàn trong thực hành tiêm tĩnh mạch mới nhất

Tại Việt Nam, những mũi tiêm không an toàn tại các cơ sở y tế đã gây ra những hậu quả làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe không những ở người bệnh mà còn ảnh hưởng đến nhân viên y tế và cả cộng đồng Điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng khám chữa bệnh và uy tín của ngành y tế

Đề tài “Tuân thủ tiêm tĩnh mạch an toàn và một số yếu tố ảnh hưởng của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2019” được

triển khai với 2 mục tiêu cụ thể: (1) Mô tả thực hành về tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng tại bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2019; (2)Xác định một

số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng tại bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2019

Sử dụng nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính Cỡ mẫu trong nghiên cứu, chọn toàn bộ 171 điều dưỡng đang trực tiếp thực hành tiêm tĩnh mạch tại 16 khoa lâm sàng, quan sát 342 mũi tiêm (mỗi điều dưỡng thực hiện 02 mũi tiêm) và phỏng vấn sâu 03 đối tượng cùng thảo luận

03 nhóm ĐDV trực tiếp tham gia thực hành tiêm tĩnh mạch tại 16 khoa lâm sàng Nghiên cứu tiến hành từ tháng 04 đến tháng 06 năm 2019 Kết quả cho thấy tỷ lệ ĐDV thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn không đạt là 38,6% và kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng cho thấy trình độ chuyên môn của điều dưỡng có mối liên quan có

ý nghĩa thống kê tới thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng viên (p<0,05)

Từ kết quả nghiên cứu, chúng tối đã đưa ra khuyến nghị: BVĐK thành phố Cần Thơ cần triển khai tập huấn hiệu quả, tăng cường công tác đào tạo liên tục về tiêm tĩnh mạch an toàn cho tất cả ĐDV Cần tăng cường luân chuyển, điều động nhân lực điều dưỡng phù hợp cho các khoa lâm sàng thực hiện công tác chăm sóc cũng như tiêm tĩnh mạch an toàn Cung cấp đầy đủ các trang thiết bị, phù hợp để phục vụ cho công tác tiêm tĩnh mạch an toàn Xây dựng quy chế kiểm tra giám sát việc thực hiện tiêm tĩnh mạch an toàn cũng như có chế tài thưởng phạt phù hợp

Trang 9

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tiêm là thủ thuật phổ biến nhất, trong điều trị tại cơ sở y tế tiêm đóng vai trò rất quan trọng mà đặc biệt là trong trường hợp bệnh diễn tiến nặng, bệnh cấp cứu [2] Hàng năm có 16 tỷ mũi tiêm, trên toàn thế giới trung bình một người tiêm 1,5 mũi tiêm/ năm Nhưng có khoảng 20-50% mũi tiêm ở các nước đang phát triển là chưa đạt tiêu chí mũi tiêm an toàn [4] [20] Tiêm không an toàn còn làm lây truyền các bệnh: viêm gan B, viêm gan C và lây nhiễm HIV Cụ thể, năm 2010, có tới 1,7 triệu người bị nhiễm siêu vi viêm gan loại B, lên đến 315.000 người mắc bệnh viêm gan siêu vi C và 33800 người nhiễm HIV qua tiêm không an toàn [32] Tiêm không an toàn cũng có thể gây các biến chứng khác như áp-xe và phản ứng nhiễm độc, choáng phản vệ [4]

Tại Việt Nam, những mũi tiêm không an toàn tại các cơ sở y tế đã gây ra hậu quả làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe không những người bệnh mà còn ảnh hưởng đến nhân viên y tế và cả cộng đồng Điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng khám chữa bệnh và uy tín của ngành y tế [24] Theo nghiên cứu của thạc sĩ Phạm Đức Mục về vấn đề rủi ro gây ra tai biến do tiêm không an toàn chiếm 29,2% [14] Theo kết quả đánh giá thực trạng tiêm an toàn của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau năm 2014: Tỉ lệ mũi tiêm đạt chuẩn an toàn là: 68,9% [17] Và rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng kiến thức và thực hành TAT của điều dưỡng viên tại các bệnh viện còn nhiều hạn chế [14]

Tại bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ, theo báo cáo tổng kết công tác khám chữa bệnh năm 2017 và việc thực hiện điều 12 của thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 được đánh giá là còn gặp nhiều hạn chế như:

Bệnh viện đã có quy trình kỹ thuật chuẩn về tiêm truyền, trang bị đầy đủ dụng cụ để thực hiện đúng quy trình kỹ thuật TAT, nhưng điều dưỡng ở một số

Trang 10

khoa, chưa thực hiện đúng quy trình kỹ thuật tiêm, vì những điều dưỡng chưa biết nguy cơ xảy ra sự cố trong khi tiêm thuốc thì có thể xuất hiện bất cứ khi nào Tuy chưa có sự cố nghiêm trọng nào ảnh hưởng tính mạng bệnh nhân [3]

Có nhiều hình thức tiêm được sử dụng nhưng với đặc trưng là một bệnh viện thuộc tuyến cao, hầu hết người bệnh nhập viện nặng, bởi vì ở tuyến dưới đã điều trị không đỡ nên mới chuyển lên tuyến trên Chính vì vậy trong nghiên cứu này chúng tôi chủ đích tiến hành nghiên cứu TAT với quy trình cụ thể là tiêm tĩnh mạch an toàn

Theo số lượng thống kê 6 tháng đầu năm tổng số lượng khám 294.630 lượt, lượng khám bệnh ngoại trú khoảng 2.500 bệnh nhân/ ngày, lượng bệnh nội trú từ 850-900 bệnh nhân/ngày Hiện tại các khoa điều trị luôn trong tình trạng quá tải cục bộ Tình trạng nhân lực điều dưỡng tại các khoa lâm sàng vẫn còn thiếu so với lưu lượng bệnh nhân Tình hình thực hiện y lệnh mỗi ngày tại các khoa nhiều nhất

là đường tiêm tĩnh mạch, tiếp theo là thuốc uống và truyền dịch

Tiêm là kỹ thuật phổ biến nhất trong công việc hàng ngày của điều dưỡng,

vì vậy sự hiểu biết và kỹ năng thực hành của điều dưỡng là hết sức cần thiết và nên đánh giá để có cơ sở can thiệp nâng cao kiến thức và thực hành cho đội ngũ điều dưỡng Về phía quản lý, lãnh đạo bệnh viện cũng mong muốn tìm ra những yếu kém đang tồn tại cũng như một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của người điều dưỡng

Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tuân thủ tiêm tĩnh mạch

an toàn và một số yếu tố ảnh hưởng của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2019” nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu (1) Thực hành

tiêm tĩnh mạch an toàn của Điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ là như thế nào? (2) Các yếu tố nào ảnh hưởng đến thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của Điều dưỡng trong bệnh viện? Từ đó, tìm ra những tồn tại trong công tác tiêm tĩnh mạch an toàn cho bệnh nhân của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng tại bệnh viện, đồng thời đưa ra các giải pháp, khuyến nghị phù hợp nhằm nâng cao việc thực hành đúng các tiêu chuẩn về tiêm tĩnh mạch an toàn do BYT ban hành cũng như đạt Chuẩn năng lực Điều dưỡng Việt Nam

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực hành về tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng tại bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2019

2 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của

điều dưỡng tại bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2019

Trang 12

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.Các định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu

1.1.1 Các định nghĩa liên quan đến thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn

Định nghĩa tiêm an toàn: Tiêm an toàn là quy trình tiêm không gây nguy

hại cho người nhận mũi tiêm, không gây phơi nhiễm cho người thực hiện mũi tiêm và không tạo chất thải nguy hại cho người khác và cộng đồng [4]

Tiêm tĩnh mạch: Là kỹ thuật dùng kim đưa thuốc, dịch vào tĩnh mạch với

góc tiêm 15- 30 so với mặt da Khi tiêm chọn tĩnh mạch nổi rõ, mềm mại, không

di động, da vùng tiêm nguyên vẹn [4]

Mũi tiêm tĩnh mạch an toàn: là mũi tiêm không gây nguy hại cho người

được tiêm, không gây phơi nhiễm cho người tiêm đối với các nguy cơ có khả năng tránh được và không để lại chất thải nguy hại cho cộng đồng [4]

Mũi tiêm tĩnh mạch không an toàn: Mũi tiêm tĩnh mạch không an toàn

trong nghiên cứu là mũi tiêm có từ một tiêu chí thực hành không đạt trở lên [3]

