1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức, thực hành sơ cấp cứu tai nạn thương tích của tình nguyện viên chữ thập đỏ huyện gia lâm thành phố hà nội năm 2018 và một số yếu tố liên quan

115 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 4,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc cung cấp kiến thức, thực hành về sơ cấp cứu cho người dân và tình nguyện viên Chữ thập đỏ tham gia các hoạt động sơ cứu ban đầu là vô cùng cần thiết.. Nhằm tìm hiểu thực trạng sơ cấ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ C NG CỘNG

PHẠM THỊ QUYÊN

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH SƠ CẤP CỨU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CỦA TÌNH NGUYỆN VIÊN CHỮ THẬP ĐỎ HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI

NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ C NG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

Hà Nội - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ C NG CỘNG

PHẠM THỊ QUYÊN

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH SƠ CẤP CỨU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CỦA TÌNH NGUYỆN VIÊN CHỮ THẬP ĐỎ HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI

NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ C NG CỘNG

NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ C NG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS PHẠM VIỆT CƯỜNG

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban Giám hiệu, các Khoa

– Phòng, Bộ môn cùng quý thầy cô giáo và các cán bộ, nhân viên trường Đại học Y

tế công cộng đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp kiến thức, hỗ trợ, hướng dẫn, quan

tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập

Tôi xin trân trọng biết ơn PGS.TS Phạm Việt Cường đã tận tâm định hướng,

hướng dẫn, đóng góp ý kiến, hỗ trợ tôi từ lúc xác định vấn đề nghiên cứu, xây dựng

đề cương và trong suốt quá trình làm luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Phòng

chống chấn thương thuộc Trường Đại học Y tế công cộng cùng cán bộ, nhân viên

đã hỗ trợ kỹ thuật, kinh phí và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình

thực hiện đề tài này

Tôi xin cảm ơn lãnh đạo Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Hội Chữ

thập đỏ Thành phố Hà Nội, Hội Chữ thập đỏ huyện Gia Lâm, Hội Chữ thập đỏ của

18 xã/phường/thị trấn, các cán bộ, nhân viên tại các trạm, chốt sơ cấp cứu và các

tình nguyện viên Chữ thập đỏ đã nhiệt tình tham gia, hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong khi

triển khai nghiên cứu này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các anh, chị, bạn bè trong lớp Cao học Y tế công

cộng khóa 20 đã giúp đỡ, chia sẻ thông tin, kiến thức và kinh nghiệm cho tôi trong

suốt quá trình học tập

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia

đình, bạn bè thân thiết đã khuyến khích, giúp đỡ, hỗ trợ, động viên, cùng tôi chia sẻ

những khó khăn và dành cho tôi những tình cảm tốt đẹp, sự chăm sóc nhiệt tình

trong suốt thời gian qua

Trân trọng cám ơn!

Hà Nội, ngày 1 tháng 11 năm 2018

Phạm Thị Quyên

Trang 4

ĐTNC Đối tƣợng nghiên cứu

ĐTSĐH Đào tạo sau đại học

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN I

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT II

MỤC LỤC III

DANH MỤC CÁC BẢNG VI

DANH MỤC CÁC BẢNG VII

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU VIII

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1.K HÁI NIỆM CHUNG 4

1.2.T Ổ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG SƠ CẤP CỨU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH 4

1.2.1.Tổ chức hệ thống sơ cấp cứu 4

1.1 hu c u ch m s c chấn th ơng tr c ệnh viện 5

1.2 i ch c ho t ng ch m s c chấn th ơng tr c ệnh viện 6

1.3 c m h nh hệ thống ch m s c chấn th ơng tr c ệnh viện 13 6

1.4 c ho t ng c hệ thống ch m s c chấn th ơng tr c ệnh viện 7

2 S Ơ CẤP CỨU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH TRÊN T HẾ GIỚI VÀ TẠI V IỆT N AM 9

2.1 Trên Thế gi i 9

2.2 T i Việt m 10

3 K IẾN THỨC SƠ CẤP CỨU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH 11

3.1 Trên Thế gi i 11

3.2 T i Việt m 13

4 T HỰC HÀNH SƠ CẤP CỨU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH 14

4.1 Trên Thế gi i 14

4.2 T i Việt m 16

5 M ỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SƠ CẤP CỨU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH 16

5.1 Trên thế gi i 16

5.2 T i Việt m 17

6 H OẠT ĐỘNG SƠ CẤP CỨU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CỦA H ỘI C HỮ THẬP ĐỎ 18

Trang 6

7 C HỨC NĂNG NHIỆM VỤ VÀ VAI TRÕ CỦA H ỘI C HỮ THẬP ĐỎ V IỆT N AM TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG SƠ CẤP

CỨU :……… 18

8 G IỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 20

9 K HUNG LÝ THUYẾT 22

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đ ỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU : 24

2.1.1 Đối t ng nghiên cứu ịnh l ng 24

2.1.2 Đối t ng nghiên cứu ịnh tính: 24

2.2 T HỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU : 25

2.2.1 Thời gi n 25

2.2.2 Đị iểm nghiên cứu 25

2.3.T HIẾT KẾ NGHIÊN CỨU : 25

2.4 C Ỡ MẪU VÀ PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU : 26

2.4.1 ỡ mẫu nghiên cứu ịnh l ng 26

2.4.2 ỡ mẫu nghiên cứu ịnh t nh 27

2.5 P HƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU : 27

2.5.1 Ph ơng ph p chọn mẫu ịnh l ng 27

2.5.2 Ph ơng ph p chọn mẫu ịnh t nh 28

2.6 P HƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN : 29

2.6.1 Ph ơng ph p thu thập th ng tin ịnh l ng 29

2.6.2 Ph ơng ph p thu thập th ng tin ịnh t nh: 30

2.7 P HƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU : 31

2.7.1 Ph ơng ph p phân t ch số liệu ịnh l ng 31

2.7.2 Ph ơng ph p phân t ch số liệu ịnh t nh 31

2.8 C ÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU : 32

2.9 Đ ẠO ĐỨC CỦA NGHIÊN CỨU : 32

2.10 H ẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU , SAI SỐ VÀ CÁCH KHẮC PHỤC : 33

2.10.1 H n chế c nghiên cứu 33

2.10.2 S i số nghiên cứu và c ch khắc phục 33

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

Trang 7

3.1 T HÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 35

3.2 K IẾN THỨC VỀ SCC TNTT 37

3.3 T HỰC HÀNH SƠ CẤP CỨU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH 42

3.4 M ỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SƠ CẤP CỨU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CỦA T ÌNH NGUYỆN VIÊN C HỮ THẬP ĐỎ :………… 46

CHƯƠNG IV BÀN LUẬN 52

4.1 T HÔNG TIN CHUNG 52

4.2 K IẾN THỨC SƠ CẤP CỨU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH 54

4.3 T HỰC HÀNH SƠ CẤP CỨU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH 56

4.4 M ỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC , THỰC HÀNH SƠ CẤP CỨU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH 58

KẾT LUẬN 62

1 K IẾN THỨC SƠ CẤP CỨU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH 62

2 T HỰC HÀNH SƠ CẤP CỨU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH 62

3 M ỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC , THỰC HÀNH SƠ CẤP CỨU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH 62

KHUYẾN NGHỊ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 1: CÁC Biến nghiên cứu sử dụng trong luận văn 69

PHỤ LỤC 2: Bộ câu hỏi phỏng vấn nghiên cứu kiến thức, thực hành sơ cấp cứu tai nạn thương tích tại huyện gia lâm thành phố hà nộI 77

PHỤ LỤC 3: Bảng điểm đánh giá kiến thức, thực hành sơ cấp cứu tai nạn thương tích của tình nguyện viên chữ thập đỏ 89

PHỤ LỤC 4: Hướng dẫn thảo luận nhóm đối với tình nguyện viên về sơ cấp cứu tai nạn thương tích 92

PHỤ LỤC 5: Hướng dẫn phỏng vấn sâu đối với lãnh đạo hội chữ thập đỏ huyện gia lâm về sơ cấp cứu tai nạn thương tích 94

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n=217) 35

Bảng 2: Thông tin về trình độ học vấn và nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (n=217) 36

Bảng 3: Thông tin chung về bằng cấp chuyên môn liên quan đến Y tế (n=217) 36

Bảng 4: Nhóm kiến thức cơ bản về sơ cấp cứu tai nạn thương tích 37

Bảng 5: Kiến thức sơ cấp cứu của tình nguyện viên Chữ thập đỏ (n=217) 41

Bảng 6: Thông tin chung về thực hành sơ cấp cứu tai nạn thương tích 42

Bảng 7: Một số yếu tố liên quan đến kiến thức sơ cấp cứu tai nạn thương tích của Tình nguyện viên Chữ thập đỏ 46

Bảng 8: Một số yếu tố liên quan đến thực hành sơ cấp cứu tai nạn thương tích của Tình nguyện viên Chữ thập đỏ (n=217) 47

Bảng 9: Một số yếu tố liên quan đến thực hành sơ cấp cứu tai nạn thương tích của Tình nguyện viên Chữ thập đỏ (n=89) 48

Bảng 10: Một số yếu tố liên quan đến thực hành sơ cấp cứu tai nạn thương tích của Tình nguyện viên Chữ thập đỏ 49

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 22Hình 2: Khung lý thuyết nghiên cứu 23Hình 3: Sơ đồ tổng hợp qui trình nghiên cứu: 26

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Sơ cấp cứu tai nạn thương tích ban đầu cho nạn nhân là cần thiết để hỗ trợ kịp thời, đảm bảo kỹ thuật sẽ giúp một phần cứu sống cho nạn nhân và giảm chấn thương không cần thiết Tại Việt Nam, chỉ có 5% đến 10% nạn nhân tai nạn thương tích được sơ cứu tại chỗ, trong đó thì một nửa sơ cứu sai kỹ thuật và vận chuyển bằng phương tiện không an toàn Việc cung cấp kiến thức, thực hành về sơ cấp cứu cho người dân và tình nguyện viên Chữ thập đỏ tham gia các hoạt động sơ cứu ban đầu là vô cùng cần thiết Nhằm tìm hiểu thực trạng sơ cấp cứu tai nạn thương tích

của tình nguyện viên Chữ thập đỏ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức,

thực hành sơ cấp cứu tai nạn thương tích của tình nguyện viên Chữ thập đỏ huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội năm 2018 và một số yếu tố liên quan“ với 2

mục tiêu (i) Mô tả kiến thức, thực hành sơ cấp cứu tai nạn thương tích và (ii) Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành sơ cấp cứu tai nạn thương tích của tình nguyện viên Chữ thập đỏ tại huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội, năm 2018

