Nghiên cứu “Thực hiện quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt của nhân viên y tế tại Bệnh viện E, năm 2019” được thực hiện với mục tiêu: 1 Mô tả thực trạng thực hiện quy trình xử lý dụng cụ c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ CÁNH
THỰC HIỆN QUY TRÌNH XỬ LÝ DỤNG CỤ CHỊU NHIỆT CỦA NHÂN
VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN E, NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH :8720802
Hà Nội, 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ CÁNH
THỰC HIỆN QUY TRÌNH XỬ LÝ DỤNG CỤ CHỊU NHIỆT CỦA NHÂN
VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN E, NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học cùng toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Y tế Công cộng đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập vừa qua
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám đốc cùng các cán bộ Bệnh viện E đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu tại Bệnh viện
Có được kết quả này, tôi vô cùng biết ơn PGS.TS Hà Kim Trung và Tiến sĩ Đặng Vũ Phương Linh là người thầy đã định hướng, hướng dẫn tận tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi mọi mặt để tôi hoàn thành quá trình học tập
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2019
Học viên Nguyễn Thị Cánh
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix
TÓM TẮT 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 5
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1.1 Một số khái niệm, lịch sử phát triển công tác kiểm soát nhiễm khuẩn và khử khuẩn – tiệt khuẩn dụng cụ 6
1.1.1 Một số khái niệm về kiểm soát nhiễm khuẩn và khử khuẩn – tiệt khuẩn dụng cụ 6 1.1.2 Lịch sử phát triển công tác khử khuẩn – tiệt khuẩn tại Việt Nam 6
1.1.3 Tầm quan trọng của khử khuẩn tiệt khuẩn dụng cụ y tế 7
1.1.4 Những nguyên tắc khử - tiệt khuẩn dụng cụ [12] 8
1.2 Thực hiện công tác xử lý dụng cụ y tế tại cơ sở y tế 8
1.2.1 Các điều kiện để thực hiện khử khuẩn – tiệt khuẩn dụng cụ y tế 8
1.2.2 Thực hiện khử khuẩn – tiệt khuẩn tại cơ sở y tế 10
1.2.3 Quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt 11
1.3 Một số yếu tố thuận lợi khó khăn khi thực hiện khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ y tế 15
1.3.1 Thuận lợi 15
1.3.2 Khó khăn 17
1.4 Một số nghiên cứu về khử khuẩn tiệt khuẩn dụng cụ trên Thế giới và Việt Nam 19 1.4.1 Nghiên cứu về khử khuẩn – tiệt khuẩn dụng cụ trên thế giới 19
Trang 51.4.2 Nghiên cứu về khử khuẩn tiệt khuẩn dụng cụ tại Việt Nam 22
1.5 Giới thiệu về cơ sở nghiên cứu 25
1.5.1 Giới thiệu về Bệnh viện E 25
1.5.2 Công tác khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ tại Bệnh viện E 26
1.5.3 Quy trình thực hiện xử lý (làm sạch, khử khuẩn, tiệt khuẩn) dụng cụ chịu nhiệt tại Bệnh viện E 28
1.6 Khung lý thuyết 34
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.1.1 Nghiên cứu định lượng 35
2.1.2 Nghiên cứu định tính 35
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 35
2.3 Thiết kế nghiên cứu 35
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 36
2.4.1 Nghiên cứu định lượng 36
2.4.1.1.Tại các khoa lâm sàng 36
2.4.1.2.Tại khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn 36
2.4.2 Nghiên cứu định tính 37
2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 37
2.5.1 Cơ sở để xây dựng bộ công cụ 37
2.5.2 Công cụ thu thập s liệu 37
2.5.3 hương pháp thu thập s liệu 38
2.6 Các biến số nghiên cứu 40
2.6.1 Các biến s nghiên cứu định lượng 40
2.6.2 Các ch đề nghiên cứu định tính 40
Trang 62.7 Các tiêu chuẩn đánh giá 40
2.8 Xử lý và phân tích số liệu 41
2.8.1 S liệu định lượng 41
2.8.2 S liệu định tính 42
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 42
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 43
3.2 Thực trạng thực hiện quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt của nhân viên y tế tại Bệnh viện E, năm 2019 44
3.2.1 Thực trạng quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt tại khoa lâm sàng 44
3.2.2 Tại khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn 55
3.3 Một số yếu tố thuận lợi, khó khăn khi thực hiện quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt của nhân viên y tế tại Bệnh viện E, năm 2019 60
3.3.1 Thuận lợi 61
3.3.2 Khó khăn 66
Chương 4: BÀN LUẬN 72
4.1 Thực trạng thực hiện quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt của nhân viên y tế tại Bệnh viện E, năm 2019 72
4.1.1 Tại các khoa lâm sàng 72
4.1.2 Tại khoa kiểm soát nhiễm khuẩn 75
4.2 Một số yếu tố thuận lợi, khó khăn khi thực hiện xử lý dụng cụ chịu nhiệt của nhân viên y tế tại Bệnh viện E, năm 2019 79
4.2.1 Các yếu tố thuận lợi 79
4.2.2 Khó khăn 83
4.3 Hạn chế của nghiên cứu 87
Trang 7KẾT LUẬN 88
KHUYẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 1: DANH MỤC BIẾN SỐ 95
PHỤ LỤC 2: BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH QUY TRÌNH XỬ LÝ DỤNG CỤ CHỊU NHIỆT CỦA NVYT TẠI BỆNH VIỆN E 104
PHỤ LỤC 2A : 104
BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH QUY TRÌNH XỬ LÝ DỤNG CỤ CHỊU NHIỆT CỦA NVYT TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG 104
MẪU 1 : 104
BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH LÀM SẠCH DỤNG CỤ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG 104
MẪU 2 : 106
BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH VẬN CHUYỂN DỤNG CỤ BẨN VÀ BÀN GIAO CHO KHOA KSNK 106
MẪU 3 : 106
BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH NHẬN DỤNG CỤ ĐÃ TIỆT KHUẨN VÀ VẬN CHUYỂN VỀ KHOA 106
BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH BẢO QUẢN – LƯU GIỮ DỤNG CỤ ĐÃ TIỆT KHUẨN 107
BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH QUY TRÌNH XỬ LÝ DỤNG CỤ TẠI KHOA KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN 107
MẪU 1 : 107
BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH QUY TRÌNH NHẬN DỤNG CỤ BẨN TỪ CÁC KHOA LÂM SÀNG 107
MẪU 2 : 108
Trang 8BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH QUY TRÌNH LÀM SẠCH LẠI
DỤNG CỤ TẠI KHOA KSNK 108
MẪU 3 : 109
BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH QUY TRÌNH BẢO DƯỠNG - ĐÓNG GÓI DỤNG CỤ 109
MẪU 4 : 109
BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH QUY TRÌNH TIỆT KHUẨN DỤNG CỤ 109
MẪU 5 : 110
BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH QUY TRÌNH BÀN GIAO DỤNG CỤ ĐÃ TIỆT KHUẨN CHO CÁC KHOA LÂM SÀNG 110
PHỤ LỤC 3: PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU 111
PHỤ LỤC 4: PHIẾU HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU 113
PHỤ LỤC 5: PHIẾU HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM 115
PHỤ LỤC 6: BẢNG ĐÁNH GIÁ KHI THỰC HIỆN XỬ LÝ DỤNG CỤ CHỊU NHIỆT CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN 119
PHỤ LỤC 7: CÁC QUY TRÌNH KHỬ KHUẨN TIỆT KHUẨN TẠI BỆNH VIỆN E 127
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 3 1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 43Bảng 3 2 Thực trạng các bước chuẩn bị làm sạch dụng cụ (n=292) 44Bảng 3 3 Bảng trung vị số nội dung chuẩn bị dụng cụ, hóa chất thực hiện đúng theo khoa 45Bảng 3 4 Trung vị số nội dung chuẩn bị dụng cụ, hóa chất thực hiện đúng theo khoa 47Bảng 3 5 Thực trạng thực hiện làm sạch dụng cụ sau khi sử dụng (n=292) 48Bảng 3 6 Phân bổ số nội dung của làm sạch dụng cụ sau khi sử dụng thực hiện đúng theo trung vị 50Bảng 3 7 Thực hiện bàn giao dụng cụ sau khi làm sạch từ các khoa lâm sàng tới khoa KSNK (n = 100) 51Bảng 3 8 Thực hiện nhận DC sau tiệt khuẩn từ khoa KSNK về các khoa lâm sàng (n = 100) 52Bảng 3 9 Thực trạng bảo quản - lưu giữ dụng cụ đã được tiệt khuẩn 54Bảng 3 10 Số lượng nhân viên thực hiện đạt các nội dung của quy trình xử lý dụng
