Bộ câu hỏi của cơ quan Nghiên cứu y tế và chất lượng Hoa Kỳ đo lường 12 lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh đã được sử dụng cho nghiên cứu định lượng trên 357 nhân viên y tế NVYT và tiến
Trang 1HÀ NỘI –2019
Trang 2MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62.72.76.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN NGỌC BÍCH
HÀ NỘI –2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn:
Các Thầy, Cô giáo trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập;
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Ngọc Bích, Trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn;
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và các anh chị em đồng nghiệp tại Bệnh viện
đa khoa II Lâm Đồng đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia và hoàn thành khóa học đồng thời giúp tôi tiến hành thực hiện luận văn;
Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn;
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và tập thể lớp CKII TCQLYT Tây Nguyên khóa 4 đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Bảo Lộc, tháng 9 năm 2019 HUỲNH NGỌC THÀNH
Trang 4MỤC LỤC
Y
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ xi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU xii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm cơ bản 4 1.1.1 Sự cố y khoa 4
1.1.2 An toàn người bệnh 5
1.1.3 Văn hóa an toàn người bệnh: 5
1.2 Thực trạng VHATNB trên Thế giới và Việt Nam 6 1.2.1 Nghiên cứu trên Thế giới 6
1.2.2 Nghiên cứu tại Việt Nam 7
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới văn hoá ATNB của NVYT 9 1.3.1 Văn hóa quy trách nhiệm 9
1.3.2 Yếu tố cá nhân 10
1.3.3 Yếu tố tổ chức 11
Trang 51.4 Cách thức thích ứng bộ công cụ đánh giá văn hóa an toàn người bệnh được áp
1.4.1 Giới thiệu Bệnh viện II Lâm Đồng 13 1.4.2 Công tác ATNB tại Bệnh viện II Lâm Đồng 14
Chương 2 17ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17 2.1.2 Tiêu chuẩn chọn đối tượng tham gia nghiên cứu 17 2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 17
2.6.1 Mục tiêu 1 20 2.6.2 Mục tiêu 2 21
Chương 3: 24KẾT QUẢ 24
3.1.1 Lĩnh vực làm việc 24 3.1.2 Thâm niên công tác 25
Trang 63.1.3 Thời gian làm việc trong tuần 25
3.1.4 Nghề nghiệp chuyên môn 26
3.1.5 Cách tiếp xúc với người bệnh 26
3.2 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh 27 3.2.1 Làm việc nhóm trong khoa phòng 27
3.2.2 Quan điểm và hành động an toàn người bệnh của lãnh đạo 28
3.2.3 Học tập và cải tiến liên tục 29
3.2.4 Hỗ trợ xử trí các vấn đề an toàn người bệnh 29
3.2.5 Quan điểm chung về an toàn người bệnh 30
3.2.6 Phản hồi và trao đổi về những sai sót 31
3.2.7 Trao đổi cởi mở 31
3.2.8 Báo cáo sai sót 32
3.2.9 Làm việc nhóm giữa các khoa phòng 33
3.2.10 Bảo đảm nguồn nhân lực 33
3.2.11 Bàn giao và chuyển người bệnh 34
3.2.12 Văn hóa không đổ lỗi khi có sai sót 35
3.2.13 Nhân viên y tế đánh giá các khoa phòng an toàn 35
3.2.14 Tần suất báo cáo sai sót và sự cố y khoa 35
3.3 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh 36 3.3.1 Phân tích mối liên quan giữa các đặc điểm nghề nghiệp của nhân viên các khoa với việc đánh giá khoa phòng an toàn hoặc việc báo cáo sự cố 36
3.3.2 Phân tích mối liên quan giữa các tiểu mục VHATNB với việc đánh giá khoa phòng an toàn 37
Trang 73.4.1 Yếu tố tổ chức 38
3.4.2 Yếu tố cá nhân 40
Chương 4 42
BÀN LUẬN 42
4.1 Thông tin về đối tượng nghiên cứu 42 4.2 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh 43 4.2.1 Làm việc nhóm trong khoa phòng 43
4.2.2 Quan điểm và hành động an toàn người bệnh của lãnh đạo 43
4.2.3 Học tập và cải tiến liên tục 44
4.2.4 Hỗ trợ xử trí các vấn đề an toàn người bệnh 44
4.2.5 Quan điểm chung về an toàn người bệnh 45
4.2.6 Phản hồi và trao đổi về những sai sót 46
4.2.7 Trao đổi cởi mở 46
4.2.8 Báo cáo sai sót 47
4.2.9 Làm việc nhóm giữa các khoa phòng 47
4.2.10 Bảo đảm nguồn nhân lực 48
4.2.11 Bàn giao và chuyển người bệnh 49
4.2.12 Văn hóa không đổ lỗi khi có sai sót 49
4.2.13 Nhân viên y tế đánh giá các khoa phòng an toàn 50
4.2.14 Tần suất báo cáo sai sót và sự cố y khoa 50
4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đối với VHATNB 50 4.3.1 Một số yếu tố ảnh hưởng giữa các đặc điểm nghề nghiệp của nhân viên các khoa với việc đánh giá khoa phòng an toàn hoặc việc báo cáo sự cố 50
4.3.2 Mối liên quan giữa các tiểu mục văn hóa an toàn người bệnh với việc đánh giá khoa phòng an toàn 51
Trang 84.3.3 Mối liên quan với văn hóa an toàn người bệnh từ kết quả nghiên cứu định tính
53
KẾT LUẬN 55
1.1 Thực trạng VHATNB tại Bệnh viện II Lâm Đồng 55 1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB tại các khoa Bệnh viện II Lâm Đồng .55
KHUYẾN NGHỊ 56
1 Đối với Lãnh đạo các khoa và các phòng chức năng: 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC 60
Phụ lục 2 Phiếu khảo sát về ATNB Bệnh viện II Lâm Đồng 62
Trang 9HSOPSC: Hospital Survey on Patient Safety Culture –Bộ công cụ khảo sát văn hóa an
toàn người bệnh cho nhân viên y tế
VHAT: Văn hóa an toàn
VHATNB: Văn hóa an toàn người bệnh
Trang 10WHO: World Health Organization – Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.2.1 Tỷ lệ các tiểu mục thuộc yếu tố làm việc nhóm trong khoa phòng 27
Bảng 3.2.2 Tỷ lệ các tiểu mục thuộc yếu tố Quan điểm và hành động ATNB của lãnh đạo 28
Bảng 3.2.3 Tỷ lệ các tiểu mục thuộc yếu tố Học tập cà cải tiến liên tục 29
Bảng 3.2.4 Tỷ lệ các tiểu mục thuộc yếu tố Hỗ trợ xử trí các vấn đề ATNB 29
Bảng 3.2.5 Tỷ lệ các tiểu mục thuộc yếu tố Quan điểm chung về ATNB 30
Bảng 3.2.6 Tỷ lệ các tiểu mục thuộc yếu tố Phản hồi và trao đổi về những sai sót 31
Bảng 3.2.7 Tỷ lệ các tiểu mục thuộc yếu tố Trao đổi cởi mở 31
Bảng 3.2.8 Tỷ lệ các tiểu mục thuộc yếu tố Báo cáo sai sót 32