Nghiên cứu được thực hiện tại 18/22 xã, phường, thị trấn tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, sử dụng phương pháp thiết kế mô tả cắt ngang, với cỡ mẫu là

217 tình nguyện viên Chữ thập đỏ Nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu báo cáo sơ cấp cứu tai nạn thương tích, kiến thức, thực hành của tình nguyện viên Chữ thập đỏ cũng như việc trang bị dụng cụ, túi sơ cấp cứu thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế sẵn, thảo luận nhóm với tình nguyện viên được lựa chọn và phỏng vấn sâu lãnh đạo Chữ thập đỏ xã, phường huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội Trong tổng

số 17 câu hỏi liên quan đến phần kiến thức về sơ cấp cứu, tình nguyện viên trả lời đúng 12/17 câu được đánh giá là đạt về kiến thức

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tổng số 217 tình nguyện viên Chữ thập đỏ tham gia nghiên cứu về kiến thức, kỹ năng sơ cấp cứu tai nạn thương tích thì đa số là nữ chiếm 64,5% và nam là 35,5% Tỷ lệ tình nguyện viên Chữ thập đỏ đạt về mặt kiến thức chiếm 43,3% và chưa đạt chiếm 56,7% Tình nguyện viên trả lời đúng nhiều

Trang 11

hơn về các loại xử trí chảy máu, xử trí gãy xương, xử trí dị vật đường thở, xử trí vết thương phần mềm, xử trí bỏng và vận chuyển nạn nhân

Trong tổng số 217 đối tượng tham gia nghiên cứu thì có 89 đối tượng trả lời

đã từng tiến hành các hoạt động sơ cấp cứu Có 2 loại xử trí về sơ cấp cứu thường gặp của đối tượng nghiên cứu là xử trí ngã và chảy máu Còn lại các xử trí khác như

xử trí ngất, gãy xương, choáng và khó thở thì ít hơn Nghiên cứu tìm ra mối liên quan về về giới tính, trình độ học vấn, người có chuyên môn về y dược, được đào tạo SCC, người có chứng chỉ và được trang bị dụng cụ, túi SCC sẽ ảnh hưởng tới kiến thức và thực hành của tình nguyện viên Chữ thập đỏ

Nghiên cứu cũng đã đưa ra các khuyến nghị về tổ chức các khóa tập huấn, đào tạo về sơ cấp cứu cho tình nguyện viên Chữ thập đỏ và tập huấn nhắc lại để đủ điều kiện cấp chứng nhận về sơ cấp cứu

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tai nạn thương tích là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong

và bệnh tật ở mọi lứa tuổi trên thế giới Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm trên thế giới có hơn 5 triệu người tử vong, chiếm 9% tử vong trên thế giới

và trên 10 triệu người tàn tật do tai nạn thương tích Trung bình mỗi ngày có khoảng 16.000 người chết vì các loại thương tích, cứ mỗi trường hợp tử vong lại có hàng trăm người bị thương tích ở các mức độ khác nhau, nhiều người trong số họ bị

di chứng tàn tật suốt đời [36]

Việt Nam là một trong số các nước có tỉ lệ tử vong do TNTT cao trên thế giới và là một trong những nguyên nhân hàng đầu của nhập viện và tử vong Theo số liệu của Cục Quản lý môi trường y tế - Bộ Y tế, trung bình hàng năm có khoảng 900.000 trường hợp bị tai nạn thương tích phải nhập viện điều trị, có trên 34.000 người tử vong, chiếm 11% đến 12% tổng số tử vong toàn quốc [1]

Theo báo cáo của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, trung bình mỗi ngày toàn quốc xảy ra 53 vụ tai nạn giao thông, làm chết hơn 20 người, bị thương hơn 60 người Năm 2016, toàn quốc xảy ra hơn 21.500 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8.685 người, bị thương 19.280 người [22] Nguyên nhân chính của những vụ tai nạn

là do ý thức chấp hành luật giao thông của người tham gia giao thông chưa cao như: không đội mũ bảo hiểm hoặc uống rượu bia khi tham gia giao thông Bên cạnh đó,

họ chưa được trang bị kiến thức về phòng tránh TNTT và kỹ năng SCC còn hạn chế Việc trang bị kiến thức, kỹ năng SCC và phòng tránh TNTT cho người dân còn chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức, thiếu nguồn lực, thiếu trang thiết bị, phương tiện Ngành y tế mới tập trung chủ yếu vào công tác điều trị, phục hồi cho nạn nhân sau khi được đưa đến cơ sở y tế Theo báo cáo giám sát TNTT tại bệnh viện 2005 –

2006 của ngành y tế, có đến 55% bệnh nhân chưa được xử trí ban đầu ngay sau khi tai nạn Chất lượng xử trí, sơ cứu ban đầu còn chưa đúng kỹ thuật với những thao tác đơn giản như cố định xương (5,52%), cầm máu (7,16%) [1]

Thực tế cho thấy, đa số người dân khi gặp một vụ tai nạn, đặc biệt là tai nạn giao thông (TNGT) chưa biết cách tiếp cận, đánh giá tình trạng của nạn nhân để xử trí, sơ cứu tại chỗ mà vội vàng đưa nạn nhân đi cấp cứu Khi tai nạn xảy ra, nếu nạn

Trang 13

nhân được sơ cứu kịp thời và đúng cách ngay tại hiện trường thì sẽ tăng khả năng được cứu sống, giảm thiểu tổn thương thứ phát, giúp cho nạn nhân nhanh chóng hồi phục, giảm thiệt hại về kinh tế, giảm gánh nặng về chi phí điều trị sau này tại các cơ

sở y tế Tình nguyện viên Chữ thập đỏ được trang bị kiến thức, kỹ năng sơ cấp cứu

sẽ là lực lượng hỗ trợ tích cực sơ cứu ban đầu ở hiện trường cho người bị nạn

Hiện nay trong hệ thống Hội CTĐ có 07 trung tâm, 02 trạm và 182 điểm sơ cấp cứu cộng đồng đủ tiêu chuẩn/tổng số 5.337 trung tâm/cơ sở, trạm, điểm SCC Trên địa bàn thành phố Hà Nội có 88 điểm SCC CTĐ với 231 TNV trực tại các điểm Tính đến tháng 10 năm 2017, đã tổ chức tiến hành SCC cho 1.245 người trên toàn địa bàn thành phố Riêng huyện Gia Lâm, có 22 điểm SCC với 72 TNV trực tại các điểm và sơ cứu được 83 người tính đến tháng 10 năm 2017 [4] Huyện Gia Lâm là một huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành phố 8 km về phía Đông Đây là cửa ngõ phía Đông của thủ đô để đi sang các tỉnh, thành phố như Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên Với diện tích 108,446 km², dân số là 190.194 người; có 22 đơn vị thành chính trực thuộc gồm: 2 thị trấn (Trâu Quỳ và Yên Viên), 20 xã; có các con sông chảy qua như sông Hồng, sông Đuống, sông Cầu Bây, sông Bắc Hưng Hải, sông Thiên Đức

Là đầu mối của các tuyến đường giao thông quan trọng (bao gồm đường không, đường thủy, đường bộ, đường sắt), nối liền Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, với cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân Các điểm SCC CTĐ được lập tại các điểm hay xảy ra tai nạn trên địa bàn huyện Gia Lâm và TNV CTĐ được trang bị kiến thức về SCC để hỗ trợ sơ cứu ban đầu giúp người bị nạn trước khi vận chuyển đến các cơ sở y tế Trên địa bàn huyện chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về SCC TNTT cho TNV CTĐ Nhằm đánh giá thực trạng kiến thức, thực hành cũng như một số yếu tố liên quan về SCC phòng chống TNTT để đưa ra các khuyến nghị, đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng SCC TNTT cho TNV CTĐ Câu hỏi đặt ra thực trạng kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan của TNV CTĐ về SCC TNTT như

thế nào? Để trả lời câu hỏi này tôi tiến hành nghiên cứu về “Kiến thức, thực hành sơ cấp cứu tai nạn thương tích của tình nguyện viên Chữ thập đỏ huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội năm 2018 và một số yếu tố liên quan”

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức, thực hành sơ cấp cứu tai nạn thương tích của tình nguyện viên Chữ thập đỏ tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, năm 2018

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành sơ cấp cứu tai nạn thương tích của tình nguyện viên Chữ thập đỏ tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, năm 2018

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1.Khái niệm chung

Tai nạn thương tích: là những thương tổn thực thể trên cơ thể người do tác

động của những năng lượng (bao gồm cơ học, nhiệt, điện, hóa học, hoặc phóng xạ) với những mức độ và tốc độ khác nhau quá sức chịu đựng của cơ thể con người Ngoài ra TNTT còn là những thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho sự sống (ví dụ thiếu

ô xy trong trường hợp đuối nước, bóp nghẹt, hoặc giảm nhiệt trong đông lạnh) Tai nạn thương tích (TNTT) thường được phân thành hai nhóm lớn, bao gồm TNTT có chủ đích và TNTT không có chủ đích [12]

Sơ cấp cứu: là trợ giúp ngay lập tức cho người bị thương, ốm cho đến khi có

sự trợ giúp của người có chuyên môn Nó không chỉ liên quan đến thương tích về thể chất mà còn chăm sóc ban đầu bao gồm hỗ trợ tâm lý cho những người bị căng thẳng tinh thần do đã trải qua hoặc chứng kiến chấn thương Sơ cấp cứu can thiệp nhằm "bảo vệ cuộc sống, giảm bớt đau thương, ngăn ngừa bệnh tật hoặc thương tích

và thúc đẩy phục hồi" [32]