cụ chịu nhiệt tại khoa lâm sàng 54Bảng 3 11 Nhận DC bẩn từ các khoa lâm sàng 55Bảng 3 12 Thực hiện chuẩn bị dụng cụ, trang thiết bị để làm sạch lại dụng cụ tại khoa KSNK (n = 100) 56Bảng 3 13 Thực trạng thực hiện làm sạch dụng cụ sau khi sử dụng tại khoa KSNK (n=100) 57Bảng 3 14 Thực trạng bảo dưỡng và đóng gói dụng cụ trước khi tiệt khuẩn (n=100) 58Bảng 3 15 Số lượng nhân viên thực hiện đạt các nội dung của quy trình xử lý dụng
cụ chịu nhiệt tại khoa KSNK 60
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3 1 Phân bổ số lượng nhân viên tham gia nghiên cứu theo khoa 43 Biểu đồ 3 2 Biểu đồ tỷ lệ số nội dung thực hiện đúng trong chuẩn bị dụng cụ, hóa chất 45 Biểu đồ 3 3 Thực trạng thực hiện phòng hộ cá nhân khi làm sạch dụng cụ 46 Biểu đồ 3 4 Biểu đồ tỷ lệ số nội dung thực hiện đúng trong tuân thủ bảo hộ lao động 47 Biểu đồ 3 5 Tỷ lệ nội dung thực hiện đúng khi làm sạch dụng cụ 49 Biểu đồ 3 6 Tỷ lệ nội dung không thực hiện nhiều nhất khi làm sạch dụng cụ 50 Biểu đồ 3 7 Tỷ lệ nội dung thực hiện đúng khi thực hiện bàn giao dụng cụ cho khoa KSNK 52 Biểu đồ 3 8 Tỷ lệ nội dung thực hiện đúng khi thực hiện nhận dụng cụ sau tiệt khuẩn từ khoa KSNK tới khoa lâm sàng 53 Biểu đồ 3 9 Thực trạng thực hiện phòng hộ cá nhân khi làm sạch dụng cụ tại khoa KSNK 56 Biểu đồ 3 10 Thực trạng tiệt khuẩn dụng cụ của nhân viên khoa KSNK 59 Biểu đồ 3 11 Thực trạng phân phát dụng cụ đã được tiệt khuẩn 59
Trang 12TÓM TẮT
Các bệnh viện hiện đang đối mặt với những thách thức liên quan đến việc khử khuẩn, tiệt khuẩn và bảo dưỡng dụng cụ y tế dùng lại Việc xử lý dụng cụ sau sử dụng nếu không được tuân thủ nghiêm ngặt từ khâu làm sạch đến khâu khử khuẩn tiệt khuẩn đúng có thể gây nguy hiểm cho sự an toàn của bệnh nhân đồng thời làm hỏng dụng cụ, tổn thương cho nhân viên y tế
Nghiên cứu “Thực hiện quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt của nhân viên y tế tại Bệnh viện E, năm 2019” được thực hiện với mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng thực hiện quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt của nhân viên y tế tại Bệnh viện E, năm 2019; (2) Phân tích một số yếu tố thuận lợi, khó khăn khi thực hiện xử lý dụng cụ chịu nhiệt của nhân viên y tế tại Bệnh viện E, năm
2019
Sử dụng nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính Chọn mẫu có chủ đích trên 10 khoa lâm sàng
và khoa kiểm soát nhiễm khuẩn Quan sát 166 nhân viên thực hiện xử lý dụng
cụ chịu nhiệt thông qua bảng kiểm Thực hiện 04 cuộc thảo luận nhóm, 06 cuộc phỏng vấn sâu để thu thập thông tin Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0
Kết quả: Đa số nhân viên y tế tuân thủ quy định về khử khuẩn tiệt khuẩn dụng cụ, thực hiện kiểm tra chất lượng tiệt khuẩn, bàn giao và tiếp nhận dụng cụ đúng lịch 100% dụng cụ được bảo quản trong tủ kín, sạch, khô ráo, không bụi bẩn.Tỷ lệ thực hiện đúng toàn bộ các bước chuẩn bị để làm sạch dụng cụ tại các khoa lâm sàng là 3,1%; các nội dung bảo hộ cá nhân là 1,7% và quy trình làm sạch là 1,4% Tỷ lệ vận chuyển dụng cụ sạch bằng xe chuyên dụng là 30%;
Một số yếu tố thuận lợi: có nhiều văn bản quy phạm pháp luật chương trình, tài liệu đào tạo, hướng dẫn thực hiện công tác khử khuẩn- tiệt khuẩn
Lãnh đạo bệnh viện quan tâm Một số khó khăn: Bệnh viện đang trong quá
Trang 13trình nâng cấp Thiếu các dụng cụ tại khoa lâm sàng Ý thức thái độ về việc
thực hiện phòng hộ cá nhân của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng khi xử lý
dụng cụ hiện nay chưa tốt Hạn chế về kinh phí Cơ chế thưởng phạt của bệnh
viện đối với việc thực hiện xử lý dụng cụ chưa rõ ràng
Khuyến nghị: Bệnh viện sớm đưa vào sử dụng trung tâm tiệt khuẩn; trang bị
đầy đủ các trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện cho công tác khử khuẩn, tiệt khuẩn;
đảm bảo kinh phí cho công tác khử khuẩn, tiệt khuẩn; đưa ra các chế tài khen
thưởng và xử phạt đối với công tác kiểm soát nhiễm khuẩn Khoa kiểm soát nhiễm
khuẩn cần tăng cường giám sát thực hiện công tác làm sạch dụng cụ
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hiện đang đối mặt với những thách thức liên quan đến việc khử khuẩn, tiệt khuẩn và bảo dưỡng dụng cụ y tế Những thách thức trong xử lý dụng cụ dùng lại là có thể gây nguy hiểm cho sự an toàn của bệnh nhân, gây thiệt hại đáng kể cho danh tiếng và tăng thêm chi phí hoạt động của Bệnh viện Việc xử lý dụng cụ sau sử dụng tại các khoa là một công đoạn của quá trình khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ; nếu không thực hiện đúng sẽ không đảm bảo hiệu quả khử khuẩn và tiệt khuẩn đồng thời làm hỏng dụng cụ, tổn thương cho nhân viên y tế dẫn tới chi phí y tế tăng lên[11],[13] Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) của Mỹ đã ước tính rằng có khoảng 1,7 triệu ca bị NKBV; 99.000 ca tử vong
và mất 4,5 tỷ đô la chi phí chăm sóc sức khỏe vượt mức hàng năm[35] Tại Việt Nam trong thăm khám, điều trị và chăm sóc bệnh nhân thì các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (KBCB) phải tái sử dụng các dụng cụ y tế bằng kim loại như: Pank, kéo, khay đựng dụng cụ Quá trình tái sử dụng này nếu không được tuân thủ nghiêm ngặt từ khâu làm sạch đến khâu khử khuẩn và tiệt khuẩn đúng có thể gây nên những hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến chất lượng thăm khám và điều trị người bệnh của bệnh viện[13],[14] Từ năm 1997 đến nay Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn công tác khử khuẩn tiệt khuẩn dụng cụ y tế Các văn bản này yêu cầu các cơ sở y tế khi tái sử dụng dụng cụ y tế phải tuân thủ các quy định về khử khuẩn tiệt khuẩn để đảm bảo an toàn khi sử dụng lại cho người bệnh Trên thực tế cho thấy cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, công tác tổ chức thực hiện khử khuẩn tiệt khuẩn còn nhiều hạn chế và tỷ lệ thực hành đúng quy trình khử khuẩn – tiệt khuẩn hiện chưa cao[22],[29],[30]
Bệnh viện E là Bệnh viện Đa khoa Trung ương hạng I, với trên 1000 giường bệnh, công suất sử dụng giường bệnh luôn ở mức cao; trong năm 2018 bệnh viện thực hiện 8187 lượt phẫu thuật Bệnh viện sử dụng nhiều loại dụng cụ bằng kim loại chịu được nhiệt độ và độ ẩm dùng lại nhiều lần được TK bằng phương pháp hấp ẩm như dụng cụ dùng để thay băng, tiêm truyền, các loại dụng cụ phẫu thuật, thực hiện các thủ thuật xâm lấn khác Theo thống kê của khoa kiểm soát nhiễm khuẩn trong năm 2018 tổ dụng cụ đã đóng gói và tiệt khuẩn 116012 bộ dụng cụ chịu nhiệt độ
Trang 15cao và 27089 bộ dụng cụ chịu nhiệt độ thấp Bệnh viện đã xây dựng và ban hành các quy trình, quy định về KK-TK dụng cụ bao gồm cả dụng cụ thiết yếu và không thiết yếu, cung cấp các trang thiết bị phương tiện và tổ chức thực hiện theo quy định, hướng dẫn của Bộ Y tế và điều kiện thực tế của đơn vị Tuy nhiên theo báo cáo điều tra cắt ngang nhiễm khuẩn bệnh viện năm 2017 có 2,65% bệnh nhân mắc NKBV với các loại nhiễm khuẩn như nhiễm khuẩn phổi, nhiễm khuẩn vết mổ, nhiễm khuẩn hệ tiết niệu [5] Từ thực tế trên câu hỏi được đặt ra là tỷ lệ NKBV có liên quan đến tuân thủ quy trình xử lý dụng cụ tại các khoa không? Việc thực hiện tuân thủ quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt của nhân viên y tế tại các khoa hiện nay như thế nào? Có những khó khăn, thuận lợi gì khi thực hiện xử lý dụng cụ chịu nhiệt của nhân viên y tế
Để trả lời cho câu hỏi trên học viên thực hiện đề tài:“Thực hiện quy trình xử lý
dụng cụ chịu nhiệt của nhân viên y tế tại Bệnh viện E, năm 2019” với hy vọng từ
kết quả nghiên cứu có thể đưa ra các khuyến nghị giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn nữa công tác khử khuẩn – tiệt khuẩn tại đơn vị đồng thời nâng cao năng lực trong công tác về lĩnh vực này cho các nhân viên y tế để từ đó tiến tới giảm các nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện
Trang 16MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả việc thực hiện quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt của nhân viên y tế tại Bệnh viện E, năm 2019
