Nhằm đưa ra một cái nhìn khái quát về kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều, chúng tôi đã tiến hành một nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích từ tháng 12/20
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
HUỲNH THỊ XƯƠNG MAI
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI TẠI XÃ TÂN KIỀU, HUYỆN THÁP MƯỜI,
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
HUỲNH THỊ XƯƠNG MAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI TẠI XÃ TÂN KIỀU, HUYỆN THÁP MƯỜI,
TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 60720301
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN NGỌC ẤN
Trang 3
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ VIII
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Bệnh tay chân miệng: 4
1.2 Đặc điểm chung của bệnh tay chân miệng: 5
1.3 Các biện pháp phòng bệnh tay chân miệng: 7
1.4 Tình hình bệnh tay chân miệng trên thế giới và ở Việt Nam: 8
1.5 Một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng: 11
1.6 Một số đặc điểm và tình hình bệnh TCM tại địa bàn nghiên cứu: 20
KHUNG LÝ THUYẾT 24
Chương 2: 26
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu: 26
2.2 Thiết kế nghiên cứu: 26
2.3 Mẫu và phương pháp chọn mẫu: 26
2.4 Phương pháp thu thập số liệu: 29
2.5 Biến và định nghĩa biến: 31
2.6 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: 31
2.7 Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá 31
2.8 Đạo đức nghiên cứu: Error! Bookmark not defined Chương 3: 35
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
Chương 4: 63
BÀN LUẬN 63
KẾT LUẬN 79
KHUYẾN NGHỊ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Phụ lục 1: 85
Trang 4Phụ lục 2 103 Phụ lục 3 116
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình bệnh TCM tại Việt Nam 2013 – 2015 9
Bảng 2.1 Bảng chi tiết lấy mẫu từng ấp 28
Bảng 3 1 Đặc điểm của ĐTNC 35
Bảng 3 2 Kiến thức của bà mẹ về dịch tễ học bệnh TCM: 36
Bảng 3 3 Kiến thức của bà mẹ về nhận biết dấu hiệu, sự nguy hiểm và biến chứng của bệnh TCM 37
Bảng 3 4 Kiến thức của bà mẹ về sự lây truyền của bệnh: 38
Bảng 3 5 Kiến thức của bà mẹ về các nguy cơ mắc bệnh TCM: 39
Bảng 3 6 Kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh TCM: 39
Bảng 3.7 Kiến thức về chăm sóc và điều trị khi trẻ bệnh TCM: 41
Bảng 3 8 Thực hành rửa tay của bà mẹ: 43
Bảng 3 9 Thực hành rửa tay cho trẻ: 44
Bảng 3.10 Thực hành vệ sinh răng miệng cho trẻ: 46
Bảng 3.11 Thực hành vệ sinh nhà ở: 47
Bảng 3 12 Thực hành lau rửa đồ chơi cho trẻ: 48
Bảng 3 13 Thực hành vệ sinh ăn uống: 49
Bảng 3 14 Thực hành về xử lý phân, dịch tiết của trẻ: 49
Bảng 3 15 Gia đình xung quanh, bạn bè, cơ quan có trẻ từng mắc bệnh TCM: 52
Bảng 3 16 Hoạt động hỗ trợ phòng bệnh TCM từ cán bộ y tế: 53
Bảng 3 17 Nguồn cung cấp thông tin về bệnh TCM bà mẹ được nghe/nhìn: 55
Bảng 3 18 Mối liên quan đặc điểm của bà mẹ với kiến thức phòng bệnh TCM: 57
Bảng 3.19 Mối liên quan của tình hình mắc bệnh TCM của gia đình xung quanh với kiến thức phòng bệnh TCM của bà mẹ: 58
Bảng 3.20 Mối liên quan của hoạt động hỗ trợ phòng bệnh TCM từ cán bộ Y tế với kiến thức phòng bệnh TCM của bà mẹ: 59
Bảng 3.21 Mối liên quan của hiệu quả nguồn cung cấp thông tin với kiến thức phòng bệnh TCM của bà mẹ: 59
Trang 7Bảng 3.22 Mối liên quan giữa giữa đặc điểm của bà mẹ với thực hành về phòng bệnh TCM: 60 Bảng 3.23 Mối liên quan của tình hình mắc bệnh TCM của gia đình xung quanh với thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ: 61 Bảng 3.24 Mối liên quan của hoạt động hỗ trợ phòng bệnh TCM từ cán bộ Y tế với thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ: 61 Bảng 3.25 Mối liên quan của hiệu quả nguồn cung cấp thông tin với thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ: 62 Bảng 3.26 Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành phòng bệnh TCM: 62
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Một vài hình ảnh về bệnh tay chân miệng 5
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biều đồ 1.1 Tình hình số ca mắc bệnh tay chân miệng tại các huyện, thị, thành phố tỉnh Đồng Tháp đến tuần 52, ngày 31/12/2017 10
Biều đồ 1.2 Tình hình số ca mắc và tử vong bệnh tay chân miệng qua các năm của
huyện Tháp Mười (năm 2010 đến năm 2017) 23
Biều đồ 1.3 Trung bình số ca mắc bệnh TCM 6 năm tại các xã, thị trấn huyện Tháp
Mười (năm 2012 đến năm 2017) 24
Biểu đồ 3.1 Bảng tổng hợp đánh giá kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh TCM: 48
Biểu đồ 3.2 Kiến thức chung của bà mẹ về phòng bệnh TCM: 51 Biểu đồ 3.3 Biểu đồ tổng hợp đánh giá thực hành đạt của bà mẹ về phòng bệnh TCM: 51 Biểu đồ 3.4 Thực hành chung của bà mẹ về phòng bệnh TCM: 60 Biểu đồ 3.5 Đánh giá chung hiệu quả hoạt động hỗ trợ phòng bệnh TCM từ CBYT: 62 Biểu đồ 3.6 Đánh giá chung hiệu quả thông tin bệnh TCM bà mẹ được nghe/nhìn 65
Trang 10TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Bệnh tay chân miệng (TCM) là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người,
dễ gây thành dịch do vi-rút đường ruột gây ra; bệnh được Tổ chức Y tế thế giới xếp vào một trong những bệnh truyền nhiễm khẩn cấp phải được thông báo
Tại huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp, trong 5 năm gần đây tình hình mắc TCM trên địa bàn huyện diễn biến phức tạp và hết sức nguy hiểm Trên địa bàn huyện đến cuối năm 2017, trẻ dưới 5 tuổi là lứa tuổi mắc bệnh cao nhất, 361/461 ca chiếm đến 78,3% và xã Tân Kiều là xã có số ca mắc bệnh TCM cao nhất Vì vậy hiệu quả của công tác phòng bệnh TCM phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức, thực hành của bà mẹ Nhằm đưa ra một cái nhìn khái quát về kiến thức, thực hành của bà
mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều, chúng tôi đã tiến hành một nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích từ tháng 12/2017 đến tháng 11/2018 trên 278 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều với hai mục tiêu: (1) Mô tả kiến thức, thực hành về phòng bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp năm 2018 và (2) Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng bệnh tay chân miệng của bà mẹ
Kết quả nghiên cứu cho thấy:
Có 49,6% bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp có kiến thức đạt và 50,4% bà mẹ có kiến thức không đạt về phòng bệnh TCM Trong đó, kiến thức về dấu hiệu và biến chứng bệnh TCM, kiến thức về chăm sóc và điều trị khi trẻ bệnh TCM đạt rất thấp, dưới 45,0%
Có 45,1% bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp có thực hành đạt và 54,9% bà mẹ có thực hành không đạt về phòng bệnh TCM Trong đó, thực hành về rửa tay cho trẻ, thực hành về rửa tay của bà mẹ, thực hành vệ sinh răng miệng cho trẻ đạt rất thấp, dưới 41,0%
Trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập bình quân, số thành viên của gia đình, tình hình mắc bệnh TCM của gia đình xung quanh bà mẹ và hiệu quả nguồn