Chất sát khuẩn: Các chất chống vi khuẩn (ngăn ngừa nhiễm khuẩn với

mô sống hoặc da) Chất này khác với chất kháng sinh sử dụng để tiêu diệt hoặc kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cách đặc hiệu và khác với chất khử khuẩn dụng cụ Một số loại chất sát khuẩn là chất diệt khuẩn thực sự, có khả năng tiêu diệt vi khuẩn trong khi một số loại chất sát khuẩn khác chỉ có tính năng kìm hãm, ngăn ngừa và ức chế sự phát triển của chúng [3]

Dung dịch sát khuẩn tay có chứa cồn: Dịch pha chế có chứa cồn dưới

dạng chất lỏng, gel hoặc kem bọt dùng để xoa/chà tay nhằm tiêu diệt hoặc làm giảm sự phát triển của vi sinh vật Các loại dung dịch này có thể chứa một hoặc nhiều loại cồn pha theo công thức được công nhận của các hãng dược phẩm [1]

Dự phòng sau phơi nhiễm: Biện pháp ngăn ngừa lây truyền các tác nhân

gây bệnh đường máu sau phơi nhiễm

Đậy nắp kim tiêm bằng hai tay: Kỹ thuật đậy nắp kim một tay: nhân viên

y tế cầm bơm kim tiêm bằng một tay và đưa đầu nhọn của kim vào phần nắp đặt

trên một mặt phẳng sau đó dùng hai tay đậy lại [3]

Kỹ thuật vô khuẩn: Là các kỹ thuật không làm phát sinh sự lan truyền của

Trang 13

vi khuẩn trong quá trình thực hiện như: vệ sinh tay, mang trang phục phòng hộ cá nhân, sử dụng chất khử khuẩn da, cách mở các bao gói vô khuẩn, cách sử dụng dụng cụ vô khuẩn [3]

Phơi nhiễm nghề nghiệp: Phơi nhiễm nghề nghiệp là sự tiếp xúc trực tiếp

với máu, dịch tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) có chứa tác nhân gây bệnh trong khi người bệnh thực hiện nhiệm vụ dẫn đến nguy cơ lây nhiễm bệnh

Phương tiện phòng hộ cá nhân: Phương tiện phòng hộ cá nhân bao gồm

găng tay, khẩu trang, áo khoác phòng thí nghiệm, áo choàng, tạp dề, bao giày, kính bảo hộ, kính có tấm chắn bên, mặt nạ Mục đích sử dụng phương tiện phòng

hộ cá nhân là để bảo vệ NVYT, người bệnh, người nhà người bệnh và NVYT khỏi

bị nguy cơ phơi nhiễm và hạn chế phát tán mầm bệnh ra môi trường bên ngoài Tổ chức Y tế Thế giới không khuyến cáo sử dụng khẩu trang, găng tay, kính bảo vệ mắt, quần áo bảo vệ trong thực hiện tiêm Các phương tiện phòng hộ cá nhân này chỉ sử dụng trong trường hợp người tiêm có nguy cơ phơi nhiễm với máu, dịch tiết, chất tiết (trừ mồ hôi) [9]

Vật sắc nhọn: Bất cứ vật nào có thể gây tổn thương xâm lấn da hoặc qua

da; vật sắc nhọn bao gồm kim tiêm đầu kim truyền dịch dao mổ thủy tinh vỡ ống mao dẫn bị vỡ và đầu dây nẹp nha khoa bị phơi nhiễm

Thùng đựng chất thải sắc nhọn: Còn gọi là “hộp đựng chất thải sắc

nhọn”, “hộp kháng thủng” hay “hộp an toàn” Hộp đựng chất thải sắc nhọn được sản xuất bằng chất liệu cứng, chống thủng, chống rò rỉ được thiết kế để chứa chất thải sắc nhọn một cách an toàn trong quá trình thu gom, hủy bỏ và tiêu hủy Thùng (hộp) này phải được thiết kế và quản lý theo đúng Quy chế Quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế [3]

Xử lý vật sắc nhọn sau khi tiêm: Phân loại chất thải tại nguồn, cô lập

ngay các vật sắc nhọn vào hộp kháng thủng đủ tiêu chuẩn, không đậy lại nắp kim, không uốn cong hoặc bẻ gãy kim

Vệ sinh tay: Việc rửa tay bằng nước và xà phòng hoặc các chất sát khuẩn

Khuyến cáo áp dụng khi thực hiện kỹ thuật vô khuẩn

Tiêu hủy: Việc chủ định chôn lấp đốt thải bỏ chất đống vứt bỏ tất cả các loại

chất thải Trong tài liệu này tiêu hủy chỉ việc lưu giữ, xử lý dụng cụ, tiêm truyền lấy

Trang 14

mẫu bệnh phẩm máu dịch để tránh tái sử dụng hoặc tránh gây thương tích

Tổn thương do kim tiêm: Vết thương do kim tiêm đâm

1.1.2 Nguyên tắc thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn

Để đảm bảo tiêm tĩnh mạch an toàn cho người bệnh, NVYT và cộng đồng, năm 2012 trong hướng dẫn TAT, BYT đưa ra nguyên tắc thực hành tiêm cụ thể như sau:

Không gây nguy hại cho người nhận mũi tiêm

Thực hiện “5 đúng”: đúng người bệnh, đúng thuốc, đúng liều, đúng

đường tiêm và đúng thời gian, để bảo đảm an toàn cho người bệnh Những nội dung này cần thực hiện tại 2 thời điểm chuẩn bị phương tiện, thuốc tiêm và trước khi tiêm thuốc [4]

Trong khi tiêm cần bơm thuốc chậm, vừa bơm vừa quan sát sắc mặt NB Sau khi tiêm nên để người bệnh nằm hoặc ngồi tại chỗ 10-15 phút để phòng sốc phản vệ muộn [5]

Các phòng ngừa khác

Đảm bảo đúng kỹ thuật vô khuẩn trong tiêm

Sử dụng thuốc tiêm một liều Nếu phải sử dụng thuốc tiêm nhiều liều, cần

sử dụng kim lấy thuốc vô khuẩn và không lưu kim trên lọ thuốc

Không pha trộn 2 hoặc nhiều loại thuốc vào một bơm kim tiêm Không dùng một kim tiêm để lấy nhiều loại thuốc [1]

Loại bỏ kim tiêm đã đụng chạm vào bất kỳ bề mặt nào không vô khuẩn

Không gây nguy hại cho người tiêm

Mang găng khi có nguy cơ tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết của người bệnh Dùng gạc bọc vào đầu ống thuốc trước khi bẻ để tránh vỡ rơi vào ống

Trang 15

thuốc, rơi ra sàn nhà, bắn vào người, đâm vào tay

Không dùng tay đậy nắp kim

Bỏ bơm kim tiêm vào thùng kháng thủng ngay sau khi tiêm

Không để vật sắc nhọn đầy quá ¾ hộp kháng thủng

Khi bị phơi nhiễm vật sắc nhọn, cần xử lý, phải báo ngay [4]

Không gây nguy hại cho cộng đồng

Thực tế đã cho thấy tiêm là một thủ thuật phổ biến có vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực phòng bệnh và chữa bệnh Tuy nhiên tiêm cũng gây ra hậu quả nghiêm trọng cho cả người nhận mũi tiêm, người thực hiện tiêm và cộng đồng nếu như không có những giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện mũi tiêm an toàn [8]

Năm 2010, WHO đã đưa ra những chiến lược sử dụng an toàn và phù hợp của tiêm trên toàn thế giới bao gồm 4 mục tiêu: (1) xây dựng chính sách, kế hoạch quốc gia về sử dụng an toàn và phù hợp của thuốc tiêm, (2) đảm bảo chất lượng

và an toàn các thiết bị tiêm, (3) tạo điều kiện tiếp cận tiêm truyền một cách công bằng và (4) đạt được sự phù hợp, hợp lý, sử dụng chi phí hiệu quả trong tiêm truyền [42]

Tại bệnh viện Đại học Y dược và bệnh viện Sản tại IBanda đã nghiên cứu

Trang 16

so sánh kiến thức, thái độ, thực hành TAT trên 385 điều dưỡng cho thấy 100% điều dưỡng đã nghe nói về TAT, mức độ kiến thức được đánh giá là cao và không

có sự khác biệt giữa hai bệnh viện, 70,4% biết được tiêm không an toàn sẽ gây nguy cơ lây nhiễm bệnh qua đường máu, 55% cho rằng dùng hai tay đậy nắp kim không phải là thực hành TAT đúng, 76,1% cho rằng bơm kim tiêm sau khi sử dụng phải được bỏ vào thùng đựng vật sắc nhọn [40]

