Bộ công cụ được đánh giá là bộ công cụ chuẩn và phù hợp, sau đó đã được điều chỉnh và sử dụng trong các nghiên cứu về tìm hiểu sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân vi
Trang 1HOÀNG THỊ TỐ LOAN
THỰC TRẠNG KỲ THỊ VÀ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI NHIỄM HIV CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH CAO BẰNG NĂM 2019
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
Hà Nội, 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
HOÀNG THỊ TỐ LOAN
THỰC TRẠNG KỲ THỊ VÀ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI NHIỄM HIV CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH CAO BẰNG NĂM 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng các thầy cô giáo trường Đại học Y tế Công cộng đã trang bị cho tôi những kiến thức cần thiết trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường để tôi có thể hoàn thành luận văn nay
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn TS.Đặng Thị Việt Phương, giáo viên hỗ trợ Ths.Đoàn Thị Thùy Dương đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo và các nhân viên y
tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thu thập số liệu để tôi có thể thực hiện và hoàn thành luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Cao Bằng nay là Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Cao Bằng cùng toàn thể đồng nghiệp đã luôn động viên và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đinh và các anh em, bạn bè đã động viên và là động lực to lớn giúp tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Hoàng Thị Tố Loan
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái niệm 4
1.2 Thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế 7
1.3 Tác động của kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV 15
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế 16
1.5 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 20
1.6 Khung lý thuyết 21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
2.3 Thiết kế nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính 27
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu và phương pháp chọn mẫu 28
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 31
2.6 Biến số nghiên cứu 33
2.7 Thang đo và tiêu chuẩn đánh giá 33
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 35
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 35
Trang 5Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 37
3.2 Thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế 39
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế 44
Chương 4: BÀN LUẬN 54
4.1 Thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế 54
4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế 59
4.3 Hạn chế của nghiên cứu 62
KẾT LUẬN 65
5.1 Thực trạng kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế 65
5.2 Yếu tố ảnh hưởng đến sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế 66
KHUYẾN NGHỊ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 75
Phụ lục 1: PHIẾU PHÁT VẤN NHÂN VIÊN Y TẾ 75
Phục lục 2: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM NHÂN VIÊN Y TẾ 81
Phục lục 3: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN LÃNH ĐẠO BỆNH VIỆN ĐA KHOA 83
Phục lục 4: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN LÃNH ĐẠO PHÒNG TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH 85
Phụ lục 5: CÁC BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU 87
Phụ lục 6: ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VỀ HIV/AIDS CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ 91
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
AIDS: Hội chứng gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người
HIV: Virut gây suy giảm miễn dịch
UNAIDS: Chương trình phối hợp phòng chống HIV/AIDS của Liên Hợp Quốc USAID: Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Cỡ mẫu nghiên cứu 28 Bảng 2.2 : Cỡ mẫu nghiên cứu phân bổ theo khoa 29 Bảng 3.1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 37 Bảng 3.2: Nhân viên y tế có hành vi bảo vệ quá mức cần thiết các biện pháp dự phòng khi chăm sóc người nhiễm HIV 40 Bảng 3.3 Mối liên quan giữa một số đặc điểm nhân khẩu học với sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế 44 Bảng 3.4 Mối liên quan giữa đào tạo/tập huấn và sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế 46 Bảng 3.5: Kiến thức cơ bản về HIV/AIDS của nhân viên y tế 47 Bảng 3 6 Mối liên quan giữa kiến thức cơ bản về HIV/AIDS và sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế 48 Bảng 3.7 Kiến thức về văn bản/quy định về HIV/AIDS của nhân viên y tế 48 Bảng 3.8 Mối liên quan giữa kiến thức về các văn bản/quy định liên quan đến
HIV/AIDS và sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế 49 Bảng 3.9 Mô hình hồi quy logistic đa biến về các yếu tố liên quan đến sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế 49
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ nhân viên y tế lo sợ bị lây nhiễm HIV năm 2019 39 Biểu đồ 3.2: Thái độ tiêu cực của nhân viên y tế về người nhiễm HIV 42
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Kỳ thị và phân biệt đối xử là một trong những rào cản lớn trong chăm sóc, điều trị cho người nhiễm HIV Người nhiễm HIV có thể bị kỳ thị và phân biệt đối xử tại nhiều nơi, gia đình, cộng đồng, nơi làm việc và ở cơ sở y tế Cao Bằng là tỉnh có tỷ lệ người nhiễm HIV cao thứ 13 cả nước và chỉ khoảng 50% số đó đang được điều trị Để góp phần xây dựng chương trình giảm kỳ thị và phân biệt đối xử tại cơ sở y tế, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với ngưới nhiễm HIV của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng năm 2019 và một số yếu tố ảnh hưởng”
Nghiên cứu được thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp kỹ thuật định lượng và định tính Tổng số 209 nhân viên y tế đã trả lời phát vấn, 02 cuộc thảo luận nhóm, 02 cuộc phỏng vấn sâu đã được thực hiện Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng Thời gian từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2019 Kết quả cho thấy tỷ lệ nhân viên y
tế có kỳ thị và phân biệt đối xử trong nghiên cứu là tương đối cao 44,9%, trong đó: tỷ
lệ nhân viên y tế lo sợ lây nhiễm HIV khi tiếp xúc là 68,8%; 55% nhân viên y tế bảo vệ quá mức khi chăm sóc người nhiễm HIV, 49,3% nhân viên y tế có thái độ tiêu cực về người nhiễm HIV Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy khi nhân viên y tế được đào tạo/tập huấn về HIV/AIDS, có kiến thức cơ bản về HIV/AIDS và nắm bắt được những văn bản/quy định liên quan đến HIV/AIDS tốt hơn thì ít có kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV hơn
Khuyến nghị: Cần tăng cường đào tạo, tập huấn chuyên môn, phổ biến các văn bản,
quy định về HIV/AIDS cho nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan tới HIV là rào cản chính cho việc mở rộng
và thực hiện các dịch vụ liên quan đến HIV để đạt được mục tiêu 90-90-90: "90% người nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm của mình; 90% người nhiễm HIV được điều trị bằng thuốc kháng HIV (ARV), 90% số người đang được điều trị có tải lượng HIV ở mức thấp" [18, 21] Tại Việt nam, người nhiễm HIV bị kỳ thị, phân biệt đối xử
ở nơi làm việc, tại gia đình, trong cộng đồng và cơ sở y tế với nhiều hình thức khác nhau như người nhiễm HIV bị xì xào, bàn tán, bị mất việc làm [19, 57, 59, 61, 62, 63]