2 Phân tích một số yếu tố thuận lợi, khó khăn khi thực hiện quy trình xử lý dụng
cụ chịu nhiệt của nhân viên y tế tại Bệnh viện E năm 2019
Trang 17Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm, lịch sử phát triển công tác kiểm soát nhiễm khuẩn và khử khuẩn – tiệt khuẩn dụng cụ
1.1.1 Một số khái niệm về kiểm soát nhiễm khuẩn và khử khuẩn – tiệt khuẩn dụng
cụ
- Kiểm soát nhiễm khuẩn: việc xây dựng, triển khai và giám sát thực hiện các
hướng dẫn, quy định, quy trình chuyên môn nhằm giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm vi sinh vật gây bệnh cho người bệnh, nhân viên y tế và cộng đồng trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh [19]
- Tiệt khuẩn: quá trình tiêu diệt/loại bỏ toàn bộ vi khuẩn (kể cả bào tử vi
khuẩn) và virus [13],[14],[41]
- Khử nhiễm (khử khuẩn): quá trình loại bỏ các chất hữu cơ và giảm số
lượng các tác nhân gây bệnh bằng cơ học và hóa học, nhằm bảo đảm an toàn khi sử dụng, vận chuyển và thải bỏ [13],[14],[41]
- Làm sạch: sử dụng biện pháp cơ học như cọ, rửa để loại bỏ các chất hữu
cơ, vi khuẩn, virus có ở bề mặt dụng cụ, không nhất thiết phải tiêu diệt hết các tác nhân nhiễm khuẩn [13],[14],[41]
- Dụng cụ chịu nhiệt: dụng cụ có thể khử khuẩn tiệt khuẩn bằng nhiệt độ cao
[7],[11],[12]
- Quy trình xử lý DC thiết yếu chịu nhiệt: Thực hiện lần lượt các bước từ
ngay sau khi sử dụng dụng cụ: làm sạch, khử khuẩn đến khi dụng cụ được tiệt khuẩn [9],[13],[14]
1.1.2 Lịch sử phát triển công tác khử khuẩn – tiệt khuẩn tại Việt Nam
Hiện nay, công tác KSNK tại các cơ sở y tế đã được pháp luật công nhận với các cơ sở pháp lý để triển khai và thực hiện Những năm gần đây, Chính phủ đã có những văn bản luật, văn bản dưới luật quy định về công tác phòng chống nhiễm khuẩn Bộ Y tế đã ban hành một số các tài liệu, hướng dẫn tổ chức thực hiện KK-
TK nhằm giảm nguy cơ lây nhiễm; đảm bảo an toàn cho NB và NVYT tại các cơ sở khám chữa bệnh:
- Quy chế bệnh viện năm 1997 của Bộ Y tế đã hướng dẫn thực hiện KK-TK
Trang 18dụng cụ tái sử dụng tại các đơn vị y tế; quy định KK-TK là yêu cầu bắt buộc trong việc sử dụng lại dụng cụ y tế
- Thông tư 16/2018/TT-BYT ngày 20/7/2018 Quy định về kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám, chữa bệnh [19]
- Quyết định số 3671/QĐ-BYT năm 2012 thực hiện các hướng dẫn về KSNK trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Bộ Y tế [13]
- Quyết định số 3916/QĐ-BYT của Bộ Y tế năm 2017 hướng dẫn KSNK trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có các hướng dẫn về KK-TK xử lý dụng cụ y
tế trong thực hiện nội soi chẩn đoán và các loại phẫu thuật
Ngoài ra, có rất nhiều khuyến cáo từ nhiều tổ chức KSNK trên thế giới đã cập nhật và ban hành những hướng dẫn mới về KK, TK các DC trong các cơ sở KBCB, những hướng dẫn này chính là nguồn dữ liệu quan trọng để các bệnh viện xây dựng những quy trình khử khuẩn – tiệt khuẩn dụng cụ phù hợp với điều kiện của từng bệnh viện
1.1.3 Tầm quan trọng c a khử khuẩn tiệt khuẩn dụng cụ y tế
Sử dụng lại các dụng cụ trong điều trị, chăm sóc người bệnh là hoạt động diễn ra thường xuyên tại các cơ sở khám, chữa bệnh ở Việt Nam Việc sử dụng lại dụng cụ nếu không tuân thủ đúng các bước của quy trình khử khuẩn có thể gây ra các ảnh hưởng không tốt đến chất lượng chẩn đoán, điều trị và chăm sóc người bệnh của bệnh viện, thậm chí nó còn có thể là nguồn lây nhiễm cho nhân viên y tế và cộng đồng Tại Hoa Kỳ có 36 vụ dịch liên quan đến nội soi đường tiêu hóa từ năm
1974 đến 2001 do không được tuân thủ quy trình khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ Đã xảy ra một vụ dịch dẫn đến 17 người bệnh bị NKBV và làm chết 5 BN sau phẫu thuật tim, do dụng cụ sử dụng trong quá trình phẫu thuật và điều trị không đảm bảo tiệt khuẩn (theo báo cáo của Hosp Infect năm 2002) Tại Việt Nam, trong báo cáo khảo sát của Bộ Y tế (2007) cho thấy: chỉ có 67% các bệnh viện có đơn vị tiệt khuẩn trung tâm (TKTT), việc làm sạch bằng tay chiếm 85%; 20-40% các bệnh viện chủ động kiểm tra chất lượng dụng cụ sau khi được khử khuẩn, tiệt khuẩn [10]
Các nước trên thế giới đang đứng trước thách thức do có nhiều tác nhân gây bệnh như lao đa kháng thuốc, các vi khuẩn siêu kháng thuốc và những vũ khí sinh
Trang 19học khác Do vậy việc nâng cao kiến thức và sự tuân thủ quy trình khử khuẩn dụng
cụ đúng là một yêu cầu cấp thiết, nhất là ở Việt Nam, khi phổ biến việc tái sử dụng dụng cụ cho người bệnh và liên quan chất lượng điều trị của người thầy thuốc
1.1.4 Những nguyên tắc khử - tiệt khuẩn dụng cụ [12]
- Dụng cụ sau khi sử dụng cho bệnh nhân phải được xử lý thích hợp tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể
- DC sau khi xử lý phải được bảo quản bảo đảm an toàn cho đến khi sử dụng cho bệnh nhân khác
- NVYT phải được đào tạo, huấn luyện về KK-TK và trang bị đầy đủ các phương tiện phòng hộ
- DC y tế trong các cơ sở KBCB phải được quản lý và xử lý tập trung
1.2 Thực hiện công tác xử lý dụng cụ y tế tại cơ sở y tế
1.2.1 Các điều kiện để thực hiện khử khuẩn – tiệt khuẩn dụng cụ y tế
Mỗi khoa và cơ sở y tế cần phải phân định rõ khu vực hoặc phòng xử lý DC bẩn riêng Mỗi cơ sở y tế cần có trung tâm tiệt khuẩn tập trung để KK-TK các dụng
cụ đã được xử lý sơ bộ tại các khoa phòng chuyển xuống là tốt nhất để đảm bảo hiệu quả KK-TK nhằm giảm lây nhiễm chéo cho NB và NVYT [11],[6] Nhưng trên thực tế do điều kiện về nguồn kinh phí hạn chế, nhân lực thiếu hoặc vì các lý do khác mà một số cơ sở y tế chưa thực hiện KK-TK tập trung theo hướng dẫn của Bộ
Cần có xe vận chuyển DC bẩn và xe vận chuyển DC sạch riêng để thực hiện vận chuyển DC riêng nhằm tránh tái nhiễm trong quá trình vận chuyển những DC
Trang 20đã tiệt khuẩn Đồng thời cần có tủ/giá để bảo quản DC vô khuẩn riêng để bảo quản
DC khi chưa sử dụng nhằm tránh tái nhiễm trong quá trình bảo quản, lưu giữ
Các phương tiện phòng hộ cá nhân khi thực hiện KK-TK dụng cụ để giảm phơi nhiễm cho NVYT như: găng tay, khẩu trang, quần áo bảo hộ, kính, tạp dề, Yếu tố con người: tại các cơ sở y tế, việc thực hiện khử khuẩn tiệt khuẩn DC tái sử dụng lại tại các khoa lâm sàng có sự tham gia của điều dưỡng, hộ sinh Việc phân công điều dưỡng, hộ sinh thực hiện xử lý DC tái sử dụng tại khoa và bảo quản
DC tái sử dụng tùy thuộc vào từng khoa phòng trong mỗi cơ sở y tế Những nhân viên y tế trực tiếp thực hiện xử lý DC cần phải được đào tạo[6]
Yếu tố về quy trình, quy định: Mỗi cơ sở y tế cần xây dựng quy trình, quy định cụ thể về quy trình xử lý DC tái sử dụng dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế và thực hiện đào tạo cho NVYT để NVYT thực hiện xử lý DC theo quy trình bệnh viện đã xây dựng Mỗi khoa phòng trong bệnh viện có quy định cụ thể về nơi xử lý
DC bẩn và đồ bẩn riêng, có tủ để dụng cụ tiệt khuẩn đảm bảo sạch sẽ và không để lẫn đồ bẩn cùng gói DC đã tiệt khuẩn DC đã tiệt khuẩn và dụng cụ bẩn được quy định thực hiện vận chuyển bằng phương tiện riêng để tránh tái nhiễm cho DC đã tiệt khuẩn Quy định về hướng dẫn sử dụng các loại hóa chất để KK-TK dụng cụ mà
BV hiện đang sử dụng Một quy trình KK-TK là thứ tự các bước thực hiện KK-TK dụng cụ đó từ ngay sau khi sử dụng cho đến khi DC đó được KKMĐC hoặc tiệt khuẩn, để DC không còn ô nhiễm nữa Người điều dưỡng, hộ sinh ngoài việc tham gia vào thực hiện quy trình KK-TK, còn phải thực hiện các quy định về việc bảo quản và lưu giữ DC theo quy định
Thực hiện theo dõi, giám sát: việc theo dõi giám sát cán bộ nhân viên y tế thực hiện đúng các quy trình quy định về KK-TK dụng cụ y tế trong mỗi cơ sở y tế là một việc làm hết sức cần thiết trong công tác quản lý để đảm bảo cho quy trình, quy định đó được thực hiện một cách có hiệu quả Theo dõi giám sát hằng ngày việc thực hiện KK-TK của điều dưỡng, hộ sinh thường được thực hiện bởi điều dưỡng trưởng khoa hoặc hộ sinh trưởng khoa Các đoàn kiểm tra của bệnh viện hoặc của các cấp thì thường thực hiện theo định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra việc thực hiện KK-