Bảng 3.2.9 Tỷ lệ các tiểu mục thuộc yếu tố Làm việc nhóm giữa các khoa phòng 33
Bảng 3.2.10 Tỷ lệ các tiểu mục thuộc yếu tố Bảo đảm nguồn nhân lực 33
Bảng 3.2.11 Tỷ lệ các tiểu mục thuộc yếu tố Bàn giao và chuyển bệnh 34
Bảng 3.2.12 Tỷ lệ các tiểu mục thuộc yếu tố Văn hóa không đổ lỗi khi có sai sót 35
Bảng 3.2.13 Tỷ lệ đánh giá khoa phòng an toàn 35
Bảng 3.2.14 Tỷ lệ báo cáo sai sót và sự cố y khoa 35
Bảng 3.3.1 Phân tích mối liên quan giữa nhân viên khoa Dược và nhân viên các khoa lâm sàng trong khối nội trú với việc đánh giá khoa phòng an toàn 36
Bảng 3.3.2 Phân tích mối liên quan NVYT tiếp xúc trực tiếp và gián tiếp với việc đánh giá khoa phòng an toàn 36
Bảng 3.3.3 Phân tích mối liên quan NVYT công tác tại hệ lâm sàng và cận lâm sàng với việc báo cáo sự cố 36
Bảng 3.3.4 Phân tích mối liên quan tiểu mục A2 với việc đánh giá khoa phòng an toàn 37
Bảng 3.3.5 Phân tích mối liên quan tiểu mục C1 với việc đánh giá khoa phòng an toàn 37 Bảng 3.3.6 Phân tích mối liên quan tiểu mục C3 với việc đánh giá
Trang 12khoa phòng an toàn 37Bảng 3.3.7 Phân tích mối liên quan tiểu mục D1 với việc đánh giá
khoa phòng an toàn 38Bảng 3.3.8 Phân tích mối liên quan tiểu mục D2 với việc đánh giá
khoa phòng an toàn 38
Trang 13DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1.1 Phân bố theo lĩnh vực làm việc 24
Biểu đồ 3.1.2 Phân bố nhân lực theo thâm niên công tác 25
Biểu đồ 3.1.3 Phân bố nhân lực theo thời gian làm việc trong tuần 25
Biểu đồ 3.1.4 Phân bố theo nghề nghiệp chuyên môn 26
Biểu đồ 3.1.5 Phân bố theo cách tiếp xúc với người bệnh 26
Trang 14Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng phương pháp kết hợp định lượng
và định tính Thời gian thực hiện từ tháng 2 đến tháng 9/2019 tại bệnh viện II Lâm Đồng Bộ câu hỏi của cơ quan Nghiên cứu y tế và chất lượng Hoa Kỳ đo lường 12 lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh đã được sử dụng cho nghiên cứu định lượng trên 357 nhân viên y tế (NVYT) và tiến hành 8 cuộc phỏng vấn sâu cho nghiên cứu định tính Kết quả cho thấy: Hầu hết lãnh đạo các khoa phòng quan tâm công tác an toàn người bệnh (ATNB); Đa số NVYT có tinh thần làm việc nhóm, tự học hỏi và hỗ trợ xử trí các vấn đề ATNB trong khoa; 1/3 NVYT cho rằng khoa phòng mình có vấn đề về ATNB; Công tác phản hồi về những sai sót, tỉ lệ trao đổi cởi mở về ATNB và báo cáo sai sót còn chưa nhiều; Làm việc nhóm giữa các khoa chưa thuận lợi; ½ NVYT lo ngại khi bàn giao chuyển người bệnh khi xảy ra sự cố; Xấp xỉ 50% NVYT đánh giá khoa phòng mình
là an toàn; Chỉ 1/3 NVYT thực hiện báo cáo sự cố; Các yếu tố ảnh hưởng văn hóa ATNB là: A2(khoa phòng đủ nhân lực), C1(được phản hồi về những biện pháp cải tiến dựa trên báo cáo sự cố), C3(được thông tin về những sai sót xảy ra), D1(báo cáo sai sót suýt xảy ra), D2(báo cáo sai sót xảy ra nhưng không có khả năng gây hại) Nghiên cứu định tính cho thấy các yếu tố có khả năng ảnh hưởng văn hóa ATNB là: các hướng dẫn
và quy định về ATNB; hệ thống báo cáo sự cố; hoạt động kiểm tra giám sát về ATNB;
hạ tầng trang thiết bị thiếu; tình trạng quá tải khám chữa bệnh; bất cập về số lượng cán
bộ, nhân viên được đào tạo, tập huấn vế ATNB
Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi đề xuất các khuyến nghị sau: Lãnh đạo bệnh viện cần tuyển thêm nhân lực, đầu tư trang thiết bị, tổ chức đào tạo kiến thức ATNB; Lãnh đạo các khoa phòng cần xây dựng môi trường làm việc tập trung vào yếu tố ATNB, đặc biệt khuyến khích công tác báo cáo sự cố, tập trung xây dựng các quy trình phối hợp công tác giữa các khoa phòng
Trang 15ĐẶT VẤN ĐỀ
Nguyên tắc quan trọng nhất của thực hành y khoa là “Điều đầu tiên không gây tổn hại cho người bệnh - First Do No Harm to patient” đang là điều trăn trở đối với các cơ sở, đơn vị Y tế cũng như người hành nghề khám chữa bệnh (KCB) Đã có những sự kiện y tế gây tâm lý bất an cho cả các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế (DVYT), người hành nghề KCB
và người sử dụng DVYT [5], [18], [23] Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng một
tỷ lệ không nhỏ các bệnh nhân bị tổn thương do điều trị xảy ra trong các bệnh viện (BV) [5], [14], [16], [18]
Dịch vụ y tế cung cấp cho bệnh nhân luôn cần được đảm bảo chất lượng Tuy nhiên tất cả các biện pháp can thiệp trên con người đều luôn là vấn đề hai mặt, luôn có các tác hại rình rập, các biến chứng ảnh hưởng đến bệnh nhân Do vậy Ủy ban Chất lượng DVYT thuộc Viện Y khoa Hoa Kỳ đưa ra 6 mục tiêu của một DVYT đảm bảo chất lượng, đó là:
“An toàn (Safe), Hiệu quả (Effective), Người bệnh làm trung tâm (Patient-centred), Kịp thời (Timely), Hiệu suất (Efficient) và Công bằng (Equitable)” Trong đó, “An toàn” cho người bệnh (NB) là mục tiêu quan trọng nhất [25]
Tại Việt Nam trong những năm qua với sự phát triển của truyền thông và các trang mạng xã hội thì sự cố y khoa (SCYK) được công chúng đặc biệt quan tâm Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong các BV cũng như bộ tiêu chí đánh giá chất lượng BV, bộ chỉ số đo lường chất lượng BV[2], [3], [4] [5],[6], [8] Theo đó các BV trong toàn quốc triển khai các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng DVYT theo nguyên tắc chủ đạo là lấy NB làm trung tâm [3]
Khi nghiên cứu về nguyên nhân SCYK, người ta thấy rằng một số sự cố có thể chủ động phòng tránh được [5], [14], [16], [18] Để đảm bảo chất lượng DVYT mà trong đó mục tiêu “an toàn” cho NB được xem là quan trọng nhất cần thay đổi quan điểm “văn hóa trừng phạt” sang “văn hóa an toàn (VHAT)” trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [14], [23] Khi NVYT có văn hóa đúng về an toàn người bệnh (ATNB) thì mới có thể cung cấp