Kỳ thị và phân biệt đối xử tại các cơ sở y tế dẫn đến người nhiễm HIV và người
có hành vi nguy cơ cao không sử dụng các dịch vụ về dự phòng, chăm sóc, điều trị
HIV/AIDS [1] Theo kết quả khảo sát của Mạng lưới Người có HIV tại Việt Nam
(VNP+) thực hiện cho thấy: khoảng 60,1% không thể trao đổi với nhân viên y tế về vấn
đề điều trị của mình, 7,6% số người tham gia khảo sát đã bị xét nghiệm HIV mà không được báo trước, 3% số người tham gia buộc phải làm xét nghiệm HIV, 1,8% người nhiễm HIV tham gia nghiên cứu bị từ chối cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế [64] Năm
2017 có khoảng 200 ngàn người nhiễm HIV tại Việt Nam đang quản lý và còn sống,
tuy vậy, chỉ có 170 ngàn người nhiễm HIV đang điều trị ARV và khoảng 30 ngàn
người chưa được điều trị vì nhiều nguyên nhân, trong đó có do kỳ thị và phân biệt đối
xử tại các cơ sở y tế [1] Bên cạnh đó, kỳ thị và phân biệt đối xử của nhân viên y tế với người nhiễm HIV cũng được báo cáo ở nhiều nghiên cứu khảo sát khác [59, 60, 62, 63] tuy nhiên tỷ lệ và yếu tố ảnh hưởng tới việc kỳ thị và phân biệt đối xử chưa được báo cáo đầy đủ [43, 50]
Cao Bằng là tỉnh có tỷ lệ người nhiễm HIV trên 100.000 dân đứng thứ 13 cả nước Trong những năm qua, chương trình phòng, chống HIV/AIDS của tỉnh nhận được sự tài trợ của nhiều dự án quốc tế, bên cạnh những thành tựu đã đạt được nhưsố
ca nhiễm HIV được phát hiện mới hàng năm trong giai đoạn từ 2009-2018 là khoảng
50 trường hợp, giảm so với giai đoạn 2008 trở về trước (100 - 170 trường hợp) Số ca
Trang 11nhiễm HIV tử vong giảm (năm 2018 có 6 ca tử vong, giảm hơn 80 ca so với năm 2008) thì số bệnh nhân đang điều trị ARV vẫn còn thấp: 594 người (chiếm 53% số người nhiễm HIV hiện còn sống), số người nhiễm HIV điều trị mới hàng năm không tăng và
có xu hướng giảm (năm 2015 là 73 người, 2016 là 55 người, năm 2017 là 51 người và đến năm 2018 là 40 người) Từ năm 2018, các dự án đã ngừng hỗ trợ tại tỉnh, hoạt động khám bệnh và chữa bệnh cho người nhiễm HIV được chi trả bằng nguồn bảo hiểm y tế nên bệnh nhân HIV có khả năng bị lộ danh tính và đối diện với nguy cơ bị kỳ thị và phân biệt đối xử hơn, nhiều bệnh nhân chia sẻ, nhân viên y tế còn e ngại khi tiếp xúc, lấy máu xét nghiệm cho họ [13]
Tại tỉnh Cao Bằng, hiện nay chưa có nghiên cứu tìm hiểu về kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế Câu hỏi được đặt ra là thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế tại tỉnh hiện nay như thế nào? Yếu tố gì ảnh hưởng đến sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế? Do đó, để có thông tin về thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế tại Cao Bằng để triển khai, thực hiện chương
trình, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: "Thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với
người nhiễm HIV của nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng năm
2019 và một số yếu tố ảnh hưởng"
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng năm 2019
2 Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng năm 2019
Trang 13Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm
1.1.1 Kỳ thị và phân biệt đối xử
Cơ Quan Dịch Vụ Sức Khỏe Tâm Thần California (CalMHSA) đưa ra khái
niệm kỳ thị và phân biệt đối xử như sau:
“Kỳ thị là thái độ và niềm tin dẫn đến việc từ chối, tránh hoặc sợ hãi với người
mà họ cho là khác biệt”[3]
“Phân biệt đối xử là việc tước đoạt quyền và các cơ hội của người khác một
cách bất công do sự kỳ thị Phân biệt đối xử có thể dẫn đến việc loại trừ hoặc gạt con người ra ngoài lề, tước đoạt các quyền công dân cơ bản như như quyền tiếp cận lựa chọn nơi ở, cơ hội việc làm, giáo dục và tham gia xã hội”[3]
1.1.2 Kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV
HIV (Human Immunodeficiency Virus) là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở
người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh [8]
AIDS (Acquired Immune Deficiency Syndrome) là hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội,
các ung thư và có thể dẫn đến tử vong [8]
Kỳ thị người nhiễm HIV:
Theo Luật phòng, chống HIV/AIDS năm 2006, kỳ thị người nhiễm HIV “là
thái độ khinh thường hay thiếu tôn trọng người khác vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc nghi ngờ người đó có quan hệ gần gũi với người nhiễm HIV hoặc nghi ngờ nhiễm HIV” [8]
“Phân biệt đối xử với người nhiễm HIV là hành vi xa lánh, tách biệt, ngược
đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người khác vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc nghi ngờ người đó có quan hệ gần gũi với người nhiễm HIV hoặc nghi ngờ nhiễm HIV” [8]
1.1.3 Một số hình thức kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV
Trang 14“Tự kỳ thị được định nghĩa là những suy nghĩ hình thành bên trong tâm trí con
người khiến cho họ tự cô lập, tách rời bản thân khỏi cộng đồng vì những hành động, chuẩn mực mà họ đã vi phạm trong quá khứ hoặc bởi tình trạng tàn tật của mình” Theo tác giả Goffman, tự kỳ thị được định nghĩa là “cảm giác tội lỗi, xấu hổ, mặc cảm được hình thành trong tâm trí người bị kỳ thị và phân biệt đối xử, họ không mong muốn xã hội biết được tình trạng của mình” [23]
Tự kỳ thị liên quan tới HIV/AIDS là cá nhân cảm thấy mình bị kỳ thị, phân biệt đối xử về các vấn đề liên quan tới HIV/AIDS, họ cảm thấy sợ hãi sự phân biệt đối xử của mọi người khi biết mình bị bệnh Tự kỳ thị còn là sự tự thù ghét bản thân, tự cô lập
và sự xấu hổ [48]
“Kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của cộng đồng, gia đình”
đề cập đến thái độ, niềm tin, hành vi của cộng đồng, của các thành viên trong gia đình của người nhiễm HIV đối với họ, với những người có nguy cơ bị nhiễm HIV Người nhiễm HIV bị gạt bỏ ra khỏi tất cả hoạt động, bị xì xào, bàn tán, mất quyền nuôi dưỡng con cái, bị cách ly [47, 53]
“Kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV tại nơi làm việc” đề cập
đến việc người nhiễm HIV bị sự kỳ thị, phân biệt đối xử của đồng nghiệp và người sử dụng lao động như bị cô lập, chế giễu, bị buộc phải thay đổi công việc, mất cơ hội làm việc và bị đuổi việc [22]
“Kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV trong chăm sóc sức khỏe”
bao gồm nhiều hình thức như xét nghiệm bắt buộc mà chưa có sự đồng ý, bên cạnh đó các nhà chăm sóc sức khỏe có thể giảm thiểu sự tiếp xúc với người nhiễm HIV, trì hoãn hoặc từ chối điều trị, yêu cầu bệnh nhân thanh toán thêm các dịch vụ và cách ly
bệnh nhân nhiễm HIV với các bệnh nhân khác [49]
“Kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế” là nói
đến cảm xúc, thái độ, hành vi tiêu cực của nhân viên y tế với người nhiễm HIV hoặc nghi ngờ nhiễm HIV, những người có quan hệ gần gũi với người nhiễm HIV, những
Trang 15người có nguy cơ cao nhiễm HIV như người nghiện chích ma túy, mại dâm, quan hệ tình dục đồng giới” [49] Các thái độ, cảm xúc, hành vi có thể bao gồm nhân viên y tế sợ/không muốn/từ chối chăm sóc cho người nhiễm HIV, cho rằng người nhiễm HIV nên cảm thấy xấu hổ, chịu trách nhiệm các hành vi do mình gây ra, sợ nhiễm HIV khi tiếp xúc, bảo vệ quá mức cần thiết, nhân viên y tế vi phạm quyền được giữ bí mật về tình trạng nhiễm HIV của bệnh nhân [49]
1.1.4 Thang đo kỳ thị và phân biệt đối xử với HIV của nhân viên y tế