Thực hành TAT chưa tốt đặc biệt là tại các nước đang phát triển đang là một vấn đề được rất nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm Theo WHO có tới 50% các mũi tiêm ở các nước đang phát triển chưa bảo đảm an toàn, WHO cảnh báo tiêm không an toàn đã trở thành thông lệ ở các nước đang phát triển [4] [26] Đã có rất nhiều thao tác thực hành tiêm chưa đúng được ghi nhận qua các nghiên cứu của các nước: chỉ có 12,5% rửa tay bằng xà phòng và nước trước khi thực hành tiêm; 23% trả lời vẫn đậy nắp kim thường xuyên và 32,8% trả lời thỉnh thoảng vẫn đậy lại nắp kim sau tiêm

Nghiên cứu của Linda Fly và cộng sự thực hiện năm 2012 tại một số bệnh viện chăm sóc bệnh nhân cấp tính nhằm xác định những mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân của điều dưỡng, môi trường làm việc, trình độ của điều dưỡng với tỷ

lệ sai sót thuốc trong thực hành của điều dưỡng tại bệnh viện Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả, thực hiện tại 82 khoa nội và ngoại với 686 điều dưỡng

Số liệu được lấy trong 8 tháng với hơn 1000 bệnh nhân có sai sót thuốc Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, có mối quan hệ mật thiết giữa môi trường làm việc với các sai sót liên quan đến dùng thuốc của điều dưỡng Chính vì thế, để giảm bớt sai sót khi dùng thuốc của điều dưỡng, cần phải cải thiện môi trường làm việc, cũng như các chính sách hỗ trợ điều dưỡng Tuy nhiên nghiên cứu này chưa thực hiện quan sát những sai sót liên quan tới dùng thuốc đường tiêm tĩnh mạch [31]

1.2.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, việc thực hiện tiêm truyền cho người bệnh trong các cơ sở khám bệnh chữa bệnh chủ yếu do điều dưỡng viên thực hiện Từ năm 2001 đến nay, được sự quan tâm của Bộ Y tế, Hội Điều dưỡng Việt Nam đã phát động phong trào TAT trong toàn quốc, đồng thời tiến hành những khảo sát về thực

Trang 17

trạng TAT vào những thời điểm khác nhau Kết quả những khảo sát cho thấy 55% nhân viên y tế còn chưa cập nhật thông tin về TAT liên quan đến KSNK; phần lớn nhân viên y tế chưa tuân thủ quy trình kỹ thuật và các thao tác KSNK trong thực hành tiêm (vệ sinh tay, mang găng, sử dụng panh, phân loại và thu gom vật sắc nhọn sau tiêm, dùng tay để đậy nắp kim sau tiêm…), chưa báo cáo và theo dõi rủi

ro do vật sắc nhọn (87,7%) [2]

Hiện tại, thực hành tiêm của ĐDV tại các bệnh viện rất khác nhau và một

số thực hành chưa phù hợp Thiếu kiến thức về phân loại chất thải sau tiêm: sau khi tiêm xong, dùng tay để tháo BKT bằng tay; bẻ cong kim tiêm; đậy nắp kim tiêm; không rửa tay sau khi tiêm; không lường trước được những phản ứng bất ngờ của người bệnh đặc biệt là đối với những bệnh nhi, người bệnh có những rối loạn về tâm thần hay những người bệnh bất hợp tác [1]

Thu gom bơm kim tiêm đã sử dụng để tái sử dụng hoặc bán ra thị trường bên ngoài theo những cách không an toàn Những sai phạm này là hết sức trầm trọng bởi chúng có thể gây hại cho cộng đồng dân cư rộng lớn Thải bỏ bơm kim tiêm bừa bãi ra môi trường Tiêu hủy không đúng cách như thiêu đốt gây ô nhiễm không khí, tạo ra những chất sau tiêu hủy chưa thực sự an toàn hoặc chôn lấp không đạt tiêu chuẩn, không đúng độ sâu gây hại cho những người khác [2]

Tình trạng quá tải người bệnh, quá tải công việc đang là những rào cản lớn đối với việc thực hiện TAT Tình trạng thiếu nhân lực, bố trí công việc không hợp

lý khiến ĐDV phải thực hiện quá nhiều công việc dưới nhiều áp lực và việc tuân thủ TAT không được thực thi một cách toàn diện Điều này không chỉ ở Việt Nam

mà còn xảy ra ở nhiều nước phát triển trên thế giới

Ngoài ra, công tác quản lý chưa hiệu quả: thiếu kiểm tra giám sát, thiếu chế tài thưởng phạt, chưa tạo phong trào thi đua, tạo môi trường điều kiện thuận lợi cho TAT [3] Năm 2012, Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành Hướng dẫn TAT với nhiều nội dung cập nhật so với quy trình tiêm hiện đang được thực hiện và yêu cầu triển khai thực hiện tại tất cả các bệnh viện trong toàn quốc nhằm bảo đảm thực hiện mũi tiêm an toàn cho người nhận mũi tiêm, người tiêm và cộng đồng Đến nay nhiều bệnh viện đã cập nhật quy trình tiêm theo Hướng dẫn TAT để ĐDV thực hiện tại bệnh viện song chưa có nghiên cứu nào đánh giá việc thực hiện

Trang 18

TAT tại các bệnh viện theo Hướng dẫn này

Năm 2010 nghiên cứu của Lâm Hữu Đức [7] BVĐK thành phố Cần Thơ khảo sát tình hình tiêm an toàn của điều dưỡng và nữ hộ sinh tại các khoa lâm sàng kết quả tỷ lệ mũi tiêm an toàn chiếm tỷ lệ 50,5%, rửa tay/sát khuẩn nhanh trước khi tiêm chiếm tỷ lệ 65,5%, rửa tay/sát khuẩn nhanh sau tiêm còn thấp 58,5%, sát khuẩn nắp lọ thuốc chiếm tỷ lệ 40,5%

Năm 2014, nghiên cứu Hà Thị Kim Phượng về kiến thức, thực hành TAT của điều dưỡng tại 03 bệnh viện thuộc sở Y tế Hà Nội, TAT được đánh giá theo

21 tiêu chuẩn, cũng được nhóm thành 5 nhóm chính: (1) Thực hành chuẩn bị người bệnh, ĐDV; (2) Thực hành chuẩn bị dụng cụ tiêm; (3) Thực hành chuẩn bị thuốc tiêm;(4) Thực hành kỹ thuật tiêm thuốc và (5) Thực hành xử lý chất thải sau tiêm Tỷ lệ điều dưỡng thực hành TAT đạt 32,1 % và có sự khác biệt giữa 3 bệnh viện được quan sát, cao nhất là bệnh viện Đống Đa 47,4%, bệnh viện Đức Giang 44,0% và bệnh viện Thạch Thất 0%[18]

Năm 2015, nghiên cứu của Đỗ Mộng Thùy Linh [10] tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh nghiên cứu kiến thức, thực hành về tiêm an toàn và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng khoa lâm sàng kết quả cho thấy tỷ lệ điều dưỡng thực hành đúng cả 3 mũi tiêm an toàn là 20,1%, đa số các tiêu chí về đảm bảo vô khuẩn, đảm bảo đúng chỉ định, đúng thời gian, kỹ thuật tiêm thuốc đều đạt rất cao

từ 98% trở lên Các tiêu chí chưa đạt gồm: rửa tay, sát khuẩn tay nhanh 59,7%, không mang gang tay khi tiêm thuốc 13,1%, sau khi tiêm thuốc còn dùng 2 tay để đậy nắp kim 15,4%

Năm 2017, nghiên cứu của Quách Thị Hoa [8] mô tả thực trạng tiêm tĩnh mạch an toàn và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại bệnh viện nhi Trung Ương kết quả tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ tiêm tĩnh mạch an toàn đạt chỉ 39%

Trang 19

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng

Đặc điểm nhân khẩu học

Khảo sát về TAT của điều dưỡng, hộ sinh tại bệnh viện Tiền Giang năm

2009 cũng chỉ ra có sự liên quan giữa thâm niên công tác với các nội dung TAT: thâm niên công tác càng lâu (> 5năm) thì việc thực hiện rửa tay hoặc sát khuẩn tay nhanh trước khi tiêm, không lưu kim sau khi rút thuốc trong lọ, quan sát người bệnh khi tiêm, tư thế người bệnh sau khi tiêm càng tốt Thâm niên <5 năm thì việc giao tiếp khi tiêm, thực hiện kỹ thuật sát khuẩn hoàn chỉnh hơn [11] Kết luận này cũng trùng với mối liên quan tìm thấy qua nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2012 của Phan Văn Tường và Trần Thị Minh Phượng Ngoài ra, các tác giả còn tìm thấy một số yếu tố liên quan đến thực hành TAT của điều dưỡng thời điểm thực hiện mũi tiêm, đường tiêm, thứ tự thực hiện mũi tiêm [19]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Huỳnh Thị Mỹ Thanh và cộng sự năm

