THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI ĐỂ TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ SỨC KHỎE CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NĂM 2020 TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG HÀ NỘI, 2020... BỘ GI
Trang 1THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI ĐỂ TIẾP CẬN THÔNG TIN
VỀ SỨC KHỎE CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG
CỘNG NĂM 2020
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI, 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN NGỌC SƠN
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI ĐỂ TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ SỨC
KHỎE CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NĂM 2020
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
Hướng dẫn khoa học:
ThS.Nguyễn Hằng Nguyệt Vân
Chữ ký giảng viên hướng dẫn
HÀ NỘI, 2020
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Đề cương nghiên cứu này là kết quả của quá trình học tập tại trường Đại học Y tế công cộng của học viên trong bốn năm theo học chương trình cử nhân YTCC
Với tình cảm chân thành, học viên xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn, Ths Nguyễn Hằng Nguyệt Vân đã nhiệt tình giúp đỡ, đóng góp nhiều ý tưởng cho đề cương, dành thời gian quý báu tận tình chỉ bảo học viên trong toàn bộ quá trình viết đề cương, thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Học viên xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo đại học, các thầy cô giáo trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp
đỡ học viên hoàn thành chương trình học tập
Tác giả xin được cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã khuyến khích trên con đường học tập và tất cả bạn bè đồng khóa CNCQ YTCCK15 đã cùng nhau học tập, chia sẻ kinh nghiệm trong suốt 4 năm qua
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2020
Nguyễn Ngọc Sơn
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNCQ Cử nhân chính quy CTSV Công tác sinh viên CTXH Công tác xã hội ĐHYTCC Đại học Y tế công cộng ĐTNC Đối tượng nghiên cứu MXH Mạng xã hội
YTCC Y tế công cộng
Trang 5MỤC LỤC
I Tóm tắt đề cương nghiên cứu iv
II Nội dung chính 1
Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
3 Tổng quan tài liệu 2
3.1 Một số khái niệm chính 2
3.1.1 Dịch vụ mạng xã hội 2
3.1.2.Phương tiện truyền thông xã hội 3
3.1.3 Sức khỏe 3
3.1.4 Thông tin sức khoẻ 3
3.2 Thực trạng sử dụng MXH để tiếp cận thông tin sức khoẻ 3
3.3 Một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng MXH để tiếp cận thông tin sức khoẻ của sinh viên 8
4 Phương pháp nghiên cứu 14
4.1 Đối tượng nghiên cứu: 14
4.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 14
4.3 Thiết kế: 14
4.4 Trình bày phương pháp chọn mẫu: 14
4.5 Các biến số nghiên cứu: 16
4.6.Trình bày phương pháp thu thập số liệu: 23
4.7 Phương pháp phân tích số liệu: 23
4.8 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu 24
4.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 24
5 Dự kiến kết quả 26
5.1 Mô tả đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 26
5.2.Mô tả đặc điểm sử dụng MXH của sinh viên 26
5.3 Mô tả đặc điểm tiếp cận thông tin sức khỏe qua MXH của đối tượng 28
5.4 Yếu tố cá nhân 29
5.5 Yếu tố gia đình, bạn bè 30
5.6 Yếu tố về thông tin sức khỏe nhận được 31
5.7.Tìm hiểu yếu tố liên quan đến tiếp cận thông tin y tế qua MXH 32
Yếu tố cá nhân và việc tiếp cận thông tin sức khỏe 32
6 Kế hoạch nghiên cứu và kinh phí 34
6.1 Kế hoạch nghiên cứu 34
6.2, Bảng dự kiến kinh phí nghiên cứu 36
PHỤ LỤC 40
Trang 6I Tóm tắt đề cương nghiên cứu
Việt Nam là quốc gia đứng thứ 18 thế giới về tỷ lệ người dân sử dụng internet và là 1 trong 10 nước có lượng người dùng Facebook và Youtube cao nhất thế giới Theo một kết quả khảo sát gần đây, thời lượng sử dụng MXH của giới trẻ Việt Nam trung bình là 7 giờ/ngày Phần lớn giới trẻ, trong đó có sinh viên thì mục đích sử dụng MXH lớn nhất là cập nhật thông tin hàng ngày và trong đó có những thông tin về sức khỏe (trong số 57,4% sinh viên sở hữu điện thoại thông minh và chỉ có 14,1% người dùng điện thoại thông tìm kiếm thông tin liên quan đến sức khỏe[2]) Trường Đại học YTCC là một trung tâm đào tạo và nghiên cứu YTCC tại Việt Nam với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đa ngành
và nghiên cứu khoa học đóng góp vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Sinh viên của trường luôn được sự quan tâm và tạo điều kiện để nâng cao hơn
về kiến thức chuyên ngành và cũng với đó là nghiên cứu khoa học Đây là kỹ năng đòi hỏi cao trong việc trau dồi kiến thức qua đọc và nghiên cứu tài liệu chuyên môn
