1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức, thực hành về tiêm vacxin viêm gan b cho trẻ sơ sinh của nhân viên y tế và một số yếu tố liên quan tại 08 bệnh viện ở hải phòng năm 2018

109 64 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Nghiên cứu “Kiến thức, thực hành về tiêm vacxin Viêm gan B cho trẻ sơ sinh của nhân viên y tế và một số yếu tố liên quan tại 8 bệnh viên ở Hải Phòng năm 2017” nhằm tìm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

* * * * *

TRẦN MINH NGUYỆT

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ TIÊM VACXIN VIÊM GAN B CHO TRẺ SƠ SINH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI 8 BỆNH VIỆN CỦA HẢI PHÕNG

NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

* * * * *

TRẦN MINH NGUYỆT

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ TIÊM VACXIN VIÊM GAN B CHO TRẺ SƠ SINH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI 8 BỆNH VIỆN Ở HẢI PHÕNG

Trang 3

MỤC LỤC

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU iv

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Một số khái niệm 5

1.2 Tổng quan về bệnh viêm gan B 6

1.3 Vacxin viêm gan B và tiêm vacxin viêm gan B sơ sinh 8

1.4 Một số yếu tố liên quan đến tiêm vacxin viêm gan B sơ sinh 13

1.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu về kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về tiêm vacxin viêm gan B 16

1.6 Khung lý thuyết: 19

1.7 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 20

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

2.3 Thiết kế nghiên cứu 22

2.4 Cỡ mẫu 22

2.5 Phương pháp chọn mẫu 23

2.6 Phương pháp thu thập thông tin 23

2.7 Các biến số nghiên cứu 24

2.8 Các tiêu chí đánh giá 24

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 25

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 25

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 27

3.2 Kiến thức của nhân viên y tế về tiêm vacxin cho trẻ sơ sinh 28

3.3 Thực hành về bệnh viêm gan B và tiêm vacxin viêm gan B sơ sinh 34

Trang 4

3.4 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về tiêm vacxin viêm gan

B cho trẻ sơ sinh của nhân viên y tế 41

Chương 4 BÀN LUẬN 49

4.1 Kiến thức, thực hành của nhân viên y tế 49

4.2 Một số yếu tố liên quan tới tiêm vacxin viêm gan B sơ sinh 56

4.3 Điểm mạnh của nghiên cứu 59

4.4 Một số hạn chế của nghiên cứu 59

KẾT LUẬN 61

KHUYẾN NGHỊ 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 69

Phụ lục 1 Bộ câu hỏi phỏng vấn nhân viên y tế 69

Phụ lục 2 Thang điểm đánh giá kiến thức, thực hành về bệnh viêm gan B và tiêm vacxin viêm gan B sơ sinh 82

Phụ lục 3 Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu 90

Phụ lục 4 Hướng dẫn phỏng vấn sâu nhân viên y tế 91

Trang 5

Deoxyribo Nucleic Acid - Axít Deoxyribonucleic

Vacxin phối hợp 5 trong 1 phòng bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B và Hib

Hepatitis B surface antigen - Kháng nguyên bề mặt của virut viêm gan B

Hepatitis B e antigen - Kháng nguyên e của virut viêm gan

B Hepatitis B virut - Virut Viêm gan B Global Alliance for Vaccines & Immunisation - Liên minh Toàn cầu về Vacxin và Tiêm chủng

Nhân viên y tế Nhà xuất bản Quy định – Bộ Y tế Tiêm chủng mở rộng Thông tư - Bộ Y tế Trung tâm y tế dự phòng Trung tâm Y tế

Phản ứng sau tiêm Phỏng vấn sâu nhân viên y tế Viêm gan B

Vacxin Viêm gan B sơ sinh World Health Organization - Tổ chức y tế thế giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Tên

bảng/biểu

Nội dung Trang

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 27

Bảng 3.2 Kiến thức về tình trạng nhiễm viêm gan B và bệnh

viêm gan B

28

Bảng 3.3 Kiến thức về tiêm vacxin viêm gan B sơ sinh 29

Biểu đồ 3.1 Các nội dung tư vấn trước khi tiêm của nhân viên y tế 30

Bảng 3.4 Phân bổ tỉ lệ trả lời đạt kiến thức về tiêm vacxin viêm

gan B theo chức danh của nhân viên y tế

31

Bảng 3.5 Tỷ lệ chung kiến thức đạt của nhân viên y tế 34

Bảng 3.6 Tỷ lệ các nội dung/hoạt động thực hành được nhân

viên y tế truyền thông tư vấn

34

Bảng 3.7 Tỷ lệ các nội dung về thực hành tiêm vacxin viêm gan

B

35

Bảng 3.8 Đối tượng khám sàng lọc và chỉ định tiêm vacxin 38

Bảng 3.9 Tỷ lệ chung thực hành đạt của nhân viên y tế 40

Bảng 3.10 Các yếu tố liên quan đến Kiến thức về viêm gan B 41

Bảng 3.11 Các yếu tố liên quan đến Kiến thức về vacxin viêm gan

B và tiêm vacxin viêm gan B sơ sinh

42

Bảng 3.12 Các yếu tố liên quan đến kiến thức chung của nhân

viên y tế

43

Bảng 3.13 Các yếu tố liên quan đến truyền thông tư vấn 44

Bảng 3.14 Các yếu tố liên quan đến Thực hành tiêm vacxin viêm

gan B sơ sinh

45

Bảng 3.15 Các yếu tố liên quan đến thực hành chung của nhân

viên y tế

46

Trang 7

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu “Kiến thức, thực hành về tiêm vacxin Viêm gan B cho trẻ sơ sinh của nhân viên y tế và một số yếu tố liên quan tại 8 bệnh viên ở Hải Phòng năm 2017” nhằm tìm hiểu thực trạng kiến thức, thực hành của các nhân viên y tế về việc tiêm vacxin VGB sơ sinh và các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành để từ đó đề xuất một số khuyến nghị phù hợp nhằm nâng cao tỷ lệ tiêm vacxin VGB sơ sinh Nghiên cứu dựa trên phân tích bảng hỏi đối với 101 nhân viên y tế và phỏng vấn sâu

2 nhân viên y tế được chọn chủ đích tại các bệnh viện ở Hải Phòng trong năm 2017

Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức của NVYT tại các bệnh viện Hải Phòng tương đối cao Với 8 nội dung được đưa ra liên quan đến kiến thức về bệnh VGB, và 31 nội dung liên quan đến kiến thức về tiêm vacxin VGB sơ sinh, tỷ lệ có tổng điểm kiến thức đạt là 71,3% (72/101 NVYT)

Đối với thực hành, đa phần (87,1%) NVYT đạt (9/12 nội dung) về truyền thông tư vấn về bệnh VGB và tiêm VXVGBSS Tỷ lệ đạt về thực hành các nội dung liên quan đến quá trình tiêm VXVGBSS là 96,0% Dựa trên các tiêu chí đánh giá, số NVYT đạt cả 3 tiêu chí về số điểm thực hành là 87 người (chiếm 86,1%)

Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và chức danh đối với kiến thức của NVYT về virut VGB và tiêm vacxin VGB với mức ý nghĩa lần lượt

là (χ2=18,8 và p <0,001) và (χ2 = 20,3 và p <0,001) Trình độ học vấn và kiến thức có ảnh hưởng đến thực hành của NVYT về tiêm VXVGBSS, với mức ý nghĩa lần lượt là (χ2 = 11,7 và p <0,05) và (χ2 = 17,0 và p <0,001)

Kiến nghị của nghiên cứu tập trung việc tuyên truyền tư vấn, đào tạo cho NVYT, đặc biệt là nhóm nữ hộ sinh về nhận thức con đường lây truyền VGB, cung cấp đầy đủ tài liệu truyền thông để NVYT có nguồn thông tin tư vấn đối với bà mẹ trong việc tiêm vacxin sơ sinh khi cần Để nâng cao thực hành giải pháp quan trọng

là thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc tư vấn, quy trình tiêm của NVYT

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Virut VGB là nguyên nhân gây ra bệnh viêm gan virut B, bệnh tiến triển có thể gây ra viêm gan cấp tính, viêm gan mãn tính, xơ gan và tử vong do ung thư gan Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trên thế giới có gần 30% dân số (khoảng 2 tỷ người) nhiễm virut VGB, trong đó có khoảng 350 triệu người mang virut mãn tính và 3/4 là sống ở châu Á Trong số người mang virut mãn tính ở Châu Á, 5-10% là ở người lớn, 70-90% ở trẻ em, khoảng một triệu người chết vì xơ gan và ung thư gan mỗi năm [23]

Virut VGB có thể lây truyền qua nhiều con đường khác nhau, chủ yếu là đường máu, đường tình dục và đường từ mẹ sang con Hiện nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu virut VGB Do đó, để phòng ngừa nguy cơ lây nhiễm cũng như hậu quả của nhiễm virut VGB, tiêm chủng vacxin VGB là biện pháp hiệu quả nhất [32]