Trang 11cung cấp thông tin có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến kiến thức phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi
Trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập bình quân và kiến thức phòng bệnh TCM của bà mẹ có liên quan có ý nghĩa thống kê đến thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi
Nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị cụ thể để hiệu quả phòng bệnh TCM của bà mẹ được nâng lên trong thời gian tới:
- Đối với Ủy ban nhân dân xã:
Chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể phối hợp Trạm Y tế thực hiện chiến dịch rửa tay bằng xà phòng, tuyên truyền các biện pháp phòng bệnh TCM; Trạm Truyền thanh tăng thời lượng phát sóng về bài viết phòng chống bệnh TCM
Trang 12
khả năng gây thành dịch lớn Dấu hiệu đặc trưng của bệnh là sốt, đau họng, tổn thương niêm mạc miệng và da chủ yếu ở dạng phỏng nước thường thấy ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, đầu gối, mông Bệnh có thể diễn biến nặng và gây biến chứng nguy hiểm như viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nên cần phải được phát hiện sớm, điều trị kịp thời [16, 17]
Trong những năm gần đây, bệnh TCM đang là một vấn đề Y tế công cộng rất đáng lo ngại của nhiều quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam [8] Theo báo cáo của Bộ Y tế, cả nước ghi nhận 43.162 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng tại 63 tỉnh, thành phố [18]
Tại tỉnh Đồng Tháp, là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nam Bộ, một trong những điểm nóng về tình hình bệnh TCM của khu vực Năm 2012 có 6.188 ca mắc, 07 ca tử vong; năm 2013 có 3.848 ca mắc, 05 ca tử vong; năm 2014 có 4.525
ca mắc, 01 ca tử vong; năm 2015 có 4.009 ca mắc, 01 ca tử vong Đến 31/12/2017 toàn Tỉnh có 6.710 ca, bệnh đang diễn biến hết sức phức tạp và không có dấu hiệu dừng lại [24]
Tại huyện Tháp Mười, theo báo cáo Trung tâm Y tế huyện, trong năm
2010 bệnh TCM chỉ mắc 23 ca, nhưng đến năm 2011 bệnh TCM tăng lên 554 ca; đỉnh điểm năm 2012 bệnh TCM tăng lên 587 ca (01 ca tử vong), năm 2013 là 369
ca (01 ca tử vong), năm 2014 là 488 ca (tử vong 01 ca, toàn Tỉnh chỉ có 01 ca tử vong), năm 2015, 2016 số cas mắc có giảm Tuy nhiên, tính đến 31/12/2017 số ca mắc lại tăng rất cao là 461 ca, tăng 236 ca (105,0%) so với cùng kỳ năm 2016 (225
Trang 13ca), huyện luôn đứng tốp đầu của tỉnh Đồng Tháp về số ca mắc bệnh TCM [10-12, 19-23]
Mặc dù ngành Y tế huyện Tháp Mười đã tổ chức nhiều hoạt động phòng bệnh TCM nhưng số ca mắc không ngừng tăng cao, trong năm 2017 trẻ dưới 5 tuổi là lứa tuổi mắc bệnh cao nhất, chiếm 361/461 ca (78,3%) và xã Tân Kiều là xã
có số ca mắc bệnh TCM cao nhất [23]; theo số liệu thống kê từ năm 2012 đến năm
2017 thì xã Tân Kiều cũng là xã có số ca mắc bệnh cao nhất trong 13 xã, thị trấn của huyện Bệnh chưa có vắc xin phòng và thuốc điều trị đặc hiệu, do đó biện pháp hữu hiệu nhất là phòng bệnh TCM cho trẻ Điều này phụ thuộc hoàn toàn vào người mẹ khi chăm sóc trẻ, chỉ khi mẹ có kiến thức, thực hành tốt mới có biện pháp phòng bệnh hiệu quả Từ đó chúng tôi nhận thấy, kiến thức và thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi là việc làm cần thiết nhất để khống chế số ca mắc; để có cơ sở can thiệp tại cộng đồng, xây dựng kế hoạch phòng bệnh TCM tại xã Tân Kiều nói riêng và của huyện Tháp Mười nói chung Chúng tôi tiến
hành nghiên cứu “Kiến thức, thực hành phòng bệnh tay chân miệng và một số yếu tố liên quan của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp năm 2018”
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức, thực hành về phòng bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp năm 2018
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
Trang 15Chương 1:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Bệnh tay chân miệng:
1.1.1 Vài nét về lịch sử bệnh tay chân miệng:
Bệnh TCM được Robinson và cộng sự lần đầu tiên mô tả ở Canada năm
1957, đặc trưng: sốt, tổn thương ở hầu họng và mụn nước ở bàn tay, bàn chân,
mông, gối liên quan với Coxsakievirus A16, Alsop và cộng sự ghi nhận một vụ dịch tương tự ở Anh năm 1959 và đặt tên là bệnh TCM Nhiễm Enterovirus 71
được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1969 tại California, Hoa Kỳ; sau đó, bệnh liên tục được ghi nhận ở các quốc gia như Australia (1972), Thụy Điển (1973), Nhật Bản (1975), Bun-ga-ry (1978), Hung-ga-ry (1979), Pháp (1985) Đến năm
1997, bệnh được phát hiện ở Hồng Kông, Singapore, Malaysia; năm 2000, bệnh được phát hiện ở Đài Loan, Trung Quốc [40, 41]
Đến nay bệnh ghi nhận ở hầu hết các nước trên thế giới, tập trung chủ yếu tại các nước khu vực Châu Á-Thái Bình Dương WHO nhận định, bệnh TCM đang thật sự đe dọa tính mạng và sức khỏe trẻ em ở các nước Châu Á [41] Việt Nam ghi nhận ca mắc TCM đầu tiên vào năm 2003, đến năm 2012 có sự gia tăng bất thường của bệnh TCM ở khu vực các tỉnh phía Nam với số ca mắc tăng 6 lần, số
tử vong gấp 6-24 lần so với giai đoạn 2008-2011, tỷ lệ chết/mắc là 0,2% [5, 17]
1.1.2 Khái niệm chung về bệnh tay chân miệng: [17]
Bệnh TCM là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, dễ gây thành dịch do vi rút đường ruột gây ra Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là
Coxsackie vi rút A16 và Enterovirus 71 (EV71) Biểu hiện chính là tổn thương da,
niêm mạc dưới dạng phỏng nước ở các vị trí đặc biệt như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời Các trường hợp biến chứng nặng thường do
EV 71
Trang 16- Bệnh lây chủ yếu theo đường tiêu hoá Nguồn lây chính từ nước bọt, phỏng nước và phân của trẻ nhiễm bệnh
- Bệnh tay-chân-miệng gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương
- Tại các tỉnh phía Nam, bệnh có xu hướng tăng cao vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm
- Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo, đến các nơi trẻ chơi tập trung là các yếu tố nguy cơ lây truyền bệnh, đặc biệt là trong các đợt bùng phát
Hình 1.1: Một vài hình ảnh về bệnh tay chân miệng
1.2 Đặc điểm chung của bệnh tay chân miệng:
1.2.1 Tác nhân gây bệnh:
Bệnh TCM gây ra do nhóm vi-rút đường ruột; các vi-rút có khả năng gây
bệnh TCM, trong nhóm này gồm vi-rút Coxsackies, Echo và các vi-rút đường ruột khác Các vi-rút đường ruột týp 71 (EV71) và CA16; CA16 là một tác nhân gây
bệnh thường xuyên gặp phải trong các trường hợp TCM và biểu hiện lâm sàng thường nhẹ và có thể hoàn toàn hồi phục, trường hợp tử vong của nhiễm trùng
CA16 là rất hiếm Vi-rút EV71có thể gây ra biến chứng nặng và dẫn đến tử vong;
các vi-rút đường ruột khác thường gây bệnh nhẹ Vi-rút có thể tồn tại nhiều ngày ở điều kiện bình thường và nhiều tuần ở nhiệt độ 40C Tia cực tím, nhiệt độ cao, các chất diệt trùng như formaldehyt, các dung dịch khử trùng có chứa Clo hoạt tính có thể diệt vi-rút [17, 34]
Trang 171.2.2 Nguồn truyền, thời kỳ ủ bệnh và phương thức lây truyền:
Bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa: thức ăn, nước uống, bàn tay của trẻ hoặc người chăm sóc trẻ, các đồ dùng, đặc biệt là đồ chơi và vật dụng sinh hoạt hằng ngày như chén, bát, đĩa, thìa, cốc bị nhiễm vi-rút từ phân hoặc dịch nốt phòng, vết loét hoặc dịch tiết đường hô hấp, nước bọt Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây truyền do tiếp xúc trực tiếp người - người qua các dịch tiết đường hô hấp, hạt nước bọt, một số yếu tố có thể làm gia tăng sự lây truyền và bùng phát dịch bao gồm: mật độ dân số cao, sống chật chội, điều kiện vệ sinh kém, thiếu nhà vệ sinh, thiếu hoặc không có nước sạch phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày [17, 34]
Tại nước ta, bệnh TCM gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương trên cả nước Vi-rút có khả năng đào thải qua phân từ 2 - 4 tuần, giai đoạn lây mạnh nhất là tuần đầu tiên mắc bệnh, cá biệt có thể tới 12 tuần sau khi nhiễm Vi-rút cũng tồn tại nhân lên ở đường hô hấp trên và đào thải qua dịch tiết từ hầu họng trong vòng 2 tuần Vi-rút cũng có nhiều trong dịch tiết các nốt phỏng nước, vết loét của bệnh nhân [17]
Người bệnh hay người lành mang vi-rút không triệu chứng là ổ chứa tác nhân gây bệnh Vi-rút có mặt sớm nhất ở dịch tiết trong họng khoảng từ 5-7 ngày Vi-rút có trong dịch tiết mụn nước từ 1-2 mụn và có thể tồn tại trong phân tới hơn
1 tháng Enterovirus có thể lây truyền ngay từ khi phơi nhiễm với vi-rút trong thời
kỳ ủ bệnh, khả năng lây truyền cao nhất là từ 5-7 ngày sau khi phát bệnh [4, 15] Điều đáng lưu ý nhiều trẻ mắc bệnh đôi khi không phát hiện yếu tố dịch tễ tiếp xúc với người bệnh, chứng tỏ trẻ bị lây từ người nhà, người chăm sóc [4] Do đó, Cục
Y tế dự phòng khuyến cáo các bà mẹ và người chăm sóc trẻ chú ý rửa tay sạch thường xuyên cho trẻ và người chăm sóc trẻ, vệ sinh đồ chơi, dụng cụ trước khi cho trẻ chơi để phòng ngừa dịch bệnh xảy ra
1.2.3 Tính cảm nhiễm và miễn dịch:
Mọi người đều có thể cảm nhiễm với vi-rút gây bệnh nhưng không phải tất
cả những người nhiễm vi-rút đều có biểu hiện bệnh Bệnh có thể gặp ở mọi lứa
Trang 18tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt ở nhóm dưới 3 tuổi Người lớn ít
bị mắc bệnh có thể do đã có kháng thể từ những lần bị nhiễm hoặc mắc bệnh trước đây [17]
Sau khi mắc bệnh, trẻ em có thể có miễn dịch đặc hiệu với chủng vi-rút đã
bị nhiễm, nhưng không có miễn dịch với những chủng vi-rút khác Trẻ sơ sinh có kháng thể do mẹ truyền và giảm nhanh sau khi sinh khoảng một tháng Miễn dịch tạo ra từ những lần phơi nhiễm trước riêng biệt với mỗi loại vi-rút, nhưng có thể bị nhiễm với chủng loại vi-rút khác
Hiện nay chưa có vắc-xin phòng bệnh, nhìn chung trẻ mắc bệnh TCM điển hình ở thể nhẹ và tự khỏi, thời gian tự khỏi thường là dưới 10 ngày Ngoài ra hầu hết người đến tuổi trưởng thành có miễn dịch bền vững và không mắc bệnh trở lại [17]
1.3 Biến chứng:
Biến chứng thần kinh: Viêm não, viêm thân não, viêm não tủy, viêm màng não, liệt dây thần kinh sọ não, bại liệt, co giật, hôn mê là dấu hiệu nặng, thường đi kèm với suy hô hấp, tuần hoàn Các biến chứng tim mạch, hô hấp; viêm cơ tim, phù phổi cấp, tăng huyết áp, suy tim, trụy mạch [16]
1.4 Các biện pháp phòng bệnh tay chân miệng:
Bệnh lây truyền theo đường tiêu hóa và hiện chưa có vắc-xin phòng bệnh, nên việc mỗi người phải tự giác thực hiện các biện pháp vệ sinh ăn uống, vệ sinh
cá nhân, vệ sinh nơi sinh hoạt là việc rất cần thiết [17] Các biện pháp có tác dụng
là thường xuyên rửa tay cho bản thân và cho trẻ, đặc biệt là trước khi chế biến thức
ăn, trước khi ăn/cho trẻ ăn, trước khi bế ẳm trẻ, sau khi đi vệ sinh, sau mỗi lần thay
tã, quần áo và làm vệ sinh cho trẻ
Tại Việt Nam, đáp ứng với tình hình dịch bệnh TCM, đặc biệt trong năm
2011 - 2012, Chính phủ, Bộ Y tế và các ban ngành đã ban hành công điện, các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về giám sát, phòng và điều trị bệnh TCM Các hoạt động kiểm tra, giám sát, báo cáo tình hình dịch bệnh, tăng cường các chiến dịch truyền
Trang 19thông cấp phát Cloramin B, đẩy mạnh công tác vệ sinh môi trường, phát hiện và điều trị sớm đã được tiến hành đồng thời trên phạm vi cả nước Để kiểm soát hiệu quả, công tác thông tin TTGDSK thay đổi hành vi, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, đặc biệt lại các vùng bệnh lưu hành cần tiếp tục tăng cường [15]
Những biện pháp chung sau đây thường được khuyến cáo:
- Rửa tay sạch sẽ, nhất là sau khi đi vệ sinh, thay tả lót, hoặc dọn dẹp các
đồ chơi, vật dụng, sàn nền nhà nơi trẻ chơi đùa, các chất thải, dịch tiết của trẻ;
- Che miệng khi ho, hắt hơi;
- Thường xuyên vệ sinh đồ chơi của trẻ;
- Cho nghỉ tại nhà với những trẻ có biểu hiện sốt và/hoặc có biểu hiện loét miệng, nổi nốt phòng ờ lòng bàn tay, chân và mông
Trong tất cả các khuyến cáo trên thì việc rửa tay bằng xà phòng thường xuyên được “xem như là liều “vắc – xin” hiệu quả được các chuyên gia của WHO cũng như Cục Y tế Dự phòng, Bộ Y tế khuyến nghị [17]
1.4 Tình hình bệnh tay chân miệng trên thế giới và ở Việt Nam:
1.4.1 Tình hình bệnh tay chân miệng trên thế giới:
Cập nhật tình hình bệnh TCM của WHO tại một số quốc gia có báo cáo thường xuyên như sau [40]:
Khu vực Bắc bán cầu (Trung Quốc không cập nhật) tính đến 30/6/2015 đã
có 984.699 trường hợp mắc bệnh TCM đã được báo cáo, giảm 71% so với cùng kỳ năm 2014 (n=1.688.640), trong đó có 28 trường hợp tử vong trong năm 2015 [40]
So cùng kỳ 6 tháng đầu năm 2014 bệnh TCM vẫn tiếp tục gia tăng theo chu kỳ từ tháng 3 đến tháng 6 hàng năm, tuy số ca mắc 6 tháng 2015 thấp hơn so với cùng
kỳ năm 2012 và năm 2014 nhưng vẫn nằm trong ngưỡng cao và cao hơn năm
2013
Tại Nhật Bản tính đến tháng 8/2015 đã có 216.971 trường hợp mắc bệnh TCM, số trường hợp mắc hàng tuần của bệnh TCM đã vượt qua con số trung bình
Trang 20trong những năm trước Vi rút thường xuyên nhất được phát hiện là vi rút
Coxsackie A16 và A6 [40] Trong đó năm 2015 số ca mắc tăng cao hơn nhiều so
với những năm 2012, 2013, 2014 và bệnh chưa có dấu hiệu dừng lại, tiếp tục tăng trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 6 hàng năm, chu kỳ mắc bệnh 3 đến 4 năm Tương tự tại Singapore và Hồng Kông, trong năm 2015 số nhập viện hàng tuần cũng tăng cao hơn cùng kỳ các năm 2011, 2012 và năm 2014 tại đây xu hướng mắc bệnh khá phức tạp, tăng giảm bất thường qua các tháng trong năm, bệnh thường tăng ngay từ những tuần đầu của mỗi năm và kéo dài ca mắc đến hết tuần
52 bệnh luôn nằm ở mức trên 200 ca [40]
1.4.2 Tình hình bệnh tay chân miệng ở Việt Nam:
Tại Việt Nam, bệnh TCM được ghi nhận từ năm 2003 ở Thành phố Hồ Chí Minh Bệnh TCM chính thức được đưa vào hệ thống báo cáo thường quy của
Bộ Y tế từ năm 2011 Từ năm 2012 đến nay bệnh luôn diễn biến phức tạp, số ca mắc luôn ở mức cao Trong năm 2011-2014, số ca mắc dao động từ 47.989 đến 81.797 trường hợp, số ca tử vong từ 8 đến 145 ca Số ca mắc bệnh không có dấu hiệu thuyên giảm vẫn còn nằm ở mức cao, tuy nhiên số trường hợp tử vong giảm đáng kể qua các năm [8]
Bảng 1.1 Tình hình bệnh TCM tại Việt Nam 2013 – 2015
