Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng DVYT nhưng còn rất ít các nghiên cứu về đối tượng là người nghèo – là những đối tượng nhạy cảm,
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học lớp Thạc sỹ YTCC và làm luận văn tại Trường Đại học Y
tế công cộng 2017-2019 Tôi đã hoàn thành luận văn “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến sử dụng dịch vụ y tế của người nghèo bị ốm trong vòng 4 tuần qua tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang năm 2019” Cho phép tối được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:
Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học cùng quý Thầy, Cô tại trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, hỗ trợ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn
Lãnh đạo ủy ban nhân dân, lãnh đạo Bệnh viện đa khoa huyện Hiệp Hòa, các cán bộ y tế tại trạm y tế đã ủng hộ tôi trong suốt quá trình thu thập dữ liệu và nghiên cứu
Tiến sĩ Lê Thị Kim Ánh, Bác sĩ Trương Quang Đạt là 2 thầy cô đã trực tiếp chỉ dẫn, tận tình giúp đỡ tạo điều kiện và có những ý kiến đóng góp quý báu cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Học viên lớp Thạc sỹ Y tế công cộng khóa 21 đã giúp đỡ và cùng tham gia nghiên cứu
Bạn bè và người thân trong gia đình đã luôn động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Tú Anh
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
BHYT: Bảo hiểm y tế
BHYTBB: Bảo hiểm y tế bắt buộc
BHYTNN: Bảo hiểm y tế người nghèo
BVĐK: Bệnh viện đa khoa CBYT: Cán bộ y tế
CSSK: Chăm sóc sức khỏe CSYT: Cơ sở y tế
DVYT: Dịch vụ y tế
ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu KCB: Khám chữa bệnh NVYT Nhân viên y tế PVS: Phỏng vấn sâu
TTYT: Trung tâm y tế TYT: Trạm y tế
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢƠN I DANH MỤC CÁC BẢNG II DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VI DANH MỤC VIẾT TẮT VII TÓM TẮT NGHIÊN CỨU VIII
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1.CÁC KHÁI NIỆM 4
1.1.1 Khái niệm người nghèo và cách phân loại người nghèo 4
1.1.2 Quyết định về khám chữa bệnh cho người nghèo 4
1.1.3 Khái niệm về dịch vụ y tế 7
1.1.4 Đặc điểm của dịch vụ y tế 7
1.2.HỆ THỐNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ 8
1.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ Y TẾ TẠI VIỆT NAM 9
1.4.THỰC TRẠNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ Y TẾ CỦA NGƯỜI NGHÈO 11
1.5.CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG DỊCH VỤ Y TẾ KHÁM CHỮA BỆNH CỦA NGƯỜI NGHÈO 13
1.5.1 Yếu tố cá nhân 13
1.3.2 Yếu tố cơ sở y tế 15
1.4.TÌNH HÌNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ Y TẾ TẠI TỈNH BẮC GIANG 22
1.4.1 Thông tin chung của tỉnh Bắc Giang 22
1.4.2 Tình hình sử dụng DVYT tại tỉnh Bắc Giang 22
1.4.3 Thông tin chung huyện Hiệp Hòa 25
1.6 KHUNG LÝ THUYẾT 28
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 29
Trang 62.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng 29
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính 29
2.2.THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 29
2.3.THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 29
2.4.CỠ MẪU 30
2.4.1 Nghiên cứu định lượng 30
2.4.2 Nghiên cứu định tính 30
2.5.PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU 31
2.5.1 Chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng 31
2.5.2 Chọn mẫu cho nghiên cứu định tính 31
2.6.PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 31
2.6.1 Thu thập số liệu cho nghiên cứu định lượng 31
2.6.2 Thu thập số liệu cho nghiên cứu định tính 33
2.7.CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 33
2.8.CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 33
2.9.KHÁI NIỆM, THƯỚC ĐO, TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ 34
2.10.PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 35
2.10.1 Số liệu định lượng 35
2.10.2 Số liệu định tính 36
2.11.VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC CỦA NGHIÊN CỨU 36
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 THÔNG TIN CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 37
3.2.THỰC TRẠNG SỬ DỤNG DVYT CỦA NGƯỜI NGHÈO 42
3.2.1 Thực trạng sử dụng DVYT trong vòng 4 tuần trước điều tra 45
3.2.2 Nhận xét chung của người nghèo khi sử dụng DVYT tại các CSYT công lập 49 3.3.CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỬ DỤNG DVYT TẠI CÁC CSYT CÔNG LẬP 52
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 62
4.1.THÔNG TIN CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG 62
4.2.THỰC TRẠNG SỬ DỤNG DVYT CỦA NGƯỜI NGHÈO 64
4.3.CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỬ DỤNG DVYT CỦA NGƯỜI NGHÈO 67
Trang 74.4.HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU, SAI SỐ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC SAI SỐ 71
4.4.1 Hạn chế của nghiên cứu 71
4.4.2 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 71
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 73
5.1.THỰC TRẠNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ Y TẾ CỦA NGƯỜI NGHÈO 73
5.2.MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỬ DỤNG DỊCH VỤ Y TẾ CỦA NGƯỜI NGHÈO 73
CHƯƠNG 6: KHUYẾN NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 79
BIỂU MẪU THU THẬP THÔNG TIN 79
PHỤ LỤC 2: GIẤY ĐỒNG Ý THAM GIA TRẢ LỜI PHỎNG VẤN 88
PHỤ LỤC 3: HƯỚNG DẪN PVS NHÓM QUẢN LÝ VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ KCB 89
PHỤ LỤC 6: HƯỚNG DẪN PVS NGƯỜI DÂN 90
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Số lượt khám và chi phí sử dụng dịch vụ y tế, 2016 12
Bảng 1.2:Ttình hình phát triển bhyt tỉnh bắc giang [2] 23
Bảng 1.3 Tổng hợp số lượt kcb của người nghèo sử dụng thẻ bhyt tại một số bệnh viện tại bắc giang [53] 25
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 37
Bảng 3.2 Tình trạng sức khỏe trước khi bị ốm 38
Bảng 3.3 Hiểu biết của bệnh nhân về các loại hình dịch vụ của csyt công lập 39
Bảng 3.4 Hiểu biết về các loại giấy tờ mang theo, quyền lợi khi sử dụng dvyt 39
Bảng 3.5 Nguồn cung cấp thông tin đầy đủ nhất về dvyt 41
Bảng 3.6 Phân loại bệnh mắc phải của đtnc 42
Bảng 3.7 Nơi lựa chọn dvyt khi bị ốm 42
Bảng 3.8 Lý do không lựa chọn dvyt tại các csyt công lập 43
Bảng 3.9 Tỷ lệ sử dụng thẻ bhyt khi kcb tại các csyt công lập 45
Bảng 3.10 Tình hình cung cấp thuốc 46
Bảng 3.11 Đánh giá về chất lượng thuốc 47
Bảng 3.12 Lý do mua thêm thuốc 47
Bảng 3.13 Nơi lựa chọn dvyt tiếp theo của các đối tượng chưa khỏi bệnh 48
Bảng 3.14 Nhận xét về thời gian chờ đợi, thủ tục đăng ký kcb, thái độ của nhân viên y tế khi sử dụng dvyt tại các csyt công lập 49
Bảng 3.15 Nhận xét về trang thiết bị, dụng cụ y tế, mức độ sẵn có của thuốc 50
Bảng 3.16 Trình độ khám bệnh cbyt, giải thích và hướng dẫn điều trị tại nhà 51
Bảng 3.17 Đánh giá chung của người bệnh về dvyt tại các csyt công lập 51
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa sử dụng dvyt khi ốm với tuổi, trình độ học vấn 52
