1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

DÀN bài CHI TIẾT và văn mẫu CHIỀU tối và CHIỀU tối

9 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 250,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

=> Hình ảnh thơ giản dị mà chứa đựng được những tình cảm rất đỗi đời thường và một nghị lực phi thường của người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh.. Âm vang của thơ Đường trong Chiều tối cò

Trang 1

CHIỀU TỐI -I.TIỂU DẪN

– Tác giả Hồ Chí Minh:

+ Bậc anh hùng cứu quốc của dân tộc Việt Nam

+ Là nhà văn hoá lớn, nhà thơ lớn

- Tác phẩm: Bài thơ là một trong số 134 bài thơ trong tập Nhật kí trong tù, thể hiện sâu sắc phong cách thơ

của Hồ Chí Minh

- Đó là sự kết hợp hài hoà giữa vẻ đẹp cổ điển và hiện đại

II.ĐỌC HIỂU

a Vẻ đẹp cổ điển:

- Đề tài: Bài thơ là bức tranh thiên nhiên và bức tranh cuộc sống của con người lúc chiều tối Đây là đề tài quen thuộc của thơ ca cổ (dẫn chứng)

- Hình ảnh thơ: tác phẩm sử dụng những thi liệu quen thuộc trong thơ ca cổ với ý nghĩa tượng trưng tạo nên tính chất hàm súc cho bài thơ

+ Hình ảnh cánh chim: biểu tượng cho không gian lẫn thời gian, là tín hiệu cho buổi hoàng hôn.

+ Hình ảnh chòm mây: biểu tượng cho không gian cao rộng của bầu trời.

- Thể thơ tứ tuyệt, lời ít ý nhiều, để lại nhiều dư ba

- Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình: chỉ bằng vài nét chấm phá mà ghi lại linh hồn của tạo vật và gợi được nỗi niềm của nhà thơ

b.Vẻ đẹp hiện đại:

- Hình ảnh thơ: cánh chim, chòm mây, người con gái xay ngô là những hình ảnh của hiện thực

+ Cánh chim mỏi: chữ “mỏi” thể hiện sự cảm nhận rất sâu cái bên trong của sự vật Đó là cánh chim bay

theo cái nhịp điệu bất tận của cuộc sống Đó là cánh chim của tự do, của ước mơ sum họp Đấy cũng là niềm khao khát của người tù

+ Chòm mây cô đơn trôi chậm chạp giữa bầu trời là hình ảnh ẩn dụ về người tù đang bị giải đi trên đường

xa vạn dặm chưa biết đâu là điểm dừng Thế nhưng phong thái của người tù vẫn rất ung dung, tự tại, phong thái của một chiến sĩ cách mạng kiên cường, luôn làm chủ hoàn cảnh

+ Hình ảnh người con gái xóm núi xay ngô tối là hình ảnh của con người lao động, hiện lên sinh động,

khỏe khoắn, tích cực, là trung tâm của bức tranh Chiều tối.

+ Sự rực hồng của bếp lửa, hình ảnh này đã xua tan đi bóng tối, giá rét, mang đến cho người tù niềm vui của sự sống, của hơi ấm

=> Hình ảnh thơ giản dị mà chứa đựng được những tình cảm rất đỗi đời thường và một nghị lực phi thường của người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh

- Sự vận động của tứ thơ: đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ nỗi buồn đến niềm vui

=>Thể hiện được tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường của Bác

- Tâm hồn Bác:

+ Yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống

+ Đồng cảm, chia sẻ với muôn loài, đặc biệt là nỗi vất vả của những con người lao động Đó cũng là tình cảm quốc tế vô sản trong sáng

+ Tâm hồn lạc quan, giàu nghị lực

=> Đó là một tâm hồn nghệ sĩ mà rất chiến sĩ

3 Đánh giá chung:

- Khẳng định lại vẻ đẹp cổ điển và hiện đại đã góp phần làm nên thành công của bài thơ Chiều tối và

phong cách thơ của Hồ Chí Minh

-Qua đó đã làm toát lên hình tượng nhân vật trữ tình: Người vừa có tâm hồn thi sĩ vừa có cốt cách của người chiến sĩ Bác có tâm hồn lạc quan, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và nghị lực phi thường

VĂN MẪU

Thế nào là cổ điển? Chữ “cổ điển” ở đây được hiểu theo hai nghĩa, thứ nhất là từ chỉ những tác phẩm văn học đã được thử thách qua thời gian, được công nhận như mẫu mực, cổ điển là những yếu tố/ tác phẩm nghệ thuật đã đạt tới sự hoàn thiện cao về mặt thẩm mỹ Thứ hai, cổ điển là một tính từ chỉ lối viết, cách

Trang 2

thể hiện đã trở thành một truyền thống văn học Như vậy, phạm trù cổ điển thuyết minh cho tính ổn định, bền vững, tính gần gũi quen thuộc, giúp ta hiểu thêm sự gặp gỡ, đồng điệu giữa những tâm hồn và sự uyên bác của một nhân cách văn hoá