Trang 16các DVYT chất lượng vì con người là yếu tố nền tảng cho thành công trong mọi hệ thống
y tế [16], [20]
Tại Bệnh viện II Lâm Đồng từ năm 2012 BV đã phổ biến luật khám chữa bệnh cho toàn nhân viên (NV) bệnh viện Năm 2014 BV căn cứ các Hướng dẫn điều trị, các Quy trình kỹ thuật của Bộ Y tế đã triển khai cho tất cả các khoa phòng Năm 2015 BV đã in và cấp phát tài liệu về ATNB của Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo Bộ Y Tế cho các khoa phòng Tuy nhiên hàng năm tại BV II Lâm Đồng vẫn xảy ra các sai sót SCYK mà điển hình là sai sót SCYK liên quan phẫu thuật như chảy máu sau mổ, nhiễm trùng vết mổ
Đề tài nghiên cứu “Văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng tại
bệnh viện II Lâm Đồng, năm 2019” được tiến hành với mục tiêu:
Trang 17MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế bệnh viện II Lâm Đồng, năm 2019;
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên
y tế bệnh viện II Lâm Đồng, năm 2019
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Sự cố y khoa
Sự cố y khoa (Medical event): Là các tình huống không mong muốn xảy ra trong
quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tố khách quan, chủ quan mà không phải do diễn biến bệnh lý hoặc cơ địa NB, tác động đến sức khỏe, tính mạng của NB [5]
Sự cố không mong muốn[5] - Adverse Events (AE): Y văn của các nước sử dụng
thuật ngữ “sự cố không mong muốn” ngày càng nhiều vì các thuật ngữ “sai sót chuyên môn, sai lầm y khoa” dễ hiểu sai lệch về trách nhiệm của NVYT và trong thực tế không phải bất cứ sự cố nào xảy ra cũng do họ Theo WHO: “Sự cố không mong muốn là tác hại liên quan đến quản lý y tế (khác với biến chứng do bệnh) bao gồm các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị, chăm sóc, sử dụng trang thiết bị y tế để cung cấp DVYT Sự cố Y khoa có thể phòng ngừa và không thể phòng ngừa”
Sự cố không mong muốn được phân thành 3 mức độ như sau [5]: thứ nhất là nhóm
sự cố không mong muốn nặng đòi hỏi NB phải được cấp cứu hoặc phải can thiệp sâu về điều trị nội khoa/ngoại khoa, gây mất chức năng vĩnh viễn hoặc gây tử vong cho NB; Thứ hai là nhóm sự cố không mong muốn trung bình đòi hỏi can thiệp điều trị, kéo dài thời gian nằm viện và ảnh hưởng đến chức năng lâu dài; Cuối cùng là nhóm sự cố không mong muốn nhẹ NB tự hồi phục, chỉ cần điều trị tối thiểu hoặc không cần điều trị
Tình huống có nguy cơ gây ra sự cố (Near-miss): “Là tình huống đã xảy ra nhưng
chưa gây hậu quả hoặc gần như xảy ra nhưng được phát hiện và ngăn chặn kịp thời, chưa gây tổn thương đến sức khỏe của NB”
Sai sót – error: “Sai sót (SS) là thất bại trong việc thực hiện một hành động đã
được lập kế hoạch dự kiến hoặc áp dụng kế hoạch sai hay có sự khác biệt giữa những gì làm được trong thực tế và những gì lẽ ra phải ra làm được” [16] Sai sót y khoa – Medical
Trang 19error được phân loại như sau: sai sót chủ động (active error) và sai sót tiềm ẩn (latent error) Sai sót chủ động (active error) là sai sót xảy ra trong quá trình trực tiếp chăm sóc bệnh nhân Sai sót tiềm ẩn (latent error) liên quan đến các yếu tố của môi trường chăm sóc tạo điều kiện thuận lợi cho sai sót chủ động dễ xảy ra [16], [1818]
1.1.2 An toàn người bệnh
Theo WHO thì ATNB được định nghĩa là “ngăn ngừa gây tổn thương cho NB” Để cải thiện thực chất ATNB, một hệ thống cung cấp DVYT phải có khả năng ngăn ngừa sai sót, học tập từ những sai sót đã xảy ra và đòi hỏi hệ thống cung cấp dịch vụ phải có VHAT với sự tham gia tích cực của tất cả NVYT, tổ chức y tế và chính bản thân NB[2929]
ATNB là một chuyên ngành trong lĩnh vực y tế, áp dụng các phương pháp an toàn nhằm hướng đến mục đích xây dựng một hệ thống cung ứng DVYT đáng tin cậy (AHRQ, 2014) ATNB còn là một thuộc tính của ngành y tế, nó tối thiểu hóa các sự cố và tối đa hóa
sự phục hồi từ các sự cố ATNB ngày nay được xem là một môn học trong khoa học quản
lý bao gồm các nguyên lý chính về ATNB như sau: cách tiếp cận hệ thống, văn hóa không buộc tội, tư duy về yếu tố con người vào môi trường làm việc tạo nên một hệ thống khó mắc lỗi và VHATNB [14], [25]
1.1.3 Văn hóa an toàn người bệnh
Định nghĩa văn hóa an toàn sử dụng trong y tế xuất phát từ ngành hạt nhân, theo đó
“VHAT của một tổ chức là sản phẩm của giá trị, thái độ, nhận thức, năng lực, và hành vi của cá nhân và nhóm quyết định sự cam kết, phong cách và trình độ quản lý tổ chức một cách an toàn và lành mạnh” Các tổ chức với VHAT một cách tích cực sẽ truyền thông dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau, chia sẻ nhận thức về tầm quan trọng của an toàn và niềm tin về hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa [16]
Theo AHRQ thì VHATNB [1414] của nhân viên cơ sở Y tế được đánh giá thông qua 12 nhóm yếu tố và 2 tiểu mục sau:
+ Làm việc nhóm trong khoa/phòng
+ Quan điểm và hành động ATNB của lãnh đạo các khoa phòng
+ Học tập của tổ chức - Cải tiến liên tục
Trang 20+ Hỗ trợ xử trí các vấn đề ATNB
+ Quan điểm chung về ATNB
+ Phản hồi và trao đổi về những sai sót
+ Trao đổi cởi mở về ATNB
+ Báo cáo SCYK
+ Làm việc nhóm giữa các khoa/phòng
+ Bảo đảm nguồn nhân lực
+ Bàn giao và chuyển bệnh
+ Văn hóa không đổ lỗi khi có sai sót
Và 2 tiểu mục:
+ Đánh giá ATNB của khoa phòng
+ Tần suất báo cáo sai sót và SCYK
1.2 Thực trạng VHATNB trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu trên Thế giới
Vlayen A (2012) tại Bỉ khảo sát văn hóa ATNB của 3.940 NVYT, kết quả cho thấy phần nội dung thấp điểm nhất thuộc về các nhóm sự hỗ trợ của lãnh đạo (LĐ) (35%), văn hóa không trừng phạt (36%), chuyển bệnh và bàn giao trong tổ chức(36%) và làm việc nhóm giữa các đơn vị trong tổ chức (40%) [28]