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa sử dụng dvyt khi kcb và nghề nghiệp, mức thu nhập53 Bảng 3.20 Mối liên quan giữa sử dụng dvyt khi kcb với khoảng cách từ nhà tới các csyt với giới, tuổi của người bệnh 54
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa sử dụng dvyt khi kcb với các yếu tố thời gian chờ đợi lâu 55
Trang 9Bảng 3.22 Mối liên quan giữa sử dụng dvyt khi kcb với các yếu tố thủ tục phức tạp56 Bảng 3.23 Mối liên quan giữa sử dụng dvyt khi kcb với yếu tố trang thiết bị, dụng
cụ y tế nghèo nàn, thiếu 57 Bảng 3.24 Mối liên quan giữa sử dụng dvyt khi kcb với yếu tố chất lượng và thái độ phục vụ 57 Bảng 3.25 Mối liên quan giữa sử dụng dvyt khi kcb với yếu tố thuốc và chất lượng thuốc 58 Bảng 3.26 Mối liên quan giữa sử dụng dvyt khi kcb với cách khám bệnh của BS 59
Bảng 3.27 Mối liên quan giữa sử dụng dvyt khi kcb với yếu tố phân biệt đối xử 60
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Mô hình bệnh tật tại huyện Hiệp Hòa năm 2018 24
Biểu đồ 1.2 Mô hình bệnh tật của người nghèo tại huyện Hiệp Hòa năm 2018 25
Biểu đồ 3.1 Phân loại hộ khẩu thường trú 37
Biểu đồ 3.2 Nguồn cung cấp thông tin về BHYT 39
Biểu đồ 3.3 Khoảng cách từ nhà đến các CSYT công lập 40
Biểu đồ 3.4 Lý do lựa chọn nơi KCB tại các CSYT công lập 43
Biểu đồ 3.5 Mục đích sử dụng thẻ tại các CSYT công lập 45
Biểu đồ 3.6 Kết quả điều trị tại 47
Trang 11Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang phân tích, kết hợp với nghiên cứu định tính trên đối tượng là người nghèo tại huyện Hiệp Hòa Cấu phần định lượng mô tả thực trạng sử dụng DVYT và yếu tố ảnh hưởng, cấu phần định tính nhằm phân tích sâu hơn các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng sử dụng DVYT của người nghèo khi KCB Đối tượng nghiên cứu là người nghèo trên 18 tuổi bị bệnh trong 4 tuần trước điều tra, trưởng TYT xã, giám đốc BVĐK huyện, lãnh đạo BHXH
Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượt sử dụng DVYT của người nghèo giảm dần từ năm 2016 đến năm 2018 Các đối tượng nghiên cứu mắc nhiều loại bệnh, nơi lựa chọn dịch vụ KCB đầu tiên khi ốm là nhà thuốc, cửa hàng đại lý thuốc chiếm tỷ
lệ 39,7% Tỷ lệ sử dụng DVYT tại các CSYT công lập là 40,7%, lý do cao nhất lựa chọn nơi KCB tại các CSYT công lập là do đây là nơi đăng ký KCB BHYT, lý do cao nhất không lựa chọn nơi KCB tại các CSYT công lập là do thời gian chờ đợi lâu
Nghiên cứu cũng ghi nhận có 4 yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ người nghèo sử dụng DVYT: yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình, yếu tố cộng đồng, yếu tố xã hội Trong đó nhóm yếu tố cá nhân có 3 yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê làm giảm khả năng sử dụng DVYT của người nghèo: tuổi, giới tính và khoảng cách từ nhà đến nơi KCB; nhóm yếu tố về cộng đồng, y tế bao gồm 8 yếu tố có mối liên quan âm tính làm giảm khả năng sử dụng DVYT của người nghèo như: yếu tố thời gian chờ đợi lâu, thủ tục phức tạp, trang thiết bị, dụng cụ nghèo nàn, thiếu thốn chất
Trang 12lƣợng và thái độ phục vụ, thuốc và chất lƣợng thuốc cách KCB và yếu tố phân biệt đối xử
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi đã đƣa ra những khuyến nghị đầu tƣ trang thiết bị, dụng cụ y tế cần thiết đồng thời nâng cao năng lực chuyên môn cũng nhƣ
kỹ năng mềm của các NVYT
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây kinh tế của cả nước đã có những bước cải thiện vượt bậc, mức sống của người dân tăng cao, theo đó khoảng cách giàu nghèo cũng gia tăng tạo nên những cách biệt trong việc hưởng thụ các dịch vụ xã hội giữa người giàu và người nghèo, đặc biệt là sự phân biệt hưởng thụ các dịch vụ y tế (DVYT), chăm sóc sức khỏe (CSSK) và việc được sử dụng các trang thiết bị y tế hiện đại [50] Theo
Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg người nghèo là những người có mức thu nhập dưới
700.000/ người ở nông thôn và thu nhập dưới 900.000/người ở thành thị [46] Kết quả Điều tra y tế quốc gia năm 2012 ghi nhận có đến 81,5% số người thuộc nhóm hộ nghèo nhất sử dụng DVYT hoặc sổ/thẻ khám chữa bệnh (KCB) tại các trạm y tế (TYT) xã trong khi nhóm hộ giàu nhất chỉ có 75,3% Khi bị ốm, số người nghèo đến TYT sử dụng DVYT để KCB là 33%, trong khi đó nhóm người giàu chỉ chiếm 7,6% trong tổng số những người sử dụng DVYT tại TYT xã; đối với điều trị nội trú có khoảng 67% người nghèo đến TYT xã và bệnh viện huyện sử dụng DVYT (ở nhóm người giàu chỉ chiếm 16%), có đến 78% người giàu đến điều trị nội trú ở bệnh viện tỉnh và trung ương [54]
Thực tế cho thấy, nhu cầu KCB của người nghèo lớn nhưng lại khó tiếp cận các DVYT hơn so với các nhóm đối tượng khác [50] Tự điều trị hiện vẫn chiếm phần lớn trong hành vi tìm kiếm dịch vụ khám chữa bệnh khi bị ốm trong khi hỗ trợ người nghèo trong khám chữa bệnh tại các CSYT công lập luôn là nhiệm vụ ưu tiên của Chính phủ Nhà nước đã có chủ trương cấp BHYT cho người thuộc hộ nghèo theo quy định hiện hành về chuẩn hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, những người được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng Ngoài ra thực hiện hỗ trợ một phần viện phí cho các trường hợp mắc các bệnh nặng gặp khó khăn do chi phí cao mà không có khả năng chi trả viện phí [47, 48]
Kết quả báo cáo hoạt động KCB tỉnh Bắc Giang năm 2018 cho thấy số lượng người nghèo tại huyện Hiệp Hòa không thay đổi nhưng số lượt KCB tại một số bệnh viện tại tỉnh Bắc Giang của người nghèo giảm dần qua các năm từ năm 2016 đến năm 2018; số lượt sử dụng DVYT của người nghèo tại bệnh viện đa khoa (BVĐK) tỉnh giảm 50% và BVĐK Sơn Động cũng giảm 20% Tại huyện Hiệp Hòa thuộc tỉnh Bắc Giang tính đến 31/12/2017 tỷ lệ bao phủ BHYT trên địa bàn huyện là 76% [40]
Trang 14Người dân thuộc hộ gia đình nghèo được đăng ký KCB ban đầu tại các cơ sở y tế (CSYT) công lập Theo kết quả rà soát, thống kê hộ nghèo năm 2018 huyện Hiệp Hòa
có 3447 hộ nghèo (khoảng 13.788 người) chiếm 6,11% số hộ trong huyện [33] Theo thống kê năm 2018 số lượt người nghèo có sử dụng DVYT tại BVĐK huyện là 317 lượt khám Tần suất KCB/thẻ/năm chưa được 1 lần, thấp hơn so với tần suất của huyện Sơn Động (tỉnh Bắc Giang) 4,4 lần, thấp hơn so với tần suất của huyện Lục Ngạn (tỉnh Bắc Giang) khoảng 3,4 và thấp hơn tần suất chung của toàn tỉnh Bắc Giang 1,2 [39] Thăm dò ý kiến của lãnh đạo BVĐK huyện và một số người nghèo cho thấy rằng tỷ lệ người nghèo khi đau ốm sử dụng DVYT tại các CSYT công lập khoảng 85% và còn một tỷ lệ không nhỏ người nghèo không sử dụng DVYT tại các CSYT công lập [51] Theo đó lý do không sử dụng DVYT tại các CSYT công lập khi đau ốm của người nghèo cũng chưa được có câu trả lời thỏa đáng
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng DVYT nhưng còn rất ít các nghiên cứu về đối tượng là người nghèo – là những đối tượng nhạy cảm, yếu thế, có thu nhập thấp trong xã hội Qua nhiều năm thực hiện tại địa phương vẫn chưa có nghiên cứu khoa học nào về thực trạng và việc