TK dụng cụ y tế tại các khoa phòng của bệnh viện
Trang 21Điều kiện về đào tạo để có thể thực hành về KK-TK: NVYT cần được đào tạo
về KK-TK, đặc biệt là những người làm trực tiếp Việc đào tạo này có thể từ các trường đào tạo nghề hoặc do tuyến trên, bệnh viện tự tổ chức đào tạo tập trung tại bệnh viện hoặc đào tạo tại chỗ bằng phương pháp cầm tay chỉ việc do nhân viên chuyên trách hướng dẫn để có thực hành đúng về KK-TK
Tổ chức thực hiện: Việc thực hiện KK-TK được phân công cụ thể cho các cán
bộ nhân viên trong từng khoa phòng tham gia vào quá trình thực hiện KK-TK dụng
cụ tái sử dụng
1.2.2 Thực hiện khử khuẩn – tiệt khuẩn tại cơ sở y tế
Thực hiện KK-TK dụng cụ tái sử dụng trong khám chữa bệnh là một trong những công việc của điều dưỡng và hộ sinh, việc thực hiện KK-TK đúng sẽ giảm được các nhiễm khuẩn do quá trình sử dụng ô nhiễm gây nên, giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị, tăng niềm tin của NB vào NVYT
Thực hiện KK-TK dụng cụ bao gồm thực hiện xử lý DC tái sử dụng theo quy trình, vận chuyển, bảo quản/lưu giữ DC vô khuẩn và các DC sạch hay bẩn đúng quy định đến khi sử dụng DC Người điều dưỡng, hộ sinh cần có kiến thức về KK-TK
để thực hiện KK-TK dụng cụ dùng lại có hiệu quả tốt nhất
Các cơ sở y tế phải tổ chức thực hiện KK-TK dụng cụ y tế, với nguyên tắc [8]: + DC y tế khi sử dụng cho mỗi NB đều phải được xử lý thích hợp dựa trên mức độ nguy cơ gây nhiễm khuẩn liên quan đến việc sử dụng dụng cụ đó
+ DC sau khi được xử lý phải được bảo quản đảm bảo an toàn cho đến khi sử dụng tiếp theo
+ NVYT phải được đào tạo, tập huấn và trang bị đủ các phương tiện phòng hộ
cá nhân khi thực hiện xử lý các DC
+ DC y tế trong cơ sở y tế phải được xử lý tập trung Việc thực hiện xử lý DC tập trung tại trung tâm tiệt khuẩn để đảm bảo DC tái sử dụng được an toàn cho NB
và NVYT và giúp giảm thời gian cho điều dưỡng, hộ sinh tại các khoa lâm sàng để
có nhiều thời gian hơn cho việc chăm sóc và theo dõi NB Trên thực tế cho thấy, tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, việc tổ chức thực hiện xử lý DC tập trung tại trung tâm tiệt
Trang 22khuẩn trong 6 tháng đầu năm 2009 đã tiết kiệm được chi phí cho một lượng lớn hóa chất, bao bì lên tới 123.530.757 đồng [20]
Thực hành của điều dưỡng, hộ sinh về KK-TK dụng cụ tái sử dụng bao gồm thực hiện quy trình xử lý DC và vận chuyển, bảo quản/lưu giữ theo quy định về KK-TK đối với từng nhóm DC
NVYT phải xác định rõ DC đó thuộc lại DC nào để lựa chọn quy trình xử lý cho phù hợp
1.2.3 Quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt
Việc xử lý dụng cụ y tế sau khi sử dụng cho bệnh nhân là một yêu cầu bắt buộc đối với các bệnh viện Đặc biệt là các loại dụng cụ bằng kim loại chịu được nhiệt độ cao có thể tái sử dụng nhiều lần thì việc xử lý sau khi sử dụng lại càng quan trọng Các bệnh viện có nhiều hình thức xử lý khác nhau như hấp ướt, sấy khô Hiện nay có nhiều bệnh viện thực hiện xử lý dụng cụ tập trung có nghĩa là dụng cụ sau khi sử dụng được vận chuyển đến đơn vị tiệt khuẩn trung tâm ở đây sẽ thực hiện các bước làm sạch, khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ và sau đó lại cấp phát
về cho các khoa sử dụng Tuy nhiên vẫn còn một số đơn vị chưa thực hiện xử lý dụng cụ tập trung mà vẫn thực hiện làm sạch, khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ chịu nhiệt ngay tại các khoa lâm sàng (đa số sử dụng phương pháp tiệt khuẩn bằng sấy khô) Ngoài ra còn một số đơn vị đối với dụng cụ kim loại sau khi được sử dụng cho người bệnh được thực hiện làm sạch tại các khoa lâm sàng sau đó vận chuyển tới đơn vị trung tâm để thực hiện tiệt khuẩn; sau khi tiệt khuẩn dụng cụ được vận chuyển về các khoa lâm sàng, cận lâm sàng để sử dụng cho người bệnh Dù có triển khai bằng hình thức nào thì việc xử lý dụng cụ chịu nhiệt cũng tuân thủ theo quy trình sau [12],[13],[15],[23]:
Trang 23Sơ đồ quy trình sử dụng, và xử lý dụng cụ chịu nhiệt
1.2.3.1 Làm sạch dụng cụ chăm sóc người bệnh [13],[14],[15]
- Dụng cụ sau sử dụng phải được làm sạch với nước và chất tẩy rửa, tốt nhất
là chất tẩy rửa có chứa enzyme tại phòng xử lý DC của khoa thực hiện hoặc/và khoa kiểm soát nhiễm khuẩn của bệnh viện trước khi khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn
- Việc làm sạch có thể thực hiện thủ công bằng tay hoặc bằng các loại máy rửa dụng cụ Khi làm sạch thủ công bằng tay, phải trang bị đầy đủ các loại phương tiện như bàn chải phù hợp, chất tẩy rửa,…phương tiện bảo hộ cá nhân Dụng cụ phải được ngâm ngập hoàn toàn khi làm sạch bằng máy rửa dụng cụ tại những cơ sở khám, chữa bệnh thực hiện các kỹ thuật cao, có nhiều dụng cụ dễ bị hỏng khi làm sạch bằng tay
- Chất tẩy rửa (enzyme) cần phải phù hợp với các dụng cụ theo khuyến cáo của nhà sản xuất nhằm bảo đảm hiệu quả làm sạch và không ảnh hưởng đến chất lượng dụng cụ
- Dụng cụ sau khi làm sạch phải được kiểm tra các bề mặt, khe kẽ và loại bỏ
Sử dụng dụng cụ
Làm sạch dụng cụ
Khử khuẩn
Bảo dưỡng
Đóng gói và dán nhãn
Tiệt khuẩn
Bảo quản và lưu trữ
Trang 24hoặc sửa chữa các DC bị gẫy, bị hỏng, han rỉ trước khi đem KK, TK
1.2.3.2 Khử khuẩn dụng cụ:
- Sử dụng cho những DC tiếp xúc với da lành; chọn lựa hóa chất KK ở mức
độ trung bình và thấp cần thực hiện sao cho phù hợp với DC theo khuyến cáo của nhà sản xuất
- Cần tuân thủ thời gian ngâm cũng như nồng độ hóa chất đúng khuyến cáo Kiểm tra nồng độ hóa chất trước khi ngâm và ngâm ngập hoàn toàn DC vào hóa chất
- Sau khi ngâm dụng cụ vào dung dịch khử khuẩn cần tráng bằng nước sạch, làm khô DC và bảo quản trong điều kiện sạch
1.2.3.3 Đóng gói và dán nhãn [14]
- Các dụng cụ trước khi tiệt khuẩn phải được đóng gói riêng từng bộ trong hộp hoặc túi đựng phù hợp với quy định Vật liệu dùng cho đóng gói phải đáp ứng những tiêu chí sau: Có khả năng thẩm thấu với các phương pháp tiệt khuẩn: hơi nước, plasma, ETO,…; chịu được sức căng, nặng không hư hỏng trong quá trình vận chuyển và phù hợp với phương pháp tiệt khuẩn Ngăn chặn được sự lây nhiễm
từ bên ngoài môi trường vào dụng cụ
- Các vật liệu thường sử dụng để đóng gói dung cụ là: vải dệt, vải không dệt, giấy gói, bao plastic, thùng kim loại có phin lọc chuyên dụng (theo khuyến cáo của nhà sản xuất)
- Dụng cụ nội soi, kìm sinh thiết, dụng cụ vi phẫu cần đóng gói trong hộp chuyên dụng có lót miếng cố định, để khi vận chuyển không bị gẫy, hỏng dụng cụ
do va đập Nên đóng 2 lớp đối với dụng cụ phẫu thuật đặc biệt khi đóng gói bằng vải, giấy hay túi để bảo đảm vô khuẩn cao nhất
- Các gói DC không được quá kích thước: 30cm x 30cm x 50cm
- Cần phải ghi rõ những thông tin như: ngày TK, ngày hết hạn, tên hoặc mã
số DC, lô hấp, người đóng gói lên nhãn dán vào các hộp dụng cụ sau khi đóng gói
- Việc dán nhãn phải được thực hiện ngay tại thời điểm đóng gói các DC
1.2.3.4 Phương pháp tiệt khuẩn
- Tiệt khuẩn bằng máy hấp (nồi hấp, autoclave) được sử dụng cho những dụng
Trang 25cụ chịu được nhiệt và độ ẩm cao
- Tiệt khuẩn nhiệt độ thấp (plasma, ETO) được sử dụng cho dụng cụ không chịu được nhiệt độ và độ ẩm cao
- Tiệt khuẩn bằng phương pháp ngâm peracetic acid, glutaraldehyde có thể áp dụng cho DC không chịu nhiệt ở những nơi không có điều kiện có lò hấp nhiệt độ thấp và phải được sử dụng ngay lập tức, tránh tình trạng tái nhiễm khi bảo quản
- Tiệt khuẩn bằng phương pháp sấy khô không được khuyến cáo trong tiệt khuẩn dụng cụ tại các cơ sở y tế vì gây hỏng dụng cụ
- Dù sử dụng phương pháp tiệt khuẩn nào thì cũng phải thực hiện giám sát về nhiệt độ, độ ẩm, áp suất của phương tiện tiệt khuẩn và thời gian thực hiện tiệt khuẩn; đồng thời cũng phải giám sát thông số khác như nồng độ hóa chất được sử dụng …theo đúng khuyến cáo của nhà sản xuất