Noufa A và cộng sự (2016) khảo sát khảo sát VHATNBtại 13 BV đa khoa của thành phố Riyadh - Ả rập Saudi, kết quả lại thấy các vấn đề nổi bật cần phải cải tiến vẫn là báo cáo sự cố, văn hóa không trừng phạt, nguồn nhân lực và làm việc nhóm giữa các khoa phòng trong BV[2121]
MV Rao (2014) [2020] nghiên cứu khảo sát VHATNB tại một BV Trường Đại học
Y của Ấn Độ cho thấy tỷ lệ trả lời tích cực của 12 yếu tố VHATNB đạt [20]: Làm việc nhóm trong khoa phòng 63%; Quan điểm và hành động ATNB của LĐ 56%; Học tập và cải tiến liên tục 65%; Hỗ trợ xử trí các vấn đề ATNB 55%; Quan điểm chung về ATNB 41%; Phản hồi và trao đổi về những sai sót 65%; Trao đổi cởi mở 54%; Báo cáo sai sót
Trang 2132%; Làm việc nhóm giữa các khoa/phòng 52%; Bảo đảm nguồn nhân lực 26%; Bàn giao
và chuyển NB 43%; Văn hóa không đổ lỗi khi có sai sót: 48%
Theo nghiên cứu của Yanli Nie [30] gởi đi 1500 bộ câu hỏi về VHATNB của AHRQ đến nhân viên y tế ở 32 bệnh viện tại 15 thành phố ở Trung Quốc thì thu về 1160 bộ câu trả lời hợp lệ Sau khi phân tích thì cho kết quả là: tỉ lệ phản hồi tích cực cho 12 nhóm tiểu mục là 36-89%, có một sự khác biệt thống kê về nhận thức về VHATNB trong các nhóm của các đơn vị, vị trí và trình độ chuyên môn khác nhau
1.2.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, trước đây rất ít nghiên cứu về ATNB nhất là thời kỳ bao cấp Tuy nhiên từ khi các bệnh viện chuyển sang cơ chế tự chủ, cùng với sự phát triển của chuyên môn thì VHATNB được chú trọng nhiều hơn Đã có một số nghiên cứu VHATNB của NVYT tại các bệnh viên
Một nghiên cứu của tác giả Trần Nguyễn Như Anh năm 2015 tại BV Từ Dũ dựa trên bộ công cụ của cơ quan nghiên cứu y tế và chất lượng Hoa Kỳ cho thấy có 9/12 yếu
tố có giá trị và độ tin cậy; 3 yếu tố có độ tin cậy thấp là Học tập của tổ chức, Cải tiến liên tục, Nhận thức chung về ATNB của NVYT Điểm trung bình các tiểu mục của 12 yếu tố tương đối thấp [1]
Nghiên cứu “Khảo sát VHATNB tại BV Nhi đồng I” của tác giả Tăng Chí Thượng, năm 2012 cũng dựa trên dựa trên bộ công cụ của cơ quan nghiên cứu y tế và chất lượng Hoa Kỳ cho thấy: Tỷ lệ phản hồi tích cực chung ở 12 nhóm lĩnh vực là 69%, Tỷ lệ trả lời tích cực cao tập trung ở các lĩnh vực: làm việc nhóm trong khoa, hỗ trợ của BV trong việc khuyến khích ATNB, thông tin phản hồi và học tập cải tiến liên quan đến ATNB.Trong khi đó, có nhiều phản hồi không tích cực ở các lĩnh vực như: sự phối hợp giữa các khoa phòng, phối hợp giữa các khoa trong bàn giao chuyển bệnh, thiếu nhân sự, cởi mở trong thông tin về sai sót, tần suất báo cáo sự cố và nhất là “hành xử không buộc tội khi có sai sót”[9]
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Trúc nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB tại BV Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre năm 2017” cho thấy: Tỷ
Trang 22lệ đáp ứng của từng yếu tố VHATNB dao động từ 34,7% đến 96,4% và tỷ lệ đáp ứng trung bình của 12 yếu tố khảo sát là 72,5% NVYT đánh giá mức độ ATNB tại bệnh viện là tốt chiếm tỷ lệ 72,2% và tần suất ghi nhận, báo cáo các sai sót ở mức độ thường xuyên là 59,9% với tỷ lệ NV báo cáo sai sót trong 2 năm qua là 11,8%” [13]
Trong luận văn thạc sỹ Y Tế công cộng của tác giả Lê Trung Trọng [12] nghiên cứu
“Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp” tiến hành phỏng vấn sâu kết quả cho thấy:
“Vấn đề an toàn người bệnh cũng như văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa
Đồng Tháp (là BV tuyến điều trị cao nhất của tỉnh) luôn được các nhà lãnh đạo quan tâm sâu sắc Họ thường xuyên kiểm tra giám sát mọi hoạt động của đơn vị, môi trường an toàn lao động, đội ngũ nhân viên với trình độ chuyên môn vững vàng và không ngừng tăng về
số lượng Những điều này giúp BV thu hút người bệnh ngày càng nhiều, tạo điều kiện cho nhân viên có nhiều cơ hội trao đổi chuyên môn, nâng cao tay nghề và kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng, uy tín cũng như thương hiệu cho bệnh viện” Về văn hóa không trừng phạt tại bệnh viện cho thấy nhân viên trong khoa cảm thấy không bị thành kiến khi phạm sai sót Khi có sự cố xảy ra, khoa tiếp cận vấn đề theo cách hệ thống (Cái gì? Tại sao?), chứ không tập trung vào yếu tố con người (Ai làm?) Đa phần những người trả lời phỏng vấn đề đánh giá cao về công tác phối hợp giữa các khoa/phòng và giữa nhân viên với nhân
viên trong bệnh viện
Nghiên cứu “Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương thành phố Hồ Chí Minh năm 2018” của tác giả Lê Phước Triệu [11] cho thấy: “Tỉ lệ cao nhất 65,72% NVYT tham gia nghiên cứu không có báo cáo sự cố trong vòng 12 tháng qua; Tỉ lệ 22,94% có báo cáo từ 1 - 2 trường hợp; 7,22% báo cáo từ 3 - 5 trường hợp; 2,06% báo cáo từ 6 - 10 trường hợp; 1,8% báo cáo từ 11 - 20 trường hợp và chỉ có 1 nhân viên báo cáo trên 20 trường hợp”
Tác giả Ngô Thị Ngọc Trinh [10] nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức, thái độ, thực hành về văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Trung tâm Y tế huyện Lai Vung – tỉnh Đồng Tháp năm 2018” đưa ra kết luận:
Trang 23“VHATNB cần phải được nhấn mạnh trong mọi quy định và hoạt động của Trung tâm y
tế Nội dung đào tạo về ATNB phải được đưa vào chương trình đào tạo hằng năm cho các nhân viên của Trung tâm y tế Trung tâm y tế cần thúc đẩy thực hiện cơ chế “giám sát chủ động về ATNB” với sự tham gia của tất cả NVYT Vấn đề hành xử không buộc tội đối với các sự cố cần được xem như nguyên tắc hàng đầu khi xử lý sự cố nhằm khuyến khích NVYT báo cáo sự cố từ đó nhằm cải thiện chất lượng và đảm bảo ATNB”
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới văn hoá ATNB của NVYT
1.3.1 Văn hóa quy trách nhiệm