sử dụng DVYT của người nghèo Nghiên cứu đã lựa chọn thực hiện đề tài tại huyện Hiệp Hòa là một huyện có tỷ lệ người nghèo gần bằng tỷ lệ người nghèo trung bình của cả tỉnh (6,13%) [39] và có tỷ lệ sử dụng DVYT của người nghèo tại các CSYT công lập thấp hơn so với huyện khác và toàn tỉnh Với câu hỏi đặt ra là thực trạng sử dụng DVYT của người nghèo như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc sử dụng DVYT của người nghèo? Để trả lời câu hỏi trên cần tìm hiểu thực trạng người nghèo sử dụng DVYT tại địa phương? Họ sử dụng DVYT như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc sử dụng DVYT của người nghèo? Chính vì vậy, nhóm nghiên
cứu đã tiến hành thực hiện đề tài “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến sử dụng dịch vụ y tế người nghèo bị ốm trong 4 tuần qua tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang năm 2019”
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ y tế của người nghèo bị ốm trong vòng 4 tuần qua tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang năm 2019
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến sử dụng dịch vụ y tế của người nghèo trong vòng 4 tuần qua tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang năm 2019
Trang 16Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm người nghèo và cách phân loại người nghèo
Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí là có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống hoặc thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường
mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên [36]
Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí là có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên [36]
Theo quyết định của thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg
tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 05 dịch vụ: y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 10 chỉ số: tiếp cận các DVYT; BHYT; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin [46]
1.1.2 Quyết định về khám chữa bệnh cho người nghèo
Quyết định số 14/2012/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về khám, chữa bệnh cho người nghèo đã sửa đổi và bổ sung định số 139/2002/QĐ-TTg quy định về KCB cho người nghèo
Đối tượng được hưởng chế độ hỗ trợ khám, chữa bệnh:
Những người thuộc các hộ nghèo theo quy định hiện hành của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn hộ nghèo; đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống ở xã, phường, thị trấn thuộc vùng khó khăn theo quy định tại Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05
Trang 17tháng 3 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ; người thuộc diện được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định của pháp luật và người đang được nuôi dưỡng tại các cơ
sở bảo trợ xã hội của Nhà nước; người mắc bệnh ung thư, chạy thận nhân tạo, mổ tim hoặc các bệnh khác gặp khó khăn do chi phí quá cao mà các đối tượng này không có
đủ khả năng chi trả viện phí
Hồ sơ hỗ trợ KCB
Đối với đối tượng được hỗ trợ hồ sơ gồm: đơn đề nghị hỗ trợ chi phí KCB (theo mẫu có sẵn); bản sao thẻ BHYT còn giá trị sử dụng, trường hợp chưa được cấp thẻ BHYT thì sử dụng một trong các giấy tờ sau: giấy xác nhận là hộ nghèo hoặc giấy chứng nhận là người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại xã/phường/thị trấn thuộc vùng khó khăn theo quy định tại Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg, giấy xác nhận người thuộc diện được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định hoặc giấy xác nhận của cơ sở bảo trợ xã hội là đối tượng đang được nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước; bản sao giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tùy thân có ảnh, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, giấy chuyển viện, giấy ra viện
Đối với bệnh viện thực hiện hỗ trợ chi phí KCB hồ sơ gồm: hồ sơ do đối tượng được hỗ trợ cung cấp theo quy định, lệnh điều xe và hóa đơn tiền xe, vé cầu, vé đường
bộ, bảng kê chi tiết hỗ trợ chi phí KCB
Các chế độ hỗ trợ
Hỗ trợ tiền ăn cho các đối tượng thuộc hộ nghèo và đồng bào dân thiểu số đang sống tại các vùng khó khăn (quyết định số 30/2007/QĐ-TTg) theo Quyết định số 139/2002/QĐ-TTG khi điều trị nội trú tại các cơ sở y tế của nhà nước từ tuyến huyện trở lên với mức tối thiểu 3% mức lương tối thiểu chung/người/bệnh/này
Hỗ trợ tiền đi lại từ nhà đến bệnh viện, từ bệnh viện về nhà và chuyển viện theo quyết định số 139/2002/QĐ-TTg khi điều trị nội trú tại các cơ sở y tế nhà nước từ
Trang 18tuyến Huyện trở lên, các trường hợp cấp cứu, tử vong hoặc bệnh quá nặng và người nhà có nguyện vọng đưa về nhà như không được BHYT hỗ trợ
- Trường hợp sử dụng phương tiện vận chuyển của cơ sở y tế Nhà nước: Thanh toán phí vận chuyển 2 chiều bằng 0,2 lit xăng/km và các phí cầu, phà, đường bộ
- Trường hợp không sử dụng phương tiện vận chuyển của cơ sở y tế Nhà nước: Thanh toán chi phí vận chuyển một chiều cho người bệnh theo mức 0,2 lit xăng/km
Cơ sở y tế chỉ định chuyển bệnh nhân thanh toán phí vận chuyển cho người bệnh, sau
đó thanh toán với Quỹ KCB cho người nghèo
Hỗ trợ một phần chi phí KCB cho người thuộc hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống tại các vùng khó khăn, người thuộc diện được hưởng trợ cấp
xã hội hàng tháng và người đang được nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ của nhà nước phải đồng chi trả theo quy định của Luật BHYT và các văn bản hướng dẫn Luật đối với người bệnh phải đồng chi trả từ 100.000 đồng trở lên
Hỗ trợ thanh toán một phần chi phí KCB cho người ung thư, người chạy thận nhân tạo, mổ tim hoặc các bệnh khác gặp khó khăn do chi phí cao mà không đủ khả năng chi trả viện phí đối với phần người bệnh phải chi trả cho cơ sở y tế Nhà nước từ 1 triệu đồng trở lên cho một đợt KCB trong trường hợp không có thẻ BHYT, nếu có thẻ BHYT thì hỗ trợ như khoản trên Trường hợp người bệnh lựa chọn cơ sở KCB trái tuyến hoặc KCB theo yêu cầu thì thanh toán viện phí theo quy định hiện hành
Theo số lượng thống kê của Bộ lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam số
hộ nghèo năm 2017 trên cả nước là 1.642.489 hộ trên tổng số 24.511.255 hộ dân, chiếm tỷ lệ 6,7%, tần suất người nghèo sử dụng DVYT tại CSYT công lập là 1,73/ đầu thẻ (lượt) [4] Năm 2018 tỷ lệ bao phủ BHYT cho người nghèo đã đạt gần 100% Mặc
dù vẫn còn những người nghèo chưa có thẻ nhưng vẫn được đảm bảo quyền lợi BHYT khi đi KCB tại các bệnh viện theo quy định của luật BHYT bằng các loại giấy tờ khác như giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận thuộc hộ nghèo, thẻ KCB hoặc xác nhận của cơ sở y tế
Trang 191.1.3 Khái niệm về dịch vụ y tế
Dịch vụ y tế là hoạt động dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, cho con người Kêt quả dịch vụ y tế là tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ thể, nhưng tạo ra sự thỏa mãn kịp thời, hài lòng, hiệu quả của con người về chăm sóc sức khỏe [5, 17]