Vậy, đâu là vẻ đẹp cổ điển của thi phẩm Chiều tối? Nói rộng ra là vẻ đẹp cổ điển của Nhật ký trong tù? Bài thơ Chiều tối được làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật Đây là thể thơ có ưu thế trong miêu

tả tâm trạng, thường tạo ý ở ngoài lời, xây dựng hình ảnh tượng trưng ước lệ, và biểu lộ chủ đề ở một vài nhãn tự Nhà văn Pháp, Roger Denux từng nhận xét: “Thơ Người nói ít mà gợi nhiều, là loại thơ có màu sắc thanh đạm, không phô diễn mà như cố khép lại trong đường nét để cho người đọc tự thưởng thức Phải yên lặng một mình đọc thơ Người Phải thỉnh thoảng ngừng lại để suy nghĩ mới cảm thấy hết những âm vang của nó và nghe những âm vang ấy cứ ngân dài mãi” Tất cả những đặc điểm đó được thể hiện rõ nhất

trong “Chiều tối”.

Trước hết phải khẳng định rằng, cái tứ của bài thơ nằm ngay ở nhan đề: “Chiều tối” Cách thức triển khai tứ thơ ấy của tác giả tạo ra cảm giác thời gian đang vận động: trời chiều đang chuyển vào đêm, cô em xóm núi xay ngô xong thì bếp lò cũng đỏ rực Xét theo mạch thơ chữ “hồng” giữ vai trò quan trọng Chữ“ hồng” gợi không gian ấm cúng, tươi vui yên bình, chất chứa một sức sống mạnh mẽ và làm cho không gian thơ bừng sáng Tư tưởng nhân đạo và cái nhìn nhạy cảm tinh tế, lạc quan của Bác thể hiện tập trung trong từ này Do vậy, có thể xem, chữ "hồng" là một nhãn tự

“Chiều tối” gặp gỡ với cổ thi trong nghệ thuật kết cấu câu thơ Cặp câu nào cũng hài hoà đăng đối Đó

là sự đối lập giữa cánh chim bay mỏi với chòm mây trôi nhẹ, giữa không gian hữu hạn (chốn ngủ) với không gian vô hạn (từng không), đối lập giữa tối và sáng, giữa hai câu thơ đầu miêu tả cảnh vật hắt hiu, tàn tạ với hai câu thơ sau miêu tả con người lao động khỏe khoắn

“Chiều tối” là bài thơ chữ Hán Từ ngữ Hán Việt tự nó tạo ra vẻ đẹp cổ điển, trang trọng, với hàm nghĩa phong phú, giàu sức gợi Cảnh thơ trong Chiều tối thâu tóm được linh hồn tạo vật, ở đấy nhân vật

trữ tình giàu tình cảm đối với thiên nhiên, hoà hợp tâm hồn với thiên nhiên vũ trụ Bác không để cho cảnh ngộ đau khổ trói buộc cảm xúc của mình; hồn thơ của Bác vẫn rung động trước thiên nhiên vùng sơn cước đẹp đẽ Có lẽ vì thế ta bắt gặp sự tương đồng giữa cảnh ngộ tâm trạng của người tù - thi sĩ với trạng thái, hướng vận động của cánh chim trời bay về tổ và đám mây trôi chưa biết dừng nơi nào trong thời khắc một buổi chiều tàn Trong thơ xưa, chẳng hạn như thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… cảm xúc đó cũng được thể hiện rõ nét Nhìn chung cảm hứng trước thiên nhiên và ngôn ngữ thơ góp phần tạo tên màu sắc cổ điển của bài thơ này

Màu sắc cổ điển của bài thơ được thể hiện ở cả thi liệu Người đọc đã từng gặp trong ca dao, thơ trung đại hình ảnh đám mây trôi qua ngang trời, cánh chim chiều đập cánh vội Đi giữa miền thơ, ta đã quen lắm với cảnh tượng ở một khung trời miên viễn nào đó, chợt xuất hiện cánh chim lẻ loi Ngàn đời vẫn vậy xui khiến con người nhớ tới cảnh ngộ cô đơn của mình, từ đó thấm thía về sự xa xăm phiêu bạt của đời người Thi nhân xưa thường đặt hình ảnh cánh chim trong tương quan với bầu trời, đám mây, ngọn gió Đặt trong tương quan với bầu trời để cảm hết được cái rộng dài hun hút của không gian, trong tương quan với đám mây để gợi cảm giác chia li, và phải đặt trong quan hệ với ngọn gió mới thấy hết được cái khó khăn, vất

vả của cánh chim đang đập cánh vội (Thơ Vương Bột, Lí Bạch, Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan…) Trong phép làm thơ Đường luật, câu thơ đầu của bài thơ thường phải nói rõ được đề tài Đề tài của bài thơ là “chiều tối” Câu khai của bài thơ quả thực đã giới thiệu được rất cụ thể khoảnh khắc thời gian đặc biệt trong ngày Chiều tối vừa là thời gian vật lí vừa là thời gian tâm trạng Hình ảnh cánh chim bay về tổ