Văn hóa quy trách nhiệm hay buộc tội là cách tiếp cận truyền thống khi có sự cố, tai biến, sai sót xảy ra Văn hóa đổ lỗi, văn hóa buộc tội là một cách tiếp cận con người rất mạnh mẽ và cũng rất tự nhiên (Reason, 1990)[23] Mỗi khi xảy ra tai biến, câu hỏi đầu tiên thường gặp là “Ai? Ai làm sai?” (Who’s wrong?), và thường có khuynh hướng qui trách nhiệm liên quan đến cá nhân, người trực tiếp chăm sóc NB ở thời điểm gây ra tai biến Với cách tiếp cận này, thường sẽ tạo ra tâm lý NV che giấu sai sót và ngại báo cáo Hậu quả là các sai sót có thể lặp đi lặp lại ở các cá nhân khác hoặc ở khoa khác do BV không biết và đương nhiên chưa có giải pháp chủ động phòng ngừa Bên cạnh đó, xét đến khía cạnh tâm
lý của cá nhân liên quan, dù người bị quy trách nhiệm có vai trò gì trong quá trình dẫn đến
sự cố đi chăng nữa, có rất ít khả năng hành động của người đó là cố ý gây tổn hại NB mà phần lớn họ thường rất buồn vì nghĩ rằng hành động của họ hoặc việc họ không hành động
đã có thể góp phần gây ra sự cố Và điều họ không cần đến nhất là bị trừng phạt [18]
Theo cách tiếp cận hệ thống nêu trên, để có thể nhận diện hết những sai sót liên quan đến tai biến bao gồm sai sót chủ động và sai sót tiềm ẩn, tốt nhất tìm hiểu xem chuyện
gì đã xảy ra và vì sao lại xảy ra? Giúp nhận diện những nguyên nhân hoặc yếu tố có liên quan, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục Với cách tiếp cận như vậy, không những làm giảm sự e ngại khi báo cáo sai sót mà còn giúp BV chủ động phòng ngừa các sai sót lặp đi lặp lại [5], [23]
Bệnh nhân bị tổn thương do SCYK thường gặp ở những hệ thống không được thiết
kế tốt Vì lý do này việc quy trách nhiệm cho những sai sót trong y khoa dựa trên lỗi cá
Trang 24nhân sẽ ít hoặc không có cơ hội cho những cải thiện hiệu quả Một thách thức lớn nhất hướng đến một hệ thống y tế an toàn là thay đổi văn hóa trừng phạt cá nhân do sai sót sang văn hóa xem những sai sót không phải là những thất bại cá nhân [18]
Do vậy, cần thiết có những nghiên cứu về VHATNB của NVYT để có bằng chứng giúp cải thiện văn hóa ATNB theo hướng tích cực qua đó giúp các BV có thể cung cấp DVYT có chất lượng
Trên Thế giới đã có nhiều nghiên cứu về văn hóa ATNB và những can thiệp để cải thiện VHAT dựa trên truyền thông và giáo dục cho NVYT Tại Việt Nam, vẫn còn ít nghiên cứu về vấn đề này và chỉ dừng lại ở mức mô tả thực trạng về VHATNB[5]
1.3.2 Yếu tố cá nhân
Theo nhiều nghiên cứu về yếu tố con người trong VHATNB thì công nhận bản chất của con người là có thể mắc sai lầm [15], [16], [18], [23] Ngành hàng không là một ví dụ tốt về ngành công nghiệp đã ứng dụng nghiên cứu về yếu tố con người như một cách tiếp cận để nâng cao an toàn nghề nghiệp Từ giữa thập niên 1980, ngành này họ đã chấp nhận khả năng phạm lỗi của con người là điều không thể tránh khỏi Do đó thay vì đòi hỏi con người phải luôn hoàn thiện và có biện pháp trừng phạt sai sót một cách công khai, thì ngành hàng không đã thiết kế các hệ thống để giảm thiểu tác động của sai sót do con người gây
ra Kỷ lục về an toàn của ngành hàng không ngày nay là minh chứng cho cách tiếp cận đó Mặc dù mỗi năm có khoảng 10 triệu lượt máy bay cất cánh và hạ cánh, nhưng trên toàn thế giới mỗi năm trung bình chỉ xảy ra chưa đến 10 vụ máy bay rơi và thường xảy ra ở các nước đang phát triển (tính từ năm 1965 đến nay)
Hoạt động chăm sóc y tế cũng phải học hỏi kinh nghiệm từ các ngành công nghiệp khác vì con người không phải là những cỗ máy, con người dễ bị mất tập trung Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh có mối liên quan mạnh mẽ giữa sự mệt mỏi và áp lực với mức độ thực hiện công việc kém của con người, một yếu tố nguy cơ gây mất ATNB [15], [16], [17], [25]
Theo tài liệu đào tạo liên tục của Cục Khám Chữa Bệnh – Bộ Y tế [5] thì các yếu
tố cá nhân làm mất ATNB gồm:
Trang 25- Sai sót không chủ định: “Do thiếu tập trung khi thực hiện các công việc thường quy (bác sĩ ghi hồ sơ bệnh án, điều dưỡng tiêm và phát thuốc cho NB )”; “Do quên (bác
sĩ quên không chỉ định các xét nghiệm cần để chẩn đoán, điều dưỡng viên quên không bàn giao thuốc, quên không lấy bệnh phẩm xét nghiệm, )”; “Do tình cảnh của người hành nghề (mệt mỏi, ốm đau, tâm lý, )”; “Do kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp hạn chế áp dụng các quy định chuyên môn không phù hợp”
- Sai sót chuyên môn: “Do cắt xén hoặc làm tắt các quy trình chuyên môn”; Do vi phạm đạo đức nghề nghiệp”
Chúng ta không thể loại bỏ bản chất có thể mắc lỗi của con người, song chúng ta có thể hành động để giảm bớt và hạn chế nguy cơ Điều quan trọng đối với tất cả NVYT là phải nhận diện được các tình huống làm tăng khả năng xảy ra sai sót (Vincent, 2001)[27]
Vì vậy, việc tạo dựng môi trường làm việc, một hệ thống khó mắc lỗi sẽ giúp hạn chế khả năng gây sai sót của con người
Trang 26tế thế giới [29] Và hạn chế phụ thuộc vào khả năng tập trung của con người vì họ dễ bị mất tập trung và cảm thấy chán khi họ tham gia những hoạt động kéo dài và lặp đi lặp lại
Renata Teresa Morello (2013) [24] nghiên cứu tổng quan hệ thống dựa trên 21 nghiên cứu về VHATNB cho thấy có một số yếu tố ảnh hưởng tích cực đến sự thay đổi văn hóa ATNB của NVYT: sự đi thăm chuyên môn tại các khoa lâm sàng của LĐ (p=0,02)
và các chương trình tiếp cận đa chiều trên nhiều khoa phòng (p <0,05) [24]
Theo tài liệu đào tạo liên tục của Cục Khám Chữa Bệnh – Bộ Y tế thì các yếu tố tổ chức làm mất ATNB gồm [5]:
- Môi trường làm việc nhiều áp lực: “Môi trường vật lý (tiếng ồn, nhiệt độ, diện tích, …)”; “Môi trường công việc (quá tải, thiếu nhân lực, thiếu phương tiện, )”; “Môi trường tâm lý (tiếp xúc với người ốm, tâm lý luôn căng thẳng, )”