và thực hành thông qua các tài liệu trên thư viện cũng như các tài liệu online Vì vậy câu hỏi đặt ra là vậy thực trạng sử dụng MXH để tiếp cận với thông tin về sức khỏe của sinh viên trường đại học YTCC như thế nào và nhận thức của sinh viên
về chất lượng của những thông tin đó ra sao? Vì vậy, em lựa chon đề tài “Thực trạng sử dụng MXH để tiếp cận thông tin sức khỏe của sinh viên trường ĐHYTCC năm 2020” Đối tượng mà nghiên cứu nhắm đến là các bạn sinh viên CNCQ đang
học tập tại trường Đại học YTCC, với phương pháp nghiên cứu cắt ngang để đưa ra những kết quả phục vụ cho hai mục tiêu chính của nghiên cứu:
1 Mô tả thực trạng sử dụng mạng xã hội để tiếp cận thông tin sức khoẻ của
sinh viên trường Đại học Y tế công cộng năm 2020
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng sử dụng mạng xã hội để tiếp cận thông tin sức khoẻ của sinh viên trường Đại học Y tế công cộng năm
2020
Trang 7II Nội dung chính
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh hiện nay, có thể thấy việc tiếp cận thông tin sức khỏe là một vấn đề hết sức cần thiết đối với mọi người dân, đặc biệt là khi dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến phức tạp trên toàn thế giới Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thì giờ đây mỗi người dân có thể tiếp cận được với rất nhiều thông tin về sức khỏe thông qua các phương tiện truyền thông Qua thực tế có thể thấy phương tiện truyền thông xã hội chủ yếu để tiếp cận với thông tin về sức khỏe là thông qua các trang mạng xã hội (MXH) Ta có thể thấy được sự phổ biến của các trang MXH với số lượng người tham gia là rất lớn có thể kể đến như Facebook (2,5 tỉ), Youtube (2 tỉ), instagram (1 tỉ), Tiktok (800 triệu) [17] Hơn nữa, những tin tức trên MXH luôn được cập nhật rất nhanh chóng và có số lượng người xem là rất lớn Tại Việt Nam, sinh viên là đối tượng truy cập vào MXH hàng ngày là khá lớn (72,1% sinh viên sử dụng trên 3 tiếng một ngày) [7], tuy nhiên thực tế cho thấy sinh viên chủ yếu dành thời gian cho giải trí từ 63% đến 82% Theo tác giả Lê Thị Phương (sử dụng MXH trong sinh viên trường đại học Y Hà Nội năm 2015) và các công việc khác chứ ít khi dành thời gian để tiếp cận với các thông tin về sức khỏe[15] Hơn nữa, trường Đại học Y tế công cộng là một trong những trường đào tạo về Y tế công cộng tại Việt Nam, sinh viên của trường cũng từ đó mà phải tiếp cận đến những thông tin về sức khỏe để có thể nâng cao kiến thức về các thông tin có liên quan đến sức khỏe, cùng với những kỹ năng làm nghiên cứu khoa học khi được học tập tại trường để có thể đưa ra các thông tin sức khỏe hữu ích và có tính cập nhật Chính vì vậy, đề tài
“Thực trạng sử dụng phương tiện MXH để tiếp cận thông tin sức khỏe của sinh viên trường Đại học YTCC, năm 2020” là rất cần thiết để tìm hiểu về thực trạng sử dụng
MXH của sinh viên để tiếp cận thông tin về sức khỏe như thế nào cũng như một số yếu tố liên quan của sinh viên trường Đại học YTCC, từ đó để có những định hướng truyền thông sức khoẻ phù hợp trên mạng xã hội và những khuyến nghị để tăng cường hiệu quả sử dụng mạng xã hội với sinh viên nói riêng và giới trẻ nói chung
Trang 82 Mục tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả thực trạng sử dụng mạng xã hội để tiếp cận thông tin sức khoẻ của sinh viên trường Đại học Y tế công cộng, năm 2020
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng sử dụng mạng xã hội để tiếp
cận thông tin sức khoẻ của sinh viên Trường Đại học Y tế công cộng năm
2020
3 Tổng quan tài liệu
3.1 Một số khái niệm chính
3.1.1 Dịch vụ mạng xã hội
Dịch vụ mạng xã hội (Social Networking Service - SNS) là dịch vụ nối kết
các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian Những người tham gia vào dịch vụ mạng xã hội còn được gọi là cư dân mạng[23]
Dịch vụ mạng xã hội có những tính năng như chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog và xã luận Mạng đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu của mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới Các dịch vụ này có nhiều phương cách để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo group (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặc dựa trên sở thích
cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán [23]
Một định nghĩa khác về mạng xã hội cũng nhận được nhiều sự quan tâm và
đồng tình đó là định nghĩa của PGS.TS Vũ Duy Thông: “Mạng xã hội là dịch vụ kết nối các thực thể truyền thông trên Internet với nhau thành những cụm mạng nhỏ hơn theo sự liên kết tự nguyện không phân biệt thời gian, không gian”[20]