ở đây không thể thuộc về một thời gian nào khác khoảnh khắc ngày tàn Câu thừa của bài thơ tiếp tục làm nổi bật không khí của buổi chiều muộn nơi xóm núi Thực ra mây trên trời lúc nào cũng có, song phải là đám mây với dáng vẻ hiu hắt, chậm chạp riêng biệt đó mới phù hợp với không khí buổi hoàng hôn Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được tạo nên bởi đề tài

Nhưng có lẽ việc sử dụng bút pháp nghệ thuật quen thuộc trong thi ca xưa mới là bằng chứng sinh

động nhất về vẻ đẹp cổ điển đặc sắc của tác phẩm Chiều tối Bút pháp chấm phá tinh tế tạo ra những câu

thơ nhiều tầng nghĩa, mở ra nhiều kiểu liên tưởng trong tâm tư người đọc, cùng bút pháp tả thực tự nhiên giàu chất họa khiến cho cảnh vật hiện lên trong bài thơ với những đường nét rất có thần:

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc Bào túc ma hoàn lô dĩ hồng

Trang 3

Trong nguyên tác không có chữ "tối' Câu thơ dịch thêm từ “tối” làm cho ý thơ hơi lộ Dụng ý của tác giả chỉ muốn người đọc cảm thấy trời tối thôi chứ không thông báo trực tiếp thời gian, không gian tối Dùng ánh sáng để tả bóng tối, không nói tối mà tả được tối đấy là biểu hiện của thủ pháp "hoạ vân hiển

nguyệt" thường thấy trong thơ Đường Âm vang của thơ Đường trong Chiều tối còn biểu hiện ở chỗ, nhà

thơ xây dựng các mối quan hệ, người đọc phải bằng liên tưởng của mình khám phá ra sự thống nhất giữa chủ thể trữ tình và thiên nhiên

Chiều tối cũng sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình Cảnh vật thiên nhiên như cùng tâm trạng với con

người, đồng điệu với tâm hồn con người Câu khai phác họa cánh chim mệt mỏi sau một ngày kiếm ăn giờ đang về rừng tìm chốn đậu Hình ảnh đó gợi ta nhớ tới một người tù bị cùm xích, bị giải suốt một ngày ròng rã đương khao khát chốn nghỉ ngơi yên bình Thêm nữa, chi tiết chòm mây cô đơn giữa một không gian vắng vẻ… rất tương ứng với cảnh ngộ của chủ thể trữ tình chưa biết dừng lại, hay tới nhà lao nào Cánh chim, chòm mây vừa là đối tượng của niềm thương cảm vừa là biểu hiện bên ngoài của nỗi buồn trong lòng người tù trên con đường đày ải Hai câu cuối cảm hứng thơ chuyển sang một hướng khác: cảnh thiên nhiên buồn nhường chỗ cho cảnh đời bình dị, tươi sáng Tâm trạng, hướng nhìn của nhà thơ cũng đổi thay theo từ buồn sang vui Nếu thiên nhiên trong hai câu thơ đầu nói hộ tâm trạng của Hồ Chí Minh sau một ngày chuyển lao mệt mỏi, thì bức tranh phong cảnh trong hai câu kết lại gói ghém khát vọng tự do Nhìn chung bức tranh ngoại cảnh được nội tâm hoá trở thành tâm cảnh Nguyễn Du từng nói “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” trong trường hợp này, điều đó rất đúng

Trong thơ xưa gắn với thời gian buổi chiều thường có hình ảnh một người lữ thứ tha hương (Qua đèo

Ngang, Chiều hôm nhớ nhà,Hoàng Hạc lâu…) Nhân vật trữ tình của bài thơ Chiều tối là một con người

như vậy: cô đơn mỏi mệt, trong lòng không lúc nào nguôi nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ đồng bào, đồng

chí (câu 1) Tác giả không cần tả nhiều nhưng vẫn gợi được ở người đọc nhiều cảm xúc Bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh kín đáo thể hiện niềm khát khao được tự do, sum họp, được trở về quê hương của

người tù trên đất khách Cách cấu tứ của bài thơ, vì thế, cũng mang màu sắc cổ điển

“Chiều tối” không chỉ có màu sắc cổ điển mà còn thể hiện tinh thần hiện đại.

Thế nào là hiện đại? Tính hiện đại của tác phẩm văn chương biểu hiện phong phú, trước hết và có lẽ rõ rệt nhất trong sự đổi mới tạo ra những nét riêng, không lặp lại Một tác phẩm văn chương mang trong mình tinh thần của thời đại, phản ánh quan điểm nghệ thuật, hệ giá trị và ý thức tư tưởng của con người trong xã hội mà nó nảy sinh, thậm chí vượt trước thời đại … đều được gọi là tác phẩm mang màu sắc hiện đại Phạm trù hiện đại giúp ta phân biệt thế giới nghệ thuật này với vũ trụ nghệ thuật khác, xác định cá tính sáng tạo trong văn học ở những thời đại, giai đoạn khác nhau

