Qua các trường hợp nghiên cứu cụ thể được trình bày ở chương này, chúng ta có được những thông tin về nhận thức của giới trẻ Hà Nội hiện nay về Đạo Mẫu như sau. Thứ nhất, số lượng người[r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NHẬT
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
NHẬN THỨC VỀ ĐẠO MẪU CỦA GIỚI TRẺ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NHẬT
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
NHẬN THỨC VỀ ĐẠO MẪU CỦA GIỚI TRẺ HÀ NỘI HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: KHU VỰC HỌC
MÃ SỐ: 8310604.01QTD
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS CHU XUÂN GIAO
TS ITO MARIKO
Hà Nội, 2020
Trang 3MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu từ Đổi Mới đến nay 2
3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 7
4 Đối tượng và nội dung nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẠO MẪU 14
1.1 Khái niệm Đạo Mẫu và các vận động của giới học thuật 14
1.2 Nhận thức chung của xã hội Việt Nam đương đại về Đạo Mẫu 20
1.3 Đạo Mẫu trong mối quan hệ giữa học giới và giới bình dân, và thiếu vắng sự quan tâm tới giới trẻ 24
Tiểu kết 26
CHƯƠNG 2: NHẬN THỨC VỀ ĐẠO MẪU CỦA GIỚI TRẺ HÀ NỘI Những nghiên cứu trường hợp 27
2.1 Trường hợp về các em học sinh Trung học Phổ thông thiết kế bộ phong bao lì xì chủ đề Tứ bất tử (từ cuối năm 2018 đến đầu năm 2019) 27
2.1.1 Thông tin chung 28
2.1.2 Quá trình lên ý tưởng, chọn chủ đề 30
2.1.3 Quá trình thiết kế 31
2.1.4 Quá trình phê duyệt 34
Trang 42.2 Một số nghệ sĩ trẻ sử dụng chất liệu của Đạo Mẫu vào tác phẩm với mục
đích đưa Đạo Mẫu lại gần cộng đồng hơn 36
2.2.1 Trường hợp ca sĩ Hoàng Thùy Linh vận dụng chất liệu của Đạo Mẫu vào ca khúc “Tứ Phủ” (công bố và liền gây tiếng vang vào tháng 8 năm 2019) 36
a, Thông tin chung 38
b, Quá trình tái thiết sự nghiệp ca hát của Hoàng Thùy Linh: 38
c, Thành công vang dội của ca khúc “Tứ Phủ” 40
d, Bàn luận 43
2.2.2 Trường hợp họa sĩ kiêm thanh đồng Nguyễn Trà My trình bày hiểu biết về Đạo Mẫu thông qua bộ lịch “Việt Tứ Phủ” 47
a, Thông tin chung 48
b, Quá trình lên kế hoạch, tạo tác sản phẩm 51
c, Đăng kí bản quyền cho bộ lịch Việt Tứ Phủ 57
d, Bàn luận 57
2.3 Trường hợp nghiên cứu về một cặp thầy trò cùng phụng sự Đạo Mẫu ở đền Phúc Khánh (số 62, tổ 14, ngõ 230, phố Lạc Trung, phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) 59
2.3.1 Thông tin chung 59
a, Thông tin về thầy Hoàng Đức Trí 59
b, Thông tin về đệ tử Trương Xuân Hiếu (anh Mèo) 63
c, Thông tin về ngôi đền tư mang tên “Phúc Khánh linh từ” 64
2.3.2 Cơ duyên đến với Đạo Mẫu và con đường hầu Thánh 66
a, Cơ duyên đến với Đạo Mẫu và con đường hầu Thánh của thầy Trí 66
Trang 5b, Cơ duyên đến với Đạo Mẫu và con đường hầu Thánh của đệ tử Hiếu 70
2.3.3 Quan điểm, nhận thức về Đạo Mẫu của thầy Trí và đệ tử 72
a, Quan điểm của thầy Trí 72
b, Quan điểm của anh Hiếu 74
2.2.4 Bàn luận 76
Tiểu kết 77
CHƯƠNG 3: THẢO LUẬN TỔNG HỢP
Suy nghĩ về vai trò của giới trẻ đối với tương lai của Đạo Mẫu 79
3.1 Tổng quan về mối quan hệ hiện tại giữa giới trẻ và Đạo Mẫu 79
3.2 Các xu hướng chính trong nhận thức về Đạo Mẫu của giới trẻ 81
3.2.1 Trải nghiệm Đạo Mẫu bằng chính cuộc sống thành thực trong hiện tại của bản thân 81
3.2.2 Chủ động đưa Đạo Mẫu vào sáng tạo nghệ thuật hướng đến giới trẻ 83
3.2.3 Từng bước mạnh dạn đưa Đạo Mẫu đến với không gian trường học 84
3.3 Một số gợi ý về bảo tồn và phát huy Đạo Mẫu gắn với giới trẻ 84
Tiểu kết 86
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Ảnh 2.1: Bộ phong bao lì xì "Tứ Bất Tử" gồm 4 chiếc do học sinh Trung học Phổ
thông thuộc HTGDCLC-NBK-CG thiết kế (mặt trước) 28
Ảnh 2.2: Mặt sau của ba phong bao lì xì kèm theo thuyết minh về ba vị thánh lần lượt là Chử Đồng Tử, Thánh Gióng, Sơn Tinh 31
Ảnh 2.3: Các bản vẽ phác thảo trong quá trình chế tác sản phẩm của các em học sinh 32 Ảnh 2.4: Cận cảnh mặt trước và sau của phong bao lì xì có hình Thánh Mẫu Liễu Hạnh, ở mặt sau có thuyết minh về nhân vật này 33
Ảnh 2.5: Chân dung Chủ tịch Hội đồng Quản Trị - Nhà sáng lập của trường là Tiến sĩ NVH 34
Ảnh 2.6: Ảnh nền của ca khúc Tứ Phủ 37
Ảnh 2.7: Ảnh nền của ca khúc Để Mị nói cho mà nghe 39
Ảnh 2.8: Ảnh trích từ ca khúc Tứ Phủ 41
Ảnh 2.9: Hoàng Thùy Linh hóa thân thành Cô Ba Thoải 42
Ảnh 2.10: Tạo hình phục trang của Hoàng Thùy Linh trong Tứ Phủ 44
Ảnh 2.11: Ảnh nền ca khúc Cô Đôi Thượng Ngàn của ca sĩ Tân Nhàn 46
Ảnh 2.12: Ảnh bìa bộ lịch Việt Tứ Phủ của họa sĩ Nguyễn Trà My 47
Ảnh 2.13: Chân dung Cô My 49
Ảnh 2.14: Những bức tranh vẽ của Cô My 50
Ảnh 2.15: Các ấn phẩm đã được xuất bản của Cô My 51
Ảnh 2.16: Các bức tranh trong bộ lịch Việt Tứ Phủ 53
Ảnh 2.17: Bộ lịch để bàn phong cách Chibi và bộ lì xì Việt Tứ Phủ 56
Ảnh 2.18: Bức tranh Chầu Lục do Cô My ở dạng tranh vẽ và phong bao lì xì 56
Ảnh 2.19: Giấy chứng nhận đăng ký bản quyền tác giả và dòng khẳng định quyền tác giả của Cô My 57
Ảnh 2.20: Chân dung thanh đồng Hoàng Đức Trí (một trong những bức chân dung mà thầy Trí tâm đắc nhất) 60
Trang 7Ảnh 2.21: Ba trong số rất nhiều pho thượng đất cổ bản mà thầy Trí vẫn còn giữ 65 Ảnh 2.22: Bằng công nhận danh hiệu Nghệ nhân Dân gian của thầy Trí 70
Trang 81
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong phần này, chúng tôi sẽ lần lượt trình bày năm điểm sau: tính cấp thiết của
đề tài nghiên cứu, tổng quan tình hình nghiên cứu từ Đổi Mới đến nay, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đạo Mẫu, với các tên gọi khác như Đạo Mẫu Tam Phủ Tứ Phủ (Đạo Mẫu Tam
Phủ, Đạo Mẫu Tứ Phủ, Đạo Mẫu Tam Tứ Phủ), tín ngưỡng Tam Phủ Tứ Phủ (tín
ngưỡng Tam Phủ, tín ngưỡng Tứ Phủ, tín ngưỡng Tam Tứ Phủ), đang là một chủ đề mang tính thời sự trong học thuật nói riêng và dư luận xã hội Việt Nam nói chung
Cho tới thời điểm hiện tại, có rất nhiều học giả nghiên cứu về Đạo Mẫu, nhưng hầu như còn thiếu vắng sự quan tâm tới mối quan hệ qua lại giữa Đạo Mẫu và giới trẻ Các nhà nghiên cứu tựa như chỉ tập trung giải thích nguồn gốc, lịch sử hình thành, các phong tục tập quán cổ xưa gắn nhiều với lớp người có tuổi từ góc nhìn học thuật, mà chưa thực sự quan tâm đến nhận thức cũng như sự tham gia của giới trẻ hiện nay vào thực hành Đạo Mẫu Đồng thời, bản thân Đạo Mẫu với tư cách là một thực thể văn hóa
xã hội lại cũng tựa ở cách xa với giới trẻ, có một khoảng cách nào đó và không thu hút được sự quan tâm của họ
Theo chúng tôi, trong bối cảnh hiện nay, nguồn nhân lực phù hợp nhất đối với việc lưu truyền và gìn giữ các tín ngưỡng dân gian nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung, lại chính là giới trẻ Họ có những bồng bột nhất định, nhưng lại có sự linh hoạt trong nhận thức và đặc biệt là khả năng thích ứng nhanh trong môi trường đa văn hóa Thêm nữa, ở khu vực thành phố Hà Nội, đang có một xu hướng đáng quan tâm là việc vận dụng chất liệu tín ngưỡng dân gian, đặc biệt là hình tượng từ Đạo Mẫu, vào các
Trang 92
loại hình nghệ thuật Thậm chí, trong một hai năm nay, chất liệu từ Đạo Mẫu còn trở thành chủ đề mang tính giáo dục ở một số trường học trên địa bàn Hà Nội
Với nhận thức vấn đề như trên, chúng tôi chọn đề tài Nhận thức về Đạo Mẫu
của giới trẻ Hà Nội hiện nay để thực hiện luận văn thạc sĩ Chúng tôi chủ yếu dựa vào