Dịch vụ y tế là dịch vụ trong đó đa phần người sử dụng (người bệnh) không thể hoàn toàn chủ động lựa chọn loại hình dịch vụ theo mong muốn; DVYT phụ thuộc rất nhiều vào bên cung ứng dịch vụ là CSYT Cụ thể, khi người bệnh có nhu cầu KCB, việc điều trị bằng phương pháp nào, thời gian là bao nhiêu hoàn toàn là do bác sỹ quyết định Như vậy, người bệnh chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị, ở một chừng mực nào đó, người chữa cho mình chứ không được chủ động lựa chọn phương pháp điều trị, thời gian điều trị [13]
Chăm sóc sức khỏe là dịch vụ trong đó người cung ứng và người sử dụng có mối quan hệ với nhau thông qua dịch vụ được cung cấp Tuy nhiên, không giống các loại dịch vụ khác, chăm sóc sức khỏe có một số đặc điểm riêng [43] Bên cạnh đó, mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khỏe ở các mức độ khác nhau Chính vì vậy không dự đoán được thời điểm mắc bệnh, nên thường người bệnh
bị động, khó khăn trong việc dự đoán, ước tính cho các khoản chi phí điều trị phát sinh [83]
1.1.4 Đặc điểm của dịch vụ y tế
Đặc điểm của DVYT gồm 2 yếu tố tiêu thụ và đầu tư [6]
- Sức khỏe là kết quả trực tiếp của việc tiêu thụ phúc lợi, đồng thời, người lao động có sức khỏe sẽ đóng góp cho sản xuất và đầu tư;
- Chi phí chăm sóc sức khỏe có thể cao hơn so với thu nhập, sức khỏe hạn chế
sẽ giảm khả năng mưu sinh, đặc biệt là khi bị bệnh, người bệnh thường ít tính toán khả năng kinh tế mà dồn hết sức để chữa bệnh Người bệnh trực tiếp tham gia sản xuất cũng như tiêu thụ DVYT
Trang 20Quyết định sử dụng loại hình DVYT cho người bệnh, đôi khi, không hồi phục được, ví dụ như: thầy thuốc quyết định y lệnh chữa bệnh, còn người bệnh phải trả tiền, tuy nhiên khi thực hiện y lệnh, người bệnh có khả năng không đáp ứng điều trị nhưng vẫn phải thanh toán chi phí
Dich vụ y tế không hướng tới tự do cạnh tranh Sự cạnh tranh phải có tiêu chuẩn, uy tín và sự tin cậy (bệnh nhân nào cũng muốn đến nơi chữa bệnh tốt dù là chi phí cao) Quảng bá của DVYT không phải là hành động chữa bệnh
Mục đích của y tế là làm sao cho người dân ngày càng khỏe mạnh, hạn chế tối
đa trong việc sử dụng dịch vụ chữa bệnh, vì vậy quảng bá sử dụng cho phòng bệnh, cho công tác dự phòng nhằm tạo ra sức khỏe và tăng cường sức khỏe
Hoạt động dịch vụ y tế ở bệnh viện không phải bao giờ cũng có lãi, có khi lỗ nhưng vẫn phải duy trì và thực hiện vì lợi ích cốt lõi của xã hội và cộng đồng, vì đạo đức nghề Y Do đó, đo lường lợi nhuận ở bệnh viện là không có tiêu chuẩn, không rõ ràng, không khuyến khích Tuy nhiên, điều này mâu thuẫn với các CSYT ngoài công lập
1.2 Hệ thống cung ứng dịch vụ y tế
Hệ thống cung ứng DVYT ở nước ta được tổ chức làm 4 cấp độ chủ quản: trung ương, tỉnh, huyện và xã Theo hệ thống phân tuyến chuyên môn thì hệ thống DYYT của Nhà nước chia làm 3 tuyến: tuyến trung ương, tuyến tỉnh và tuyến cơ sở Ngoài những loại hình trên thì chúng ta còn có hệ thống dịch vụ KCB tư nhân cũng đang phát triển và hoạt động đem lại những hiệu quả trong công việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân
Bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương: đây là cơ sở KCB được trang bị các phương tiện kỹ thuật tốt, tập trung nhiều các y, bác sỹ có tay nghề cao, đặc biệt là tuyến trung ương tập trung nhiều bác sỹ có khả năng chẩn đoán và điều trị các bệnh phức tạp Một số bệnh viện tuyến tỉnh cũng được đầu tư các trang thiết bị hiện đại, có khả năng chẩn đoán và điều trị bệnh tốt
Trang 21Y tế tuyến huyện: là nơi phục vụ KCB cơ bản cho người dân, đồng thời là tuyến
hỗ trợ trực tiếp cho tuyến xã Củng cố y tế tuyến huyện, không những nâng cao chất lượng KCB cơ bản mà còn hỗ trợ cho công tác căm sóc sức khỏe ban đầu của tuyến
xã, đồng thời có tác dụng giảm bớt gánh nặng cho y tế tuyến tỉnh và tuyến trung ương,
để các tuyến này tập trung vào nhiên cứu và cứu chữa những ca bệnh nặng và phức tạp [10]
Y tế tuyến xã: nghị định 117/2014/NĐ-CP ban hành ngày 8 tháng 2 năm 2014 quy định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, các điều kiện đảm bảo hoạt động và nhân lưc của y tế xã, phường, thị trấn vàcó hệu lực thi hành kể từ ngày 31 táng 10 năm
2015 Tổ chức y tế xã, phường, thị trấn là đơn vị y tế thuộc trung tâm y tế hyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, được thành lập theo đơn vụ hành chính xã, phường, thị trấn TYT chức năng cung cấp, thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân tại địa bàn xã
Y tế thôn bản: y tế thôn bản hoạt động theo chế độ không chuyên trách tại thôn, bản: có trách nhiệm chủ động bố trí, sắp xếp thời gian để đảm bảo thực hiện các nhiệm
vụ theo quy định và theo sự phân công của trưởng TYT Nhân viên y tế thôn bản chịu
sự quản lý, giám sát về hoạt động của UBND xã, trưởng thôn, bản; có mỗi quan hệ phối hợp với các tổ chức quần chúng, đoàn thể tại thôn bản Nhân viên y tế thôn bản
đã khắc phục tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực ở các thôn bản đặc biệt là khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa [7]
1.3 Một số nghiên cứu về thực trạng sử dụng dịch vụ y tế tại Việt Nam
Theo nghiên cứu của Hoàng Trung Kiên (2009) tiến hành tại xã Ngũ Hiệp huyện Thanh Trì – Hà Nội có 80% người ốm sử dụng dịch vụ KCB tại TYT vì lý do bệnh nhẹ, lý do gần nhà chiếm tới 92,3% [22] Tỷ lệ người ốm trong nghiên cứu của
Lê Thục Lan tại xã Tử Cường, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2009 [25] sử dụng DVYT tại TYT vì lý do bệnh nhẹ là 50,7%, do có thẻ BHYT có nơi đăng kí KCB ban đầu tại TYT là 48%
Trang 22Theo nghiên cứu đánh giá thực hiện hoạt động cung cấp DVYT tại TYT xã của
Bộ Y tế năm 2011 [8] tiến hành tại 5 tỉnh Tuyên Quang, Nam Định, Khánh Hòa, Kon Tum và Sóc Trăng cho thấy tỉnh Kon Tum có lượt KCB trung bình thấp nhất, chỉ có 9,5 lượt KCB/ ngày trong khi số lượt KCB của Khánh Hòa là 31,4 lượt, Sóc Trăng là 35,6 lượt là khá cao Số loại thuốc BHYT tại 30 xã rất khác nhau, xã nhiều nhất có 120 loại (Sóc Trăng), xa ít nhất có 25 loại (Tuyên Quang) Về nhân lực, trung bình mỗi TYT có từ 5,2 - 6,7 CBYT
Trong nghiên cứu về sử dụng dịch vụ KCB của người dân ở 7 xã/ phường thị xã Chí Linh , Hải Dương năm 2011 [18], nhóm tác giả đã tiến hành thu thập thông tin từ tháng 8/2011 đến tháng 10/2011 trên 1.370 hộ gia đình để tìm hiểu tình trạng ốm bệnh trong vòng 4 tuần trước điều tra và việc sử dụng DVYT của từng cá nhân trong hộ gia đình đó Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hộ gia đình có người ốm/ bệnh trong 4 tuần trước điều tra là 53,9%, trong đó khoảng 30% hộ có hơn 1 người ốm, Khi bị ốm/ bệnh chủ yếu là người dân tự mua thuốc về điều trị là 54%, 34,8% sử dụng DVYT ngoài công lập, tỷ lệ người điều trị nội trú chiếm 5,2% và tỷ lệ người dân mời thầy thuốc về nhà để tiêm hoặc khám, điều trị bệnh chiếm 8,4% Nghiên cứu đưa ra tỷ lệ người dân
sử dụng DVYT ngoài công lập là 41%, công lập là 59% Trong các CSYT công thì tỷ