Tình nguyện viên chữ thập đỏ: là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên,

tuân thủ Điều lệ Hội, các nguyên tắc cơ bản của Phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế và các quy định tại Quy chế TNV CTĐ Việt Nam; có khả năng

và điều kiện tham gia các hoạt động nhân đạo do Hội tổ chức Có thể là hội viên hoặc không là hội viên; tự nguyện đăng ký tham gia thực hiện các hoạt động CTĐ phù hợp với khả năng, điều kiện bản thân và đáp ứng các nhiệm vụ cụ thể của cấp Hội nơi TNV CTĐ sinh sống, công tác Ban Thường vụ Hội CTĐ Việt Nam quy định nhiệm vụ, quyền và nghĩa vụ của TNV CTĐ [8]

1.2.Tổ chức và hoạt động sơ cấp cứu tai nạn thương tích

1.2.1.Tổ chức hệ thống sơ cấp cứu

Hệ thống tổ chức sơ cấp cứu (SCC) tai nạn thương tích (TNTT): Cũng

như nhiều quốc gia, tại Việt Nam hiện đang có 2 hệ thống chính: cấp cứu ngoài bệnh viện, cấp cứu trong bệnh viện (cấp cứu trong các cơ sở khám, chữa bệnh)

Trang 16

Hệ thống cấp cứu ngoài bệnh viện: gồm trung tâm cấp cứu 115 (tại tuyến tỉnh,

thành phố trực thuộc Trung ương) và các tổ cấp cứu 115 (tại bệnh viện tuyến quận, huyện, thị xã) thực hiện việc cấp cứu người bệnh tại cộng đồng và vận chuyển người bệnh đến bệnh viện để tiếp tục điều trị[14] Hệ thống chăm sóc chấn thương trước bệnh viện (CSCTTBV) được tổ chức theo mô hình “tam giác”, gồm nhiều

“tầng”, tương ứng với các cấp độ chăm sóc khác nhau: Tầng thấp nhất (SCC) được tạo thành bởi các sơ cứu viên, là tất cả các thành viên trong cộng đồng có hiểu biết

và kiến thức để có thể gọi cấp cứu, bảo vệ hiện trường cũng như thực hiện SCC ban đầu với người bị thương tích Tầng giữa (CSCTTBV cơ bản): được thực hiện bởi các nhân viên y tế cơ sở cũng như các nhóm cộng đồng được đào tạo kỹ lưỡng và

có thể tham gia SCC một cách thuần tục Tầng cao nhất (CSCTTBV chuyên sâu): được thực hiện bởi hệ thống cấp cứu 115 hoặc các phòng cấp cứu Việc tổ chức hệ thống CSCTTBV theo mô hình “tam giác”, “đa tầng” góp phần giảm chi phí đầu tư quá lớn vào hệ thống chăm sóc chuyên sâu, trong khi vẫn đảm bảo được người bị thương tích được tiếp cận và trợ giúp một cách tốt nhất [14]

Hệ thống cấp cứu trong bệnh viện gồm: bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên

khoa và bệnh viện tư nhân thực hiện việc tiếp nhận và điều trị các trường hợp người bệnh cấp cứu được chuyển tới bệnh viện [14]

1.1 Nhu c u chăm sóc chấn thương trước bệnh viện

Với thực trạng tai nạn thương tích (TNTT) đang xảy ra ngày càng nghiêm trọng, dự phòng là cách tốt nhất để giảm thiểu tỷ lệ tử vong hoặc tàn tật do thương tích đe dọa tính mạng Tuy nhiên, bên cạnh những hoạt động làm ngăn chặn chấn thương xảy ra thì các hoạt động CSCTTBV sẽ làm hạn chế được nhiều tử vong và tàn tật cho nạn nhân Các trường hợp tử vong do thương tích nghiêm trọng xuất hiện

ở một trong 3 giai đoạn bao gồm[13]: Xảy r tức thời hoặc nh nh ch ng: do bị thương tích quá nặng Xảy r ng y s u t i n n: những trường hợp tử vong này xảy

ra trong vài giờ sau khi tai nạn xảy ra và thường là kết quả của các tình trạng có thể

điều trị được Xảy r mu n: những trường hợp tử vong trong giai đoạn này thường

xảy ra nhiều ngày, nhiều tuần sau khi thương tích ban đầu và thường là kết quả của

Trang 17

nhiễm trùng, suy giảm chức năng của nhiều cơ quan, hệ thống hoặc do các biến chứng muộn của chấn thương Nhiều thương tích gây tử vong có thể dự phòng được hoặc giảm thiểu mức độ nghiêm trọng nhờ các hoạt động CSCTTBV Những lợi ích này được nhận biết trong giai đoạn thứ hai của chấn thương sau khi kịp thời chăm sóc y tế để hạn chế hoặc làm dừng các tiến triển có thể dẫn đến tử vong hoặc gây tàn phế suốt đời cho bệnh nhân Nếu không có hệ thống CSCTTBV, nhiều người có thể được cứu sống song lại tử vong tại chỗ hoặc trên đường vận chuyển đến bệnh viện

1.2 L i ích của hoạt động chăm sóc chấn thương trước bệnh viện:

Việc áp dụng rộng rãi các chiến lược CSCTTBV đơn giản có thể đem lại nhiều lợi ích: Thu hút được những người có tâm huyết trong hoạt động chăm sóc mọi người xung quanh; Cung cấp kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện SCC người bị thương nặng cho những đối tượng này; Xây dựng năng lực cộng đồng trong xử lý và hỗ trợ các nạn nhân thương tích tại hiện trường; Nâng cao năng lực của cộng đồng và quốc gia về đáp ứng đối với các sự kiện thương vong hàng loạt

như động đất, sập nhà, hoặc bị đánh bom v.v…[13]

1.3 C c m hình hệ thống chăm sóc chấn thương trước bệnh viện[13]

Bất cứ ở phạm vi nào (cộng đồng hay vùng, miền, v.v…) hệ thống CSCTTBV đều có cách tiếp cận được sử dụng để xây dựng, tổ chức và quản lý hệ

thống này, các mô hình phổ biến đang được thực hiện gồm: Hệ thống cấp quốc gi :

Hệ thống này có thể được thiết kế, phát triển và kiểm soát bởi các cơ quan trung

ương của một quốc gia Hệ thống ị ph ơng và khu vực Cùng với các tổ chức an

toàn công cộng khác, hệ thống ngoài bệnh viện của thành phố được quản lý bởi chính quyền địa phương hay khu vực Hệ thống này có thể sử dụng cơ sở hạ tầng hiện có như công an, cứu hoả, y tế hoặc cơ sở phi lợi nhận khác để cung cấp dịch vụ

CSCTTBV Hệ thống t nhân Các công ty dịch vụ y tế cấp cứu tư nhân hoạt động

dưới dạng các tổ chức lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận, có thể kí kết hợp đồng với cơ

quan chức năng để thực hiện dịch vụ này Hệ thống dự vào ệnh viện Các hệ

thống này thường đơn giản nhất để thiết lập và duy trì vì các hệ thống này sử dụng

Trang 18

nhân lực, nguồn lực và hạ tầng của một bệnh viện trung ương hay bệnh viện tiếp

nhận Bệnh viện và cán bộ y tế sẽ điều hành mọi cấu phần của hệ thống Hệ thống kết h p Nhiều hệ thống kết hợp các thành phần khác nhau của mô hình mô tả trên

để cung cấp các dịch vụ CSCTTBV cho một cộng đồng cụ thể nào đó Quyết định

có kết hợp các mô hình khác nhau phụ thuộc vào các khía cạnh chính trị, tài chính

và hành chính của địa phương

1.4 C c hoạt động của hệ thống chăm sóc chấn thương trước bệnh viện

Hệ thống chăm sóc chấn thương trước bệnh viện (CSCTTBV) hoạt động có hiệu quả chính là sự liên kết và kết hợp lẫn nhau giữa các hoạt động bao gồm: người thực hiện SCC ban đầu; hệ thống thông tin về chấn thương; hệ thống tư vấn và điều phối thông tin liên lạc

1.1.1 g ời thực hiện sơ cấp cứu n u

Ở nhiều nước, để chủ động thực hiện dịch vụ cấp cứu ban đầu, đối tượng thực hiện ngoài là cán bộ y tế còn có thể là người dân tại cộng đồng, là mạng lưới TNV và chính người chứng kiến có mặt khi thương tích xảy ra Những phút đầu tiên sau khi thương tích xảy ra là cửa sổ thời gian để tiến hành các biện pháp cấp cứu hiệu quả như hỗ trợ thở, hô hấp vv Vai trò quan trọng của người thực hiện SCC ban đầu theo hướng dẫn CSCT thiết yếu của WHO bao gồm: Nhanh chóng sử dụng các kỹ thuật sẵn có tại chỗ để liên lạc thông báo cho hệ thống đáp ứng cấp cứu hoặc hệ thống đáp ứng ngoài bệnh viện; Phòng ngừa nguy hiểm cho chính bản thân, cho người chứng kiến và tránh nguy hiểm, có thể làm trầm trọng thêm tình trạng của nạn nhân; Xác định liệu thương tích có đe dọa tới tính mạng của nạn nhân hay không và liệu có cần trợ giúp ngay lập tức không; Sử dụng mọi nguồn lực có thể để thực hiện kịp thời các can thiệp đơn giản có tính sống còn [7]

1.1.2 Vận chuyển cấp cứu

Sau khi thương tích xảy ra, việc vận chuyển nạn nhân từ nơi xảy ra TNTT đến

cơ sở y tế như bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh trong thời gian nhanh và an toàn nhất là nhân tố thiết yếu để giảm thiểu khả năng tử vong và di chứng không đáng có

Trang 19

do tiếp cận được dịch vụ chăm sóc y tế chuyên sâu Trong điều kiện khả thi, phương tiện vận chuyển tốt và chuyên nghiệp nhất là xe cứu thương được thiết kế phù hợp,

và đầy đủ nguồn nhân lực và phương tiện Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước nghèo và đang phát triển, cách duy nhất để nạn nhân tiếp cận

cơ sở y tế là tự di chuyển bằng mọi phương tiện sẵn có như xe tải, xe máy hay xe ngựa

