1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017

93 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 5,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐOÀN VĂN HIỆP ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC VÀ THỰC HÀNH PHÒNG NGỪA, XỬ TRÍ KHI TRẺ MẮC BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH TẠI THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG, NĂM 2017... Nghiên cứu n

Trang 1

ĐOÀN VĂN HIỆP

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC VÀ THỰC HÀNH PHÒNG NGỪA, XỬ TRÍ KHI TRẺ MẮC BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH

TẠI THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG, NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

ĐOÀN VĂN HIỆP

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC VÀ THỰC HÀNH PHÒNG NGỪA, XỬ TRÍ KHI TRẺ MẮC BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH

TẠI THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong hai năm học tập và hoàn thành luận văn thạc sĩ Y tế Công cộng, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn quý báu của quý thầy cô và sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè

Trước hết em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn chính và giáo viên hỗ trợ là những người thầy đã dành thời gian công sức tận tâm truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học và hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn

Em chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, các thầy

cô tại Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội, Trường cao đẳng y tế Tiền Giang, Trung tâm Y tế Thị xã Gò Công đã tạo điều kiện cho em tham dự khóa học cũng như đã tận tình giảng dạy, hỗ trợ em hoàn thành chương trình học tập và thực hiện

đề tài nghiên cứu

Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ em trong những năm tháng học tập và hoàn thành luận văn này

Sau cùng, em xin chia sẻ kết quả nghiên cứu với quý đồng nghiệp và những người quan tâm Hy vọng nghiên cứu này sẽ cung cấp một số thông tin trong công tác phòng, chống bệnh tay chân miệng tại địa phương thời gian tới

Tiền Giang, tháng 4 năm 2019

Đoàn Văn Hiệp

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.2.1 Lịch sử của bệnh Tay chân miệng 4

1.3.1 Tác nhân gây bệnh 5

1.3.2 Nguồn truyền và phương thức lây truyền 6

1.3.3 Đặc điểm về tuổi mắc bệnh 6

1.3.4 Đặc điểm mắc bệnh theo giới tính 7

1.3.5 Phân bố theo mùa 7

1.3.6 Tính cảm nhiễm và miễn dịch 7

1.4.1 Các biện pháp chung 9

1.4.2 Nguyên tắc phòng bệnh và biện pháp xử lý dịch bệnh cụ thể 9

1.8 Khung lý thuyết: 16

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.5 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 17

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 18

2 6.1 Công cụ thu thập số liệu 18

2.6.2 Tổ chức thực hiện thu thập số liệu 18

2.7 Biến nghiên cứu 19

2.8 Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá 19

2.9 Phân tích số liệu 20

2.10 Hạn chế, sai số và biện pháp khắc phục 20

2.11 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 21

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22

3.1 Mô tả đặc điểm dịch tể học ca bệnh TCM tại thị xã Gò Công 2017 22

3.1.3 Đặc điểm của trẻ trong nghiên cứu 23

Trang 5

3.1.4 Những triệu chứng chính 24

3.1.5 Những triệu chứng nặng 24

3.1.6 Triệu chứng kèm theo các ca bệnh TCM ở trẻ 24

3.1.7 Vị trí phỏng nước các ca bệnh ở trẻ 25

3.1.8 Phân độ các trường hợp bệnh 25

3.1.9 Loại ca bệnh ghi nhận 25

3.1.10 Tiền sử tiếp xúc 26

3.1.11 Nguồn nước sử dụng 26

3.1.12 Yếu tố dùng chung 26

3.2 Mô tả thực hành phòng bệnh và xử trí khi trẻ mắc TCM của người chăm sóc chính 27

3.2.2 Thực hành phòng ngừa bệnh TCM 28

3.2.2.1.Thực hành rửa tay của người chăm sóc trẻ 28

3.2.2.2 Thực hành rửa tay cho trẻ 28

3.2.2.3 Thực hành lau rửa đồ chơi của trẻ 29

3.2.2.4 Thực hành lau chùi sàn nhà, nơi chơi đùa của trẻ 30

3.2.2.5 Thực hành vệ sinh ăn uống cho trẻ 31

3.2.2.6 Thực hành xử l ý phân của trẻ 31

3.2.3 Mô tả thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh 33

3.4 Mối liên quan giữa thực hành xử trí khi mắc bệnh với các đặc điểm của người chăm sóc chính 36

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 38

4.1 Một số đặc điểm dịch tễ ca bệnh bệnh tay chân miệng trên địa bàn thị xã Gò Công năm 2017 38

4.2.1 Thực hành phòng bệnh của người chăm sóc chính 41

4.2.2 Thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh 44

4.3 Mối liên quan giữa thực hành phòng bệnh và thực hành xử trí khi mắc bệnh với các đặc tính mẫu nghiên cứu 45

4.3.1.Thực hành phòng bệnh : 45

4.3.2.Thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh: 46

4.4 Hạn chế của nghiên cứu 46

KẾT LUẬN 48

Trang 6

5.1 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh TCM tại Gò Công, Tiền Giang năm 2017 48

5.3 Mối liên quan giữa thực hành phòng bệnh và xử trí khi trẻ mắc bệnh với các đặc tính mẫu nghiên cứu 48

KHUYẾN NGHỊ 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Phụ lục 1: Biến số nghiên cứu 53

1.1 Cấu phần định lượng dựa trên số liệu thứ cấp(mục tiêu 1) 53

1.2 Cấu phần số liệu sơ cấp (Mục tiêu 2) 56

Phụ lục 2 : Phiếu điều tra bệnh TCM 58

Phụ Lục 3: Phiếu điều tra thực hành phòng ngừa và xử trí bệnh Tay chân miệng 61

Phụ lục 4: Đánh giá Thực hành xử trí phòng chống bệnh TCM 66

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CA16 Coxsackievirus A16

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

ĐTV Điều tra viên

EV71 Enterovirus 71

QĐ Quyết định

TCM Tay chân miệng

TTYT Trung tâm Y tế

TYT Trạm Y tế

WHO Tồ Chức Y tế thế Giới

WPRO Văn phòng Tổ chức Y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình

Dương

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3 1 Đặc điểm của trẻ trong nghiên cứu 23

Bảng 3 2 Những triệu chứng chính 24

Bảng 3 3 Phân bố ca bệnh có những triệu chứng nặng 24

Bảng 3 4 Triệu chứng kèm theo 24

Bảng 3 5 Vị trí phỏng nước các ca bệnh ở trẻ 25

Bảng 3 6 Phân độ lâm sàng 25

Bảng 3 7 Loại ca bệnh ghi nhận 25

Bảng 3 8 Tiền sử tiếp xúc 26

Bảng 3 9 Nguồn nước sử dụng 26

Bảng 3 10 Yếu tố dùng chung 26

Bảng 3 11 Đặc điểm của người chăm sóc chính 27

Bảng 3 12 Thực hành rửa tay của người chăm sóc trẻ 28

Bảng 3 13 Thực hành rửa tay cho trẻ 28

Bảng 3 14 Thực hành lau rửa đồ chơi của trẻ 29

Bảng 3 15 Thực hành lau chùi sàn nhà, nơi chơi đùa của trẻ 30

Bảng 3 16 Thực hành vệ sinh ăn uống cho trẻ 31

Bảng 3 17 Thực hành xử l ý phân cho trẻ 31

Bảng 3 18 Thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh 33

Bảng 3 19 Mối liên quan giữa thực hành phòng bệnh với các đặc điểm của người chăm sóc chính 35

Bảng 3 20 Mối liên quan giữa thực hành xử trí khi mắc bệnh với các đặc điểm của người chăm sóc chính 36

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 1 Số ca mắc TCM ở thị xã Gò Công 2013-2017 15

Biểu đồ 3 1 Phân bố ca bệnh theo địa phương 22

Biểu đồ 3 2 Phân bố ca bệnh theo tháng 22

Biểu đồ 3 3 Đánh giá thực hành phòng ngừa bệnh TCM 32

Biểu đồ 3 4 Đánh giá Thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh của người chăm sóc chính 34