- Quản lý và điều hành dây chuyền KCB: “Một số chính sách, cơ chế vận hành BV đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ có thể làm gia tăng SCYK liên quan tới BHYT, tự chủ, làm tăng lạm dụng DVYT”; “Tổ chức cung cấp dịch vụ: Dây chuyền KCB khá phức tạp, ngắt quãng, nhiều đầu mối, nhiều cá nhân tham gia trong khi hợp tác chưa tốt”; “Thiếu nhân lực nên bố trí nhân lực không đủ để bảo đảm chăm sóc NB 24 giờ/24 giờ/ngày và 7 ngày/tuần Các ngày cuối tuần, ngày lễ việc chăm sóc, theo dõi NB chưa bảo đảm liên tục”;
“Đào tạo liên tục chưa tiến hành thường xuyên”; “Kiểm tra giám sát chưa hiệu quả, thiếu khách quan”
1.4 Cách thức thích ứng bộ công cụ đánh giá văn hóa an toàn người bệnh được áp dụng trong thực tế trên thế giới và Việt Nam
Để đánh giá VHATNB thường dùng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang bằng các
bộ công cụ khảo sát VHATNB Hiện tại có nhiều bộ công cụ khảo sát VHATNB được áp dụng [171719] Theo The Health Foundation (2011) có 5 bộ công cụ phổ biến và 10 bộ công cụ ít phổ biến để khảo sát VHATNB [26] gồm: Bộ công cụ của cơ quan nghiên cứu
y tế và chất lượng Hoa Kỳ, bộ công cụ đánh giá ATNB Manchester của cơ quan ATNB quốc gia Anh, bộ câu hỏi đánh giá thái độ an toàn (The Safety Attitudes Questionnaire (SAQ)) phát triển từ ngành hàng không ứng dụng vào môi trường y tế, bộ công cụ nghiên
Trang 27cứu không khí an toàn trong các tổ chức y tế (The Patient Safety Climate in Healthcare Organisations (PSCHO)) của Đại học Stanford Canada, bộ công cụ nghiên cứu không khí
an toàn trong môi trường y tế của Viện phát triển sức khỏe Hoa Kỳ (The Safety Climate Survey - US Institute for Healthcare Improvement (IHI)) Qua nghiên cứu y văn thì bộ công cụ của cơ quan nghiên cứu y tế và chất lượng (Agency for Healthcare Research and Quality - AHRQ) Hoa Kỳ là phổ biến nhất, nó được dịch thành nhiều thứ tiếng, được nhiều quốc gia áp dụng Một số tác giả đã kiểm định bộ công cụ này cho thấy có giá trị và độ tin cậy cao [14], [21], [30] Mặt khác bộ công cụ này cũng được dịch ra tiếng Việt và được Sở
Y tế Thành phố Hồ Chí Minh chính thức công bố đưa vào sử dụng cho các BV trong thành phố [9] và cho đến nay đã áp dụng cho bệnh viện cấp cứu Trưng Vương [11], Bệnh viện Nhi đồng I [9], bệnh viện Từ Dũ [1] Bộ công cụ này cũng được áp dụng đánh giá VHATNB cho Bệnh viện đa khoa Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre [13], Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Tháp [12], Trung tâm y tế huyện Lai Vung Đồng Tháp [10], kết quả mang lại nhiều vấn đề nhằm làm cơ sở để các cơ sở y tế tăng cường công tác ATNB
1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1.4.1 Giới thiệu Bệnh viện II Lâm Đồng
Bệnh viện II Lâm Đồng được thành lập từ năm 1984 theo Quyết Định số TCUB ngày 17 tháng 01 năm 1984 của UBND tỉnh Lâm Đồng Hiện tại là BV đa khoa hạng II chịu trách nhiệm khám bệnh, chữa bệnh cho hơn 620.000 nhân dân 6 huyện thị phía Nam tỉnh Lâm Đồng và các tỉnh lân cận Quy mô của BV là 500 giường bệnh theo kế hoạch và số giường bệnh thực kê là 650 giường
30/QĐ-Tổng số cán bộ, viên chức, người lao động của BV là 509 nhân viên (88 BS), với tổ chức thành 13 khoa lâm sàng, 5 khoa cận lâm sàng, 6 phòng chức năng Trong đó các khoa liên quan phẫu thuật gồm: Phẫu thuật- gây mê hồi sức (PT-GMHS) (gồm 02 BSCKI gây
mê hồi sức, 03 cử nhân gây mê và 4 KTV GMHS); Ngoại (04 BSCKII, 07 BSCKI, 03 BS
đa khoa), Sản phụ khoa (01 BSCKII, 03 BSCKI, 03 BSCK sơ bộ, 04 BS đa khoa), Tai mũi họng (TMH) (01ThsBS, 02BSCKI, 02BSCK sơ bộ), Mắt (01 BSCKI, 03 BSCK sơ bộ), Răng hàm mặt (RHM) (01 BSCKI, 05 BSCK RHM) Bệnh viện có 5 phòng mổ với 7 máy
Trang 28gây mê, 7 bàn mổ, có 3 hệ thống máy dùng cho mổ nội soi, 1 máy tán sỏi niệu ngoài cơ thể, 1 máy tán sỏi niệu laser qua nội soi ngược dòng, một máy C-arm phục vụ phẫu thuật,
có máy CT scan, Siêu âm 3 chiều, siêu âm đàn hồi mô 4 chiều, Nội soi tiêu hóa, X quang
kỹ thuật số và hệ thống xét nghiệm hiện đại
Mỗi ngày BV khám khoảng 1000 đến 1300 bệnh nhân ngoại trú và điều trị khoảng
500 đến 650 bệnh nhân nội trú; Công suất sử dụng giường bệnh hàng năm đạt 110%; ngày điều trị nội trú trung bình là 5,1 ngày; Tổng số xét nghiệm hàng ngày khoảng 2000 lần, Siêu âm trung bình 230 ca/ngày, XQ trung bình 120 ca/ngày, CT scan trung bình 30ca/ngày, nội soi trung bình 35ca/ngày; Tổng số ca phẫu thuật trong năm là 11250 ca, trung bình 31 ca/ngày
1.4.2 Công tác ATNB tại Bệnh viện II Lâm Đồng
Từ năm 2012 BV tiến hành phổ biến luật khám chữa bệnh cho toàn nhân viên BV Năm 2014 BV căn cứ các hướng dẫn điều trị, các quy trình kỹ thuật của Bộ Y tế đã triển khai cho tất cả các khoa phòng Năm 2015 BV cũng in tài liệu về “ATNB” của Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo BYT cấp phát cho các khoa phòng Tuy nhiên hàng năm tại
bệnh viện II Lâm Đồng vẫn xảy ra các sự cố y khoa không mong muốn
Trang 291.5 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết nói trên được xây dựng dựa trên tổng quan tài liệu về thực trạng VHATNB các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB
Trang 30Khung lý thuyết mô tả về một số yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB Trong đó có 2 nhóm yếu tố ảnh hưởng chính:
Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ tập trung khảo sát các nội dung như sau:
- Các yếu tố thuộc về cá nhân
- Các yếu tố thuộc về tổ chức (Bệnh viện)
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
* Nghiên cứu định lượng
- Tất cả nhân viên y tế (NVYT) trực tiếp liên quan đến bệnh nhân: Là các BS, ĐD, HL
- Tất cả NVYT gián tiếp liên quan đến bệnh nhân: Là các kỹ thuật viên, BS Cận lâm sàng, nhân viên khoa dược
- Lãnh đạo (LĐ) Bệnh viện, LĐ các khoa phòng
* Nghiên cứu định tính
- Đại diện LĐ Bệnh viện
- Đại diện LĐ các khoa phòng
- Đại diện NVYT: Bác sĩ, Điều dưỡng, hộ lý
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn đối tượng tham gia nghiên cứu