lệ được lựa chọn nhiều hơn là TYT (16,9%) sau đó mới đến bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh vì lý do gần nhà và có thẻ BHYT Khu vực sinh sống, trình độ học vấn và tuổi cũng có liên quan đến việc lựa chọn DVYT và cơ sở KCB Theo nhóm tác giả việc tăng cường chất lượng dịch vụ KCB ở y tế cơ sở vẫn là ưu tiên hàng đầu để thúc đẩy người dân sử dụng DVYT phù hợp khi bị ốm, bệnh thay cho việc tự mua thuốc để điều trị, cần phát huy hiệu quả và mở rộng độ bao phủ BHYT, giảm tình trạng vượt tuyến và chi phí KCB không cần thiết
Trong nghiên cứu của Phùng Thị Quỳnh Lan về thực trạng sử dụng DVYT tại TYT của người cao tuổi tại xã Đông Xuân – huyện Thanh Oai – Hà Nội, năm 2013 và một số yếu tố liên quan [26] đã phỏng vấn 305 người cao tuổi bằng bộ câu hỏi định lượng, được chọn bằng phương pháp chọn mẫu toàn bộ cho thấy: trong khoảng 4 tuần
Trang 23trước điều tra có khoảng 67,5% người cao tuổi bị ốm/ bệnh, hình thức tự mua thuốc được người cao tuổi lựa chọn nhiều nhất (35,6%), người cao tuổi bị ốm/bệnh đi khám tại TYT đứng thứ hai (28,3%); đa số người cao tuổi đã dùng thuốc tây y cho lần ốm gần nhất TYT chỉ thực hiện 35,8% các kỹ thuật theo yêu cầu của Bộ y tế Có mối liên quan giữa KCB ở TYT và trình độ học vấn, mức sống hiện tại, khoảng cách và thời gian tới TYT của ngươi cao tuổi, nhưng không có mối liên quan giữa phương tiện đi KCB của người cao tuổi với việc sử dụng dịch vụ KCB tại TYT Lý do chính KCB tại TYT là: gần nhà, thái độ tốt, quen chữa ở trạm và BHYT đăng kí KCB tại TYT Lý do chính không sử dụng KCB tại TYT là: xa nhà, mất thời gian, quen chữa nới khác, bệnh nhẹ, chữa nơi khác rẻ hơn và do người khác quyết định
1.4 Thực trạng sử dụng dịch vụ y tế của người nghèo
Người nghèo có xu hướng tìm kiếm các dịch vụ KCB nội trú tại TYT xã, phòng khám đa khoa khu vực và bệnh viện huyện trong khi người giàu sử dụng dịch vụ tại tuyến tỉnh/ trung ương Tỷ lệ người nghèo sử dụng dịch vụ KCB nội trú tại bệnh viện huyện cao hơn so với người giàu (42% bệnh nhân nội trú là người nghèo so với 16,9% bệnh nhân nội trú là người giàu) Khoảng 14,4% người nghèo so với 5,4% người giàu
sử dụng dịch vụ KCB nội trú tại TYT xã Ngược lại, người nghèo sử dụng dịch vụ KCB nội trú tại các CSYT tuyến tỉnh và tuyến trung ương thấp hơn đáng kể so với người giàu [29] BHYT là nội dung cơ bản của hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam, là một trong những công cụ quan trọng để phân phối lại tài chính, góp phần tạo nên sự bình đẳng và công bằng xã hội Việc thực hiện chế độ BHYT cho người nghèo đã phát huy được tinh thần ân ái dân tộc, trong những năm gần đây, BHYT cho người nghèo
đã có những kết quả đáng được khích lệ:
Số tỉnh và thành phố hoàn thành thủ tục cấp thẻ BHYT cho người nghèo, số thẻ BHYT cấp cho người nghèo ngày càng gia tăng Số tỉnh, thành phố hoàn thành thủ tục cấp thẻ BHYT của năm 2000 tăng 129,4% so với năm 1999 Đến năm 2001 thì tăng 109,1% so với năm 2000 [45] Hiện tại số tỉnh, thành phố hoàn thành thủ tục cấp thẻ BHYT cho người nghèo ngày càng có xu hướng gia tăng cao hơn, số người nghèo
Trang 24tham gia BHYT cũng tăng nhanh qua các năm Qua điều tra cho thấy số người tham gia BHYT cho người nghèo năm 2009 tăng 119,2% so với năm 2008 Đến năm 2010,
số người tham gia BHYT cho người nghèo tăng 135,4% so với năm 2009 Đến năm
2014, số người tham gia BHXH (ở cả 3 loại hình BHYT bắt buộc, BHXH tự nguyện
và bảo hiểm thất nghệp) tăng 5,35% so với năm 2013 Tổng số tham gia BHXH là 11.647.784 người, tăng 590.356 người [9]
Thông qua phát triển mạng lưới y tế xã, phường đã phần nào đáp ứng được nhu cầu CSSK của người dân ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là người nghèo do điều kiện kinh tế khó khăn nên ít có cơ hội tiếp cận DVYT, đồng thời khắc phục được các tình trạng quá tải tuyến trên, thực hiện phân bổ lại nguồn quỹ BHYT giữa các vùng thành thị và nông thôn [10]
Số lượt KCB sử DVYT và chi phí được thống kê năm 2016 theo báo cáo của
Tổng chi phí điều trị nội trú (triệu đồng)
Bình quân đợt điều trị nội trú (đồng)
Tổng
số lượt khám / điều trị (nghì
n lượt)
Chi phí KCB BHYT (triệu đồng)
Chi phí bình quân/đầ
u thẻ (đồng)
Tần suất KCB/đ
ầu thẻ (lượt)
Nhó 2.149.66 73.71 1.724.7 811.14 31.27 3.874.45 434.116 3,50
Trang 251.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ y tế khám chữa bệnh của người nghèo
1.5.1 Yếu tố cá nhân
Tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng sức khoẻ
Nghiên cứu của Phạm Văn Bách và cộng sự (2012) được tiến hành khảo sát trên
1067 người nghèo có thẻ BHYT cho thấy số người nghèo sử dụng thẻ BHYT khi KCB
là nữ giới cao gấp 2 lần nam giới Đa số người nghèo sử dụng thẻ BHYT có trình độ
Trang 26học vấn dưới cấp 2 Mọi lứa tuổi đều có sử dụng thẻ BHYT, tuy nhiên lứa tuổi tập trung nhiều nhất là ở tuổi lao động Những người nghèo sử dụng thẻ BHYT đa số có tình trạng sức khoẻ bình thường trước đó, những người bị mắc các bệnh mạn tính chiếm tỷ lệ rất thấp Về tình trạng lao động có đến 2/3 người nghèo sử dụng thẻ BHYT khi KCB là người có thu nhập ổn định, các đối tượng không có việc làm thu nhập ổn định có tỷ lệ sử dụng thẻ BHYT rất thấp [1]
Giới tính, trình độ văn hóa và nhận thức về bệnh tật của người bệnh cũng là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng DVYT của người nghèo Nghiên cứu về thực trạng cung ứng dịch vụ của TYT xã ở một số vùng miền của Nguyễn Hoàng Long
đã chỉ ra rằng người nghèo là nam giới điều trị dịch vụ không sử dụng DVYT tại bệnh viện nhiều hơn nữ giới, nam giới có khả năng sẵn sàng chi trả nhiều hơn nữ giới [27] Nghiên cứu của Vương Lan Mai về giới trong việc sẵn sàng chi trả KCB nam và nữ cho thấy nữ sẵn sàng chi trả thấp hơn nam, nữ sẵn sàng chi trả 16.682 đồng/ lượt so với nam sẵn sàng chi trả 20.073 đồng/ lượt [28]
Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc người nghèo tiếp cận và sử dụng DVYT Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng giáo dục là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc KCB Kết quả từ Điều tra y tế quốc gia 2001-2002 cho thấy trình độ văn hoá có mối liên hệ chặt chẽ với việc KCB khi ốm đau [12] Báo cáo kết quả điều tra y tế quốc gia năm 2001-2002 đã cho thấy những người có trình độ học vấn cao có
xu hướng tiếp cận DVYT nhiều hơn so với những người không được đến trường [59]
Hiểu biết về bệnh tật cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm hình thức CSSK của người dân Người nghèo và người dân tộc thiểu số thường có những nhận biết chậm về dấu hiệu của bệnh tật Hiểu biết hạn chế về bệnh tật dẫn đến việc chậm trễ trong quyết định tìm kiếm dịch vụ CSSK [31]
- Tình trạng sức khỏe của người bệnh
Theo nghiên cứu của Phạm Văn Bách và cộng sự (2012) về tình trạng bệnh tật của người nghè: trong 1067 người được phát thẻ chỉ có 13% người có bệnh mạn tính,
Trang 27còn lại hầu hết có sức khỏe bình thường lúc được cấp thẻ BHYT (87%) Kết quả này
có thể giải thích là do người nghèo hầu hết nằm trong lứa tuổi ít bị bệnh (từ 10-50 tuổi chiếm 75%) Vì đa số những người được cấp thẻ đa số trong tình trạng bình thường nên tỷ lệ KCB của các đối tượng này không cao [1]