Để giảm tỷ lệ mắc và tiến tới kiểm soát được bệnh VGB, tại những quốc gia lưu hành VGB cao, việc tiêm vacxin mũi 1 trong vòng 24 giờ sau sinh được WHO khuyến cáo là một trong những chiến lược quan trọng cùng với việc duy trì trên 90% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm đủ 3 mũi vacxin VGB Hiệu quả bảo vệ của vacxin VGB mũi 1 trong việc phòng lây truyền từ mẹ sang con trên 90,5% khi được tiêm trong 24 giờ sau khi sinh và hiệu quả này trong việc phòng lây nhiễm chu sinh giảm dần nếu tiêm muộn sau khi sinh [23][32]

Nhận thấy vai trò của tiêm vacxin VGB, tại Việt Nam tiêm chủng VGB được thực hiện trong chương trình Tiêm chủng mở rộng của Việt Nam từ năm 1997 Nhờ

có sự nỗ lực của ngành y tế mà tỷ lệ tiêm VXVGBSS tại Việt Nam các năm 2011,

2012 lần lượt là 63% và 64% - tăng hơn so với các năm 2008 (20%); 2009 (28%);

2010 (21,4%) [26][41][42][43] Tuy nhiên do sự cố 3 trẻ sơ sinh tử vong sau tiêm vacxin VGB liều sơ sinh tại Quảng Trị năm 2013 đã làm giảm tỷ lệ tiêm VXVGBSS

cả nước còn 44% năm 2013 Mặc dù các trường hợp tử vong được kết luận không phải do vacxin nhưng điều này đã ảnh hưởng đến việc chỉ định tiêm, sự tin tưởng vào tính an toàn của vacxin VGB liều sơ sinh ở các nhân viên y tế cũng như cộng đồng Việc tiêm chủng vacxin an toàn đồng thời đảm bảo tỷ lệ tiêm chủng, giảm thiểu việc

bỏ lỡ cơ hội tiêm vacxin VGB tại thời điểm quan trọng trong vòng 24 giờ đầu sau

Trang 9

sinh còn gặp nhiều khó khăn và thách thức Kiến thức về bệnh VGB, tác dụng, tiêm vacxin VGB của NVYT đồng thời thực hành chỉ định tiêm VXVGBSS đúng, đảm bảo an toàn trước, trong và sau tiêm cho trẻ nhỏ có vai trò quan trọng đối với tăng cường tỉ lệ tiêm chủng cho trẻ sơ sinh [27] Các nghiên cứu và hướng dẫn hoạt động WHO cung cấp bằng chứng cho thấy kiến thức và thái độ của nhân viên y tế có thể là rào cản hay yếu tố hỗ trợ để cải thiện độ bao phủ của VXVGBSS sơ sinh [39] Trên thực tế, ở Việt Nam hiện nay, chưa có nhiều nghiên cứu về kiến thức về VXVGBSS đặc biệt rất thiếu các nghiên cứu về thực hành của NVYT đối với tư vấn, tiêm vacxin VGB cho trẻ sơ sinh Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu để từ đó có giải pháp cải thiện nhận thức, thái độ của NVYT là rất quan trọng

Hải Phòng không chỉ là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình thuộc đồng bằng sông Hồng mà còn là một trong những trung tâm phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước Với điều kiện kinh tế phát triển thì nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân tăng cao, nhưng tỷ lệ tiêm VXVGBSS của Hải Phòng lại rất thấp trong các năm 2014 - 2016, chỉ đạt 42,7% năm

2016 [31] Việc tiêm VXVGBSS thấp có thể do nhiều nguyên nhân như các bà mẹ không chấp thuận cho con mình được tiêm chủng sớm, NVYT không sẵn sàng tiêm vacxin VGB cho trẻ sơ sinh Tại các tỉnh thành phố lớn do ảnh hưởng của truyền thông, lo ngại về an toàn tiêm chủng, tâm lý trì hoãn để trẻ được tiêm vacxin vào lúc

2 tháng tuổi

Từ những vấn đề trên, tác giả tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thực hành về

tiêm vacxin Viêm gan B cho trẻ sơ sinh của nhân viên y tế và một số yếu tố liên quan tại8 bệnh viên ở Hải Phòng năm 2017” nhằm tìm hiểu thực trạng kiến thức,

thực hành của các nhân viên y tế về việc tiêm vacxin VGB sơ sinh và các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành để từ đó đề xuất một số khuyến nghị phù hợp nhằm nâng cao tỷ lệ tiêm vacxin VGB sơ sinh Câu hỏi nghiên cứu của đề tài:

Kiến thức về tiêm vacxin viêm gan B sơ sinh của NVYT hiện nay như thế nào?

Mức độ nhân viên y tế có tư vấn và thực hành đúng đối với việc tiêm vacxin VGB sơ sinh trong thực tế ra sao?

Trang 10

Có hay không tác động các yếu tố trình độ học vấn, chức danh, kinh nghiệm,

độ tuổi đến kiến thức, thực hành của NVYT? Và mối liên quan theo chiều hướng nào?

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu nhằm thực hiện hai mục tiêu sau:

1 Mô tả kiến thức, thực hành về tiêm vacxin viêm gan B của nhân viên y tế cho trẻ sơ sinh tại 8 bệnh viện Hải Phòng năm 2017

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về tiêm vacxin viêm gan B cho trẻ sơ sinh của nhân viên y tế tại 8 bệnh viện ở Hải Phòng năm 2017

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm

Tiêm chủng: Là biện pháp sử dụng vacxin để tạo miễn dịch chủ động cho

người nhằm phòng một số bệnh truyền nhiễm phổ biến [1]

Vacxin: Là vật liệu chế từ vi sinh vật hoặc kháng nguyên đặc hiệu của chúng

để đưa vào cơ thể người gây miễn dịch chủ động cho cộng đồng phòng bệnh truyền nhiễm do chính các vi sinh vật tương ứng gây ra [1]

Vacxin VGB: Vacxin là những chế phẩm có tính kháng nguyên, được sử dụng

với mục đích tạo ra miễn dịch đối với các bệnh truyền nhiễm

Vacxin VGB là kháng nguyên bề mặt HbsAg được tách triết từ huyết tương người có HbsAg dương tính hoặc bằng công nghệ tái tổ hợp sản xuất trên tế bào nấm men hoặc tế bào động vật [19], [33]

Tiêm vacxin phòng bệnh VGB: Để phòng bệnh VGB cho trẻ em Chương

trình tiêm chủng mở rộng quốc gia triển khai tiêm 4 mũi cho trẻ trong đó có tiêm VGB sơ sinh và 3 mũi tiếp theo vào các tháng tuổi 2,3,4 [19]

Tiêm vacxin VGB sơ sinh: Là việc đưa vacxin VGB vào cơ thể trẻ trong

vòng 24 giờ đầu sau sinh theo quy định của Bộ Y tế tại Quyết định số 2620/QĐ-BYT

về việc “Hướng dẫn triển khai tiêm vacxin VGB sơ sinh” [3]

Thực hành tiêm vacxin VGB sơ sinh Để lả rõ về khái niệm này, trước hết đi

tìm hiểu về khái niệm thực hành Theo từ điển tiếng Việt, thực hành được hiểu là

“làm để áp dụng lí thuyết vào thực tế” [36], quan điểm khác định nghĩa “thực hành của con người là tập hợp phức tạp của nhiều hành động, mà những hành động này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, chủ quan cũng như khách quan” [35] Trước hết nó phụ thuộc vào khả năng nhận thức hay kiến thức của mỗi người, vào thái độ của người đó cũng như các kĩ năng, kĩ xảo cần thiết về vấn đề người đó sẽ làm Thực hành chính là việc vận dụng kiến thức vào một công việc thực tiễn cụ thể Thực hành tiêm VXVGBSS được hiểu là thực hiện các hoạt động về tiêm VXVGBSS, mà các hoạt động này bị chi phối bởi những kiến thức về tiêm vacxin

Trang 13

VGB và các quy định tiêm chủng của nhà nước Các hoạt động về tiêm VXVGBSS theo quy trình: Tư vấn, sàng lọc trước tiêm chủng, tiêm vacxin, theo dõi sau tiêm

1.2 Tổng quan về bệnh viêm gan B

1.2.1 Virut viêm gan B [11]

- Virut viêm gan B (viết tắt là HBV) thuộc họ Hepadnaviridae, gene di truyền ADN chuỗi kép, kích thước 27nm

- HBV có hình cầu, vỏ bao quanh là lipoprotein chứa kháng nguyên bề mặt HBsAg (cho đến nay đã xác định có 8 týp kháng nguyên khác nhau của HBV) Bên trong lớp vỏ là một lớp kháng nguyên hoà tan có hình hộp (ký hiệu kháng nguyên HBeAg) Trong cùng là lõi của virut chứa enzym polymerase ADN phụ thuộc ADN

và các hoạt tính phiên mã ngược

- HBV có sức đề kháng cao hơn HAV HBV bị bất hoạt bởi 100oC trong vòng

20 phút, formalin 5% trong vòng 12 giờ, cloramin 3% trong vòng 2 giờ

1.2.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh viêm gan B

1.2.2.1 Tác nhân gây bệnh

Là bệnh truyền nhiễm do virut VGB gây ra Bệnh tổn thương chủ yếu ở nhu

mô gan, lúc đầu là viêm gan cấp, sau chuyển thành viêm gan mãn tính, rồi dẫn đến biến chứng nặng nề như xơ gan, ung thư gan [11]