2014 nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình tiêm trên 280 người trực tiếp thực hiện mũi tiêm ở 16 khoa lâm sàng tại bệnh viện An Giang Công cụ đánh giá là các bảng kiểm thực hành kỹ thuật tiêm Kết quả cho thấy điểm trung bình cao ở giới nữ (7,7 ± 1,2), nhóm tuổi từ 26 đến 35 (7,8 ± 1,2), ở khoa Nhi (8,9 ± 0,7) Nhóm thực hiện quy trình tiêm truyền tĩnh mạch có điểm trung bình thấp nhất (6,6 ± 0,9) Từ đó, tác giả kết luận rằng giới tính, tuổi, đơn vị công tác, đường tiêm là những yếu tố liên quan đến việc bảo đảm TAT [21], [22]

Theo nghiên cứu của Quách Thị Hoa về thực trạng tiêm tĩnh mạch an toàn

và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Nhi Trung Ương năm 2017 kết quả cũng cho thấy nguy cơ không thực hiện TAT đạt ở điều dưỡng nữ cao hơn ở điều dưỡng nam gấp 0,303 lần [8]

Kiến thức và đào tạo

Nghiên cứu tại khoa Nhi thuộc bệnh viện Nữ Hoàng Elizabeth Trung ương tại Trung Quốc được thực hiện vào tháng 10-11 năm 2008 với nội dung đánh giá phương pháp giảng dạy cho một khóa học về TAT với việc quan sát 223 mũi tiêm Kết quả nghiên cứu chỉ ra có sự liên quan giữa kiến thức và thực hành kỹ thuật tiêm, đồng thời nghiên cứu đã đưa ra kết luận về việc tổ chức các khóa huấn luyện

Trang 20

về TAT không nhất thiết phải chi phí nhiều, nhưng hiệu quả đưa lại rất lớn cả về kiến thức và thực hành cho người thực hiện [41].

Nghiên cứu của S.Kolade Ermst năm 2002 tại Nigeria ghi nhận những lý

do tỷ lệ thực hành TAT trong đó 17,7% đối tượng cho rằng do thiếu hiểu biết Do

đó 33,7% đối tượng đề nghị được đào tạo lại và được cung cấp thêm các trang thiết bị để xử lý dụng cụ đúng cách [37] Có thể nói đào tạo về thực hành được khuyến khích để đảm bảo thực hiện TAT Năm 2010 theo Donal với cộng sự, và năm 2005 nghiên cứu của Fawcett, J cũng cùng quan điểm khi kết luận rằng các nhân viên phải có kiến thức, đào tạo và thiết bị dễ thực hiện các thủ thuật tiêm truyền một cách an toàn [38], [39] Kết luận này càng được khẳng định qua nghiên cứu của Phạm Thị Thanh Thúy, Võ Phi Long tại bệnh viện Nam Đông (2010) khi 42,01% điều dưỡng được hỏi trả lời thiếu thông tin là yếu tố ảnh hưởng lớn đến TAT [12]

Yếu tố thiếu và chưa được cập nhật thông tin về TAT ảnh hưởng đến thực hành TAT cũng được đề cập đến trong nghiên cứu Phạm Đức Mục năm 2005 trên phạm vi toàn quốc [14] và của Phạm Thị Liên năm 2015 [9] Ngoài ra, một số nguyên nhân dẫn đến thực hành TAT chưa tốt cũng được đưa ra là do điều dưỡng chưa tuân thủ đúng qui trình kỹ thuật và các thao tác KSNK trong thực hành tiêm, trong thu gom, xử lý và quản lý chất thải y tế sắc nhọn [6]

Theo nghiên cứu Hà Thị Kim Phượng về kiến thức, thực hành TAT của điều dưỡng tại 03 bệnh viện thuộc sở Y tế Hà Nội năm 2014 kết quả cho thấy nhóm ĐDV có kiến thức TAT không đạt có khả năng thực hành TAT không đạt cao gấp 10,3 lần so với nhóm ĐDV có kiến thức TAT đạt [18]

Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Công Thành (2016) tại bệnh viện tim mạch An Giang về thực trạng thực hiện mũi tiêm TAT của điều dưỡng [23] Cấu phần định tính tiến hành thông qua phỏng vấn sâu 9 đối tượng gồm cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý khoa phòng và điều dưỡng trưởng, ĐDV về thực trạng tuân thủ quy trình kỹ thuật tiêm, các yếu tố ảnh hưởng; thảo luận nhóm nhằm xác định các vấn đề, tình huống không an toàn khi tiêm, đề xuất các giải pháp để thực hiện TAT Trong các cuộc thảo luận nhóm, điều dưỡng đưa ra ý kiến cần tăng cường kiến thức cho điều dưỡng để họ hiểu thế nào là mũi TAT, nhận

Trang 21

thức được các nguy cơ của tiêm không an toàn, việc đào tạo, tập huấn phải được làm thường xuyên, để duy trì thì phải kiểm tra, giám sát liên tục[13]

Theo nghiên cứu của Quách Thị Hoa năm 2017 tại Bệnh viện Nhi Trung Ương kết quả cho thấy việc tham gia tập huấn tại bệnh viện là yếu tố nâng cao kiến thức và thực hành về TAT của điều dưỡng trong toàn bệnh viện Nguy cơ không thực hành về TAT của nhóm điều dưỡng chưa tập huấn cao hơn 0,128 lần

so với nhóm điều dưỡng đã tham gia tập huấn về TAT [8]

Yếu tố môi trường

Tại Nigeria năm 2002, SKolade Ermst đã tìm ra lý do tỷ lệ thực hành TAT không cao là do cung cấp trang thiết bị dụng cụ không đầy đủ (theo ý kiến 27% đối tượng nghiên cứu) [37] Năm 2011, một chương trình nghiên cứu được thực hiện tại Academic Medical Center, Netherlands về sử dụng các dụng cụ y tế được thiết kế để ngăn ngừa chấn thương qua da Nhân viên y tế có nguy cơ chấn thương kim đâm được phân ngẫu nhiên vào 1 trong 2 nhóm can thiệp hoặc nhóm kiểm soát Các can thiệp bao gồm: sử dụng kim tiêm an toàn và tập huấn về tiêm an toàn Sau 12 tháng theo dõi, tỷ lệ bị chấn thương qua da ở 2 nhóm giảm là 64% và 21% [38]

Kết luận này cũng được nhấn mạnh trong nghiên cứu tại bệnh viện Nam Đông (2010) của Võ Phi Long và Phan Thị Thanh Thủy khi hỏi về các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình TAT: 100% đối tượng nghiên cứu trả lời là do phương tiện TAT không phù hợp với yêu cầu sử dụng; 21,53% cho là do phân loại, thu gom, xử lý chất thải không an toàn; 16,32% nhấn mạnh là do quá tải công việc và 14,93% cho là thiếu nhân lực; một tỷ lệ nhỏ nhận định tiêm không an toàn là do lạm dụng thuốc tiêm (2,43%) [12]

Yếu tố tổ chức, quản lý (nhân lực, công việc, kiểm tra, giám sát )

Ngoài ra trong dự án can thiệp tại huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2008-2009, Hội điều dưỡng Việt Nam cũng đưa ra các chỉ số: (1) Có báo cáo tai nạn rủi ro và (2) Có hệ thống theo dõi rủi do vật sắc nhọn để tiến hành can thiệp Kết quả thu được tỷ lệ TAT tăng lên và các chỉ số trên cũng được thực hiện Câu hỏi đặt ra là liệu có mối liên quan giữa việc quản lý rủi ro với việc đảm bảo tuân thủ quy trình khi thực hành TAT? Do đó, trong nghiên cứu của chúng tôi

Trang 22

cũng đưa những chỉ số này để tìm câu trả lời thông qua cấu phần định tính

Theo kết quả nghiên cứu của Võ Phi Long (2010) Phan Thị Thanh Thủy tại bệnh viện Nam Đông đã chỉ ra tình trạng quá tải công việc (ý kiến của 16,3% đối tượng nghiên cứu) và 14,9% đối tượng nghiên cứu cho rằng thiếu nhân lực ảnh hưởng rất lớn đến thực hiện tuân thủ quy trình TAT [12]