Biểu hiện rõ rệt nhất của tính hiện đại trong bài thơ là hai câu cuối Thơ tứ tuyệt Đường luật tạo bất

ngờ cho người đọc ở câu chuyển Câu chuyển bất ngờ nhưng phải tự nhiên hợp lí Bài thơ Chiều tối của

Hồ Chí Minh đạt được phẩm chất cổ điển này Sự chuyển đổi bất ngờ thể hiện ở chỗ: mạch thơ vận động hướng về mặt đất, sự sống và ánh sáng, thể hiện tinh thần lạc quan cách mạng Nói tính hiện đại được thể hiện ngay trong vẻ đẹp cổ điển là như vậy

Nếu ở thơ cổ con người thường ẩn đi trong thiên nhiên,thiên nhiên là chủ thể, thì con người và sự sống trong thơ Bác lại hiện ra, chiếm vị trí chủ thể trong bức tranh phong cảnh Con người lao động được khắc hoạ qua cái nhìn lạc quan của Bác có vẻ đẹp bình dị khoẻ khoắn, trở thành nhân vật chính của bức tranh Người đọc nhận thấy: Trong bất kì hoàn cảnh nào, chủ thể trữ tình cũng giữ được phong thái ung dung tâm hồn phóng khoáng, dường như tác giả quên hẳn cảnh ngộ của mình để đồng cảm với nỗi vất vả, với niềm vui nhỏ nhoi, đời thường của người lao động Hình ảnh cô gái xóm núi và lò than rực hồng tỏa ấm, toả sáng là cảnh của một tâm trạng hào hứng, tươi vui Ánh sáng lò lửa nhỏ không chỉ sưởi ấm tâm hồn Bác lúc bị lưu đày, mà còn có tác dụng nhóm lên trong lòng người đọc niềm tin bền bỉ vào cuộc sống Đó

là biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo cao cả, biểu hiện độc đáo của chất thép

Điểm nhìn nghệ thuật của bài thơ cũng khá tiêu biểu cho phong cách thơ hiện đại của Hồ Chí Minh

Trong thơ xưa không gian trên cao chiếm ưu thế Nhưng ở “Chiều tối” những quan sát về mặt đất dần thay

thế hướng nhìn lên bầu trời Thơ của Bác thường tập trung thể hiện mọi buồn vui trong cuộc sống con người, Bác đưa vào cảnh thiên nhiên vĩnh cửu của thơ xưa một nội dung xã hội cụ thể

Chiều tối viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt nhưng cơ bản không theo lối tư duy hướng về các mẫu mực

cổ xưa Ở đây tác giả hướng người đọc vào tương lai và hiện thực trước mắt, hướng về quần chúng lao động Theo Hoài Thanh, chữ "hồng" trong câu thơ kết có hai nghĩa, nghĩa đen là màu sắc thực của ánh sáng lò than, nghĩa bóng là màu cách mạng, màu của chiến thắng, của tương lai Nếu thiên về cách hiểu

Trang 4

sau, chúng ta thấy sự vận động của hình tượng thơ, xét đến cùng là sự vận động của cách mạng Tính hiện đại của bài thơ là ở đó

Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Chiều tối cùng hòa quyện rồi tạo nên sức sống lâu bền, sức hấp dẫn của tập thơ Nhật kí trong tù nói chung và bài thơ này nói riêng.

Hai câu thơ đầu tả không gian núi rừng rộng lớn, nhưng lại gợi thời gian chiều tối Giọng the nhẹ nhàng, nhịp thơ thong thả Hình ảnh thơ đậm tính ước lệ, người đọc tưởng như tác giả tả cảnh theo công thức có sẵn cứ nói tới chiều thì nhắc tới chim bay về tổ, mây trôi lững lờ… Thực ra, sự xuất hiện của hình ảnh cánh chim mỏi mệt và chòm mây cô đơn rất hợp với qui luật tự nhiên của cảnh chiều, đồng thời hài hòa với tâm trạng của người tù sau một ngày đi đường mệt mỏi đang bơ vơ nơi đất khách quê người Nghĩa là ở đây, tác giả miêu tả cảnh thiên nhiên một cách chính xác đúng như cảnh thật mà mình quan sát, cảm nhận được Qua những nét vẽ thấm đượm phong vị Đường thi ấy, ta vẫn thấy ánh lên nét đẹp riêng của hồn thơ Hồ Chí Minh Thiên nhiên trong thơ Bác không chết lặng mà chứa đựng biết bao dấu hiệu của

sự sống Giữa bầu trời cao rộng, chòm mây dẫu nhỏ bé đơn độc nhưng vẫn cứ chậm trôi Nó không đứng

lặng chơi vơi cả nghìn như đám mây trên “Lầu Hoàng Hạc” Hình ảnh cánh chim chiều cũng thế, dẫu mệt

mỏi vẫn không mất hút vào vô tận như trong thơ cổ:

"Nghìn non chim hết vẫy vùng Vắng tanh muôn nẻo tuyệt không dấu người

Áo tơi nón lá ông chài Con thuyền giữa tuyết ngồi hoài buông câu"

(Giang tuyết - Liễu Tông Nguyên)