Ở khu vực nông thôn thường không sẵn có hoặc không đáp ứng đủ nhu cầu

do không đủ phương tiện giao thông, thiếu kinh phí, thực thi pháp luật không đầy

đủ, quá nhiều yêu cầu cần đáp ứng vận chuyển, giao thông lộn xộn (tắc đường, không có làn đường ưu tiên cho xe cứu thương, v.v…) Đặc biệt là không có sự điều phối giữa dịch vụ y tế với trung tâm cấp cứu và thông tin liên lạc hạn chế trong toàn

hệ thống

1.1.3 M ng l i iều phối th ng tin liên l c

Kêu gọi sự giúp đỡ là bước đầu tiên để đảm bảo hỗ trợ cho nạn nhân Trong hầu hết các trường hợp, việc này được thực hiện một cách tự phát bởi người chứng kiến

Sự phát triển của mạng điện thoại di động hay công nghệ thông tin vệ tinh đang làm thay đổi một cách nhanh chóng bản chất của thông tin liên lạc cấp cứu, đặc biệt là

hệ thống CSCTTBV Vai trò chính của hệ thống thông tin liên lạc là truyền tải thông tin về sự kiện và tình trạng bệnh nhân Tất cả các cuộc gọi cấp cứu yêu cầu các nguồn lực cần thiết từ công an, cứu hoả và y tế, v.v được chuyển qua một trung tâm tiếp nhận cuộc gọi, từ đó tới người thực hiện CSCT để nhanh chóng tiếp cận, đánh giá và CSCT Sau khi cán bộ y tế tiếp cận nạn nhân tại hiện trường và CSCT, công nghệ thông tin cho ph p truyền tải thông tin về tình trạng nạn nhân đến

cơ sở y tế tiếp nhận Nhờ thông tin liên lạc đầy đủ mà cơ sở y tế tiếp nhận tiên lượng được nguồn lực cần có để đáp ứng nhu cầu chăm sóc chuyên sâu trước khi nạn nhân được chở đến cơ sở điều trị [35]

Trang 20

2 Sơ cấp cứu tai nạn thương tích trên Thế giới và tại Việt Nam

2.1 Trên Thế giới

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, hàng ngày cuộc sống của hơn 14 nghìn người bị cắt ngắn do hậu quả của chấn thương Trong số các nguyên nhân gây thương tích là hành động bạo lực với người khác hoặc chính bản thân, tai nạn giao thông đường bộ, bỏng, đuối nước, t ngã và ngộ độc Mỗi năm có hơn 5 triệu người chết vì TNTT Con số này ước tính chiếm 9% số người chết của thế giới và gấp gần 1,7 lần số người tử vong do HIV/AIDS, bệnh lao và sốt r t cộng lại [36]

Chăm sóc chấn thương trước viện là sự phối hợp của nhiều yếu tố, do vậy để tăng cường chất lượng chăm sóc TNTT trước viện cũng có nhiều can thiệp khác nhau Tăng cường hệ thống dịch vụ xe cứu thương có thể là một trong những giải pháp nhưng can thiệp này lại rất tốn k m và có thể không đạt hiệu quả chi phí cho một số vùng nông thôn ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Đối với những nước có điều kiện nguồn nhân lực y tế có hạn, khả năng tiếp cận của người dân với

hệ thống cấp cứu 115 còn chưa cao thì việc đào tạo đội ngũ CTV không chuyên nhưng sẵn có tại cộng đồng, trang bị cho họ kiến thức và kỹ năng về SCC cơ bản là điều vô cùng cần thiết và hữu ích Việc thực hiện đào tạo như vậy đã và đang được

tiến hành tại nhiều nước và thu được những kết quả khả quan và hiệu quả trong

hoạt động trong CSCTTBV được nhiều nước đã và đang áp dụng đặc biệt ở những nước có thu nhập thấp và trung bình

Theo nghiên cứu của Olumide và các cộng sự năm 2015 về ảnh hưởng của việc đào tạo SCC về kiến thức và kỹ năng của tài xế lái xe thương mại ở Tây Nam của Nigeria Chăm sóc trước viện kịp thời là cần thiết để cải thiện hậu quả của nạn nhân bị TNGT đường bộ Tuy nhiên, dịch vụ Y tế Khẩn cấp (EMS) không tối ưu ở các nước đang phát triển vì dịch vụ này là không thực sự có sẵn Tập huấn cho những người ứng phó để SCC được đưa ra để lấp khoảng trống trong việc chưa đáp ứng đủ được dịch vụ y tế khẩn cấp này Nghiên cứu được tiến hành để xác định hiệu quả của việc đào tạo SCC về kiến thức và kỹ năng của lái xe thương mại Nghiên cứu trước và sau can thiệp được tiến hành ở 128 lái xe thương mại (62 người có can

Trang 21

thiệp và 66 kiểm soát) được lựa chọn bằng cách lấy mẫu nhiều giai đoạn Kiến thức

và kỹ năng SCC của lái xe được đánh giá ở mức trước can thiệp, ngay lập tức và ba tháng sau can thiệp Sự can thiệp liên quan đến một buổi tập huấn 2 ngày trong khóa SCC Kết quả cho thấy điểm trung bình của kiến thức SCC đối với các lái xe can thiệp là 48,9%, ngay lập tức là 57,8% và ba tháng sau là 59,2% Điểm tương ứng cho lái xe có kiểm soát là 48,3% , 39,2%, và 46,8% Điểm kỹ năng SCC trung bình cho các lái xe can thiệp là 17,5%, 80,7% và 72,3% Điểm số cho các tài xế kiểm soát lần lượt là 16,5%, 16,3%, và 20,4% [37]

2.2 Tại Việt Nam

Theo khảo sát tai nạn thương tích (TNTT) Quốc gia năm 2010, tỷ lệ tử vong

do tai nạn giao thông đường bộ là 15 người trên 100,000 người hay hơn 13,000 người tử vong hàng năm do tai nạn giao thông (TNGT) đường bộ Ước tính số người bị thương hàng năm là hàng trăm ngàn người Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ tử vong và TNTT giao thông đường bộ cao nhất trong khu vực Số lượng nạn nhân được cấp cứu ban đầu tại hiện trường rất hạn chế, chỉ khoảng từ 6% đến 10% Ngoài ra, theo một khảo sát những bệnh nhân được chuyển đến bệnh viện Việt Đức Hà Nội trong những năm 2002 – 2004 thì có đến 50% số bệnh nhân được cấp cứu không đúng cách tại hiện trường Dịch vụ chuyển bệnh nhân cũng hoàn toàn hạn chế với chưa đến 10 tỉnh/thành có hệ thống EMS chính thức (hệ thống 115) Khả năng đáp ứng của hệ thống 115 bị hạn chế vì thiếu nhân viên được đào tạo và nguồn lực Chưa đầy 10% số nạn nhân được hệ thống dịch vụ cấp cứu y tế chính quy chuyển đến bệnh viện với đa số bệnh nhân đến bệnh viện bằng xe tắc-xi hoặc xe máy Tại các thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh, tắc nghẽn giao thông là một trở ngại chính nữa đối với việc đáp ứng nhanh chóng cho những vụ việc xảy ra [20]

Các chính sách, quy định, thông tư về nội dung liên quan đến SCC TNTT cho người dân tại cộng đồng đã được quan tâm hơn trong những năm gần đây, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế và sơ cứu đúng cách cho người dân

Hệ thống và năng lực chăm sóc TNTT trước bệnh viên chưa đáp ứng được yêu cầu

Trang 22

ngày càng tăng[16] Tỷ lệ nạn nhân TNTT chưa được xử lý trước bệnh viện vẫn còn rất cao, chưa đầy 10% số nạn nhân bị TNGT đường bộ được cấp cứu ban đầu tại hiện trường, số ca cấp cứu ban đầu không đúng cách lên tới 50%, nạn nhân bị sơ cứu sai kĩ thuật và vận chuyển bằng các phương tiện không an toàn [21]

Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về dịch vụ chăm sóc TNTT trước viện, số lượng nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành của những người tham gia cung cấp dịch vụ vẫn còn chưa nhiều Nghiên cứu của Dương Phan Bích Hải tiến hành năm

2010, thực hiện trên đối tượng là nhân viên y tế thôn bản tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Kết quả cho thấy 41,8% số nhân viên y tế thôn bản ở đây có kiến thức đạt về SCC Ngoài ra nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kiến thức của y tế thôn bản có liên quan với yếu tố tham gia SCC TNTT với yếu tố đào tạo [2] Theo nghiên cứu

của Lê Hồng Nhung tiến hành năm 2014 của mạng lưới y tế tuyến xã tại Hà Nội,

Thừa Thiên Huế, thành phố Hồ Chí Minh năm 2014 chỉ ra rằng kiến thức về SCC TNTT đạt là 40,3%; thái độ đạt là 82,1% và thực hành đạt là 34,1% Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mối liên quan giữa tuổi, giới tính, trình độ học vấn, bằng cấp chuyên môn về y dược và đào tạo SCC với kiến thức SCC TNTT của y tế thôn bản [9]

Theo nghiên cứu của Trần Lệ Mai tiến hành năm 2014 của cộng tác viên y tế ở 36

xã tại tỉnh, thành phố Hà Nội, Thừa Thiên Huế và Hồ Chí Minh về thực trạng SCC

của cộng tác viên cho thấy tỷ lệ cộng tác viên đạt về mặt kiến thức chung về SCC là 66,8% và cũng chỉ ra rằng có mối liên quan giữa giới tính và số năm công tác [6]

3 Kiến thức sơ cấp cứu tai nạn thương tích

3.1 Trên Thế giới:

Năm 2015, Trung tâm sơ cấp cứu toàn cầu của Hiệp hội Chữ thập đỏ - Trăng Lưỡi liềm đỏ quốc tế đã cập nhật số liệu về SCC sử dụng bộ câu hỏi trực tuyến 160 quốc gia đã tham gia trả lời câu hỏi trực tuyến Năm 2014, các hội quốc gia đào tạo được 13.429.399 người về SCC trên toàn thế giới Có khoảng 180.000 hướng dẫn viên SCC của các Hội quốc gia 37 % các nước cung cấp câu trả lời khảo sát có luật bắt buộc phải đào tạo SCC cho công nhân và lái xe Các quốc gia này đã ban hành luật bắt buộc đào tạo SCC Trong khi đó chỉ có 16% - 20% các hội quốc