Tại Điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, theo đó: MXH (social network service) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo
Trang 9trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia
sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác[14] Hiện nay, những dịch vụ MXH phổ biến trên thế giới điển hình có thể kể đến như Facebook (với hơn
2 tỷ người dùng hàng tháng, là mạng xã hội lớn nhất thế giới), instagram (là MXH chia sẻ hình ảnh, video với khoảng 800 triệu người dùng hàng tháng),tiktok ( là một MXH chia sẻ hình ảnh và video di động dạng ngắn, có khoảng 150 triệu người dùng hàng tháng, rất phổ biến tại Trung Quốc và một số quốc gia châu Á,),…[11]
Trong phần tổng quan của mình, em sẽ lấy định nghĩa theo Điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng để làm định nghĩa cho khái niệm MXH
3.1.2.Phương tiện truyền thông xã hội
Phương tiện truyền thông hay phương tiện thông tin (social media) được
hiểu là những kênh truyền tải và lưu trữ hoặc công cụ được sử dụng để lưu và gửi thông tin hoặc dữ liệu, qua đó tin tức, giải trí, giáo dục, dữ liệu hoặc tin nhắn quảng cáo được phổ biến Phương tiện truyền thông bao gồm tất cả phát thanh truyền hình và phương tiện truyền thông hẹp vừa như báo, tạp chí, truyền hình, đài phát thanh, bảng quảng cáo, gửi thư trực tiếp, điện thoại, fax, và internet (theo wikipedia)[24]
3.1.3 Sức khỏe
Theo tổ chức y tế thế giới WHO thì sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không
có bệnh hay thương tật
3.1.4 Thông tin sức khoẻ
Hiện nay chưa có định nghĩa chính xác về thông tin sức khỏe, theo em thông tin sức khỏe là bất cứ hình thức nào ( như dữ liệu về sức khỏe, kiến thức về sức khỏe, ) để cung cấp câu trả lời cho những câu hỏi có liên quan đến sức khỏe
3.2 Thực trạng sử dụng MXH để tiếp cận thông tin sức khoẻ
Trang 10Trên thế giới
Thực trạng sử dụng MXH
Cùng với sự phát triển của các phương tiện truyền thông, thì việc truy cập mạng xã hội đã trở nên rất dễ dàng cho mọi đối tượng, đặc biệt là giới trẻ Theo báo cáo Digital 2020 do tổ chức We are Social và Hootsuite thống kê trên thế giới thì tổng số người sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội chiếm tới 49% dân số thế giới (tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2019) Ba loại hình mạng xã hội phổ biến được người sử dụng nhiều nhất trên thế giới là facebook, youtube và Whatsapp (Hình 1).[17]
Hình 1: Số lượng người sử dụng các loại hình MXH trên thế giới
Theo một nghiên cứu của Sophie Tan-Ehrhardt năm 2013 tại vương quốc Anh về thói quen sử dụng MXH của giới trẻ thì tỉ lệ người sử dụng MXH lớn nhất là những người dưới 44 tuổi (trong đó số người từ 16-24 và 24-34 có tỉ lệ sử dụng ngang nhau) với 87% tỉ lệ người trẻ (từ 16 đến 24) sử dụng các phương tiện truyền thông
xã hội[18] Nghiên cứu về Ảnh hưởng của việc sử dụng dịch vụ mạng xã hội đến kết quả học tập của sinh viên 2 trường đại học tại Delhi cho thấy rằng năm 2019, số người dùng internet trên thế giới là khoảng 4 tỉ và cũng có hơn 3 tỉ người sử dụng mạng xã hội một cách thường xuyên trên toàn thế giới, trong đó có 46,7% thành
Trang 11phần là sinh viên tham gia vào nghiên cứu, và sinh viên cũng là đối sử dụng MXH cao nhất, thậm chí có thể gây nghiện[9] Các số liệu thống kê trên thế giới về lượng người nói chung sử dụng MXH là rất lớn, trong đó những trang mà họ hay truy cập lần lượt là Facebook(42%) , Youtube(28%), Instagram và whatsapp (20%) ,còn lại
là các mạng khác[16] Cũng theo Sophie Tan-Ehrhardt, Facebook là mạng xã hội chiếm 87 % lớn nhất trong danh sách, sau đó là Instagram (52%)[13] Những tiện ích mà MXH mang lại rất phù hợp với đại đa số mục đích của sinh viên khi sử dụng MXH Theo khảo sát của tạp chí nghiên cứu và đổi mới về khoa học xã hội (UISS), mục đích sử dụng mạng xã hội của sinh viên chủ yếu là giải trí (31%), đọc tin tức
xã hội (20%), học tập và giáo dục (26%), thể thao(11%) và các thông tin khác[16] MXH mà sinh viên hay sử dụng nhất là Facebook, đây cũng là mạng xã hội có tỉ lệ sinh viên truy cập những thông tin về sức khỏe lớn nhất [3]
Sử dụng MXH để tiếp cận thông tin sức khoẻ
Nghiên cứu của Pew “Đời sống xã hội về thông tin sức khỏe” năm 2013 tại Mỹ cho
biết rằng tính đến tháng 9 năm 2012, khoảng 20% người dùng trang mạng xã hội đã
sử dụng các trang này để theo dõi các trải nghiệm hoặc cập nhật về sức khỏe cá nhân của bạn bè; nhớ hoặc tưởng niệm những người khác bị một tình trạng sức khỏe cụ thể; lấy thông tin sức khỏe; gây quỹ hoặc thu hút sự chú ý đến một vấn đề liên quan đến sức khỏe; gửi bình luận, truy vấn, hoặc thông tin về các vấn đề sức khỏe hoặc y tế; hoặc bắt đầu hoặc tham gia một nhóm liên quan đến sức khỏe[12]