Tất cả NVYT trực tiếp hay gián tiếp tiếp xúc với NB có mặt và đồng ý tham gia nghiên cứu tại thời điểm phát phiếu điều tra
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- NVYT không có mặt tại Bệnh viện tại thời điểm thu thập thông tin (nghỉ phép, nghỉ ốm,
đi học…)
- NVYT không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Các nhân viên hành chính không liên quan đến công tác KCB như: Bảo vệ, viện phí, văn phòng, …
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành song song kết hợp định lượng và định tính
2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Định lượng:
Trang 32Cỡ mẫu của nghiên cứu được tính:
Tổng thể là N= 509 (tổng số nhân viên bệnh viện), độ chính xác là 95%, sai số tiêu chuẩn là ± 5%
Cỡ mẫu sẽ được tính theo công thức:
n = N = 509 = 223,9
Trong thời điểm thu thập số liệu cho nghiên cứu, nhóm nhân viên thu thập số liệu phát phiếu điều tra cho toàn bộ nhân viên có mặt và đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu với số lượng càng nhiều càng tốt, tuy nhiên để nghiên cứu có ý nghĩa thì số lượng mẫu ít nhất phải trên số lượng cỡ mẫu được tính
Định tính: Nhằm làm rõ bổ sung cho kết quả nghiên cứu định lượng và tìm ra các yếu tố
liên quan VHATNB của NVYT tại Bệnh viện Chọn mẫu có chủ định những đối tượng cung cấp nhiều thông tin nhất Tiến hành 8 cuộc phỏng vấn sâu (PVS) cho các đại diện như sau:
- 01 đại diện LĐ Bệnh viện: Phó Giám đốc phụ trách quản lý chất lượng bệnh viện
- 03 đại diện LĐ của đơn vị: 01 trưởng khoa hệ ngoại, 01 trưởng khoa xét nghiệm, 01 trưởng khoa dược Sở dĩ chọn các khoa này là do trong các cuộc giao ban chuyên môn hàng ngày thường bị nhắc nhở về sự cố y khoa, về kết quả xét nghiệm không chính xác, không tương thích với lâm sàng, về thiếu thuốc và vật tư, về thuốc tác dụng kém, vật tư tiêu hao chất lượng không đạt
- 03 đại diện NVYT: 01 bác sĩ khoa ngoại, 01 điều dưỡng khoa nội, 01 kỹ thuật viên chẩn đoán hình ảnh, 01 hộ lý khoa nội
2.4 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Bệnh viện II Lâm Đồng
- Thời gian: Từ tháng 2/2019 đến tháng 9/2019
2.5 Bộ công cụ nghiên cứu
Định lượng:
Trang 33- Sử dụng bộ câu hỏi (phụ lục 2) khảo sát VHATNB của AHRQ (Hospital Survey on Patient Safety Culture - HSOPSC) đã được Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh dịch ta tiếng Việt và áp dụng cho các BV trong thành phố Bộ công cụ này bao gồm 42 tiểu mục được chia làm 12 nhóm yếu tố và 2 tiểu mục đầu ra (outcome), cụ thể là:
+ Làm việc nhóm trong khoa phòng gồm 4 tiểu mục sau: A1 - Mọi người trong KP luôn
hỗ trợ nhau; A3 - NV làm việc theo nhóm để giải quyết khi có nhiều việc gấp; A4 - Mọi người trong KP luôn tôn trọng nhau và A11 - Mọi người hỗ trợ nhau khi có NV quá bận rộn
+ Quan điểm và hành động ATNB của LĐ gồm 4 tiểu mục sau: B1 - LĐ khoa động viên khi NV thực hiện đúng quy trình ATNB; B2 - LĐ KP nghiêm túc xem xét các đề xuất cải tiến ATNB của NV; B3R - LĐ KP hối thúc hoàn thành công việc mà không quan tâm đến quy trình và B4R - LĐ KP không quan tâm đến những sai sót lập đi lập lại
+ Học tập và cải tiến liên tục gồm 3 tiểu mục sau: A6 - NV chủ động triển khai các hoạt động cải thiện ATNB; A9 –Sai sót giúp khoa phòng có những thay đổi tích cực và A13 -
KP có đánh giá hiệu quả các biện pháp cải tiến ATNB
+ Hỗ trợ xử trí các vấn đề ATNB gồm 3 tiểu mục sau: F1 - LĐ BV tạo ra bầu không khí làm việc hướng đến ATNB; F8 - ATNB là ưu tiên hàng đầu trong mọi hoạt động BV và F9R - LĐ BV chỉ quan tâm ATNB khi có sự cố
+ Quan điểm chung về ATNB gồm 4 tiểu mục sau: A15 - ATNB là ưu tiên hàng đầu hơn
là cố gắng hoàn thành công việc; A18 – Khoa phòng có quy trình và biện pháp phòng ngừa các sai sót; A10R – Khoa phòng không xảy ra sai sót là do may mắn và A17R – Khoa phòng có những vấn đề về ATNB
+ Phản hồi và trao đổi về những sai sót gồm 3 tiểu mục sau: C1 - NV trong KP được thông báo về những biện pháp khắc phục sai sót dựa trên báo cáo sự cố; C3 - NV được thông báo
về những sai sót trong KP và C5 - KP có tổ chức thảo luận các biện pháp phòng ngừa sai sót tái diễn
+ Trao đổi cởi mở gồm 3 tiểu mục sau: C2 - NV trong KP thoải mái trao đổi về những vấn
đề ảnh hưởng không tốt đến chăm sóc NB; C4 - NV thoải mái khi chất vấn các quyết định
Trang 34về ATNB của LĐ và C6R - NV trong KP ngại có ý kiến khi thấy có những vấn đề về ATNB
+ Báo cáo sai sót gồm 3 tiểu mục sau: D1 - BC sai sót xảy ra nhưng được phát hiện và ngăn chặn trước khi ảnh hưởng đến NB; D2 - BC sai sót xảy ra nhưng không có khả năng gây hại cho NB và D3 - BC sai sót có thể gây hại cho NB nhưng may mắn không gây hại + Làm việc nhóm giữa các khoa/phòng gồm 4 tiểu mục sau: F4 - Có sự phối hợp tốt giữa các khoa phòng liên quan; F10 - Các KP phối hợp tốt để đảm bảo chăm sóc NB tốt nhất; F2R - Các KP không phối hợp tốt với nhau và F6R - NVYT không thoải mái khi làm việc với NV KP khác
+ Bảo đảm nguồn nhân lực gồm 4 tiểu mục sau: A2 - KP có đủ nhân lực đảm bảo công việc; A5R - Tăng thời gian làm việc là cách tốt để chăm sóc NB; A7R - Tăng NVYT trong thời điểm đông bệnh là cách tốt để chăm sóc NB và A14R - NV làm việc theo cách làm thật nhanh do đó có thể bỏ qua vấn đề ATNB
+ Bàn giao và chuyển người bệnh gồm 4 tiểu mục sau: F3R - Có nhiều bỏ sót khi chuyển
NB từ khoa này sang khoa khác; F5R - Thông tin chăm sóc NB không được bàn giao đầy
đủ giữa các ca trực; F7R - Nhiều vấn đề thường xảy ra trong trao đổi thông tin giữa các
KP và F11R - Bàn giao ca trực là vấn đề đáng lo ngại đối với ATNB
+ Văn hóa không đổ lỗi khi có sai sót gồm 3 tiểu mục sau: A8R - NV lo sợ bị khiển trách khi mắc sai sót; A12R - Khi có sai sót mọi người nghĩ đến cá nhân hơn là tìm nguyên nhân
và biện pháp cải thiện và A16R - NV lo lắng những SS sẽ ghi lại trong hồ sơ cá nhân