Theo kết quả nghiên cứu của Quách Thị Hoa năm 2017 tại bệnh viện Nhi Trung Ương cũng chỉ ra được công tác quản lý, nhân lực và phương tiện, dụng cụ, kênh thông tin cung cấp về TAT, ý thức của ĐDV cũng là những yếu tố liên quan đến việc tuân thủ quy trình thực hành TAT của điều dưỡng [8]

Những kết quả trên cho thấy công tác tổ chức và quản lý về TAT tại bệnh viện rất quan trọng, có tác động tích cưc đến việc tăng mức độ tuân thủ các bước của TAT lên thông qua các hoạt động như đào tạo liên tục, kiểm tra, giám sát thực hiện TAT

Để thay đổi hành vi cần phải cung cấp kiến thức, thông tin và phát triển kỹ năng Vì vậy thực hiện đào tạo, huấn luyện và đặc biệt là kiểm tra, giám sát có tác dụng rất lớn

để nâng cao trách nhiêm cá nhân trong chăm sóc người bệnh và tạo ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình kỹ thuật tiêm của các điều dưỡng [16]

1.4.Nguy cơ và gánh nặng của tiêm không an toàn

Nguy cơ của tiêm không an toàn

Tiêm không an toàn gây ra các tác động mang tính toàn cầu bao gồm sức khỏe, kinh tế, gánh nặng tâm lý, xã hội và các lĩnh vực khác nhau ở trên cá nhân, gia đình, cộng đồng và quốc gia [21]

Tiêm không an toàn có thể gây lây nhiễm nhiều loại tác nhân gây bệnh khác nhau như vi rút, vi khuẩn, nấm và ký sinh trùng Tiêm không an toàn cũng

có thể gây các biến chứng khác như áp-xe và phản ứng nhiễm độc Việc sử dụng lại bơm tiêm hoặc kim tiêm còn phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới khiến cho người bệnh phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh một cách trực tiếp (qua dụng cụ nhiễm bẩn) hoặc gián tiếp (qua lọ thuốc nhiễm bẩn)

Một nghiên cứu năm 2014 do WHO tài trợ, tập trung vào các dữ liệu gần đây nhất, ước tính trong năm 2010, có tới 1,7 triệu người bị nhiễm vi rút viêm gan

B, lên tới 315.000 người mắc virus viêm gan C và có tới 33.800 người nhiễm HIV

Trang 23

một mũi tiêm không an toàn Các hướng dẫn và chính sách an toàn tiêm mới của WHO được công bố hôm nay cung cấp các khuyến nghị chi tiết nêu bật giá trị của các tính năng an toàn cho ống tiêm, bao gồm các thiết bị bảo vệ nhân viên y tế chống lại chấn thương do kim vô tình và do đó bị nhiễm trùng [42].

Đối với NVYT, nếu mũi tiêm không an toàn có thể dẫn đến những hậu quả khó lường mà chủ yếu là các bệnh lây qua đường máu như viêm gan B; HIV Một mắt xích quan trọng của quá trình lây bệnh từ người bệnh sang nhân viên y tế qua đường máu là các tai nạn do vật sắc nhọn Theo WHO, đối tượng bị tai nạn nghề nghiệp do kim đâm vào tay chiếm tỷ lệ cao nhất là điều dưỡng (44 - 72%); tiếp theo là bác sỹ 28%; kỹ thuật viên xét nghiệm là 15%; hộ lý là 3 - 16 % và nhân viên hành chính chiếm khoảng 1 - 6% [16]

Mặc dù tỷ lệ thương tổn ngoài cộng đồng hiện nay chưa được thống kê một cách đầy đủ hệ thống như những tổn thương cho người bệnh và cán bộ y tế nhưng những bằng chứng của sự tác động đó đã được chứng minh trên thực tế Những nguy hại cho cộng đồng thường xảy ra khi những dụng cụ sau tiêm không được

xử lý an toàn và khi cộng đồng nhặt và sử dụng lại BKT đã sử dụng, những tổn thương có thể xẩy ra, hoặc khi thiêu đốt không an toàn có thể gây ra những nguy hại cho môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng

1.5 Tiêu chuẩn đánh giá tiêm tĩnh mạch an toàn

Tiêu chuẩn đánh giá tiêm tĩnh mạch an toàn theo Hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Bộ Y tế ban hành tháng 9/2012 [4]

Thực hiện khuyến cáo và được sự hỗ trợ kỹ thuật của WHO, năm 2010, Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam ra Quyết định số 2642/QĐ-BYT ngày 21 tháng 7 năm

2011 thành lập Ban soạn thảo các tài liệu hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK), trong đó có Hướng dẫn TAT [4] Ban soạn thảo tài liệu gồm các thành viên có kinh nghiệm lâm sàng, giảng dạy và quản lý liên quan đến tiêm như Điều dưỡng viên (ĐDV), Bác sĩ, Dược sĩ, Chuyên gia KSNK, Chuyên gia quản lý khám, chữa bệnh và đại diện Hội Điều dưỡng Việt Nam Tài liệu được biên soạn trên cơ sở tham khảo chương trình, tài liệu đào tạo TAT do Cục Quản lý khám, chữa bệnh phối hợp với Hội Điều dưỡng Việt Nam xây dựng và áp dụng thí điểm

Trang 24

tại 15 bệnh viện trong toàn quốc trong hai năm 2009-2010; tham khảo các kết quả khảo sát thực trạng TAT của Hội Điều dưỡng Việt Nam các năm 2014, 2015, 2017; tham khảo kết quả rà soát các tài liệu về tiêm, vệ sinh tay, quản lý chất thải

y tế và KSNK Việt Nam và các tổ chức WHO, CDC, UNDP, tài liệu hướng dẫn TAT của một số Bộ Y tế các nước, các trường đào tạo điều dưỡng, y khoa, các tạp chí an toàn cho người bệnh và KSNK của khu vực và của toàn thế giới [10],[18],[8]

Tài liệu Hướng dẫn tiêm tĩnh mạch an toàn được ban hành kèm theo quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 với 20 tiêu chí bao gồm các nội dung về chuẩn bị phương tiên dụng cụ tiêm; kiểm soát nhiễm khuẩn; kỹ thuật tiêm; giao tiếp với người bệnh; đảm bảo an toàn Nội dung của tài liệu Hướng dẫn bao gồm 5 phần [4]:

- Các khái niệm, mục đích, những phạm vi và đối tượng sử dụng tài liệu hướng dẫn

- Sinh bệnh học nhiễm khuẩn đường máu do tiêm không an toàn

- Các giải pháp tăng cường thực hành TAT

- Dự phòng phơi nhiễm nghề nghiệp với các tác nhân gây bệnh đường máu trong tiêm

- Phụ lục: các bảng kiểm quy trình vệ sinh tay và quy trình tiêm các loại

1.6.Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu

Thành phố Cần Thơ nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, là một trong bốn tỉnh thành kinh tế trọng điểm và có dân số đông tại Việt Nam (1,4 triệu/năm), là nơi hội tụ, đầu mối giao thông huyết mạch các tuyến đường sông, đường biển, đường bộ, đường hàng không tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long Mạng lưới chăm sóc sức khỏe tại Cần Thơ đang từng bước phát triển để phục vụ người dân trong và ngoài thành phố

Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ là bệnh viện hạng I trực thuộc Sở Y

tế thành phố Cần Thơ nằm trên địa bàn thành phố trực thuộc Trung Ương

Bệnh viện được xây dựng theo tiêu chuẩn Quốc tế với 9 tầng nổi và 01 tầng hầm, có sân đáp đối với máy bay trực thăng trên tầng thượng nhằm để phục vụ

Trang 25

cho việc chuyển bệnh nhân cấp cứu nặng đến các Bệnh viện tuyến trên và các nước trong khu vực Hiện tại bệnh viện với 550 giường bệnh kế hoạch, trong đó

có 21 khoa lâm sàng, 05 khoa cận lâm sàng và 08 phòng chức năng với tổng nhân

sự 877 người (596 biên chế và 281 hợp đồng) nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc y

tế cho nhân dân trong địa bàn thành phố cũng như tiếp nhận điều trị người bệnh ở các nơi trong khu vực lân cận