Tại Việt Nam
Thực trạng sử dụng MXH
Tại Việt Nam, theo báo cáo Digital 2020 do tổ chức We are Social và Hootsuite thống kê, 65 triệu người (67%) tại Việt Nam đang sử dụng mạng xã hội, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2019 Nhóm tuổi từ 18-24 là nhóm tuổi có tỷ lệ sử dụng MXH cao thứ 2 (sau nhóm 25-34 tuổi Thời gian sử dụng MXH trung bình là 2h 22 phút mỗi ngày) Tại Việt Nam, 3 MXH có số lượng người sử dụng nhiều nhất
là Facebook, Youtube và Zalo[17] (H.2)
Trang 12Hình 2: Tỉ lệ người người sử dụng các loại hình MXH tại Việt Nam
Theo các tác giả Nguyễn Trọng Nhân, Nguyễn Mai Quốc Việt với nghiên cứu
“Mạng xã hội đối với sinh viên khối ngành khoa học xã hội Đại học Cần thơ năm 2018” cho thấy có 100% sinh viên có biết và sử dụng MXH, trong đó sinh viên sử dụng mạng xã hội trên 2 năm chiếm tỉ lệ 70,3% và 29,7% sinh viên sử dụng mạng
xã hội dưới 2 năm Có 86,1% sinh viên truy cập mạng xã hội hàng ngày và 11,4% sinh viên truy cập ở tần xuất thấp hơn Trong đó, tần xuất sử dụng mạng xã hội từ
30 phút đến 2 tiếng là 81,9%, dưới 30 phút là 18,1%[13] Một nghiên cứu gần đây
đã chỉ ra 100% số sinh viên tham gia vào nghiên cứu đều biết đến và sử dụng mạng xã hội, thời gian mà sinh viên bắt đầu sử dụng mạng xã hội trên ba năm chiếm 82,1% còn lại là sử dụng từ một đến hai năm, về thời gian sử dụng mạng xã hội trong một ngày của sinh viên thì chiếm tỉ lệ lớn nhất là sử dụng trên 3 tiếng (72,1%), từ 1-3 tiếng là 20,4% và có 5,5 % sinh viên sử dụng MXH dưới 1 tiếng/ ngày[7] Qua đó có thể thấy sinh viên Việt Nam dành khá nhiều thời gian để sử dụng MXH hàng ngày, con số sử dụng MXH tại Việt Nam cao hơn trên thế giới cả về thời gian truy cập và tần suất truy cập Những kênh MXH mà sinh viên hay truy cập cho thấy Facebook vẫn là mạng xã hội mà sinh viên thường xuyên sử dụng nhất với hơn 64%, còn lại là các mạng xã hội khác[13] Với sinh viên thành phố Hà Nội, các trang MXH hay truy cập là facebook (99.7%), Youtube, tiếp
Trang 13theo được sử dụng ít hơn là Wikipedia, Instagram, Zingme chiếm lần lượt là 20,9%, 17,9% và 12,8%[15] Mục đích sử dụng MXH của sinh viên Việt Nam nhìn chung vẫn giống với trên thế giới Theo tác giả Bùi Thu Hoài, mục đích sử dụng MXH của sinh viên chủ yếu là liên lạc và cập nhật thông tin về cuộc sống của gia đình, bạn bè (41%) Bên cạnh đó, mục đích sử dụng mạng xã hội của sinh viên còn được thể hiện
ở các nhu cầu như cập nhật tin tức xã hội (23%), thể hiện bản thân (15%), bày tỏ các ý kiến (15%), giải trí (12%), kinh doanh trên mạng (6%)[10] Với sinh viên khối ngành xã hội của Đại học Cần Thơ thì mục đích chủ yếu là theo dõi tin tức bạn
bè (65,2%), thông báo tin tức học tập (64,3%), chia sẻ thông tin (55,2%) vá các hoạt động khác như nghe nhạc(48,6%), chơi game (19,5%)[13] Kết quả nghiên cứu về thực trạng sử dụng MXH trong sinh viên trường Đại học Y Hà Nội năm 2015 với số lượng 300 sinh viên (năm 2, năm 4 và năm 6) cho thấy sinh viên tham gia mạng xã hội chủ yếu vào mục đích giải trí chiếm cao nhất với trung binh từ 63% lên 82% ( cao nhất ở sinh viên năm thứ 4 với 82%) Đứng thứ hai là dùng cho mục đích học tập, tiếp cận với các kiến thức y học (từ 41,2% đến 44%), hai mục đích còn lại là giao tiếp bạn bè và thể hiện bản thân[15]
Sử dụng MXH để tiếp cận thông tin sức khoẻ
Tác giả Lê Thị Phương cũng cho thấy sự xếp hạng các MXH phổ biến được sinh viên tiếp cận với thông tin sức khoẻ (hỏi, đáp về kiến thức y học) lần lượt là Facebook (100%), sau đó là Wikipedia (98,4%) và Youtube (98%) Mạng xã hội ít được sử dụng nhất trong học tập là Instagram (60,4%) Mục đích tra cứu những thông tin về học tập thì chủ yếu sinh viên nghiên cứu những kiến thức lý thuyết và thực hành trong y học (chiếm lần lượt 67% và 51,9%) Các hình thức học tập chủ yếu của sinh viên là xem bài có sẵn và hỏi đáp thắc mắc (chiếm 81,8% và 47,5%), còn lại sinh viên sẽ tự đăng bài, tìm kiếm tài liệu và chia sẻ thông tin về sức khỏe Đánh giá về chất lượng thông tin nhận được, sinh viên Y Hà Nội cảm thấy thông tin trên mạng xã hội là hữu ích(56,2%), 19,2% sinh viên cho rằng thông tin trên mạng
xã hội là rất hữu ích và 23,9% là bình thường Chỉ có bộ phận nhỏ sinh viên cho rằng thông tin trên mạng xã hội là không hữu ích chiếm 0,7%[15] Bên cạnh đó,