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Bệnh TCM được phát hiện ở hầu hết các nước, đặc biệt ở Châu Á đã xảy ra các vụ dịch lớn và đang trở thành vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng Tại Gò Công, năm 2017 có 210 ca mắc, cao gấp 2,4 lần so với năm 2016; Mặc dù ngành Y

tế đã triển khai nhiều hoạt động phòng, chống bệnh TCM nhưng tình hình mắc TCM vẫn diễn biến phức tạp Bệnh chưa có vắc-xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu Biện pháp quan trọng và hữu hiệu để phòng, chống bệnh TCM là giữ vệ sinh và cách ly khi mắc bệnh; Hai yếu tố này phụ thuộc rất nhiều vào việc thực hành phòng ngừa và xử trí khi trẻ mắc bệnh của người chăm sóc trẻ Ngoài ra việc hiểu rõ đặc điểm dịch tễ các ca bệnh là rất quan trọng trong công tác chủ động phòng chống dịch bệnh

Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm đặc dịch tễ học và thực hành phòng ngừa,

xử trí khi trẻ mắc TCM của người chăm sóc chính và một và số yếu tố liên quan tại thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, năm 2017 Nghiên cứu cắt ngang phân tích đã được tiến hành thông qua 206 phiếu thông tin ca bệnh TCM theo mẫu của Bộ Y tế được lưu trữ và phỏng vấn 176 người chăm sóc chính của trẻ mắc bệnh năm 2017 trên địa bàn thị xã Gò Công Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh TCM xuất hiện rải rác vào các tháng quanh năm và đỉnh bệnh vào tháng 8 đến tháng 11 Các xã khu vực nông thôn, Bình Xuân, Bình Đông, có số mắc cao hơn so với các phường Trong các ca bệnh, tỷ lệ trẻ nam mắc bệnh chiếm 56,8%, trẻ từ 1-2 tuổi chiếm 61,2% Đặc điểm triệu chứng chính của trẻ khi mắc bệnh là: Có phỏng nước 100%, sốt 99% và loét miệng 19,4%; Vị trí phỏng nước chủ yếu ở tay 56,8%, ngoài ra ở chân chiếm 46,1%, ở mông chiếm 18,9% và ở đầu gối chiếm 17,5%; Triệu chứng kèm theo của bệnh TCM là chán ăn chiếm tỷ lệ 89,8%, mệt mỏi 42,2%, đau họng 22,3% Triệu chứng nặng là quấy khóc chiếm tỷ lệ 63,6%, giật mình và co giật chiếm tỷ lệ thấp (2%) Các ca bệnh đều là rải rác, không ghi nhận ổ dịch Mức độ lâm sàng khi điều trị chủ yếu là độ 1 chiếm 93,2%, tuy vậy 72,8% trẻ được điều trị

ở tuyến trung ương

Trang 11

Kết quả đánh giá thực hành về phòng bệnh của người chăm sóc cho thấy tỷ

lệ thực hành phòng bệnh của người chăm sóc chính đạt là 36,4% Trong đó xử lý phân đạt 89%, lau sàn nhà đạt 52,5%, rửa tay của người chăm sóc 8,5%, rửa tay cho trẻ 18,8%, vệ sinh ăn uống cho trẻ 17,6% Tỷ lệ thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh đạt 48%,trong đó: Cách ly, không cho tiếp xúc với trẻ khác là 66,5%, vệ sinh tay sau khi chăm sóc trẻ 63,6%; Vệ sinh đồ chơi/nơi trẻ đã tiếp xúc là 51,7% và có 61,3% thực hiện đúng thời gian cách ly nghỉ học

Nghiên cứu thấy có mối liên quan giữa giới tính (OR = 3,42; p = 0,001), nhóm tuổi (OR = 3,00; p = 0,001), nghề nghiệp (OR = 2,99; p = 0,001), Thu nhập của gia đình (OR = 3,27; p = 0,023), số con dưới 5 tuổi (OR = 0,20; p = 0,004) của người chăm sóc chính với thực hành phòng ngừa bệnh TCM; Có mối liên quan giữa giới tính (OR = 4,69; p < 0,001;), nhóm tuổi (OR = 3,45; p < 0,001), nghề nghiệp (OR = 2,09; p = 0,03), thu nhập của gia đình (OR = 2,76; p < 0,001), số con dưới 5 tuổi (OR = 0,20; p = 0,004) của người chăm sóc chính với thực hành xử trí khi trẻ mắc TCM của người chăm sóc chính Vì cần vậy chủ động phòng chống dịch bệnh chú ý tập trung từ tháng 8-11 hàng năm; chú trọng những địa phương có số mắc cao, các gia đình có bệnh nhân TCM và có trẻ em dưới 5 tuổi Tăng cường các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ cho các đối tượng là người chăm sóc chính thay đổi hành

vi và thực hành tốt các biện pháp phòng ngừa, xử trí trẻ mắc TCM

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh tay-chân-miệng (TCM) là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người,

dễ gây thành dịch do vi rút đường ruột gây ra, có hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackievirus A16 (CA16) và Enterovirus 71 (EV71) Bệnh chủ yếu lây theo đường tiêu hóa; Biểu hiện chính của bệnh là tổn thương da, niêm mạc dưới dạng nốt phỏng nước ở các vị trí đặc biệt như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, đầu gối, Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp và dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời [3]

Trên thế giới, Bệnh TCM được phát hiện ở hầu hết các nước, đặc biệt ở Châu

Á đã xảy ra các vụ dịch lớn với số mắc, số tử vong do bệnh TCM gia tăng và đang trở thành vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng Tại Việt Nam, bệnh TCM được ghi nhận đầu tiên vào năm 2003 [30]

Từ những năm 2005-2010 số bệnh nhân có xu hướng gia tăng mạnh và gây

tử vong ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước Từ 2011-2016 bệnh TCM diễn biến phức tạp; Năm 2017 tính đến ngày 17 tháng 12 năm 2017, thống kê từ 63 tỉnh đã có 48.009 trường hợp mắc bệnh TCM nhập viện trong đó có 01 cas tử vong[31] Bệnh

có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm trẻ dưới 3 tuổi; Bệnh xuất hiện rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương trong đó các tỉnh phía nam chiếm hơn 60% tổng số ca bệnh trên cả nước Bệnh có

xu hướng tăng cao vào các thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng

12 hàng năm Hiện tại, bệnh chưa có vắc-xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu [2] Do đó, biện pháp quan trọng và hữu hiệu để phòng, chống lay lan bệnh TCM cho trẻ là giữ vệ sinh và cách ly trẻ trước và sau khi mắc bệnh; Cả hai yếu tố này phụ thuộc rất nhiều vào việc thực hành xử trí của người chăm sóc trẻ [2]

Tại tỉnh Tiền Giang năm 2016 toàn tỉnh có 4009 ca mắc trong đó có 01 trường hợp tử vong; Năm 2017, tính đến 10/9/2017 toàn tỉnh có 1675 ca mắc, với

19 ổ dịch TCM trong đó có 956 trường hợp nhập viện, chiếm 57,1% trên tổng số ca mắc và tăng 34,6% so với số nhập viện cùng kỳ [13]

Tại thị xã Gò Công, theo báo cáo của Trung tâm Y tế thị xã Gò Công, năm

2013 toàn thị xã có 82 ca mắc TCM, năm 2014 là 168 ca, năm 2015 là 112 ca, năm

2016 là 87 ca, cao nhất là năm 2017 với 210 ca gấp 2,4 lần so với năm 2016 Mặc

Trang 13

dù ngành Y tế đã triển khai đã triển khai nhiều hoạt động truyền thông phòng, chống bệnh TCM nhưng nhưng vẫn chưa mang lại hiệu quả tốt, tình hình mắc bệnh TCM trên địa bàn vẫn diễn biến phức tạp [20]

Tại thị xã Gò Công chưa có nhiều nghiên cứu về thực hành xử trí khi mắc bệnh TCM của người chăm sóc chính khi trẻ mắc bệnh; Câu hỏi đặt ra là đặc điểm bệnh TCM tại thị xã Gò Công như thế nào? Việc thực hành phòng ngừa và xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính và các yếu tố nào liên quan tại đến thực trạng này?

Vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm dịch tễ học và thực hành

phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại

Gò Công, Tiền Giang, năm 2017” với mong muốn kết quả nghiên cứu sẽ giúp đưa

ra các khuyến nghị phù hợp giúp địa phương xây dựng chương trình can thiệp, cũng như đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần phòng, chống bệnh tay chân miệng hiệu quả hơn

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả đặc điểm dịch tễ học bệnh tay chân miệng tại thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, năm 2017

2 Mô tả thực hành phòng ngừa và xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, năm 2018

3 Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng ngừa và xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, năm 2018

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Định nghĩa dịch tễ học

Dịch tễ học được Last định nghĩa là “việc nghiên cứu sự phân bố và các yếu

tố quyết định của các tình trạng hay sự kiện liên quan đến sức khoẻ trong các quần thể xác định và việc ứng dụng nghiên cứu này vào phòng ngừa và kiểm soát các vấn

đề sức khoẻ” Nhà dịch tễ học không chỉ quan tâm tới tử vong, bệnh tật mà còn cả với trạng thái sức khoẻ tốt và quan trọng nhất là các giải pháp tăng cường sức khoẻ

Từ “bệnh” bao hàm tất cả sự thay đổi không mong muốn của tình trạng sức khoẻ, bao gồm cả chấn thương và sức khoẻ tâm thần.[26]

1.2 Giới thiệu chung về bệnh Tay chân miệng

Bệnh tay-chân-miệng là một hội chứng bệnh truyền nhiễm ở người do vi rút đường ruột của họ Picornaviridae gây ra Trong đó có 2 nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackie virus (CA16) và Enterovirus 71 (EV71) [2]

1.2.1 Lịch sử của bệnh Tay chân miệng

Bệnh được mô tả lần đầu tại Toronto - Canada năm 1957 [1], đến năm 1959 trong vụ dịch tại Birmingham - Anh, bệnh đã được đặt tên TCM Cũng tại vụ dịch này, CA16 đã được xác định là căn nguyên gây bệnh Cho đến năm 1974, căn nguyên EV71 đã được Schmidt và cộng sự mô tả dựa trên 20 bệnh nhân bị bệnh TCM có biến chứng thần kinh trung ương, trong đó có 1 ca tử vong tại California (Mỹ) vào giữa những năm 1969 và 1972 Sau đó, nhiều vụ dịch bùng phát được ghi nhận tại Mỹ (1972 - 1977 và 1987), Úc (1972 - 1973 và 1986), Thụy Điển (1973), Nhật Bản (1973 - 1978), Bun-ga-ri (1975), Hung-ga-ri (1978), Pháp (1979), Hồng Kông (1985) Trong các vụ dịch trên, EV71 là căn nguyên gây biểu hiện lâm sàng đa dạng, bao gồm viêm màng não vô khuẩn, viêm não, liệt, bệnh phổi cấp tính và viêm cơ tim [30] Cùng với CA16, EV71 là căn nguyên chính gây bệnh TCM Bắt đầu từ cuối những năm 1990, các vụ dịch TCM đã lan rộng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương với một tỷ lệ lớn

có biểu hiện bệnh lý thần kinh và tim mạch [30]

Tại Việt Nam, TCM do EV71 được phát hiện và phân lập đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2003; Các chủng EV71 lưu hành ở khu vực phía Nam; Các

Trang 16

chủng này thuộc nhiều nhóm, tuy nhiên không có sự khác biệt về mức độ nặng nhẹ trên lâm sàng giữa các nhóm và phân nhóm của EV71 [6]

1.3 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh tay chân miệng

1.3.1 Tác nhân gây bệnh

Bệnh TCM gây ra do nhóm vi-rút đường ruột; Các vi-rút có khả năng gây bệnh TCM trong nhóm này gồm vi-rút Coxsackies, Echo và các vi-rút đường ruột khác, các vi-rút đường ruột týp 71 (EV71) và CA16 CA16 là một tác nhân gây bệnh thường xuyên gặp phải trong các trường hợp TCM và biểu hiện lâm sàng thường nhẹ và có thể hoàn toàn hồi phục; Trường hợp tử vong của nhiễm trùng CA16 là rất hiếm Vi-rút EV71 có thể gây ra biến chứng nặng và dẫn đến tử vong; Các vi-rút đường ruột khác thường gây bệnh nhẹ Vi-rút có thể tồn tại nhiều ngày ở điều kiện bình thường và nhiều tuần ở nhiệt độ 400

C Tia cực tím, nhiệt độ cao, các chất diệt trùng như formaldehyt, các dung dịch khử trùng có chứa Clo hoạt tính có thể diệt vi-rút [3]

Triệu chứng lâm sàng: Ở giai đoạn ủ bệnh 3-7 ngày; giai đoạn khởi phát từ 1-2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày Và giai đoạn toàn phát có thể kéo dài 3-10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh như loét miệng, vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3 mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi, gây đau miệng, bỏ ăn, bỏ bú, tăng tiết nước bọt, phát ban dạng phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông tồn tại trong thời gian ngắn dưới 7 ngày có thể để lại vết thâm, rất hiếm khi loét bội nhiễm, sốt nhẹ, nôn Nếu trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng; Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh Còn ở giai đoạn lui bệnh thường từ 3-5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn nếu không

có biến chứng [3]

Phân độ và điều trị: Về phân độ lâm sàng bệnh TCM được phân độ thành độ

1, độ 2a, độ 2b, độ 3 và độ 4.Về nguyên tắc điều trị: hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều trị hỗ trợ (không dùng kháng sinh khi không có bội nhiễm); Theo dõi sát, phát hiện sớm, phân độ đúng và điều trị phù hợp Đối với trường hợp nặng phải đảm bảo xử trí theo nguyên tắc hồi sức cấp cứu theo quy định Bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng [3]

Trang 17

1.3.2 Nguồn truyền và phương thức lây truyền

Bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa: thức ăn, nước uống, bàn tay của trẻ hoặc người chăm sóc trẻ, các đồ dùng, đặc biệt là đồ chơi và vật dụng sinh hoạt hằng ngày như chén, bát, đĩa, thìa, cốc bị nhiễm vi-rút từ phân hoặc dịch nốt phòng, vết loét hoặc dịch tiết đường hô hấp, nước bọt Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây truyền do tiếp xúc trực tiếp người – người qua các dịch tiết đường hô hấp, hạt nước bọt, một số yếu tố có thể làm gia tăng sự lây truyền và bùng phát dịch bao gồm: mật

độ dân số cao, sống chật chội, điều kiện vệ sinh kém, thiếu nhà vệ sinh, thiếu hoặc không có nước sạch phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày [3]

Tại nước ta, bệnh TCM gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương trên

cả nước Vi-rút có khả năng đào thải qua phân từ 2 – 4 tuần, giai đoạn lây mạnh nhất là tuần đầu tiên mắc bệnh, cá biệt có thể tới 12 tuần sau khi nhiễm Vi-rút cũng tồn tại nhân lên ở đường hô hấp trên và đào thải qua dịch tiết từ hầu họng trong vòng 2 tuần Vi-rút cũng có nhiều trong dịch tiết các nốt phỏng nước, vết loét của bệnh nhân[2]

Người bệnh hay người lành mang vi-rút không triệu chứng là ổ chứa tác nhân gây bệnh Vi-rút có mặt sớm nhất ở dịch tiết trong họng khoảng từ 5 – 7 ngày Vi-rút có trong dịch tiết mụn nước từ 1 – 2 mụn và có thể tồn tại trong phân tới hơn

1 tháng Enterovirus có thể lây truyền ngay từ khi phơi nhiễm với vi-rút trong thời

kỳ ủ bệnh, khả năng lây truyền cao nhất là từ 5 – 7 ngày sau khi phát bệnh [2],[6] Điều đáng lưu ý nhiều trẻ mắc bệnh đôi khi không phát hiện yếu tố dịch tễ tiếp xúc với người bệnh, chứng tỏ trẻ bị lây từ người nhà, người chăm sóc [6]; Do đó, Cục Y

tế dự phòng khuyến cáo các bà mẹ và người chăm sóc trẻ chú ý rửa tay sạch thường xuyên cho trẻ và người chăm sóc trẻ, vệ sinh đồ chơi, dụng cụ trước khi cho trẻ chơi

để phòng ngừa dịch bệnh xảy ra

1.3.3 Đặc điểm về tuổi mắc bệnh

Độ tuổi mắc bệnh TCM chủ yếu xảy ra ở trẻ em dưới 10 tuổi, tuy nhiên cũng

có thể gặp ở người trưởng thành Thường gặp nhất là trẻ nhũ nhi, trẻ em và thiếu niên là những đối tượng dễ bị nhiễm bệnh và biểu hiện bệnh nhất vì chúng có kháng thể chống lại bệnh này [7] Nhóm tuổi có số mắc cao nhất là trẻ nhỏ từ 1-2 tuổi [25]