Và 2 tiểu mục khác:
+ Đánh giá ATNB của khoa phòng
+ Tần suất báo cáo sai sót và SCYK
Trang 35- Biến số liên quan nghề nghiệp: (xem Phụ lục 1)
- Biến số VHATNB: (xem Phụ lục 2)
+ 42 tiểu mục thuộc 12 yếu tố VHATNB
+ 42 tiểu mục này được đo bằng thang đo Likert: Rất không đồng ý / Không bao giờ - Không đồng ý / Hiếm khi - Không biết / Đôi khi - Đồng ý / Thường xuyên - Rất đồng ý / Luôn luôn
+ Tiểu mục kết quả “Đánh giá chung về mức độ ATNB tại khoa/phòng của anh/chị” được đánh giá theo 5 mức: Hoàn hảo – Tốt – Chấp nhận được – Kém – Không đạt
+ Tần suất báo cáo sai sót và SCYK của bản thân với LĐ khoa hoặc LĐ bệnh viện trong
12 tháng qua
2.6.2 Mục tiêu 2
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB của NV bệnh viện II Lâm Đồng, năm
2019
Nghiên cứu định lượng: (Phụ lục 2)
Biến số độc lập: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (Phụ lục 1), đánh giá chung về mức độ ATNB và tần suất báo cáo sai sót và SCYK của bản thân
Biến số phụ thuộc: 12 yếu tố VHATNB
Khi phân tích liên quan các yếu tố thuộc 42 tiểu mục theo thang đo Likert được tính:
+ Không đồng ý/không có gồm: Rất không đồng ý / Không bao giờ - Không đồng
ý / Hiếm khi - Không ý kiến / Đôi khi;
+ Đồng ý/Có gồm: Đồng ý / Thường xuyên - Rất đồng ý / Luôn luôn;
+ Đánh giá chung về mức độ ATNB được chia: Khoa phòng an toàn khi NVYT cho
rằng về ATNB khoa mình là xuất sắc hoặc tốt và KP không an toàn khi NVYT cho rằng
mức độ an toàn KP mình là chấp nhận được, kém hoặc không đạt
+ Tần suất báo cáo sai sót và SCYK của bản thân được tính: Có khi có báo cáo ít
nhất một sự cố và không khi không báo cáo sự cố nào
+ Về thâm niên công tác được tính: ≤10 năm và >10 năm
Trang 36- Nghiên cứu định tính: Tiến hành phỏng vấn sâu các NVYT đã chọn sau khi phát phiếu
điều tra theo Phụ lục 3
Quan điểm về VHATNB của đối tượng được phỏng vấn gồm:
+ Yếu tố tổ chức: Chính sách quy định NVYT tuân thủ ATNB, quy định các phác đồ điều trị, các quy trình kỹ thuật, điều kiện làm việc (cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, bảo hộ lao động,
…), khối lượng công việc
+ Yếu tố cá nhân: Nhận thức về ATNB, đào tạo tập huấn về ATNB, sự hợp tác và tôn trọng lẫn nhau, sự quá tải công việc
2.7 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập thông tin theo phương pháp dùng phiếu điều tra ẩn danh được in sẵn bộ câu hỏi cho đối tượng nghiên cứu trả lời
- Thành lập nhóm nhân viên thu thập thông tin được tập huấn về phương pháp thu thập số liệu và nội dung bảng câu hỏi, đảm bảo hiểu đúng nội dung từng tiểu mục
- Thông báo cho nhân viên toàn viện về nghiên cứu này trong toàn viện qua giao ban và email
- Nhân viên thu thập số liệu đến từng khoa phòng giới thiệu về nghiên cứu, công bố nguyên tắc tham gia nghiên cứu (không được bàn bạc khi đánh trắc nghiệm trên phiếu điều tra, không được đánh trắc nghiệm thay, đánh trắc nghiệm theo đúng suy nghĩ và thực tế tại khoa phòng, giải thích cho NVYT về tính khách quan và không bị liên lụy cá nhân khi điền phiếu điều tra) phát phiếu điều tra cho từng NVYT, nhân viên y tế đọc và điền thông tin theo mẫu Nhân viên thu thập thu thông tin giải thích những câu hỏi chưa rõ cho NVYT khi có thắc mắc Thu thập phiếu điều tra sau khi NVYT hoàn thành
2.8 Xử lý số liệu
- 18 tiểu mục có nghĩa âm tính (được ký hiệu mã số-R) nghĩa là giá trị các tiểu mục này càng cao thì thể hiện văn hóa ATNB của NVBV càng thấp, bao gồm: A5R, A7R, A8R, A10R, A12R, A14R, A16R, A17R, B3R, B4R, C6R, F2R, F3R, F5R, F6R, F7R, F9R, F11R
Trang 37- Các tiểu mục thuộc 42 tiểu mục của HSOPSC được phân loại thành 3 nhóm: 1 – 2 điểm: Không đồng ý / Không thực hiện; 3 điểm: Không ý kiến và 4 – 5 điểm: Đồng ý / Thực hiện
- Tỷ lệ %, trung bình được sử dụng cho thông kê mô tả
- Biến số về mức độ ATNB tại khoa/phòng được đánh giá khoa phòng an toàn khi NVYT cho rằng mức độ an toàn KP mình là xuất sắc hoặc tốt và khoa phòng không an toàn khi NVYT cho rằng mức độ an toàn KP mình là chấp nhận được, kém hoặc không đạt
- Sử dụng phần mềm spss 20.0 để nhập và xử lý thống kê Test 2, khoảng tin cậy 95% (CI 95%) để tìm hiểu các mối liên quan
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- NVYT tham gia nghiên cứu được giải thích đầy đủ về vấn đề nghiên cứu Thông tin được cung cấp chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu, ngoài phát vấn khuyết danh, thông tin nghiên cứu sẽ được bảo mật
- Nghiên cứu được lãnh đạo bệnh viện cho phép
- NVYT hoàn toàn tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành theo Quyết định số 247/2019/YTCC-HD3 về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức NCYSH của Hội Đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học trường Đại Học YTCC cho đề tài này
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ
Tổng số 390 phiếu thu thập số liệu đã được phát ra và sau đó thu về 357 phiếu điều tra hợp
Nội – Nhi –Sơ sinh- HSTC – PHCN- Nhiễm- Điều trị yêu cầu- Thận nhân tạo 34%
Biểu đồ 3.1.1 Phân bố theo lĩnh vực làm việc
Trang 393.1.2 Thâm niên công tác
Biểu đồ 3.1.2 Phân bố nhân lực theo thâm niên công tác Các NVYT có thâm niên trên 10 năm chiếm xấp xỉ một nửa tổng số NVYT tham gia nghiên cứu
3.1.3 Thời gian làm việc trong tuần
Biểu đồ 3.1.3 Phân bố nhân lực theo thời gian làm việc trong tuần
40 - < 80 giờ/tuần 81%
≥ 80 giờ/tuần 16%
Trang 40Đa số NVYT làm việc 40-80 giờ/tuần
3.1.4 Nghề nghiệp chuyên môn
Biểu đồ 3.1.4 Phân bố theo nghề nghiệp chuyên môn Chiếm phần đông nhân lực là ĐD-NHS- KTV - HL
3.1.5 Cách tiếp xúc với người bệnh
Biểu đồ 3.1.5 Phân bố theo cách tiếp xúc với người bệnh
Đa số NVYT tham gia nghiên cứu tiếp xúc trực tiếp người bệnh
16,5%
78,2%
5,3%
0 50
Tiếp xúc gián tiếp10%