- Đối với phương pháp tiệt khuẩn bằng khí ETO phải bảo đảm thông khí tốt ở nơi thực hiện Những dụng cụ dạng ống dài khi hấp nhiệt độ thấp cần phải bảo đảm hiệu quả và bảo đảm chất TK phải tiếp xúc với bề mặt lòng ống bên trong
1.2.3.5 Lưu trữ và bảo quản dụng cụ:
+ Các khoa phải có tủ lưu trữ và bảo quản dụng cụ vô khuẩn đảm bảo, không làm hỏng dụng cụ và không để chung với dụng cụ hay thiết bị khác Tủ bảo quản dụng cụ phải sạch sẽ, côn trùng không xâm nhập được Nơi lưu trữ dụng cụ tại TT tiệt khuẩn phải đảm bảo độ ẩm trong khoảng 35%-60%, nhiệt độ trong giới hạn
18oC- 22oC và có thông khí tốt
+ Phải kiểm tra hạn sử dụng của các dụng cụ đã tiệt khuẩn được lưu trữ thường xuyên để đảm bảo dụng cụ còn hạn sử dụng Các dụng cụ mới tiệt khuẩn được xếp vào phía trong và tiệt khuẩn trước phía ngoài để sử dụng trước
+ Hạn sử dụng của các dụng cụ tiệt khuẩn phụ thuộc vào chất lượng giấy gói, phương pháp tiệt khuẩn và tình trạng lưu giữ: không quá 10 ngày đối với dụng cụ đựng trong hộp chuyên dụng; không quá 3 tháng đối với dụng cụ đóng gói bằng giấy chuyên dụng; không quá 6 tháng đối với dụng cụ đóng gói với bao plastic một mặt giấy kín làm bằng polyethylene
+ Phải tiệt khuẩn lại nếu thấy hộp/gói dụng cụ hết hạn sử dụng hoặc thông tin
Trang 26trên bao bì bị mờ hoặc bao bì không còn nguyên vẹn hoặc hộp dụng cụ đã mở ra nhưng không sử dụng hết trong 24 giờ
Theo dõi, giám sát kiểm tra chất lượng dụng cụ tiệt khuẩn:
+ Sử dụng phương pháp như quan sát cơ học, chỉ thị nhiệt, test sinh học, test hóa học và phương pháp nuôi cấy vi khuẩn (vi sinh) để giám sát chất lượng quy trình tiệt khuẩn
+ Đối với tất cả dụng cụ không được đóng gói bằng chất liệu chuyên dụng có chứa chỉ thị nhiệt thì phải phải dán băng chỉ thị nhiệt ở bên ngoài hộp, gói dụng cụ để kiểm tra nhiệt độ nhằm xác định đảm bảo dụng cụ đã được tiệt khuẩn với nhiệt độ phù hợp
+ Phải thực hiện đặt test hóa học vào các gói DC, nhất là đối với các dụng cụ dùng cho phẫu thuật, thủ thuật xâm lấn…
+ Cần đánh giá bằng các test sinh học ít nhất 1 lần/tuần đối với các mẻ DC dùng trong dụng cụ phẫu thuật hoặc cấy ghép yêu cầu phải đảm bảo tuyệt đối vô khuẩn…
+ Bắt buộc phải tiệt khuẩn lại đối với các gói dụng cụ và mẻ hấp dụng cụ không đạt chất lượng về chỉ thị hóa học, sinh học
+ Kiểm tra thường xuyên các thông số như: nhiệt độ, thời gian, áp suất của máy hấp TK
1.3 Một số yếu tố thuận lợi khó khăn khi thực hiện khử khuẩn, tiệt khuẩn
dụng cụ y tế
1.3.1 Thuận lợi
Để công tác khử khuẩn, tiệt khuẩn được thực hiện tốt thì rất cần có hành lang pháp lý cũng như việc tổ chức thực hiện tốt Bộ Y tế đã ban hành rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau để giúp cho quá trình thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện nói chung và công tác khử khuẩn tiệt khuẩn nói riêng được thuận tiện hơn Trong đó thông tư 18 năm 2009 và thông tư 16 năm 2018 quy định chi tiết việc tổ chức thực hiện KK-TK dụng cụ nhằm đảm bảo an toàn cho BN Cơ
sở khám chữa bệnh phải thực hiện khử khuẩn, tiệt khuẩn tập trung; nhân viên chuyên trách của khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn phải tham mưu cho lãnh đạo đơn vị
Trang 27xây dựng và ban hành các quy trình, quy định về công tác khử khuẩn tiệt khuẩn phù hợp với điều kiện của đơn vị và các quy định của Bộ Y tế Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn phải phối hợp với lãnh đạo các khoa phòng liên quan thực hiện giám sát công tác khử khuẩn, tiệt khuẩn Việc thực hiện khử khuẩn, tiệt khuẩn được lãnh đạo khoa
cụ thể là điều dưỡng trưởng phân công nhiệm vụ cụ thể cụ thể cho điều dưỡng, kỹ thuật viên tại khoa mình [11],[19] Để giảm các lỗi mà nhân viên y tế mắc phải khi thực hiện khử khuẩn tiệt khuẩn cần ban hành các hướng dẫn, thực hiện đào tạo nhằm cải thiện kiến thức về KK-TK cho họ; đồng thời cần giám sát thường xuyên nhằm tăng tỷ lệ tuân thủ thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, trong đó có các quy trình, quy định về khử khuẩn tiệt khuẩn của nhân viên[39]
Quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt bao gồm nhiều công đoạn và được thực hiện ngay sau khi dụng cụ được sử dụng tới khi dụng cụ được TK Đối với dụng cụ không chịu được nhiệt độ cao cũng bao gồm nhiều công đoạn được thực hiện theo một chiều bắt đầu ngay sau khi DC được sử dụng cho đến lúc dụng cụ được tiệt khuẩn/khử khuẩn mức độ cao Mỗi khoa cần có khu vực riêng biệt để xử lý dụng cụ bẩn (DC sau khi sử dụng); nơi lưu trữ, bảo quản dụng cụ vô khuẩn tránh trình trạng dụng cụ vô khuẩn bị nhiễm khuẩn khi bảo quản Khi thiếu các quy trình quy định về KK-TK cụ thể phù hợp điều kiện thực tế của mỗi đơn vị và các quy định của Bộ Y
tế thì việc thực hiện KK-TK dụng cụ sử dụng lại sẽ không đạt hiệu quả cao và có thể ảnh hưởng đến chất lượng khám, điều trị và chăm sóc BN của bệnh viện Từ những yếu tố này để đảm bảo thuận lợi cho việc thực hiện KK-TK dụng cụ y tế và thống nhất giữa các cơ sở y tế từ những năm 2000 Bộ Y tế đã ban hành các quy trình kỹ thuật, tài liệu hướng dẫn thực hành kiểm soát khuẩn trong đó có khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ Trong các tài liệu này Bộ Y tế đã xây dựng khung quy trình khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ trong các cơ sở y tế từ dụng cụ chịu nhiệt, dụng cụ không chịu nhiệt, dụng cụ phẫu thuật… đây là một trong những thuận lợi cho việc thực hiện khử khuẩn tiệt khuẩn [9],[13],[14],[15],[17]
Một trong những yếu tố thuận lợi nữa khi thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn tại Bệnh viện là nhận thức về vai trò của kiểm soát nhiễm khuẩn nói chung và tiệt khuẩn, khử khuẩn dụng cụ nói riêng của cán bộ nhân viên trong các bệnh viện hiện
Trang 28nay được nâng lên rất nhiều Đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo bệnh viện ngày càng thấy vai trò của kiểm soát nhiễm khuẩn trong công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân
1.3.2 Khó khăn
Cơ sở hạ tầng trang thiết bị, hóa chất, phương tiện, máy móc có tác động đến việc khử khuẩn tiệt khuẩn dụng cụ dùng lại tại các CSYT Trong đó sự sẵn có của hóa chất, các phương tiện, trang trang thiết bị dùng để thực hiện khử khuẩn, tiệt khuẩn có tác động lớn đến việc tuân thủ các quy trình, quy định về khử khuẩn, tiệt khuẩn của nhân viên y tế Thực trạng không đủ về thiếu máy móc, phương tiện, trang bị, hóa chất và dụng cụ cần thiết để thực hiện khử khuẩn tiệt khuẩn dụng cụ: bồn rửa dụng cụ không đủ, thiếu máy TK nhiệt độ thấp (plasma), thiếu dung dịch
KK mức độ cao để thực hiện khử khuẩn DC không chịu nhiệt; thiếu các phương tiện để lưu trữ và bảo quản dụng cụ đã TK Thiếu các phương tiện chuyên dụng dùng để vận chuyển DC, dẫn đến nhân viên y tế phải dùng túi nilon để vận chuyển dụng cụ hoặc trên phương tiện vận chuyển khác có nguy cơ làm tái nhiễm khuẩn vào dụng cụ vô khuẩn là một trong những khó khăn chung tại các CSYT đặc biệt là các cơ sở y tế tuyến huyện
Thiếu dụng cụ sử dụng mà người bệnh thì đông nên nhân viên vội vàng, bỏ qua một số bước trong quy trình khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ tái sử dụng cho người bệnh do đó không đảm bảo chất lượng khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ tái sử dụng
Còn hạn chế về cơ sở hạ tầng để thực hiện KK-TK như: thiếu phòng riêng để
đồ bẩn và thực hiện xử lý dụng cụ, chưa có phòng xử lý dụng cụ tập trung của bệnh viện; chưa bố trí ba khu vực riêng biệt bẩn, sạch và vô khuẩn cũng như không có lối
đi một chiều tại khu vực tiệt khuẩn tập trung do chật hẹp dẫn đến tình trạng lộn xộn