Nghiên cứu tại Thái Lan (1997) cho thấy việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ KCB của người dân phụ thuộc vào việc cung cấp và chất lượng dịch vụ; ở nông thôn chỉ có 15,5% và 0,8 lần tiếp xúc/người/năm tiếp cận dịch vụ KCB của nhà nước Ảnh hưởng của yếu tố kinh tế lên việc sử dụng dịch vụ là khá rõ nét, những người càng nghèo càng bị hạn chế tiếp cận với CSYT, có xu hướng tự chữa bệnh hoặc giảm chi phí bằng cách đến cơ sở y tế gần nhà, ngược lại những người giàu dễ dàng quyết định đi KCB ở CSYT có chất lượng cao mặc dù rất xa [58]
- Kiến thức về BHYT
Geoffrey Setswe và các cộng sự (2015) đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang
2 giai đoạn có hệ thống về nhận thức của những người cư trú tại Limpopo, Natal và các tỉnh miền đông Cape (Nam Phi) về BHYT quốc gia Nghiên cứu được tiến hành trên 748 người, dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng điện thoại di động
KwaZulu-hỗ trợ phỏng vấn cá nhân Kết quả cho thấy 80,3% người được hỏi nhận thức được về
về BHYT; 49,8% số người trả lời không biết cách BHYT hoạt động và 71,8% người thiếu nhận thức về nguồn gốc và sự phát triển của BHYT, 48,1% người biết rằng Quỹ BHYT sẽ chi trả chi phí y tế nếu một người bị bệnh và 45,7% người biết rằng với BHYT yêu cầu sức khỏe cơ bản được đảm bảo và nếu người đó bị ốm, điều trị sẽ do Quỹ BHYT chi trả; 50,9% người trả lời không hiểu Quỹ BHYT sẽ chi trả như thế nào
về CSSK Chỉ có 44,8% biết BHYT sẽ trả cho các dịch vụ CSSK nhận được như thế
nà Những người có sự hiểu biết về BHYT sẽ sử dụng thẻ BHYT khi KCB cao hơn những người không có sự hiểu biết về BHYT cũng như cách thức BHYT chi trả [57]
1.3.2 Yếu tố cơ sở y tế
- Số lượng và chất lượng trang thiết bị:
Trang 28Tùy theo sự hài lòng của từng bệnh nhân cũng như tùy theo cơ sở tuyến điều trị,
có người cho rằng trang thiết bị đầy đủ và hiện đại Thực tế cho thấy rằng, do trình độ học vấn thấp bên cạnh thiếu kiến thức về chuyên môn nên cách nhìn nhận của người dân khác nhau Tuy nhiên, người dân đều thừa nhận y tế thành phố có trang thiết bị tốt, hiện đại hơn tuyến quận, huyện Theo Ngô Văn Đôn (2006) người dân gặp phải khó khăn khi sử dụng DVYT: 62% chờ đợi lâu; 54% thiếu thuốc, trang thiết bị kém; 40% NVYT không nhiệt tình; 18% là thủ tục hành chính, chuyển tuyến [20] Nghiên cứu của Dương Văn Vịnh tại Bắc Giang (2016) lại cho thấy: 5,3% không hài lòng với chất lượng DVYT Lý do không dùng thẻ BHYT để KCB: 54,1% do chờ đợi lâu; 2,8% cho rằng người có thẻ BHYT không nhận được các dịch vụ tốt; 54,2% sợ bị kỳ thị và phân biệt đối xử [55]
- Thuốc và chất lượng thuốc:
Theo nghiên cứu của Phạm Văn Bách và cộng sự (2012) đã chỉ ra một số ý kiến cho rằng thuốc tại các CSYT không được đầy đủ dẫn đến người nghèo có xu hướng không sử dụng thẻ BHYT khi KCB Nhà nước có quan tâm, có chính sách cấp số KCB miễn phí cho người nghèo, nhưng khi họ dùng thẻ bảo hiểm này đến KCB thì các NVYT đều lơ là, chậm chễ và phát thuốc không đầy đủ Đây là thực trạng của BHYT nói chung, không phải chỉ riêng BHYT cho người nghèo Do bị khống chế mức trầm trọng KCB và phân cấp điều trị nên vẫn còn nhiều người bệnh phải mua thuốc bên ngoài Chất lượng thuốc cũng được nhiều người dân có thẻ BHYT nhận xét khác nhau
Có nhiều người nghèo sử dụng thẻ BHYT và cho rằng chất lượng thuốc rất tốt Trong khi đó nhiều bệnh nhân lại cho rằng chất lượng thuốc của thẻ BHYT cấp không tốt [1]
Quan niệm về chất lượng thuốc của người dân đa số là do chủ quan Người bệnh thường có xu hướng nghĩ rằng thuốc đắt tiền mới là thuốc tốt Do đó đây chỉ là ý kiến chủ quan của một số người nghèo sử dụng DVYT nhận định Tuy nhiên, cũng cần phải xem xét, vì người nghèo có BHYT hầu hết được chữa bệnh ban đầu tại cơ sở y tế cấp quận, huyện Tại những cơ sở này, theo quy định chủ yếu là thuốc giá rẻ, thuốc
Trang 29của các nhà tài trợ, chất lượng thuốc không bằng chất lượng thuốc tại các cơ sở y tế thành phố Đây cũng là một hình thức phân biệt, đối xử cần phải lưu ý
- Chất lượng khám, chữa bệnh của bác sỹ:
Nghiên cứu về “Những yếu tố liên quan đến việc sử dụng thẻ BHYTNN” của Phạm Văn Bách và cộng sự (2012) cho thấy có nhiều ý kiến cho rằng khi sử dụng thẻ BHYT các bác sỹ chỉ khám qua loa, đại khái khiến người nghèo không muốn sử dụng thẻ BHYT vào các lần khám tiếp theo Có thể là do số lượng bệnh nhân quá lớn hoặc
do tâm lý chung của bác sỹ hay xem thường bệnh nhân hoặc do tâm lý bác sỹ phải phục vụ bệnh nhân có thẻ BHYT, đặc biệt là những người nghèo sử dụng thẻ BHYT Cũng có thể những bệnh nhân than phiền là những bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính (tăng huyết áp, đái tháo đường) phải đến các cơ sở y tế thường xuyên Tuy nhiên cũng
có nhiều người nghèo cho rằng KCB bằng thẻ BHYT rất chất lượng [1]
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Quang và cộng sự về “Khảo sát chỉ số hài lòng của người dân về dịch vụ công năm 2006 tại thành phố Hồ Chí Minh” đã ghi nhận về việc chọn nơi KCB, ý kiến của người dân được khảo sát cho thấy có nhiều nguyên nhân: CSYT gần nhà 18,7%, CSYT có đăng ký BHYT 17%, có khả năng khám và điều trị tốt 14,4%, có y bác sĩ giỏi 2,1%, có trang thiết bị y tế tốt 8,8%, vài ý kiến cho
là do loại bệnh đòi hỏi tuyến y tế chuyên ngành điều trị Thời gian chờ khám cũng là một trong những yếu tố quyết định đến mức độ hài lòng của người dân, có đến 47% ý kiến cho rằng chờ khám bệnh chỉ mất dưới 30 phút, 30,9% ý kiến cho rằng phải mất từ
30 đến 60 phút chờ đợi để được KCB và thời gian chờ đợi để được khám tại các khám tại các khu vực y tế tư nhân ít hơn các tuyến y tế nhà nước Chất lượng phục vụ còn thể hiện ở tỷ lệ hài lòng về chẩn đoán và điều trị đúng bệnh, sự cảm nhận của người bệnh đuộc chẩn đoán đúng bệnh, cho đúng thuốc là khá cao, đạt 88% về ý kiến Về thái độ phục vụ, 59,6% ý kiến cho rằng các tuyến y tế, NVYT có thái độ sẵn sàng tiếp nhận KCB là tốt, 34,8% là bình thường và vẫn còn 5,2% là không tốt Về kiến nghị chung: hầu hết ý kiến đều đề cập đến những vấn đề đang bức xúc của ngành y tế như:
Trang 30đầu tư trang thiết bị hiện đại, nhất là cho các TTYT Quận, huyện (14,6%); cần chấn chỉnh thái độ phục vụ (10,6%); Giảm bớt chi phí KCB (10,5%) [32]
- Địa điểm khám, chữa bệnh bằng BHYT cách xa nơi ở và nơi làm việc:
Nghiên cứu về “Những yếu tố liên quan đến việc sử dụng thẻ BHYTNN” của Phạm Văn Bách và cộng sự (2015) đã chỉ ra rằng hầu hết các ý kiến cho rằng xa cơ sở KCB ban đầu, xa nhà là một trong những yếu tố quan trọng nhất khiến những người có BHYTNN không thích sử dụng thẻ BHYT khi mắc bệnh nhẹ [1]
Người được xếp vào diện nghèo của địa phương (700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị [30]) là những người có thu nhập thấp, hầu hết là những người không có nghề nghiệp ổn định Do đó, khi bị bệnh nhẹ, giải pháp tự mua thuốc điều trị bệnh tại nhà là giải pháp tối ưu Đi khám bệnh ở xa, ngoài việc tốn thời gian thì còn mất nhiều chi phí khác, ảnh hưởng đến các chi tiêu khác như tiền nhà, tiền ăn, tiền đóng học cho con [1]
“BHYT cho người nghèo – Thực trạng và giải pháp” trên Tạp chí BHXH số 6B/2016 (132) của Bùi Văn Hồng cho thấy: Đa số người nghèo do ở xa các TTYT, các