Cánh chim trong thơ Liễu Tông Nguyên mất hút giữa không gian bao la vô cùng, dường như nó không

hề tìm thấy nơi trú ẩn giữa ngàn núi trùng điệp Trong Chiều tối của Nguyễn Ái Quốc, cánh chim mệt mỏi,

nhưng vẫn có đường bay xác định, nó quay trở về khu rừng quen thuộc tìm tổ ấm Chủ thể trữ tình

trong Chiều tối như quên mình là tù nhân, quên nỗi nhọc nhằn vất vả để hòa mình vào thiên nhiên, yêu

thương trìu mến với cảnh vật, nâng niu, thiết tha với từng dấu hiệu của sự sống Một sức mạnh tinh thần như thế chỉ có thể bắt nguồn từ một tâm hồn chiến sĩ

Xét về tứ thơ Ta thấy, tứ thơ được mở ra bằng khung cảnh vắng vẻ, thấm đẫm nỗi buồn, nỗi cô đơn của người xa xứ Người đọc tưởng sẽ khép lại bằng hình ảnh bóng tối, bằng niềm thương thân, than thân, xót thân của chủ thể trữ tình, nhưng thật bất ngờ: cảnh tràn đầy hơi ấm của tình đời, tình người toả lan từ hồn thơ Hồ Chí Minh Từ hai câu đầu đến hai câu kết không chỉ là sự chuyển cảnh mà còn thay đổi về bút pháp: từ ước lệ sang tả thực, hình ảnh thơ cổ điển sóng đôi với vẻ đẹp hiện đại, cái giản dị chân thực của

cuộc sống đời thường hài hoà với cái trang trọng, thanh cao Nói khác đi, Chiều tối góp phần xác nhận

một bản sắc thơ độc đáo trong đó có sự hài hoà tinh tế giữa thi pháp văn học phương Đông cổ điển với những dòng chảy của thi ca hiện đại Hoàng Trung Thông rất đúng khi cho rằng: “Thơ Bác rất Đường mà lại không Đường”

Vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại của thi phẩm thống nhất trong một kiểu tư duy nghệ thuật mới Nếu không phải là một người ngay từ nhỏ đã được học chữ Hán, thơ phú Đường Tống, hấp thụ nhuần nhuyễn văn hoá phương Đông, không phải là một người hoạt động cách mạng, một kiểu nhà văn mới, nhà văn chiến sĩ am hiểu văn hoá phương Tây, thì chắc chắn thế giới thi ca sẽ không có được vẻ đẹp riêng, độc đáo đó

TỪ ẤY- Tố Hữu I/TIỂU DẪN

1/ Tác giả

- Là lá cờ đầu của thơ cá cách mạng VN

- Thơ mang phong cách trữ tình chính trị và đậm đà tính dân tộc

2/ Tác phẩm

- Bài thơ là tiếng reo vui của một thanh niên khi được giác ngộ lý tưởng cách mạng.

II/ĐỌC HIỂU

1/ KHỔ 1: Niềm vui sướng, say mê khi bắt gặp lý tưởng cách mạng

1.1 Hai câu thơ đầu: Lời tự sự về kỉ niệm sâu sắc:

Trang 5

- Trạng ngữ chỉ thời gian “Từ ấy” nó còn được chọn làm nhan đề cho bài thơ, tập thơ, đặt ngay đầu dòng của câu thơ đầu tiên mốc thời gian có ý nghĩa rất lớn lao (7/1938) Móc son chói lọi, bước ngoặc huy hoàng trong cđ của TH

+ Trước móc son ấy: bâng khuâng chưa biết chọn lẽ sống, lý tưởng đúng đắn cho mình

+ Sau móc son ấy: đã tìm thấy niềm vui lớn khi bắt gặp được lý tưởng CM

- Các hình ảnh ẩn dụ: nhằm cụ thể hóa, hình tượng hóa niềm say mê, vui sướng của mình

+ Hình ảnh nắng hạ: rực rỡ, đầy sức sống, chói chang và tràn trề năng lượng niềm hạnh phúc vô bờ trong tâm hồn của nhà thơ

+ Hình ảnh mặt trời chân lý: là nguồn sáng, sưởi ấm, duy trì sự sống cho cả nhân loại là ánh sáng của Đảng, của chủ nghĩa Mác, của Bác

 Hình ảnh “nắng hạ” và “mặt trời chân lý” có liên kết chặt chẽ, là nguồn sáng mạnh mẽ

- Động từ mạnh “bừng”, “chói”:

+ “Bừng”: ánh sáng mạnh, phát ra đột ngột

+ “Chói”: Sự lan tỏa, xuyên thấu của nguồn ánh sáng

 Nó không chỉ tác động đến thị giác mà còn tác động đến cả trái tim nhà thơ Ánh sáng của Đảng đã xua tan sương mù hệ tư tưởng của trí thức tiểu tư sản, mang lại ý thức hệ tư tưởng mới

1.2 Hai câu thơ cuối: chuyển sang giọng điệu trữ tình.

- Biện pháp tu từ so sánh:

+ Chú ý từ “là”= “như”