1.4.3 Tình hình bệnh tay chân miệng tại tỉnh Đồng Tháp:
Tại tỉnh Đồng Tháp, là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nam Bộ, một trong những điểm nóng về tình hình bệnh TCM của khu vực Năm 2012 có 6.188 ca mắc, 7 ca tử vong; năm 2013 có 3.848 ca mắc, 5 ca tử vong; năm 2014 có 4.525 ca mắc, 1 ca tử vong; năm 2015 có 4.009 ca mắc, 1 ca tử vong Tính đến ngày 31/12/2017 toàn Tỉnh có 6.710 ca, nhận định bệnh còn diễn biến phức tạp và không có dấu hiệu dừng lại [24-27, 29]
Trang 21Biều đồ 1.1.Tình hình số ca mắc bệnh tay chân miệng tại các huyện, thị,
ăn, sau khi thay quần áo, tả lót cho trẻ chiếm trên 81,9%
Trang 22Nghiên cứu của tác giả Đặng Quang Ảnh (2013): bà mẹ có kiến thức về biểu hiện của bệnh TCM, triệu chứng nguy hiểm của bệnh còn rất thấp; biến chứng của bệnh được bà mẹ biết đến rất ít như bại liệt, phù phổi, cơ tim chưa được 25,0% Thực hành chung về phòng bệnh TCM chưa đạt chiếm đến 70,3%
Nghiên cứu của tác giả Mai Văn Phước (2015): Kiến thức của bà mẹ về triệu chứng bệnh TCM, đường lây truyền bệnh TCM, xử trí phân đạt rất thấp Thực hành của bà mẹ về rửa tay cho trẻ chỉ đạt 15,6; lau nhà 1 ngày/lần chỉ đạt 29,8%
Thực tế kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều cũng như của huyện Tháp Mười thời gian qua được đánh giá
là chưa được tốt Cụ thể là số ca mắc bệnh luôn tăng cao theo từng năm, đặc biệt năm 2017 tăng rất đến đến 105% so với số ca mắc năm 2016
Tại huyện chưa có nghiên cứu cụ thể nào về kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ Nhưng từ kết quả thực hiện chương trình các năm qua cho thấy rằng: Bà mẹ chưa thật sự quan tâm đến phòng bệnh TCM; kiến thức của bà
mẹ về bệnh TCM còn hạn chế; thực hành của bà mẹ thì chưa được thực hiện tốt:
vệ sinh cá nhân của bà mẹ và vệ sinh cho trẻ, rửa tay cho trẻ không thường xuyên
và thực hành về rửa tay chưa đúng và đầy đủ các bước, đây là điểm cần quan tâm của công tác phòng bệnh TCM vì “rửa tay được xem như vắc xin phòng bệnh TCM Không biết cách phòng bệnh, phòng bệnh không hiệu quả nên số ca mắc bệnh TCM luôn tăng cao, đó là thực trạng cần được đưa ra biện pháp khắc phục trong thời gian sớm nhất tại địa phương
1.6 Một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng:
* Nghiên cứu về kiến thức phòng bệnh TCM cho trẻ:
Một nghiên cứu cắt ngang của Su Ching Yang và cộng sự trên 690 phụ huynh và 104 giáo viên của 10 trường mẫu giáo ở Miền Bắc Đài Loan về kiến
thức và thái độ của họ đối với sự lây nhiễm EV71 từ 1/6/2008 đến 31/7/2008 [34];
kết quả khảo sát cho thấy, 76,0% giáo viên dưới 30 tuổi và 56,7% có trình độ học
Trang 23vấn cao đẳng; tỷ lệ trả lời chính xác ở cả hai nhóm là 89,3% về các triệu chứng đặc
trưng nhiễm EV71; 91,8% về nhóm tuổi dễ bị nhiễm EV71 và 80,6% về mùa lây nhiễm; tỷ lệ trả lời chính xác các triệu chứng phổ biến xác định nhiễm EV và các dấu hiệu cảnh báo nhiễm EV nặng ít hơn một phần ba trong cả hai, cụ thể là ở
nhóm phụ huynh 31,9% và ở nhóm giáo viên là 26,0%; khoảng một nửa số phụ huynh và giáo viên nghĩ rằng có thuốc kháng vi-rút điều trị hiệu quả đối với bệnh
nhiễm EV71; nhóm cha mẹ có kiến thức tốt hơn so với nhóm giáo viên về mùa lây
truyền (tương ứng với 82,3% và 69,2%), các triệu chứng đặc trưng khi nhiễm
EV71 (tương ứng với 90,3% và 82,7%) Nghiên cứu đánh giá kiến thức phòng
bệnh TCM của cha mẹ trẻ dưới 5 tuổi được thực hiện tại huyện Dingtao, Tứ Xuyên, Trung Quốc (2010); đây là đánh giá nghiên cứu sự tác động của bài giảng giáo dục sức khỏe về bệnh TCM cho cha mẹ của trẻ em dưới 5 tuổi, thông qua sự hiểu biết của họ về bệnh TCM; kết quả cho thấy, sự khác biệt về kiến thức của ĐTNC trước và sau khi nhận được bài giáo dục sức khỏe; tỷ lệ phụ huynh có kiến thức đạt về bệnh TCM trước và sau khi tiếp nhận giáo dục sức khỏe tương ứng là 57,7% và 84,3%, điều này đã chứng minh bài giảng sức khỏe là một phương pháp hữu hiệu trong việc giáo dục truyền thông về bệnh TCM; kết quả cũng cho thấy, nguồn cung cấp thông tin chủ yếu cho ĐTNC là truyền hình 79,7%, gia đình và bạn bè 59,1%, loa đài 49,6%, truyền thông trực tiếp 49,1%; tuy nhiên, các nguồn
họ thích hơn là truyền hình 64,9%, bác sĩ 43,9%, bài giảng 42,9% và cuốn sách nhỏ 36,3% [36] Một nghiên cứu mô tả của Jakrapong Aiewtrakun và cộng sự về kiến thức phòng chống bệnh TCM và thực hành trong suốt vụ dịch trên 388 người chăm sóc trẻ ở các Trung tâm chăm sóc trẻ và Trường mẫu giáo được tiến hành tại thành phố Khon Kaen năm 2010; kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người chăm sóc có đủ kiến thức để sàng lọc và kiến thức phòng chống bệnh TCM tương ứng là 95,0% và 39,8%; trong phần kiến thức phòng chống bệnh TCM, tỷ lệ đối tượng biết phải rửa tay cho trẻ với nước sạch trước mỗi bữa ăn chỉ chiếm 3,5% và tỷ lệ biết sử dụng đúng chất tẩy rửa để làm sạch bàn tay, bàn chân, khử trùng miệng là 43,0% [32] Nghiên cứu của Li Chao-ying, PEI Xiao-di và cộng sự năm 2010 về KT-TĐ-TH của phụ huynh học sinh hai Trường Tiểu học ở Cheng du, Trung Quốc
Trang 24về phòng chống bệnh TCM cho thấy điểm trung bình kiến thức của phụ huynh về bệnh TCM là 41,8%, trong đó có 93,8% cha mẹ cho rằng các báo cáo về TCM trên phương tiện thông tin đại chúng đã thuyết phục được họ, 92,2% trong số họ tin rằng những thông tin đó đáng tin cậy và 96,2% trong số họ tin rằng họ có thể tìm hiểu về bệnh TCM từ những thông tin đó [42] Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 116 nhân viên phục vụ tại Trường Đại học UTAR của Malaysia cho thấy
có 60,3% nhân viên biết đúng về bệnh TCM, có 67,0% nữ và 33,0% nam có thái
độ tốt với bệnh TCM [37]
Nghiên cứu của Cao Thị Thúy Ngân năm 2012 về “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội năm 2012”, nghiên cứu người chăm sóc trẻ dưới 3 tuổi tại kết quả nghiên cứu cho thấy 41,5% đối tượng nghiên cứu có kiến thức phòng chống bệnh TCM đạt [13] Nghiên cứu mô tả cắt ngang 597 bà mẹ có con dưới 5 tuổi của Trần Thị Anh Đào, Phạm Thanh Hải và cộng sự về kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng chống bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi của tại huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai năm 2012; nghiên cứu sử dụng bộ phiếu phỏng vấn bà mẹ có con dưới 5 tuổi về kiến thức thực hành phòng chống bệnh TCM; kết quả nghiên cứu có 43,7% bà mẹ có kiến thức chung đạt về phòng bệnh TCM [3] Nghiên cứu cắt ngang có phân tích của Phan Trọng Lân, Lê Thị Thanh Hương và cộng sự về kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh TCM của người chăm sóc chính trẻ dưới 5 tuổi tại xã Lệ Chi huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2013; kết quả cho thấy có 62,8% ĐTNC có kiến thức chung đạt về phòng, chống bệnh TCM [6] Nghiên cứu của Đặng Quang Ảnh năm
2013 về kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan đến thực hành phòng, chống bệnh TCM của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi trên địa bàn quận Thanh Khê-Thành phố Đà Nẵng; nghiên cứu tiến hành trên 370 người chăm sóc trẻ dưới