Trang 14môt nghiên cứu cắt ngang tại Việt Nam năm 2017 cho thấy trong số 1080 người tham gia, 72,87% (787/1080) cho biết họ quan tâm đến thông tin sức khoẻ trên Facebook và 50,74% (548/1080) nhận thấy thông tin là đáng tin cậy và hữu ích, 10,93% (118/1080) người tham gia cũng chia sẻ rằng họ sẽ làm theo lời khuyên về sức khỏe mà họ nhận được từ Facebook [5] Một nghiên cắt ngang khác tại Việt Nam năm 2018 với 1028 thanh niên Việt Nam cho thấy, 57,4% người tham gia sở hữu điện thoại thông minh và chỉ có 14,1% người dùng điện thoại thông minh đã sử dụng điện thoại thông minh để truy cập những vấn đề liên quan đến sức khỏe qua MXH Tuy nhiên, hầu hết những đối tượng này đã tải xuống các ứng dụng này để phòng bệnh (66,3%), 66,4% những người tham gia sở hữu các ứng dụng này báo cáo rằng các ứng dụng y tế là hữu ích Hơn nữa, những thông tin sức khỏe mà đối tượng nghiên cứu chỉ ra là phòng bệnh (66,3%) và cũng có thể nhận thấy sự tin tưởng của họ với thông tin y tế họ nhận được là đáng tin cậy.[2]
3.3 Một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng MXH để tiếp cận thông tin sức khoẻ của sinh viên
Yếu tố cá nhân:
Những khía cạnh cá nhân, bao gồm giới tính, mức sống của cá nhân, thời gian sử dụng internet, địa điểm sử dụng, mục đích sử dụng và sự tin cậy ảnh hưởng tới việc sử dụng MXH để tiếp cận đến thông tin sức khoẻ của sinh viên
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng giới tính, năm học và mức sống cá nhân có ảnh hưởng đến việc sử dụng MXH của sinh viên Theo nghiên cứu “Nhận thức về thông tin liên quan đến sức khỏe trên Facebook: Nghiên cứu cắt ngang giữa thanh niên Việt Nam” cho thấy Nam giới có khả năng ít quan tâm đến thông tin liên quan đến sức khỏe trên Facebook hơn nữ giới (OR= 0,42, KTC 95%: 0,31-0,58) [5] Trong khi đó, một nghiên cứu đã chỉ ra rằng nam giới có xu hướng có một mạng xã hội lớn hơn trên Facebook và có xu hướng sử dụng Facebook cho các mục đích liên quan đến hẹn hò[21] Bên cạnh yếu tố về giới, năm học và mức sống cá nhân cũng
có ảnh hưởng đến việc tiếp cận với các thông tin sức khỏe của sinh viên Theo đó, những sinh viên năm nhất tỉ lệ sử dụng máy tính cá nhân ít hơn rất nhiều so với sinh
Trang 15viên năm cuối Sinh viên năm thứ nhất chủ yếu sử dụng máy tính ở các quán internet vì vậy thời gian sử dụng trung bình/ngày của nhóm này thường ít hơn so với nhóm năm cuối[6] Theo tác giả Lê Thị Phương thì sinh viên Y khoa năm thứ 2
có tỉ lể sử dụng MXH thấp hơn so với sinh viên năm thứ 4 (41,2% và 44%) phục vụ cho học tập và tìm kiếm thông tin liên quan đến y tế [15] Cùng với đó, ta cũng thấy rằng sinh viên đại học của Mirzapur có mức sống cá nhân tốt (có nguồn hỗ trợ từ gia đình đầy đủ hơn so với các sinh viên khác), có nhiều khả năng sở hữu điện thoại
di động và điện thoại thông minh và nhận thức rõ hơn về internet so với sinh viên nói chung và cũng quan tâm đến thông tin y tế (bảo vệ sức khỏe bản thân) hơn[4]
Bên cạnh 3 yếu tố trên thì cũng có thể thấy rằng việc sử dụng MXH để tiếp cận với các thông tin y tế của sinh viên còn có tác động không nhỏ của các yếu tố như mục đích sử dụng và nhận thức của sinh viên đối với thông tin y tế được đưa ra trên MXH Theo thống kê của tổ chức We are social năm 2020 thì mục đích sử dụng MXH của giới trẻ Việt Nam thường vào là các hoạt động như giải trí (xem video trên mạng, xem vlog, nghe nhạc chơi game, ), các thông tin cá nhân của bản thân (chia sẻ thông tin tham khảo tài liệu, )[17]
Sinh viên Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đều sử dụng MXH với nhiều mục đích khác nhau, mục đích sử dụng MXH để giao tiếp vẫn cao hơn so với mục đích học tập[12] Tương tự với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quý Thanh về “Internet và định hướng giá trị của sinh viên về tình dục trước hôn nhân năm” đã chỉ ra rằng sinh viên Việt Nam sử dụng internet cho mục đích tán gẫu là 66,3%; còn việc tìm kiếm thông tin học tập, đọc báo, truyện tranh trên mạng là 65,6%[19] Theo một nghiên cứu khác thì sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội lại có mục đích tìm thông tin cho học tập đạt 99,7%; mục đích tụ tập bạn bè nói chuyện chiếm tỷ cao đạt 91,3%[19] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bắc năm 2018 về hành vi sử dụng MXH của sinh viên trường đại học Hải Dương cho thấy, mục đích sinh viên dùng MXH là kết nối bạn và giữ liên lạc với bạn bè chiếm 67,3%, đứng thứ hai với mục đích kinh doanh và quảng cao chiềm 9,7%[8] Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng sinh viên ít khi quan tâm đên các thông tin y tế
Trang 16nhưng các thông tin y tế đ họ sẵn sàng chia sẻ cho bạn bè cũng như có thể học theo cách mà thông tin y tế đó cung cấp
Yếu tố gia đình, bạn bè
Sinh viên là lứa tuổi bắt đầu cuộc sống tự lập, thường sống xa gia đình, từ các vùng miền khác nhau lên các thành phố có các trường đại học để sống,