Trong số người trưởng thành nhiễm virut, khoảng 85-90% có diễn biến cấp tính, chỉ 6 -10% sẽ phát triển thành bệnh mạn tính Trẻ sơ sinh bị lây nhiễm từ mẹ thường không có các biểu hiện cấp tính nhưng 90% sẽ phát triển thành viêm gan mạn tính suốt đời [1]

Trang 14

- Vùng lưu hành trung bình: Tỷ lệ HBsAg (+) 2-8% như Nam Mỹ, Đông Âu

- Vùng lưu hành thấp: Tỷ lệ HBsAg (+) <2% như Úc, Bắc Mỹ, Tây và Bắc

Âu, một số nước ở Nam Mỹ [23]

Việt Nam nằm trong khu vực dịch lưu hành cao Theo các nghiên cứu tỷ lệ nhiễm virut VGB ở nhóm người khỏe mạnh là từ 10-25% Một số nhóm có nguy cơ nhiễm cao do nghề nghiệp như nhân viên y tế, quan hệ tình dục đồng tính nam, tiêm chích ma túy, gái mại dâm, tù nhân [1] Theo điều tra của Lê Vũ Anh (1988) tỷ lệ mang HBsAg ở cộng đồng dân cư Hà Nội là 11,35% [1] Nghiên cứu của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương năm 1995 tỷ lệ mang HBsAg ở nhóm người khỏe mạnh tại Vĩnh Phúc là 23,5%, ở Hà Bắc là 25%; tại Lâm Đồng là 16,7%, ở người khám tuyển

đi lao động nước ngoài 24,7%; nhân viên y tế là 17,3%; Thanh niên sinh viên đại học

Y 25%, thanh niên sinh viên khỏe mạnh 8,3% và ở thanh niên khỏe mạnh tuyển chọn lao động là 15,3% [27] Điều tra của Nguyễn Thu Vân (2002), tỷ lệ lưu hành HBsAg của Việt Nam là 10 -20% [21]

Tỷ lệ tỷ lệ mang HBsAg (+) ở nhóm phụ nữ có thai khá cao từ 12-17% Nghiên cứu của Nguyễn Tuyết Nga (1994) tại Hải Phòng là 12,59% [10] Nghiên cứu của Trần Huy Quang (2005) tại Hà Tĩnh là 16,6% [19]

1.2.2.3 Đường lây truyền

Virut VGB có trong máu, nước bọt, tinh dịch, dịch âm đạo và hầu hết các dịch khác của cơ thể người mang trùng và lây truyền qua ba đường [19]:

- Từ mẹ sang con khi sinh: Tùy thuộc vào tình trạng nhiễm virut VGB của mẹ

mà nguy cơ lây nhiễm từ mẹ sang con khi sinh dao động từ 10-90%

- Qua đường máu: Do nhận máu của người mang virut VGB, dùng chung bơm kim tiêm, bàn chải đánh răng, dao cạo râu, vết xước bị chảy máu với người bị nhiễm virut VGB

- Qua quan hệ tình dục không an toàn

1.2.2.4 Các biện pháp phòng bệnh

Để phòng bệnh viêm gan B, có 3 nhóm giải pháp chính: [7]

a Phòng chủ động:

Trang 15

- Tiêm vắc xin viêm gan vi rút B cho tất cả trẻ em trong vòng 24h sau sinh và các mũi tiếp theo lúc 2, 3 và 4 tháng tuổi theo chương trình tiêm chủng mở rộng

- Tiêm vắc xin viêm gan vi rút B cho các đối tượng chưa bị nhiễm HBV Cần xét nghiệm HBsAg và anti-HBs trước khi tiêm phòng vắc xin

- Tiêm vắc xin viêm gan vi rút B cho nhân viên y tế

b Phòng lây truyền từ mẹ sang con:

- Nếu mẹ mang thai có HBsAg (+): Tiêm vắc xin viêm gan vi rút B liều sau sinh cho trẻ theo chương trình tiêm chủng mở rộng và phối hợp với tiêm kháng thể kháng HBV cho trẻ Nên tiêm cùng thời điểm nhưng ở hai vị trí khác nhau Sau đó tiêm đầy đủ các liều vắc xin viêm gan vi rút B cho trẻ theo quy định của chương trình tiêm chủng mở rộng

- Nếu mẹ mang thai có HBV-ADN > 106 copies/ml (200.000 IU/mL): Dùng thuốc kháng vi rút (lamivudine hoặc tenofovir) từ 3 tháng cuối thai kỳ Xét nghiệm lại HBV-ADN sau sinh 3 tháng để quyết định ngừng thuốc hoặc tiếp tục điều trị nếu

mẹ đủ tiêu chuẩn điều trị Theo dõi sát người mẹ để phát hiện viêm gan bùng phát

c Phòng không đặc hiệu:

- Sàng lọc máu và chế phẩm máu

- Không dùng chung kim tiêm và các dụng cụ xuyên chích qua da khác

- Tình dục an toàn

- Tránh tiếp xúc với máu và các dịch tiết của bệnh nhân nhiễm HBV

- Thực hiện phòng ngừa chuẩn giống các bệnh lây truyền qua đường máu Trong các giải pháp trên, tiêm vacxin VGB là cách phòng bệnh chủ động và hiệu quả nhất, đặc biệt là trẻ em

1.3 Vacxin viêm gan B và tiêm vacxin viêm gan B sơ sinh

1.3.1 Vacxin viêm gan B

Virut VGB đã được phát hiện vào năm 1965 bởi tiến sĩ Baruch Blumberg Vacxin VGB được cho phép sử dụng vào năm 1981 tại Mỹ và việc tiêm phòng vacxin VGB thường kỳ cho mọi trẻ sơ sinh bắt đầu từ năm 1992 Vacxin này ngăn chặn hơn 95% các ca lây nhiễm [39] Thế hệ vacxin đầu tiên được điều chế từ huyết tương người và hiện tại được sản xuất bằng công nghệ tái tổ hợp [46]

Trang 16

Vacxin VGB là kháng nguyên bề mặt HbsAg được tách triết từ huyết tương người có HbsAg dương tính hoặc bằng công nghệ tái tổ hợp sản xuất trên tế bào nấm men hoặc tế bào động vật

Vacxin được sản xuất bằng công nghệ tái tổ hợp sử dụng kháng nguyên HBsAg tổng hợp từ nấm men hay tế bào động vật, không phải là virut VGB Vacxin VGB ở dạng đơn liều hoặc đa liều tùy thuộc vào nhà sản xuất Đối với trẻ em sử dụng vacxin VGB ở dạng đơn giá, dùng để tiêm VGB sơ sinh Bên cạnh đó vacxin VGB phối hợp với các loại vacxin khác thường là vacxin VGB đóng cùng với DPT hoặc đóng cùng với DPT-Hib hoặc VGB với IPV-DPT-Hib của các nhà sản xuất khác nhau đều có thể sử dụng để tiêm cho cùng một trẻ [19] Hiện nay, vacxin sử dụng trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng Quốc gia là vacxin đơn giá, do công

ty Vacxin và sinh phẩm số 1 Việt Nam sản xuất và phân phối

1.3.2 Sự cần thiết của tiêm vacxin viêm gan B sơ sinh

Theo khuyến cáo của WHO, ở các nước lưu hành VGB cao thì việc ưu tiên tiêm vacxin VGB liều sơ sinh trong 24 giờ đầu sau sinh là vấn đề quan trọng cần ưu tiên Trẻ sơ sinh có nguy cơ lây nhiễm khi sinh lên tới 90% nếu mẹ bị nhiễm VGB Nếu trẻ sơ sinh bị lây nhiễm virut VGB từ mẹ sẽ có nguy cơ trở thành bệnh mãn tính

là 90% và khoảng 25% trong số đó sẽ có nguy cơ bị ung thư gan và xơ gan [21]

Cho đến nay, chưa có thuốc đặc hiệu điều trị VGB Vì vậy tiêm vacxin là biện pháp dự phòng hiệu quả nhất Việc tiêm vacxin thực hiện càng sớm thì hiệu quả càng cao, với mũi tiêm trong 24 giờ có khả năng phòng được 85-90% các trường hợp lây truyền từ mẹ sang con Hiệu quả phòng ngừa sẽ giảm dần theo từng ngày từ 50-57%

và không đạt được nếu tiêm liều sơ sinh sau 7 ngày [19] Tiêm vacxin VGB sớm không chỉ có hiệu quả tốt trong phòng lây truyền từ mẹ sang con trong khi sinh mà còn giúp trẻ sơ sinh sớm được bảo vệ phòng lây truyền VGB từ các thành viên khác trong gia đình, người chăm sóc trẻ hoặc từ những trẻ khác qua tiếp xúc trực tiếp với vết xước, chảy máu Do đó, trẻ cần được tiêm vacxin VGB trong 24 giờ đầu sau sinh