+ Cách so sánh mở rộng, tràn cả xuống câu thơ dưới

+ “Vườn hoa lá+ đậm hương+ rộn tiếng chim” tràn trề hương sắc, âm thanh, khu vườn dường như vừa mới được thay tấm áo mới

- Lối vắt dòng (còn gọi là thơ rớt, học hỏi ở phương tây- câu thơ không hết ýmà tràn sang câu sau): do niềm vui quá lớn, không thể diễn tả trong một dòng thơ chật hẹp

 Niềm say mê vô bờ khi tác giả bắt gặp lý tưởng cách mạng

2/ KHỔ 2: Nhận thức mới về lẽ sống

- Đại từ “tôi”: Về hình thức thì giống với cái tôi của phong trào thơ mới Nhưng cái tôi trong thơ mới là cái tôi cô đơn, bơ vơ, lạc lõng còn cái tôi của bài thơ này cho thấy được nhận thức sâu sắc, hòa vào tập thể, cộng đồng cái tôi hòa vào cái ta chung

- Cấu trúc tương đồng: một bên là cá nhân một bên là cộng đồng, quần chúng nhân dân rộng lớn Giữa

cá nhân với cộng đồng ấy có một loạt các từ: buộc-với- gần gũi như là một sự phá vỡ mọi rào cản giai cấp cá nhân đang tự nguyện hòa nhâp với quần chúng nhân dân

- Ý nghĩa các từ ngữ thể hiện sự gắn kết:

+ “Trang trải”: san sẻ tình cảm nồng thắm, tha thiết mọi nơi

+ “Trăm nơi”: con số ước lệ, không giới hạn chỉ mọi miền của Tổ quốc

 Nhấn mạnh sự đoàn kết, sức mạnh của cách mạng Cá nhân tạo sức mạnh cho sự đoàn kết, sự đoàn kết

tạo nên sức mạnh cho mỗi cá nhân (câu chuyện bó đũa)

3/ KHỔ 3: Nhận thức mới về tình cảm

- Đại từ “tôi” được lặp lại một lần nữa: cái tôi đứng giữa cái ta, cái tôi của người chiến sĩ cách mạng trẻ

- Biện pháp lặp cấu trúc: “…là…của…” 3 lần: khẳng định sự chắc chắn, vững vàng trong nhận thức và trong tình cảm của TH

- Cách tự xưng hết sức tự nhiên: là con, là em, là anh diễn tả sự gắn bó như ruột thịt khi hòa nhập với đại gia đình quần chúng (liên hệ “Tiếng hát con tàu”-Chế Lan Viên)

- Ngoài ra, nó còn cho ta thấy sự tự ý thức về trách nhiệm lớn lao: đó là phải tìm cách cứu vớt những mảnh đời bất hạnh ấy

- Cách nói gợi lên hình ảnh đại gia đình:

+ Vạn nhà: không phân biệt giai cấp

+ Vạn kiếp phôi phai: kiếp sống gian hồ

+ Vạn đầu em nhỏ: lang thang cơ nhỡ, nương tựa, không ai bảo ban, nuôi dưỡng

+ Số từ số nhiều “vạn”: ước lệ, không cùng chỉ tất cả mọi người

+ Hình ảnh “cù bất cù bơ”: chỉ chung những người sống dưới năm tháng bị áp bức, bóc lột cảnh chung

nô lệ của dân VN (Liên hệ: Đi đi em, Tiếng hát sông Hương của TH.)

Trang 6

 Cách gọi tên những kiếp người lầm than thể hiện sự căm giận với những bất công, ngang trái của xh cũ là động lực để TH cùng CM sớm giải phóng cho những kiếp người này

III TỔNG KẾT:

1/ NỘI DUNG:

- Niềm say mê, vui sướng mãnh liệt trong buổi đầu bắt gặp lý tưởng CM

- Sự tác động to lớn, mạnh mẽ của lý tưởng CM đến nhận thức, tình cảm của người thanh niên

2/ NGHỆ THUẬT:

- Nhịp ngắt thay đổi liên tục cùng với phép điệ với mật độ dày đặt tạo ra được tính nhạc cho bài thơ (một trong những đặc trưng trong phong cách thơ của TH)

- Gieo vận tinh tế với âm mở (âm “a”): tạo sự ngân vang, lan tỏa về cảm xúc

- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp tự sự và trữ tình để truyền tải tình cảm một cách sâu sắc nhất

PHÂN TÍCH KHỔ 1 BÀI “TỪ ẤY”

Trang 7

-PHÂN TÍCH KHỔ 2 BÀI “TỪ ẤY”

Trang 8

-Tố Hữu là một trong những cánh chim đầu đàn trong nền thơ ca, văn học Việt Nam Cả cuộc đời sự nghiệp sáng tác của ông đều hướng tới tư tưởng yêu nước, tự hào dân tộc và lí tưởng cách mạng chiến đấu của nhân dân ta Trong vô vàn những tập thơ tiêu biểu, chắc hẳn những người yêu thơ không thể quên được tập thơ đầu tay của ông mang tên “ Từ ấy” Đặc biệt, qua hai khổ thơ đầu của bài thơ “ từ ấy”, tác giả