Ở Hồng Kông giai đoạn 2001 đến 2009 có trên 3512 bệnh nhân bị mắc TCM dưới 5

Trang 18

tuổi chiếm 66, 4% [21] Bệnh TCM chủ yếu lây nhiễm trẻ em dưới 05 tuổi, nhưng trẻ lớn và người lớn cũng có thể mắc bệnh [3]

Bệnh tay chân miệng xảy ra chủ yếu trẻ em, dưới 5 tuổi chiếm 96,7%, dưới 3 tuổi chiếm 79,6% trong tổng số mắc Tỷ lệ mắc tay chân miệng (trên 100.000) cao nhất ở nhóm 1 tuổi (12-23 tháng), sau đó tỷ lệ mắc giảm dần cho đến 5 tuổi [14]

1.3.4 Đặc điểm mắc bệnh theo giới tính

Có sự chênh lệnh tỷ lệ mắc bệnh TCM giữa nam và nữ Theo một nghiên cứu

ở Trung Quốc trong năm 2008-2009 tỷ chênh giữa nam và nữ là 1,56 [29] Trong một nghiên cứu dịch tễ học ở Singapore, tỷ lệ này là 1,3[32] Ở Việt Nam, theo nghiên cứu tại các tỉnh phía Nam cho thấy bệnh TCM xảy ra nhiều ở trẻ em trai (61,43%) [8] Hơn nữa theo nghiên cứu của Phan Thị Tuyết Nga (2012) thì TCM xảy ra ở bé trai 61,8%, bé gái 39,2% [12] Nam mắc bệnh tay chân miệng nhiều hơn

nữ Tỷ số mắc bệnh giữa nam và nữ từ 1,29 đến 1,53 trong bốn năm nghiên cứu [14] Trong rất nhiều các vụ bùng phát dịch được ghi nhận ở Việt Nam cũng như một số nước trên thế giới Nam có nhiều khả năng mắc bệnh TCM hơn so với nữ Trong số những trẻ mắc bệnh TCM, trẻ trai thường chiếm ưu thế Theo kết quả của một số nghiên cứu, tỷ số mắc bệnh giữa nam và nữ từ 1,4 đến 1,9 [9]

1.3.5 Phân bố theo mùa

Bệnh TCM mắc quanh năm, nhưng chủ yếu nhiều nhất vào mùa hè và mùa thu; Tại Trung Quốc năm 2010 và 2011, số bệnh nhân mắc TCM cao nhất vào tháng 5-7 [28] Còn ở Việt Nam, theo báo cáo của viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh tại các tỉnh phía Nam số bệnh nhân mắc tay chân miệng tăng từ tháng 3 đến tháng 5

và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm [9],[2],[25] Thời gian mắc: bệnh xuất hiện rải rác vào các tháng quanh năm, có 2 đỉnh dịch vào tháng 3 đến 5 và tháng 9 đến 11[14]

1.3.6 Tính cảm nhiễm và miễn dịch

Mọi người đều có thể cảm nhiễm với vi-rút gây bệnh nhưng không phải tất

cả những người nhiễm vi-rút đều có biểu hiện bệnh Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt ở nhóm dưới 3 tuổi Người lớn ít bị mắc bệnh có thể do đã có kháng thể từ những lần bị nhiễm hoặc mắc bệnh trước đây[2]

Trang 19

Sau khi mắc bệnh, trẻ em có thể có miễn dịch đặc hiệu với chủng vi-rút đã bị nhiễm, nhưng không có miễn dịch với những chủng vi-rút khác Trẻ sơ sinh có kháng thể do mẹ truyền và giảm nhanh sau khi sinh khoảng một tháng Miễn dịch tạo ra từ những lần phơi nhiễm trước riêng biệt với mỗi loại vi-rút, nhưng có thể bị nhiễm với chủng loại vi-rút khác

Hiện nay chưa có vắc-xin phòng bệnh, nhìn chung trẻ mắc bệnh TCM điển hình ở thể nhẹ và tự khỏi Thời gian tự khỏi thường là dưới 10 ngày Ngoài ra hầu hết người đến tuổi trưởng thành có miễn dịch bền vững và không mắc bệnh trở lại[2]

1.4 Các biện pháp phòng, chống bệnh tay chân miệng

Bệnh lây truyền theo đường tiêu hóa và hiện chưa có văc-xin phòng bệnh, nên việc mỗi người phải tự giác thực hiện các biện pháp vệ sinh ăn uống, vệ sinh cá nhân, vệ sinh nơi sinh hoạt là việc rất cần thiết [2] Các biện pháp có tác dụng là thường xuyên rửa tay cho bản thân và cho trẻ, đặc biệt là trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn/cho trẻ ăn, trước khi bế ẳm trẻ, sau khi đi vệ sinh, sau mỗi lần thay tã, quần áo và làm vệ sinh cho trẻ

Một số can thiệp YTCC hiệu quả được áp dụng phòng chống bệnh TCM tại Trung Quốc, Singapore, Hồng Kông và được WHO khuyến cáo như: thiết lập hệ thống giám sát và cảnh báo dịch sớm, thường xuyên; triển khai các chiến dịch truyền thông; triển khai các chiến dịch vệ sinh, rửa tay bằng xà phòng chủ động xây dựng kế hoạch, chính sách [30]

Tại Việt Nam, đáp ứng với tình hình dịch bệnh TCM, đặc biệt trong năm

2011 – 2012, Chính phủ, Bộ Y tế và các ban ngành đã ban hành công điện, các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về giám sát, phòng và điều trị bệnh TCM Các hoạt động kiểm tra, giám sát, báo cáo tình hình dịch bệnh, tăng cường các chiến dịch truyền thông cấp phát Cloramin B, đẩy mạnh công tác vệ sinh môi trường, phát hiện và điều trị sớm đã được tiến hành đồng thời trên phạm vi cả nước Để kiểm soát hiệu quả, công tác thông tin TTGDSK thay đổi hành vi, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, đặc biệt lại các vùng bệnh lưu hành cần tiếp tục tăng cường [1]

Trang 20

1.4.1 Các biện pháp chung

Những nơi bị nhiễm bệnh có thể được làm sạch sẽ trước tiên bằng nước xà phòng, sau đó khử trùng bằng dung dịch chứa Cloramin B Tránh tiếp xúc thân mật với người bệnh như hôn, vuốt ve, dùng chung dụng cụ…

Các vụ bùng phát dịch trong nhà trẻ thường xảy ra vào mùa hè và mùa thu, thường đồng thời với hiện tượng tăng các trường hợp nhiễm bệnh trong cộng đồng Không có biện pháp cụ thể nào chắc chắn giảm thiểu các trường hợp mới mắc nếu dịch bùng phát trong nhà trẻ, trường học Tuy nhiên, những biện pháp chung sau đây thường được khuyến cáo:

- Rửa tay sạch sẽ, nhất là sau khi đi vệ sinh, thay tả lót, hoặc dọn dẹp các đồ chơi, vật dụng, sàn nền nhà nơi trẻ chơi đùa, các chất thải, dịch tiết của trẻ;

- Che miệng khi ho, hắt hơi;

- Thường xuyên vệ sinh đồ chơi của trẻ;

- Cho nghỉ tại nhà với những trẻ có biểu hiện sốt và/hoặc có biểu hiện loét miệng, nổi nốt phòng ờ lòng bàn tay, chân và mông

Trong tất cả các khuyến cáo trên thì việc rửa tay bằng xà phòng thường xuyên được “xem như là liều “vắc – xin” hiệu quả được các chuyên gia của WHO cũng như Cục Y tế dự phòng Bộ Y tế khuyến nghị [2]

1.4.2 Nguyên tắc phòng bệnh và biện pháp xử lý dịch bệnh cụ thể

Nguyên tắc phòng bệnh:

Bệnh TCM chưa có vắc-xin và thuốc điều trị đặc hiệu, bệnh chủ yếu lây lan qua tiếp xúc với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, các nốt phỏng, và chất thải của người bệnh có nhiễm vi-rút Phòng chống dịch dựa theo “Hướng dẫn giám sát

và phòng chống bệnh tay chân miệng” ban hành kèm theo Quyết định số: 581/QĐ – BYT ngày 24/02/2012 và “Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh tay chân miệng” ban hành kèm theo Quyết định số: 1003/QĐ – BYT ngày 30/3/2012 của Bộ trưởng Bộ

Y tế Những nguyên tắc phòng quan trọng:

- Phát hiện sớm các trường hợp mắc để xử lý và điều trị kịp thời;

- Cách ly ngay các trường hợp mắc, không để lây lan ra cộng đồng;

- Thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, nâng cao thể trạng;

- Làm sạch bề mặt và khử trùng dụng cụ sinh hoạt, nhà vệ sinh bị nhiễm chất tiết và bài tiết của bệnh nhân TCM

Trang 21

Một số biện pháp xử lý ổ dịch

Phải tiến hành xử lý ngay trong vòng 48 giờ khi phát hiện trường hợp bệnh/ổ dịch

Tại nhà trẻ, mẫu giáo

Trẻ mắc bệnh không đến lớp ít nhất là 10 ngày kể từ khi khởi bệnh và chỉ đến lớp khi hết loét miệng và các phỏng nước Đảm bảo có đủ xà phòng rửa tay tại từng lớp học Thầy cô giáo/người chăm sóc trẻ cần theo dõi tình trạng sức khỏe cho trẻ hàng ngày Đặc biệt khi phát hiện trong lớp, trong trường có trẻ nghi ngờ mắc bệnh phải thông báo cho gia đình và cán bộ y tế để xử lý kịp thời Đảm bảo tất cả trẻ em, người lớn thực hiện tốt vệ sinh cá nhân như vệ sinh răng miệng, rửa tay sạch

và thường xuyên trước và sau khi chế biến thức ăn, sau khi đi vệ sinh và sau khi thay tã cho trẻ

Làm sạch các dụng cụ, vật dụng mà trẻ thường xuyên tiếp xúc như đồ chơi, tay cầm cửa, tay vịn cầu thang….nhà vệ sinh bằng xà phòng, sau đó lau lại bằng Cloramin B 2% hằng ngày Dụng cụ ăn uống như chén, dĩa, ly, cốc… ngâm, tráng qua nước sôi trước khi sử dụng Thường xuyên làm thông gió lớp học [3]

Tùy tình hình và mức độ nghiêm trọng của dịch, cơ quan y tế địa phương tham mưu cho cấp có thẩm quyền tại địa phương quyết định việc đóng cửa lớp học/trường học/nhà trẻ, mẫu giáo.Thời gian đóng cửa lớp học/trường học/nhà trẻ, mẫu giáo là 10 ngày kể từ ngày khởi phát của ca bệnh cuối cùng [3]

Tại gia đình bệnh nhân khi trẻ mắc bệnh

Bệnh nhân được điều trị tại nhà theo quy định thì phải được cách ly ít nhất

10 ngày kể từ ngày khởi phát bệnh Người chăm sóc bệnh nhân, khi thấy trẻ có các biểu hiện biến chứng thần kinh hoặc tim mạch như giật mình, rung giật cơ, đi loạng choạng, ngủ gà, yếu liệt chi, mạch nhanh, sốt cao (≥39,5oC), thì phải đến ngay cơ

sở y tế để khám và điều trị kịp thời Bệnh nhân phải đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người khác, che miệng khi ho, hắt hơi, giữ khoảng cách khi nói chuyện, không để lây vi-rút cho người khác Đảm bảo có đủ xà phòng rửa tay tại hộ gia đình Thực hiện đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, ăn chín, uống chín Những người trong gia đình phải tự theo dõi sức khỏe các thành viên trong gia đình, đặc biệt trẻ em dưới 5 tuổi, nếu phát hiện các triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh phải thông báo ngay cho cơ quan y tế xử lý, điều trị kịp thời Những thành viên trong hộ gia đình bệnh

Trang 22

nhân không nên tiếp xúc, chăm sóc trẻ em khác và không tham gia chế biến thức ăn phục vụ các bữa ăn tập thể [3]

Đối với cộng đồng

Tuyên truyền tới từng hộ gia đình, đặc biệt là bà mẹ, người chăm sóc trẻ tại các hộ gia đình có trẻ dưới 5 tuổi, giáo viên các trường học, nhà trẻ, mẫu giáo, nhóm trẻ gia đình, lãnh đạo chính quyền, đoàn thể tại địa phương về bệnh TCM và các biện pháp phòng chống bằng nhiều hình thức như họp tổ dân phố, họp dân, tập huấn, hướng dẫn tại chỗ, tờ rơi, loa đài, phát thanh, báo chí, truyền hình

Nội dung tuyên truyền cần làm rõ các nội dung mà người dân cần phải biết bao gồm:

Đối tượng có nguy cơ mắc bệnh TCM cao nhất là trẻ em dưới 5 tuổi

Bệnh lây truyền theo đường tiêu hóa và hiện chưa có vắc-xin phòng bệnh đặc hiệu, nên việc mỗi người dân phải tự giác thực hiện các biện pháp vệ sinh ăn uống,

vệ sinh cá nhân, vệ sinh nơi sinh hoạt là việc làm hết sức cần thiết

Tuyên truyền các triệu chứng chính của bệnh TCM, các dấu hiệu chuyển bệnh nặng: sốt, loét miệng, phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, vùng mông, đầu gối đặc biệt kèm theo dấu hiệu thần kinh hoặc tim mạch như sốt cao, giật mình,

lừ đừ, run chi, bứt rứt khó ngủ, nôn nhiều, rung giật cơ, đi loạng choạng, da nổi vân tím, vã mồ hôi, tay chân lạnh để người dân/người chăm sóc trẻ/cô giáo có thể tự phát hiện sớm bệnh nhân và đưa đến cơ sở y tế kịp thời

Phòng ngừa trước khi trẻ mắc bệnh

Để phòng ngừa bệnh TCM người chăm sóc trẻ cần thực hiện tốt:

Thực hiện 3 sạch: ăn (uống) sạch; ở sạch; bàn tay sạch và chơi đồ chơi sạch; Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng dưới vòi nước chảy nhiều lần trong ngày (cả người lớn và trẻ em), đặc biệt trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn/cho trẻ ăn, trước khi bế ẵm trẻ, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã và làm vệ sinh cho trẻ

Thực hiện tốt vệ sinh ăn uống: ăn chín, uống chín; vật dụng ăn uống phải đảm bảo được rửa sạch sẽ trước khi sử dụng (tốt nhất là ngâm tráng nước sôi); đảm bảo sử dụng nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày; không mớm thức ăn cho trẻ; không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm mút đồ chơi; không cho trẻ dùng chung khăn

ăn, khăn tay, vật dụng ăn uống như cốc, bát, đĩa, thìa, đồ chơi chưa được khử trùng

Trang 23

Thường xuyên lau sạch các bề mặt, dụng cụ tiếp xúc hàng ngày như đồ chơi, dụng cụ học tập, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, mặt bàn/ghế, sàn nhà bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông thường

Không cho trẻ tiếp xúc với người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh

Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, phân và các chất thải của bệnh nhân phải được thu gom và đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh

Khi phát hiện trẻ có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh cần đưa trẻ đi khám hoặc thông báo ngay cho cơ quan y tế gần nhất

Tổ chức các đội tự quản tại chỗ (phối hợp ban, ngành, đoàn thể) để hàng ngày kiểm tra, giám sát việc thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch tại từng hộ gia đình, đặc biệt gia đình bệnh nhân và những gia đình có trẻ em dưới 5 tuổi [3]

1.5 Tình hình bệnh Tay chân miệng ở Việt Nam

Tại Việt Nam, bệnh TCM lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1997 Năm

2003, vụ dịch TCM lần đầu được báo cáo tại miền Nam Việt Nam [9] Những năm gần đây, bệnh có diễn biến rất phức tạp và đang trở thành mối lo ngại đối với sức khỏe cộng đồng

Bệnh TCM xảy ra rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương nhưng phần lớn tại các tỉnh phía Nam Tại miền Nam, bệnh có xu hướng tăng cao vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm [2]