Trang 23

gia đã có luật thực hiện đào tạo SCC tại trường học hoặc nhân viên, người nghỉ hưu

33 % các hội quốc gia có luật yêu cầu công dân phải hành động trong trường hợp khẩn cấp Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn giữa các khu vực: 66% ở các nước Châu

Âu, và chỉ có 4% ở các nước Châu Á và Thái Bình Dương 72% các quốc gia, không có sự bảo vệ đặc biệt nào đối với các vụ kiện hoặc truy tố hình sự đối với những người tự nguyện SCC Chỉ có 38% các quốc gia có luật bắt buộc phải có túi

sơ cứu trong xe Tuy nhiên, điều này không bắt buộc ở 93% ở các nước ở Châu Á

và Thái Bình Dương 85% hội quốc gia quy định thời hạn hiệu lực của chứng chỉ SCC và 19% quy định thời hạn của chứng chỉ SCC[33]

Theo đánh giá gồm 10 nghiên cứu trên thế giới, tần suất SCC nạn nhân chấn thương trên toàn thế giới dao động từ 10,7% đến 65%, và SCC ban đầu không chính xác là 83,7% các trường hợp Trong một nghiên cứu của Mỹ năm 2013 chỉ ra rằng chỉ có 20% người dân biết cách thực hiện hồi sinh tim phổi (CPR) trong khi đó

có 75% người dân sẵn sàng thực hiện[25]

Nghiên cứu của N Joseph và cộng sự năm 2011 về kiến thức, kỹ năng SCC của sinh viên trường Cao đẳng y tế ở thành phố Mangalore, phía Nam của Ấn Độ, nghiên cứu cắt ngang đối với 152 sinh viên y khoa, kết quả cho thấy chỉ có 11,2% (17/152) được tập huấn về SCC trước đó Kiến thức của sinh viên đạt loại tốt là 13,8% (21/152), trung bình là 68,4% (104/152) và kém là 17,8% (27/152) Phân tích kiến thức về quản lý sơ cứu trong các điều kiện chọn lọc cho thấy 21% (32/152)

có kiến thức về quản lý sơ cứu đối với sốc và bệnh trào ngược dạ dày thực quản và 20,4% (31/152) đối với chứng đau thắt ngực và cơ thể người nước ngoài trong mắt Tất cả sinh viên đều nhận thấy rằng kiến thức, kỹ năng SCC cần được tập huấn ở trường học và các sinh viên sẵn sàng tham gia các khóa tập huấn này [27]

Nghiên cứu của Moawiah Khatatbeh năm 2016 về đánh giá mức độ hiểu biết

về kiến thức SCC của 883 sinh viên trường Đại học Yarmouk ở Jordan, thu thập số liệu qua bảng câu hỏi Kết quả đa số người tham gia là nữ (65,9%) với độ tuổi trung bình (độ lệch chuẩn) là 19,9 (2,6) năm Chỉ có 29,2% sinh viên có kinh nghiệm sơ cứu Trong đó, chỉ có 11% sinh viên biết tỷ lệ hô hấp bình thường của người lớn trong 1 phút Kết quả cho thấy các sinh viên nữ có kinh nghiệm sơ cứu và là sinh

Trang 24

viên của khoa học sức khoẻ và trường cao đẳng khoa học là những yếu tố duy nhất

có liên quan thống kê đáng kể với mức độ kiến thức sơ cứu tốt hơn[28] Nghiên cứu của Nawaf Rn Amro1 và cộng sự năm 2017 về kiến thức chung và thái độ về sơ cấp cứu giữa các giáo viên ở trường học tại Palestine Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện giữa các giáo viên ở miền Nam Hebron, lấy mẫu ngẫu nhiên để lựa chọn

150 giáo viên ở 8 trường bằng cách sử dụng lấy mẫu thuận tiện (có mục đích) Tổng

số điểm trung bình của kiến thức sơ cấp cứu là 71,41% Hầu hết các giáo viên trả lời chính xác về chế độ ăn uống cân bằng quan trọng và quản lý thích hợp cho hạ đường huyết cho bệnh nhân tiểu đường (87,3%) và (77,3%) tương ứng [24]

Theo nghiên cứu của Hanaa Hussein Makhlef năm 2013 về việc đánh giá kiến thức về sơ cấp cứu, lấy mẫu ngẫu nhiên của 124 sinh viên Trường Đại học Mosul Đa số sinh viên tham gia trong nghiên cứu chưa tham gia khóa đào tạo sơ cấp cứu chiếm (91,9%) và 96% cũng cho rằng sự cần thiết phải học các lớp đào tạo

về sơ cấp cứu Kết quả chỉ ra rằng có 46% đối tượng nghiên cứu có kiến thức về sơ cấp cứu, 45% có kiến thức về các loại sơ cấp cứu và tỷ lệ phần trăm của các loại sơ cấp cứu như sau: hệ thống hô hấp là 25%, tuần hoàn là 24%, chảy máu là 58%, chấn thương là 38% (trauma), bỏng là 51%, gãy xương là 66%, và côn trùng cắn, đốt là 53%[29]

Theo nghiên cứu của Mouloud Agajani Delavar và các cộng sự năm 2012 về Kiến thức, thái độ và thực hành của nhân viên cứu trợ về các biện pháp sơ cấp cứu

219 công nhân cứu trợ đã được chọn làm mẫu nghiên cứu từ 13 nơi cứu trợ và trợ giúp của Norouz thuộc Hội Trăng lưỡi liềm đỏ, tỉnh Mazandaran Nghiên cứu mô

tả, cắt ngang, thông qua lấy mẫu ngẫu nhiên cụm, đã được kiểm tra trước, được cấu trúc và xác thực bởi bảng câu hỏi sử dụng để đánh giá kiến thức và thái độ của nhân viên cứu trợ Một bảng kiểm thực hành được sử dụng để biết kết quả thực hành của

họ Các nhân viên cứu trợ có điểm số kiến thức trung bình là 56,5%

3.2 Tại Việt Nam:

Nghiên cứu của Dương Phan Bích Hải tiến hành năm 2010, thực hiện trên nhóm đối tượng là nhân viên y tế thôn bản tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Kết

Trang 25

quả cho thấy 41,8% số nhân viên y tế thôn bản ở đây có kiến thức đạt về sơ cấp cứu Ngoài ra nghiên cứu cũng chỉ ra được kiến thức của y tế thôn bản có liên quan với yếu tố tham gia sơ cấp cứu TNTT, với yếu tố đào tạo[2] và nghiên cứu của Lê Hồng Nhung năm 2013, đối tượng nghiên cứu là nhân viên y tế thôn bản ở 3 thành phố Hà Nội, Thừa Thiên Huế và Thành phố Hồ Chí Minh thì tỷ lệ y tế thôn bản có kiến thức về sơ cấp cứu TNTT đạt là 40,3% [9] Đối với nghiên cứu của Trần Lệ Mai năm 2013-2014 về Thực trạng SCC TNTT của cộng tác viên y tế tại 36 xã phường tại thành phố Hà Nội, Thừa Thiên Huế và Hồ Chí Minh thì cho thấy tỷ lệ cộng tác viên (CTV) đạt về mặt kiến thức chung là 66,8% Trong số các loại xử trí, tỷ lệ CTV có kiến thức tốt đạt cao nhất đối với xử trí TNTT cột sống (93,5%) và thấp nhất đối với xử trí suy hô hấp cấp (22,9%) Ngoài ra CTV cũng đạt điểm cao đối

với xử trí TNTT chi (85,5%), chảy máu và sốc (81,8%) và TNTT đầu (70,1%)[6]

4 Thực hành sơ cấp cứu tai nạn thương tích

4.1 Trên Thế giới:

Theo nghiên cứu của Hassan M Al-Musa và các cộng sự năm 2017 về kiến thức về kỹ năng SCC của sinh viên y khoa của Trường đại học Hoàng Gia Khalid, Abha, Ả rập sê út ở 703 sinh viên y khoa gồm 394 nam (56%) và 309 nữ sinh viên (44%) với độ tuổi dao động từ 18 đến 26 tuổi Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá kiến thức của sinh viên y khoa trong việc SCC ban đầu cho bệnh nhân Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại bốn Trường Đại học Y khoa của Đại học Hoàng Gia Khalid (KKU) Một bộ câu hỏi có cấu trúc về kỹ năng SCC được thu thập của Hội Trăng lưỡi liềm đỏ Ả rập Sê út Dựa trên điểm của các câu trả lời thu được trong mỗi tình trạng cần cấp cứu, kiến thức tổng thể được phân loại Chỉ có 131 (18,6%)

đã nhận được giấy chứng nhận về SCC và 53 (7,5%) sinh viên đã được chứng nhận Trong đó 9 % đối tượng nghiên cứu trả lời được chính xác trên 70% của bộ câu hỏi; 24% đối tượng nghiên cứu trả lời được chính xác câu hỏi từ 50-70% và thấp hơn 67% người tham gia nghiên cứu trả lời câu hỏi chính xác trên 50% Số phần trăm câu trả lời chính xác có liên quan đáng kể tới loại trường đại học, năm học, được đào tạo SCC và cấp giấy chứng (p <0,05) Nghiên cứu chỉ ra rằng kiến thức nghèo

Trang 26

nàn về SCC giữa các sinh viên y khoa trường đại học KKU Do đó cần phải có lớp tập huấn SCC chính thức được giới thiệu trong chương trình đào tạo để nâng cao kỹ năng cơ bản cho sinh viên [38]