5 tuổi, kết quả chỉ có 17,6% người có kiến thức đúng về phòng chống bệnh TCM [2] Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Liêm năm 2015 về kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại 3 xã của huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng năm 2015 [8]; kết quả cho thấy kiến thức chung về phòng bệnh
Trang 25TCM của các bà mẹ còn khá thấp; nhiều bà mẹ có hiểu biết sai, cho là: TCM không tái phát ở trẻ (64,0%), đã có vắc-xin phòng TCM (25,0%); có tới 82,4% bà
mẹ không biết tác nhân gây bệnh và 22,8% không biết đường lây bệnh TCM; chỉ
có 85,3% bà mẹ biết TCM có thể phòng được; kiến thức về dấu hiệu mắc TCM của bà mẹ tương đối tốt, 62,5% mẹ biết có dấu hiệu sốt kèm mệt mỏi, 84,6% mẹ cho là trẻ có nốt bỏng nước ở miệng, lòng bàn tay, chân Nghiên cứu của Mai Văn Phước tìm hiểu về “Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại 02 xã, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang năm 2015”, kết quả cho thấy tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức đạt về phòng bệnh TCM là 79,1% [14]
* Nghiên cứu về thực hành phòng bệnh TCM cho trẻ:
Một nghiên cứu mô tả của Jakrapong Aiewtrakun và cộng sự về kiến thức phòng chống bệnh TCM và thực hành trong suốt vụ dịch trên 388 người chăm sóc trẻ ở các Trung tâm chăm sóc trẻ và Trường mẫu giáo được tiến hành tại Thành phố Khon Kaen năm 2010; kết quả nghiên cứu cho thấy, thực hành phòng chống bệnh, chỉ có 3,5% đối tượng biết rửa tay với xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh; trong thời gian dịch bùng phát, một số người chăm sóc trẻ (23,7%) không giảm hoạt động tiếp xúc gần gũi giữa các trẻ bệnh và khi có trẻ bị bệnh, 19,1% người chăm sóc không báo cáo cho cơ quan YTCC biết [32] Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 250 bà mẹ từ 22-35 tuổi tại vùng Karachi, Pakistan về KT-TĐ-TH về rửa tay, kết quả cho thấy, chỉ 6,0% bà mẹ rửa tay hàng ngày, trong
đó 72,0% rửa tay không đúng quy trình, 40,0% số bà mẹ để móng tay dài và bẩn [31]
Nghiên cứu cắt ngang có phân tích của Phan Trọng Lân, Lê Thị Thanh Hương và cộng sự về kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh TCM của người chăm sóc chính trẻ dưới 5 tuổi tại xã Lệ Chi huyện Gia Lâm,
Hà Nội năm 2013; nghiên cứu sử dụng bộ phiếu phỏng vấn người chăm sóc trẻ chính về KT-TH phòng chống bệnh TCM, đánh giá thực hành phòng bệnh TCM gồm 16 câu hỏi, ĐTNC trả lời đúng 2/3 số câu hỏi là đạt yêu cầu; kết quả cho thấy
Trang 26có 45,2% ĐTNC có thực hành chung đạt về phòng, chống bệnh TCM [6] Nghiên cứu của Cao Thị Thúy Ngân năm 2012 về “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung Liệt, quận Đống
Đa, Hà Nội năm 2012”, nghiên cứu người chăm sóc trẻ dưới 3 tuổi tại kết quả nghiên cứu cho thấy 65,5% đối tượng nghiên cứu thực hành phòng chống bệnh TCM không đạt [13] Nghiên cứu mô tả cắt ngang, 597 bà mẹ có con dưới 5 tuổi của Trần Thị Anh Đào, Phạm Thanh Hải và cộng sự về kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng chống bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi của tại huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai năm 2012; nghiên cứu sử dụng bộ phiếu phỏng vấn bà mẹ có con dưới 5 tuổi về kiến thức thực hành phòng chống bệnh TCM, đánh giá thực hành gồm 6 biện pháp, thực hành đúng khi bà mẹ có thực hiện 4/6 biện pháp để phòng bệnh TCM; kết quả nghiên cứu cho thấy, 38,8% bà
mẹ có thực hành đúng về phòng bệnh TCM, trong đó có 67,5% bà mẹ rửa sạch vật dụng, đồ chơi của trẻ, 63,0% bà mẹ rửa tay bằng xà phòng khi chăm sóc trẻ, 59,9% không để trẻ tiếp xúc với trẻ bệnh, 48,7% giữ vệ sinh cá nhân, rửa tay cho trẻ [3] Nghiên cứu của Đặng Quang Ảnh năm 2013 về kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan đến thực hành phòng, chống bệnh TCM của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi trên địa bàn quận Thanh Khê-Thành phố Đà Nẵng, kết quả người chăm sóc trẻ có thực hành đạt chỉ chiếm 29,7% [2] Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Liêm năm 2015 về kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại 3 xã của huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng năm 2015 [8]; kết quả cho thấy, kiến thức chung và thực hành chung về phòng bệnh TCM của các bà mẹ còn khá thấp; thực hành của bà mẹ về phòng TCM chưa tốt: tỷ lệ bà
mẹ rửa tay bằng xà phòng cho mẹ khi chăm sóc trẻ và rửa tay bằng xà phòng cho trẻ là cao (87,5%; 90,0%), nhưng rửa tay bằng xà phòng vào từng thời điểm cần thiết cho mẹ và trẻ là chưa thường xuyên (<50,0%); tỷ lệ mẹ dùng xà phòng lau rửa đồ chơi của trẻ và lau chùi sàn nhà hàng ngày là thấp (21,0%; 19,8%); thực hiện vệ sinh môi trường của hộ gia đình để phòng TCM chưa đạt Nghiên cứu của Mai Văn Phước tìm hiểu về “Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại 02 xã, huyện Vị Thủy,
Trang 27tỉnh Hậu Giang năm 2015” kết quả cho thấy tỷ lệ bà mẹ có thực hành đạt về phòng chống bệnh TCM chiếm 83,7% [14]
* Nhóm một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của bà mẹ:
Nhóm nghề nghiệp: Nghề nghiệp của bà mẹ được coi là một yếu tố có liên
quan tới kiến thức, thực hành về phòng bệnh TCM Nghiên cứu của Phan Trọng Lân và cộng sự (2013) đã chỉ ra rằng nghề nghiệp của ĐTNC có mối liên quan với kiến thức và thực hành về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi; ĐTNC là cán bộ viên chức có kiến thức phòng, chống bệnh TCM đạt 73,2%, trong đó ĐTNC làm ruộng, buôn bán có kiến thức phòng bệnh TCM đạt 52,8%, ĐTNC là CBVC có kiến thức phòng chống bệnh TCM đạt cao gấp 2,4 lần các ĐTNC có nghề khác (làm ruộng, buôn bán), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001); nghiên cứu cũng ghi nhận sự khác biệt giữa nghề nghiệp với thực hành phòng chống bệnh TCM: ĐTNC là cán bộ viên chức có thực hành đạt về phòng, chống bệnh TCM là 61,8%, cao gấp 3,9 lần ĐTNC làm nghề khác 29.1% với p<0,05 [6] Nghiên cứu
mô tả cắt ngang có phân tích của Cao Thị Thúy Ngân (2012) cũng đã xác định được mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nghề nghiệp với kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ; ở những bà mẹ có nghề nghiệp
là cán bộ công nhân viên có kiến thức cao hơn 6,1 lần và có thực hành đạt cao hơn 4,4 lần ở những bà mẹ có nghề nghiệp khác [13] Tương tự, nghiên cứu mô tả cắt ngang của Trần Thị Anh Đào và Cộng Sự (2012) cũng chỉ ra yếu tố liên quan giữa nghề nghiệp của bà mẹ với thực hành đúng về phòng bệnh tay chân miệng (p<0,05) [3] Nghiên cứu của Đặng Quang Ảnh năm 2013 về kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan đến thực hành phòng, chống bệnh TCM của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi trên địa bàn quận Thanh Khê-Thành phố Đà Nẵng; kết quả cho thấy, người chăm sóc trẻ là cán bộ, công chức, viên chức có thực hành đúng về phòng, chống bệnh TCM cao gấp 1,6 lần những người chăm sóc trẻ làm nghề nghiệp khác (p<0,05) [2] Nghiên cứu cắt ngang tại 15 Tỉnh khu vực phía Nam năm 2014 về thực hành phòng bệnh tay chân miệng tại cộng đồng của Hồ Thị Thiên Ngân và Cộng sự, cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa
Trang 28nghề nghiệp với thực hành: người chăm sóc trẻ là cán bộ công chức thực hành đúng gấp 8 lần công nhân (p<0,001) gấp 4,5 lần nông dân (p<0,001) và gấp 8 lần nội trợ (p=0,005) [1] Trần Thị Bích Hồi, Triệu Thị Lý khi nghiên cứu thực trạng kiến thức thái độ thực hành về chăm sóc sức khỏe trẻ em của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại 3 xã huyện An Dương, Hải Phòng 2003 đã tìm thấy sự khác biệt về kiến thức thái độ thực hành của các bà mẹ ở các nhóm nghề nghiệp khác nhau; các bà
mẹ là công chức có kiến thức thái độ thực hành tốt nhất, hơn các bà mẹ ở nhóm nghề công nhân, các bà mẹ là nông dân hai nghề khác có kiến thức thực hành hạn chế nhất (p<0,0001) [7] Nghiên cứu của Mai Văn Phước tìm hiểu về “Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại 02 xã, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang năm 2015”, kết quả cho thấy nghề nghiệp của bà mẹ có liên quan đến kiến thức phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi: bà mẹ là cán bộ, công nhân viên có tỷ lệ kiến thức đạt cao gấp 9,29
lần bà mẹ làm những nghề khác (p<0,001) [14]
Nhóm trình độ học vấn: Ngoài nghề nghiệp, trình độ học vấn cũng được
xem đến như một yếu tố có liên quan tới kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của trẻ dưới 5 tuổi Thông thường, bà mẹ có trình độ học vấn cao hơn sẽ có kiến thức và thực hành tốt hơn so với bà mẹ có trình độ học vấn thấp Chẳng hạn nghiên cứu của Phạm Trọng Lân và Cộng sự năm 2013 đã chỉ ra rằng trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu có mối liên quan với kiến thức và thực hành về phòng bệnh tay chân miệng cho trẻ dưới 5 tuổi; đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn Trung học phổ thông trở lên có kiến thức phòng chống bệnh tay chân miệng đạt là 72,3%, trong khi đó đối tượng nghiên cứu có kiến thức phòng chống bệnh tay chân miệng cao gấp 2,5 lần các đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn Trung học phổ thông trở xuống (p<0,001) đối tượng nghiên cứu có trình
độ học vấn Trung học phổ thông trở lên có thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng đạt là 57,7%, trong khi đó đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn dưới Trung học phổ thông đạt thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng là 30,1%, đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn Trung học phổ thông trở lên đạt về thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng cao gấp 3,2 lần các đối tượng nghiên cứu
Trang 29có trình độ học vấn dưới Trung học phổ thông (p< 0,001) [6] Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích của Cao Thị Thúy Ngân 2012 cũng đã xác định được mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn với kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ, chẳng hạn những người có trình độ học vấn trên Phổ thông trung học có kiến thức phòng bệnh tay chân miệng cao gấp 2,3 lần và thực hành cao gấp 4,7 lần các đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn
từ Trung học phổ thông trở xuống [13] Tương tự nghiên cứu mô tả cắt ngang của Trần Thị Anh Đào và Cộng sự 2012 cũng chỉ ra yếu tố liên quan giữa trình độ học vấn của bà mẹ với thực hành đúng về phòng bệnh tay chân miệng (p< 0,05) [3] Nghiên cứu các yếu tố liên quan ảnh hưởng đến thái độ và hành vi thực hành của nhóm chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi và giải pháp truyền thông của Phạm Thanh Bình và Cộng sự năm 2012 cho thấy trình độ học vấn có tương quan tỷ lệ thuận với tỷ lệ người có kiến thức đúng về bệnh tay chân miệng sự khác biệt này có ý nghĩa thống
kê ở những người có trình độ học vấn càng cao tỷ lệ hiểu biết đúng về tính chất của bệnh tay chân miệng càng nhiều (p< 0,001) Nghiên cứu cắt ngang tại 15 Tỉnh khu vực phía Nam về thực hành phòng bệnh tay chân miệng tại cộng đồng của Hồ Thị Thiên Ngân và Cộng sự năm 2014 cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống
kê về trình độ người chăm sóc trẻ người chăm sóc trẻ có trình độ đại học cao đẳng thực hành đúng cao hơn 15,1 lần so với người chưa học hết cấp 1 [1] Trần Thị Bích Hồi, Triệu Thị Lý khi nghiên cứu thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe trẻ em của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ba xã huyện An Dương Hải Phòng năm 2003, đã tìm thấy sự khác biệt về kiến thức, thái độ, thực hành của các bà mẹ ở các nhóm trình độ học vấn khác nhau các bà mẹ ở trình độ cao đẳng đại học có kiến thức thái độ thực hành tốt nhất, tiếp đến các bà mẹ trình độ Trung học phổ thông hay công nhân kỹ thuật, các bà mẹ ở nhóm trình độ Tiểu học Trung học cơ sở có kiến thức thái độ thực hành kém nhất, sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê (p<0,05) [7]
Nhóm tuổi: Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Phạm Văn Thanh về kiến thức
thực hành phòng bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại huyện Cư M’gar tỉnh Đắk Lắk năm 2012, cho thấy có yếu tố liên quan giữa nhóm tuổi với
Trang 30thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ, những bà mẹ tuổi càng cao thì có thực hành chăm sóc trẻ càng tốt hơn (p<0,05); tuy nhiên trong nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác biệt giữa tuổi với kiến thức của đối tượng nghiên cứu [30] Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Cao Thị Thúy Ngân (2012) về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội đã chỉ ra được mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p<0,001) giữa tuổi của đối tượng nghiên cứu với thái độ của bà
mẹ, những bà mẹ trên 30 tuổi có khả năng có thái độ phòng chống bệnh tay chân miệng đúng gấp 2,7 lần các đối tượng dưới 30 tuổi; tuy nhiên nghiên cứu không thấy có sự khác biệt giữa tuổi của đối tượng nghiên cứu với kiến thức và thực hành của họ [13]
Kinh tế hộ gia đình: Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Phạm Văn Thanh về
kiến thức thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại huyện Cư M’gar tỉnh Đắk Lắk năm 2012 cho thấy có yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức và thực hành với tình trạng kinh tế của bà mẹ; những bà mẹ thuộc gia đình khá giàu thì có kiến thức và thực hành tốt hơn so với những bà mẹ thuộc
hộ gia đình nghèo; sự khác biệt này là ý nghĩa thống kê với (p<0,05) [30] Nghiên cứu của Mai Văn Phước tìm hiểu về “Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại 02 xã, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang năm 2015” kết quả cho thấy thu nhập trung bình gia đình của bà mẹ có liên quan đến kiến thức phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ, bà mẹ có thu nhập trong gia đình hàng tháng > 4 triệu có tỷ lệ kiến thức đạt cao hơn gấp 3,56 lần bà mẹ có thu nhập thấp hơn (p<0,001) [14]
* Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng bệnh tay chân miệng:
Nghiên cứu của Phan Trọng Lân và Cộng sự năm 2013 đã chỉ ra sự khác biệt giữa kiến thức và thực hành phòng bệnh tay chân miệng; đối tượng nghiên cứu có kiến thức đạt thì thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng đạt 59,9%, trong khi đó đối tượng nghiên cứu có kiến thức không đạt đạt thực hành phòng
Trang 31chống bệnh tay chân miệng là 20,4%; đối tượng nghiên cứu có kiến thức đạt về phòng chống bệnh tay chân miệng có thực hành cao gấp 5,8 lần các đối tượng nghiên cứu có kiến thức không đạt; sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,001) [6] Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Trần Thị Anh Đào và Cộng sự năm
2012 đã chỉ khác biệt giữa kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng, đối tượng nghiên cứu có kiến thức tốt thì thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng cao hơn các đối tượng nghiên cứu có kiến thức không tốt, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05) [3] Nghiên cứu của mô tả cắt ngang của Cao Thị Thúy Ngân 2012 về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung Liệt quận Đống Đa Hà Nội cho thấy có yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê (p<0,001) giữa kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng; đối tượng nghiên cứu có kiến thức đạt thì thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng cao gấp 7,5 lần các đối tượng nghiên cứu có kiến thức không đạt [13] Nghiên cứu của Đặng Quang Ảnh năm 2013 về kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan đến thực hành phòng, chống bệnh TCM của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi trên địa bàn quận Thanh Khê-Thành phố Đà Nẵng; kết quả cho thấy có mối quan hệ chặt chẽ giữa kiến thức và thực hành phòng chống bệnh TCM, những người có kiến thức đúng thì thực hành đúng gấp 6,4 lần những người có kiến thức không đúng [2] Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Liêm về kiến thức thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ba xã huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng năm 2015 cho thấy có mối liên quan giữa kiến thức với thực hành về phòng bệnh tay chân miệng của bà mẹ (p<0,01); khi điểm kiến thức của bà mẹ tăng thêm
1 điểm thì điểm thực hành tăng thêm 0,33 điểm; tuy nhiên chỉ có 7,5% sự biến thiên của điểm thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng được lý giải bởi sự biến thiên của điểm kiến thức về bệnh tay chân miệng của bà mẹ[8] Nghiên cứu của Mai Văn Phước tìm hiểu về “Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại 02 xã, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang năm 2015” kết quả cho thấy những bà mẹ có kiến thức đạt
Trang 32về phòng bệnh TCM có tỷ lệ thực hành đạt cao hơn gấp 4,95 lần những bà mẹ có kiến thức không đạt (OR= 3,72; p<0,001) [14]
1.7 Một số đặc điểm và tình hình bệnh TCM tại địa bàn nghiên cứu: 1.7.1 Huyện Tháp Mười:
* Thông tin chung về huyện Tháp Mười:
Huyện Tháp Mười được thành lập theo Quyết định số 4/CP ngày 05/01/1981 của Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam, có diện tích tự nhiên 52.800 ha (trong đó: đất nông nghiệp: 45.774 ha và đất phi nông nghiệp: 7.026 ha) bằng gần 17,0% diện tích của tỉnh Đồng Tháp, phía Bắc giáp huyện Vĩnh Hưng tỉnh Long
An và huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp; phía Đông giáp huyện Tân Thạnh tỉnh Long An; phía Tây và Tây – Nam giáp huyện Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp; phía Nam và Đông – Nam giáp huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang
Địa hình toàn vùng Đồng Tháp Mười giống như lồng chảo, xung quanh cao Huyện Tháp Mười nằm ở vùng thấp, tương đối bằng phẳng, nhưng vùng đất phía Nam và phía Tây có độ cao hơn phía Đông, phía Bắc Xưa kia, vùng Tháp Mười ít sông, rạch, chỉ có một số lung sình, một số gò, đáng chú ý là hai gò: Động Cát (thuộc xã Mỹ Quý) và Tháp Mười (thuộc xã Tân Kiều) Gò Tháp Mười là khu
di tích lịch sử văn hóa và du lịch, đã được Bộ Văn hóa – Thông tin cấp bằng công nhận Di tích cấp Quốc gia
Tháp Mười là huyện có lợi thế là trung tâm của vùng Đồng Tháp Mười, có vùng nguyên liệu là vựa lúa lớn của tỉnh và khu vực
Huyện Tháp Mười có tiềm năng du lịch, là nơi nuôi dưỡng nhiều danh nhân, có nhiều nét văn hóa - nghệ thuật truyền thống Khu di tích Gò Tháp được Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa - lịch sử của dân tộc và nhân loại
Trang 33Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 3 năm (2014 - 2016) đạt 11,9%, cơ cấu kinh tế trong GDP đến cuối năm 2016: khu vực nông - lâm - thủy sản chiếm 63,0%; công nghiệp - xây dựng chiếm 10,4% và thương mại - dịch vụ chiếm 26,65%; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 31 triệu đồng
Trong những năm qua đã thu hút trên 15 dự án đầu tư với những nhà đầu
tư lớn, đã tạo nên một hình ảnh của nền nông nghiệp–công nghiệp–đô thị-du lịch của vùng đất Sen hồng [9]
* Hệ thống mạng lưới Y tế huyện Tháp Mười:
Trên địa bàn huyện Tháp Mười có Bệnh viện đa khoa khu vực Tháp Mười, Phòng Y tế, Hội Đông Y và Trung tâm Y tế
* Tình hình bệnh TCM tại huyện Tháp Mười:
Theo báo cáo Trung tâm Y tế huyện Tháp Mười, trong năm 2010 trên địa bàn huyện bệnh TCM chỉ mắc 23 ca, nhưng đến năm 2011 bệnh TCM tăng lên
554 ca; đỉnh điểm năm 2012 bệnh TCM tăng lên 587 ca (01 ca tử vong), năm 2013
là 369 cas (01 ca tử vong), năm 2014 là 488 ca (tử vong 01 ca, Tỉnh chỉ có 01 ca
tử vong), năm 2015, 2016 số ca mắc có giảm Tuy nhiên, tính đến thời điểm 31/12/2017 số ca mắc lại tăng rất cao là 461, tăng 187 ca so với cùng kỳ năm 2016 (274 ca), đối tượng mắc bệnh nhiều nhất là trẻ dưới 5 tuổi Mặc dù Ngành Y tế huyện nhà đã triển khai các hoạt động phòng, chống bệnh TCM nhưng số cas mắc vẫn tiếp tục tăng cao như tổ chức 07 lớp tập huấn cho giáo viên mầm non toàn huyện tham dự, 01 lớp cho Hội liên hiệp phụ nữ xã huyện, 01 lớp cho cán bộ y tế học đường Mặc dù vậy, nhưng tình hình mắc TCM trên địa bàn huyện đang diễn biến rất phức tạp và hết sức nguy hiểm [10-12, 19-23]
Trang 34Biều đồ 1.2 Tình hình số ca mắc và tử vong bệnh tay chân miệng
qua các năm của huyện Tháp Mười (năm 2010 đến năm 2017)
Năm 2017, Trung tâm Y tế huyện Tháp Mười có số ca mắc TCM luôn đứng hàng thứ 4 của tỉnh Đồng Tháp
1.7.2 Xã Tân Kiều:
* Thông tin chung:
Xã Tân Kiều là xã vùng sâu của huyện Tháp Mười, phía Đông giáp xã Hậu Thạnh, huyện Mộc Hoá, tỉnh Long An; phía Đông Nam giáp xã Mỹ An và xã Đốc Binh Kiều; phía Tây Nam giáp xã Mỹ An và thị trấn Mỹ An; phía Tây giáp xã
Mỹ Đông; phía Tây Bắc giáp xã Trường Xuân.Xã có 04 ấp, từ ấp 1 đến ấp 4 với dân số 9947 người
Xã Tân Kiều là xã đặc biệt của Tỉnh có 02 anh hùng dân tộc, Khu di tích
Gò Tháp được Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng “Di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa - lịch sử của dân tộc và nhân loại” và được Bộ Văn hóa-Thông tin cấp bằng công nhận Di tích cấp Quốc gia”; có khu du lịch Đồng Sen với hàng trăm khách đến tham quan mỗi ngày [9]