Bộ chỉ số về kỳ thị với người nhiễm HIV (PLHIV Stigma Index) được phát triển bởi sự khởi xướng của Mạng lưới những người nhiễm HIV toàn cầu (GNP+), Cộng đồng quốc tế Phụ nữ sống chung với HIV (ICW) và Chương trình Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) Bộ chỉ số này lần đầu tiên được đưa vào sử dụng từ năm 2008,
bộ chỉ số đã được dịch ra 55 ngôn ngữ khác nhau, đào tạo phỏng vấn viên cho hơn 230 người nhiễm HIV, hơn 100.000 người nhiễm HIV đã được phỏng vấn và hơn 100 quốc gia đã sử dụng trong các nghiên cứu để tìm hiểu sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV Sau khi tham khảo và thực hiện thí điểm rộng rãi, năm 2017, bộ chỉ
số đã được thay thế và cập nhật lên phiên bản 2.0 Phiên bản này phản ánh sự thay đổi của dịch HIV trên toàn cầu [40] Bộ chỉ số này chủ yếu được dùng để tìm hiểu về kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV, những tác động của kỳ thị và phân biệt đối xử đối với sức khỏe và sự tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người nhiễm HIV Tuy nhiên, bộ công cụ này được xây dựng từ bộ chỉ số được sử dụng để phỏng vấn người nhiễm HIV
Bộ công cụ đo lường sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV của nhân viên y tế tại cơ sở y tế của được phát triển bởi một nhóm chuyên gia quốc tế về kỳ thị
và phân biệt đối xử với sự hỗ trợ của dự án USAID/RTI và được thử nghiệm ở nhiều quốc gia khác nhau ở các khu vực khác nhau và điều chỉnh cho phù hợp Trước khi bộ chỉ số này được ban hành, một cuộc hội thảo bao gồm các chuyên gia quốc tế làm việc trong lĩnh vực HIV/AIDS đã được tổ chức Tại hội thảo này, các chuyên gia đã đưa ra
Trang 16một bảng câu hỏi đã được thử nghiệm năm 2013 tại 6 nước khác nhau là Trung Quốc, Dominica, Ai Cập, Kenya, Puerto Rico và St.Kitts and Nevis Hội thảo xem xét các kết quả và kinh nghiệm thu được, đánh giá từng câu hỏi để lựa chọn các câu hỏi phù hợp Kết quả là đã xây dựng được bộ chỉ số và bộ câu hỏi ngắn gọn để đo lường sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV của nhân viên y tế [26] Bộ công cụ gồm 6 phần: thông tin chung; phòng chống lây nhiễm; môi trường ở cơ sở y tế; các chính sách ở cơ
sở y tế; quan điểm về người nhiễm HIV và các vấn đề liên quan đến nhóm nguy cơ cao Bộ công cụ trong “Hướng dẫn thực hiện giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV tại cơ sở y tế do Cục phòng, chống HIV/AIDS ban hành năm 2017” được xây dựng dựa trên tham khảo bộ công cụ này Do vậy, nghiên cứu của chúng tôi đã tham khảo bộ công cụ này để đo lường sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế
1.2 Thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế
Kỳ thị và phân biệt đối xử là một trong những rào cản cho việc xét nghiệm, chăm sóc, điều trị HIV ở tất cả các quốc gia trên thế giới Sự kỳ thị liên quan đến HIV
đã giảm hơn so với trước, tuy nhiên ở nhiều nơi mức độ vẫn còn nặng nề Kỳ thị và phân biệt đối xử với HIV được ghi nhận trong gia đình, cộng đồng, nơi làm việc và tại các cơ sở y tế [5, 43] Phân biệt đối xử gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và ngăn cản những người nhiễm HIV thực hiện các quyền được chăm sóc sức khỏe Kỳ thị, phân biệt đối xử trong cơ sở y tế thể hiện khi một người hoặc một nhóm người bị từ chối các dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà cơ sở y tế đó có thể cung cấp [43, 50]
1.2.1 Kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế trên thế giới
Trong gần 40 năm phòng, chống HIV/AIDS, bên cạnh các thành tựu đã đạt được trong hoạt động chăm sóc, điều trị cho người nhiễm HIV, các hoạt động đào tạo, tập huấn và truyền thông về HIV/AIDS đã được tổ chức, hiểu biết của nhân viên y tế
Trang 17về HIV/AIDS ngày càng được nâng cao Tuy nhiên trên thực tế, tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV vẫn còn tồn tại ở nhiều quốc gia trên thế giới
Bên cạnh các nghiên cứu tìm hiểu về sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của cộng đồng, trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu tìm hiểu sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế Kết quả của các nghiên cứu phần nào đưa ra được bức tranh tổng thể về thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế trên thế giới
Tại Bangladesh, 35,2% nhân viên y tế (bác sỹ, y tá, kỹ thuật viên và nhân viên
hỗ trợ) không muốn những người nguy cơ cao nhiễm HIV/AIDS là bệnh nhân của mình, 32,1% nhân viên y tế cho biết nếu được lựa chọn họ sẽ không làm việc với bệnh nhân HIV/AIDS; 27,8% nhân viên y tế không chào đón các bệnh nhân nhiễm HIV; 19,8% nhân viên y tế cho rằng Chính phủ nên chi ít tiền cho HIV/AIDS và 18,4% cho rằng đất nước của họ không cần có bất kỳ luật nào để bảo vệ người nhiễm HIV/AIDS khỏi bị phân biệt đối xử và tỷ lệ này ở nhóm nhân viên hỗ trợ cao hơn các nhân viên
y tế khác [29]
Ở Tây nam, Ethiopia nhân viên y tế đã chỉ định và xét nghiệm HIV khi bệnh nhân chưa đồng ý, từ chối điều trị cho người nhiễm HIV; không thực hiện việc giới thiệu người nhiễm HIV đến các dịch vụ y tế khác; coi người nhiễm HIV như kẻ thù Bên cạnh đó, những người nhiễm HIV còn cho biết nếu nhân viên y tế biết họ đang điều trị ARV tại cơ sở y tế khác thì nhân viên y tế sẽ từ chối cung cấp các dịch vụ mà
họ đang yêu cầu [24]
Tại Viêng Chăn, Lào cũng ghi nhận gần 50% bác sỹ, y tá tham gia nghiên cứu
có thái độ kỳ thị cao với người nhiễm HIV trong một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2012[51] Ở Bali, Indonesia, người nhiễm HIV đã bị nhân viên y tế từ chối điều trị, bị cách ly, không được chăm sóc tại các bệnh viện [45, 55]
Khoảng 1/4 số nhân viên y tế tham gia khảo sát của Bộ Y tế Công cộng Belarus được hỏi không sẵn sàng cung cấp dịch vụ cho người sống chung với HIV, hơn một
Trang 18nửa nhân viên y tế có xu hướng vi phạm quyền, xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV mà không cần có sự đồng ý của người bệnh; đa số nhân viên y tế đã tiết lộ thông tin liên quan đến người nhiễm HIV Bên cạnh đó, nhân viên y tế còn khuyên con cái họ giảm/không tiếp xúc với bạn học bị nhiễm HIV và khoảng 2/3 nhân viên y tế sẽ cô lập người nhiễm HIV nếu họ không phải là bạn bè hoặc người thân [52]
Từ năm 2013, Bộ công cụ đo lường sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV của nhân viên y tế tại cơ sở y tế được phát triển bởi Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và RTI được nghiên cứu thử nghiệm tại 6 quốc gia là Trung Quốc, Dominica, Ai Cập, Kenya, Puerto Rico và Saint.Kitt and Nevis [51] Bộ công cụ được đánh giá là bộ công cụ chuẩn và phù hợp, sau đó đã được điều chỉnh và sử dụng trong các nghiên cứu về tìm hiểu sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế tại hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ Từ đó đến nay, thực trạng kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế tại các các cơ y tế được tìm hiểu chủ yếu bao gồm các nội dung: 1 Nhân viên y tế lo sợ bị lây nhiễm HIV khi tiếp xúc,
2 Nhân viên y tế có các hành vi bảo vệ quá mức cần thiết, 3 Nhân viên y tế có thái độ tiêu cực với người nhiễm HIV
Nhân viên y tế lo sợ bị lây nhiễm HIV:
Nỗi lo sợ lây nhiễm HIV của nhân viên y tế được các nghiên cứu chỉ ra đó là:
Nhân viên y tế lo sợ khi động chạm đồ dùng, quần áo, giường nằm; lo sợ khi băng bó vết thương; lo sợ khi lấy máu và lo sợ khi lấy nhiệt độ cho bệnh nhân là người nhiễm
Trang 19áo của bệnh nhân HIV, 26,4% nhân viên y tế lo lắng khi băng bó vết thương cho bệnh nhân HIV và 27,4% nhân viên y tế sợ lấy mẫu máu từ bệnh nhân HIV [31]