Một nghiên cứu cắt ngang của Pallavisarji và các cộng sự được tiến hành trong 3 tháng đầu năm 2011 nhằm tìm hiểu nhận thức về khả năng SCC TNTT của người dân huyện phía nam của Tumkur ở Ấn Độ Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) bao gồm tất cả cảnh sát, nhân viên cứu thương, tài xế taxi, xe buýt, người lái xe, giáo viên tiểu học và trung học Kết quả nghiên cứu cho thấy, 60% ĐTNC đã từng chứng kiến nhiều hơn 2 trường hợp khẩn cấp trong vòng 6 tháng trước, 55% đã tham gia tích cực giúp đỡ người bị thương Việc giúp đỡ đó chủ yếu là gọi xe cứu thương (41,5%), vận chuyển nạn nhân (19,7%), an ủi nạn nhân (14,9%) 81,4% không có kỹ năng SCC ban đầu tuy nhiên họ đều sẵn sàng tiếp thu kiến thức và kỹ năng trong việc SCC ban đầu cho nạn nhân [31] Theo nghiên cứu của Uthkarsh Pallavisaryi và các cộng sự năm 2011, về Thực hành và nhận thức về sơ cấp cứu của người ứng phó đầu tiên tại quận phía Nam của Án Độ Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành ở quận phía Nam Tumkur ở Ấn Độ trong vòng ba tháng từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2011 Đối tượng 720 người gồm cảnh sát, nhân viên cứu thương, tài xế taxi, xe buýt và lái xe ô tô, và giáo viên tiểu học và trung học cơ sở Kết quả cho thấy có gầm 60% số người trả lời đã chứng kiến hơn hai trường hợp khẩn cấp trong sáu tháng trước và 55% đã tham gia tích cực trong việc giúp đỡ người bị thương Sự giúp đỡ chủ yếu là gọi xe cứu thương (41,5%), vận chuyển người bị thương (19,7%) và an ủi nạn nhân (14,9%) Đa số (78,1%) số người được hỏi cho biết họ đã chạy đến giúp đỡ nạn nhân (42,4%) hoặc đã gọi xe cấp cứu Lý

do chủ yếu là không cung cấp sự giúp đỡ thường là "lo sợ về các chứng pháp lý" (30%) sẽ xảy ra sau đó Số lượng đáng kể (81,4%) số người được hỏi cho biết họ không có đủ kỹ năng để bảo vệ hiện trường khẩn cấp và sẵn sàng tiếp thu kiến thức

và kỹ năng sơ cứu để giúp đỡ nạn nhân[31]

Trang 27

4.2 Tại Việt Nam:

Nghiên cứu của Lê Hồng Nhung về thực hành sơ cấp cứu tai nạn thương tích của y tế thôn bản năm 2014 tại Hà Nội, Thừa Thiên Huế và thành phố Hồ Chí Minh thì tỷ lệ y tế thôn bản về thực hành đạt là 34,1%, trong đó Hà Nội tỷ lệ đạt là 23,7%; tại Thừa Thiên Huế là 43,5% và thành phố Hồ Chí Minh là 33,3% [9] Nghiên cứu của Trần Lệ Mai năm 2013-2014 về Thực trạng SCC TNTT của cộng tác viên y tế tại 36 xã phường tại thành phố Hà Nội, Thừa Thiên Huế và Hồ Chí Minh thì cho thấy kỹ năng SCC của CTV được đánh giá thông qua việc phỏng vấn trả lời câu hỏi, tập trung vào 8 tình huống TNTT: nạn nhân bất tỉnh, nạn nhân gãy xương kín, nạn nhân gãy xương hở, nạn nhân chấn thương cột sống, nạn nhân bị chảy máu, nạn nhân bị sốc, nạn nhân khó thở cần xử trí đường thở và nạn nhân bị bỏng Cộng tác viên (CTV) chỉ trả lời các câu hỏi về kỹ năng khi đã từng thực hiện xử trí cho tình huống được nêu trên Kết quả cho thấy CTV đạt về kỹ năng như: chấn thương cột sống là kỹ năng có ít CTV tham gia thực hiện nhất nhưng lại có tỉ lệ CTV đạt cao nhất là 83,8% Chảy máu là tình huống sơ cấp cứu có nhiều CTV từng tham gia nhất và cũng có tỉ lệ CTV đạt tương đối cao 65,3%[6]

5 Một số yếu tố liên quan đến sơ cấp cứu tai nạn thương tích

Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy, có mối liên quan giữa một số đặc điểm cá nhân như giới tính, trình độ học vấn, tuổi, thâm niêm công; đào tạo SCC tác đối với kiến thức, thực hành SCC cứu TNTT

5.1 Trên thế giới:

Nghiên cứu của Hassan M Al-Musa và các cộng sự năm 2017 về kiến thức

về kỹ năng SCC của sinh viên y khoa của Trường đại học Hoàng Gia Khalid, Abha,

Ả rập sê út ở 703 sinh viên y khoa gồm 394 nam (56%) và 309 nữ sinh viên (44%) chỉ ra rằng kiến thức nghèo nàn về SCC giữa các sinh viên y khoa trường đại học KKU Do đó cần phải có lớp tập huấn SCC chính thức được giới thiệu trong chương trình đào tạo để nâng cao kỹ năng cơ bản cho sinh viên[38]

Theo nghiên cứu của Mouloud Agajani Delavar và các cộng sự năm 2012 về Kiến thức, thái độ và thực hành của nhân viên cứu trợ về các biện pháp sơ cấp cứu

Trang 28

219 công nhân cứu trợ đã được chọn làm mẫu nghiên cứu từ 13 nơi cứu trợ và trợ giúp của Norouz thuộc Hội Trăng lưỡi liềm đỏ, tỉnh Mazandaran Nghiên cứu mô

tả, cắt ngang, thông qua lấy mẫu ngẫu nhiên cụm, đã được kiểm tra trước, được cấu trúc và xác thực bởi bảng câu hỏi sử dụng để đánh giá kiến thức và thái độ của nhân viên cứu trợ Một bảng kiểm thực hành được sử dụng để biết kết quả thực hành của

họ Các nhân viên cứu trợ có điểm số kiến thức trung bình là 56,5% Có sự khác biệt đáng kể giữa kiến thức và trình độ học vấn (p <0,0001) Trong tổng số nhân viên cứu trợ, 83% biết cách thực hiện chính xác kỹ thuật hồi sinh tim phổi (CPR), trong khi 94% báo cáo rằng họ không biết làm thế nào để thực hiện đặt ống khí quản[26]

5.2 Tại Việt Nam:

Nghiên cứu của Lương Mai Anh, Trần Lệ Mai năm 2014 về Kiến thức, thực hành SCC của cộng tác viên y tế tại thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh và tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2014 chỉ ra rằng kiến thức của CTV có mối liên quan với số năm công tác, bằng cấp chuyên môn và việc CTV có tham gia SCC trong năm trước hay không (p<0,05) [5] và nghiên cứu năm 2014 của Trần Lệ Mai, CTV có mối liên quan với yếu tố năm công tác (p < 0,05, χ2=6,570) Tức là giữa những người thực hiện SCC dưới 10 năm và từ 10 năm trở lên CTV có bằng cấp chuyên môn về y/dược hay không (p < 0,05, χ2=11,257) CTV tham gia SCC trong năm qua cũng là một cũng

là một yếu tố có liên quan tới kiến thức của CTV (p < 0,05, χ2=6,334) [6] Nghiên cứu của Lê Hồng Nhung năm 2014 cũng chỉ ra mối liên quan giữa tuổi, giới tính, trình độ học vấn, bằng cấp chuyên môn về y dược và đào tạo SCC với kiến thức SCC TNTT của Y tế thôn bản: Y tế thôn bản tuổi từ 30 trở lên có kiến thức SCC chưa đạt cao gấp 3,78 lần y tế thôn bản dưới 30 tuổi (p ≤ 0,001) Y tế thôn bản nữ

có kiến thức chưa đạt cao gấp 3,89 lần y tế thôn bản nam (p < 0,001) Y tế thôn bản

có trình độ THPT trở xuống có kiến thức chưa đạt cao gấp 3,75 lần y tế thôn bản có trình độ trên THPT (p < 0,001) Y tế thôn bản không có bằng cấp về chuyên môn y, dược có kiến thức chưa đạt cao gấp 3,52 lần y tế thôn bản có bằng cấp về y dược (p

< 0,001) Y tế thôn bản không được đào tạo về SCC có kiến thức chưa đạt cao gấp 2

Trang 29

lần y tế thôn bản được đào tạo về SCC (p < 0,05) Y tế thôn bản nữ có thực hành chưa đạt cao gấp 3,26 lần so với y tế thôn bản nam (p < 0,05) Y tế thôn bản có trình

độ THPT trở xuống có thực hành chưa đạt cao gấp 2,41 lần y tế thôn bản có trình độ trên THPT (p < 0,05)[9]

6 Hoạt động sơ cấp cứu tai nạn thương tích của Hội Chữ thập đỏ

150 năm trước đây, một cuộc chiến ở miền bắc nước Ý đã làm dấy lên một ý tưởng mà thay đổi cả thế giới Vào ngày 24 tháng 6 năm 1859, Henry Dunant, một thương gia Thụy Sỹ đã chứng kiến cảnh tượng đau đớn, kinh hoàng sau cuộc chiến Solferino Từ đó đã nảy ra ý tưởng về sự cần thiết hỗ trợ nhân đạo mà hiện vẫn còn thực hiện cho đến tận này nay Hàng triệu người đã bị thương hoặc bị chết bởi TNTT hàng năm do không được xử trí hoặc thiếu trợ giúp kịp thời Hỗ trợ ngay lập tức và xử trí phù hợp trong khi đợi sự trợ giúp chuyên môn sẽ giảm tỷ lệ chết và thương tích và những tác động của thiên tai và các tình huống khẩn cấp hàng ngày

Sơ cấp cứu không thay thế được dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp mà nó là bước đầu tiên quan trọng giúp giảm các thương tích và cải thiện cơ hội sống sót Những người sống trong các khu vực bị chiến tranh tàn phá hoặc bị ảnh hưởng bởi thiên tai thường không có cơ hội được đào tạo SCC cơ bản Sơ cứu giúp giảm bớt tình trạng

dễ bị tổn thương và xây dựng cộng đồng tốt hơn [34]

Ở Việt Nam, ngày 23/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành lập Ban Hồng Thập Tự để làm nhiệm vụ SCC và vận chuyển binh sỹ bị thương về hậu phương Mục đích của Hội ban đầu đặt ra (Điều lệ Hội Hồng thập tự Việt Nam lần thứ nhất, ngày 23/11/1946 là trong thời kỳ chiến tranh giúp đỡ các cơ quan quân y

và dân y để trông nom các thương binh, các tù bình) Từ năm 1992, SCC được chính thức đưa vào chương trình hoạt động của Hội CTĐ Việt Nam