Nếu không triển khai tiêm vacxin VGB trong vòng 24 giờ sau sinh thì hàng năm ước tính ở Việt nam có thêm khoảng 54.600 trẻ nhiễm virut VGB mãn tính Đây

sẽ là nguồn lây nhiễm trong cộng đồng và khoảng 20-30% số trẻ này (tương đương

Trang 17

11.000-16.000 trẻ) sẽ tiến triển thành xơ gan và ung thư gan sau đó Chi phí điều trị

sẽ rất tốn kém, trong khi đó giá thành chi cho 1 liều vacxin chỉ là 8.300 đồng [21] Hiện tại ở Việt Nam, tiêm VXVGBSS nằm trong chương trình tiêm chủng mở rộng,

tổ chức tiêm miễn phí cho trẻ

1.3.3 Lịch tiêm vacxin viêm gan B cho trẻ em và quy trình tiêm chủng của Việt Nam

Tuổi của trẻ Lịch tiêm chủng Loại vacxin có thể sử dụng

Trẻ sơ sinh Mũi sơ sinh, tiêm trong vòng

24 giờ đầu sau sinh

Vacxin VGB đơn giá

Trẻ đủ 2 tháng tuổi Trẻ đủ 2 tháng tuổi trở lên,

cách mũi số 1 tối thiểu 1 tháng

Vacxin phối hợp có thành phần VGB: DPT-VGB– Hib Trẻ đủ 3 tháng tuổi Cách mũi số 2 tối thiểu một

tháng

Vacxin phối hợp có thành phần VGB: DPT-VGB– Hib Trẻ đủ 4 tháng tuổi Cách mũi số 3 tối thiểu một

tháng

Vacxin phối hợp có thành phần VGB: DPT-VGB– Hib

1.3.4 Quy trình tiêm chủng

Quy trình tiêm chủng được áp dụng chung theo Nghị định số

104/2016/NĐ-CP của chính phủ Quy định về hoạt động tiêm chủng ban hành ngày 1/7/2016 [9]

Việc tiêm chủng phải thực hiện đầy đủ các bước sau:

a) Trước khi tiêm chủng: Khám sàng lọc, tư vấn cho đối tượng tiêm chủng Trường hợp đối tượng tiêm chủng là trẻ em thì việc tư vấn được thực hiện với cha,

mẹ hoặc người giám hộ của trẻ;

b) Trong khi tiêm chủng: Thực hiện tiêm chủng theo đúng chỉ định, bảo đảm

an toàn;

c) Sau khi tiêm chủng: Theo dõi người được tiêm chủng ít nhất 30 phút sau tiêm chủng và hướng dẫn gia đình hoặc đối tượng tiêm chủng để tiếp tục theo dõi ít nhất 24 giờ sau tiêm chủng

2 Khi đang triển khai tiêm chủng mà xảy ra tai biến nặng sau tiêm chủng, người đứng đầu cơ sở tiêm chủng có trách nhiệm:

Trang 18

a) Dừng ngay buổi tiêm chủng;

b) Xử trí cấp cứu, chẩn đoán nguyên nhân tai biến nặng sau tiêm chủng; trường hợp vượt quá khả năng thì phải chuyển người bị tai biến nặng sau tiêm chủng đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh gần nhất;

c) Thống kê đầy đủ thông tin liên quan đến trường hợp tai biến nặng theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế và báo cáo cho Sở Y tế trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm xảy ra tai biến

3 Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tiếp nhận trường hợp tai biến nặng sau tiêm chủng phải tiến hành cấp cứu, điều trị và báo cáo Sở Y tế trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm tiếp nhận người bị tai biến

4 Trường hợp xảy ra tai biến nặng sau tiêm chủng vắc xin ngoài Chương trình tiêm chủng mở rộng và tiêm chủng chống dịch, cơ sở nơi xảy ra tai biến nặng sau tiêm chủng có trách nhiệm báo cáo Sở Y tế nơi cơ sở đặt trụ sở theo quy định tại khoản 2 Điều này và thực hiện bồi thường theo quy định của pháp luật về dân sự nếu

có lỗi gây ra tai biến nặng sau tiêm chủng

1.3.5 Tổ chức thực hiện tiêm vacxin viêm gan B

Để thực hiện mục tiêu kiểm soát bệnh viêm gan thông qua tiêm chủng thường xuyên cho trẻ dưới một tuổi và VGB sơ sinh theo quy định tại thông tư số 26/2011/TT-BYT ngày 24/6/2011 của Bộ Y tế về việc ban hành danh mục bệnh truyền nhiễm, phạm vi và đối tượng phải sử dụng vacxin, sinh phẩm y tế bắt buộc,

Bộ Y tế ban hành Quyết định số 2620/QĐ-BYT về việc “Hướng dẫn triển khai tiêm vacxin VGB sơ sinh” cho các đơn vị có triển khai tiêm VGB trên toàn quốc [4], cụ thể như sau:

Đối tượng tiêm: Trẻ sơ sinh có các dấu hiệu sinh tồn bình thường như ổn định

nhịp thở, môi hồng, bú tốt

Thời gian tiêm: Trong vòng 24 giờ đầu sau sinh

Vacxin: Sử dụng vacxin VGB đơn giá đã được Bộ Y tế cho phép lưu hành Đường tiêm: Tiêm bắp vị trí 1/3 giữa mặt ngoài đùi

Trang 19

Liều tiêm: 01 mũi 0,5 ml (10mcg)

Bảo quản vacxin: Vacxin phải được bảo quản ở nhiệt đột từ 2-8oC trong tủ lạnh riêng hoặc phích vacxin Không được làm đông băng vacxin

Cơ sở vât chất nhân lực:

Bố trí phòng tiêm hoặc bàn tiêm vacxin riêng, nơi tiêm chủng đảm bảo đủ ấm cho trẻ, có dán áp phích quy định về tiêm chủng và “Quy trình tiêm vacxin VGB sơ sinh” theo quy định của Bộ Y tế Có nơi khám phân loại cho trẻ, tư vấn cho bà mẹ hoặc người nhà của trẻ

Có đủ dụng cụ tiêm chủng, hộp an toàn, hộp thuốc chống sốc, phác đồ chống sốc tại nơi tiêm

Có phân công cụ thể cán bộ phụ trách việc tiêm vacxin VGB cho trẻ sơ sinh Tối thiểu có hai NVYT đã được tập huấn về tiêm chủng tại mỗi điểm tiêm để có thể luân phiên thực hiện tiêm chủng vacxin cho trẻ sơ sinh

Đảm bảo an toàn tiêm chủng: Thực hiện tư vấn, kiểm tra sức khỏe, chỉ định,

tiêm và theo dõi sau tiêm, hướng dẫn người nhà của trẻ theo dõi phản ứng sau tiêm theo hướng dẫn trong Thông tư số 12/TT-BYT ngày 20/3/2014 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn quản lý và sử dụng vacxin trong tiêm chủng

Đối với khám sàng lọc trước tiêm: Thực hiện theo điều 10 thông tư

34/2018/TT-BYT ngày 16/11/2018 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 104/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định về hoạt động tiêm chủng

Và quyết định số 2310/2015/QĐ-BYT ngày 12/06/2015 Về việc ban hành hướng dẫn khám sàng lọc trước tiêm chủng đối với trẻ em

Các trường hợp chống chỉ định và hoãn tiêm:

Chống chỉ định tiêm đối với các trường hợp: Trẻ có tình trạng suy chức năng đối với các cơ quan (tim, gan, thận, hô hấp…); Trẻ suy giảm miễn dịch (nhiễm HIV, hoặc bệnh suy giảm miễn dịch bẩm sinh); Hoãn tiêm đối với trẻ mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính; trẻ sốt trên 37,5oC và hạ thân nhiệt dưới 35,5oC (đo nhiệt độ tại nách); Trẻ mới dùng các sản phẩm globulin miễn dịch; trẻ mới hoặc đang điều trị corticoid; Trẻ sơ sinh có cân nặng dưới 2000g Đối với những trẻ đẻ non, cân nặng thấp, đẻ

Trang 20

khó, mẹ bị sốt trước và sau khi sinh, nước ối bẩn, con bị ngạt, thai già tháng, trẻ dị tật cần được thăm khám cẩn thận để tránh các trường hợp trùng hợp ngẫu nhiên [5]

1.3.4 Các phản ứng phụ có thể gặp khi tiêm vacxin viêm gan B sơ sinh

Sau khi tiêm có thể có các phản ứng thông thường như đau tại chỗ tiêm là 3 – 9%, sốt trên 37,7 độ C là 0,4 đến 8% [19]

Sốc phản vệ là phản ứng hiếm gặp được ghi nhận với tỷ lệ ước tính là 1 trường hợp trên 600.000 đến 1.000.000 liều vacxin [19]

1.4 Một số yếu tố liên quan đến tiêm vacxin viêm gan B sơ sinh

1.4.1 Các chính sách và tổ chức triển khai tiêm vacxin viêm gan B sơ sinh

Chính sách là yếu tố quan trọng quyết định việc tiêm VGB sơ sinh ở trẻ Tại Cộng hoà Philippines, bệnh viện tích hợp với tiêm chủng vacxin VGB sơ sinh đã góp phần tăng tỷ lệ bao phủ tiêm VGB sơ sinh tại nước này [45] Nghiên cứu của O'Leary

ST và cộng sự (2012) tại Mỹ cũng tìm thấy các chính sách của địa phương liên quan đáng kể với độ bao phủ tiêm VXVGBSS ở địa phương có chính sách cao hơn 87% so với 38% không có chính sách (p < 0,001) [40]