Trang 35* Tình hình bệnh TCM:
Theo số liệu trung bình số ca mắc bệnh TCM 6 năm, từ năm 2012 đến năm 2017, xã Tân Kiều là xã có dân số đứng hàng thứ 6 nhưng số ca mắc TCM luôn đứng tốp đầu của huyện [12,19-23]
Biều đồ 1.3 Trung bình số ca mắc bệnh TCM 6 năm tại các xã, thị trấn huyện Tháp Mười (năm 2012 đến năm 2017)
Qua biểu đồ, cho chúng ta thấy xã Tân Kiều là 01 trong 13 xã có số ca mắc bệnh tay chân miệng cao nhất của huyện Tháp Mười 6 năm qua, từ năm 2012 đến năm 2017
Trang 36KHUNG LÝ THUYẾT
Khung lý thuyết được chúng tôi xây dựng dựa trên nghiên cứu của Mai Văn Phước (2015) [14] và Đỗ Quốc Tuyên (2016) Trên cơ sở đó, bổ sung thêm một số biến số về kiến thức, thực hành; hoạt động hỗ trợ phòng bệnh TCM từ y tế địa phương và chia các yếu tố liên quan thành 2 yếu tố là yếu tố cá nhân của bà mẹ
và các một số yếu tố liên quan khác để tìm hiểu rõ hơn về các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của bà mẹ
Yếu tố cá nhân của bà mẹ:
- Tình hình mắc TCM của gia đình xung quanh, bạn bè, cơ quan
- Hoạt động hỗ trợ phòng chống bệnh TCM từ cán bộ y tế
- Nguồn cung cấp thông tin về bệnh TCM
Thực hành phòng bệnh TCM
cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ:
- Rửa tay của bà mẹ
- Rửa tay cho trẻ
- Vệ sinh răng miệng cho trẻ
- Vệ sinh nhà ở
- Lau rửa đồ chơi của trẻ
- Vệ sinh ăn uống
- Xử lý phân, dịch tiết của trẻ
Kiến thức phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ:
Trang 37Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu:
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Bà mẹ có con dưới 5 tuổi xã Tân Kiều huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp
Tiêu chí lựa chọn:
- Tất cả bà mẹ có con dưới 5 tuổi chưa mắc bệnh TCM sống tại xã Tân Kiều huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp từ 01 năm trở lên tính đến thời điểm nghiên cứu (Trẻ sinh từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 3 năm 2018)
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại trừ:
- Bà mẹ có con dưới 5 tuổi có con đã mắc bệnh TCM
- Không có mặt tại địa phương trong thời gian nghiên cứu
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Những người có khó khăn về nghe, nói hoặc bị bệnh tâm thần
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian: Từ tháng 12/2017 đến tháng 11/2018
- Địa điểm: Xã Tân Kiều huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp
2.2 Thiêt kế nghiên cứu:
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích
2.3 Mẫu và phương pháp chọn mẫu:
* Cỡ mẫu:
Trang 38𝑛 = 𝑍1−∝/2
2 × 𝑝(1 − 𝑝)
𝑑2
Trong đó:
n: Cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu
Z1- /2: Hệ số tin cậy (với α=0,05: Z1-/2 =1,96)
p: Tham khảo nghiên cứu tương tự của Mai Văn Phước năm 2015 ở Hậu Giang, tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có thực hành đạt về phòng bệnh TCM là 83,7%, chúng tôi chọn p1 = 0,837; tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức đạt
Thu thập danh sách các trẻ bị bệnh TCM từ năm 2013 đến nay, lọc từ danh sách bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại 4 ấp của xã Tân Kiều theo thu thập số liệu
“Sổ quản lý trẻ em dưới 5 tuổi”, chúng tôi có 629 bà mẹ có trẻ chưa từng mắc bệnh TCM
* Phương pháp chọn mẫu:
Phân bổ hành chính xã Tân Kiều gồm 4 ấp: ấp 1, ấp 2, ấp 3 và ấp 4; tại mỗi ấp, số bà mẹ có con dưới 5 tuổi chưa bị mắc bệnh TCM được lựa chọn để tham gia vào nghiên cứu được thực hiện theo cách chọn ngẫu nhiên hệ thống
Bước 1: Lập danh sách tất cả các bà mẹ có con dưới 5 tuổi theo từng ấp, đánh số thứ tự từ 1 cho đến hết
Trang 39Bước 2: Dựa trên danh sách lập sẵn và tổng số bà mẹ thuộc diện nghiên
cứu, tìm khoảng cách mẫu bằng cách chia tổng số bà mẹ diện nghiên cứu cho số mẫu cần có Khoảng cách mẫu được tính như sau:
Công thức tính khoảng cách mẫu k: k=N/n, trong đó:
Trong đó: N là tổng số bà mẹ có con dưới 5 tuổi trong quần thể nghiên cứu là xã Tân Kiều (629 bà mẹ)
n là số lượng bà mẹ có con dưới 5 tuổi cần chọn (278 bà mẹ)
Vậy k= 629/278=2
Bước 3: Tại mỗi ấp, chọn ngẫu nhiên một con số nhỏ hơn hay bằng
khoảng cách k để xác định mẫu thứ nhất, tìm mẫu thứ hai bằng cách lấy số thứ tự của mẫu thứ nhất cộng với khoảng cách mẫu; tìm mẫu thứ ba bằng cách lấy số thứ
tự mẫu thứ hai cộng với khoảng cách mẫu; làm theo phương pháp tương tự để tìm
ra các mẫu tiếp theo, khi đến cuối danh sách thì sẽ đủ số mẫu cần tìm trong ấp Thực hiện cùng phương pháp này cho cả 4 ấp để tìm đủ 278 mẫu cần có
Điều tra viên đến từng nhà của đối tượng được chọn để phỏng vấn, thu thập số liệu Chúng tôi quy ước, nếu đối tượng chọn nhưng thuộc diện tiêu chuẩn loại trừ, thì sẽ phỏng vấn đối tượng có số thứ tự kế tiếp, để tránh mất mẫu, nếu lại thuộc diện loại trừ thì lấy số thứ tự kế tiếp hoặc số thứ tự kế trước
Bước 4: Bà mẹ được chọn sẽ tham gia trả lời phỏng vấn theo bộ câu hỏi đã
thiết kế sẵn (phụ lục 1) Kết quả chọn được 278 bà mẹ tham gia nghiên cứu
* Từ 4 bước trên, chúng tôi có số bà mẹ cần được phỏng vấn tại 4 ấp cụ thể như sau:
Bảng 2.1 Bảng chi tiết lấy mẫu từng ấp
Trang 402.4 Phương pháp thu thập số liệu:
2.4.1 Điều tra viên:
Đội điều tra viên bao gồm 08 thành viên là nhân viên y tế 4 ấp, những điều tra viên này được tập huấn kỹ về những nội dung trong phiếu phỏng vấn trước khi thực hiện các buổi phỏng vấn
2.4.2 Giám sát viên:
Là bản thân học viên thực hiện đề tài nghiên cứu, trong quá trình phỏng vấn thực địa giám sát viên giám sát quy trình thu thập số liệu và chất lượng cuộc phỏng vấn thu thập số liệu thực địa của các điều tra viên, giám sát viên cũng góp ý điều tra viên để có được chất lượng tối ưu của cuộc phỏng vấn
Giám sát viên kiểm tra phiếu do điều tra viên phỏng vấn nhằm đảm bảo thông tin thu được không bị bỏ sót và có chất lượng, giám sát viên tổng hợp phiếu điều tra hằng ngày và cập nhật tiến độ thu thập số liệu cũng như hỗ trợ điều tra viên giải quyết các vấn đề phát sinh khi cần thiết
2.4.3 Công thụ thu thập:
Cán bộ nghiên cứu sẽ tiến hành phỏng vấn ĐTNC dựa theo bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc Cán bộ nghiên cứu sẽ nhấn mạnh với các ĐTNC là các thông tin chỉ phục vụ cho công tác nghiên cứu
Căn cứ Quyết định số 581/QĐ-BYT ngày 24/2/2012 của Bộ Y tế, về việc ban hành hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh TCM, Quyết định số 1003/QĐ-BYT ngày 30/3/2012 về việc ban hành hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh TCM và bộ câu hỏi phỏng vấn nghiên cứu của Mai Văn Phước (2015), chúng tôi tiến hành xây dựng bộ câu hỏi nghiên cứu gồm ba phần: (A) Nhóm câu hỏi về thông tin của bà mẹ; (B) Nhóm câu hỏi về kiến thức bà mẹ về bệnh TCM; (C) Nhóm câu hỏi về thực hành cho mẹ và bé để phòng bệnh TCM; (D) Tình hình mắc bệnh TCM của gia đình xung quanh, bạn bè; (E) Hoạt động hỗ trợ phòng chống bệnh TCM từ cán bộ Y tế; (F) Nguồn cung cấp thông tin về bệnh TCM