7 Chức năng nhiệm vụ và vai trò của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong các hoạt động sơ cấp cứu:

Chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Hội CTĐ Việt Nam trong công tác SCC ban đầu: Chức năng nhiệm vụ thực hiện công tác SCC của Hội đã được Chính phủ

Trang 30

và các ngành chức năng quy định rõ thông qua Luật hoạt động CTĐ và hệ thống các văn bản sau đây:

Luật hoạt động CTĐ ban hành năm 2008 qui định 7 chức năng, nhiệm vụ của Hội CTĐ Việt Nam, trong đó, SCC là một trong 7 hoạt động trọng tâm của Hội Tại Điều 9 – Luật Hoạt động CTĐ nêu rõ: Hoạt động CTĐ về SCC ban đầu là hoạt động SCC đối với nạn nhân trong chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, hoả hoạn, TNGT

và các tai nạn, thảm hoạ khác, bao gồm: Tổ chức SCC tại chỗ, kịp thời đưa nạn nhân đến cơ sở y tế và báo tin cho gia đình, cơ quan, tổ chức nơi nạn nhân làm việc hoặc UBND cấp xã nơi nạn nhân cư trú; Tổ chức lực lượng, tiến hành đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng hội viên, TNV có kỹ năng, phương pháp SCC; Tổ chức các điểm, trạm SCC ở những nơi thường xuyên xảy ra tai nạn và cung cấp các dụng cụ SCC [3]

Nghị định số 03/2011/NĐ-CP ngày 04/01/2011 của Chính phủ về Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật hoạt động CTĐ, trong đó tại khoản 5 điều 12 nêu

rõ “Bộ Y tế quy định cụ thể điều kiện hoạt động, thủ tục thành lập, hồ sơ cấp giấy

ph p hoạt động của trạm, điểm SCC CTĐ”; Tại khoản 3 điều 13 nêu rõ “Bộ Y tế quy định nội dung huấn luyện SCC, khung chương trình huấn luyện SCC và việc cấp giấy chứng nhận cho học viên sau khi huấn luyện” [10]

Năm 2014, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 17/2014/TT-BYT quy định rõ

về việc cấp ph p hoạt động cho các trạm điểm SCC CTĐ và việc huấn luyện SCC CTĐ trong đó có quy định danh mục 10 kỹ thuật SCC cho TNV cấp I và người dân gồm: Kỹ thuật di chuyển nạn nhân khẩn cấp, Sơ cứu dị vật, tắc đường thở, Sơ cứu ngừng thở, ngừng tim (kỹ thuật CPR), Sơ cứu chảy máu – sốc, Sơ cứu các vết thương phần mềm, băng bó vết thương, Sơ cứu gãy xương, Kỹ thuật vận chuyển nạn nhân an toàn, Sơ cứu bỏng, Sơ cứu điện giật, Sơ cứu đuối nước [17]

Quyết định số 1203/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19 tháng 7 năm

2013 về việc phê duyệt Đề án Tổ chức cấp cứu TNGT trên mạng đường bộ cao tốc đến năm 2020 Trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2013-2015, mục (e) ghi

rõ 20% lái xe đã được cấp giấy ph p lái xe, cán bộ Hội CTĐ và TNV được đào tạo

kỹ năng SCC cơ bản TNGT [11]

Trang 31

Quyết định số 216/QĐ-BYT ngày 20/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc phê duyệt Kế hoạch phòng, chống TNTT tại cộng đồng của ngành y tế đến năm

2020 với mục tiêu tổng quát là nâng cao năng lực của ngành y tế trong công tác phòng chống TNTT tại cộng đồng góp phần giảm tỷ lệ mắc, tử vong và tàn tật do TNTT, đặc biệt là TNGT, đuối nước, tai nạn lao động, bạo lực Trong phần tổ chức thực hiện có phối hợp với các Bộ, ngành, đoàn thể trung ương, trong đó có Hội CTĐ Việt Nam để củng cố và nâng cao chất lượng điểm sơ cứu, cấp cứu dựa vào cộng đồng; thực hiện sơ cứu, cấp cứu cho người dân trong cộng đồng [18]

Chương trình phối hợp số 272-CTPH/TƯHCTĐ-UBATGTQG ngày 14/3/2013 giữa Hội CTĐ và Ủy Ban An toàn giao thông Quốc gia về tuyên truyền an toàn giao thông và SCC nạn nhân tai nạn giao thông tại cộng đồng giai đoạn 2013 – 2018 Với nội dung tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, TNV, thanh thiếu niên CTĐ và nhân dân chấp hành pháp luật về an toàn giao thông, xây dựng mô hình cộng đồng an toàn, hiểu biết pháp luật và không vi phạm an toàn giao thông; Triển khai thí điểm mô hình cộng đồng an toàn trên tuyến Quốc

lộ 5 thông qua hoạt động của đội TNV SCC CTĐ lưu động; tổ chức huấn luyện SCC

Chiến lược phát triển Hội CTĐ Việt Nam đến năm 2020 về An toàn – Tự phục hồi – Chăm sóc trong đó có nội dung đến năm 2020 phấn đấu 1% dân số được trang bị kiến thức về SCC

8 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

Huyện Gia Lâm là một huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành phố 8 km về phía Đông Đây là cửa ngõ phía Đông của thủ đô để đi sang các tỉnh, thành như Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên Với diện tích 108,446 km², dân số là 190.194 người; có 22 đơn vị thành chính trực thuộc gồm: 2 thị trấn (Trâu Quỳ và Yên Viên), 20 xã; có các con sông chảy qua như sông Hồng, sông Đuống, sông Cầu Bây, sông Bắc Hưng Hải, sông Thiên Đức Là đầu mối của các tuyến đường giao thông quan trọng (bao gồm đường không, đường thủy, đường bộ, đường sắt), nối liền Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, với cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân Hội CTĐ huyện Gia Lâm có 79 hội, chi hội trường học, 4 chi hội tán trợ Tổng số tình nguyện viên CTĐ tại huyện gần 1.000 người gồm các đại diện đến từ mặt trận tổ

Trang 32

quốc, cựu chiến binh, phụ nữ, đoàn thanh niên, y tế, giáo viên … Theo báo cáo tổng kết hoạt động năm 2017 của Hội CTĐ huyện đã tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn, truyền thông như sau: 03 lớp tuyên truyền về An toàn giao thông cho 200 người tham gia, trị giá 10,000,000 đồng; 39 lớp tập huấn về phòng chống tai nạn thương tích cho 1,156 người tham gia, trị giá 74,500,000 đồng; Duy trì hoạt động của 22 trạm sơ cấp cứu (hỗ trợ nạn nhân bị tai nạn giao thông, tiến hành sơ cấp cứu và đưa nạn nhân đến cơ sở y tế) và đã tổ chức sơ cứu cho 104 trường hợp trị giá: 10.950.000 đồng; Tiếp tục duy trì các hoạt động sơ cấp cứu phòng chống tai nạn thương tích trong các nhà trường và ở cộng đồng dân cư và đã tổ chức 36 buổi tập huấn cho 1.810 người trị giá: 53.000.000 đồng Tổng giá trị hoạt động về sơ cấp cứu là 148.450.000 đồng và 3.270 người được hỗ trợ Tổ chức các cuộc thi SCC trong trường học để nâng cao kiến thức cho các em học sinh, thầy cô giáo phòng chống tai nạn thương tích Tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng sử dụng mũ bảo hiểm đạt chuẩn khi tham gia giao thông cho cả phụ huynh và học sinh [4]

Trang 33

Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

9 Khung lý thuyết

Khung lý thuyết đƣợc xây dựng dựa trên Mô hình các yếu tố quyết định sức khỏe của Dahlgren và Whitehead (1991) và các tài liệu, nghiên cứu đã đƣợc thực hiện về kiến thức, thực hành SCC TNTT và một số yếu tố liên quan [23] Trong nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu về lỹ thuyết thực hành SCC TNTT và không

Trang 34

quan sát thực hành của TNV CTĐ

Hình 2: Khung lý thuyết nghiên cứu

Các yếu tố nhân khẩu học – xã hội học:

 Tuổi, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp

 Kiến thức về 10 kỹ thuật SCC cho

TNV cấp I và người dân (Kỹ thuật

di chuyển nạn nhân khẩn cấp, Sơ

cứu dị vật, tắc đường thở, Sơ cứu

ngừng thở, ngừng tim (kỹ thuật

CPR), Sơ cứu chảy máu – sốc, Sơ

cứu các vết thương phần mềm,

băng bó vết thương, Sơ cứu gẫy

xương, Kỹ thuật vận chuyển nạn

nhân an toàn, Sơ cứu bỏng, Sơ cứu

điện giật, Sơ cứu đuối nước)

 Kiến thức về tổ chức, thực hiện sơ

cấp cứu tại hiện trường

Thực hành SCC TNTT

- Kỹ thuật di chuyển nạn nhân khẩn cấp, Sơ cứu dị vật, tắc đường thở, Sơ cứu ngừng thở, ngừng tim (kỹ thuật CPR), Sơ cứu chảy máu – sốc, Sơ cứu các vết thương phần mềm, băng bó vết thương, Sơ cứu gẫy xương, Kỹ thuật vận chuyển nạn nhân an toàn, Sơ cứu bỏng, Sơ cứu điện giật, Sơ cứu đuối nước

Các yếu tố tăng cường, tạo điều kiện:

 Chương trình truyền thông hướng dẫn SCC TNTT

 Thâm niên công tác của người SCC

 Đào tạo, tập huấn và cấp chứng chỉ SCC

 Cơ sở vật chất: Dụng cụ, trang thiết bị SCC …; Nguồn nhân lực: tập huấn, đào tạo; Nguồn kinh phí: vận động, huy động nguồn lực

 Các văn bản liên quan đến SCC: Luật, Thông tư, hướng dẫn…

Trang 35

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

2.1.1 Đối tư ng nghiên cứu định lư ng:

TNV CTĐ sinh sống và tham gia hoạt động trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tại thời điểm nghiên cứu

 Là người từ chối tham gia nghiên cứu

 Là đối tượng đã tham gia trả lời phỏng vấn trong đợt thử nghiệm bộ công cụ

 Không có khả năng trả lời các câu hỏi phỏng vấn

 Đến gặp 03 lần nhưng không gặp

2.1.2 Đối tư ng nghiên cứu định tính:

a Đối t ng th m gi thảo luận nh m là t nh nguyện viên TĐ

 Tiêu chí lựa chọn:

 Tham gia vào trả lời phỏng vấn định lượng

 Sẵn sàng tiếp tục tham gia nghiên cứu định tính

 Tiêu chí loại trừ:

 Từ chối tiếp tục tham gia nghiên cứu định tính

b Đối t ng th m gi phỏng vấn sâu lãnh o CTĐ c c cấp huyện và xã/ph ờng

 Tiêu chí lựa chọn:

 Lãnh đạo CTĐ huyện Gia Lâm

 Đồng ý tham gia nghiên cứu

 Tiêu chí loại trừ:

Trang 36

 Từ chối tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

2.2.1 Thời gian:

Nghiên cứu được tiến hành từ ngày 15/3/2018 đến 15/6/2018

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu:

Tại 18/22 xã của huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội gồm thị trấn Yên Viên

và 20 xã là Bát Tràng, Cổ Bi, Dương Hà, Dương Quang, Dương Xá, Đa Tốn, Đặng

Xá, Đình Xuyên, Đông Dư, Kiêu Kỵ, Kim Lan, Kim Sơn, Lệ Chi, Phù Đổng, Trung Mầu, Yên Thường, Yên Viên Trong đó có 04 xã không tham gia nghiên cứu là: Châu Quỳ, Văn Đức, Phú Thụy và Ninh Hiệp vì thời điểm tiến hành nghiên cứu, các xã có nhiều hoạt động triển khai nên không tham gia được nghiên cứu

2.3.Thiết kế nghiên cứu:

Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính trong đó:

- Nghiên cứu định lượng: sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, các thông tin về kiến thức, thực hành SCC TNTT của TNV CTĐ được thu thập bằng bộ

câu hỏi được thiết kế sẵn trả lời cho mục tiêu 1

- Nghiên cứu định tính: nhằm thu thập thông tin định tính về các yếu tố ảnh hưởng đến SCC TNTT của TNV CTĐ, qua đó làm rõ hơn kết quả nghiên cứu định lượng Đối tượng tham gia nghiên cứu định tính được lựa chọn trong quá trình thực hiện nghiên cứu định lượng cho mục tiêu 2

Trang 37

Hình 3: Sơ đồ tổng h p qui trình nghiên cứu:

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lư ng:

Cỡ mẫu được tính theo công thức:

 Trong đó:

+ n là số đối tượng tham gia nghiên cứu

Thu thập số liệu ĐL  Điều tra cắt ngang: 217 TNV về kiến thức, kỹ năng

Trang 38

+ p là tỷ lệ đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) ước tính có kiến thức chung đúng về SCC TNTT Theo luận văn nghiên cứu của Lê Hồng Nhung về thực trạng TNTT và khả năng SCC của mạng lưới y tế tuyến xã tại Hà Nội, Thừa Thiên Huế, thành phố

Hồ Chí Minh năm 2014 có kiến thức chung là 40,3% [9]

+ Z là hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95% thì Z = 1,96

+ d là sai số tuyệt đối chấp nhận Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn sai số tuyệt đối d = 0,07

Thay vào công thức trên ta được n = 189 (làm tròn) Ước lượng tỷ lệ đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu là 10% và làm tròn cỡ mẫu nghiên cứu là 210 đối tượng

2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính:

Cỡ mẫu định tính gồm:

 Phỏng vấn sâu với lãnh đạo CTĐ các xã/phường: đã tiến hành phỏng vấn sâu

03 lãnh đạo Chữ thập đỏ xã gồm: xã Cổ Bi, Dương Xá và Đông Dư trong tổng số

18 xã/phường tham gia nghiên cứu dựa trên bộ câu hỏi phỏng vấn đã được thiết kế sẵn về các nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu

 Tổ chức 03 cuộc thảo luận nhóm, với mỗi cuộc thảo luận nhóm mời từ 06 đối tượng đến 10 người tham gia Tổng số đối tượng nghiên cứu là: 22 người tại các

xã Cổ Bi, Dương Xá và Đông Dư (lý do chọn 3 xã này vì học viên tham gia trực tiếp phỏng vấn tình nguyện viên và điều hành các cuộc thảo luận nhóm) Dựa trên

bộ câu hỏi được thiết kế sẵn, điều tra viên đã nêu vấn đề để các tình nguyện viên tham gia thảo luận và đưa ra ý kiến Sau đó điều tra viên tổng hợp các ý kiến của buổi thảo luận nhóm trên

2.5 Phương pháp chọn mẫu:

2.5.1 Phương ph p chọn mẫu định lư ng:

Lựa chọn 18/22 xã/phường tham gia nghiên cứu (có 4 xã không tham gia nghiên cứu gồm: Châu Quỳ, Văn Đức, Phú Thụy và Ninh Hiệp vì tại thời điểm nghiên cứu các xã triển khai các hoạt động khác trên địa bàn) tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Trang 39

Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn theo danh sách để chọn đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) tại thời điểm nghiên cứu

 Bước 1: Lập và tổng hợp danh sách các TNV CTĐ tại các xã/phường tham gia nghiên cứu Tổng danh sách tình nguyện viên CTĐ có 800 người

 Bước 2: Căn cứ danh sách TNV CTĐ, tính khoảng cách mẫu: k = N/n(trong

đó, N là toàn bộ tình nguyện viên CTĐ, n là cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu), từ đó tính được k = 800/210 = 4 (ước tính trung bình)

 Bước 4: Chọn ngẫu nhiên 1 TNV CTĐ trong danh sách đầu tiên (gọi TNV

đó được chọn là A), sau đó chọn TNV thứ 2 là A + 4 và TNV được chọn thứ 3 là A + 8 Cứ như vậy cho đến khi đủ danh sách cỡ mẫu nghiên cứu

2.5.2 Phương ph p chọn mẫu định tính:

Chọn ra từ những đối tượng tham gia nghiên cứu định lượng và đồng ý tiếp tục tham gia thảo luận nhóm

Đối với phỏng vấn sâu: với lãnh đạo xã/phường tại huyện Gia Lâm, thành phố

Hà Nội, áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Có nghĩa là lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay dựa trên tính dễ tiếp cận của đối tượng, ở những nơi mà điều tra viên

có khả năng gặp được đối tượng Nếu người được phỏng vấn không đồng ý thì có thể chuyển sang đối tượng khác

Đối với thảo luận nhóm: Những TNV CTĐ tham gia phỏng vấn định lượng được mời tham gia thảo luận nhóm, mỗi nhóm từ 6 - 10 người, dựa trên bộ câu hỏi thiết kế sẵn được thảo luận tại buổi họp nhóm

Phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn gồm 51 câu hỏi: thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (6 câu hỏi); thông tin về đào tạo

sơ cấp cứu tai nạn thương tích (8 câu hỏi); kiến thức về SCC TNTT (17 câu hỏi); thực hành SCC TNTT (12 câu hỏi); trang bị túi SCC (5 câu hỏi) và khó khăn trong khi thực hiện SCC (3 câu hỏi)

Phương pháp nghiên cứu định tính bằng phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm bao

gồm các nội dung: thực trạng SCC TNTT tại địa phương; truyền thông về SCC

TNTT cho người dân; tập huấn, cấp giấy chứng chỉ/chứng nhận về SCC TNTT; thuận lợi, khó khăn, đề xuất trong quá trình thực hiện SCC TNTT; đánh giá của

Trang 40

người dân, chính quyền địa phương và ngành y tế về hoạt động SCC TNTT của TNV CTĐ; trang thiết bị, dụng cụ; hoạt động truyền thông về SCC TNTT

2.6 Phương pháp thu thập thông tin:

2.6.1 Phương ph p thu thập th ng tin định lư ng:

a ng cụ nghiên cứu

 Thiết kế Bộ phiếu phỏng vấn có cấu trúc (phụ lục 3) Bộ phiếu phỏng vấn được thiết kế gồm câu hỏi về thông tin chung về đối tượng nghiên cứu, thông tin về đào tạo sơ cấp cứu; kiến thức, thực hành sơ câp cứu; trang bị túi sơ cấp cứu và khó khăn trong việc thực hiện sơ cấp cứu

 Các công cụ trên được xây dựng dựa trên các nghiên cứu cùng chủ đề đã được tiến hành Việt Nam bao gồm: Lê Hồng Nhung, năm 2014 về thực trạng TNTT

và khả năng SCC của mạng lưới y tế tuyến xã tại Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2014 [9]; Trần Lệ Mai, năm 2014 về Thực trạng SCC TNTT của cộng tác viên y tế ở 36 xã tại thành phố Hà Nội, Thừa Thiên Huế và Hồ Chí Minh[6]; và cuốn tài liệu huấn luyện SCC tại cộng đồng của Trần Thu Thủy, Đào Thị Thanh Tâm [19] Bộ phiếu phỏng vấn được chỉnh sửa và thử nghiệm trước khi điều tra

 Tham vấn ý kiến chuyên môn để góp ý, bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện (tham vấn ý kiến của tập huấn viên về sơ cấp cứu của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam)

về bộ câu hỏi phỏng vấn

b Thử nghiệm c ng cụ

 Bộ phiếu phỏng vấn đã được nhóm nghiên cứu tiến hành thử nghiệm trên 12 TNV CTĐ, các đối tượng này sẽ không được lựa chọn tham gia vào nghiên cứu cuối cùng

 Căn cứ kết quả của cuộc thử nghiệm, nghiên cứu viên đã tiến hành chỉnh sửa

và hoàn thiện bộ công cụ cho phù hợp và tiếp tục xin ý kiến chuyên môn về nội dung bảng câu hỏi trước sử dụng tại cộng đồng

Ngày đăng: 31/01/2021, 12:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w