Do đó, việc có đầy đủ trang thiết bị, hạ tầng, các máy móc, dụng cụ và hóa chất là rất cần thiết để thực hiện một cách có hiệu quả việc KK-TK dụng cụ Theo quy định của BYT để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân thì các CSYT phải cung cấp đầy đủ các phương tiện, trang thiết bị, hóa chất để thực hiện KK-TK Bên cạnh đó các CSYT phải thực hiện KK-TK tập trung Đối với trung tâm TK tập trung phải bố trí lối đi một chiều và có ba khu vực: bẩn, sạch và vô khuẩn riêng biệt [11], [14]
Trang 29Thêm vào đó, hiện nay chi phí tính cho người bệnh điều trị tại bệnh viện chưa tính đến chi phí cho KK-TK dụng cụ y tế Đây là khó khăn, thách thức lớn cho bệnh viện khi phân bổ nguồn tài chính của bệnh viện cho việc thực hiện công tác khử khuẩn tiệt khuẩn mà không có nguồn thu Trong khí các chi phí này như chi phí mua hóa chất, túi/gói dụng cụ, các test hóa học, sinh học, cấy vi sinh theo dõi đánh giá chất lượng dụng cụ định kỳ là những chi phí thường xuyên của bệnh viện
NC tại Bệnh viện ĐHY HN trong một năm từ tháng 8/2011- 09/2012 cho thấy
sử dụng máy tạo Ozone IHI khử khuẩn ống nội soi đường tiêu hóa tiêu diệt tới 94,6% vi khuẩn cao hơn so với sử dụng dung dịch Cidex OPA (85,1%); Sử dụng máy tạo Ozone để tiệt khuẩn tốt hơn cho sức khỏe của nhân viên y tế; chi phí thực hiện rẻ hơn so với sử dụng Cidex OPA mặc dù chi phí đầu tư ban đầu có cao hơn[27]
Nhân viên y tế thực sự chưa có ý thức tốt trong việc bảo vệ người bệnh và cộng đồng, thậm chí chưa ý thức được những vi phạm trong thực hiện KK-TK dụng
cụ có thể gây ra những hậu quả đối với họ khi tiếp xúc với dụng cụ bị nhiễm khuẩn cũng như hệ lụy về pháp lý khi nhiễm khuẩn bệnh viện xảy ra Bên cạnh đó các CSYT chưa quan tâm đến tổ chức tập huấn, đào tạo để nâng cao kiến thức về KK-
TK, đồng thời thực hiện giám sát tuân thủ KK-TK còn nhiều hạn chế Nhân viên y
tế thiếu kiến thức về các quy trình, quy định về làm sạch, khử khuẩn, tiệt khuẩn, vận chuyển, bảo quản, lưu trữ DC, các quy định về sử dụng hóa chất khử khuẩn, đồng thời họ cũng thiếu kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình khử khuẩn tiệt khuẩn để tuân thủ thực hiện KK-TK Đánh giá được tầm quan trọng, vai trò của kiến thức và thái độ của nhân viên y tế đối với việc tuân thủ các quy trình quy định
về khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ y tế, BYT ban hành quyết định 3671/QĐ-BYT năm 2012 yêu cầu cán bộ y tế thực hiện khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ y tế phải được đào tạo, tập huấn nâng cao kiến thức về khử khuẩn, tiệt khuẩn để thực hiện tốt các yêu quy định KK-TK [13] Nghiên cứu tại BV Nguyễn Tri Phương (2006) chỉ
ra mối liên quan giữa kiến thức KK-TK đúng với thực hành khử khuẩn, tiệt khuẩn đúng; nhóm ĐD có kiến thức đúng thực hiện KK-TK đúng cao gấp 3,76 lần so với nhóm ĐD còn lại[22]
Trang 30Tình trạng đông bệnh nhân, quá tải công việc là những khó khăn đối với việc thực hiện KK-TK dụng cụ y tế Tình trạng thiếu nhân lực khiến đội ngũ nhân viên y
tế phải thực hiện quá nhiều công việc do đó dẫn đến tình trạng chưa thực hiện nghiêm túc KK-TK
1.4 Một số nghiên cứu về khử khuẩn tiệt khuẩn dụng cụ trên Thế giới và
Việt Nam
1.4.1 Nghiên cứu về khử khuẩn – tiệt khuẩn dụng cụ trên thế giới
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về Kiểm soát nhiễm khuẩn nói chung, trong đó có nói đến kiến thức, thái độ và thực hành KK-TK của nhân viên y tế [34], [41],[42],[43],tuy nhiên nghiên cứu chuyên sâu về KK – TK thì tác giả chưa tìm thấy nhiều
Nghiên cứu tại BV ở Manaus, Brazil của Baruque Villar từ tháng 7- 8/2010 Đối tượng nghiên cứu là 222 bệnh nhân PT nội soi, kết quả có 27,3% (60 bệnh nhân) bị nhiễm khuẩn do Mycobacterium do không thực hiện đúng các hướng dẫn trong tiệt khuẩn dụng cụ (trocar) được dùng trong phẫu thuật [32]
Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành về tiệt khuẩn của NVYT tại Viện Khoa học Y khoa Gujarat Adani và BVĐK GK, Ấn Độ do Akhilesh G thực hiện trong thời gian từ tháng 10 – 11/2013 Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp
mô tả cắt ngang trên đối tượng là 111 sinh viên y khoa năm cuối và bác sĩ thực tập,
83 ĐD, 11 KTV và 11 nhân viên vệ sinh trong bệnh viện có tiếp xúc với máu của BN… kết quả cho thấy: 44,2% được đào tạo về tiệt khuẩn và quy trình tiệt khuẩn Có 74,4% trả lời việc không tuân thủ quy trình tiệt khuẩn là nguyên nhân lây lan bệnh AIDS và viêm gan B là 55,9% 82.3% có kiến thức về KK-TK trong đó 68,5% biết các kỹ thuật tiệt khuẩn, 51,9% biết các phương pháp KK-TK phổ biến Tuy nhiên nghiên cứu này có phần hạn chế là không đánh giá tuân thủ quy trình KK-TK[33] Nghiên cứu đánh giá kiến thức, tuân thủ thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn trên sinh viên điều dưỡng ở Pakistan năm 2013 Tổng cộng có 241 sinh viên đã được phỏng vấn: 80,9% nhận thức được các hướng dẫn rửa tay của Tổ chức Y tế Thế giới, nhưng chỉ 20,3% thực hiện hoàn toàn 6 bước 53,1% biết tới thuật ngữ nhiễm khuẩn bệnh viện Kiến thức về NKBV thông thường và thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn
Trang 31khác chưa được đánh giá đầy đủ Nhiễm khuẩn bệnh viện thường gặp được cho là nhiễm trùng đường hô hấp (38,6%), nhiễm trùng da (20,3%) và nhiễm trùng đường tiết niệu (9,5%) [34]
Một nghiên cứu khác được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá mức độ hiểu biết và thực hiện KSNK của các điều dưỡng tại các bệnh viện công của Palestine từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 1 năm 2015 Dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi trên 271 ĐD được chọn Khoảng một nửa (53,9%) mẫu nghiên cứu có kiến thức tốt
về khiểm soát NK; đa số (91,1%) điễu dưỡng thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn tốt
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đã được tìm thấy giữa điểm số kiến thức trung bình đối với giới tính và trình độ Không có sự khác biệt đáng kể về thống kê được tìm thấy giữa điểm thực hành trung bình theo tuổi, thâm niên công tác, khóa đào tạo và trình độ Có mối liên quan giữa điểm số trung bình của thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn với giới tính với (p <0,004) Nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị: cần cập nhật kiến thức về KSNK của điều dưỡng thông qua các chương trình đào tạo lại, đào tạo liên tục; nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân theo các thực hành kiểm soát nhiễm trùng dựa trên bằng chứng mới nhất trong chương trình đào tạo liên tục; cung cấp các chương trình đào tạo cho các điều dưỡng mới về kiểm soát NK[37]
Một nghiên cứu tổng quan đánh giá về nhiễm khuẩn bệnh viện và các yếu tố tổ chức, quản lý và cách thức tổ chức của bệnh viện của nhóm gồm 9 tác giả đến từ nhiều tổ chức khác nhau Nhóm tác giả tập trung phân tích tổng hợp 92 nghiên cứu được công bố từ năm 1996 đến 2012 Kết quả nhận thấy có 10 yếu tố chính được xác định: cách thức tổ chức thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn của Bệnh viện; Công suất
sử dụng giường bệnh, nhân lực, khối lượng công việc của điều dưỡng; sự sẵn có và
dễ dàng tiếp cận với vật tư thiết bị và ở trạng thái tối ưu; tuân thủ các hướng dẫn; giáo dục và đào tạo; kiểm tra; giám sát và phản hồi thông tin; các chương trình phòng ngừa đa phương thức và đa ngành bao gồm thay đổi hành vi; cam kết của người đứng đầu và cần tích cực thay đổi văn hóa hoạt động của tổ chức Các yếu tố này bao gồm cách quản lý và có thể áp dụng rộng rãi để giảm nhiễm khuẩn bệnh viện và cải thiện sự an toàn của bệnh nhân[44]
Nghiên cứu “Dụng cụ phẫu thuật, tái xử lý ở các quốc gia hạn chế về tài