đã gửi gắm, thể hiện trọn miền vui của người thanh niên trẻ khi được giác ngộ với cách mạng

Bài thơ được sáng tác vào năm 1938, trong giai đoạn Tố Hữu được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương Đây được xem là một trong những dấu mốc quan trọng nhất cuộc đời nhà thơ, khi ông tìm được con đường chân lí sẽ đi trong những tháng năm tuổi trẻ Luôn trong tâm thế khát vọng được chiến đấu, cống hiến cho sự nghiệp giải phóng nước nhà, tác giả đã viết nên bằng tất cả niềm say mê, hạnh phúc khi

có đảng qua những câu thơ đầu tiên:

“Từ ấy” là khoảng thời gian từ khi tác giả được giác ngộ lý tưởng cộng sản, ông cảm thấy vô cùng vui sướng, hạnh phúc biết bao Hình ảnh “ bừng nắng hạ” bừng lên biết bao cảm xúc vỡ òa của tác giả khi được trải qua những khoảnh khắc thiêng liêng ấy Một luồng ánh sáng chói sáng, hòa mình cũng hình ảnh

ẩn dụ “ mặt trời chân lí chói qua tim” cho lí tưởng cách mạng

Tố Hữu đặc biệt sử dụng động từ “ bừng” và “ chói” đã gợi tả nên ánh sáng rực rỡ, mạnh mẽ từ khi Đảng mang lại cho cuộc đời ông Trái tim ông như được tiếp thêm ngọn lửa rực cháy Khi trái đất không thể tồn tại khi không có sự hiện diện của mặt trời, tựa như cuộc đời của nhà thơ sẽ chẳng thể nào có lối sáng, nhận được những điều tốt lành nếu như không có sự soi đường dẫ lối của cách mạng

Tiếp nối mạch cảm xúc, bằng tâm hồn và bút pháp trữ tình lãng mạn, giàu sức tạo hình, Tố Hữu đã tiếp tục diễn tả nỗi niềm vui mừng vô hạn trong những phút giây đầu tiên được sánh vai trong hàng ngũ của Đảng:

Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Những cặp hình ảnh ẩn dụ như “vườn hoa lá” và “ rộn tiếng chim” đại diện cho một thế giới mới tràn đây hương sắc và sức sống Phía sâu trong tâm hồn của người con người trẻ tuổi là những mong muốn, khát vọng đang thi nhau “đâm chồi nảy nở” tựa như hoa lá mùa xuân Nó là một hình ảnh so sánh trừu tượng nhưng tác giả vẫn khiến cho người đọc như cũng cảm nhận được vô cùng chân thực của chính nhà thơ

Đối với Tố Hữu, lí tưởng cách mạng không chỉ mang đến ngọn nguồn sức sống mới mà còn mang đến những niềm đam mê cho tác giả Rồi ngày mai đây, ta sẽ còn có nhiều cơ hội được trải lòng mình đón ánh nắng sớm mai, cùng hương thơm ngào ngạt trong gió thoảng và tiếng chim lảnh lót bên tai Những cảnh sắc yên bình, hài hòa và đẹp tươi mà đất nước sẽ được đón chào nhờ có Đảng sẽ là động lực lớn lao cho tác giả phấn đấu

Khi giác ngộ lí tưởng ấy, Tố Hữu đã khẳng định quan niệm về lẽ sống mới Ta với Đảng tuy hai mà một, đã là một đảng viên, cần phải biết hòa chung cái tôi cá nhân và cái ta chung của tập thể:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với muôn nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

Ngay từ khi ấy, nhà thơ đã tự nguyện “ buộc” lòng mình với mọi người, mọi người chính là cả nhân dân, những người dân máu đỏ da vàng luôn hướng về lá cờ đỏ sao vàng “ Buộc” còn có nghĩa là tự mình phải có trách nhiệm gắn bó với cộng đồng Từ những người nông dân cần cù lao động, đến những người cùng chung giai cấp, họ đều ở đây, cùng nhau chiến đấu vì đất nước Tâm hồn nhà thơ đang được “ trang trải” khắp bốn bề tổ quốc, để góp chút sức mạnh vào khối đoàn kết của dân tộc

“Khối đời” là hình ảnh ẩn dụ chỉ một khối người đông đảo cùng chung cảnh ngộ, lí tưởng , gắn bó với nhau và cùng phấn đấu vì một lợi ích chung của toàn dân tộc Toàn bộ khổ thơ trên, nhà thơ đã bộc bạch hết những nỗi lòng, tâm tư thương yêu mến mộ đồng bào Tình yêu giữa người với người, tình thương khi đất nước bị chia cắt, giặc thù xâm hại sẽ thôi thúc những con người ấy đoàn kết, gắn bó nhau hơn Khi ta

có thể gạt bỏ cái tôi cá nhân, những mưu cầu cá thể để hướng đến mục đích chung cả một dân tộc, thì “kẻ thù nào cũng bị tiêu diệt, khó khăn nào cũng có thể vượt qua”