Trong năm 2017 tích lũy tính đến thời điểm ngày 17/12/2017 cả nước đã ghi nhận 48.009 trường hợp mắc TCM nhập viện và có 01 trường hợp tử vong [31] Hiện nay, bệnh chủ yếu tập trung ở các tỉnh phía Nam chiếm hơn 60% số ca mắc trong cả nước

1.6 Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến bệnh TCM

Nghiên cứu của Yoko Suzuki và cộng sự tại Nhật Bản, nhằm xác định yếu tố nguy cơ gây bệnh TCM nặng Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa việc đi nhà trẻ với bệnh TCM (OR=2,96; 95% CI=1,24-7,08; p<0,05) [33]

Nghiên cứu bệnh chứng được tiến hành ngẫu nhiên trên 283 trẻ dưới 6 tuổi

có mắc bệnh TCM và nhóm chứng 283 trẻ không mắc bệnh TCM có tuổi và nơi ở tương đồng với trẻ nhóm bệnh ở thị trấn Qiaosi, tỉnh Zhejang Trung Quốc để xác

Trang 24

định các yếu tố nguy cơ của bệnh TCM, và hiệu quả phòng bệnh bằng rửa tay xà phòng Kết quả nghiên cứu cho thấy; trẻ chơi với nhà hàng xóm: OR=11 (95% CI=6,2-17); phơi nhiễm/tiếp xúc với người khác ở nơi đông đúc OR=7,3 (95% CI=4,1-13)[22]

Nghiên cứu của Luan-Yin Chang trong vụ dịch năm 2008 tại Đài Loan trên 129.106 ca TCM Kết quả cho thấy có yếu tố liên quan đến TCM là trẻ có đi mẫu giáo hoặc nhà trẻ (OR=1,8; 95% CI=1,3-2,5), tiếp xúc với những người bị TCM (OR=1,6; 95% CI=1,2-2,1), số con trong gia đình (OR=1,4; 95% CI=1,1-1,7) sống

ở khu vực nông thôn (OR=1,4; 95% CI=1,2-1,6)[24]

Nghiên cứu về yếu tố liên quan đến biện pháp phòng bệnh TCM của Yang T

và cộng sự tại Đài Loan, kết quả cho thấy trẻ có chơi với trẻ hàng xóm có nguy cơ mắc TCM cao gấp 11 lần so với trẻ không chơi với hàng xóm (OR:11, 95% CI:6,2-17), trẻ có đi khám bệnh có nguy cơ mắc TCM cao gấp 20 lần so với trẻ không đi khám bệnh ở phòng khám vì một bệnh khác trong vòng 1 tuần trước khi bệnh (OR:20; 95% CI:5,0-88); trẻ có đi tới chỗ tụ tập đông người có nguy cơ mắc TCM cao gấp 7,3 lần so với trẻ không đi tới chỗ đông người (OR:7,3; 95% CI:4,1-13)[27]

Nguyễn Vũ Quan Ân ( 2008 ) Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về

phòng bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại phường 13 Quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh cho thấy chỉ có 50,93% bà mẹ có kiến thức đúng về phòng bệnh tay chân miệng, 76,66% bà mẹ có thực hành đúng về phòng bệnh tay chân miệng [10]

Với mục tiêu thu thập thông tin về kiến thức, thái độ, thực hành liên quan đến bệnh tay chân miệng trên 02 nhóm đối tượng đích là người chăm sóc trẻ ở hộ gia đình và ở các điểm giữ trẻ không chính thức tại cộng đồng, năm 2011 [VNRC]

đã phối hợp cùng [IFRC] tiến hành khảo sát ban đầu tại 08 Tỉnh ở Miền Nam: An Giang, Bến Tre, Long An, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Quảng Ngãi và Đà Nẳng; Khảo sát được tiến hành bằng phương pháp thu thập thông tin định lượng kết hợp với phỏng vấn sâu ở 146 người chăm sóc trẻ chính dưới 05 tuổi tại hộ gia đình

và 70 người chăm sóc trẻ tại các điểm giữ trẻ Kết quả cho thấy trong nhóm nghiên cứu trẻ tại nhà có đến 21,2% không biết về đường lây truyền của bệnh, 16,5% không hoặc ít quan tâm ngay cả khi trong thôn xóm có người bị bệnh tay chân

Trang 25

miệng, chỉ có 45,9% luôn luôn sử dụng xà phòng hoặc các dung dịch sát khuẩn khi rửa tay cho trẻ , 64,2% lau rửa sàn nhà và 36,2% lau rửa đồ chơi cho trẻ mỗi ngày Đây là khảo sát về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng đầu tiên tại Việt Nam với quy mô lớn nhất và nội dung hoàn chỉnh nhất cho đến thời điểm hiện tại Hạn chế của nghiên cứu là đã không loại trừ các đối tượng nghiên cứu ở các hộ gia đình đã có người mắc bệnh TCM trước đó[23]

Trần Thị Anh Đào với nghiên cứu “ Kiến thức, thực hành về phòng bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở Huyện Long Thành, Tỉnh Đồng Nai năm 2012, cho thấy chỉ có 43,7% bà mẹ có kiến thức đúng về phòng bệnh tay chân miệng, có 86,7% thái độ tích cực chung, có 38,86% bà mẹ thực hành đúng về phòng bệnh tay chân miệng; Có mối liên quan giữa học vấn, nghề nghiệp với thực hành phòng ngừa TCM; Không ghi nhận mối liên quan giữa nhóm tuổi, và thu nhập của gia đình với thực hành phòng ngừa TCM của ĐTNC, [15]

Phan Thanh Sơn với nghiên cứu “ Khảo sát kiến thức thái độ thực hành về phòng bệnh tay chân miệng ở bà mẹ có con dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan tại phường Châu Văn Liêm, Quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ năm 2013” cho thấy chỉ có 76,9% bà mẹ có kiến thức đúng về bệnh tay chân miệng, có 80,96% thái độ

tích cực chung, có 76,5% thực hành đúng về phòng bệnh tay chân miệng; Không

ghi nhận mối liên quan giữa nhóm tuổi, và thu nhập của gia đình, với thực hành phòng ngừa TCM của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi [11]

Đinh Xuân Hải với nghiên cứu “ Khảo sát kiến thức thực hành đúng của người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ mắc bệnh tay chân miệng tại Huyện Cờ Đỏ Thành phố Cần thơ năm 2012” cho thấy có 45,2% bà mẹ thực thành đúng về phòng bệnh khi trẻ mắc tay chân miệng, Nghiên cứu của Đinh Xuân Hải có ghi nhận mối liên quan giữa thực hành phòng bệnh TCM với hoàn cảnh kinh tế gia đình, kết quả là những bà mẹ có hoàn cảnh gia đình không thuộc hộ nghèo có tỷ lệ thực hành đạt cao gấp 4 lần những bà mẹ có hoàn cảnh kinh tế thuộc dạng này OR= 4,00; p= 0,026 và ghi nhận không có mối liên quan giữa nhóm tuổi và trình độ học vấn, nghề nghiệp với thực hành [4]

Phan Trọng Lân, Lê Thị Thanh Hương và nhóm nghiên cứu (2014), “ Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính cho trẻ dưới 5 tuổi tại xã Lệ Chi, Huyện Gia Lâm Thành phố Hà Nội, 2013”, cho thấy

Trang 26

chỉ có 45, 2% người chăm sóc chính thực hành đúng về phòng bệnh tay chân miệng;

Có mối liên quan giữa nghề nghiệp và trình độ học vấn với thực hành, những ĐTNC có trình độ học vấn cấp III trở lên có đạt về thực hành phòng ngừa TCM cao gấp 3,2 lần những ĐTNC có trình độ học vấn dưới cấp III, p< 0,001; ĐTNC là cán

bộ, công nhân viên đạt về thực hành phòng bệnh tay chân miệng cao gấp 3,9 lần ĐTNC làm nghề khác với p < 0,001.[5]

1.7 Thông tin về địa bàn nghiên cứu:

Thị xã Gò Công là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của khu vực Gò Công; nằm ở phía Đông của tỉnh Tiền Giang, Bắc giáp huyện Cần Đước của tỉnh Long An, Nam giáp huyện Gò Công Tây và Huyện Gò Công Đông, Tây giáp huyện