Trang 32nguyên: Đánh giá tổng quát về các phương pháp, chính sách và rào cản hiện có” của nhóm tác giả Jared A Forrester, Brittany Lynn Powell, Joseph D Forrester, Christina Fast và Thomas G Weiser được công bố tháng 8 năm 2018 trên tạp chí Surgical Infections Các tác giả đã tiến hành phân tích định tính tất cả các nghiên cứu để phân loại các thực hành hiện tại và các rào cản đối với tái xử lý DC phẫu thuật bằng cách đánh giá các bài báo bằng tiếng Anh trong phạm vi cơ sở dữ liệu của PubMed, Web of Science và Google Scholar mô tả các phương pháp, chính sách hiện tại và các rào cản đối với việc tái xử lý dụng cụ phẫu thuật tại các nước có thu nhập thấp và trung bình Các rào cản được phân loại theo chủ đề: đào tạo / giáo dục, nguồn lực sẵn có, môi trường và chính sách / thủ tục Các nghiên cứu liên quan đến nhiễm trùng phẫu thuật với thực hành hiện tại đã được đánh giá riêng biệt để đánh giá mối quan hệ này Kết quả cho thấy 972 bài tóm tắt đã được xác định 40 nghiên cứu đáp ứng các tiêu chí để phân tích định tính và 03 nghiên cứu liên quan đến kết quả điều trị của bệnh nhân với tái xử lý dụng cụ phẫu thuật Hầu hết các nghiên cứu (n = 28; 70%) đã thảo luận về các chính sách / thủ tục dành riêng cho tổ chức; một nửa thảo luận về những thiếu sót trong đào tạo nhân viên Khử khuẩn (n
= 38;95%), xác minh khử trùng (n = 19; 48%), và làm sạch và khử khuẩn dụng cụ (n = 16; 40%) là các biện pháp tái xử lý dụng cụ phổ biến nhất được kiểm tra Thiếu các nguồn lực sẵn có và thiếu giáo dục/đào tạo hiệu quả, thiếu các chính sách/thủ tục phù hợp đã được trích dẫn là những rào cản chung Trong loạt trường hợp phân tích dụng cụ phẫu thuật tái xử lý với kết quả điều trị của BN, các dụng cụ phẫu thuật thần kinh được làm sạch và khử trùng không đúng cách và nước rửa bị ô nhiễm có liên quan đến viêm não thất (do VK Pseudomonas aeruginosa) và nhiễm trùng tại chỗ mổ do Mycobacterium Nghiên cứu đã đi đến kết luận: Có một khoảng cách lớn tồn tại giữa thực tế thực hiện tái xử lý công dụng cụ trong phẫu thuật tại các nước
có thu nhập kém và trung bình với các chính sách/ quy trình được đưa ra Các nội dung được xác định để cải tiến bao gồm làm sạch và khử khuẩn dụng cụ, các khía cạnh tiệt khuẩn của quá trình tái xử lý DC và thực hiện tiệt khuẩn Việc giáo dục/đào tạo cán bộ chịu trách nhiệm về xử lý dụng cụ phẫu thuật dùng lại; các chính sách được xác định là rất quan trọng, và là đối tượng của sự can thiệp[38]
Trang 33Tóm lại, qua các số liệu của các nghiên cứu về công tác KK- TK tại một số quốc gia cho thấy đa số các nghiên cứu chỉ mới thực hiện khảo sát về thực trạng công tác KK –TK như khảo sát các phương tiện tiệt khuẩn hay thực trạng về kiến thức và giải pháp can thiệp nâng cao kiến thức của NVYT
1.4.2 Nghiên cứu về khử khuẩn tiệt khuẩn dụng cụ tại Việt Nam
Việt Nam có một số nghiên cứu kiến thức, thực hành về KK-TK của NVYT và một
số ít nghiên cứu đánh giá phương tiện tổ chức triển khai thực hiện KK-TK
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hà (2007) tại BVĐK tỉnh Hưng Yên cho thấy: 55,6% đạt về phương tiện KK-TK dụng cụ y tế; 76,9% khoa lâm sàng có bồn rửa dụng cụ, xà phòng, bàn chải dùng để làm sạch DC; 61,5% các khoa có phương tiện lưu trữ DC sau tiệt khuẩn; số khoa thực hiện kiểm soát chất lượng DC sau tiệt khuẩn bằng test hóa học là 7,7%; 61,5% số khoa có hướng dẫn thực hiện quy trình KK-TK dụng cụ Nghiên cứu này mới đánh giá một số tiêu chí về điều kiện, phương tiện dùng để thực hiện KK-TK dụng cụ y tế tại các khoa lâm sàng mà chưa đánh giá đầy đủ về công tác KK-TK dụng cụ y tế như phương tiện KK-TK tại trung tâm tiệt khuẩn và thực hành về khử khuẩn của NVYT, đồng thời nghiên cứu cũng chưa đánh công tác kiểm tra giám sát thực hiện KK-TK được thực hiện như thế nào[3]
Nghiên cứu của Dương Thị Kim Thu thực hiện tại các Bệnh viện công lập trên địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội năm 2007: 4/8 bệnh viện có đơn vị tiệt khuẩn trung tâm được thiết kế một chiều theo đúng quy định; đa số các đơn vị đều sử dụng nồi tiệt khuẩn ướt và tủ sấy khô để TK dụng cụ y tế; chỉ có 2/8 bệnh viện thực hiện làm sạch và khử khuẩn dụng cụ bán tập trung; 100% các bệnh viện có đầy đủ phương tiện phòng hộ cho NVYT khi thực hiện KK-TK dụng cụ; cả 8 bệnh viện không dùng test sinh học để kiểm tra chất lượng TK Nghiên cứu không đánh giá kiến thức
và thực hành cụ thể của nhân viên y tế về KK-TK [8] Nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động của đơn vị tiệt khuẩn trung tâm tại Bệnh viện Nhi Đồng II năm 2009 bằng phương pháp mô tả cắt ngang, cho thấy khi công tác tổ chức thực hiện tốt sẽ giúp việc thực hiện KK-TK tuân thủ đúng quy định, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân
và nhân viên y tế, đem lại hiệu quả kinh tế cho đơn vị đồng thời giúp điều dưỡng có
Trang 34nhiều thời gian hơn để theo dõi và chăm sóc người bệnh [2] Khảo sát của Trần Hải Sơn về điều kiện làm việc của các cơ sở RHM tại tỉnh Tiền Giang về KSNK năm
2009 cho thấy chỉ có 34,2% cơ sở sử dụng lò tiệt khuẩn ướt autoclave để tiệt khuẩn
dụng cụ[29]
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Dũng tại BVĐK tỉnh Vĩnh Long và BV huyện Vũng Liêm trong 3 tháng từ (tháng 4- 6/2012) bằng phương pháp mô tả cắt ngang Tác giả thu thập thông tin trên 429 bác sỹ, ĐD, hộ lý để đánh giá kiến thức, thực hành của NVYT về kiểm soát NK bằng cách sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn cho kết quả: không có sự khác biệt về kiến thức KK-TK của NVYT tại bệnh viện huyện Vũng Liêm (90,3%) và BVĐK tỉnh Vĩnh Long tuyến tỉnh Vĩnh Long (90,0%); 92,4% nhân viên y tế cho biết cần phải kiểm tra về độ kín của bao gói, băng chỉ thị nhiệt và hạn dùng trước khi sử dụng NVYT thực hiện kiểm tra độ kín, chỉ thị nhiệt, hạn dùng của gói trước khi dùng là 60,4%; 25,6% nhân viên thực hiện đúng không việc sử dụng DC từ túi đã mở Có sự khác biệt về thực hành KK-TK của nhân viên
y tế tại bệnh viện tuyến huyện (42,4%) và tuyến tỉnh (52,2%) (p<0,01) Nghiên cứu chỉ đánh giá kiến thức KK-TK dựa trên 3 tiêu chí về khử khuẩn tiệt khuẩn [1] Nghiên cứu thực trạng công tác khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ y tế tại Bệnh viện 19-8 Bộ Công An trong năm 2011-2012 cho thấy hầu hết các khoa lâm sàng chưa thực hiện khử khuẩn tập trung, 100% tiệt khuẩn bằng tủ sấy 100% các khoa
có khu vực riêng xử lý dụng cụ, 50% số khoa có chậu ngâm hóa chất đủ tiêu chuẩn
Tỷ lệ nhân viên y tế được tập huấn khử khuẩn, tiệt khuẩn còn thấp: 14,8% 10% các khoa thực hiện khử khuẩn sơ bộ, 50% dụng cụ sau khi tiệt khuẩn được đóng gói trong hộp kín nhưng không ghi hạn sử dụng Nghiên cứu cho thấy cần phải thực hiện khử khuẩn, tiệt khuẩn tập trung trong toàn bệnh viện để nâng cao chất lượng công tác khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ y tế[20]
Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Bình và cộng sự đánh giá tình trạng sử dụng, bảo quản và xử lý dụng cụ tại khoa phẫu thuật hồi sức cấp cứu Bệnh viện Mắt trung ương cho thấy dụng cụ tiệt khuẩn từ khoa KSNK được đem về phòng mổ đạt yêu cầu là 90,1%; 27,1% DC được sắp xếp đúng thứ tự sau; 31,5% tuân thủ đầy đủ quy trình tiệt khuẩn DC[8] Một nghiên cứu khác của Lê Thị Kim Hoa và cộng sự thực
Trang 35hiện khảo sát kiến thức của ĐD và Nữ hộ sinh về công tác KK-TK tại BVĐK Tịnh Biên năm 2015 sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang với cỡ mẫu chỉ 50 người Kết quả kiến thức chung về công tác KK-TK chỉ đạt 34% Không có mối liên quan giữa tuổi, chức danh với kiến thức chung[22]
Nghiên cứu của Đặng Thị Thu Hương về thực trạng công tác Kiểm soát nhiễm khuẩn tại các bệnh viện nhi và sản nhi khu vực phía bắc năm 2017 chỉ ra rằng: chỉ
có 1/16 bệnh viện (6,3%) quản lý và xử lý dụng tập trung, 75% bệnh viện chưa có
máy tiệt khuẩn nhiệt độ thấp [25]
Tác giả Lê Thị Thảo sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang để đánh giá thực trạng tiệt khuẩn tại BVĐK Sóc Sơn năm 2017 cho thấy: 20% tổng số khoa lâm sàng
có phòng xử lý DC và bồn/lavabo dùng để cọ rửa DC riêng; 70% các khoa có tủ vô khuẩn để bảo quản dụng cụ y tế riêng; tỷ lệ khoa lâm sàng còn sử dụng tủ sấy khô