học tập và đây là lứa tuổi ít chịu sự kiểm soát của bố mẹ Từ phía gia đình: Có
57,1% có bố mẹ đối tượng nghiên cứu thường xuyên quan tâm, động viên việc học tập, tuy nhiên chỉ có 45.3% bố mẹ đối tượng tỏ thái độ không hài lòng khi con cái
sử dụng Internet trên 4h mỗi ngày Với yếu tố về bạn bè, những người tham gia có
xu hướng sử dụng phương tiện truyền thông xã hội như Facebook để hình thành các mối quan hệ mới (OR= 2.65, 95% CI: 1.26-5.56) và những người tham gia dễ bị ảnh hưởng bởi các bạn bè trên MXH của họ (OR =2,20, 95% CI: 1,05-4,60) để chia
sẻ thông tin liên quan đến sức khỏe bằng tài khoản mạng xã hội của họ[5] Những sinh viên được gia đình chu cấp tiền sinh hoạt toàn bộ có thời lượng sử dụng MXH chỉ là 35,7% thì những sinh viên gia đình cung cấp một phần bản thân kiếm một phần có tỉ lệ 46,6% Nhóm chi phí sinh hoạt hoàn toàn không phụ thuộc vào gia đình thì tỉ lệ thường xuyên sử dụng MXH lên tới 52,6%[3] Liên quan đến việc người tham gia có làm theo thông tin sức khỏe được cung cấp từ bạn bè trên MXH hay không, nam giới đã được phát hiện ít thực hiện đến việc tuân thủ điều trị hơn (OR= 0,84, KTC 95%: 0,76-0,93) Tuy nhiên, các yếu tố liên quan cá nhân như sử dụng mạng xã hội để tìm bạn mới và làm theo lời khuyên của các bạn bè qua MXH
có liên quan đến việc tăng tỉ lệ tuân thủ thông tin sức khỏe được cung cấp[5] Từ đây ta thấy rằng những bạn bè xung quanh từ MXH là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc sử dụng MXH và nhận thức về chất lượng của thông tin y tế mà sinh viên tiếp cận được
Yếu tố về sự bao phủ và chất lượng thông tin sức khỏe nhận được
Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, không những chất lượng mạng được nâng cấp mà những thiết bị để có thể truy cập vào MXH ngày càng phổ biến Đây cũng là lý do dẫn đến tỉ lệ người sử dụng và thời lượng sử dụng MXH ngày
Trang 17càng nhiều hơn Vì vậy, song song với các yếu tố cá nhân, gia đình, bạn bè là các yếu tố sự bao phủ của MXH, sự đa dạng của các thiết bị truyền thông, các địa điểm
để truy cập MXH
Nói về sự bao phủ của MXH, theo tổ chức we are social thì trong năm 2020
ở Việt Nam có 70% (68,17 triệu) dân số có sử dụng internet, và có tới 61 triệu người dùng Facebook, 5,4 triệu người sử dụng Instagram Trong đó độ tuổi từ 18 đến 30 là nhóm tuổi sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội nhiều nhất Những thiết bị như điện thoại di động thông minh, máy tính bảng và máy tình xách tay là những thiết bị được sử dụng nhiều nhất để truy cập vào MXH Đứng đầu trong đó là sử dụng Facebook (90%), sau đó là Youtube (89%) sau đó là zalo, Fb messenger với đều 74% và các mạng khác[17] Theo Bùi Thu Hoài năm 2014 thì Facebook và Youtube là 2 trang mạng xã hội có số người sử dụng nhiều nhất (95%
và 94%) Giải thích cho điều này, nhiều bạn trẻ cho rằng đây là hai mạng xã hội toàn cầu, có độ phủ sóng rộng khắp, có nhiều tiện ích đáp ứng được các nhu cầu Tiếp theo Facebook và Youtube, Zing me vốn là một mạng xã hội kèm theo nhiều dịch vụ tiện ích như nghe nhạc, đọc tin tức, chia sẻ video … và là sản phẩm của Việt Nam cũng đang ngày một phổ biến với 32% số lượng người được hỏi cho biết đang sử dụng mạng xã hội này Một số các trang mạng xã hội khác như Go.vn,
….chưa quen thuộc và còn rất ít được các bạn trẻ Việt Nam sử dụng [10] Theo Nguyễn Thị Bắc Với nghiên cứu “hành vi sử dụng MXH của sinh viên trường đại học Hải Dương” cho thấy, Sinh viên online bất kể khi nào và ở đâu, họ đều tranh
thủ truy cập MXH, dường như đó là một thói quen “Ngay cả khi đi gặp gỡ bạn bè hay đơn thuần đang chờ một người/một việc nào đó hoặc xem một bộ phim, đi cà phê với bạn bè” mức độ thường xuyên chiếm > 40% tổng số sinh viên được hỏi
Một điều đáng quan tâm ở đây trong tổng số sinh viên được hỏi thì có 33,3% sinh viên thường xuyên sử dụng MXH trong giờ học, và chỉ có 16,7% sinh viên hiếm khi
sử dụng MXH trong giờ học Đây thực sự là vấn đề cần quan tâm của nhà trường cũng như thầy cô trong việc chấn chỉnh lại nội quy sử dụng điện thoại trong giờ học, cũng như trong giờ làm việc Facebook là MXH được sinh viên lựa chọn nhiều
Trang 18nhất với (ĐTB=3.78), đứng thứ hai là mạng Zalo với (ĐTB=2.99), các trang mạng
ít phổ biến hơn là Myspace (ĐTB=1.93), Twitter (ĐTB=1.95), Zingme (2.61) mạng Instagram (1.37) thấp nhất[8]
Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu
Trường Đại học Y tế công cộng là một trung tâm đào tạo và nghiên cứu Y tế công cộng tại Việt Nam với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đa ngành và nghiên cứu khoa học, cung cấp dịch vụ, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, đóng góp vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Nhà trường hiện nay đào tạo với 6 mã ngành cho sinh viên cử nhân chính quy là Y tế công cộng, xét nghiệm Y học, công tác xã hội, dinh dưỡng, kỹ thuật phục hồi chức năng
và công nghệ kỹ thuật môi trường Sinh viên được đào tạo chuyên sâu về kiến thức chuyên ngành cùng với các kỹ năng nghiên cứu khoa học Đây là kỹ năng đòi hỏi cao trong việc trau dồi kiến thức qua đọc và nghiên cứu tài liệu chuyên môn và thực hành thông qua các tài liệu trên thư viện cũng như các tài liệu online Nghiên cứu “Mô tả thực trạng, mục đích sử dụng internet và một số yếu tố liên quan của sinh viên trường đại học Y tế công cộng Hà Nội năm 2011” chỉ ra rằng 98.3% sinh viên trường ĐHYTCC sử dụng Internet, trong đó có sự khác biệt giữa nam và
nữ theo thời gian sử dụng Internet trung bình mỗi ngày (38.7% và 24.4% sử dụng trên 4h/ngày) Mục đích truy cập Internet cho học tập và nghiên cứu được chọn ưu tiên hàng tiên với 53% đối tượng nghiên cứu, sau đó là mục đích giải trí chiếm thứ hai (42.7%) Do vậy, việc sử dụng internet trong sinh viên trường Đại học y tế công cộng là rất lớn, nên việc tìm hiểu sự tiếp cận thông tin y tế khi sử dụng MXH trong sinh viên Y tế công cộng là rất đang được quan tâm[22]
Khung lý thuyết
Từ những yếu tố liên quan được tìm hiểu trong tổng quan tài liệu, khung lý thuyết đã đựng xây dựng với 3 nhóm yếu tố chính là yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình, bạn bè và các yếu tố về thông tin sức khỏe nhận được tác động tới việc sử dụng MXH để tiếp cận thông tin sức khoẻ của sinh viên
Trang 19Sơ đồ khung lý thuyết
Sử dụng MXH để tiếp cận thông tin sức khỏe
Yếu tố cá
nhân
Yếu tố gia đình, bạn
Sự đa dạng của các thiết bị truyền thông
Sự đa dạng về địa điểm sử dụng MXH Đánh giá về chất lượng thông tin y tế qua MXH (gồm tính
chính xác, tính đầy đủ và tính kịp thời)
Sức khỏe của người thân trong gia đình Tần suất nhận được thông tin về sức khỏe từ bạn bè thông qua MXH
Sự tin cậy về thông tin sức khỏe nhận được từ
bạn bè
Trang 204 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Là sinh viên cử nhân chính quy đang học tập tại trường Đại học Y tế công cộng trong năm 2020
+)Tiêu chí lựa chọn đối tượng nghiên cứu:
- Hiện đang là sinh viên hệ chính quy năm thứ 2, năm thứ 3 và năm thứ 4 của trường trong nghiên cứu
- Có mặt tại thời điểm khảo sát và đồng ý tham gia cung cấp thông tin phục vụ nghiên cứu
4.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Địa điểm: Trường Đại học Y tế công cộng, số 1A đường Đức Thắng, phường Đức
Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội
- Thời gian: Tháng 05/2020-12/2020
4.3 Thiết kế:
- Nghiên cứu cắt ngang
4.4 Trình bày phương pháp chọn mẫu:
- Cỡ mẫu: Tính theo công thức chọn mẫu ước lượng mẫu một tỷ lệ
n =
n: Cỡ mẫu nghiên cứu
d: Chọn d = 0,05 sai số chấp nhận trong nghiên cứu (5%)
p: Tỉ lệ người quan tâm đến thông tin về sức khỏe trên Facebook (50,74%)[3], p=0,5074
Z: hệ số tin cậy, với = 0,05, Z(1 - /2) = 1,96
Theo công thức trên thì cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu là 384 người Với dự trù 10% đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu, cỡ mẫu cần thiết để thu thập
số liệu là 410 người
2
2 ) 2 / 1 ( (1 )
d
p p
Trang 21Phương pháp và quy trình chọn mẫu:
- Bước 1: Lập danh sách tất cả các sinh viên cử nhân hệ chính quy, chia theo 4 ngành học: Công tác xã hội, Dinh dưỡng, Xét nghiệm, Y tế công cộng Đánh số thứ
tự từ 1 ở mỗi ngành học
- Bước 2: Tiến hành chọn mẫu phân tầng, với mỗi ngành học là một tầng Tính tỷ lệ sinh viên của mỗi ngành học trên số lượng tổng sinh viên cử nhân hệ chính quy của trường Từ đó xác định số sinh viên đưa vào nghiên cứu cụ thể ở mỗi ngành học như sau:
+ Tổng số: 910 sinh viên năm 2,3,4 cử nhân hệ chính quy
+ Công tác xã hội: 75 sinh viên (8,2%) → Số sinh viên tham gia nghiên cứu:
- Bước 3: Trong mỗi danh sách sinh viên phân theo ngành học, lựa chọn ngẫu nhiên
hệ thống ra đủ số lượng sinh viên đưa vào nghiên cứu
Quy trình tiếp cận đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu viên gặp gỡ, liên hệ với phòng CTSV trường Đại hoc y tế công cộng để được tạo điều kiện trong quá trình thu thập thông tin Nghiên cứu viên thông báo cho các bên liên quan về mục đích và nội dung nghiên cứu Việc thu thập số liệu do điiều tra viên thực hiện Nghiên cứu viên cùng làm việc với các điều tra viên để thống nhất được thời gian cụ thể hợp lý để thu thập thông tin Điều tra viên được tập huấn kỹ trước khi nghiên cứu được diễn
ra