Ở Thái Lan, 34,7% nhân viên y tế lo sợ nhiễm HIV nếu động chạm vào quần áo,
khăn trải giường, đồ dùng cá nhân của người nhiễm HIV [27]
Tại Kazakhtan, 17,5% nhân viên y tế cho biết họ lo lắng nếu phải lấy máu cho bệnh nhân nhiễm HIV, 27,5% lo lắng khi băng bó vết thương Một số ít nhân viên y tế báo cáo rằng họ lo lắng khi lấy nhiệt độ (2,5%) và 7,5% lo lắng khi động chạm quần áo của người nhiễm HIV [34] Bên cạnh đó, tại Lagos, Nigeria, một nghiên cứu thực hiện tại 38 Trung tâm chăm sóc sức khỏe để tìm hiểu sự kỳ thị và phân biệt đối xử với HIV ttrong môi trường chăm sóc sức khỏe cũng cho thấy 31,1% nhân viên y tế lo lắng khi lấy máu; 24,8% nhân viên y tế lo lắng khi băng bó vết thương, 7,45% nhân viên y tế lo lắng khi chạm vào quần áo hoặc giường của bệnh nhân HIV và chỉ có một tỷ lệ nhỏ nhân viên y tế lo lắng khi lấy nhiệt độ cho bệnh nhân là người nhiễm HIV (3,1%) [32]
Nhân viên y tế có các hành vi bảo vệ quá mức khi chăm sóc cho người nhiễm HIV:
Các hành vi bảo vệ quá mức cần thiết được các nghiên cứu đưa ra để đo lường,
đó là: Tránh tiếp xúc vật lý, mang găng tay đôi, sử dụng các biện pháp phòng lây nhiễm trong suốt quá trình chăm sóc bệnh nhân, sử dụng các biện pháp phòng lây nhiễm đặc biệt chỉ dùng khi chăm sóc người nhiễm HIV.Theo số liệu nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia nghiên cứu xã hội về HIV tại một Bang của Miền Nam nước Úc vào tháng 4 năm 2012 cũng cho thấy có sự kỳ thị, phân biệt đối xử giữa nhân viên y tế
và bệnh nhân đó là nhân viên y tế sử dụng biện pháp đề phòng quá mức khi nghi ngờ bệnh nhân nhiễm HIV và HCV [37]
Hành vi bảo vệ quá mức của nhân viên y tế cũng được chỉ ra trong nghiên cứu của USAID tại 6 quốc gia năm 2013: 30,9% nhân viên y tế đeo găng tay đôi, 26,8% tránh tiếp xúc vật lý, 26,9% sử dụng biện pháp phòng lây nhiễm đặc biệt [51] và nghiên cứu tại Thái Lan năm 2014 với 31,8% nhân viên y tế cho biết họ sử dụng găng
Trang 20tay đôi thường xuyên khi chăm sóc cho người nhiễm HIV Bên cạnh đó, một số các hành vi khác của nhân viên y tế cũng được ghi nhận khi hỏi người nhiễm HIV trong nghiên cứu, đó là tiết lộ tình trạng nhiễm HIV của người bệnh khi chưa được họ cho phép hoặc điều trị kém [27] Tại Kazakhtan, 37,5% nhân viên y tế mang găng tay trong suốt quá trình thực hiện chăm sóc bệnh nhân nhiễm HIV, 30% nhân viên y tế sử dụng trang bị bảo hộ đặc biệt mà không dùng với các bệnh nhân khác, 15% nhân viên y tế cho biết họ mang găng tay đôi và 13,7% nhân viên y tế tránh tiếp xúc với người nhiễm HIV Những hành vi này cũng được khẳng định từ những người tiêm chích ma túy, người nhiễm HIV tham gia nghiên cứu, họ cho biết các nhân viên y tế thường sử dụng thêm các biện pháp phòng ngừa khi cung cấp dịch vụ, họ sử dụng khẩu trang trong quá trình chăm sóc bệnh nhân, ngoài ra các nhân viên y tế từ chối/trì hoãn/giới thiệu người nhiễm HIV đến các cơ sở y tế khác vì họ không muốn cung cấp dịch vụ và họ cho rằng các nhân viên y tế có các hành vi này là do nỗi sợ hãi bị lây truyền hoặc thiếu kiến thức
về đường lây truyền HIV [34]
Các hành vi phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế tại Lagos, Nigeria được John E Ehiri và cộng sự chỉ ra là 11,2% nhân viên y tế tránh tiếp xúc vật
lý, 38,5% nhân viên y tế mang găng tay đôi, 40,9% nhân viên y tế sử dụng các biện pháp phòng lây nhiễm đặc biệt: Ngoài ra, nhân viên y tế cũng cho biết họ quan sát được các hành vi phân biệt đối xử của các nhân viên y tế khác trong cơ sở y tế của họ
đó là: nhân viên y tế không muốn chăm sóc cho bệnh nhân nhiễm HIV hoặc sống chung với HIV (13,4%), cung cấp dịch vụ kém chất lượng hơn (8,7%) và 4,3% nói xấu
bệnh nhân là người nhiễm HIV hoặc đang sống chung với HIV [32] Nhân viên y tế có
thái độ tiêu cực với người nhiễm HIV:
Thái độ tiêu cực với người nhiễm HIV bao gồm: Nhân viên y tế cho rằng hầu hết người nhiễm HIV không quan tâm đến việc lây truyền HIV cho người khác, người nhiễm HIV nên cảm thấy xấu hổ về bản thân mình, người nhiễm HIV có nhiều bạn
Trang 21tình, người nhiễm HIV phải bị trừng phạt vì hành vi xấu, phụ nữ nhiễm HIV không nên sinh con
Tại Lagos, Nigeria, 94,4% nhân viên y tế đồng ý rằng phụ nữ nhiễm HIV không nên sinh con; 40,4% nhân viên y tế có ý kiến là phần lớn những người nhiễm HIV không quan tâm nếu họ lây truyền HIV cho người khác; 26,1% nhân viên y tế đồng ý
là những người nhiễm HIV có nhiều bạn tình; 19,2% nhân viên y tế cho rằng người nhiễm HIV là vì họ có những hành vi thiếu đạo đức/vô trách nhiệm và 7,4% nhân viên
y tế cho rằng những người nhiễm HIV nên xấu hổ về bản thân mình Bên cạnh các quan điểm trên, các thái độ khác liên quan tới HIV của nhân viên y tế cũng chỉ ra như HIV/AIDS làm cho công việc của nhân viên y tế trở thành một nghề nguy hiểm (45,9%), họ muốn giới thiệu bệnh nhân HIV cho các đồng nghiệp khác (21,7%), họ cho rằng nên đào tạo một số chuyên gia để thực hiện công việc điều trị cho bệnh nhân HIV(42,2%), 17,4% nhân viên y tế bực bội nếu bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS chiếm một phần lớn trong công việc, 17,4% nhân viên y tế đôi khi cảm thấy khó thông cảm cho bệnh nhân HIV [32].Ở Ai Cập, 78,7% nhân viên y tế báo cáo rằng bệnh nhân HIV nên cảm thấy xấu hổ về bản thân mình; ngoài ra có đến 43% nhân viên y tế không muốn cung cấp các dịch vụ y tế cho những người có nguy cơ cao là người nghiện chích ma tuy, cho nam quan hệ tình dục đồng giới và phụ nữ bán dâm bị nghi nhiễm HIV và các bệnh nhiễm trùng khác tương ứng và 40% nhân viên y tế tham gia nghiên cứu không sẵn lòng chăm sóc cho bệnh nhân HIV [31].Tại Thái Lan cũng cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế có ít nhất một thái độ tiêu cực với người nhiễm HIV được nêu
ở trên là rất cao (80%) và 42,5% nhân viên y tế đồng ý rằng người nhiễm HIV nên cảm thấy xấu hổ [27]
Cuộc khảo sát tại cơ sở y tế công cộng và các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu thuộc 2 tiểu bang Alabana và Missisipi của DeepSouth, Hoa Kỳ tìm hiểu về sự kỳ thị liên quan đến HIV từ góc độ các nhân viên y tế từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2013 Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhân viên y tế cho rằng mọi người nhiễm HIV là vì họ có những hành vi vô
Trang 22trách nhiệm là tương đối cao 35,3%; các thái độ tiêu cực khác, tỷ lệ là tương đối thấp: 18,9% nhân viên y tế cho rằng người nhiễm HIV có nhiều bạn tình, 9,1% nhân viên y
tế cho rằng hầu hết người nhiễm HIV không quan tâm nếu họ lây nhiễm HIV cho người khác, 2,3% nhân viên y tế đồng ý HIV là hình phạt cho hành vi xấu và chỉ có 1,5% nhân viên y tế đồng ý là người nhiễm HIV nên cảm thấy xấu hổ về bản thân
[33].1.2.2 Kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế tại
Việt Nam
Dịch HIV/AIDS xuất hiện tại Việt Nam từ thế kỷ 20, bắt nguồn từ những người nghiện chích ma túy và phụ nữ bán dâm Do đó, xã hội đã có thành kiến với người nhiễm HIV, người nghiện chích ma túy và phụ nữ bán dâm Bên cạnh đó, trước đây người nhiễm HIV được coi là mắc án tử hình, vô phương cứu chữa, dễ lây nhiễm qua tiếp xúc bình thường, chính vì vậy những người nhiễm HIV luôn bị kỳ thị, phân biệt đối xử nặng nề [4]
Các nghiên cứu về kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên
y tế tại Việt Nam cũng đã được tiến hành, tuy nhiên số lượng còn hạn chế và các thái