để TK dụng cụ là 50%; 100% số khoa có đủ phương tiện dùng ngâm khử khuẩn dụng cụ và phương tiện làm khô đạt yêu cầu 47,6% hộ sinh, điều dưỡng đạt kiến thức về KK-TK; điểm trung bình thái độ của hộ sinh, điều dưỡng về KK-TK theo thang điểm Likert với 5 mức độ là 4,3±0,45; Thực hành chung của ĐD, NHS về KK-TK dụng cụ đạt 26,2% Tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn và thâm niên công tác không liên quan về thực hành TK của ĐD, nữ hộ sinh (p>0,05) Nhóm điều dưỡng, hộ sinh có kiến thức đúng tuân thủ thực hành cao gấp 3 lần so với nhóm còn lại (OR= 3,171, p<0,05) [30]
Nghiên cứu năm 2017 của Phạm Thị Ngọc Thúy đánh giá về thực hành KSNK tại khoa Răng hàm mặt Bệnh viện Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh cho thấy thực hành kiểm soát NK tại khoa răng hàm mặt bệnh viện Bình Thạnh thực hiện tốt, hầu hết các quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn trong nha khoa được thực hiện đúng và đầy đủ như sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân, tiêm an toàn, phân loại rác thải và xử lý, tiệt khuẩn dụng cụ Trong đó các quy trình liên quan đến tiệt khuẩn dụng cụ như pha hóa chất, ngâm dụng cụ, đóng gói dụng cụ bằng túi chuyên dụng, đánh giá chất lượng TK bằng phương pháp hóa học và sinh học thực hiện 100% Tỷ lệ người bệnh hài lòng với thực hành kiểm soát NK tại khoa răng hàm mặt Bệnh viện quận Bình Thạnh là 58,3% và rất hài lòng là 33,5% [31]
Trang 36Nghiên cứu thực trạng kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện tại các cơ sở răng hàm mặt công lập tuyến quận huyện của TP.Hồ Chí Minh và hiệu quả can thiệp năm
2017 của Nguyễn Đức Huệ Kết quả khảo sát về phương tiện đóng gói DC cho thấy chỉ có 33,3% co sở sử dụng túi giấy chuyên dụng để đóng gói dụng cụ.100% cơ sở
đã sử dụng lò hấp hơi nước để tiệt khuẩn DC 33,3% cơ sở RHM sử dụng test hóa học để đánh giá chất lượng TK của gói dụng cụ và 8,3% cơ sở có sử dụng test sinh học để đánh giá chất lượng tiệt khuẩn dụng cụ Khảo sát 61 lò hấp dụng cụ, với 183 mẫu test hóa học 1243A có 83,1% mẫu đạt yêu cầu và 61 test sinh học 1292 có 80,3% mẫu đạt yêu cầu 54,9% Cơ sở nha khoa xử lý tay khoan sau điều trị với dung dịch khử khuẩn nhanh; đa số các tay khoan nha khoa chưa được hấp tiệt khuẩn cuối ngày 75,7% NVYT cho rằng do bệnh nhân quá đông; 49,3% cho rằng thiếu nhân viên phụ trách công tác KSNK; 40,8% cho rằng thiếu dụng cụ, phương tiện; 34,2% cho rằng thiếu kinh phí và 42,8% cho rằng viện phí còn thấp nên ảnh hưởng đến công tác KSNK[24]
Tại Việt Nam, hiện nay chưa có nghiên cứu chuyên sâu về KK-TK, các kết quả nghiên cứu đa số được khảo sát lẻ tẻ trong các nghiên cứu về KSNK trong đó
có nội dung KK –TK và các nghiên cứu này cũng chỉ dừng lại ở khảo sát thực trạng
về cơ sở hạ tầng và kiến thức của NVYT về KK-TK Kết quả các nghiên cứu cho thấy công tác KSNK nói chung và công tác KK-TK nói riêng chưa tốt, thiếu sự đầu
tư về nguồn lực: cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện… còn hạn chế; năng lực chuyên môn của NVYT còn yếu: tỷ lệ NVYT có kiến thức và thực hành đúng về
KK –TK tiệt khuẩn Những vấn đề này liên quan nhiều đến công tác tổ chức quản lý nhưng lại chưa có nghiên cứu nào khảo sát toàn trạng công tác KK –TK hoặc đánh giá việc tổ chức triển khai thực hiện quy trình, qui định theo hướng dẫn KK-TK của
Bộ Y tế, của CDC, đồng thời đánh giá về sự hài lòng của NVYT trực tiếp sử dụng
DC dùng lại
1.5 Giới thiệu về cơ sở nghiên cứu
1.5.1 Giới thiệu về Bệnh viện E
Bệnh viện E là bệnh viện đa khoa Trung ương hạng I trực thuộc Bộ Y tế, thành lập năm 1967 Bệnh viện có diện tích 37.000m2 tại Quận Cầu Giấy, Hà Nội
Trang 37Bệnh viện có 1108 cán bộ nhân viên, 12 phòng chức năng, 31 khoa lâm sàng,
6 khoa cận lâm sàng với 1150 giường thực kê Bệnh viện có 4 trung tâm: Trung tâm Tim mạch, Trung tâm Tiêu hóa, Trung tâm Cơ xương khớp và Trung tâm Ung bướu Trong đó trung tâm tim mạch là đơn vị hoạch toán độc lập có tài khoản riêng
và con dấu riêng
Bệnh viện thực hiện chiến lược phát triển các kỹ thuật mũi nhọn như tim mạch, cơ xương khớp, tiêu hóa, ngoại khoa Trong năm 2018 bệnh viện đã khám 358.795 lượt và điều trị nội trú 35.577 lượt người bệnh, thực hiện 8187 lượt phẫu thuật, công suất sử dụng giường bệnh đạt 148%[7]
1.5.2 Công tác khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ tại Bệnh viện E
Bệnh viện E hiện nay có nhiều loại dụng cụ bằng kim loại dùng nhiều lần được tiệt khuẩn bằng nhiệt độ cao như dụng cụ thay băng, dụng cụ tiêm truyền, dụng cụ phẫu thuật và các loại dụng cụ xâm lấn khác Nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng dụng cụ tiệt khuẩn bệnh viện đã thực hiện tiệt khuẩn dụng cụ tập trung tại khoa kiểm soát nhiễm khuẩn Có nghĩa là sau khi dụng cụ được làm sạch tại các khoa lâm sàng sẽ đưa về khoa KSNK để thực hiện tiệt khuẩn Theo thống kê của khoa kiểm soát nhiễm khuẩn trong năm 2018 tổng số bộ dụng cụ chịu nhiệt được tiệt khuẩn tại khoa là 116012 bộ dụng cụ, trong đó tổng số dụng cụ chịu nhiệt được tiệt khuẩn của 10 khoa nhiều nhất chiếm trên 80% tổng dụng cụ của toàn bệnh viện;
cụ thể các khoa như sau[7]:
Trang 38TT Tên khoa phòng Số bộ dụng cụ chịu nhiệt
Trang 39TK theo hướng dẫn của Bộ Y tế và điều kiện thực tế của Bệnh viện Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn của bệnh viện sẽ kiểm tra, đôn đốc đảm bảo thực hiện tốt việc khử khuẩn, tiệt khuẩn Công tác thực hiện khử khuẩn – tiệt khuẩn dụng cụ y tế của bệnh viện đang tồn tại nhiều khó khăn do thiếu kinh phí, không đủ cơ số dụng cụ để tiến hành KK-TK tập trung Đồng thời nhận thức và thực hành của nhân viên y tế về công tác khử khuẩn – tiệt khuẩn chưa cao, sự phối hợp trong các khâu làm việc vẫn chưa tốt điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng các hoạt động khử khuẩn tiệt khuẩn dụng cụ y tế Công tác khử khuẩn – tiệt khuẩn dụng cụ hiện nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức, cơ chế đãi ngộ cho nhân viên thực hiện khử khuẩn – tiệt khuẩn dụng cụ y tế chưa tương xứng với đặc thù công việc Nắm rõ được tầm quan trọng của công tác khử khuẩn tiệt khuẩn đối với việc điều trị chăm sóc bệnh nhân; ban lãnh đạo bệnh viện đã có nhiều các giải pháp nhằm nâng cao công tác khử khuẩn tiệt khuẩn, trong đó có các quy trình khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ, trang thiết bị
1.5.3 Quy trình thực hiện xử lý (làm sạch, khử khuẩn, tiệt khuẩn) dụng cụ chịu
nhiệt tại Bệnh viện E
Để nâng cao chất lượng dụng cụ sau tiệt khuẩn, giám sát, kiểm tra việc thực hiện công tác xử lý dụng chịu nhiệt sau khi dùng cho người bệnh, Bệnh viện E đã ban hành quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt và áp dụng chung cho toàn bệnh viện
Cụ thể quy trình xử lý dụng cụ như sau:
Trang 40Sơ đồ 1 : quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt tại Bệnh viện E [6]
Quy trình thực hiện xử ký dụng cụ chịu nhiệt tại Bệnh viện E được chia làm 2 giai đoạn: làm sạch tại khoa lâm sàng và thực hiện làm sạch lại, bảo dưỡng, đóng gói, tiệt khuẩn dụng cụ tập trung tại khoa KSNK, bao gồm các công đoạn sau đây:
Tại các khoa lâm sàng
- Làm sạch: Dụng cụ sau khi sử dụng được nhân viên y tế tại các khoa lâm
sàng, cận lâm sàng ngâm vào dung dịch Helizyme 1% hoặc Tergezyme 0,4%, sau
đó dùng bàn chải đánh sạch các vết bẩn, rửa lại bằng nước sạch, làm khô, chia từng
bộ và cho vào hộp (gói) riêng Dụng cụ sau khi được đóng gói sẽ để tại khu vực xử
lý dụng cụ của các khoa Điều dưỡng sau khi sử dụng dụng cụ cho việc chăm sóc và
Sử dụng dụng cụ tại các khoa
Làm sạch dụng cụ tại các khoa
Bàn giao dụng cụ cho khoa KSNK(11h, 16h00)
Làm sạch lại
DC tại khoa KSNK
Bảo dưỡng
và đóng gói Tiệt khuẩn
Quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt tại Bệnh viện E