Chỉ qua những câu thơ ngắn ngủi nhưng hết mực chân thành, từ niềm vui, hân hoan của tác giả khi được bắt gặp ánh sáng chân lý của Đảng đã khiến cuộc đời Tố Hữu bừng sáng biết bao Những hình ảnh

Trang 9

ẩn dụ hết sức gần gũi và giàu ý nghĩa đã giúp người đọc cảm nhận được hết lòng quyết tâm, lời thề chung thành với nước với dân của nhà thơ

PHÂN TÍCH KHỔ 3 BÀI “TỪ ẤY”

Nhắc đến văn chương Cách Mạng nếu không nói tới cây bút tài năng Tố Hữu quả là thiếu sót lớn Một người chiến sĩ cách mạng tài giỏi, một người nghệ sĩ tài hoa Trong chính trị cũng như trong Cách Mạng, ông luôn là một người xuất sắc Với tài năng đó, ông viết nên những vần thơ trữ tình lãng mạn, tiêu biểu “

Từ ấy” Bài thơ trích trong tập cùng tên sáng tác năm 1938 diễn tả những cảm xúc dạt dào của ông về Đảng Khổ thơ cuối như khúc hát khép lại bài ca tình cảm mãnh liệt ấy

"Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm cù bất cù bơ"

Mở đầu khổ thơ là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất : “Tôi” Không còn là “ta” như thơ ca xưa Thơ ca cách mạng nói chung và thơ ca Tố Hữu nói riêng đã mang trong mình tiếng nói tình cảm cá nhân Cái tôi

đã được khẳng định Cảm xúc cá nhân đã được thăng hoa

Tố Hữu nhận mình là “ con của vạn nhà” “ Vạn nhà” ở đây không chỉ là xứ Huế mộng mơ, đằm thắm

mà là mọi mảnh đất trên dải đất hình chữ S thân yêu Hình ảnh người dân trong lòng tác giả thật gắn bó, đoàn kết Tố Hữu cũng nói mình “ Là em của vạn kiếp phôi pha” Nhắc đến “ kiếp phôi pha” là nhắc tới quá khứ cha ông hào hùng lịch sử Nhận làm “em” là tác giả muốn nói mình tiếp bước cha ông, tiếp đón hào khí tinh thần chiến đấu đoàn kết của họ Và Tố Hữu còn nhận mình là “ anh của vạn đầu em nhỏ” Làm anh bởi ông muốn che chở, yêu thương những số phận nghèo đói, bị chiến tranh, bị thực dân đàn áp, làm cho đói khổ

Khổ thơ ngắn gồm bốn câu, Tố Hữu sử dụng điệp cấu trúc lặp lại ba lần “ Đã là…” để khẳng định rõ ràng vị thế của mình trong một khối đại đoàn kết lớn Từ đó cũng khẳng định được ý thức tự giác, chắc chắn, vững vàng của tác giả Tố Hữu hòa mình cùng với nhân dân Tác giả như ngầm khẳng định khối đoàn kết của anh em mọi nhà, của tình cảm nhân dân gắn bó Tác giả nguyện cùng họ đấu tranh, cùng họ chiến đấu

Nhà thơ tự nguyện làm “con của vạn nhà, em của vạn kiếp phôi pha, anh của vạn đầu em nhỏ”, nguyện mang cả cuộc đời mình để đem lại hạnh phúc cho những mảnh đời bất hạnh, những kiếp sống mòi mỏi trong tuyệt vọng, những đứa bé tội nghiệp vì chiến tranh phi nghĩa vì thực dân đàn áp mà sống khổ cực Hình ảnh những người dân Việt Nam những năm 1938 hiện lên xót thương trong lời thơ dạt dào cảm xúc thương xót của tác giả Tác giả như ngầm lên án chế độ thực dân đàn áp và đồng thời khơi lên niềm tin mãnh liệt vào Cách Mạng vào Đảng sẽ mang lại cho đất nước một cuộc sống mới tươi đẹp, hạnh phúc, không khổ đau

“Từ ấy” là tiếng reo vui không chỉ của nhà thơ, mà còn là của cả một thế hệ thanh niên khi tìm thấy lí tưởng của Đảng, nguyện chiến đấu hết mình vì lí tưởng, vì nhân dân, vì đất nước Họ là những người chiến sĩ trẻ, mang trong mình nhiệt huyết, mang trong mình lí tưởng, và lòng yêu thương đồng bào, yêu thương đất nước Khổ thơ cuối bao trọn những cảm xúc ấy Tình yêu với cách mạng, niềm tin với Đảng và lòng thương yêu đồng bào hoà làm một thành ý chí chiến đấu cho những người dân Việt Nam

Tố Hữu quả thực là nhà thơ của nhân dân Việt Nam Những vần thơ vừa có chất trữ tình vừa có chất thép cách mạng Khổ thơ cuối bài thơ “ Từ ấy” đã khái quát lại tình cảm, tình yêu, lòng yêu thương và niềm tin Cách Mạng Đảng tuyệt đối của chàng thanh niên nhiệt huyết

Ngày đăng: 31/01/2021, 13:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w