Tiêm VGB sơ sinh cho trẻ là một trong những chủ trương của Bộ Y tế nhằm giảm tỷ lệ nhiễm virut VGB của trẻ em và trong cộng đồng Bộ Y tế cũng đã có nhiều các văn bản nhằm triển khai và tăng cường tiêm VGB sơ sinh: Công văn số 6550/BYT-DPMT ngày 24/9/2008 về việc tiêm vacxin VGB trong 24 giờ đầu sau sinh; Công văn số 424/VSDT-TCMR ngày 01/10/2008 về việc phối hợp triển khai tiêm vacxin VGB sơ sinh tại các bệnh viện; Năm 2012, sau khi có sự cố “03 trẻ tử vong” sau tiêm vacxin VGB sơ sinh, ngày 27/7/2012 Bộ Y tế đã ban hành Quyết định

số 2620/QĐ-BYT về việc ban hành “Hướng dẫn triển khai tiêm vacxin VGB sơ sinh”; Năm 2014 Bộ Y tế, Cục Y tế dự phòng đã ban hành Công văn 1559/BYT-DP ngày 01/4/2014 về việc tăng cường tiêm VGB sơ sinh và Quyết định số 2535/QĐ-BYT ngày 10/7/2014 về việc theo dõi, chăm sóc, xử trí sau tiêm

Trong Quyết định số 04/2014/QĐ – BYT về việc ban hành hướng dẫn khám sàng lọc trước tiêm, quy định hoãn tiêm với các trường hợp trẻ bị ốm, sốt, đang mắc các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính và chống chỉ định đối với các trường hợp có phản

Trang 21

ứng mạnh với những lần tiêm trước và theo hướng dẫn của nhà sản xuất [6] Đặc biệt đối với tiêm vacxin VGB sơ sinh Bộ Y tế cũng khuyến cáo: đối với trẻ đẻ non, cân nặng thấp, đẻ khó, mẹ bị sốt trước, sau khi sinh, nước ối bẩn, con bị ngạt, thai già tháng, trẻ dị tật cần được thăm khám cẩn thận trước khi tiêm VXVGBSS Hoãn tiêm đối với trẻ đang ốm, sốt, mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính [6]

1.4.2 Đảm bảo các quy định về tiêm vacxin viêm gan B sơ sinh

Số lượng và chất lượng của dây chuyền lạnh để bảo quản ảnh hưởng đến tính sẵn có của vacxin sử dụng cho các trẻ Tại một số địa phương không thể duy trì dây chuyền lạnh để bảo quản vacxin do vậy cũng ảnh hưởng đến việc tiêm vacxin cho trẻ Các nhân viên y tế và người nhà phải đi đến các cơ sở y tế tuyến trên để được tiêm liều vacxin sơ sinh Để nâng cao tỷ lệ tiêm chủng phòng VGB, biện pháp được đưa ra

là tăng cường tính sẵn có của vacxin tại các cơ sở y tế có dịch vụ sinh đẻ

Nghiên cứu của Dương Thị Hồng (2011) tại Hải Dương cũng đã cho thấy tiêm vacxin VGB tại các bệnh viện đảm bảo đủ các điều kiện về cơ sở vật chất phòng tiêm, cán bộ được tập huấn, tổ chức tiêm 2 lần/ngày (vào giờ hành chính), tiêm tất cả các ngày trong tuần, có cán bộ chuyên trách quản lý vacxin, tổ chức tuyên truyền cho NVYT, người nhà, cha mẹ của trẻ là những yếu tố làm tăng cường tỷ lệ tiêm VXVGBSS [14] Và nghiên cứu của Trần Thị Kiều Anh (2015) cũng chỉ ra một số yếu tố đó là: nơi tiêm, cách sinh, đánh giá về mức độ cần thiết phải tiêm vacxin VGB của bà mẹ, tư vấn của NVYT sau khi sinh, tổ chức tiêm 1 lần/ngày, không tổ chức tiêm vào ngày nghỉ, tâm lý lo ngại, e dè trong chỉ định tiêm [25]

1.4.3 Tiếp cận thông tin

Ngoài các yếu tố đã nêu trên, sự tiếp cận thông tin cũng được chứng minh là

có liên quan tới thực hành tiêm vacxin VGB sơ sinh cho trẻ

Theo nghiên cứu của Yuqing Zhou năm 2006 tại các vùng nông thôn của 4 tỉnh Quảng Tây, Quý Châu, Tây Tạng và Thiểm Tây - Trung Quốc về sự kịp thời của liều tiêm vacxin VGB sơ sinh, sự tiếp cận được thông tin trẻ cần tiêm vacxin VGB trong vòng 24 giờ đầu sau sinh của bố mẹ hoặc người chăm sóc trẻ đã được chỉ ra là yếu tố ảnh hưởng đến việc tiêm vacxin VGB sơ sinh cho trẻ [47]

Trang 22

Bên cạnh việc tiếp cận được với thông tin thông qua phương tiện truyền thông đại chúng, bà mẹ được NVYT tư vấn về tiêm chủng nói riêng và tư vấn về tiêm phòng vacxin VGB nói riêng rất quan trọng Nguyên nhân một số bậc cha mẹ không cho trẻ đi tiêm vacxin trong vòng 24 giờ sau sinh theo nghiên cứu của Li Wang là họ không được NVYT tư vấn về tiêm vacxin VGB trong 24 giờ đầu sau sinh [44]

Tác động của dư luận sau các vụ phản ứng/tai biến sau tiêm vacxin VGB cũng được cho là một trong những yếu tố rào cản làm giảm tỷ lệ tiêm vacxin VGB sơ sinh trong nghiên cứu của Ngô Văn Hiến và Nguyễn Cảnh Phú trên 417 trẻ dưới 1 tuổi năm 2009 tại huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh [16]

Việc xảy ra các trường hợp phản ứng sau tiêm và thông tin không rõ ràng về các trường hợp phản ứng sau tiêm chủng đã ảnh hưởng đến niềm tin và sự hưởng ứng của cộng đồng, gia đình trẻ lo ngại từ chối tiêm [13]

Hiện nay tại Việt Nam, công tác tuyên truyền về an toàn tiêm chủng và phản ứng sau tiêm chủng trong chương trình Tiêm chủng mở rộng chưa nhiều Bà mẹ và cộng đồng chưa hiểu biết đầy đủ về vấn đề này nên khi có một số tin đồn, thông tin trên báo chí thì tâm lí lo ngại, hậu quả là có một số nơi, trong khoảng thời gian nhất định, bà mẹ từ chối không cho trẻ đi tiêm chủng đầy đủ hoặc trì hoãn tiêm chủng Tuyên truyền chưa đủ mạnh để làm cho NVYT và nhân dân thấy rõ tác dụng, hiệu quả to lớn, ý nghĩa về sức khoẻ và xã hội của tiêm VXVGBSS < 24 giờ, dẫn đến huy động sự tham gia của cộng đồng còn hạn chế [13]

Đặc biệt là công tác tuyên truyền về sự trùng hợp ngẫu nhiên khi tiêm vacxin cho trẻ sơ sinh còn chưa được quan tâm và triển khai dễ dẫn đến đổ lỗi do tiêm VGB

sơ sinh [13]

Thiếu sự phối hợp truyền thông với chăm sóc sức khỏe sinh sản, tuyên truyền cho bà mẹ khi đi khám thai về sự cần thiết phải tiêm chủng sớm cho trẻ sơ sinh trong vòng 24 giờ đầu, góp phần nâng cao hiểu biết và sự chấp nhận của các bà mẹ và cộng đồng [13]

Ảnh hưởng của các phản ứng nặng sau tiêm vacxin VGB đến NVYT: Ngại tiêm vì sợ phản ứng sau tiêm chủng, sợ trách nhiệm, chỉ định tiêm chủng dè dặt hơn,

Trang 23

chống chỉ định quá rộng, không muốn làm công tác tiêm chủng NVYT không tự tin

về chỉ định tiêm VXVGBSS Họ cần có quy định có tính chất pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình nếu xảy ra phản ứng nghiêm trọng sau tiêm vacxin mặc dù đã thực hiện đầy đủ và đúng các bước trong Thông tư 12 của Bộ Y tế về sử dụng vacxin

cứu kiến thức, thực hành của NVYT về tiêm vắc xin viêm gan B cho trẻ sơ sinh

1.5.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Đã có một số nghiên cứu quốc tế tìm hiểu về vacxin VGB và tiêm vacxin VGB sơ sinh liên quan đến nhân viên y tế Các nghiên cứu và hướng dẫn hoạt động WHO cung cấp bằng chứng cho thấy kiến thức và thái độ của nhân viên y tế có thể là rào cản hay yếu tố hỗ trợ để cải thiện độ bao phủ của VXVGBSS [45]