tư liệu điền dã dân tộc học có được từ những nghiên cứu trường hợp, để từ đó, có một cái nhìn cụ thể về thực trạng nhận thức về Đạo Mẫu của giới trẻ ở địa bàn Hà Nội Luận văn cũng sẽ đưa ra một số gợi ý mang tính học thuật nhằm góp phần bảo tồn và phát huy Đạo Mẫu trong tương lai
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu từ Đổi Mới đến nay
Từ năm 1986, nhờ chính sách Đổi Mới, các công trình viết về tín ngưỡng dân gian Việt Nam lần lượt được xuất bản mới hoặc tái bản, đặc biệt là tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Tứ Phủ trở thành tâm điểm của giới học thuật và báo chí Có thể kể đến các tác giả tiêu biểu sau đây
Ngô Đức Thịnh trở thành học giả nổi tiếng nhất, và có thể xem ông chính là cha
đẻ của khái niệm Đạo Mẫu Các tác phẩm tiêu biểu của ông về Đạo Mẫu, có thể kể đến
bộ Đạo Mẫu ở Việt Nam (gồm 2 tập) xuất bản lần đầu năm 1996 [Ngô Đức Thịnh chủ
biên 1996] và đã tái bản rất nhiều lần, mà bản tổng hợp mới nhất được xuất bản năm
2019 [Ngô Đức Thịnh 2019] Các tác phẩm này đưa ra quan điểm về hệ thống thờ Mẫu với ba cấp độ: Nữ thần, Mẫu, Mẫu Tam Tứ Phủ Ông khái quát ba dạng thức thờ Mẫu tiêu biểu cho ba miền Bắc - Trung - Nam và các đặc trưng địa phương của chúng Đặc biệt, cho mỗi vùng như vậy, ông tập trung nghiên cứu các vị Thánh Mẫu đại diện cho mỗi dạng thức thờ Mẫu của khu vực đó: Thánh Mẫu Liễu Hạnh ở Bắc Bộ; Thiên Y Ana - Pô Inư Nưgar ở Nam Trung Bộ; Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Thiên Hậu ở Nam Bộ Ngô Đức Thịnh nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Tứ Phủ từ cộng đồng tới cá nhân Ông nghiên cứu các chiều kích khác nhau của môi trường xã hội, lịch sử văn hóa trong Đạo Mẫu [Ngô Đức Thịnh 1996, 2019]
Trang 103
Tác giả Đặng Văn Lung, với tác phẩm Tam tòa Thánh Mẫu xuất bản năm 1991,
thì lại nhìn Đạo Mẫu theo khuynh hướng văn học Ông chứng minh rằng “Đạo Mẫu là một cách trình bày thông tuệ nhất, một bản sử thi của người Việt có tên là Tam Tòa Thánh Mẫu và Tam Tòa Thánh Mẫu là một hệ thống các anh hùng văn hóa Việt Nam
mà Mẫu Liễu là thần chủ hoặc là hiện thân của Tam Tòa Thánh Mẫu” [Đặng Văn Lung
1991 : 11-13]
Chủ đề tín ngưỡng dân gian Việt Nam nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam
Tứ Phủ nói riêng, cũng đã thu hút được nhiều sự quan tâm từ các học giả nước ngoài Hai trong số đó là tác giả Philip Taylor và Endres [Philip Taylor 2004, 2007; Kirsten
W Endres 2011] Các tác phẩm này, về tổng thể thì chỉ tập trung mô tả về hệ thống các tín ngưỡng dân gian, tôn giáo sơ khai xuất hiện ở trên lãnh thổ Việt Nam, và có đề cập tới tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Tứ Phủ Tác giả Endres còn thử xem Đạo Mẫu đã xuất hiện như thế nào dưới lăng kính của báo chí và học thuật qua một bài viết chung trên
Tạp chí Dân tộc học [Kirsten W Endres - Nguyễn Thị Thanh Bình 2006] Bài viết tập trung vào phân tích các khía cạnh của nghi lễ hầu bóng (lên đồng) để chỉ ra những mặt
còn mang tính chất “tiêu cực” của nó Tuy không thực sự tập trung vào giới trẻ nhưng tác giả đã có phỏng vấn các thầy đồng trẻ tuổi để tìm ra lý do họ quyết định trình đồng
mở phủ, tìm tới Đạo Mẫu Đó chính là để giải tỏa những căng thẳng về mặt tâm lý và
thể hiện niềm tin của họ vào khả năng trị liệu, chữa bệnh của nghi lễ hầu bóng Tác giả
viết:
“Việc thực hiện nghi lễ thường kỳ giúp cho người theo Đạo Mẫu
hóa giải “căn cao số nặng” của họ, thể hiện qua những nỗi buồn
phiền về mặt thể xác và tinh thần, nhờ đó mà họ có thể định hướng
lại cuộc sống của mình” [Kirsten W Endres - Nguyễn Thị Thanh
Bình 2006 : 29]
Trang 114
Đạo Mẫu còn trở thành chủ đề nghiên cứu, bàn luận trên phương diện nghệ
thuật Tiêu biểu là tác giả Chu Quang Trứ với tác phẩm Di sản văn hóa dân tộc trong
tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam đã xuất bản năm 1996 Ông cho rằng:
“Phần lớn các kiệt tác nghệ thuật đã được gợi hứng và bảo dưỡng
bởi tôn giáo”; ( ) “tín ngưỡng tôn giáo làm thăng hoa văn hóa dân
tộc và là một biểu hiện sâu đậm của văn hóa dân tộc” [Chu Quang
Trứ 1996: 5-6]
Trên đây là tác giả trong nước và ngoài nước tiêu biểu nhất của giai đoạn những thập niên cuối thế kỉ XX Bước sang đầu thế kỉ XXI thì tình hình nghiên cứu thêm sôi động, với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu lớp kế cận Có thể kể đến các học giả như Nguyễn Thị Hiền, Phạm Quỳnh Phương, Chu Xuân Giao, Nguyễn Thị Yên, Nguyễn Ngọc Mai, Bùi Trọng Hiền, Vũ Thị Tú Anh, Giang Nguyệt Ánh, Mai Thị Hạnh, Nguyễn Hữu Thụ,…
Gần đây, tác giả Nguyễn Hữu Thụ tiếp cận Đạo Mẫu theo phương diện triết học Ông xem Đạo Mẫu như một hình thái ý thức xã hội, bởi vì dưới góc độ triết học, sự hình thành, tồn tại và biến đổi của Đạo Mẫu phản ánh chính xã hội mà nó đang tồn tại trên đó [Nguyễn Hữu Thụ 2012, 2013]
Trong tác phẩm Nghi lễ lên đồng – Lịch sử và giá trị xuất bản năm 2013, tác giả
Nguyễn Ngọc Mai cũng đã đưa ra nhận định riêng của mình về Đạo Mẫu Bà cho rằng:
“Tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu ở Việt Nam hoàn toàn có để được coi
là một tôn giáo bản địa hoặc là một dạng của tiền tôn giáo Điều này
thể hiện rất rõ ở tính biến động của nó cả về nội dung cũng như hình
thức thể hiện”; ( ) “việc sử dụng một khái niệm bản địa (Đạo Mẫu)
để gọi cho tôn giáo của mình cũng hoàn toàn không có gì vô lý
Nhất là khái niệm Đạo này lại mang những nội hàm rất Việt Nam
Trang 125
và chỉ có ở Việt Nam mới có khái niệm Đạo đó, nó vừa mang tính
tôn giáo, vừa đồng đẳng với nhiều Đạo khác của con người”; ( )
“sử dụng khái niệm thờ Mẫu hay Đạo Mẫu đều hàm nghĩa là một
tôn giáo mang tính bản địa chứ không có sự phân biệt gì” [Nguyễn
Ngọc Mai 2013 : 42-43]
Một chuỗi sự kiện quan trọng liên quan đến Đạo Mẫu đã diễn ra vào thập niên thứ hai của thế kỉ XXI Đó là, sau mấy chục năm chuẩn bị của học giới và của Nhà
nước, cuối năm 2012, Nghi lễ Chầu văn của người Việt đã được Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch đưa vào Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể Quốc gia đợt 1, loại hình
Tập quán xã hội và tín ngưỡng (theo Quyết định 5079/QĐ-BVHTTDL1) Đặc biệt, vào ngày 1 tháng 12 năm 2016, tại Phiên họp Ủy ban Liên Chính phủ về Bảo vệ Di sản Văn hóa Phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO2, di sản Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu
Tam phủ của người Việt (với tiêu đề tiếng Anh là Practices related to the Việt beliefs in the Mother Goddesses of Three Realms) đã chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại (nguyên tiếng Anh là Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) [Tài liệu mạng -
Cục Di sản văn hóa 2016; UNESCO-ICH 2016a, 2016b]
Sau khi Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt được
UNESCO vinh danh vào cuối năm 2016, các hoạt động liên quan đến Đạo Mẫu đã trở
1 Nghi lễ Chầu văn của người Việt (hát chầu văn, hát văn) hiện đang là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia thuộc về lĩnh vực Tập quán xã hội và tín ngưỡng Bên cạnh việc có sự ra đời và phát triển gắn liền với Đạo Mẫu, nghi lễ này còn đóng vai trò là một hình thức biểu đạt văn hóa, tín ngưỡng phức hợp Trong sinh hoạt tâm linh của Đạo Mẫu, nghi lễ Chầu văn được kết hợp với nghi lễ hầu đồng và được thể hiện bởi cung văn, thủ nhang, hầu dâng và chính những thanh đồng, tại các địa điểm gắn với Đạo Mẫu (đền, điện, phủ, miếu, chùa,…) Hát chầu văn có nhiều hình thức khác nhau như: hát thờ, hát cửa đền, hát hầu, hát thi…
2 Phiên họp này diễn ra tại thành phố Addis Ababa thuộc nước Cộng hòa Dân chủ Liên bang Ethiopia Đoàn đại biểu của phía Việt Nam có sự tham gia của hai thanh đồng đến từ Nam Định – nơi phát tích của truyền thuyết Công chúa Liễu Hạnh Đó là bà Trần Thị Huệ (thủ nhang Phủ Tiên Hương thuộc quần thể Phủ Giày), bà Trần Thị Hồng Vân (thủ nhang Phủ Quảng Cung – tương truyền là nơi giáng sinh đầu tiên của Công chúa Liễu Hạnh)
Trang 13tranh Tứ bất tử (trong đó có hình tượng Công chúa Liễu Hạnh) vào đầu năm 2019 Ông
cũng đã nhiệt tình ủng hộ sự thể hiện tươi mới và đầy sáng tạo của ca sĩ Hoàng Thùy
Linh trong MV mang tên Tứ Phủ vào tháng 8 năm 2019, hay sự trình diễn xuất sắc của
ca sĩ Tân Nhàn trong ca khúc Cô Đôi Thượng Ngàn vào tháng 9 năm 2019 [Tài liệu
mạng - Chu Xuân Giao 2019a, 2019b, 2019c] Đây là học giả đang tiếp bước công việc của các bậc thầy Vũ Ngọc Khánh - Ngô Đức Thịnh, có nhiều công bố quan trọng gần
đây về hệ thống Tam Phủ - Tứ Phủ và Thánh Mẫu Liễu Hạnh [Chu Xuân Giao - Phan
Lan Hương 2008; Chu Xuân Giao 2017a, 2017b, 2018, 2019], mà việc có những thử nghiệm mới trên đây của giới trẻ, theo như diễn giải của chính ông, thì đều có thể lí
giải một cách sâu sắc từ cách tiếp cận văn hóa sử (nhân loại học lịch sử) về Đạo Mẫu
Theo ông, những thử nghiệm mới không phải ngẫu nhiên sinh ra, mà là kết quả của một quá trình vận động văn hóa xã hội lâu dài, chúng phản ánh sự chuyển động của tâm thế xã hội qua chiều diễn tiến lịch sử3
Vào cuối năm 2019, trong bài viết “Sân khấu hóa nghi lễ hầu đồng và những
vấn đề đặt ra” trên Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, tác giả Nguyễn Thị Yên cũng đề cập tới nhóm vấn đề mà chúng tôi bàn luận trong luận văn này, đó là phương
thức bảo tồn Đạo Mẫu thông qua sự khai thác chất liệu của của các nghi lễ thuộc về
Trang 147
tín ngưỡng này để phục vụ cho việc sáng tác các tác phẩm nghệ thuật Theo tác giả,
phương thức này “là một hình thức khai thác các chất liệu văn hóa nghệ thuật đặc thù
để làm cơ sở sáng tác các tác phẩm nghệ thuật mới mang âm hưởng của nghi lễ hầu đồng (một nghi lễ thuộc về Đạo Mẫu)” Tác giả cũng đã bàn luận đôi chút về giới trẻ,
tiêu biểu là ca sĩ Hoàng Thùy Linh với ca khúc Tứ Phủ, ca sĩ nhí Nguyễn Thiện Nhân với tiết mục chầu văn Cô Đôi Thượng Ngàn trong chương trình Giọng hát Việt nhí năm
2014, tiết mục ảo thuật Bà Chúa Thượng Ngàn của thí sinh Đinh Phương Liên trong chương trình Ảo thuật siêu phàm năm 2018 Tác giả nhận định rằng việc khai thác chất
liệu của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Tứ Phủ hay Đạo Mẫu
“Là một việc làm cần khuyến khích, qua đó góp phần kích thích sự
đổi mới, sáng tạo và cách tân trong các phong cách nghệ thuật, tạo
nên sự phong phú, đa dạng và đặc sắc cho nền nghệ thuật nước
nhà”; ( ) “đòi hỏi người nghệ sĩ phải thực sự hiểu biết về đối tượng
khai thác, tránh việc hiểu chưa thấu đã “sáng tạo” dẫn đến những
khen chê trái chiều” [Nguyễn Thị Yên 2019 : 17]
Các ý kiến của học giới, như của Chu Xuân Giao và Nguyễn Thị Yên trên đây, mới chỉ xuất hiện rất gần đây và cũng mới chỉ thoáng qua hay mang tính gợi ý mà thôi Bởi vậy, có thể nói rằng, cho tới nay, Đạo Mẫu đã và đang được nghiên cứu từ nhiều góc nhìn khác nhau (văn hóa dân gian, tôn giáo học, triết học, văn học, mĩ thuật học, ), nhưng đang còn thiếu vắng những nghiên cứu cơ bản về giới trẻ với Đạo Mẫu, nhận thức của giới trẻ về Đạo Mẫu, vai trò của giới trẻ với tương lai của Đạo Mẫu
3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Với ý nghĩa là một nghiên cứu trực tiếp đầu tiên về mối quan hệ giữa giới trẻ và
Đạo Mẫu, luận văn này có ba mục tiêu chính sau đây
1 Qua tổng quan tư liệu văn bản, luận văn sẽ thử đưa ra một bức tranh tổng
thuật về nhận thức chung của xã hội Việt Nam đương đại về Đạo Mẫu Từ đó, sẽ chỉ ra
Trang 15yếu của luận văn, nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu trọng tâm là“Thực trạng về sự nhận
thức của giới trẻ trong địa bàn thành phố Hà Nội hiện như thế nào?”
3 Cuối cùng, luận văn sẽ đưa ra một số gợi ý mang tính học thuật nhằm góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của Đạo Mẫu thông qua giới trẻ Nội dung này trả lời
cho câu hỏi mang tính ứng dụng là “Làm thế nào để khuyến khích giới trẻ tìm hiểu về
tín ngưỡng dân gian nói chung và Đạo Mẫu nói riêng? Hướng bảo tồn, gìn giữ nào là phù hợp nhất?”
4 Đối tƣợng và nội dung nghiên cứu
Thuật ngữ giới trẻ mà chúng tôi sử dụng trong khuôn khổ luận văn là để chỉ
thanh thiếu niên ở độ tuổi khoảng từ 16 - 30 tuổi Chúng tôi vận dụng linh hoạt qui
định về tuổi của Luật thanh niên năm 2005 Cụ thể là, Điều 1 thuộc Chương 1 của luật này có hướng dẫn : “Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ
mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” [Tài liệu mạng - Quốc hội 2005] Do có trường hợp các em học sinh Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa đủ 16 tuổi, và trường hợp ca sĩ Hoàng Thùy Linh thì hơn 30 tuổi một chút, nên chúng tôi vận dụng
linh hoạt như trên, tức là, thanh thiếu niên ở độ tuổi khoảng từ 16 đến 30 tuổi Hạn
dưới có thể là gần 16 tuổi, hạn trên có thể là hơn 30 tuổi một chút
Với các mục tiêu như đã trình bày ở trên, luân vặn này có ba nội dung với từng đối tượng nghiên cứu cụ thể, được kết cấu thành ba chương như dưới đây
Trang 169
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẠO MẪU – Những vấn đề chung về Đạo Mẫu và
nhận thức chung của xã hội đương đại về Đạo Mẫu Chương này giới thuyết khái
niệm Đạo Mẫu qua tư liệu văn bản Đồng thời, qua phân tích tư liệu xuất bản trên giấy và tư liệu xuất bản trên mạng, sẽ dựng lên một bức tranh về nhận thức chung của
xã hội Việt Nam đương đại về Đạo Mẫu
Chương 2: NHẬN THỨC VỀ ĐẠO MẪU CỦA GIỚI TRẺ HÀ NỘI - Những nghiên
cứu trường hợp Chương này trình bày và phân tích tư liệu điền dã thu thập được từ
các nghiên cứu trường hợp để chỉ ra thực trạng nhận thức của giới trẻ Hà Nội về Đạo Mẫu ở thời điểm hiện tại Các nghiên cứu trường hợp, với các đối tượng nghiên cứu
cụ thể, được trình bày lần lượt như sau
2.1 Trường hợp về các em học sinh Trung học Phổ thông thiết kế bộ phong bao
lì xì chủ đề Tứ bất tử (từ cuối năm 2018 đến đầu năm 2019) Một phong bao trong bộ
đó có thể hiện hình tượng Công chúa Liễu Hạnh kèm theo lời thuyết minh về ngài
Đây không chỉ là một trường hợp mang tính chất tiên phong trong việc ứng dụng Đạo
Mẫu vào hoạt động ngoại khóa của trường Nguyễn Bỉnh Khiêm (Hệ thống Giáo dục
Chất lượng cao Nguyễn Bỉnh Khiêm - Cầu Giấy, từ đây sẽ viết tắt là
HTGDCLC-NBK-CG) mà còn chỉ ra rằng Đạo Mẫu luôn có sức hấp dẫn to lớn với giới trẻ, có điều trước nay chưa được quan tâm đúng mức mà thôi
2.2 Một số nghệ sĩ trẻ sử dụng chất liệu của Đạo Mẫu vào tác phẩm với mục đích đưa Đạo Mẫu lại gần cộng đồng hơn
2.2.1 Trường hợp ca sĩ Hoàng Thùy Linh vận dụng chất liệu của Đạo Mẫu
vào ca khúc Tứ Phủ (công bố và liền gây tiếng vang vào tháng 8 năm 2019)
2.2.2 Trường hợp họa sĩ kiêm thanh đồng Nguyễn Trà My trình bày hiểu
biết về Đạo Mẫu thông qua bộ lịch Việt Tứ Phủ (các năm 2018-2019)
Trang 1710
2.3 Trường hợp nghiên cứu về một cặp thầy trò cùng phụng sự Đạo Mẫu ở đền
Phúc Khánh (số 62, tổ 14, ngõ 230, phố Lạc Trung, phường Thanh Lương, quận Hai
Bà Trưng, Hà Nội) Người thầy là thanh đồng Hoàng Đức Trí đã hầu thánh khoảng 50 năm, là thủ nhang ngôi đền Người đệ tử là thanh niên Trương Xuân Hiếu đã hầu thánh khoảng 10 năm nay dưới sự giáo dưỡng trực tiếp của thầy Trí Nghiên cứu sẽ chỉ ra sự giống và khác nhau giữa sự nhận thức về Đạo Mẫu của hai thầy trò, qua đó
sẽ làm nổi bật nhận thức của giới trẻ ngày nay đối với Đạo Mẫu
Chương 3: THẢO LUẬN TỔNG HỢP – Suy nghĩ về vai trò của giới trẻ đối với
tương lai của Đạo Mẫu Chương này sẽ thảo luận tổng hợp các vấn đề đã trình bày ở
hai chương trước Từ đó, chỉ ra các xu hướng nhận thức của giới trẻ Hà Nội về Đạo Mẫu ở thời điểm hiện tại Đồng thời, cũng đưa một số đề xuất, kiến nghị về việc bảo
tồn và phát huy Đạo Mẫu trong mối quan hệ với giới trẻ
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính yếu, là điền dã dân tộc học (quan sát tham dự, phỏng vấn sâu) và nghiên cứu văn bản
Phương pháp điều tra điền dã dân tộc học (một phương pháp của khu vực
học): quan sát tham dự, phỏng vấn sâu
Đây là phương pháp được chúng tôi sử dụng trong các nghiên cứu trường hợp
Ở tất cả các trường hợp nghiên cứu, giáo viên hướng dẫn đều có mặt và chỉ dẫn cách làm việc tại buổi phỏng vấn sâu đầu tiên Các buổi làm việc bổ sung sau đó thì do học viên chủ động thực hiện một mình Cụ thể như sau
(1) Trường hợp các em học sinh Trường Trung học Phổ thông thuộc Hệ thống
Giáo dục Chất lượng cao Nguyễn Bỉnh Khiêm (Cầu Giấy, Hà Nội)
Chúng tôi biết đến Trường Nguyễn Bỉnh Khiêm và sự kiện học sinh chế tác
thành công bộ phong bao Tứ bất tử vào đầu năm 2019 là do có người nhà là học sinh
Trang 1811
đang theo học tại trường trong các năm 2014-2019, đồng thời có mối quan hệ cá nhân lâu dài với ban giám hiệu nhà trường Buổi làm việc đầu tiên của chúng tôi với nhóm
học sinh đã chế tác bộ phong bao Tứ bất tử là vào ngày 6 tháng 9 năm 2019 tại khuôn
viên ngôi trường Chúng tôi đã trò chuyện với các em và thầy giáo phụ trách trong thời gian khoảng 3 tiếng đồng hồ Sau đó, do các em học sinh đã bận rộn khi vào năm học mới, nên chúng tôi giữ liên lạc qua Email và tin nhắn Facebook
(2) Trường hợp họa sĩ kiêm thanh đồng Nguyễn Trà My
Chúng tôi biết họa sĩ Nguyễn Trà My qua không gian mạng, bởi cô là đồng
sáng lập và quản trị trang facebook Hội họa Tứ Phủ đang được giới trẻ đặc biệt yêu
thích Cuộc phỏng vấn sâu đầu tiên đối với họa sĩ là vào buổi chiều ngày 7 tháng 3
năm 2020, tại nhà riêng của cô (đồng thời là phòng trưng bày Hội họa Tứ Phủ tọa lạc
tại số 51 phố Lê Văn Lương, quận Cầu Giấy Sau buổi làm việc trực tiếp này, chúng tôi tiếp tục trò chuyện với họa sĩ qua điện thoại và các ứng dụng mạng (Email, Zalo, Facebook)
(3) Trường hợp cặp thầy trò thanh đồng và đệ tử ở đền Phúc Khánh (Hoàng
Mai, Hà Nội)
Bản thân người viết luận văn đã có sẵn quan hệ nhiều năm với thầy đồng Hoàng Đức Trí và người đệ tử Trương Xuân Hiếu Trong khuôn khổ luận văn này, buổi phỏng vẩn chính thức đầu tiên diễn ra vào chiều ngày 26 tháng 4 năm 2020 (một tuần sau khi Hà Nội dừng giãn cách xã hội để chống dịch Covid -19), tại đền Phúc Khánh Đây vừa là nơi trú quán vừa là văn phòng làm việc của thầy Trí và đệ tử Hiếu Sau buổi làm việc đó, chúng tôi giữ liên lạc với hai thầy trò thông qua điện thoại và cũng trực tiếp đến đền Phúc Khánh vài lần nữa
(4) Trường hợp ca sĩ Hoàng Thùy Linh
Trang 1912
Đây là nghiên cứu trường hợp duy nhất chúng tôi không có cơ hội phỏng vấn trực tiếp với chủ thể, mà tạm thời phải sử dụng các tư liệu chọn lọc từ báo chí trực tuyến và mạng xã hội (trang chính thức của ca sĩ, các trang fan hâm mộ, Facebook và YouTube)
Về tiêu chí lựa chọn các nghiên cứu trường hợp, chúng tôi chủ động lựa chọn bốn trường hợp tiêu biểu như trên, với mục đích là để có thể xây dựng một bức tranh
về nhận thức về Đạo Mẫu của giới trẻ nói chung ở thời điểm hiện tại Các chủ thể nghiên cứu bao gồm đối tượng là các em học sinh (với vai trò là giới trẻ phổ thông), tiếp sau đó là các nghệ sĩ trẻ (với vai trò là những người thực hành Đạo Mẫu) và cuối cùng là anh Hiếu (với vai trò là một thanh đồng “chuyên nghiệp”) Như vậy, thông qua việc lựa chọn có tính khách quan này, sự nhận thức với những mức độ am hiểu khác nhau của các chủ thể nghiên cứu sẽ được phân tích Và từ đó, luận vẵn sẽ rút ra những điểm chung nhất để xây dựng một bức tranh toàn cảnh về sự nhận thức đối với Đạo Mẫu của giới trẻ Hà Nội hiện nay
Phương pháp nghiên cứu văn bản
Chúng tôi phân mảng tài liệu văn bản thành hai dạng thức chính: tài liệu in ấn (là các tác phẩm đã xuất bản trên giấy của các học giả đi trước), tài liêu mạng (là các xuất bản trên không gian mạng) Kết quả công việc được phản ánh trong thư mục Tài
liệu tham khảo ở cuối luận văn
Với phương pháp này, chúng tôi có thể hiểu được các nhà nghiên cứu đi trước
đã tiếp cận theo những hướng nào, đã đưa ra những nhận định gì, đã bàn luận về vấn
đề nào của Đạo Mẫu Đồng thời, qua đó cũng nắm bắt được thực trạng nhận thức chung của toàn xã hội đối với Đạo Mẫu
Trang 2013
Trang 2114
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẠO MẪU Những vấn đề chung về Đạo Mẫu
và nhận thức chung của xã hội đương đại về Đạo Mẫu
Ở chương này, chúng tôi thực hiện hai phần việc chính sau đây Trước hết, sẽ
tập trung làm rõ khái niệm Đạo Mẫu bằng cách dẫn lại một số cách hiểu chính yếu
đang được sử dụng rộng rãi trong học thuật hiện nay, rồi từ đó chọn ra một cách hiểu
phù hợp với đề tài nghiên cứu của chúng tôi Tiếp theo, trình bày về nhận thức chung
của xã hội Việt Nam đương đại về Đạo Mẫu Có thể tạm phân thành nhận thức của giới
học thuật (phản ánh chủ yếu trong các công trình học thuật) và nhận thức của giới bình
dân (phản ánh chủ yếu trong báo chí truyền thống, báo chí trực tuyến và mạng xã hội)
1.1 Khái niệm Đạo Mẫu và các vận động của giới học thuật
Theo một tổng quan gần đây của Chu Xuân Giao [Chu Xuân Giao chủ biên
2019 : 7] thì, từ sau Đổi Mới, thuật ngữ đạo Mẫu/Đạo Mẫu (đạo Mẫu Việt Nam, đạo
Mẫu ở Việt Nam) được sử dụng phổ biến cả trong giới học thuật và giới báo chí Thuật
ngữ này xuất phát từ kết quả điều tra điền dã và nghiên cứu tư liệu văn bản ở đầu thập
niên 1990 của các nhà nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian (nay là
Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), sau đó được
chấp nhận và trở nên quen thuộc trong học giới cũng như báo giới Cụ thể hơn, thuật
ngữ Đạo Mẫu lần đầu tiên xuất hiện trong cuốn Đạo Mẫu ở Việt Nam - Tập 1 được
xuất bản năm 1996 do Ngô Đức Thịnh là chủ biên Theo như chính cha đẻ của thuật
ngữ này thì:
“Nó được dùng để gọi hiện tượng tín ngưỡng dân gian mang nguồn
gốc bản địa và vì thuật ngữ này phản ánh đúng bản chất của hiện
tượng cho nên được cả những người nghiên cứu và đông đảo quần
chúng thừa nhận” [Ngô Đức Thịnh 2019 : 17]
Trang 2215
Ở bình diện phổ thông, để có thể hiểu nhanh về thuật ngữ Đạo Mẫu, học theo
cách làm của Ngô Đức Thịnh, chúng tôi sẽ chia thuật ngữ này thành hai danh từ riêng
biệt, là Đạo và Mẫu, đưa ra phân tích sơ lược như sau
Mẫu là một từ Hán Việt có ý nghĩa chỉ người mẹ, người phụ nữ đã có công sinh
thành, nuôi dưỡng những đứa con của mình Bên cạnh đó, Mẫu còn được sử dụng với
mục đích thể hiện sự tôn vinh một hình tượng nữ nhân cụ thể nào đó Có thể là nhân vật có thật, cũng có thể là nhân vật xuất hiện trong huyền tích, chẳng hạn như Mẫu Âu
Cơ, Quốc mẫu, Mẫu nghi thiên hạ, Mẫu Liễu Hạnh,… Trong thế giới quan của người
Việt, từ xưa tới nay, Mẫu cũng gắn liền với sự sống, sự sinh sôi, nảy nở của vạn vật,
của muôn loài Tổ tiên người Việt đã “khoác cho tự nhiên, vũ trụ thuộc tính nữ, mang tính sản sinh, tồn trữ và che chở” [Ngô Đức Thịnh 2019 : 22]
Đạo theo Từ điển tiếng Việt thì “là đường lối, nguyên tắc mà con người có bổn
phận giữ gìn và tuân theo trong cuộc sống xã hội (thường là theo quan niệm cũ) hay là một nội dung học thuật của một học thuyết được tôn sùng ngày xưa hoặc là dùng để chỉ một tổ chức tôn giáo” [Hoàng Phê chủ biên 2003 : 289-290] Và theo Nguyễn Ngọc
Mai, khái niệm Đạo gắn với rất nhiều từ để làm thành các ngữ nghĩa khác nhau (đạo lộ,
đạo nhân, đạo sĩ, đạo thuật), do vậy khi sử dụng các từ ngữ khác nhau theo những ngữ
cảnh cụ thể mà từ Đạo mang những nghĩa cụ thể [Nguyễn Ngọc Mai, 2013 : 36] Vẫn theo Nguyễn Ngọc Mai, Đạo trong Đạo Mẫu lại mang những nội hàm rất Việt Nam và chỉ có ở Việt Nam mới có khái niệm Đạo mà vừa mang tính tôn giáo, vừa đồng đẳng
với nhiều hình thức “Đạo” khác của con người (Đạo ông bà, Đạo làm người, Đạo làm con,…”1 [Nguyễn Ngọc Mai 2013 : 42-43]
Còn ở phương diện học thuật chuyên sâu, chúng tôi xin dẫn lại một số quan điểm của các nhà khoa học đi trước về Đạo Mẫu như sau
1 Nhận thức này cũng rất phổ biến trong giới thanh đồng.
Trang 2316
Theo Ngô Đức Thịnh, trước hết, Đạo Mẫu là một tín ngưỡng nguyên thủy, mang tính chất bản địa, xuất phát từ tín ngưỡng thờ các vị thần linh tự nhiên, mà ở đây thì người Việt xưa quan niệm là các nữ thần Trên cơ sở đó, tín ngưỡng này tiếp nhận những ảnh hưởng của Đạo Giáo Trung Quốc và đã trở thành đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ (Tam Tòa Thánh Mẫu), một thứ đạo giáo đặc thù của Việt Nam, có thể nói một cách ngắn gọn hơn và thực chất hơn là Đạo Mẫu [Ngô Đức Thịnh 2019 : 29] Vẫn theo Ngô Đức Thịnh, qua một thời gian dài tiếp biến và phát triển, Đạo Mẫu trở thành một tín ngưỡng mà trong đó đã có một hệ thống thần linh tương đối hoàn chỉnh, được phân chia vào các phủ với các hàng bậc từ trên xuống dưới, mà vị thần chủ là Thánh Mẫu Liễu Hạnh Đây là một loại hình tín ngưỡng mà qua quá trình phát triển đã hình thành một cộng đồng đông đảo các tín đồ với sự đa dạng về tầng lớp, thứ bậc xã hội, đồng thời, cũng đã thiết lập một quy chuẩn chặt chẽ về hệ thống các nghi lễ, nơi thờ cúng, nghi thức cúng lễ mà tiêu biểu nhất trong đó là nghi lễ lên đồng (hầu bóng)
Ông đưa một tổng quan như sau về Đạo Mẫu:
“Đạo Mẫu còn thể hiện một ý thức xã hội hướng về cội nguồn mà
trong đó lấy hình tượng người Mẹ làm biểu tượng, một ý thức yêu
nước, gắn bó với dân tộc, ý thức về một đời sống thực thường nhật
với các nhu cầu về sức khỏe, tài lộc ”2 [Ngô Đức Thịnh 2014 : 54]
Qua đây, chúng ta có thể hiểu được rằng Ngô Đức Thịnh coi Đạo Mẫu là tiệm cận tôn giáo (như nói Đạo Phật, Đạo Nho, Đạo Giáo,…), nhưng vẫn là lĩnh vực của tín ngưỡng Hoặc nói cách khác thì nó chỉ là một loại hình tín ngưỡng, và là một tín ngưỡng độc đáo của người Việt
Tiếp thu quan điểm trên của Ngô Đức Thịnh, qua nghiên cứu điền dã nhiều năm, Nguyễn Ngọc Mai chia sẻ quan điểm của mình về Đạo Mẫu như sau:
2
Không chỉ Ngô Đức Thịnh mà còn có rất nhiều học giả khác nhận định Đạo Mẫu là loại hình tôn giáo tín ngưỡng đáp ứng nhu cầu của “người sống” vì nó chủ yếu xoay quanh các mong muốn thực tại của con người.
Trang 2417
“Tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu ở Việt Nam có để được coi là một tôn
giáo bản địa hoặc làm một dạng thức tiền tôn giáo và hoàn toàn
đồng đẳng với các tôn giáo khác trong đó có Đạo Giáo Trung Quốc
Điều này thể hiện rất rõ ở tính biến động của nó cả về nội dung
cũng như hình thức thể hiện Chính vì đó việc sử dụng một khái
niệm bản địa như là Đạo Mẫu để gọi cho tôn giáo của mình cũng
hoàn toàn không có gì vô lý” [Nguyễn Ngọc Mai 2013 : 42-43]
Chúng ta có thể hiểu rằng, Nguyễn Ngọc Mai coi Đạo Mẫu là tôn giáo bản địa,
mà không chỉ là tín ngưỡng
Nguyễn Hữu Thụ thì xem Đạo Mẫu như một hình thái ý thức xã hội, bởi vì dưới góc độ triết học, sự hình thành, tồn tại và biến đổi của Đạo Mẫu phản ánh chính xã hội
mà nó đang tồn tại trên đó Ông đưa ra định nghĩa về Đạo Mẫu như sau:
“Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở vùng đồng bằng Bắc bộ là
một loại hình tín ngưỡng dân gian được tích hợp bởi các lớp tín
ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần và thờ Tam phủ - Tứ phủ với
niềm tin thiêng liêng vào quyền năng của Mẫu - đấng sáng tạo, bảo
trợ cho sự tồn tại và sinh thành của tự nhiên, xã hội và con người”
Trang 2518
chứa đựng nhiều yếu tố liên quan tới Đạo Giáo nhưng về nội dung căn bản vẫn là đề cao vai trò của hình tượng người phụ nữ, cụ thể là các Mẫu Chính vì lý do này, Nguyễn Hữu Thụ đưa ra nhận định rằng:
“Không thể đồng nhất giữa Đạo giáo (một tôn giáo ra đời tại Trung
Quốc) với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt” [Nguyễn Hữu Thụ
2013 : 67]
Tổng hợp các quan niệm của các học giả trên đây, chúng tôi rút ra mấy điểm sau
về nội dung chính trong khái niệm Đạo Mẫu
Thứ nhất, Đạo Mẫu xuất phát từ truyền thống thờ các nữ thần tự nhiên của người Việt nói riêng và châu Á nói chung Đạo Mẫu lấy trung tâm là hình tượng người
mẹ và thể hiện một ý thức xã hội hướng về dân tộc, về cội nguồn
Thứ hai, Đạo Mẫu là một dạng tôn giáo bản địa, mang bản sắc đặc thù của người Việt Qua quá trình phát triển, Đạo Mẫu đã thích nghi và chủ động tích hợp các yếu tố văn hóa, tâm linh của các tôn giáo ngoại lai khác để tự hoàn thiện
Thứ ba, trải qua một quá trình phát triển lâu dài, Đạo Mẫu đã có một hệ thống thần linh hoàn chỉnh, cùng với đó là hệ thống hội lễ, nghi lễ mang đậm bản sắc dân tộc
Qua nghiên cứu điền dã dân tộc học với các nghiên cứu trường hợp thuộc luận văn này, chúng tôi cũng xin bổ sung thêm ý sau Đó là, giống với các tôn giáo khác, Đạo Mẫu cũng có những giáo lý, giáo luật của riêng mình dù là chưa thành văn Những luật lệ này được trao truyền giữa các thanh đồng trong quá trình học đạo và truyền đạo bằng phương thức truyền miệng Đạo Mẫu cũng có các trung tâm thực hành, sinh hoạt tâm linh tương tự như các tôn giáo khác
Trở lên là về nội dung của khái niệm Đạo Mẫu Còn vận động của học giới
xung quanh khái niệm này từ sau Đổi Mới, thì có thể tóm tắt như sau
Trang 2619
Theo một tổng quan gần đây của học giả Phan Thị Hoa Lý, đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu Đạo Mẫu từ sau Đổi Mới là những tác giả: Vũ Ngọc Khánh, Ngô Đức Thịnh, Đặng Văn Lung,… Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của tín ngưỡng thờ Mẫu cũng như những thành công mà các nhà nghiên cứu đi trước đã đạt được, chủ đề Đạo Mẫu đã thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu mới như: Chu Xuân Giao, Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Thị Yên, Phạm Quỳnh Phương, Nguyễn Ngọc Mai, Bùi Trọng Hiền, Vũ Thị
Tú Anh, Giang Nguyệt Ánh, Mai Thị Hạnh, … Hàng loạt bài viết, công trình, luận án, luận văn về chủ đề này nối tiếp nhau ra đời Những công trình này tiếp cận chủ đề từ nhiều khía cạnh khác nhau như lễ hội, âm nhạc, trang phục, truyền thuyết, đồ mã, bản hội Đạo Mẫu, phương thức thể hiện quyền lực mềm của người phụ nữ trong Đạo Mẫu,…[Phan Thị Hoa Lý 2020 : 10]
Ở thời kì đầu ngay sau Đổi Mới, các nhà nghiên cứu đã phân tích một cách sâu rộng, với nhiều phương pháp tiếp cận Đạo Mẫu Từ đó, các nghiên cứu làm sáng tỏ những giá trị của loại hình tín ngưỡng này như đề cao tinh thần yêu nước, hướng con người đến sự hòa đồng trong xã hội Đặc biệt, nghi lễ lên đồng còn “là một hình thức diễn xướng tâm linh, một “bảo tàng sống” của văn hóa dân tộc Việt” [Ngô Đức Thịnh
2014 : 56-58]
Càng về sau, các nghiên cứu cũng chỉ ra những mặt tiêu cực của Đạo Mẫu, đặc biệt được thể hiện trong nghi lễ lên đồng Nguyễn Ngọc Mai đã có nhận xét rằng:
“Nói một cách chính xác, lên đồng ngày nay nghiêng về biểu diễn
lên đồng Tính tôn giáo có chăng chỉ là không gian thực hành và
biểu diễn đó và niềm tin vào các thánh thần” [Nguyễn Ngọc Mai
2013 : 41]
Quả thực, có rất nhiều con nhang đệ tử đến với Đạo Mẫu nhưng không có một kiến thức nhất định, vô hình trung trở thành nạn nhân cho chiêu trò lừa gạt “buôn thần, bán thánh” của những thầy đồng giả, những người muốn lợi dụng Đạo Mẫu để làm
Trang 2720
kinh tế Những tín đồ nhẹ dạ cả tin sẽ bị các thầy đồng dọa nạt rằng họ có căn cao số nặng thì phải trình đồng mở phủ, hoặc phải đóng rất nhiều tiền để cho các thầy mở giá hầu Điều này dẫn tới việc nhiều tín đồ khuynh gia bại sản3
Các nhà khoa học khi nghiên cứu về chủ đề Đạo Mẫu đều đã bày tỏ thái độ lên
án hiện tượng này và cũng yêu cầu các đơn vị có thẩm quyền cần có biện pháp để ngăn chặn các thầy đồng sử dụng nghi thức lên đồng như một công cụ làm kinh tế Ngô Đức Thịnh đã đưa ra nhận định rằng:
“Trải qua gần nửa thế kỷ từ chỗ bị cấm đoán cũng như được bùng
phát trở lại khiến cho bản thân Đạo Mẫu và nghi lễ lên đồng, một
mặt vẫn duy trì những đặc điểm, những giá trị cơ bản của nó, nhưng
mặt khác cũng đang bị biến dạng và lợi dụng” [Ngô Đức Thịnh
2014 : 55]
1.2 Nhận thức chung của xã hội Việt Nam đương đại về Đạo Mẫu
Theo tổng quan của chúng tôi, ở thời điểm hiện tại, sự nhận thức của toàn xã hội
nói chung về Đạo Mẫu gồm mấy điểm chính sau
Đạo Mẫu là truyền thống quí báu của dân tộc, đã góp phần bồi dưỡng tâm hồn và sức mạnh Việt Nam trong quá khứ
Trong bài viết gần đây, ông Phạm Tứ (nguyên Giám đốc Trung tâm Văn Miếu – Quốc tử giám, hiện là Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn Văn hóa Tín ngưỡng Việt Nam) có chia sẻ như sau:
“Vào những năm 70 của thế kỷ trước, ông Lê Huệ - nguyên Giám
đốc Sở Văn hóa tỉnh Nam Định, đã cải biên các bài hát Chầu văn
3 Theo phỏng vấn hồi cố với những thầy đồng lớn tuổi, chúng tôi biết được rằng, chính vì điều này mà Đạo Mẫu nói chung và nghi lễ hầu bóng nói riêng trở thành đối tượng bị “đánh phá” nhiều nhất trong thời kì chống mê tín
dị đoan
Trang 2821
với ca từ mới và giọng hát Hồng Liên để phục vụ bộ đội, thanh niên
xung phong từ Bắc đến Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước” [Tài liệu mạng - Phạm Tứ 2016]
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, trong quá khứ, chất liệu từ Đạo Mẫu cũng đã giữ vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng tâm hồn và sức mạnh cho nhân dân, điển hình là qua cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Chất liệu của những bài Chầu văn
đã được cải biên để phù hợp hơn với thời điểm bấy giờ, nhưng bản sắc cốt lõi của Đạo Mẫu vẫn được bảo lưu
Đó là chiến tranh chống Mỹ cứu nước gần đây, còn trong quá khứ xa xưa, thì Đạo Mẫu là hệ thống tôn giáo tín ngưỡng tôn thờ Mẫu, tôn thờ phụ nữ, đã tạo ra được một sự cân bằng cho một xã hội phong kiến xây dựng trên nền tảng Nho giáo vốn trọng nam khinh nữ
Đạo Mẫu tiếp tục là nguồn sức mạnh to lớn đối với đương đại (bồi dưỡng tinh thần
bình đẳng nam nữ; tôn trọng người mẹ; chữa bệnh,…)
Đối với xã hội Việt Nam đương đại, Đạo Mẫu không chỉ được xem là một tín ngưỡng tôn giáo mà còn là một loại hình văn hóa đặc thù của người Việt Nhìn vào sinh hoạt Đạo Mẫu, chúng ta có thể thấy được, hiểu được nhận thức, các giá trị đạo đức
và nhân văn sâu sắc, cùng với các khát vọng của con người đương đại
Đạo Mẫu thể hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, tôn vinh những người có công với đất nước, thể hiện lòng yêu nước mãnh liệt của nhân dân Và quan trọng hơn cả, Đạo Mẫu cũng là Đạo Hiếu khi xoay quanh hình tượng người mẹ Thực hành các nghi lễ của Đạo Mẫu cũng tương tự như hành động giữ tròn chữ
“Hiếu”
Về tinh thần bình đẳng nam nữ, bình đẳng giàu nghèo trong Đạo Mẫu, thì nhà báo Nam Hoàng đã chia sẻ như sau:
Trang 2922
“Như đã nói, tín ngưỡng thờ Mẫu hướng đến mang lại sự thanh
thản, niềm vui cho con người trong cuộc sống hiện tại Người đi lễ
cầu mong đạt được những điều nằm ở chính cuộc sống này, là tài
lộc, thành công, may mắn Sau nghi lễ hầu đồng, người đi lễ được
thụ lộc ngay tại chỗ, được phát lộc là những vật phẩm quen thuộc,
gần gũi của cuộc sống Vì vậy mà nó xóa mờ ranh giới giàu nghèo
Đã đi lễ thì ai cũng như ai” [Tài liệu mạng - Nam Hoàng 2012]
Giá trị chữa bệnh của Đạo Mẫu hiện nay, nhất là chữa bệnh âm hay chữa bệnh tinh thần, cũng đang được đánh giá cao từ học giới và người thực hành tín ngưỡng Trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Mỹ, học giả Ngô Đức Thịnh cho biết:
“Trạng thái thăng hoa tinh thần mà hầu đồng mang tới cho người
tham dự có vai trò như một kiểu “trị liệu tâm lý”, gây hưng phấn
cao độ khi khai mở nhu cầu giao hòa giữa con người với thần linh”
[Tài liệu mạng - Nguyễn Mỹ 2016]
Đạo Mẫu đã và đang đƣợc vinh danh
Như đã đề cập ở Phần mở đầu, trải qua mấy chục năm chuẩn bị của học giới và
của nhà nước, vào cuối năm 2012, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đưa Nghi lễ
chầu văn của người Việt vào Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể Quốc gia đợt 1
Khoảng bốn năm sau đó, vào tháng 12 năm 2016, UNESCO đã chính thức đưa di sản
Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt vào Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại Có nghĩa là, theo như cách hiểu chung của xã
hội Việt Nam hiện nay, Đạo Mẫu đã được quốc gia công nhận, rồi sau đó là được vinh danh bởi UNESCO
Cũng trong bài viết đã nhắc tới phía trên, ông Phạm Tứ chia sẻ:
Trang 3023
“Chính phủ đã công nhận Tín ngưỡng thờ Mẫu là Di sản Văn hóa
Phi vật thể Quốc gia và trình UNESCO xem xét, công nhận là Di
sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại Có được những kết
quả đó nhờ vào tinh thần bền bỉ bảo tồn giá trị văn hoá của các
Thanh đồng, sự dũng cảm và dấn thân của các nhà khoa học, các
nhà quản lý đã làm thay đổi nhận thức xã hội với thờ Mẫu Những
hoạt động liên quan đến Tín ngưỡng thờ Mẫu được giới nghiên cứu
cũng như công chúng quan tâm nhiều hơn Nhiều sự kiện thường
niên và quy mô như hội thảo khoa học trong nước và quốc tế, liên
hoan văn hóa Tín ngưỡng thờ Mẫu, cùng những hoạt động giao lưu,
trao đổi học thuật với các nước như Pháp, Hàn Quốc,Thái Lan Tín
ngưỡng thờ Mẫu và Lên đồng là đề tài nghiên cứu khoa học của
nhiều nghiên cứu sinh trong nước và quốc tế Ở đây phải kể đến
công của những nghệ sỹ đã đưa thờ Mẫu vào tác phẩm sáng tạo của
mình giới thiệu với đông đảo công chúng Ngược lại, Tín ngưỡng
thờ Mẫu và Hầu đồng cũng là nguồn đề tài vô tận cho việc sáng tạo
của văn nghệ sỹ” [Tài liệu mạng - Phạm Tứ 2016]
Đạo Mẫu đang tiềm ẩn nhiều mối lo
Gần đây, báo giới liên tục khai thác những khía cạnh tiêu cực của Đạo Mẫu và đưa ra những lời chỉ trích, phê phán, thậm chí là lên án Nhiều bài báo cho rằng việc tham gia vào nghi lễ hầu đồng, dâng sao giải hạn, cầu tài lộc sức khỏe, chỉ là một cách thức khoe mẽ tiền bạc và quyền lực của những đại gia Bên cạnh đó thì các thầy đồng cũng lợi dụng sự cả tin của các con nhang đệ tử mà “làm kinh tế”
Về vấn đề này, nhà báo Hoàng Anh đã có chia sẻ như sau:
“Từ năm 2016, sau khi “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ
của người Việt” được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Phi
Trang 3124
vật thể đại diện của nhân loại, những vấn đề liên quan tới Đạo Mẫu
lại càng trở nên phức tạp hơn Nhiều thầy đồng mới xuất hiện, các
điện thờ tư cũng mọc lên không ngừng, đồng thời cũng xuất hiện
nhiều thể loại, hình thức hầu đồng mới như hầu tại gia, hầu online
Không những thế, nhiều thầy đồng lợi dụng truyền phán để dọa nạt,
lợi dụng lòng tin của các tín đồ hòng trục lợi cho bản thân Xuất
hiện hình thức phân biệt đối xử vật chất giữa các con nhang đệ tử
của thầy đồng thông qua việc phát lộc trong buổi lễ cũng phần nào
làm mất đi gia trị vốn có của nghi lễ này Cung văn thì tự thay đổi
sáng tác lời hát mới, các thầy đồng thì chạy đua thời trang với
những bộ trang phục đắt đỏ hoặc bị thay đổi thái quá khiến cho
người xem hầu không còn nhận biết được các giá hầu” [Tài liệu
Trong khi đó, giới bình dân thì chủ yếu tìm hiểu, thu nhận thông tin về Đạo Mẫu qua các trang báo điện tử hay trên mạng xã hội Đối với họ, khi muốn tìm hiểu một vấn
đề gì đó thì Internet là phương tiện được ưu tiên hàng đầu, chứ không phải các tác phẩmhọc thuật
Trang 3225
Trong một khoảng thời gian dài, báo giới lại chỉ tập trung khai thác những mặt
tiêu cực của Đạo Mẫu cụ thể là tình trạng “buôn thần bán thánh” thông qua nghi thức
lên đồng của một số thầy đồng Hiện tượng này đã làm ảnh hưởng rất nhiều tới Đạo
Mẫu, làm xấu đi hình ảnh của một Di sản Phi vật thể được UNESCO vinh danh Do
báo chí chỉ tập trung viết về những tiêu cực mà bỏ qua những giá trị văn hóa vốn có
của Đạo Mẫu, thậm chí nhiều nhà báo không hiểu biết về Đạo Mẫu nhưng vẫn viết
theo phong trào, đã khiến cho xã hội có sự nhận thức sai lệch về Đạo Mẫu
Quan hệ giữa học giới và giới bình dân là quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau
Các tác phẩm, công trình nghiên cứu của giới học thuật đóng vai trò cung cấp những
kiến thức nền tảng về Đạo Mẫu, để từ đó các nhà báo có thiện chí có thể áp dụng vào
bài viết Chúng tôi nhận thấy rằng, đa số bài báo nghiêm túc viết về Đạo Mẫu dưới
hình thức giải thích, hướng dẫn, cung cấp thông tin, đều là trích từ các công trình
nghiên cứu của giới học thuật Nhưng có nhiều nhà báo thiếu thiện chí thì đăng bài khi
chưa thực sự có nhận thức đúng về tín ngưỡng này, hoặc là chỉ trích tạm vài câu giải
thích bâng quơ để rồi đi vào phê phán những mặt tiêu cực
Đặc biệt, có một đặc điểm chung của cả giới học thuật và giới bình dân mà
chúng tôi muốn chỉ ra, đó là, cả hai đều chưa quan tâm tới nhận thức của giới trẻ hiện
nay đối với Đạo Mẫu Học giới cho ra đời những tác phẩm mà có thể nói là vượt ra
ngoài tầm hiểu biết của giới trẻ, không tạo được sức hút để tầng lớp này tìm đọc Giới
bình dân thì lại quá phụ thuộc vào các phương tiện truyền thông, những thông tin nhóm
đối tượng này thu nhận được là thông qua những bài viết của báo giới, mà báo giới thì
chỉ tập trung khai thác những khía cạnh tiêu cực
Các bài viết của giới báo chí phục vụ nhu cầu của toàn xã hội nói chung, nhưng
lại chưa tác động tới giới trẻ và không quan tâm tới sự nhận thức họ Trong khi đó, Đạo
Mẫu lại đang rất cần được bảo tồn và phát huy các giá trị vốn có của nó, mà tầng lớp
phù hợp nhất với nhiệm vụ này không ai khác chính là những người trẻ tuổi
Trang 3326
Tiểu kết
Như đã trình bày ở trên, Đạo Mẫu đang được nhận thức chung là một loại hình tôn giáo tín ngưỡng bản địa độc đáo riêng của Việt Nam, là một truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc, là một lĩnh vực nuôi dưỡng tâm hồn và khí phách con người Việt Nam Sau một thời gian dài bị phủ nhận, thì từ sau Đổi Mới, từng bước Đạo Mẫu đã được công nhận trở lại ở cả bình diện quốc gia và quốc tế Tuy nhiên, bản thân Đạo Mẫu cũng đang tiềm ẩn những mối lo
Cũng như đã trình bày ở trên, rõ ràng, ở thời điểm hiện tại, dù là nhận thức chung của toàn xã hội hay nhận thức chuyên ngành của học giới, đều đang thiếu vắng mối quan tâm trực diện về mối quan hệ giữa Đạo Mẫu và giới trẻ Hầu như chúng ta chưa biết giới trẻ đang nhận thức như thế nào về Đạo Mẫu Bản thân giới trẻ cũng chưa
tự giác được về vai trò của mình đối với tương lai của Đạo Mẫu Chính vì vậy, chúng tôi đã chọn lọc các trường hợp tiêu biểu để nghiên cứu về nhận thức của giới trẻ về Đạo Mẫu – sẽ được trình bày ở chương tiếp theo
Trang 3427
CHƯƠNG 2: NHẬN THỨC VỀ ĐẠO MẪU CỦA GIỚI TRẺ HÀ NỘI
Những nghiên cứu trường hợp
Ở chương này, chúng tôi sẽ lần lượt trình bày về các trường hợp nghiên cứu cụ
thể theo phương pháp điều tra điền dã dân tộc học (đã được trình bày tổng quan ở phần
mở đầu) Chúng tôi cố gắng trình bày một cách chân thực từng trường hợp, khi cần
thiết thì sẽ đưa hình ảnh để minh họa Tiếng nói của người trong cuộc ở các trường hợp cũng sẽ được đưa lồng cả vào trong phần trình bày thực tế và phần bàn luận thêm của chúng tôi
2.1 Trường hợp về các em học sinh Trung học Phổ thông thiết kế bộ phong bao lì
xì chủ đề Tứ bất tử (từ cuối năm 2018 đến đầu năm 2019)
Tên gọi đầy đủ của trường hợp này là Bộ Phong bao lì xì Tứ bất tử gồm bốn
chiếc, trong đó có một chiếc in hình Công chúa Liễu Hạnh (xem Ảnh 2.1), của các em học sinh trường Nguyễn Bỉnh Khiêm Cầu Giấy (các học sinh Trung học Phổ thông thuộc Hệ thống Giáo dục Chất lượng cao Nguyễn Bỉnh Khiêm - Cầu Giấy) thực hiện vào dịp Tết Nguyên Đán đầu năm 2019 Đây là một dự án được nhà trường tổ chức
hàng năm dành cho các em học sinh có năng khiếu để bồi dưỡng kĩ năng làm việc nhóm
Có mấy điểm thú vị sau đây về trường hợp nghiên cứu này
Thứ nhất, đây là trường hợp đầu tiên thực hiện thành công việc đưa chất liệu của tín ngưỡng dân gian vào hoạt động ngoại khóa
Thứ hai, các em học sinh lớp 10 đã chủ động chọn một đề tài tương đối khó so với tuổi Tuy Hệ thống Giáo dục Chất lượng cao Nguyễn Bỉnh Khiêm - Cầu Giấy (từ đây trở xuống viết tắt là HTGDCLC-NBK-CG) đã có truyền thống yêu thích, phát triển các loại hình văn hóa dân gian trong nội bộ trường từ lâu, nhưng các em học sinh chọn
Trang 3528
chủ đề Tứ bất tử cho dự án của mình hoàn toàn là tự phát, các em không hề chịu bất kì
một sự áp đặt nào từ nhà trường Các em được tự do triển khai ý tưởng của mình
Thứ ba, nhà trường đã tạo điều kiện cho các em thực hiện dự án không chỉ cho
ra đời một sản phẩm chung (phục vụ cho học sinh toàn hệ thống), mà còn tự tìm được cho mình lối đi riêng trong tương lai Hơn nữa, sản phẩm của các em cũng tạo được tiếng vang nhất định, tuy là chỉ trong nội bộ trường, nhưng cũng làm cho các em học sinh khác thêm hứng thú với tín ngưỡng dân gian
Ảnh 2.1: Bộ phong bao lì xì "Tứ Bất Tử" gồm 4 chiếc do học sinh Trung học Phổ
Đây là một trường hợp nghiên cứu đặc biệt, không chỉ vì sự quyết tâm, tự tin của các em học sinh “dám nghĩ dám làm”, mà từ đây, chúng tôi đi đến một nhận thức quan trọng rằng, văn hóa dân gian nói chung, và tín ngưỡng dân gian nói riêng, có sức hấp dẫn lớn đối với giới trẻ
2.1.1 Thông tin chung
4 Ảnh được chúng tôi chụp lại từ bộ lì xì các em học sinh tặng trong buổi phỏng vấn ngày 6 tháng 9 năm 2019.
Trang 3629
Nhóm học sinh chế tác Bộ Phong bao lì xì Tứ bất tử gồm bốn em đang theo học
chương trình song ngữ tại Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm Lần lượt là: HNM, ĐLAK, CĐA (đều sinh năm 2003) và NHT (sinh năm 2002) Ba em đầu vẫn tiếp tục theo học tại trường (tháng 5 năm 2020) Riêng em NHT đã đi du học ở Singapore từ mùa thu năm 2019 Em này vốn giữ vai trò là trưởng nhóm, vừa là người lên ý tưởng đầu tiên cho cả nhóm, vừa nhận nhiệm vụ phác thảo hình tượng các nhân vật của bộ phong bao Tất cả các em đều sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, đều chung một niềm đam mê với hội họa và có sự thích thú nhất định đối với văn hóa dân gian
Một điều đáng nói là, em HNM có bà chính là một thanh đồng có điện thờ Mẫu tại nhà, nên em đã làm quen từ nhỏ và có sự quan tâm đối với chủ đề này Thầy giáo phụ trách dự án của nhóm tên là PĐH – sinh năm 1994, tốt nghiệp khoa Truyền thông Quốc tế thuộc Học viện Ngoại giao (sau khi tốt nghiệp thì về công tác tại HTGDCLC-NBK-CG) Trong quá trình công tác tại trường, thầy PĐH đã trau dồi thêm kiến thức
về thiết kế đồ họa để có thể hỗ trợ các em học sinh trong nhóm khi cần thiết
Ngoài thầy PĐH, các em học sinh trong nhóm còn nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình từ thầy NTS (hiện cũng công tác tại trường) và bạn K (một cựu học sinh của trường) Tính chính xác của sản phẩm được củng cố thêm là bởi sự giúp đỡ của thầy NST và bạn K Hai vị này có niềm đam mê với văn hóa dân gian Thêm vào đó, họ cũng chính là người có căn đồng, có tham gia thực hành tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam Tứ Phủ
Tác phẩm Bộ Phong bao lì xì Tứ bất tử của các em đã được trường Nguyễn
Bỉnh Khiêm xuất bản 3200 bộ Mỗi bộ gồm bốn chiếc mang bốn màu sắc khác nhau
tương đồng với từng nhân vật: Tản Viên Sơn Thánh (đỏ), Phù Đổng Thiên Vương (xanh lá), Chử Đồng Tử (xanh dương), Công chúa Liễu Hạnh (vàng)
Trang 3730
Nhà trường phát cho mỗi em học sinh trong trường 2 bộ Cán bộ quản trị của trường cũng được nhận mỗi người 2 bộ Còn giáo viên trong trường thì không được nhận sản phẩm này
Tổng chi phí cho dự án là hơn 20 triệu đồng, do nhà trường đầu tư Dự án được lên kế hoạch với hình thức một hoạt động ngoại khóa dành cho các cá nhân có năng khiếu trong trường Vì vậy nó mang tính nội bộ, tính giáo dục và không hướng tới bất
kì mục đích thương mại nào
Thời gian thực hiện dự án từ khi lên ý tưởng cho tới khi các sản phẩm tới tay các em học sinh trong toàn hệ thống là khoảng 2 tháng Cụ thể là, nhóm bắt đầu chọn
chủ đề Tứ bất tử từ đầu tháng 12 năm 2018, rồi kết thúc vào ngày mùng 5 tháng 2 năm
2019 (tức 20 tết Kỷ Hợi)
2.1.2 Quá trình lên ý tưởng, chọn chủ đề
Tín ngưỡng dân gian nói chung và Đạo Mẫu nói riêng là một chủ đề tương đối
lạ lẫm không chỉ đối với các em học sinh trong nhóm mà còn đối với toàn thể giới trẻ
Hà Nội ngày nay Điều này khá dễ hiểu vì chủ đề này không có trong chương trình giảng dạy, nếu có cũng chỉ là thoáng qua dưới dạng “bài đọc thêm”
Sau một thời gian tìm hiểu, nhóm đã lựa chọn Tứ bất tử làm chủ đề cho tác
phẩm của mình Đối với các em, chủ đề này khá là khó nhưng với sự quyết tâm được thể hiện qua câu nói sau của HNM: “Dù khó cũng vẫn làm, có làm mới thành công được”
Trong bốn vị thuộc bộ Tứ bất tử, các em ít nhiều đã được biết đến Thánh Gióng,
Sơn Tinh và Chử Đạo Tổ (xem Ảnh 2.1, 2.2) qua những câu chuyện kể, bài đọc thêm
trên lớp Đặc biệt, nhân vật Công Chúa Liễu Hạnh (hay Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu
Thượng Thiên, Mẫu Liễu) thì lại tương đối xa lạ với các em Hình ảnh của ngài gần
như không xuất hiện trong chương trình giảng dạy Những câu chuyện, tác phẩm tiêu
Trang 3831
biểu viết về ngài thì lại gần như không tới tay giới trẻ được hoặc không tạo được sức hấp dẫn để họ chủ động tìm đọc Hình tượng của ngài hầu như chỉ phổ biến trong giới học thuật, và trong giới thanh đồng
Ảnh 2.2: Mặt sau của ba phong bao lì xì kèm theo thuyết minh về ba vị thánh lần lượt
Khi nhắc tới ba vị đầu trong bộ Tứ Bất Tử, các em đã ngay lập tức mường tượng
được phải phác thảo hình ảnh của họ ra sao (xem Ảnh 2.1, 2.2), nhưng khi nhắc tới
Công Chúa Liễu Hạnh thì các em đều không rõ là ai, có hình tượng như thế nào, vai trò
là gì và tại sao lại xuất hiện trong bộ Tứ bất tử
Trang 3932
vật này Hình tượng Công Chúa Liễu Hạnh tuy là xa lạ nhưng lại tạo cho bạn một sức
hấp dẫn vô cùng lớn, khiến bạn say mê tìm hiểu (xem Ảnh 2.3, 2.4)
Khi được hỏi cụ thể về quá trình chế tác, em CĐA nói: “Em muốn tự tìm hiểu
về Công Chúa Liễu Hạnh để có thể phác họa ngài một cách chân thực nhất nhưng lại
phải gần gũi với lứa tuổi học trò” Khi bắt đầu tìm hiểu, em có cảm giác hơi sợ hãi vì hình ảnh của ngài gắn liền với những nghi thức khá “ma mị” như: nhảy múa, hát hò, nói chuyện (phán truyền), múa đao kiếm (những hành động thường diễn ra trong những giá hầu đồng) Nhưng càng tìm hiểu lại càng thấy cuốn hút Em bị lôi cuốn bởi sự tinh
tế trong hình ảnh, màu sắc, phục trang và tiếp đó là những chuyện kể, sự tích về ngài
Thầy PĐH có chia sẻ: “Trong quá trình thực hiện dự án, nhà trường đã tạo điều
kiện cho cả nhóm tới thăm các đền, chùa có tượng Công Chúa Liễu Hạnh để các em có
thể hình dung rõ hơn về nhân vật này”
6
Các ảnh trên chúng tôi nhận được qua quá trình trao đổi thêm với các em học sinh thông qua Facebook vào ngày 6 tháng 3 năm 2020.
Trang 4033
Nếu như bạn CĐA đảm nhiệm về phần hình ảnh của Công Chúa Liễu Hạnh,
thì bạn ĐLAK lại nhận nhiệm vụ viết nội dung thuyết minh về ngài Tuy CĐA đã dành nhiều thời gian cho việc tìm hiểu về nhân vật này nhưng công việc phác thảo sau đó cũng đã rất vất vả rồi, cho nên việc lên kế hoạch viết nội dung mô tả được giao cho bạn ĐLAK (xem Ảnh 2.4)
Ảnh 2.4: Cận cảnh mặt trước và sau của phong bao lì xì có hình Thánh Mẫu Liễu
Khi phỏng vấn ĐLAK, chúng tôi biết được em chỉ thu thập thông tin về Công
Chúa Liễu Hạnh qua các bài viết trên Internet Em không hề được biết tới, được tiếp
cận những tác phẩm viết về hoặc có liên quan tới ngài đã được xuất bản thành sách
Thậm chí, khi nhắc tới Công Chúa Liễu Hạnh và hình tượng của ngài, thầy giáo
phụ trách PĐH cũng không rõ và phải cùng tìm hiểu với các em Đây là một minh
7 Ảnh được chúng tôi chụp lại từ bộ lì xì các em học sinh tặng trong buổi phỏng vấn ngày 6 tháng 9 năm 2019.