Gò Công Tây, Đông giáp huyện Gò Công Đông Tiền Giang,có 02 mùa mưa nắng rõ rệt

Về hành chính, thị xã bao gồm 5 phường: 1, 2, 3, 4, 5 và 7 xã: Long Hoà, Long Thuận, Long Hưng, Long Chánh, Tân Trung, Bình Đông và Bình Xuân Diện tích tự nhiên 101.984 km2, Dân số 102934 người, mật độ dân số bình quân 945/km2, người dân sống chủ yếu là nghề nông, buôn bán và tiểu thủ công nghiệp;

Nhìn vào biểu đồ cho thấy: Tình hình mắc tay chân miệng ở thị xã Gò Công

từ 2013-2017 diễn biến phức tạp; Năm 2017 số ca mắc TCM là 210 ca cao gấp 2,4 lần so với năm 2016 [20],[16-19]

Trang 27

1.8 Khung lý thuyết:

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trẻ mắc TCM

Người chăm sóc trẻ chính

Thực hành phòng ngừa và xử tri khi mắc TCM

 Rửa tay cùa người chăm sóc

 Rửa tay cho trẻ

 Vệ sinh đồ chơi, sàn nhà

 Vệ sinh ăn uống

 Thu gom xử lý chất thải

Trang 28

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối với đối tượng thu thập số liệu thứ cấp: Toàn bộ phiếu thông tin ca

bệnh của những bệnh nhân TCM được Trung tâm Y tế thị xã Gò Công quản lý thống kê từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 12 năm 2017 để trả lời cho mục tiêu 1

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Các phiếu ghi không đầy đủ thông tin

Đối tượng thu thập số liệu sơ cấp: Người chăm sóc chính của trẻ từ 0 tuổi

đến 15 tuổi các ca mắc TCM từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 12 năm 2017 trên địa bàn thị xã Gò Công để trả lời cho mục tiêu 2 và 3

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Người chăm sóc chính của các ca mắc TCM từ tháng 01 đến tháng 12 năm

2017 trên địa bàn thị xã Gò Công: Là người có thời gian chăm sóc trẻ nhiều nhất trong ngày tại gia đình, 18 tuổi trở lên; Đồng ý tham gia nghiên cứu; Có khả năng nghe, hiểu và trả lời được các câu hỏi có trong bảng phỏng vấn

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu, không có khả năng trả lời

2.2 Địa điểm nghiên cứu: Tại thị xã Gò Công tỉnh Tiền Giang

2.3 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2017 đến tháng 08/2018

2.4 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang phân tích

2.5 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Nghiên cứu tiến hành chọn mẫu toàn bộ, thu thập thông tin tất cả những đối tượng đáp ứng yêu cầu

Theo thống kê từ tháng 1/2017 đến tháng 12/ 2017 tại Gò Công có 210 ca mắc TCM Tuy nhiên, có 04 phiếu thông tin ca bệnh lưu trữ không được đầy đủ nên nghiên cứu chỉ thu thập thông tin của 206 phiếu thông tin ca bệnh

Trong quá trình điều tra thu thập thông tin từ người chăm sóc chính, có 30 người chăm sóc chính vắng nhà sau hai lần; hoặc chuyển đi nơi khác, làm ăn xa Do

đó, thông tin từ người chăm sóc chính được thu thập từ 176 người

Trang 29

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

2 6.1 Công cụ thu thập số liệu

Các chỉ số, biến số của nghiên cứu được thu thập từ biểu mẫu thu thập số liệu (tại Phụ lục 1) Toàn bộ phiếu điều tra của bệnh nhân mắc TCM từ tháng 1 năm

2017 đến tháng 12 năm 2017 do TTYT thị xã quản lý, được nhập liệu từng phiếu điều tra TCM về một số thông tin cần thiết để trả lời mục tiêu 1 (Phụ lục.1 Cấu phần định lượng dựa trên số liệu thứ cấp)

Bảng câu hỏi soạn sẵn dùng phỏng vấn trực tiếp người chăm sóc chính của bệnh nhân mắc TCM từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 12 năm 2017 tại thị xã Gò Công Bộ câu hỏi đã được thử nghiệm 05 người chăm sóc chính trẻ mắc TCM trước khi điều tra chính thức.(Phụ lục 3)

2.6.2 Tổ chức thực hiện thu thập số liệu

Nghiên cứu viên được sự đồng ý của TTYT thị xã Gò Công, tập hợp và sử dụng các mẫu phiếu điều tra ca bệnh và các tài liệu, báo cáo chương trình liên quan đến bệnh tay chân miệng và thông tin từ phần mềm thống kê bệnh TCM của TTYT

để cập nhật thông tin trên phiếu điều tra

Danh sách người Chăm sóc chính của toàn bộ bệnh nhân mắc TCM năm

2017 đã được chuẩn bị trước khi xuống thực địa

Tập huấn cho điều tra viên: Mục đích của điều tra, kỹ năng phỏng vấn thu thập số liệu, hướng dẫn sử dụng bộ câu hỏi

Điều tra viên là nhân viên của TTYT thị xã Gò Công, được tập huấn về kỹ năng phỏng vấn thu thập số liệu; Các đối tượng được phát một bộ tài liệu tập huấn hướng dẫn sử dụng bộ câu hỏi và trả lời câu hỏi trước khi thực hiện phỏng vấn;

Giám sát thu thập thông tin gồm: nghiên cứu viên và một viên chức là trưởng khoa Kiểm soát dịch bệnh của TTYT thị xã Gò Công, trực tiếp quan sát phỏng vấn viên phỏng vấn ĐTNC Thu thập các phiếu phỏng vấn và kiểm tra các thông tin được thu thập đầy đủ, không bỏ sót, đồng thời trao đổi với phỏng vấn viên những điểm chưa đạt nhằm thu thập thông tin được tốt hơn và kịp thời khắc phục những sai sót

Người dẫn đường: là các cán bộ phụ trách công tác phòng chống dịch bệnh của 12 trạm y tế xã, phường thuộc thị xã Gò Công

Trang 30

2.7 Biến nghiên cứu

Một số biến số chính

- Mục tiêu 1, một số đặc điểm về dịch tễ bệnh TCM:

Mô tả sự phân bố ca bệnh theo địa phương; phân bố ca bệnh theo tháng trong năm, giới tính, độ tuổi trẻ mắc bệnh, các triệu chứng chính, các triệu chứng nặng, các triệu chứng kèm theo, vị trí phỏng nước, phân độ ca bệnh, loại ca bệnh, nguồn

nước sử dụng, yếu tố dùng chung, thời gian nhập viện

Thực hành phòng ngừa và xử trí khi trẻ mắc bệnh

Các biến cụ thể được trình bày tại phụ lục 1

2.8 Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá

Dựa vào nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh tay

chân miệng và một số yếu tố liên quan của giáo viên các trường mầm non huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2013” của Đỗ Thị Thùy Chi, và nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung Liệt quận Đống Đa, Hà Nội năm 2012” của Cao Thị Thúy

Ngân; Học viên đã đưa ra thang điểm để đánh giá thực hành của đối tượng, với ĐTNC trả lời đúng 2/3 số câu hỏi là đạt yêu cầu

Trang 31

- Thực hành xử lý phân của trẻ, câu 18-19, tổng điểm là 2, điểm đạt là 2 điểm

- Thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh TCM câu C20-26, tổng điểm là 9, điểm đạt từ 6 điểm trở lên

Đánh giá điểm thực hành chung về phòng ngừa bệnh TCM là 39 điểm, thực hành của ĐTNC đạt khi có tổng số điểm đạt từ 26 điểm trở lên

2.10.1 Hạn chế sai số của nghiên cứu

Mục tiêu 1 sử dụng số liệu thứ cấp nên nhiều thông tin có thể thiếu, hoặc thông tin không chính xác; Do chỉ sử dụng thông tin từ phiếu điều tra ca bệnh TCM

có sẳn theo biểu mẫu của Bộ Y tế và thời gian nghiên cứu có hạn nên chưa mô tả được đầy đủ đặc các điểm dịch tễ học của bệnh TCM ở thị xã Gò Công;

Trang 32

Thông tin thu thập có chứa các thông tin hồi cứu nên có thể dẫn tới sai số nhớ lại Vì thông tin về bênh

Khi phỏng vấn có thể gặp sai số do điều tra viên, hoặc sai số nhớ lại hoặc không muốn hợp tác của đối tượng được phỏng vấn