Nội dung và mục tiêu nghiên cứu được gửi cho ban chấp hành đoàn trường để thông báo đến các chi đoàn trong trường 1 tuần trước khi tiến hành nghiên cứu
Nghiên cứu viên chính đưa chỉ tiêu sinh viên cho điều tra viên Sau
giờ học, điều tra viên sẽ thông báo và mời các bạn tham gia nghiên cứu
Trang 22Những bạn đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ ở lại Điều tra viên đến các lớp phát phiếu, chờ điền phiếu và thu phiếu về theo yêu cầu
Quy trình tiến hành thu thập số liệu
Bộ câu hỏi thử nghiệm được tiến hành trước với 10 sinh viên và tiến hành chỉnh sửa hoàn thiện sau thử nghiệm bộ công cụ Khi tiến hành nghiên cứu chình thức thì những sinh viên tham gia thử nghiệm bộ câu hỏi đã được loại Trước khi phát phiếuphỏng vấn, nghiên cứu viên chính sẽ trình bày vắn tắt về mục đích của nghiên cứu và hướng dẫn trả lời phiếu hỏi cho người được chọn Khi phiếu hỏi được phát ra, nghiên cứu viên chờ ở bàn phát vấn và sẵn sàng trả lời bất cứ một câu hỏi nào về phiếu hỏi do sinh viên đưa ra
4.5 Các biến số nghiên cứu:
Các biến số được chia thành 4 phần:
+) A:Thông tin chung: Tuổi, Giới, dân tộc, địa điểm sinh sống, người sống cùng,
+) D: Các yếu tố liên quan đến việc sử dụng MXH để tiếp cận thông tin y tế:
Yếu tố cá nhân: Ngành học, năm học, chi phí chi trả cho việc sử dụng internet
Yếu tố gia đình, bạn bè: Bố, mẹ quản lý thời gian sử dụng MXH, thu nhập
hàng tháng, phụ cấp từ gia đình, thông tin sức khỏe thông qua bạn bè trên MXH, tần suất nhận được những thông tin về sức khỏe qua bạn bè trên MXH
Yếu tố về thông tin sức khỏe nhận được: Nguồn thông tin sức khỏe qua MXH,
Sự tin cậy với nguồn thông tin, Cách thức sử dụng phương MXH để tiếp cận thông tin y tế, thái độ của đối tượng với thông tin sức khỏe được chia sẻ qua MXH, tính chính xác của thông tin sức khỏe trên MXH, tính đầy đủ của thông tin sức khỏe trên
MXH, tính kịp thời của thông tin sức khỏe trên MXH
Bảng biến số
Trang 23STT Biến số nghiên cứu Định nghĩa biến Loại biến số
A THÔNG TIN CHUNG
dương lịch của đối tượng nghiên cứu
Rời rạc
A2 Giới tính Giới tình khai sinh của
đối tượng nghiên cứu Nhị phân
trên giấy khai sinh của
A4 Địa điểm sinh sống Đặc điểm sinh sống
của đối tượng
Ký túc xá của trường Sống ở nhà với bố mẹ Thuê nhà trọ
Có Không
Nhị phân
Trang 24A7 Thành tích học tập Điểm số của đối tượng
Thứ bậc
B Thực trạng sử dụng MXH của sinh viên
B1 Thâm niên sử dụng MXH Năm mà đối tượng bắt
đầu sử dụng MXH Rời rạc B2 Thiết bị truy cập vào MXH Những thiết bị mà đối
tưởng thường sử dụng
để truy cập MXH Máy tính bàn Máy tính xách tay Máy tính bảng Điện thoại
Danh mục
B3 Địa điểm thường xuyên
truy cập MXH
Những nơi mà đối tượng thường truy cập vào MXH
Danh mục
Trang 25Sáng (6h-11h ) Trưa, chiều (11h-18h) Tối (18h – 22h) Đêm (22h cho đến sáng)
B5 Thời lượng truy cập MXH Trung bình một ngày
bạn sử dụng bao nhiêu thời gian để truy câp vào MXH
Liên tục
B6 Loại mạng để truy cập vào
MXH
Các loại mạng mà đối tượng sử dụng để truy cập MXH
sử dụng MXH Facebook Youtube Zalo Wikipedia Instagram Tiktok Twitter Skype Khác………
Danh mục
B8 Thông tin được tìm kiếm
qua MXH
Mục đích của việc tìm kiếm thông tin trên MXH
Cập nhật tin tức xã hội
Danh mục
Trang 26Học tập Xem thông tin của bạn
bè Chia sẻ thông tin cá nhân
Liên lạc với gia đinh Tìm kiếm những thông tin về y tế
để truy cập thông tin y
tế Rất thường xuyên Thường xuyên Bình thường Hiếm khi Không bao giờ
Thứ bậc
C3 Thời gian sử dụng MXH để
tiếp cận thông tin sức khỏe
Tỷ lệ đối tượng truy cập các thông tin sức khỏe qua MXH so với hoạt động khác trên MXH
Danh mục
C4 Loại MXH được sử dụng
để tiếp cận thông tin y tế
Tên ứng dụng mà đối tượng hay truy cập khi
sử dụng MXH để tiếp
Danh mục
Trang 27cận thông tin y tế Facebook
Youtube Zalo Wikipedia Instagram Tiktok Twitter Skype Khác…
C5 Thông tin sức khỏe muốn
tìm qua MXH
Thông tin mà đối tượng muốn tìm kiếm thông qua MXH
Trao đổi kinh nghiệm học tập
Tìm kiếm thông tin phòng bệnh
Tìm kiếm thông tin điều trị bệnh
Tìm kiếm để được tư vấn thông tin về phòng
và điều trị bệnh Khác………
………
Danh mục
D Các yếu tố liên quan đến việc sử dụng MXH để tiếp cận thông tin y tế Yếu tố cá nhân
học tại trường đại học Thứ bậc
Trang 28YTCC CTXH Xét nghiệm Dinh dưỡng
học năm thứ mấy Năm 2
Năm 3 Năm 4
Thứ bậc
D3 Chi phí chi trả cho việc sử
dụng internet
Hàng tháng chi phí bạn phải chi trả bao nhiêu cho viêc sử dụng internet
Nhị phân
D5 Thông tin sức khỏe thông
qua bạn bè trên MXH
Đối tượng có nhận được những thông tin
về sức khỏe từ bạn bè trên MXH không
từ bạn bè qua MXH
Thứ bậc
Yếu tố về thông tin sức khỏe nhận được
D7 Nguồn thông tin sức khỏe
qua MXH
Nơi đối tượng tiếp cận với thông tin về sức Danh mục