độ, hành vi phân biệt đối xử với người nhiễm HIV được chỉ ra ở các nghiên cứu là khác nhau.Sự kỳ thị và phân biệt đối xử của nhân viên y tế trong nghiên cứu của tác giả Dương Công Thành và cộng sự thực hiện tại 6 huyện của Thành phố Hải Phòng năm
2007 được chỉ ra đó là nhân viên y tế có sự thờ ơ, không thân thiện với người nhiễm HIV, nhân viên y tế cách ly người nhiễm HIV với các bệnh nhân khác [46]
Bên cạnh đó, sự kỳ thị và phân biệt đối xử của nhân viên y tế với người nhiễm HIV cũng được chỉ ra trong nghiên cứu khác của tác giả Khuất Thị Hải Oanh, Viện nghiên cứu xã hội và phát triển (ISDS) và các cộng sự năm 2008 thực hiện tại 04 bệnh viện, trong đó có 02 bệnh viện ở Quảng Ninh và Hải Phòng, 02 bệnh viện ở Cần Thơ Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy khi tiếp xúc với người nhiễm HIV, nhân viên
y tế có mức độ sợ hãi cao, 48% sợ phải chia sẻ đồ dùng với người nhiễm HIV và 37%
sợ chạm vào da của người nhiễm HIV Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu định tính cũng
Trang 23chỉ ra là nhân viên y tế có hành vi sử dụng quá mức các phương tiện bảo hộ khi chăm sóc bệnh nhân HIV, họ sử dụng găng tay dài, áo khoác dài và ủng khi tiếp xúc với bệnh nhân Lao và HIV; sử dụng áo khoác ngắn hoặc bình thường khi tiếp xúc với các bệnh nhân khác Ngoài ra, nghiên cứu còn ghi nhận một số thái độ tiêu cực của nhân viên y
tế với người nhiễm HIV: gần 40% báo cáo rằng người nhiễm HIV nên xấu hổ về bản thân họ; hơn 1/3 nhân viên y tế của mỗi bệnh viện cảm thấy xấu hổ nếu họ bị nhiễm
Năm 2016, cuộc Khảo sát về kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan tới HIV tại cơ
sở y tế đã được triển khai thí điểm tại 3 cơ sở y tế ở Thành phố Hồ Chí Minh Sự kỳ thị
và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế được cuộc khảo sát chỉ ra là: nhân viên y tế lo sợ bị lây nhiễm HIV, nhân viên y tế có hành vi sử dụng quá mức cần thiết các trang bị bảo hộ và nhân viên y tế có thái độ tiêu cực với người nhiễm HIV Cụ thể: gần 3/4 nhân viên y tế lo sợ lây nhiễm HIV, trong đó sợ nhiễm HIV khi động chạm quần áo, đồ dùng (32,5%), lấy máu (56,3%) và băng bó vết thương của người nhiễm HIV (55,4%) Khoảng gần 1/3 nhân viên y tế tham gia khảo sát đồng ý với ý kiến cho rằng người nhiễm HIV không quan tâm đến việc họ làm người khác nhiễm HIV hay không Có đến 69,1% nhân viên y tế đã sử dụng các biện pháp không thật sự cần thiết bao gồm mang găng tay đôi và/hoặc sử dụng biện pháp dự phòng lây nhiễm đặc biệt khi chăm sóc cho các bệnh nhân nhiễm HIV mà không sử dụng với các bệnh nhân khác để bảo vệ họ khỏi nhiễm HIV; 58% nhân viên y tế có ít nhất một thái
độ kỳ thị với người nhiễm HIV Bên cạnh đó, kết quả cuộc khảo sát trên cũng cho thấy khoảng 40% người nhiễm HIV từng bị phân biệt đối xử ở cơ sở y tế, nhiều nhất là việc nhân viên y tế vi phạm bảo mật thông tin về tình trạng HIV của họ (30,8%) [12]
Trang 24Sau cuộc khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017, Cục phòng, chống HIV/AIDS đã ban hành hướng dẫn thực hiện giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV tại cơ sở y tế, trong đó có bộ công cụ chuẩn để đo lường sự kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan đến HIV dành cho nhân viên y tế [2] được điều chỉnh từ bộ công cụ nghiên cứu của USAID và nghiên cứu tại Thái Lan năm 2014 [44] Các nghiên cứu tương tự đang được triển khai tại một số tỉnh Thái Nguyên, Hà Nội và Bình Dương vào tháng 8-9/2019 Do vậy, các số liệu nghiên cứu hiện tại chưa được cập nhật
1.3 Tác động của kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV
Người nhiễm HIV bị kỳ thị và phân biệt đối xử tại nơi làm việc, trong gia đình, cộng đồng và ở cơ sở y tế Kỳ thị và phân biệt đối xử gây ra những ảnh hưởng/tác động tiêu cực với người nhiễm HIV
Sự kỳ thị ở nơi làm việc là một trong những vi phạm nhân quyền lớn nhất bởi vì các cá nhân sẽ bị tước mất cơ hội để đảm bảo thu nhập cho cuộc sống và để trang trải cho các nhu cầu xã hội Các trường hợp nhiễm HIV không bị mất việc làm là vì không
ai biết họ bị nhiễm HIV, nhưng họ cảm nhận được rằng nếu họ bị phát hiện nhiễm HIV
họ sẽ bị kỳ thị và bị sa thải [28] Ở nhiều quốc gia, kỳ thị tại nơi làm việc là nguyên nhân của thất nghiệp hoặc bị từ chối các cơ hội việc làm vì lý do sức khỏe kém Tại Nigeria, 45% người nhiễm HIV bị mất việc làm, 27% bị từ chối công việc [22]
Bên cạnh sự kỳ thị tại nơi làm việc, sự kỳ thị từ nhân viên y tế khiến cũng có tác động không nhỏ đối với người nhiễm HIV Sự kỳ thị và phân biệt đối xử dẫn đến người nhiễm HIV không muốn sử dụng các dịch vụ y tế hiện có cho dù họ có được hưởng lợi
từ các dịch vụ đó vì họ sợ thông tin mình nhiễm HIV sẽ bị tiết lộ [29] Do kỳ thị và phân biệt đối xử, nhân viên y tế hạn chế/không muốn tiếp xúc, trì hoãn hoặc từ chối điều trị cho người nhiễm HIV Bên cạnh đó, chính sự kỳ thị của nhân viên y tế khiến cho những người nhiễm HIV và những người bị ảnh hưởng bởi HIV (phụ nữ bán dâm, người nghiện chích ma túy) sợ hãi, khó khăn trong việc tìm kiếm và tiếp cận các dịch
vụ [42]
Trang 25Sự kỳ thị trong gia đình đối với người nhiễm HIV là nguyên nhân dẫn đến căng thẳng trong mối quan hệ gia đình, người nhiễm HIV tự cô lập mình để tránh gây căng thẳng, họ bị loại trừ ra khỏi các hoạt động của gia đình Đây là một vấn đề đáng lo ngại
vì gia đình luôn là nguồn an ủi, động viên đối với họ [28] Ngoài ra, sự kỳ thị của cộng đồng làm cho người nhiễm HIV tự cô lập và thiếu khả năng đối mặt với các tình huống [28] Sự kỳ thị của gia đình và cộng đồng có thể dẫn đến tình trạng người nhiễm HIV
tố khác chưa được quan tâm tìm hiểu như loại hình cơ sở y tế, chức danh nghề nghiệp
và việc tiếp xúc với bệnh nhân nhiễm HIV [14]
1.4.1 Yếu tố nhân viên y tế
Đặc điểm nhân khẩu học của nhân viên y tế:
Tuổi được xác định là yếu tố liên quan đến sự kỳ thị với người nhiễm HIV Những người trẻ tuổi có thái độ kỳ thị hơn với người nhiễm HIV, họ có xu hướng đồng
ý nhiều hơn rằng người nhiễm HIV nên xấu hổ về bản thân và người nhiễm HIV là người có lỗi khi đưa căn bệnh này vào cộng đồng [36] Nghiên cứu tìm hiểu thái độ phân biệt đối xử liên quan đến HIV của nhân viên y tế tại Bangladesh cho thấy rằng, thái độ phân biệt đối xử tăng theo tuổi (r=0,086, p<0,05), những người trẻ tuổi có thái
độ phân biệt đối xử cao hơn [29]
Giới tính là một yếu tố tác động đến kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế Nghiên cứu của Mohammad Bellal Hossain và cộng sự tìm
Trang 26đã xác định giới tính là một yếu tố ảnh hưởng Các nhân viên y tế nữ có thái độ phân biệt đối xử ít hơn các nhân viên y tế nam (p=0,017<0,05) [29] Nghiên cứu tại Deep South, Hoa Kỳ đã thực hiện nhiều mô hình hồi quy dự đoán thái độ kỳ thị đối với người nhiễm HIV, kết quả cũng cho thấy giới tính có liên quan đến mức độ kỳ thị với người nhiễm HIV: các nhân viên y tế là nam giới có mức độ kỳ thị liên quan đến HIV cao hơn nữ giới (p<0,05, CI (0,23-1,72) [22]
Trình độ học vấn cũng có liên quan đến sự kỳ thị và phân biệt đối xử của nhân viên y tế Nghiên cứu tại Bangladesh cho thấy những nhân viên y tế có trình độ học vấn cao nhất thì ít phân biệt đối xử nhất (p<0,001) [29]
Chức danh nghề nghiệp có liên quan đến thái độ phân biệt đối xử với HIV của nhân viên y tế: những nhân viên y tế là bác sỹ có thái độ phân biệt đối xử thấp hơn so với y tá và nhân viên hỗ trợ Thái độ phân biệt đối xử của các nhân viên hỗ trợ cao hơn
so với các nhân viên y tế có chức danh nghề nghiệp khác [15]