2.10.2 Biện pháp khắc phục

Việc thông tin thứ cấp ở phiếu điều tra không đầy đủ được khắc phục bằng cách thông tin được đối chiếu từ nhiều nguồn khác nhau như TYT xã, TTYT thị xã

và loại trừ các phiếu không đầy đủ thông tin

Tập huấn kỹ cho ĐTV phỏng vấn kiến thức và thực hành, tuân thủ trình tự trước sau, đảm bảo đủ thời gian và tạo sự thoải mái cho đối tượng trình bày, trả lời các câu hỏi

Thiết kế bộ câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng dễ hiểu, trước khi tiến hành có điều tra thử và chỉnh sửa bộ câu hỏi cho phù hợp Trước khi phỏng vấn giải thích rõ mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu để đối tượng phỏng vấn vui lòng hợp tác

2.11 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu tuân theo các yêu cầu của Hội đồng đạo đức nhà trường và tiến hành sau khi đã được Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng thông qua tại văn bản số 297/2018/YTCC-HD3 ngày 26/4/2018 về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức trong NCYSH Các số liệu thu thập được chỉ phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu được sự chấp thuận của lãnh đạo các TTYT cũng như các đối tượng tham gia nghiên cứu tình nguyện trả lời bộ câu hỏi phỏng vấn Nếu không đồng ý, đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối không tham gia trả lời câu hỏi nghiên cứu

Trang 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Mô tả đặc điểm dịch tể học ca bệnh TCM tại thị xã Gò Công 2017

3.1.1 Phân bố ca bệnh theo địa phương

Biểu đồ 3 1 Phân bố ca bệnh theo địa phương Trong tổng số 206 ca bệnh tay chân miệng được thống kê trong năm 2017 tại thị xã Gò Công được ghi nhận thì địa phương có số ca mắc cao nhất là xã Bình

Xuân với 51ca, và thấp nhất là Phường 5 với 05 ca

Trang 34

Trong tổng số 206 ca bệnh tay chân miệng được thống kê trong năm 2017 tại

thị xã Gò Công được ghi nhận thì số ca mắc đỉnh điểm cao nhất là tháng 9

3.1.3 Đặc điểm của trẻ trong nghiên cứu

Bảng 3 1 Đặc điểm của trẻ trong nghiên cứu

Trong tổng số 206 ca bệnh tay chân miệng được thống kê trong năm 2017 tại thị xã Gò Công, nam giới chiếm tỷ lệ 56,8% và nữ giới là 42,3%; nhóm trẻ 1- 2 tuổi chiếm cao nhất với tỷ lệ 61,2%; trẻ có đi học ở trường, nhà trẻ mẫu giáo hoặc được gửi chăm sóc ở các nhóm trẻ gia đình chiếm tỷ lệ 66,5%;trẻ bệnh được nhập viện điều trị ở tuyến trung ương chiếm tỷ lệ cao nhất 72,8%, kế đó là tuyến uyện chiếm

tỷ lệ 15,5%

Trang 35

Trong tổng số 206 ca bệnh tay chân miệng được thống kê trong năm 2017 tại

Gò Công, triệu chứng quấy khóc 7,8%, giật mình tỷ lệ 1,5% và co giật là 0,5%

Trang 37

Trong tổng số 206 ca bệnh tay chân miệng được thống kê trong năm 2017 tại thị xã Gò Công thì 100% được ngành y tế ghi nhận là loại ca bệnh tản phát

3.1.10 Tiền sử tiếp xúc

Bảng 3 8 Tiền sử tiếp xúc

Tiếp xúc với người mắc TCM 0 0

Đi nhà trẻ/ mẫu giáo/ trường học/ nhóm trẻ gia đình 137 66,5 Tiếp xúc với người chăm sóc trẻ có tiếp xúc người mắc bệnh 0 0

Đến khu đông người (khu vui chơi, siêu thị, chợ…) 0 0

Không rõ 69 33,5

Trong tổng số 206 ca bệnh tay chân miệng được thống kê trong năm 2017 tại thị xã Gò Công thì có 137 ca (65,5%) có tiền xử tiếp xúc là đi nhà trẻ/ mẫu giáo/ nhóm trẻ gia đình, 69 ca (33,5%) không rõ tiền sử tiếp xúc

Trang 38

Trong tổng số 206 ca bệnh tay chân miệng được ghi nhận có dùng chung với trẻ mắc bệnh hay không thì chỉ có 01 trẻ có ăn uống chung với trẻ nghi mắc bệnh

TCM, chiếm tỷ lệ 0,5%

3.2 Mô tả thực hành phòng bệnh và xử trí khi trẻ mắc TCM của người chăm sóc chính

3.2.1 Đặc điểm của người chăm sóc chính

Bảng 3 11 Đặc điểm của người chăm sóc chính

Trang 39

nghiệp chiếm 72,2%; Có 9,1% có thu nhập thấp thuộc hộ nghèo, cận nghèo và có 92% có ≤2 con dưới 5 tuổi

3.2.2 Thực hành phòng ngừa bệnh TCM

3.2.2.1.Thực hành rửa tay của người chăm sóc trẻ

Bảng 3 12 Thực hành rửa tay của người chăm sóc trẻ

Thực hành rửa tay của người chăm sóc trẻ Tần số

(n)

Tỷ lệ (%)

Thời điểm rửa tay của

ĐTNC

Trước khi nấu ăn 95 54,0 Trước khi cho trẻ ăn 66 37,5 Trước khi chăm sóc, tiếp xúc với trẻ 34 19,3

Sau khi đi vệ sinh 153 86,9 Sau khi làm vệ sinh, chăm sóc, cho trẻ 153 86,9 Sau khi xì mũi, ho hoặc hắt hơi vào tay 99 56,3

Khi thấy tay mình bẩn 173 98,3 Không nhớ/không trả lời 02 1,1 Khi rửa tay có sử

dụng xà phòng, dung

dịch sát khuẩn

Thường xuyên sử dụng 98 55,7 Thỉnh thoảng sử dụng 77 43,8 Hiếm khi sử dụng 01 0,6 Không bao giờ sử dụng 0 0 Đánh giá thực hành

rửa tay của người

chăm sóc trẻ

Đạt 15 8,5 Không đạt 161 91,5

Thời điểm rửa tay của người chăm sóc chính tham gia nghiên cứu trả lời khi tay bẩn 98,3%, sau khi đi vệ sinh và trước khi chăm sóc trẻ cùng 86,9% và thấp nhất là rửa tay trước khi chăm sóc/ tiếp xúc với trẻ 19.3%, và việc thường xuyên sử dụng xà phòng, dung dịch sát khuẩn khi rửa tay là 55,7%; Đánh giá thực hành rửa tay của người chăm sóc trẻ có điểm thực hành đạt là 8,5% và không đạt là 91,5%

3.2.2.2 Thực hành rửa tay cho trẻ

Bảng 3 13 Thực hành rửa tay cho trẻ

Trang 40

rửa tay cho trẻ

Không đạt 143 81,2

Thực hành rửa tay cho trẻ thì người tham gia nghiên cứu trả lời thời điểm rửa tay cho trẻ nhiều nhất là khi tay trẻ bẩn chiếm 98,3% và thấp nhất là sau khi trẻ ngủ dậy 16,5%; Đánh giá thực hành rửa tay cho trẻ của người chăm sóc chính đạt 18,8%

và không đạt là 81,2%

3.2.2.3 Thực hành lau rửa đồ chơi của trẻ

Bảng 3 14 Thực hành lau rửa đồ chơi của trẻ

(n)

Tỷ lệ (%)

Thời điểm lau rửa đồ chơi cho

trẻ

Trước khi trẻ chơi 34 19,3 Sau khi trẻ chơi xong 32 18,2 Khi thấy đồ chơi bẩn 152 86,4 Định kỳ một lần 26 15,4

Tần suất lau rửa đồ chơi của trẻ

Hàng ngày 22 12,5 Hàng tuần 70 34,8 Hang tháng 27 15,3 Vài tháng một lần 52 29,5 Không bao giờ 05 2,8

Sử dụng xà phòng khi lau rửa đồ

chơi trẻ

Thường xuyên 89 50,6 Thỉnh thoảng 80 45,5

Ngày đăng: 31/01/2021, 12:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w