Nghiên cứu của Downing tại New Guinean năm 2008 đã chỉ ra rằng hạn chế

về nhận thức của NVYT là rào cản đối với việc tiêm vacxin VGB Trong nghiên cứu này hầu hết NVYT đều nhận thức được nên tiêm VXVGBSS nhưng không hiểu một cách chính xác nguyên nhân vì sao phải tiêm Việc tiêm vacxin của trẻ bị trì hoãn bởi các vấn đề liên quan đến tình trạng sức khỏe của trẻ khi sinh ra, trẻ sinh nhẹ cân, sinh non, hoặc sinh từ cuộc chuyển dạ khó là những rào cản đối với việc tiêm vacxin VGB cho trẻ sơ sinh Hạn chế trong nghiên cứu chính là việc điều tra chỉ tiến hành trên 5 bệnh viện với số lượng khảo sát chỉ dừng ở 25 nhân viên ở mỗi bệnh viện [37]

Theo nghiên cứu của Rosangela Gaze và cộng sự năm 2006 tại Brazil cho thấy chỉ có 57,5% NVYT cho rằng bệnh VGB lây truyền qua đường máu, và vẫn có 6,4 cho rằng bệnh viêm gan virut không truyền qua đường máu, 8,9% NVYT không chắc chắn là các bệnh này có truyền qua đường máu hay không [49]

Trang 24

Trong kết quả nghiên cứu của Zhou Yi Hua tại Trung Quốc năm 2009 đã chỉ

ra rằng, đào tạo nâng cao nhận thức cho NVYT về tiêm phòng vacxin là một biện pháp có hiệu quả nhằm nâng cao tỷ lệ tiêm phòng VXVGBSS cho trẻ [48]

1.5.2 Các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, các nghiên cứu sau đây đề cập đến nhận thức, thái độ, thực hành của NVYT đối với vacxin VGB và tiêm vacxin VGB

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện nhằm xác định kiến thức, thái độ

và thực hành của NVYT làm công tác giám sát viêm gan virut B, viêm gan virut C tại tỉnh Thái Bình năm 2015 Kết quả cho thấy, trong số các NVYT tham gia công tác giám sát vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ (35,7%) không có kiến thức đầy đủ về bệnh viêm gan virut B và viêm gan virut C Đồng thời, có sự khác nhau đối với kiến thức chung về bệnh viêm gan virut B, viêm gan virut C giữa các nhóm NVYT Trong đó, nhóm cán bộ làm công tác dự phòng có tỷ lệ đúng cao nhất (74,5%), trong khi nhóm NVYT xã có tỷ lệ kiến thức đúng thấp nhất cả về kiến thức chung (61,8%) và kiến thức giám sát bệnh (52,3%) [34]

Kết quả cho thấy, đa số NVYT hiểu biết về số loại virut viêm gan (81,8% số NVYT biết trên 2 loại virut VGB, trong đó 100% đối tượng trực tiếp biết đến 2 loại virut viêm gan), các đường lây truyền virut VGB (trên 78,0%) và các biến chứng nguy hiểm của viêm gan virut B (trên 74%) Có 4,9% NVYT không biết hoặc biết 1 loại virut viêm gan Kiến thức về các đường lây truyền virut VGB: Tỷ lệ đối tượng biết về đường lây chính của HBV: tình dục (86,6%), máu và tiết tổn thương (88%)

Mẹ sang con qua nhau thai (78,1%) [17]

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Quân và cộng sự về hiểu biết và thái độ phòng chống lây nhiễm virut VGB được tiến hành với các NVYT đang công tác tại một số bệnh viên đa khoa tuyến thành phố, quận, huyện và được chia ra 2 nhóm: nhóm đối tượng tiếp xúc trực tiếp với người bệnh (gồm 463 người là NVYT ở các khoa lâm sàng, khám bệnh, xét nghiệm, giải phẫu bệnh); nhóm đối tượng tiếp xúc gián tiếp với người bệnh (206 người là các cán bộ làm việc tại phòng tài chính kế toán, tổ chức cán

bộ, hành chính quản trị, chẩn đoán hình ảnh…) [20] Nhóm tiếp xúc trực tiếp hiểu về

Trang 25

HbsAg, HbeAg và về test chẩn đoán virut VGB, cao hơn hẳn tỷ lệ hiểu biết của nhóm đối tượng tiếp xúc gián tiếp Tỷ lệ người lo lắng tới bệnh viêm gan virut B của nhóm

đã nhiễm là 100%; tỷ lệ nhóm người không biết lo lắng cao hơn nhóm chưa nhiễm (84,4% > 60,97%) và nhóm không biết đã nhiễm là 87/218 = 39,9% Nhận thức và thái độ thực hành về các biện pháp chuyên môn phòng tránh nhiễm virut VGB đúng quy định chiếm tỷ lệ trên 60%, riêng rửa tay sát khuẩn khi làm nhiệm vụ chuyên môn chiếm 89,9% Số cán bộ sử dụng dụng cụ y tế chưa vô khuẩn là 14,8% và không đeo găng tay khi làm nhiệm vụ chuyên môn là 31,7% Nhận thức và thái độ thực hành đúng về sử dụng bơm tiêm 1 lần là 89,4%; về huỷ bỏ chất thải, bệnh phẩm, kim tiêm

đã sử dụng là 83,6% Số đối tượng bị tai nạn nghề nghiệp như xước da, chảy máu là 68,9%, số đối tượng bị trên 2 lần chiếm tới 28,8% Hầu hết NVYT được tiếp cận với thông tin về viêm gan virut B với nhiều phương tiện truyền tin khác nhau, trong đó thông qua đào tạo chiếm 72,2% Nghiên cứu này cũng đề xuất giải pháp: Cơ quan quản lý y tế cần tổ chức đào tạo chuyên môn về virut VGB và tiêm phòng lây nhiễm viêm cho NVYT nhằm quản lý bệnh tật của cán bộ Những NVYT có HbsAg (+) cần được điều trị sớm và tích cực

Hầu hết (93%) NVYT đều trả lời đúng nguyên nhân gây bệnh VGB, trong số 7% trả lời sai, có 3% cho rằng bệnh VGB do một loại virut nào đó, 0,4% do nấm; 0,4% trả lời do vi khuẩn và 3% trả lời không biết Khi được hỏi về đường lây truyền VGB, 100% NVYT đều trả lời lây truyền qua đường máu; 71,6% trả lời lây truyền qua quan hệ tình dục, 67,7% trả lời lây truyền từ mẹ sang con Vẫn còn hơn 10% NVYT trả lời VGB lây truyền qua đường hô hấp và tiêu hóa và gần 50% NVYT không trả lời được VGB có thể lây truyền qua niêm mạc và da bị trầy xước tiếp xúc với máu hay dịch thể của bệnh nhân VGB Khi được hỏi về hậu quả của bệnh VGB, hầu hết các NVYT đều biết VGB có thể dẫn tới viêm gan mạn tính (97,4%); chỉ có hơn ¼ số NVYT được trả lời VGB có thể dẫn tới tử vong và có một số lượng ít (1,3%) trả lời VGB không có ảnh hưởng gì nghiêm trọng tới sức khỏe [18]

Đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ tiêm vacxin VGB sơ sinh, sự phối hợp giữa cán bộ tiêm chủng và nữ hộ sinh, nhận thức của gia đình trẻ về vacxin VGB

là các yếu tố được Murakami H và cộng sự thực hiện tại Việt Nam năm 2008 chứng

Trang 26

minh là có liên quan tới tiêm vacxin VGB kịp thời trong vòng 24 giờ sau sinh Nghiên cứu được tiến hành tại 4 tỉnh ở Việt Nam với đối tượng là các bà mẹ vừa mới sinh và nhân viên y tế cộng đồng [38]

Rà soát các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy rất ít nghiên cứu về thực hành của cán bộ nhân viên y tế đối với vacxin VGB và tiêm vacxin VGB, các nghiên cứu về yếu tố liên quan như giới tính, tuổi, học vấn, kiến thức… tác động như thế nào đến thực hành của NVYT trong tư vấn, thực hành tiêm vacxin cũng chưa thấy đề cập nhiều Đây được xem là những lỗ hổng trong nghiên cứu về chủ đề này để các nghiên cứu khai thác, tìm hiểu

1.6 Khung lý thuyết

Kiến thức

- Kiến thức về bệnh và virut viêm gan B:

nguyên nhân, hậu quả, đường lây, đối

-Tập huấn về tư vấn, truyền thông, thực hành tiêm chủng, theo dõi và chăm sóc sau tiêm

- Cơ sở vật chất

Thực hành

- Truyền thông, tư vấn tiêm vacxin viêm

gan B: đối tượng, nội dung tư vấn, thời

điểm tư vấn

- Tiêm phòng vacxin viêm gan B: thời

điểm, cách tiêm, theo dõi sau tiêm, ghi

chép lưu giữ

Trang 27

1.7 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu

Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình thuộc đồng bằng sông Hồng; phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Đông là biển Đông với đường bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và sông Thái Bình Diện tích tự nhiên là 1.507,57 km2, tính đến tháng 12/2016, dân số Hải Phòng là 1,963 triệu người trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%, là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam, sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Hải Phòng là thành phố trực thuộc Trung ương - là đô thị loại 1 cấp quốc gia gồm 7 quận (Ngô Quyền, Hồng Bàng, Lê Chân, Dương Kinh, Đồ Sơn, Kiến An và Hải An), 6 huyện ngoại thành (Thuỷ Nguyên, Hải An, An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo) và 2 huyện đảo (Cát Hải, Bạch Long Vĩ) với 223 xã, phường và thị trấn [22]