Nghiên cứu tìm hiểu sự kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan đến HIV của nhân viên y tế ở Banda Aceh, Indonesia của Harapan và cộng sự cho cho thấy có sự liên quan giữa yếu tố trình độ học vấn (p=0,009<0,05, CI 95% (38,13-50,3), tình trạng hôn nhân (p=0,03<0,05, CI 95% (35,2-39,2) và chức danh nghề nghiệp (p=0,001) với thái
độ kỳ thị của nhân viên y tế, ngoài ra tình trạng hôn nhân, chức danh nghề nghiệp của nhân viên y tế có liên quan đến hành vi phân biệt đối xử (p <0,05) [25]
Kiến thức cơ bản về bệnh HIV/AIDS: Đối với mỗi vấn đề nghiên cứu, thông
thường các nhà nghiên cứu luôn xem xét đến mối liên quan với yếu tố kiến thức vì kiến thức luôn được xem là một yếu tố ảnh hưởng Theo cuộc khảo sát của Bộ Y tế Công cộng Belarus đã thực hiện, lý do kỳ thị và phân biệt đối xử của nhân viên y tế được phát hiện là do thiếu kiến thức về bệnh HIV/AIDS Nhân viên y tế thiếu kiến thức về nhiễm HIV dẫn đến sợ tiếp xúc với người nhiễm HIV, từ đó dẫn đến kỳ thị và phân biệt đối xử với họ [52]
Trang 27Nghiên cứu sự kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan đến HIV tại 18 cơ sở chăm sóc sức khỏe ở Tây nam, Ethiopia của Garumma Tolu Feyisa năm 2011 chỉ ra rằng kiến thức có ảnh hưởng đến sự kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan đến HIV của nhân viên y tế: nhân viên y tế có kiến thức cơ bản cao có điểm số kỳ thị thấp hơn những nhân viên
y tế có kiến thức cơ bản thấp (p<0,05) [24]
Kiến thức về các văn bản, quy định về HIV/AIDS:
Sự thiếu hiểu biết về các văn bản, quy định về HIV/AIDS được xem là một trong những yếu tố liên quan ảnh hưởng đến hành vi phân biệt đối xử của các nhân viên y tế Theo nghiên cứu thực hiện tại Ethiopia, mặc dù nước này đã ban hành các quy định bảo vệ người nhiễm HIV, chống phân biệt đối xử, tuy nhiên đa số những nhân viên y tế tham gia nghiên cứu không biết đến các chính sách đó Ngoài ra, tất cả nhân viên y tế đều phủ nhận sự tồn tại của chính sách chống phân biệt đối xử và đào tạo riêng liên quan đến sự kỳ thị phân biệt đối xử đối với các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe Điều này đã góp phần làm tăng sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV người nhiễm HIV [24]
Tại Chile, Luật phòng chống về HIV bắt đầu có hiệu lực từ năm 2001, mặc dù vậy rất ít nhân viên y tế ở Chile biết đến sự tồn tại của nó và các nhân viên y tế Chile xác định rằng sự thiếu hiểu biết các chính sách của hệ thống y tế là nguyên nhân dẫn
đến sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV [38]
Đào tạo/tập huấn về HIV/AIDS của nhân viên y tế liên quan đến sự kỳ thị, phân
biệt đối xử của nhân viên y tế Việc đào tạo cho nhân viên y tế có vai trò quan trọng góp phần giảm kỳ thị và phân biệt đối xử Nghiên cứu tại Lagos, Nigieria cho thấy, những nhân viên y tế đã được đào tạo liên quan đến HIV có xu hướng báo cáo thái độ
kỳ thị ít hơn (p<0,01) [33]; nhưng nhân viên y tế đã được tập huấn có điểm số kỳ thị thấp hơn những nhân viên y tế chưa được tập huấn [24]
1.4.2 Yếu tố cơ sở y tế
Sự thiếu hụt trang thiết bị, vật tư y tế
Trang 28Sự thiếu hụt các trang biết bị và vật tư để phòng hộ cho nhân viên y tế được coi
là nguyên nhân của sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV [24] Nghiên cứu
về sự kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan tới HIV của 972 nhân viên y tế tại Quảng Châu, Trung Quốc năm 2016 của Xiaomei Dong và các cộng sự đã chỉ ra việc thiếu các trang thiết bị đề phòng phơi nhiễm nghề nghiệp là một trong những yếu tố liên quan đến hành vi phân biệt đối xử của nhân viên y tế liên quan tới HIV [56]
Nghiên cứu của Savina Vorasane và các cộng sự thực hiện năm 2012 tại Viêng Chăn, Lào cho thấy, những bác sỹ làm việc tại bệnh viện tuyến trung ương, nơi có các phòng khám điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV, có trang thiết bị và bảo hộ đề phòng phơi nhiễm đầy đủ và tốt hơn có thái độ định kiến với những người nhiễm HIV thấp hơn so với những bác sỹ làm việc tại bệnh viện tuyến quận/huyện [54]
Sự thiếu hụt các văn bản/quy định để bảo vệ người nhiễm HIV không bị kỳ thị,
phân biệt đối xử của cơ sở y tế có ảnh hưởng đến sự kỳ thị, phân biệt đối xử của nhân
viên y tế Kết quả nghiên cứu thực hiện tại Deep South, Hoa Kỳ cho thấy rằng, tại cơ
sở y tế có các chính sách để bảo vệ người nhiễm HIV được dự đoán là sự kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan tới HIV sẽ ít hơn các cơ sở y tế không có các chính sách [33]
Sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và được triển khai thực hiện nghiên cứu tại nhiều quốc gia trên thế giới Nội dung kỳ thị và phân biệt đối xử được tìm hiểu xoay quanh các vấn
đề, đó là: i) Nhân viên y tế lo sợ lây nhiễm HIV khi tiếp xúc với người nhiễm HIV, ii) Nhân viên y tế có hành vi bảo vệ quá mức khi chăm sóc cho người nhiễm HIV, iii) Nhân viên y tế có thái độ tiêu cực với người nhiễm HIV Các yếu tố như tuổi, giới tính, chức danh nghề nghiệp, được đào tạo/tập huấn về HIV/AIDS, có kiến thức cơ bản về HIV/AIDS, thời gian làm việc của nhân viên y tế cũng được đưa vào phân tích để tìm hiểu mối liên quan đến sự kỳ thị và phân biệt đối xử Tại Việt Nam, sau cuộc khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016, Cục phòng, chống HIV/AIDS đã ban hành hướng dẫn thực hiện giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV tại các cơ
Trang 29sở y tế, các nghiên cứu tìm hiểu về sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế với các nội dung như trên đã được bắt đầu quan tâm và được thực hiện tại một số tỉnh/thành phố trên cả nước Do vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung tìm hiểu sự kỳ thị và phân biệt đối xử theo 3 nội dung trên Ngoài ra chúng tôi tiến hành phân tích để tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến sự kỳ thị và phân biệt
đối xử với người nhiễm HIV
1.5 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng là bệnh viện hạng 2, là tuyến chuyên môn kỹ thuật cao nhất của tỉnh Bệnh viện có 480 giường bệnh Tổng số cán bộ, viên chức, người lao động của bệnh viện là 418 người, trong đó có 181 viên chức có trình độ sau đại học, đại học và cao đẳng Bệnh viện có 19 khoa lâm sàng và cận lâm sàng [10]
Bệnh viện Đa khoa tỉnh tiếp nhận thường xuyên các bệnh nhân từ các bệnh viện tuyến huyện/thành phố chuyển đến khám và điều trị Trong năm 2017 có 120.394 lượt bệnh nhân, trong đó có trên 82,9% bệnh nhân khám chữa bệnh sử dụng thẻ bảo hiểm y
tế Bệnh viện Đa khoa tỉnh luôn luôn cải cách thủ tục hành chính trong công tác khám bệnh, chữa bệnh đặc biệt là đối với các đối tượng có thẻ bảo hiểm y tế, nâng cao các tiến bộ kỹ thuật trong công tác khám, chữa bệnh Trong những năm vừa qua, bệnh viện
đa khoa tỉnh đã triển khai và áp dụng một số kỹ thuật cao như: Chạy thận nhân tạo, thực hiện mổ chấn thương sọ não, sử dụng kỹ thuật mổ nội soi ổ bụng, qua đó đã giảm tải bệnh nhân phải chuyển lên tuyến trên, góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh [9]
Chương trình chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV được triển khai tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng từ năm 2005 với sự tài trợ của dự án hỗ trợ phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam (VAAC-US.CDC) Tuy nhiên, từ năm 2018, dự án ngừng hỗ trợ tại tỉnh, công tác khám bệnh, xét nghiệm, cấp thuốc nhiễm trùng cơ hội cho bệnh nhân HIV được chuyển sang thanh toán qua nguồn quỹ của bảo hiểm y tế (thuốc ARV tiếp tục được dự án hỗ trợ) Từ tháng 1 năm 2019, ngoài một số các dịch