Giữa năm 2016 đến nay Bệnh viện đã triển khai thêm nhiều kỷ thuật mới như: mỗ tim hở, can thiệp mạch vành…đồng thời đưa vào sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị y tế như: MRI, MSCTĐM vành …đã đáp ứng phần nào nhu cầu chăm sóc y tế cho nhân dân trong khu vực

Do bệnh viện nằm trên địa bàn thành phố trực thuộc Trung Ương nên vừa phải tiếp nhận điều trị cho nhân dân tại địa phương còn phải tiếp nhận người bệnh

từ các tuyến dưới trong thành phố cũng như các tuyến tỉnh lân cận chuyển tới vì thế Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ luôn trong tình trạng quá tải Vì thế luôn vượt chỉ tiêu được giao

Theo số lượng thống kê 6 tháng đầu năm tổng số lượng khám 294.630 lượt, lượng khám bệnh ngoại trú khoảng 2.500 bệnh nhân/ ngày, lượng bệnh nội trú từ 850-900 bệnh nhân/ngày Hiện tại các khoa điều trị luôn trong tình trạng quá tải cục bộ Thực trạng nhân lực điều dưỡng tại các khoa lâm sàng vẫn còn thiếu so với lưu lượng bệnh nhân Tình hình thực hiện y lệnh mỗi ngày tại các khoa nhiều nhất là đường tiêm tĩnh mạch, tiếp theo là thuốc uống và truyền dịch

Tại 16 khoa lâm sàng có 254 điều dưỡng, trong đó có 171 điều dưỡng để hoàn tất y lệnh cho bệnh nhân Các điều dưỡng này được phân công làm việc theo nhóm và luân phiên trực theo tua tùy mô hình bệnh tật từng khoa Các hình thức trực đang áp dụng: làm việc 8 giờ/ngày hoặc 16 giờ/ngày hoặc 24 giờ/ngày và nghỉ bù 24 giờ/tua Tùy theo số nhóm trực mà mỗi tua xoay vòng sao cho tổng thời gian làm việc của mỗi điều dưỡng đảm bảo 40 giờ/tuần và thời gian làm việc ngoài giờ theo chế độ đặc thù nhưng không quá 30 giờ/tháng

Trang 26

1.7.Khung lý thuyết

Qua tham khảo các nghiên cứu của Đỗ Mộng Thùy Linh (2015) [8], Phạm Thị Liên (2015) [9], Quách Thị Hoa (2017) [8] về một số yếu tố liên quan đến TAT tại các khoa bệnh viện có kết quả cho thấy các yếu tố nhân khẩu học, yếu tố môi trường, kiến thức TAT, cập nhật thông tin và tổ chức quản lý đề của liên quan đến thực hành quy trình TAT, nên tôi đã xây dựng khung lý thuyết như sau:

THỰC HÀNH TIÊM TĨNH MẠCH AN TOÀN

- Chuẩn bị người bệnh, ĐDV, dụng cụ

môn khi tốt nghiệp

- Thâm niên công tác

Tổ chức quản lý

- Tổ chức thực hiện

- Bố trí nhân sự

- Tuyên truyền TAT

- Kiểm tra giám sát

- Thưởng phạt

- Tài chính

Kiến thức tiêm tĩnh mạch an toàn

- Kiến thức chung

- Chuẩn bị trước tiêm

- Quy trình tiêm

- Xử lý chất thải

Trang 27

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Cấu phần định lượng

Điều dưỡng trực triếp tiếp xúc với người bệnh tại bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ

Tiêu chuẩn chọn điều dưỡng viên

- Đang công tác tại 16 khoa lâm sàng: Ngoại Tiết niệu; Ngoại Tổng hợp; Ngoại Chấn thương; Ngoại Lồng ngực; Ngoại Thần kinh; Nội Tổng hợp; Điều Trị theo yêu cầu; Nội Tiêu hóa - Huyết học; Nội Tim mạch - Lão học; Nội Tiết; Khoa Hồi sức Cấp cứu; Khoa Nội Thần kinh – Cơ Xương Khớp; Khoa Nội Thận Lọc Máu – Tiết Niệu; Truyền nhiễm; Răng Hàm Mặt; Tai Mũi Họng

- Có tiếp xúc trực tiếp với người bệnh

- Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

- Điều dưỡng đang đi học;

- Điều dưỡng đang trong thời gian nghỉ hậu sản;

- Điều dưỡng đang nghỉ dài hạn

2.1.2 Cấu phần định tính

Đại diện lãnh đạo bệnh viện phụ trách quản lý công tác điều dưỡng, điều dưỡng trưởng các khoa lâm sàng, điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: 16 khoa lâm sàng bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2019

2.3 Thiết kế nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết

hợp nghiên cứu định lượng và định tính

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng

Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả để xác định

một tỷ lệ:

Trang 28

p x (1- p)

n = Z2 1-α/2

d2

Trong đó

+ n: cỡ mẫu tối thiểu

+ Z2 1-α/2 = 1,96 là giá trị tương ứng với mức ý nghĩa thống kê α=0,05

+ p= 0,201 (tỷ lệ mũi tiêm an toàn của Đỗ Mộng Thùy Linh nghiên cứu tại khoa lâm sàng bệnh viện đa khoa Trà Vinh năm 2015 [10])

+ d= 0,05 độ chính xác tuyệt đối mong muốn

Sau khi thay số vào công thức, cỡ mẫu của nghiên cứu là n=246 mũi tiêm tĩnh mạch, qua tham khảo một số nghiên cứu về tiêm an toàn tại Việt Nam, đa số các nghiên cứu quan sát từ 1 đến 2 mũi tiêm Trên thực tế, để thuận lợi cho việc tính số mũi tiêm tĩnh mạch/ 1 điều dưỡng, tôi chọn mẫu toàn bộ điều dưỡng đang công tác tại 16 khoa lâm sàng gồm 223 ĐDV trong đó có 46 ĐDV không trực tiếp chăm sóc người bệnh và có 6 ĐDV đang nghỉ hậu sản Nên cỡ mẫu là 171 ĐDV, với số lần quan sát 02 mũi tiêm tĩnh mạch/ 01 điều dưỡng Như vậy, tổng số mũi tiêm thực hiện quan sát là 342 mũi tiêm tĩnh mạch

2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính

Lựa chọn có chủ đích các đối tượng phỏng vấn sâu/ thảo luận nhóm Đó là những người trực tiếp làm công tác tiêm thuốc, những người quản lý trực tiếp các điều dưỡng tiêm thuốc và quản lý toàn bộ điều dưỡng trong bệnh viện

Phỏng vấn sâu 02 lãnh đạo bệnh viện: 01 Phó giám đốc phụ trách công tác điều dưỡng; 01 điều dưỡng trưởng bệnh viện

Phỏng vấn sâu 16 điều dưỡng trưởng khoa

Thảo luận nhóm 16 điều dưỡng trực tiếp thực hành tiêm trên người bệnh: chọn ngẫu nhiên mỗi khoa 1 điều dưỡng

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu định lượng

 Công cụ thu thập số liệu

- Phiếu khảo sát kiến thức về tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng (phụ lục 1): bao gồm các câu hỏi về kiến thức tiêm tĩnh mạch an toàn (kiến thức chung

Trang 29

về tiêm tĩnh mạch an toàn; chuẩn bị người bệnh, điều dưỡng thực hiện; dụng cụ tiêm; chuẩn bị lấy thuốc tiêm; kỹ thuật tiêm thuốc; xử lý chất thải sau khi tiêm)

- Phiếu quan sát thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn (phụ lục 2): gồm 20 tiêu chí, được xây dựng d0ựa trên quy định của Bộ Y tế về hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám, chữa bệnh [4]

 Phương pháp thu thập số liệu

Bước 1: Quan sát ĐDV thực hiện quy trình tiêm tĩnh mạch an toàn

Điều tra viên dùng bảng kiểm để quan sát các ĐDV thực hành tiêm tĩnh mạch Quan sát từ thứ hai đến thứ sáu, mỗi buổi quan sát 5 ĐDV và đúng thời điểm điều dưỡng viên thực hiện y lệnh tiêm thuốc cho người bệnh, không không báo trước thời gian gian sát

Quan sát mỗi điều dưỡng viên thực hiện 2 quy trình tiêm tĩnh mạch

Khi tiếp cận đối tượng nghiên cứu, người đánh giá thực hiện quan sát dùng bảng kiểm để quan sát (phụ lục 2), mỗi bảng kiểm sử dụng để quan sát thực hiện