Hải Phòng từ lâu đã nổi tiếng là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, một đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt, hàng không trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc; là đầu mối giao thông quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc Chính vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội vùng châu thổ sông Hồng, Hải Phòng được xác định là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế động lực phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh); là Trung tâm kinh tế - khoa học - kĩ thuật tổng hợp của Vùng duyên hải Bắc Bộ và là một trong những trung tâm phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước [22]

Về y tế, công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ, 100% trạm y

tế xã có bác sỹ làm việc, 100% xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế, trên địa bàn không có dịch bệnh xảy ra, không có tai biến trong điều trị, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chương trình y tế quốc gia Về chương trình tiêm chủng mở rộng, ngoài Trung tâm Y tế Dự phòng thành phố có 2 phòng tiêm chủng dịch vụ, các trung tâm y

tế quận, huyện và 225 trạm y tế xã, phường đều có Phòng tiêm dịch vụ Từ năm

2014, một số đơn vị y tế ngoài công lập cũng tham gia tiêm vacxin dịch vụ, là: Bệnh

Trang 28

viện Phụ sản Tâm Phúc; Bệnh viện đa khoa Quốc tế; Bệnh viện đa khoa Green; Phòng khám An Lành Với nền kinh tế phát triển và mạng lưới y tế bao phủ rộng khắp, việc chăm sóc sức khỏe cho người dân được chú trọng và nâng cao tuy nhiên tỷ

lệ tiêm vacxin VGB sơ sinh của Hải Phòng có tỷ lệ thấp là 42,7% năm 2016 [12]

Trang 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhân viên y tế tại một số bệnh viện thuộc Hải Phòng là người trực tiếp cung cấp dịch vụ tiêm chủng cho trẻ và dịch vụ sinh đẻ cho mẹ (bao gồm tư vấn tiêm vacxin VGBSS cho các bà mẹ trong thời kỳ mang thai, trước và sau khi sinh) để tìm hiểu thông tin về kiến thức cũng như tính sẵn có, tiếp cận và tư vấn của dịch vụ tiêm chủng với cộng đồng tại cơ sở

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Là NVYT đang công tác tại cơ sở y tế địa phương

- Là người trực tiếp tham gia công tác tiêm chủng (khám, chỉ định, tư vấn tiêm chủng)

- Sinh sống tai địa bàn nghiên cứu

- Sẵn sàng tham gia vào nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

- NVYT không công tác tại cơ sở y tế được chọn làm điểm nghiên cứu

- NVYT không trực tiếp tham gia công tác tiêm chủng

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: 12/2017 – 2/2019 Thời gian thu thập số liệu: 4/2018 – 5/2018

- Địa điểm: 08 bệnh viện ở Hải Phòng

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng + định tính

2.4 Cỡ mẫu

- Cỡ mẫu định lượng:

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu như sau:

Trong đó:

Trang 30

+ n: tỷ lệ NVYT đạt kiến thức và thực hành về tiêm vắc xin viêm gan B sơ sinh

+ p: là tỷ lệ ước tính về kiến thức, thực hành của NVYT về tiêm VXVGBSS, p= 0,5 (cỡ mẫu lớn nhất)

+ Z = 1.96 ứng với độ tin cậy 95% thì z =1,96

+ α: là mức ý nghĩa thống kê, lấy α = 5%

+ d = 0,1

Thay vào công thức ta tính được n = 96

Cỡ mẫu thực tế triển khai là 101 nhân viên y tế tại các bệnh các bệnh viện ở Hải Phòng, cụ thể như sau: (1) Bệnh viện sản nhi Hải Phòng (32 nhân viên y tế); (2) Bệnh viện An Lão (6 NVYT); (3) Bệnh viện An Dương (10 NVYT); (4) Bệnh viện Kiên An (5 NVYT); (5) Bệnh viện Kiến Thụy (10 NVYT); (6) Bệnh viện Tiên Lãng: (10 NVYT); (7) Bệnh viện Vĩnh Bảo: (15 NVYT); (8) Bệnh viện Thủy Nguyên (13 NVYT)

- Cỡ mẫu định tính: thực hiện 2 cuộc phỏng vấn sâu NVYT chuyên trách tiêm

chủng thuộc bệnh viên đa khoa Kiến Thụy và bệnh viện Thủy Nguyên

2.5 Phương pháp chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu định lượng: mẫu được lựa chọn theo phương pháp thuận tiện, chọn 8/18 bệnh viện do trung tâm y tế dự phòng quản lý bầng cách bốc thăm ngẫu nhiên, mẫu lựa chọn đảm bảo đáp ứng tiêu chí đưa vào và loại ra

Phương pháp chọn mẫu định tính: Chọn có chủ đích 2 NVYT chuyên trách tiêm chủng

2.6 Phương pháp thu thập thông tin

Sử dụng bảng hỏi anket: Dựa trên các Hướng dẫn của Bộ Y tế, chương trình Tiêm chủng mở rộng, tham khảo bộ công cụ của “Đánh giá nhanh thực trạng tiêm vắc xin Viêm gan B tại Việt Nam năm 2017” do nhóm nghiên cứu Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng mà học viên được tham gia

Trang 31

Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu với 2 NVYT nhằm tìm hiểu sâu hơn về nguyên nhân, các yếu tố tác động đến thực trạng kiến thực, thực hành của NVYT

2.7 Các biến số nghiên cứu

- Nhóm biến số về kiến thức

Kiến thức của NVYT về bệnh VGB: tỷ lệ mắc, khả năng lây truyền, đường

lây, khả năng điều trị, hậu quả của bệnh, biện pháp ngăn ngừa

Kiến thức của NVYT về tiêm phòng VXVGBSS: kiến thức về đối tượng tiêm,

lí do phải tiêm vacxin VGB trong 24h, thời điểm tiêm, nơi tiêm, số lần tiêm, tư vấn tiêm, các trường hợp hoãn tiêm, đường tiêm, vị trí tiêm, theo dõi sau tiêm, phản ứng phụ có thể gặp sau tiêm và các nguyên tắc xử lý

VGB và tối thiểu 30 điểm tổng của kiến thức (Cách tính điểm chi tiết cho từng nội dung kiến thức cụ thể xem ở phụ lục 2)

Trang 32

Phần thực hành về tiêm VXVGBSS, mỗi lựa chọn đúng được tính 1 điểm Tổng điểm phần thực hành về tư vấn truyền thông là 12 điểm và tổng điểm thực hành

về tiêm vacxin là 17 điểm Tổng điểm thực hành chung là 29 điểm Đối tượng nghiên cứu dưới 9 điểm đối với thực hành về tư vấn truyền thông và dưới 13 điểm thực hành

về tiêm vacxin VGB; và tổng điểm thực hành chung trên 22 điểm được đánh giá là

đạt (Cách tính điểm chi tiết cho từng nội dung thực hành cụ thể xem ở phụ lục 2)

2.9 Phương pháp phân tích số liệu

Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 Rút ngẫu nhiên 10% phiếu để kiểm tra tính chính xác của số liệu Số liệu được làm sạch trước khi đưa vào phân tích Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16

-Sử dụng thống kê mô tả: tần số và tỷ lệ %, trung bình và độ lệch chuẩn

-Sử dụng thống kê suy luận để tìm hiểu các yếu tố liên quan bằng các kiểm định Chi-square và đánh giá yếu tố nguy cơ (tỷ suất chênh OR)

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

- Nghiên cứu được sự chấp thuận sử dụng số liệu của chủ nhiệm đề tài “Đánh giá nhanh thực trạng triển khai tiêm VXVGBSS tại Việt Nam năm 2017”

- Nghiên cứu tuân theo các quy tắc đạo đức nghiên cứu của Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng số 193/2018/YTCC-HD3

- Bộ câu hỏi không có các vấn đề nhạy cảm riêng tư nên không ảnh hưởng đến tâm lí và sức khỏe của đối tượng đích Những đối tượng tham gia vào nghiên cứu đảm bảo hoàn toàn tự nguyện, không có tác động từ bên ngoài hay bất kỳ sự ép buộc nào từ phía nhóm nghiên cứu

-Trước khi trả lời, tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung của nghiên cứu qua “Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu” và có sự chấp thuận tham gia, trường hợp không muốn tham gia nghiên cứu có thể từ chối

-Mọi thông tin của đối tượng đều được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu Tất cả các thông tin chỉ có người nghiên cứu mới được phép tiếp

Trang 33

cận Đối tượng nghiên cứu có thể rút khỏi nghiên cứu giữa chừng mà không có sự ràng buộc nào