cơ sở KCB, đi lại khó khăn nên ngại đi KCB Năm 2015, tần suất KCB của người nghèo chỉ có 0,92 lần/thẻ/năm, con số này với các đối tượng bắt buộc khác là 2,87, tự nguyện học sinh là 1,05, cao nhất là đối tượng tự nguyện nhân dân 5,15 Tần suất KCB của đối tượng người nghèo là thấp nhất và chi phí một lần KCB bình quân (nội trú và ngoại trú) cũng thấp hơn một số đối tượng khác, chỉ có 68.000 đồng/lượt, thấp hơn cả mức bình quân 92.000 đồng của tất cả các đối tượng Trong khi đó, đố tượng bắt buộc khác là 109.000 đồng, tự nguyện nhân dân là 106.000 đồng [21]
- Thời gian chờ đợi:
Như các công trình nghiên cứu khác [15, 16], thời gian chờ đợi lâu là một trong những ý kiến được đề cập nhiều nhất Chờ đợi lâu có thể làm ảnh hưởng không tốt đến tâm lý của người nghèo Người nghèo có thẻ BHYT có thể nghĩ rằng mình bị phân biệt
Trang 31đối xử do họ sử dụng thẻ BHYT khi KCB Chờ lâu có nghĩa là thời gian dành cho KCB có thể ảnh hưởng đến thu nhập của họ, do đó nhiều người nghèo có thẻ BHYT đã chọn giải pháp tự mua thuốc, tự điều trị để tiết kiệm thời gian
- Thủ tục:
Nghiên cứu về “Những yếu tố liên quan đến việc sử dụng thẻ BHYTNN” của Phạm Văn Bách và cộng sự (2015) đã chỉ ra hầu hết những người nghèo sử dụng thẻ BHYT đều cho rằng thủ tục còn rườm rà làm ảnh hưởng đến tâm lý của người sử dụng thẻ Thủ tục rườm rà là một trong những nguyên nhân gây tốn thời gian của người bệnh khi sử dụng thẻ BHYT KCB tại các bệnh viện công “Việc phân tuyến, thủ tục hành chính để được khám cũng là một trong những vấn đề khiến người nghèo chỉ sử dụng thẻ khi bệnh nặng, bất đắc dĩ”
- Chất lượng và thái độ phục vụ:
Như những nghiên cứu trước đây [19] kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng
và thái độ phục vụ của NVYT đối với người nghèo sử dụng thẻ BHYT cần phải được quan tâm nhiều hơn Ngoài những yếu tố đã nêu, còn có nguyên nhân khách quan, trong khi yếu tố chất lượng KCB và thái độ phục vụ của NVYT hầu hết do chủ quan Thái độ phục vụ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự hài lòng của bệnh nhân Bệnh nhân đến khám bệnh chủ yếu là những người không có kiến thức chuyên môn về y khoa, do đó họ không đánh giá được nhiều về chất lượng điều trị mà họ chủ yếu đánh giá về thái độ phục vụ của NVYT Thái độ chân tình của NVYT sẽ làm cho người bệnh hài lòng và sẵn sàng bỏ qua khuyết điểm khác của DVYT [1]
- Phân biệt đối xử:
Một trong những vấn đề được nhiều bệnh nhân than phiền đó là thái độ phục vụ của NVYT đối với những người nghèo sử dụng thẻ BHYT Hiện tượng tiếp đón, ứng
xử thiếu tế nhị của NVYT hiện nay xảy ra phổ biến ở các cơ sở y tế công [30]
Trang 32Nghiên cứu của Phạm Văn Bách và cộng sự (2012) đã cho thấycó 91% người không sử dụng thẻ BHYT cho rằng khi đi khám bệnh bằng thẻ BHYT nghèo bị đối xử phân biệt Chỉ có 9% cho rằng không có sự đối xử phân biệt
Yếu tố gia đình
Theo nghiên cứu của Phạm Văn Bách và cộng sự (2012) về việc sử dụng thẻ BHYT của người nghèo khi KCB cho thấy đây là những gia đình có điều kiện khó khăn, có mức thu nhập thấp, những gia đình có từ 4 người trở lên thường không sử dụng thẻ BHYT khi KCB mà thay vào đó là đi mua thuốc tại các quầy thuốc tư nhân Tuy nhiên ở một nghiên cứu khác tại huyện Tiên Du lại cho thấy không có mối liên quan giữa số lượng thành viên trong gia đình tới việc mua và sử dụng thẻ BHYT [17] Điều này có thể giải thích do việc tham gia và sử dụng thẻ BHYT trên tinh thần tự nguyện, các thành viên trong các gia đình có thể tham gia và sử dụng thẻ BHYT theo nhu cầu và không bị ảnh hưởng bới các thành viên khác trong gia đình
Một số nghiên cứu gần đây tại khu vực Đông Á cho thấy các yếu tố kinh tế, chất lượng KCB, chế độ chính sách BHYT là những rào cản chủ yếu tác động đến việc
sử dụng thẻ BHYT khi KCB của tất cả các đối tượng, đặc biệt là yếu tố về kinh tế Những người thuộc các hộ gia đình nghèo có điều kiện kinh tế khó khăn, BHYT sẽ hỗ trợ được phần nào chi phí KCB người nghèo phải chi trả [48] Theo nghiên cứu của Ngô Văn Đôn đã chỉ ra những người cs mức thu nhập thấp hơn sẽ có xu hướng sử dụng thẻ BHYT nhiều hơn những đối tượng có thu nhập cao hơn [17]
Yếu tố xã hội
Theo Ngô Văn Đôn (2006) những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thẻ BHYT của người dân khi KCB: 62% chờ đợi lâu, 54% thiếu thuốc, trang thiết bị kém, 40% NVYT không nhiệt tình, 18% là thủ tục hành chính, chuyển tuyến [17] Theo nghiên cứu của Vương Lan Mai (2005) cho thấy chất lượng dịch vụ y tế còn kém, thời gian chờ đợi lâu khi khám chữa bệnh, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện với BHYT [22] Theo nghiên cứu tại tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015 cho thấy thời gian chờ đợi
Trang 33KCB lâu là 19,5%; khó khăn trong chuyển tuyến là 14,0%; khó khăn trong làm thủ tụ thanh toán là 9,0% và các lý do khác là 12,0% [21]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Vịnh cho thấy lý do bệnh nhân không sử dụng thẻ BHYT liên quan đến môi trường chính sách và dịch vụ BHYT: 54,1% do thời gian chờ đợi lâu; 2,9% cho rằng người có thẻ BHYT kông nhận được các dịch vụ chăm sóc và KCB tốt nhất; 54,1% sợ bị kỳ thị và phân biệt đối xử; thủ tục KCB bằng thẻ BHYT phức tạp 2,9%; thủ tục chi trả/ thanh toán phức tạp 1,8%, phải đăng ký KCB ban đầu tại các cơ sở của địa phương 55,6%; không hài lòng với chất lượng dịch vụ KCB BHYT 5,3% [45]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thụy về bất bình đẳng trong tiếp cận dịch
vụ cho thấy: có sự thiếu niềm tin vào chất lượng dịch vụ do BHYT chi trả; có sự kỳ thị
và phân biệt đối xử trong cộng đồng và các cơ sở y tế, thủ tục hành chính phức tạp và thời gian xử lý hồ sơ kéo dài khi tham gia và thanh toán BHYT như quy định gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi hồ sơ, thủ tục phức tạo và thời gian xét duyệt kéo dài Đây chính là những yếu tố quyết định đến việc có hay không sử dụng thẻ BHYT khi KCB của người nghèo [39]
Theo Lưu Viết Tĩnh (2010) nghiên cứu về thực trang mua và sử dụng thẻ BHYT tại Yên Bái cho thấy tỷ lệ người dân nghe nói về thẻ BHYT là 70,2%, trong đó nguồn thông tin từ đài phát thanh và ti vi là cao nhất chiếm tỷ lệ 48,3%; nhu cầu tham gia và sử dụng thẻ BHYT ở những người đã nghe nói về thẻ BHTY là 74,3%, cao hơn các nhóm còn lại là 39% (p<0,05) [33] Cũng theo nghiên cứu của Dương Văn Vịnh tại Bắc Giang cho thấy: tỷ lệ các đối tượng nghên cứu đã từng nghe về BHYT là 90,3% Nguồn thông tin nghe chủ yếu là từ loa truyền thanh chiếm 76,9%, đài, ti vi chiếm 65%, tờ rơ, áp phích chiếm 44,7% [45]
Trang 341.4 Tình hình sử dụng dịch vụ y tế tại tỉnh Bắc Giang
1.4.1 Thông tin chung của tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng đông bắc Bắc Bộ, phía đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp tỉnh Thái Nguyên và thành phố Hà
Nội và phía nam giáp tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hải Dương