01 mũi tiêm tĩnh mạch của 01 ĐDV trong đó có 20 tiêu chí của một mũi tiêm Người quan sát chọn vị trí quan sát thích hợp để không gây sự chú ý của đối tượng nghiên cứu nhưng vẫn quan sát được đầy đủ hoạt động mà đối tượng nghiên cứu thực hiện khi chăm sóc, điều trị người bệnh

Bước 2: Thu thập số liệu bằng phiếu khảo sát kiến thức về tiêm tĩnh mạch an toàn

Được tiến hành sau khi kết thúc việc thu thập phiếu quan sát Phiếu khảo sát kiến thức về tiêm tĩnh mạch an toàn được phát cho các ĐDV trong các buổi giao ban điều dưỡng của các khoa Điều tra viên trực tiếp phát và thu về ngay sau buổi giao ban, khi các ĐDV hoàn thành việc điền phiếu khảo sát

2.5.2 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu định tính

 Phương pháp thu thập số liệu

01 cuộc Phỏng vấn sâu phó giám đốc bệnh viện phụ trách công tác điều dưỡng, điều dưỡng trưởng của các khoa nghiên cứu: Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc để phỏng vấn đại diện lãnh đạo bệnh viện, điều dưỡng trưởng khoa, nội dung mỗi cuộc phỏng vấn được bám sát trọng tâm vào chủ đề đã đề cập trong nghiên cứu nhằm làm rõ mục tiêu nghiên cứu Nội dung phỏng vấn đã được

Trang 30

ghi chép và ghi âm sau đó tóm tắt bằng văn bản Mỗi cuộc phỏng vấn sâu khoảng

30 phút Nguồn số liệu này do nghiên cứu viên trực tiếp phỏng vấn và gỡ băng, có biên bản phỏng vấn

Thảo luận nhóm: chọn mỗi khoa 1 điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh Tổ chức 3 cuộc thảo luận nhóm với 16 điều dưỡng được chọn chia làm 3 nhóm, Nhóm 1: Ngoại tổng hợp, ngoại chấn thương, ngoại tiết niệu, ngoại lồng ngực, ngoại thần kinh; Nhóm 2: khoa điều trị theo yêu cầu, truyền nhiễm, răng hàm mặt, tai mũi họng, nội tiết; Nhóm 3: Nội tổng hợp, Nội tiêu hóa- huyết học, nội tim mạch lão học, nội thần kinh – cơ xương khớp, nội thận lọc máu – tiết niệu, hồi sức cấp cứu Nội dung thảo luận theo phiếu hướng dẫn thảo luận nhóm, các nội dung thảo luận phải đảm bảo được thảo luận kỹ, cụ thể đến hết các ý kiến của các đối tượng nghiên cứu, các ý kiến đề xuất, phản hồi đều phải được ghi chép đầy đủ vào biên bản, biên bản phải được thông qua trước khi kết thúc cuộc thảo luận Thời gian thảo luận từ 60-90 phút

 Bộ công cụ định tính: Hướng dẫn phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm

Phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu (phụ lục 3, 4): gồm các câu hỏi mở được xây dựng dựa theo chức năng nhiệm vụ của đối tượng phỏng vấn sâu trong quy chế bệnh viện Mục đích thu thập ý kiến của đối tượng phỏng vấn sâu về thực trạng tuân thủ quy trình tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng tại bệnh viện, tìm hiểu lý do, các động tác hay gặp sai sót khi thực hiện quy trình tiêm tĩnh mạch an toàn, các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự tuân thủ quy trình tiêm tiêm tĩnh mạch

an toàn của điều dưỡng, vai trò của tiêm an toàn trong chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện, những giải pháp để nâng cao việc tuân thủ quy trình tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng

Phiếu hướng dẫn thảo tuận nhóm (phụ lục 5): nội dung gợi ý thảo luận gồm các câu hỏi mở xây dựng dựa vào chức năng, nhiệm vụ của đối tượng nghiên cứu Thu thập ý kiến của đối tượng nghiên cứu về thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng, những quy định và thông tin về tiêm an toàn, tìm hiểu lý do, các động tác hay gặp sai sót khi thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn, các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng và đề xuất

Trang 31

biện pháp để giải quyết thống nhất với số ý kiến của các thành viên trong nhóm thảo luận

2.6 Các biến số, chỉ số nghiên cứu

* Các thông tin chủ đề nghiên cứu định lượng

- Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu: Tuổi, giới tính, trình độ chuyên

môn, thâm niên công tác

- Biến số tiếp cận thông tin về tiêm an toàn

+ Đã tham gia lớp tập huấn về TAT;

+ Nơi tập huấn;

+ Số lần tập huấn;

+ Hình thức tập huấn, hình thức đào tạo có lý thuyết hay bao gồm cả thực hành; + Có sẵn tài liệu về TAT tại khoa/phòng;

+ Nhu cầu cần được đào tạo, tập huấn về TAT của điều dưỡng;

+ Kênh cung cấp thông tin TAT;

+ Nội dung về TAT cần được cung cấp thêm

- Nhóm biến số về kiến thức chung TAT

+ Kiến thức chung về TAT;

+ Kiến thức chuẩn bị người bệnh, điều dưỡng thực hiện;

+ Kiến thức chuẩn bị dụng cụ, thuốc;

+ Kiến thức về kỹ thuật tiêm thuốc;

+ Kiến thức xử lý chất thải sau tiêm

- Nhóm biến số thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn

+ Thực hành chuẩn bị người bệnh, điều dưỡng thực hiện;

+ Chuẩn bị dụng cụ;

+ Thực hành kỹ thuật tiêm thuốc;

+ Thu dọn dụng cụ

* Các thông tin chủ đề nghiên cứu định tính

- Tiếp nhận thông tin về tiêm tĩnh mạch an toàn

+ Vấn đề đào tạo về tiêm tĩnh mạch an toàn tại bệnh viện: Hình thức đào tạo, nội dung và thời gian đào tạo

Trang 32

+ Ảnh hưởng của việc đào tạo đối với thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng

- Công tác tổ chức, quản lý

+ Những ảnh hưởng của việc phân bổ nhân lực điều dưỡng tại các khoa đến việc thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn: quá tải công việc do thiếu nhân lực, số lượng bệnh nhân, tình trạng người bệnh, các yếu tố cá nhân của điều dưỡng

+ Ảnh hưởng của việc tổ chức, sắp xếp nhân lực chưa hợp lý ảnh hưởng tới thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng

+ Vai trò của việc giám sát, kiểm tra sự tuân thủ của điều dưỡng khi thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn: Phân công nhân lực giám sát kiểm tra, chịu trách nhiệm chính trong khâu giám sát điều dưỡng khi thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn, yêu cầu đặt ra với nhân viên thực hiện giám sát

+ Ảnh hưởng của kiểm soát nhiễm khuẩn trong việc thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng

+ Những hiệu quả của các hình thức thưởng phạt, các chế tài trong việc thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng

- Yếu tố môi trường

Các yếu tố về trang thiết bị, dụng cụ y tế và xử lý chất thải với việc thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng

- Các giải pháp để nâng cao kiến thức, kỹ năng thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng tại bệnh viện

2.7 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thực hành tiêm an toàn tĩnh mạch an toàn

2.7.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thực hành về tiêm tĩnh mạch an toàn

Thu thập số liệu về kiến thức tiêm an toàn của điều dưỡng: chúng tôi sử dụng phương pháp phát vấn bằng bộ câu hỏi phụ lục 2 Đánh giá dựa trên các câu hỏi về kiến thức (có 27 câu: 27 điểm) theo hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám chữa bệnh, ban hành kèm theo quyết định số 3671/QĐ-BYT [4], tham khảo nghiên cứu của Đỗ Mộng Thùy Linh (2015) [10]

Kiến thức về TAT được xây dựng bao gồm các nội dung:

- Kiến thức chung về TAT

Trang 33

- Kiến thức về chuẩn bị người bệnh, điều dưỡng thực hiện

- Kiến thức về chuẩn bị dụng cụ, thuốc

- Kiến thức về kỹ thuật tiêm thuốc

- Kiến thức về xử lý chất thải sau tiêm

Tính điểm kiến thức khi đạt là trả lời đúng 75%, tổng số câu hỏi về kiến thức là 27 câu (tổng điểm = 27 điểm), mỗi câu hỏi một lựa chọn đúng được 1 điểm [10]

Đánh giá kiến thức đạt: Nếu đối tượng nghiên cứu trả lời các câu hỏi về kiến

thức về tiêm tĩnh mạch an toàn đạt 20/27 điểm trở lên [10]