Trang 30vụ như công khám bệnh, xét nghiệm một số phác đồ thuốc ARV điều trị cho người nhiễm HIV cũng sẽ được thanh toán bằng nguồn quỹ bảo hiểm y tế [11]
1.6 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên tổng quan tài liệu và tham khảo
“Nghiên cứu thử nghiệm của USAIDS về đo lường sự kỳ thị và phân biệt đối xử của nhân viên y tế”[51], “Khảo sát về kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV tại cơ
sở y tế ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016”[12], nghiên cứu tại Thái Lan năm 2014 [44] để xác định các biến số và xây dựng bộ công cụ nghiên cứu Khung lý thuyết thể hiện mối liên quan giữa các yếu tố thuộc về cá nhân nhân viên y tế (đặc điểm nhân khẩu học, kiến thức cơ bản về HIV của nhân viên y tế, kiến thức về văn bản/quy định
về HIV/AIDS, tham gia đào tạo/tập huấn về HIV ), yếu tố tại cơ sở y tế (văn bản, hướng dẫn, quy định ) và sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế
Trong nghiên cứu thử nghiệm của USAIDS về đo lường sự kỳ thị, phân biệt đối
xử của nhân viên y tế, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một bảng câu hỏi ngắn gọn và được chuẩn hóa trên toàn cầu để tiến hành đo lường sự kỳ thị phân biệt đối xử của nhân viên y tế tại nhiều quốc gia Bộ câu hỏi này được đánh giá là phù hợp với việc thu thập thông tin tại các cơ sở y tế [51] “Khảo sát về kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV tại cơ sở y tế ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016”, xây dựng bộ công cụ dựa trên nghiên cứu của USAIDS và nghiên cứu tại Thái Lan, sự kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan đến HIV của nhân viên y tế tại các cơ sở y tế bao gồm 6 cấu phần
Sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế tại cơ sở
y tế trong nghiên cứu tại Thái Lan năm 2014 [44] và ở Thành phố Hồ Chí Minh năm
2016 [30] gồm nhiều nội dung Tuy nhiên do nguồn lực hạn chế, trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ tìm hiểu sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y
tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng theo 3 nội dung, đó là: i) Nhân viên y tế sợ nhiễm HIV qua tiếp xúc; ii) Nhân viên y tế có hành vi bảo vệ quá mức khi chăm sóc
Trang 31người nhiễm HIV và iii) Nhân viên y tế có thái độ tiêu cực với người nhiễm HIV Từ
đó chúng tôi tiến hành phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến sự kỳ thị và phân biệt đối xử của nhân viên y tế làm việc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng năm 2019 như, giới tính, trình độ học vấn, chức danh nghề nghiệp, được đào tạo/tập huấn về HIV, có kiến thức cơ bản về HIV/AIDS, có kiến thức về văn bản/quy định liên quan đến HIV/AIDS Những nội dụng này được thể hiện bằng phiếu phát vấn Thông tin thu được thông qua kỹ thuật định tính giúp mô tả kỹ hơn về thực trạng kỳ thị, phân biệt đối
xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế, sự thiếu hụt trang thiết bị để phòng phơi nhiễm cho nhân viên y tế và sự thiếu hụt văn bản, hướng dẫn của bệnh viện
Bên cạnh một số yếu tố đã được các nghiên cứu ghi nhận là có ảnh hưởng đến
sự kỳ thịvà phân biệt đối xử của nhân viên y tế với người nhiễm HIV như giới tính, trình độ học vấn, kiến thức cơ bản về HIV, kiến thức về văn bản/quy định về HIV/AIDS, chức danh nghề nghiệp, đào tạo/tập huấn về HIV của nhân viên y tế, nghiên cứu này sẽ tìm hiểu thêm sự ảnh hưởng của yếu tố “tiếp xúc với bệnh nhân”,
“chế độ chính sách” đến sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV
Trang 32Yếu tố cơ sở y tế
- Trang thiết bị, vật tư y tế bảo hộ
- Thiếu các văn bản/quy định bảo vệ người nhiễm HIV
Tiếp xúc với bệnh nhân HIV
- Kiến thức về HIV/AIDS của nhân viên y tế
- Kiến thức về văn bản/quy định về HIV/AIDS
của nhân viên y tế
- Đào tạo, tập huấn về HIV/AIDS
Kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế
Thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử:
- Nhân viên y tế sợ bị lây nhiễm HIV khi tiếp xúc với người nhiễm HIV;
- Nhân viên y tế có hành vi bảo vệ quá mức khi chăm sóc cho người nhiễm HIV;
- Nhân viên y tế có thái độ tiêu cực với người nhiễm HIV;
Trang 33Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng: Nhân viên y tế làm việc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh
Cao Bằng
Tiêu chuẩn lựa chọn:
Tất cả nhân viên y tế là nam và nữ làm việc tại các khoa của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng, tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp với bệnh nhân nhiễm HIV
Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
Nhân viên y tế không có mặt ở nơi làm việc vào thời điểm nghiên cứu
Nghiên cứu định tính
- Lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng, phụ trách công tác điều trị cho người nhiễm HIV
- Lãnh đạo phòng tổ chức hành chính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng
- Nhân viên y tế làm việc tại một số khoa tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp với bệnh nhân
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Tháng 4/2019 đến tháng 6/2019
Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng
2.3 Thiết kế nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết hợp định lượng và định
tính
Nghiên cứu định lượng được thực hiện để thu thập các thông tin về đối tượng nghiên cứu, thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của đối tượng nghiên cứu và một số yếu tố liên quan
Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm thu thập thêm các thông tin về thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và một số yếu tố ảnh hưởng để
bổ sung thêm thông tin cho nghiên cứu định lượng
Trang 342.4 Cỡ mẫu nghiên cứu và phương pháp chọn mẫu
p: Tỷ lệ phần trăm có kỳ thị và phân biệt đối xử của nhân viên y tế Bảng 2.1 trình bày
cỡ mẫu theo tỷ lệ % có kỳ thị và phân biệt đối xử của từng nội dung dựa trên “Khảo sát
về kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV tại cơ sở y tế ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016” [12]
Bảng 2.1: Cỡ mẫu nghiên cứu
Tỷ lệ % có kỳ thị và phân biệt đối xử [12]
Cỡ mẫu tính toán được
1.Nhân viên y tế sợ lây
nhiễm HIV qua tiếp xúc
thông thường
2 Nhân viên y tế bảo vệ
quá mức khi chăm sóc
người nhiễm HIV
3 Nhân viên y tế có thái
độ tiêu cực với người
nhiễm HIV
Trang 35Như vậy cỡ mẫu cần thiết lớn nhất là 190 Làm tròn số liệu và dự phòng 10% bỏ cuộc, cỡ mẫu cần cho nghiên cứu là 209 đối tượng Thực tế chúng tôi đã triển khai điều tra 209 đối tượng
2.4.2 Mẫu định tính:
Thực hiện 02 cuộc phỏng vấn sâu và 02 cuộc thảo luận nhóm:
01 cuộc phỏng vấn sâu với phó giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng, phụ trách công tác điều trị về HIV
01 cuộc phỏng vấn sâu với trưởng phòng tổ chức hành chính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng
01 cuộc thảo luận nhóm với nhân viên y tế làm việc tại các khoa tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân
01 cuộc thảo luận nhóm với nhân viên y tế làm việc tại các khoa tiếp xúc gián tiếp với bệnh nhân
2.4.3 Cách thức chọn mẫu
Nghiên cứu định lượng
Bước 1: Tổng hợp danh sách nhân viên y tế của Bệnh viện Đa khoa tỉnh (loại trừ nhân viên làm việc ở phòng hành chính, phòng kế hoạch tổng hợp, tài chính kế toán, tổ chức cán bộ) Danh sách nhân viên y tế tổng hợp được là 334 người
Bước 2: Tính tỷ lệ % nhân viên y tế của từng khoa
Bước 3: Chọn mẫu phân tầng theo từng khoa Cỡ mẫu của từng khoa được tính bằng cách lấy tỷ lệ % nhân viên y tế tính được ở bước 2 nhân với cỡ mẫu tính được Do vậy, khoa nào có nhiều nhân viên y tế hơn thì cỡ mẫu sẽ nhiều hơn
Bảng 2.2 : Cỡ mẫu nghiên cứu phân bổ theo khoa STT Tên khoa Số nhân viên y tế Số mẫu được chọn
1 Khoa chẩn đoán hình ảnh 14 8
2 Khoa khám bệnh 23 14
3 Khoa cấp cứu, hồi sức tích cực và 21 13
Trang 3620 Khoa giải phẫu bệnh 4 2
21 Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn 10 6
Bước 4: Trước ngày phát vấn, nghiên cứu viên và 01 cán bộ của bệnh viện (được ban giám đốc giao nhiệm vụ hỗ trợ trong việc triển khai nghiên cứu) trực tiếp đến từng khoa trao đổi, lựa chọn đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu viên nói về mục đích của nghiên cứu, những nhân viên y tế đồng ý tham gia được đánh dấu vào danh sách nhân viên y tế đã có và hẹn ngày để thực hiện phát vấn
Nghiên cứu định tính: Thực hiện sau nghiên cứu định lượng
Trang 37Phỏng vấn sâu: Nghiên cứu đã tiến hành 02 cuộc phỏng vấn sâu: 01 cuộc với phó
giám đốc của bệnh viện và 01 cuộc với lãnh đạo phòng tổ chức hành chính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng
Thảo luận nhóm:
Thực hiện 01 cuộc thảo luận nhóm với 06 nhân viên y tế tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân; 01 cuộc thảo luận nhóm với 06 nhân viên y tế tiếp xúc gián tiếp
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
a) Nghiên cứu định lượng
Bộ công cụ định lượng được xây dựng dựa trên khung ký thuyết, tham khảo 02
bộ công cụ đó là bộ công cụ do USAIDS xây dựng [51] và công cử dụng trong nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016 [12] Gồm 4 phần:
Phần 1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Phần 2: Kiến thức về HIV của nhân viên y tế
Phần 3: Lo sợ lây nhiễm HIV
Phần 4: Quan điểm với người nhiễm HIV
Trong nghiên cứu này chỉ tìm hiểu thực trạng về sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV từ bản thân nhân viên y tế tham gia nghiên cứu, không tìm hiểu đến các thái độ và hành vi mà nhân viên y tế quan sát được tại cơ sở y tế nên nghiên cứu không sử dụng các câu hỏi liên quan đến phần “môi trường ở cơ sở y tế” trong bộ công
cụ được sử dụng trong cuộc khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016 Ngoài ra, phần quan điểm/thái độ của nhân viên y tế được tham khảo từ bộ công cụ của USAIDS Bộ công cụ chưa tham khảo Hướng dẫn giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV tại cơ sở y tế năm 2017
b) Nghiên cứu định tính:
Nghiên cứu định tính sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm theo hướng dẫn đã được xây dựng sẵn để thu thập thêm thông tin về các yếu tố ảnh hưởng
Trang 38đến sự kỳ thị và phân biệt đối xử của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng
Các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được ghi âm và được nghiên cứu viên ghi chép lại thông tin
2.5.2 Cách tổ chức thu thập số liệu:
Tổ chức tập huấn cho các điều tra viên về bộ câu hỏi và cách thức thu thập Nhóm nghiên cứu đã trao đổi với lãnh đạo của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng và lãnh đạo các khoa có nhân viên y tế tham gia nghiên cứu về kế hoạch, cách thức thu thập số liệu Nhóm đã lựa chọn 01 cán bộ của phòng tổ chức hành chính làm điều phối viên để lên lịch hẹn với các nhân viên y tế tới địa điểm phát vấn
+ Phiếu hỏi được kiểm tra và rà soát sau mỗi ngày điều tra để phát hiện những thiếu sót thông tin hoặc lỗi sai để kịp thời rút kinh nghiệm, điểu chỉnh và bổ sung
Điều tra định tính:
+ Nghiên cứu viên đã thực hiện 01 cuộc phỏng vấn sâu với lãnh đạo Bệnh viện
Đa khoa tỉnh phụ trách về hoạt động chăm sóc, điều trị HIV; 01 cuộc với lãnh đạo phòng tổ chức hành chính Các cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện tại phòng làm việc riêng theo lịch đã hẹn trước Mỗi cuộc phỏng vấn sâu thực hiện khoảng 30 phút
+ 02 cuộc thảo luận nhóm được thực hiện tại hội trường lớn của Bệnh viện tại 2 thời điểm khác nhau, mỗi cuộc thảo luận tiến hành trong thời gian khoảng 45 phút theo
kế hoạch đã thống nhất
Trang 392.6 Biến số nghiên cứu
2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu gồm: 3 nhóm biến với 19 biến số nghiên cứu:
Nhóm 1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu: gồm 6 biến
Nhóm 2: Thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng, gồm 10 biến
Nhóm 3: Một số yếu tố liên quan đến kỳ thị và phân biệt đối xử của nhân viên y
tế, gồm 3 biến
(Chi tiết tại phụ lục 5)
2.6.2 Chủ đề định tính
Gồm các nội dung và chủ đề nghiên cứu sau:
Mô tả thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng
Một số yếu tố ảnh hưởng đến kỳ thị và phân biệt đối xử của nhân viên y tế
2.7 Thang đo và tiêu chuẩn đánh giá
Bên cạnh việc tính toán từng chỉ số cụ thể trong mỗi cấu phần, nghiên cứu còn tính các chỉ số/tỷ lệ chung cho mỗi cấu phần Cách tính toán tỷ lệ nhân viên y tế lo sợ lây nhiễm HIV và tỷ lệ nhân viên y tế có hành vi bảo vệ quá mức được tham khảo theo cách tính trong cuộc khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016 [12] Các tính toán
tỷ lệ nhân viên y tế có thái độ tiêu cực với người nhiễm HIV được tham khảo nghiên cứu của USAID [51]
2.7.1 Tỷ lệ nhân viên y tế lo sợ lây nhiễm HIV (câu hỏi 10.1, 10.2, 10.3)
Tử số: Các nhân viên y tế trả lời một trong 3 mức độ lo lắng (lo lắng = hơi lo lắng/lo lắng/rất lo lắng) đối với câu hỏi 10.1 và/hoặc 10.2 và/hoặc 10.3
Mẫu số: Tất cả nhân viên y tế trả lời phù hợp (trừ những người trả lời tôi chưa từng làm việc này)
2.7.2 Tỷ lệ nhân viên y tế có hành vi bảo vệ quá mức (câu hỏi 11.1 và 11.2)
Trang 40Tử số: Các nhân viên y tế trả lời có sử dụng bất cứ với một trong hai hình thức
Mẫu số: tất cả nhân viên trả lời phù hợp (trừ những trả lời chưa từng làm công việc này)
2.7.3 Tỷ lệ nhân viên y tế có thái độ tiêu cực với người nhiễm HIV (câu hỏi 12.1
đến 12.5)
Tử số: Các nhân viên y tế trả lời đồng ý (đồng ý bao gồm đồng ý/rất đồng ý) với mỗi câu hỏi 12.1 đến 12.5
Mẫu số: Tất cả các nhân viên y tế trả lời phát vấn
2.7.4 Kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế gồm 3 nội
dung:
- Nhân viên y tế lo sợ lây nhiễm HIV
- Nhân viên y tế có hành vi bảo vệ quá mức cần thiết
- Nhân viên y tế có thái độ tiêu cực với người nhiễm HIV
Nhân viên y tế trong nghiên cứu được xác định là có sự kỳ thị và phân biệt đối
xử nếu như nhân viên y tế đó có lo sợ lây nhiễm HIV hoặc có hành vi bảo vệ quá mức cần thiết hoặc có thái độ tiêu cực với người nhiễm HIV hoặc có cả 3 nội dung trên Tỷ
lệ nhân viên y tế có kỳ thị và phân biệt đối xử được tính như sau:
Tử số: Các nhân viên y tế có thể hiện 1 trong 3 nội dung trên hoặc cả 3 nội dung
Mẫu số: Tất cả nhân viên y tế tham gia phát vấn
2.7.5 Kiến thức về HIV/AIDS của nhân viên y tế
Kiến thức cơ bản về HIV/AIDS: Có 8 câu hỏi trong phần kiến thức, mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm nhân viên y tế trả lời đúng 6/8 câu sẽ được đánh giá là đạt
về HIV/AIDS, dưới 6 câu là không đạt (Chi tiết tại phụ lục 6)
Kiến thức về văn bản/quy định: Có 3 câu hỏi trong phần kiến thức, mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm Nhân viên y tế trả lời đúng 2/3 câu sẽ được đánh giá là đạt
về HIV/AIDS, dưới 2 câu là không đạt (Chi tiết tại phụ lục 6)