Bắc Giang có diện tích tự nhiên 3.851,4 km², chiếm 1,2% diện tích tự nhiên của Việt Nam Theo tài liệu năm 2000, trong tổng diện tích tự nhiên của Bắc Giang, đất nông nghiệp chiếm 32,4%; đất lâm nghiệp có rừng chiếm 28,9%; còn lại là đồi núi, sông suối chưa sử dụng và các loại đất khác
Theo điều tra dân số năm 2018, dân số Bắc Giang có 1.672.000 người, với mật
độ dân số 434 người/km², gấp 1,5 lần mật độ dân số bình quân của cả nước, 21,5% dân
số sống ở đô thị và 78,5% dân số sống ở nông thôn Như vậy, Bắc Giang có dân số đô thị thấp hơn so với trung bình toàn quốc (trung bình toàn quốc năm 2018 là 35%)
Trên địa bàn Bắc Giang có 6 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đông nhất
là người Kinh, chiếm 88,1% dân số toàn tỉnh, tiếp đến là người Nùng chiếm 4,5%; người Tày 2,6%; người Sán Chay và người Sán Dìu, mỗi dân tộc 1,6%; người Hoa 1,2%; người Dao 0,5% Tỷ lệ nam giới chiếm khoảng 49,95% dân số, nữ giới khoảng 50,05% dân số Số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 62,15% dân số, trong đó lao động được đào tạo nghề chiếm 28%; số hộ nghèo chiếm 7.2% [37]
1.4.2 Tình hình sử dụng DVYT tại tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang luôn xác định BHXH và BHYT là 2 trụ cột chính trong chính sách
an sinh xã hội, đặc biệt là chính sách hỗ trợ 100% kinh phí mua BHYT cho hộ nghèo, quan tâm đến đối tượng chính sách, giải quyết thủ tục BHYT đơn giản, nhanh gọn Chính vì vậy BHYT tỉnh Bắc Giang trong những năm gần đây đã đạt được những thành tựu quan trọng nâng mức độ bao phủ BHYT toàn tỉnh 83% năm 2018 [37]
Trang 35Bảng 1.2: Tình hình phát triển BHYT tỉnh Bắc Giang [2]
Nhóm
Tình hình tham gia BHYT qua các năm của các nhóm đối tượng
Số người tham gia (người)
Tỷ lệ trong tổng số đối tượng (%)
Số người tham gia (người)
Tỷ lệ trong tổng số đối tượng (%)
Số người tham gia (người)
Tỷ lệ trong tổng số đối tượng (%)
Nhóm 1 205.231 45.3 216.694 52.2 243.292 67.1 Nhóm 2 48.013 100 49.219 100 54.371 100 Nhóm 3 677.284 100 685.235 100 666.981 100 Nhóm 4 281.669 68 493.229 75 563.600 80 Nhóm 5 170.825 45 88.389 48 49.223 60.3
Nhóm 1: (do người lao động và người sử dụng lao động đóng) theo số liệu niên
giám thống kê lực lượng lao động trong độ tuổi toàn tỉnh có trên 860.000 người tuy nhiên chủ yếu là lao động ký hợp đồng trên 3 năm, số lao động làm việc tại các cơ quan đơn vị, doanh nghiệp trong tỉnh, trên 310.000 người còn lại là lao động phi chính thức, ký hợp đồng dưới 3 tháng
Trang 36Nhóm 2 (nhóm các đối tượng do NSNN đảm bảo 100% nguồn kinh phí đóng
BHYT như Người nghèo, Trẻ em dưới 6 tuổi, Cận nghèo theo QĐ705, người sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn ): là nhóm do NSNN hỗ trợ mức đóng nên tỷ lệ tham gia BHYT là 100%
Nhóm 3 (nhóm do quỹ BHXH đóng: Hưu trí, người hưởng trợ cấp tuất trên 80
tuổi, BHTN ): nhóm này được quỹ BHXH đóng 100% kinh phí do vậy tỷ lệ tham gia BHYT đạt 100%
Nhóm 4 (nhóm do ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí) gồm có các
đối tượng như sau:
Đối tượng người cận nghèo: Đối tượng cận nghèo được Ngân sách Trung ương
hỗ trợ 70% mức đóng, cá nhân phải đóng 30% mức đóng Tuy nhiên từ 2014 đến năm
2019 được Ngân sách tỉnh hỗ trợ 10%, dự án Norred hỗ trợ 20% mức đóng còn lại do vậy 100% người cận nghèo trong tỉnh đã được cấp thẻ BHYT
Đối tượng Người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
và diêm nghiệp có mức sống trung bình: Đối tượng này mới được thực hiện từ năm
2015, được Ngân sách Trung ương hỗ trợ 30% mức đóng, cá nhân đóng 70% Do mới được triển khai, công tác rà soát bình xét ở địa phương chưa kịp thời nên năm 2015 tỷ
lệ người tham gia BHYT đạt thấp Cuối năm 2016 hội đồng nhân dân tỉnh thông qua ngân sách hỗ trợ đóng BHYT 20% từ nguồn ngân sách của tỉnh cho đối tượng này từ năm 2017 nên số lượng đăng ký tham gia tăng lên đáng kể Tính đến cuối năm 2017,
đã có 1.538.078 người trong tỉnh tham gia BHYT, độ bao phủ BHYT của tỉnh đạt 92%, vượt chỉ tiêu được giao theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và của UBND tỉnh
tỷ lệ bao phủ BHYT đã vượt chỉ tiêu mà tỉnh đề ra
Trang 37Bảng 1.3 Tổng hợp số lượt KCB của người nghèo sử dụng thẻ BHYT tại một số
bệnh viện tại Bắc Giang [53]
Bệnh viện
Người nghèo
Dân tộc thiểu số
Người nghèo
Dân tộc thiểu số
Người nghèo
Dân tộc thiểu số
BVĐK tỉnh 3.837 1.703 2.952 1.464 1.628 1.398 BVĐK Lục
1.4.3 Thông tin chung huyện Hiệp Hòa
Huyện Hiệp Hòa là một huyện trung du thuộc tỉnh Bắc Giang, một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam Huyện cách thành phố Bắc Giang 30 km và cách thủ đô Hà Nội 60 km, phía Đông Bắc giáp huyện Tân Yên, phía Đông giáp huyện Việt Yên, phía
Trang 38Nam giáp huyện Yên Phong của tỉnh Bắc Ninh, phía Tây Nam giáp huyện Sóc Sơn của Hà Nội, phía Tây Bắc giáp các thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình của tỉnh Thái Nguyên Huyện có diện tích là 201 km2 với tổng dân số năm 2017 là 237.900 người Người dân chủ yếu là dân tộc Kinh với nghề nghiệp chủ yếu là sản xuất lương thực, rau màu, chăn nuôi gia súc Hiệp Hòa là một huyện điển hình của tỉnh Bắc Giang vơi
tỷ lệ người tham gia BHYT cao (năm 2017 đạt 82% [3]), số lượt khám BHYT năm
2017 là 269.889 lượt, năm 2018 là 324.715 lượt [40, 41]
Qua tổng kết đã đưa ra mô hình bệnh tật tại huyện:
Biểu đồ 1.1 Mô hình bệnh tật tại huyện Hiệp Hòa năm 2018 [38]
(Nguồn: Báo cáo tình hình bệnh tật tử vong theo ICD10, Sở Y tế Bắc Giang)
Qua biểu đồ trên ta nhận thấy các bệnh về hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa
là những bệnh thường gặp ở huyện Tuy nhiên theo đánh giá của CBYT đồng thời qua phỏng vấn nhanh cộng đồng thì người dân thường mắc các bệnh ở thể nhẹ, không đòi hỏi việc KCB chuyên sâu nên BVĐK trong thời gian qua đã đáp ứng tốt công tác khám và điều trị
Trang 39Biểu đồ 1.2 Mô hình bệnh tật của người nghèo tại huyện Hiệp Hòa năm 2018 [38]
(Nguồn: Báo cáo tình hình bệnh tật tử vong theo ICD10, Sở Y tế Bắc Giang
Qua biểu đồ ta có thể nhận thấy người nghèo mắc bệnh nhiều nhất về bệnh tim mạch, huyết áp chiếm tỷ lệ 43,2% Tiếp đến là các bệnh về hô hấp chiếm tỷ lệ 17,8%, bệnh về têu hóa chiếm tỷ lệ 13,7%, bệnh về nhiễm khuẩn và ký sinh trùng chiếm tỷ lệ 11,2% Đa số người nghèo đi khám chữa bệnh là mắc các bệnh mạn tính, các bệnh cấp tính chiếm tỷ lệ ít hơn
Trang 401.6 Khung lý thuyết
Đây là khung lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến việc người nghèosử dụng thẻ BHYT khi tham gia KCB Khung lý thuyết trong nghiên cứu này được xây dựng dựa trên sự tham khảo khung lý thuyết, cây vấn đề của các nghiên cứu trước đây có liên quan đến việc sử dụng thẻ BHYT của người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, nông dân như nghiên cứu của Phạm Văn Bách và cộng sự (2012), Nahria Kasum (2008), Chu Văn Tuyển (2005) và mô hình sinh thái [23, 24, 49, 56]
1: Thu thập bằng phương pháp định tính
2
Học viên không nghiên cứu về vấn đề này
Sử dụng DVYT khi KCB
Yếu tố gia đình :1
- Thu nhập của hộ gia đình
- Số lượng người trong hộ gia đình
- Khả năng chi trả khi gia đình có người đi KCB