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm NVYT (N=…) Tỷ lệ (%) Tuổi

Trang 35

40,6% Trong nhóm tham gia nghiên cứu, phần lớn có chức danh nghề nghiệp là nữ

hộ sinh (chiếm 68,3%), tiếp đến là Bác sĩ (19,8%), số lượng y sĩ và điều dưỡng tham gia nghiên cứu không đáng kể Số NVYT có hơn 10 năm kinh nghiệm là 46 người, số còn lại (55 người) dưới 10 năm kinh nghiệm; tính tổng thể, trung bình NVYT có 11,8 năm kinh nghiệm, thấp nhất là 1 năm, cao nhất 36 năm Đa phần (58,4%) NVYT tham gia nghiên cứu có trình độ trung cấp, 4,0% cao đẳng, 31,7% có trình độ đại học

và 5.9% có trình độ sau đại học

3.2 Kiến thức của nhân viên y tế về tiêm vacxin cho trẻ sơ sinh

3.2.1 Kiến thức về virut viêm gan B

Bảng 3.2 Kiến thức về tình trạng nhiễm viêm gan B và bệnh viêm gan B

Nội dung Câu trả lời

- Đối tượng dễ mắc virut VGB Trẻ sơ sinh 34 33,7 67 66,3

- Hậu quả của VGB mãn tính Tất cả phương

- Kiến thức về đường lây

truyền VGB

Quan hệ tình dục không an toàn với người

bị nhiễm vi rút VGB mạn tính

- Kiến thức về biện pháp không

ngăn ngừa lây truyền virut

VGB

Tránh dùng chung đ ăn,

đ đạc cùng với người bị nhiễm

Trang 36

Trong những nội dung về VGB được liệt kê để tìm hiểu kiến thức của NVYT hầu hết các NVYT đều biết về đường lây truyền của virut (đạt từ 92,1% đến 97%), hậu quả của VGB mãn tính (91,1%), kiến thức về biện pháp chính không ngăn ngừa lây truyền virut VGB (91,1%), đường lây virrut VGB mãn tính (85,1%) Tuy nhiên còn một số kiến thức mà tỷ lệ NVYT hiểu biết còn thấp như tỷ lệ nhiễm VGB ở Việt Nam (65,3%) và đối tượng khi bị nhiễm virut VGB dễ mắc VGB mãn tính (66,3%)

3.2.2 Kiến thức về tiêm vacxin viêm gan B sơ sinh

Bảng 3.3 Kiến thức về tiêm vacxin viêm gan B sơ sinh

vi rút VGB mạn tính

- Lí do phải tiêm vacxin VGB

trong vòng 24 giờ sau sinh

Phòng lây truyền virut VGB từ mẹ sang con

Phòng lây truyền từ người thân trong quá trình chăm sóc trẻ

Sớm phòng bệnh

- Trẻ không cần thiết tiêm vacxin

- Tiêm vacxin VGB sơ sinh cố

định 1 lần trong ngày đảm bảo 24

giờ đầu sau sinh

Không

- Có nên tư vấn cho bà mẹ/người

chăm sóc trẻ trước khi tiêm

Trang 37

Nhân viên y tế có kiến thức tương đối cao về các nội dung: đối tượng cần tiêm phòng vacxin VGB, thời điểm tiêm, việc cần thiết tư vấn cho bà mẹ/người chăm sóc trẻ trước khi tiêm, vị trí tiêm, phản ứng phụ sau tiêm Các nội dụng này đều có tỷ lệ NVYT trả lời đúng trên 95%

Đối tượng cần tiêm

Các phản ứng trẻ có thể gặp phải sau khi tiêm và cách xử trí

Theo dõi và chăm sóc trẻ sau tiêm vacxin VGB sơ sinh

- Các trường hợp nên hoãn tiêm

vacxin VGB sơ sinh

- Thời gian theo dõi sau khi tiêm

vacxin VGB cho trẻ tại cơ sở y tế

vacxin VGB sơ sinh

- Nguyên tắc xử trí khi trẻ gặp

phải phản ứng sau tiêm chủng

Theo dõi và chăm

Nghỉ ngơi, nâng cao thể trạng, điều trị các triệu chứng theo chỉ định của NVYT

Khẩn trương tiến hành cấp cứu, chẩn đoán nguyên nhân,

xử trí và điều trị tại

cơ sở y tế đối với các phản ứng nặng

Trang 38

Các NVYT nhận biết được các đối tượng cần được tiêm vacxin VGB trong đó

có trẻ sơ sinh là 97% và thời điểm tiêm cần thiết tiêm vacxin VGB sơ sinh là trong vòng 24 giờ đầu sau sinh với tỉ lệ tương tự 97% Tuy nhiên, có khoảng 1/4 NVYT cho rằng đối tượng trẻ sinh ra từ mẹ không mắc bệnh VGB cần thiết tiêm VXVGBSS với tỉ lệ 27,7%

Các NVYT biết thời điểm tiêm vacxin VGB sơ sinh tốt nhất là 24 giờ đầu sau sinh đạt 97% và hiệu quả khi tiêm vacxin từ ngày 2-7 sau sinh chỉ đạt hiệu quả phòng bệnh 50- 60% là 74,3%

Hầu hết (91,1%) NVYT biết tiêm 2 lần trở lên có thể đảm bảo tiêm đủ vacxin VGB trong vòng 24 giờ sau sinh Có 100% NVYT cho biết nên tư vấn cho bà mẹ/người chăm sóc trẻ trước khi tiêm vacxin VGB nhưng tỷ lệ NVYT đưa ra đầy đủ các nội dung cần tư vấn chỉ đạt 42,6% Sự nguy hiểm, tính lây lan của virut VGB, những phản ứng phụ sau khi tiêm tiêm và cách theo dõi là những nội dung có số lượng NVYT trả lời cao Các nội dung được NVYT cho rằng ít cần thiết tư vấn cho

bà mẹ/người chăm sóc trẻ là vacxin VGB và đối tượng cần tiêm vacxin VGB (tỷ lệ tương ứng là 46,5% và 50,5%)

Biểu đồ 3.1 Các nội dung tư vấn trước khi tiêm của nhân viên y tế

Trang 39

Đối với các trường hợp trẻ cần hoãn tiêm, chỉ có 20,8% NVYT nhận biết đầy

đủ các trường hợp cần hoãn tiêm vacxin cho trẻ Tuy nhiên trường hợp trẻ đẻ mổ có 26.7% NVYT cho rằng là trường hợp cần được hoãn tiêm VXVGBSS trong khi trẻ

đẻ mổ khỏe mạnh, đủ điều kiện tiêm chủng thì vẫn được tiêm VXVGBSS sớm nhất

có thể như trẻ đẻ thường

Biểu đồ 3.2 Các trường hợp trẻ nên hoãn tiêm

Về đường tiêm và vị trí tiêm, có nhiều NVYT nhận biết không đúng về đường tiêm vacxin VGB, NVYT nhân biết đúng là 58,4%; hầu hết các NVYT nhận biết đúng về vị trí tiêm vacxin (96%)

Các NVYT biết thời gian trẻ cần được theo dõi tại cơ sở y tế sau khi tiêm vacxin ít nhất là 30 phút đạt 94,1% và 98.0% NVYT nhận định sau tiêm VXVGBSS trẻ có thể gặp các phản ứng phụ

Có 98% NVYT cho rằng sau tiêm vacxin VGB trẻ có thể gặp các phản ứng sau tiêm nhưng chỉ có 65,3% NVYT có hiểu biết về các cách xử trí khi trẻ gặp phản ứng phụ đúng nguyên tắc xử trí phản ứng sau tiêm Trong đó, nguyên tắc “khẩn trương tiến hành cấp cứu, chẩn đoán nguyên nhân, xử trí và điều trị tại cơ sở y tế đối với các phản ứng nặng” được NVYT đề cập với tỉ lệ cao nhất (97,0%)

Bảng 3.4 Phân bổ tỉ lệ trả lời đạt kiến thức về tiêm vacxin viêm gan B theo

chức danh của nhân viên y tế

Trang 40

Nội dung kiến thức

Phòng lây truyền từ người

thân trong quá trình chăm

sóc trẻ

Không đạt

5,0

0 39,1 0 Đạt 95,0 100,0 60,9 100,0

Sớm phòng bệnh VGB cho

trẻ

Đạt 100,0 100,0 88,4 100,0 Thời điểm tiêm vacxin

VGB sơ sinh tốt nhất

Không đạt 0 0 4,3 0 Đạt 100,0 100,0 95,7 100,0

Số lần nên tổ chức tiêm

vacxin VGB trong ngày

Không đạt 10,0 0 10,1 0 Đạt 90,0 100,0 89,9 100,0 Các trường hợp nên hoãn

tiêm vacxin VGB sơ sinh

Trẻ bị dị tật

Không đạt 20,0 0 17,4 0 Đạt 80,0 100,0 82,6 100,0 Đường tiêm vacxin VGB sơ

sinh cho trẻ

Không đạt 35,0 100,0 34,8 87,5 Đạt 65,0 0 65,2 12,5 Sau tiêm vacxin VGB sơ

sinh, trẻ có thể gặp các

phản ứng phụ

Không đạt 0 0 2,9 0

Đạt 100,0 100,0 97,1 100,0 Các phản ứng phụ sau tiêm

vacxin VGB sơ sinh

Đau tại chỗ tiêm Không đạt 5,0 0 20,9 0

Đạt 95,0 100,0 79,1 100,0

Sốt

Không đạt 5,0 0 10,4 0 Đạt 95,0 100,0 89,6 100,0

Sốc phản vệ

Không đạt 15,0 0 4,5 0 Đạt 85,0 100.0 95,5 100,0

Ngày đăng: 31/01/2021, 12:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w