Đánh giá kiến thức không đạt: Nếu đối tượng nghiên cứu trả lời các câu hỏi

về kiến thức về TAT đạt 19/27 điểm trở xuống [10]

2.7.2 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn

Xây dựng bảng kiểm quan sát điều dưỡng để đánh giá về thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng dựa vào tiêu chí hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ

sở khám chữa bệnh, Ban hành kèm theo quyết định số 3671/QĐ-BYT [4] và tham

khảo nghiên cứu của Đỗ Mộng Thùy Linh “Kiến thức, thực hành về tiêm an toàn và

một số yếu tố liên quan của điều dưỡng khoa lâm sàng tại bệnh viện đa khoa Trà Vinh năm 2015” [10]

Mỗi điều dưỡng được quan sát 2 mũi tiêm, được đánh giá là đạt khi thực hiện đúng cả 2 mũi tiêm

Tính điểm cho phần thực hành về tiêm tĩnh mạch an toàn phải thực hiện đạt

20 tiêu chí trong 1 quy trình Nếu có 1 tiêu chí thực hành sai hoặc không thực hiện xem như không đạt về thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn

Đánh giá thực hành đạt tiêu chuẩn tiêm tĩnh mạch an toàn: khi đạt 20/20

điểm

Đánh giá thực hành không đạt tiêu chuẩn tiêm tĩnh mạch an toàn: khi đạt

< 20/20 điểm

Trang 34

2.8 Xử lý và phân tích số liệu

2.8.1 Số liệu định lượng

- Số liệu sau khi thu thập được kiểm tra và làm sạch Các bảng kiểm quy trình kỹ thuật được quan sát chấm điểm và các phiếu phát vấn ngay sau khi thu thập về được rà soát để đảm bảo đủ thông tin, nếu thiếu điều tra viên và nghiên cứu viên sẽ bổ sung ngay tại thời điểm đó

- Số liệu được nhập bằng phần mềm Epi.Data 3.1, sau đó được làm sạch và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0

2.8.2 Số liệu định tính

- Số liệu định tính thu được từ các cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm được ghi chép vào sổ sách hoặc ghi âm Sau đó, nghiên cứu viên tiến hành gỡ băng và tổng hợp thông tin

- Các số liệu định tính được mã hóa, phân tích và trích dẫn theo nhóm chủ đề nghiên cứu: Cập nhật thông tin TAT, tổ chức quản lý, phương tiện dụng cụ

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được sự ủng hộ của Ban Giám đốc bệnh viện, các phòng chức năng, các khoa lâm sàng của bệnh viện

Đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự đồng thuận, hợp tác tham gia của đối tượng nghiên cứu

Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được đảm bảo giữ kín Các thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế công cộng thông qua và phê duyệt theo quyết định số 201/2019/YTCC-HD3 ngày 22 tháng 4 năm 2019

Trang 35

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n=171)

có thời gian công tác dưới 5 năm chiếm 62,0% và thấp nhất là trên 10 năm chiếm

tỷ lệ 11,1%

Trang 36

Bảng 3.2 Tiếp cận thông tin về tiêm an toàn của đối tượng nghiên cứu (n=171)

Hình thức đào tạo TAT có bao gồm cả thực hành

Kênh cung cấp thông tin TAT phù hợp

Điều dưỡng trưởng phổ biến tại khoa 33 19,3

Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết điều dưỡng đã từng tham gia lớp tập huấn về TAT với 151 điều dưỡng chiếm tỷ lệ 88,3% Trong đó nơi tập huấn chủ yếu là bệnh viện và tập trung tại hội trường lớn chiếm 83,0% Điều dưỡng được

Trang 37

đào tạo trung bình 1,7 lần, có điều dưỡng không được đào tạo và có điều dưỡng được đào tạo nhiều nhất 12 lần

Việc đào tạo TAT chỉ đào tạo về kiến thức và bao gồm cả thực hành cũng tương đồng với nhau 40,9% và 47,4% Các khoa phòng trong bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ đều có sẵn tài liệu về TAT được 87,7% điều dưỡng đánh giá

Hầu như điều dưỡng đều có nhu cầu đào tạo, tập huấn TAT với 156 điều dưỡng chiếm 91,2% trong số đó có 138 điều dưỡng cần kênh cung cấp thông tin được tập huấn tại bệnh viện chiếm 80,7% và chỉ có 19,3% muốn điều dưỡng trưởng phổ biến tại khoa

Bảng 3.3 Phân bố theo khoa lâm sàng (n=171)

Tại 16 khoa lâm sàng của bệnh viện có tổng số điều dưỡng tham gia nghiên cứu là 171 điều dưỡng Số điều dưỡng nhiều nhất trong một khoa là Khoa Hồi sức cấp cứu chiếm tỷ lệ 13,5% ít nhất là khoa răng hàm mặt và tai mũi họng đều có 3

Trang 38

điều dưỡng chiếm tỷ lệ 1,8% Còn lại các khoa khác có số điều dưỡng tương đương nhau

3.2 Tuân thủ kiến thức, thực hành về tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ

3.2.1 Tuân thủ kiến thức về tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ

Bảng 3.4 Kiến thức chung về tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ (n=171)

Nội dung

Số lượng (n)

Tỉ lệ (%)

Số lượng (n)

Tỉ lệ (%)

Để phòng và chống shock phản vệ 121 70,8 50 29,2 Hành động cần làm đẩu tiên của điều

dưỡng khi người bệnh có shock phản vệ 95 55,6 76 44,4

Hầu hết điều dưỡng đều biết mục đích của tiêm an toàn chiếm 86,0%, tiếp đến là cách đề phòng và chống shock phản vệ chiếm 70,8%, hậu quả tiêm không

an toàn 57,3% và hành động cần làm đầu tiên của điều dưỡng khi người bệnh có shock phản vệ chiếm 55,6% Bên cạnh đó vẫn còn khá nhiều điều dưỡng chưa biết

về quy trình tiêm an toàn là không gây nguy hại cho người tiêm, người được tiêm

và cả cộng đồng chiếm tỷ lệ 63,7%

Trang 39

Bảng 3.5 Kiến thức về chuẩn bị người bệnh, điều dưỡng thực hiện của điều

dưỡng các khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ (n=171)

Nội dung

Số lượng (n)

Tỉ lệ (%)

Số lượng (n)

Tỉ lệ (%)

Thời điểm cần vệ sinh tay khi thực hiện

Để đảm bảo an toàn cho người bệnh

trước khi tiêm cần thực hiện 5 đúng 139 81,3 32 18,7 Trước khi tiêm kháng sinh mũi đầu tiên

Có mang găng khi tiêm tĩnh mạch

Chỉ định mang khẩu trang trong trường

Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức về chuẩn bị người bệnh, người điều dưỡng chưa cao; có 66,1% điều dưỡng biết được có 5 thời điểm rửa tay; động tác cần làm trước khi chuẩn bị dụng cụ tiêm truyền của điều dưỡng chiếm 63,7%; 44,4% biết được việc cần làm khi tiêm kháng sinh mũi đầu tiên; trong đó chiếm tỷ

lệ thấp nhất là 38,0% điều dưỡng biết chỉ định mang khẩu trang trong trường hợp người bệnh mắc bệnh lấy qua đường hô hấp và chỉ 35,1% biết được thời điểm phải rửa tay bằng nước và xà phòng;

Động tác phải thay găng tay hầu như 93,6% điều dưỡng biết đến là sau khi thực hiện tiêm cho 1 người bệnh 81,3% điều dưỡng nhắc được 5 đúng để đảm

Trang 40

bảo an toàn cho người bệnh trước tiêm Và 80,7% điều dưỡng biết chỉ định mang găng trong trường hợp khi có nguy cơ tiếp xúc với máu, dịch tiết của người bệnh hoặc da tay của NVYT bị tổn thương

Bảng 3.6 Kiến thức về chuẩn bị dụng cụ, thuốc của điều dưỡng các khoa lâm sàng BVĐK thành phố Cần Thơ (n=171)

Nội dung

Số lượng (n)

Tỉ lệ (%)

Số lượng (n)

Tỉ lệ (%)

Cơ số thuốc trong hộp chống shock 18 10,5 153 89,5 Thùng đựng vật sắc nhọn phải đảm bảo 121 70,8 50 29,2 Thùng đựng vật sắc nhọn dùng 1 lần

nên đậy nắp niêm phong dán nhãn 57 33,3 114 66,7 Loại cồn dùng để sát khuẩn da vùng

Ngày đăng: 31/01/2021, 14:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm