Bên cạnh đó, các tác giả Trần Gia Linh, Nguyễn Nghĩa Dân cũng đã có công trình nghiên cứu về đồng dao Việt Nam qua hai cuốn: “Đồng dao Việt Nam”, “Đồng dao và ca dao ch[r]
Trang 1CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Âm nhạc (ÂN) là loại hình nghệ thuật dùng âm thanh, tiết tấu để diễn đạt tư tưởng, tình cảm của con người Nó có sức hấp dẫn kì lạ, có tác động mạnh mẽ làm cho con người tốt đẹp hơn, trong sáng hơn ÂN trực tiếp tác động vào tâm hồn, ý thức con người, được con người cảm thụ tinh tế theo từng hoàn cảnh, từng lứa tuổi Nó tồn tại trong suốt quá trình phát triển xã hội và gắn bó với con người từ khi chào đời cho đến khi chết
ÂN nói chung hay ÂN dân gian nói riêng (trong đó có đồng dao) là món ăn tinh thần, là nhu cầu của cuộc sống không thể thiếu được trong đời sống con người Đặc biệt là ÂN dân gian với sự chứa đựng những truyền thống văn hoá, tinh thần, phong tục tập quán,… của một dân tộc lại càng quan trọng trong đời sống con người Nó là sự lưu truyền, tiếp biến những giá trị, giúp giữ lại cội rễ của một dân tộc trong xã hội ngày càng phát triển
Trẻ em ở lứa tuổi mầm non rất nhạy cảm với ÂN Trẻ thích nghe nhạc và hứng thú tham gia vào các hoạt động ÂN Mục đích của giáo dục ÂN là giáo dục tình cảm đạo đức, thẩm mỹ cho trẻ Giáo dục ÂN hình thành cho trẻ lòng yêu thiên nhiên, tổ quốc, tình yêu thương con người Không chỉ vậy, ÂN còn là phương tiện nâng cao trí tuệ, phát triển thể chất, giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, củng cố kiến thức của trẻ thông qua học tập, vui chơi Quá trình trẻ tiếp xúc và hoạt động ÂN sẽ hình thành ở trẻ những yếu tố của một nhân cách phát triển toàn diện, hài hòa, là sự phát triển về thẩm mỹ, đạo đức, trí tuệ và thể lực Chính vì vậy, giáo dục ÂN cho trẻ mầm non là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng
Đồng dao là một thể loại ÂN dân gian để trẻ con hát, chơi thông qua những hoạt động tập thể, là những lời hát dân gian mộc mạc có từ xa xưa và được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác Lời hát đồng dao mộc mạc, đôi khi rời rạc, khó hiểu nhưng thường được gắn kết bởi vần điệu nên dễ thuộc, dễ nhớ, phù hợp với trẻ em thông qua các hình ảnh sống động, sự vật hiện tượng và các mối quan hệ gần gũi Đồng dao là phương thức dạy học không thầy, không sách, là phương thức chơi mà học, học
Trang 2giới tự nhiên, môi trường, xã hội và cộng đồng một cách tự nhiên mà sâu sắc Đồng thời, bồi dưỡng trí tuệ, giúp trẻ em kế thừa và phát huy những truyền thống đạo đức tốt đẹp Mục đích giáo dục của đồng dao là mang đến cho trẻ những hoạt động vui chơi phù hợp với độ tuổi, góp phần giáo dục và bồi dưỡng đời sống tinh thần của mỗi đứa trẻ, hình thành và giáo dục đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất, góp phần quan trọng vào
sự phát triển toàn diện của trẻ
Tuy nhiên dưới sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin cùng những trò chơi hiện đại, những bài hát đồng dao kèm trò chơi dân gian trong xã hội hiện nay không còn phổ biến và dần trở nên xa lạ với trẻ em Cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có nhiều những công trình nghiên cứu chuyên sâu về khai thác, ứng dụng, kế thừa
và phát huy những giá trị độc đáo của đồng dao để đưa vào giảng dạy môn ÂN cho trẻ mẫu giáo mà cụ thể là tại trường mầm non xã An Phú Tân Đóng góp vào việc giáo dục, bồi dưỡng đời sống tinh thần cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo lớn (MGL) ở các trường mẫu giáo, trước hết là trường mầm non xã An Phú Tân, để rồi các em sẽ là người gìn giữ, kế thừa và phát huy những giá trị tinh thần, di sản văn hóa quý báu này
Chính vì lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu “Đưa đồng dao vào chương trình dạy nhạc cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non xã An Phú Tân”
1.2 MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Sưu tầm những bài hát đồng dao và nghiên cứu đưa vào chương trình dạy nhạc cho trẻ MGL tại trường mầm non xã An Phú Tân
1.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Trẻ mẫu giáo lớn tại trường Mầm non xã An Phú Tân
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Trong thực tế giáo dục mầm non, việc tổ chức các hoạt động ÂN nhằm phát triển thẩm mỹ, cũng như nhận thức, ngôn ngữ, thể chất, tình cảm cho trẻ đã phát huy một cách tích cực, song vẫn còn những tồn tại Những vấn đề khoá luận nghiên cứu nhằm
đề ra biện pháp phù hợp để đưa đồng dao vào chương trình dạy nhạc, qua đó nâng cao
Trang 3hiệu quả giáo dục, góp phần quan trọng trong việc phát triển toàn diện cho trẻ, kế thừa phát huy những giá trị văn hóa dân tộc
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần tích lũy những thông tin và tư liệu phục
vụ cho công việc giảng dạy của giáo viên nhà trường
Bổ sung và làm phong phú nội dung các hoạt động giáo dục ÂN cho trẻ
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đồng dao kèm các trò chơi dân gian
Chương trình giáo dục âm nhạc dành cho trẻ MGL
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Phương pháp quan sát
Phương pháp thực nghiệm
Thống kê kết quả nghiên cứu
Trang 4CHƯƠNG II CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ở nước ta, từ thế kỷ trước, một số nhà nghiên cứu văn hoá dân gian đã chú ý sưu tầm đồng dao và đã có những thành tựu nhất định Tuy nhiên, so với việc sưu tầm nghiên cứu các thể loại khác của văn học dân gian thì những sưu tầm nghiên cứu đồng dao chưa nhiều Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, dưới ánh sáng của Công ước Liên Hợp Quốc về quyền của trẻ em (20-11-1989), Luật trẻ em (20-11-1989), Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em (12-8-1991), Nhà nước ta quan tâm nhiều hơn đến hoạt động vui chơi của trẻ em Điều 31 của Công ước Liên Hợp quốc ghi: “Trẻ em có quyền được nghỉ ngơi và tiêu khiển, được tham gia vui chơi và những hoạt động giải trí phù hợp với lứa tuổi, được tự do tham gia các sinh hoạt văn hoá và nghệ thuật” [12]; điều 17 của Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em ghi: “Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hoá, văn nghệ thể dục thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi” [13] Việc nghiên cứu triển khai các hoạt động vui chơi, các trò chơi cho trẻ em, trong đó có hát đồng dao, trò chơi dân gian, đã được quan tâm hơn trước Một số sách báo cũng đã sưu tầm nghiên cứu về đồng dao Đáng chú ý là năm 1996, Viện Văn hoá
Dân gian đã sưu tầm, nghiên cứu và xuất bản cuốn “Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt”, một công trình tập thể với nhiều tư liệu và thư mục về đồng dao từ trước đến năm 1995 Gần đây, Viện Văn học cũng đã cho xuất bản tập 1, quyển 1 của “Tổng tập Văn học các Dân tộc thiểu số Việt Nam” trong đó đã tuyển chọn được khá nhiều đồng
dao của một số các dân tộc anh em Bên cạnh đó, các tác giả Trần Gia Linh, Nguyễn Nghĩa Dân cũng đã có công trình nghiên cứu về đồng dao Việt Nam qua hai cuốn:
“Đồng dao Việt Nam”, “Đồng dao và ca dao cho trẻ em” với những thành công nhất
định… Các công trình nghiên cứu nói trên không đặt vấn đề trực tiếp nghiên cứu đồng dao trong trò chơi dân gian và tác dụng giáo dục của nó đối với học sinh Nhưng qua các bài viết đã hé mở cho chúng ta đôi điều về ảnh hưởng của đồng dao trong việc giáo dục con người Song song với việc nghiên cứu về đồng dao cho trẻ em, nhiều nhà khoa học cũng quan tâm nghiên cứu trò chơi cho trẻ Nghiên cứu về trò chơi và vai trò của trò chơi đối với sự phát triển của học sinh được một số nhà khoa học trong nước đề cập
Trang 5đến dưới góc độ nghiên cứu tâm lí học và giáo dục học, tiêu biểu là Phó Giáo sư - Tiến
Sĩ Nguyễn Ánh Tuyết với công trình “Trò chơi của trẻ em” Trong công trình này, tác giả đã giới thiệu về khái niệm chơi, đồ chơi và vai trò của đồ chơi, sự phân loại các trò chơi và tác dụng giáo dục của trò chơi đối với sự phát triển toàn diện của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo [9]
Qua quá trình tìm hiểu về đồng dao, tôi đã tiếp cận được các công trình nghiên cứu
về đồng dao như:
Tác giả Nguyễn Nghĩa Dân với quyển Đồng dao và ca dao cho trẻ em, Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2010 Tác giả đã đề cập khá sâu về khái niệm, nội dung cũng như nghệ thuật của đồng dao, qua đó làm rõ tác dụng của đồng dao đối với trẻ thơ
và sưu tầm nhiều bài đồng dao với các thể loại: Đồng dao trẻ em hát, đồng dao trẻ em chơi, đố vui, ca dao…
Tác giả Trần Gia Linh với Kho tàng đồng dao Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh niên,
năm 2011 Hay tác giả Triều Nguyên cũng đã nghiên cứu chuyên sâu về đồng dao qua
quyển Đồng dao người Việt, Nhà xuất bản Lao động, năm 2011
Lê Xuân Mậu trong cuốn Văn học dân gian, cái hay vẻ đẹp đã gọi đồng dao là
những câu hát thuận miệng Tác giả cho rằng những câu hát thuận miệng ấy hình thanh trên cơ sở cấu tứ ngẫu nhiên, tản mạn, không thể hiện một đề tài, một chủ đề nhất định Những bài hát như vậy thể hiện tình cảm chất phác trước những hiện tượng trong thiên nhiên và xã hội [10]
Một số công trình khác như: Mấy điều ghi nhận về đồng dao của Vũ Ngọc Khánh, tạp chí văn học, số 4 năm 1974 Lời đồng dao trong trò chơi cổ truyền của trẻ em của tác giản Phan Đăng Nhật, Tạp chí Giáo dục mầm non, số 3 năm 1992 Đồng dao và trò chơi trẻ em của tác giả: Trần Thị Ngân, Nguyễn Thị Thu…
Có thể nói có rất nhiều những công trình nghiên cứu, bài viết về dồng dao Có những bài viết nhằm mục đích khai thác nội dung, có bài nghiên cứu hình thức, thể loại, hay có nhiều công trình nghiên cứu và sưu tầm đồng dao với những thể loại khác nhau Mỗi bài có phong cách, nội dung viết khác nhau nhưng lại nhằm một mục đích
đó là đánh giá, tôn vinh giá trị, cái hay, cái đẹp của những khúc đồng dao đối với đời
Trang 6sống trẻ thơ Qua đó nhấn mạnh vai trò của đồng dao đến sự phát triển của trẻ, đồng dao vừa là phương tiện, vừa là điều kiện phát triển ngôn ngữ, thể chất, trí tuệ, đạo đức
và định hướng thẩm mỹ cho trẻ
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con
Người Việt Nam đã nêu rõ mục tiêu của Nghị quyết là định hướng “xây dựng và phát triển văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện –
mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc tổ quốc vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.” [11]
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có nhiều công trình được công bố nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp đưa đồng dao vào chương trình dạy nhạc cho trẻ mẫu giáo, để qua đó góp phần giáo dục và giúp trẻ phát triển toàn diện Nhận thấy
tầm quan trọng của vấn đề trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Đưa đồng dao vào chương trình dạy nhạc cho trẻ MGL tại trường mầm non xã An Phú Tân”
2.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
2.2.1 Khái niệm đồng dao
Hiện nay, tồn tại rất nhiều khái niệm về đồng dao Dựa vào những mặt khác nhau
mà các nhà nghiên cứu có những khái niệm khác nhau, tuy nhiên họ đều thống nhất
rằng “đồng dao là lời hát của nhi đồng”
Căn cứ vào Từ điển Từ Hải và Từ nguyên của Trung Quốc, Dương Quảng
Hàm cho biết “Dao là hát không có chương có khúc”, có người cho “đồng dao là ca dao nhi đồng” như Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Tấn Long, Phan Canh Trần Gia Linh định nghĩa “đồng dao là những bài hát dân gian phù hợp với trẻ em” và một số bài gắn với một trò chơi nhất định, các em vừa làm trò, vừa hát Vũ Ngọc Khánh cho rằng “đồng dao là lời ca dân gian trẻ em bao gồm cả những lời trong các trò chơi” Nguyễn Hữu Thu cho rằng “đồng dao là sự nối tiếp chức năng của tiếng hát mẹ ru con…, diễn xướng đồng dao là sự chuyển tiếp và phát huy vai trò tiếng hát ru của mẹ” Tô Ngọc Thanh cho rằng “hát đồng dao là một thể loại kết hợp văn hóa, văn nghệ dân gian gồm
Trang 7trò chơi, lời ca và ÂN”… Như vậy về yếu tố cấu thành thì đồng dao có lời hát và trò
chơi; còn về thể loại, đồng dao có quan hệ với ca dao, hát ru như Nguyễn Hữu đã nêu Theo một số nhà nghiên cứu đồng dao như Doãn Quốc Sĩ, những câu đố vui nhằm phát huy óc quan sát, trí thông minh của trẻ cũng là một loại đồng dao [1, tr.15 – 16.]
Từ những ý kiến nêu trên, theo chúng tôi: Đồng dao Việt Nam là những bài hát dân gian của trẻ em, với lời ca mộc mạc, giản dị, hồn nhiên, mang đậm hơi ấm của làng quê
và con người Việt Nam Là những lời hát có vần, được trẻ em truyền miệng cho nhau hoặc hát đồng thanh theo nhịp điệu đơn giản, có thể kèm trò chơi hoặc không có trò chơi Nội dung và hình thức của đồng dao đều mang tính chất hồn nhiên, chất phác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, giúp các em tiếp xúc với môi trường tự nhiên, xã hội, đời sống gần gũi quanh các em, đem lại những cảm xúc tốt đẹp, vui tươi, thỏa mãn nhu cầu học tập, vui chơi, giải trí của trẻ em
2.2.2 Ngôn ngữ của đồng dao
Theo“Đồng dao và ca dao nhi đồng” của tác giả Nguyễn Nghĩa Dân, nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội, thì ngôn ngữ đồng dao có những đặc trưng sau:
Ngôn ngữ đồng dao gồm từ vựng cụ thể về tự nhiên và xã hội gần gũi với đời sống, sinh hoạt hằng ngày của trẻ em Điều này hoàn toàn phù hợp với tâm lý tuổi thơ Có thể đó là những người gần với trẻ như mẹ, bà ; là những bộ phận trên người như tay, chân, tai, mắt ; là các vật nuôi trong nhà như chó, mèo, gà, lợn ; xa hơn là chim, cá với các tên chim, cá cụ thể, hoa, trái với tên hoa, tên trái cụ thể ; rồi đến thời gian cụ thể: buổi sáng, buổi tối, ngày đêm, chiều đến không gian cụ thể: trời, trăng, sao Các hiện tượng thiên nhiên cụ thể: mưa, nắng, gió
Ngôn ngữ đồng dao tuy giản dị, mộc mạc nhưng cũng giàu âm thanh đặc biệt trong khả năng bắt chước, mô phỏng âm thanh phát ra từ đồ vật hoặc động vật
Ấn tượng rõ nét nhất là ngôn ngữ đồng dao trẻ em hát, trẻ em chơi bao giờ cũng vui tươi ngộ nghĩnh, mang rõ bản sắc ngôn ngữ trẻ em Có thể đó là ngôn ngữ nói ngược, ngôn ngữ nói lái hay cách nói lặp đi lặp lại Tính chất nói chung của ngôn ngữ đồng dao là vui tươi, trong sáng, gây được hứng thú cho tuổi thiếu nhi ở cấp độ tâm lý khác nhau Tính riêng biệt của ngôn ngữ đồng dao trẻ em hát, trẻ em hát - trẻ em chơi
Trang 8là giản dị, mộc mạc, hồn nhiên sinh động, gợi trí thông minh, óc tìm tòi của trẻ [1,
tr.55 - 58]
Tóm lại, ngôn ngữ của đồng dao thực sự là ngôn ngữ dành riêng cho trẻ Nó mô tả một cách sinh động, đơn giản nhất những sự vật, sự việc, hiện tượng xung quanh cuộc sống của trẻ Tuy mộc mạc, giản dị, nhưng không kém phần sinh động, vui tươi, ngộ nghĩnh, góp phần rất lớn vào việc phát triển vốn hiểu biết và ngôn ngữ mạch lạc của trẻ
2.2.3 Kết cấu
Nhìn chung đồng dao trẻ em hát, trẻ em chơi có kết cấu đa dạng, đơn giản,
tự nhiên, vần vè nhằm mục đích vui chơi, kết hợp phần nào với cảm nhận theo tư duy tưởng tượng của trẻ thơ Có thể thấy những biểu hiện sau đây:
Kết cấu "dắt dây” từ vật này chuyển sang vật khác, từ chuyện này chuyển sang chuyện khác, liên kết với nhau bằng vần của ngôn ngữ
Kết cấu "xâu chuỗi " kết các vật hoặc sự kiện cùng loại với nhau, có liên kết nhưng lỏng lẻo, “tiện đâu xâu đấy”, tuy nhiên nói, hát theo một đề tài Chẳng hạn như
vè hoa, trái, cá, bánh hoặc vè thằng nhác (lười), vè thằng Bờm
Kết cấu “đối đáp" nôm na là hỏi và trả lời, cũng thường gặp trong đồng dao nhất là đồng dao trẻ em hát trong lúc chơi trò chơi dân gian Trò chơi “Xỉa cá mè" là đối đáp trong “buôn men", trò chơi “Rồng rắn lên mây" là đối đáp giữa “rồng rắn" và
“thầy thuốc" … kết hợp hỏi và đố kích thích óc tìm tòi của trẻ qua quan sát hơn là đòi hỏi trẻ phải liên hệ nhiều mặt như giải một câu đố vui
Kết cấu "xuôi ngược” có hai chiều "nói xuôi" và "nói ngược" được liên kết bằng một nguyên nhân để chuyển nội dung “xuôi" thành nội dung “ngược"
Kết cấu "vòng tròn ", lời hát mở đầu và lời hát cuối cùng của đồng dao giống nhau hoặc gần giống nhau, vần lời hát cuối và vần lời hát đầu của đồng dao phải
là một Kết cấu "vòng tròn" tạo cho trẻ vui chơi liên tục vì lời hát kết hợp với trò chơi không bao giờ chấm dứt nếu không có lệnh của "trưởng trò " hoặc như trẻ hát đồng thanh liên tục một lời và các em thường bảo nhau "bao giờ mỏi miệng thì thôi" Kết cấu "vòng tròn" đúng là một lối hát vui, củng cố từ vựng vì được lặp nhiều lần phù hợp với tâm lý của trẻ em
Trang 9Kết cấu "nói ngược" cũng thường hay gặp trong đồng dao trẻ em hát "Nói ngược" trước hết gây hứng thú cho trẻ đồng thời lấy "điều phản tự nhiên" để khẳng định “điều tự nhiên”
Kết cấu đơn giản và tự nhiên là điểm nổi bật của chùm đồng dao "Gọi nghé", đơn giản và tự nhiên như công việc lao động mà trẻ em thôn quê nước ta cùng chia sẻ với cha mẹ; đơn giản và tự nhiên như tình cảm của các em đối với con bê, con
nghé vui tươi, nhí nhảnh chạy theo bò mẹ, trâu mẹ [ 1, tr.64 - 70]
Với sự đa dạng trong các hình thức kết cấu, đồng dao đáp ứng tốt nhu cầu ham học hỏi, thích tìm tòi khám phá những cái mới của trẻ MGL Kết cấu tuy đa dạng nhưng
đơn giản, tự nhiên, ngôn ngữ được kết hợp với nhau bằng vần nên trẻ dễ thuộc, dễ nhớ
và gây được sự hứng thú cho trẻ
2.2.4 Nội dung
Nhìn tổng quát, hệ thống đồng dao Việt Nam dựng lên một cuốn phim hiện thực của thiên nhiên và xã hội Việt Nam với nền kinh tế nông nghiệp lâu đời mà tác giả
và đạo diễn, người ca hát và diễn xuất là tập thể trẻ em, với cảm nghĩ vô tư, hồn nhiên,
tư duy ngộ nghĩnh nhưng giàu tưởng tượng, thông minh và sáng tạo Biết bao màu sắc tươi sáng của đất trời, cây cỏ hoa lá, đồng ruộng, sông hồ, biết bao âm thanh vui tai của chim muông hòa lẫn với lời ru êm dịu của mẹ hiền, biết bao hoạt động sản xuất nông nghiệp, những thuần phong mỹ tục, những lễ hội tưng bừng qua cảm nhận ấu thơ, đã
đi vào lời hát, trò chơi của các em như những dòng suối trong lành bắt nguồn từ truyền thống lao động, truyền thống nhân đạo lâu đời của dân tộc góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam từ tấm bé đến tuổi thanh niên Hệ thống đồng dao Việt Nam tuy có nhiều bộ phận cấu thành nhưng rất thống nhất về nội dung, biểu hiện
trên một số chủ đề lớn:
Một thiên nhiên tươi đẹp sinh động dưới đôi mắt trẻ thơ:
Điều kiện khí hậu nhiệt đới đã làm cho thiên nhiên nước ta tươi đẹp, sinh vật phong phú Khi biết cảm nhận môi trường tự nhiên quanh mình thì hàng chục, hàng trăm câu hỏi đến với các em: cây gì đây, quả gì đây, rau gì đây, nó cao nó thấp, nó thơm nó ngọt như thế nào Nó có như các em không, nó có như người lớn không, nó
Trang 10tưởng tượng, cây cối hoa lá bỗng nhiên thành anh em, bè bạn với các em, cùng hát với các em, cùng vui với các em Đó là cách nhìn thiên nhiên của các em trong những lời
hát đồng dao [1, tr.22 - 24]
Trong đồng dao hình như không có sự cách biệt giữa thiên nhiên và trẻ em Bầu trời
và mặt đất là chỗ vui chơi đầy hấp dẫn Tâm hồn trẻ thơ dường như có sự giao cảm đặc biệt với trời, mây, non, nước Đồng dao hiện lên trong mắt trẻ là một thế giới tự nhiên
vô cùng bao la và kì diệu Đó là sự phong phú, đa dạng của các sự vật hiện tượng Chỉ
là hoa thôi nhưng có rất nhiều loại với màu sắc, tên gọi khác nhau như “vè hoa”, rồi không biết có bao nhiêu loài cá, nhưng trẻ đã có được một bộ sưu tập qua “vè cá” Đồng dao còn là một vườn bách thú với voi, hổ, hươu, nai, với rùa, rắn, ba ba, phượng hoàng, bồ nông, Rồi nào là trời cao, mây trắng, ánh nắng chan hòa, trăng thanh gió mát hay sấm sét đùng dùng,… Tất cả là những bức tranh thiên nhiên sinh động và vô cùng tươi đẹp
Một xã hội nông nghiệp gần gũi thân thương với trẻ em:
Có thể nói môi trường nông nghiệp, địa bàn nông thôn là nơi sản sinh, nơi
ca hát vui chơi diễn xướng đồng dao [1, tr.28]
Không khó để bắt gặp hình ảnh về cậu bé chăn trâu, mò cua, bắt cá, hái rau, chăn gà vịt… trong các bài đồng dao Làm quen với hoạt động nông nghiệp từ thuở nhỏ, với tâm trạng vui tươi, hồn nhiên, trong sáng… Các em sáng tạo những bài đồng dao phục
vụ trò chơi của mình, thể hiện tâm tư nguyện vọng của mình, những lời ca để cầu trời cho thuận hòa mưa nắng, lúa tốt được mùa… Rồi qua đôi mắt trẻ thơ, nông nghiệp gắn
bó với các em, như “chị lúa”, “chị ngô”, “cô Đậu Nành”, anh “Dưa Chuột”… và còn có những bài đồng dao đi liền với trò chơi đã mô phỏng các hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp gián tiếp tập cho các em thành người lao động Với ngôn ngữ sinh động, cụ thể, cùng cách gieo vần gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, trẻ cảm nhận được một xã hội nông nghiệp gần gũi thân thương nhưng vô cùng tươi
đẹp
Đồng dao - Môi trường văn hóa văn nghệ "chơi mà học, học mà chơi" của trẻ:
Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian khẳng định trò chơi dân gian nói chung cũng như trò chơi dân gian cho trẻ em nói riêng là một trong những hình thức