1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sâu răng và một số yếu tố liên quan ở học sinh lớp 5 tại thị trấn cái bè, huyện cái bè, tỉnh tiền giang năm 2018

99 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 4,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, nghiên cứu này được tiến hành nhằm 1 xác định tình trạng sâu răng, 2 mô tả kiến thức thực hành về phòng chống sâu răng, đồng thời 3 xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạn

Trang 1

NGUYỄN TOÀN THẮNG

SÂU RĂNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở HỌC SINH LỚP 5 TẠI THỊ TRẤN CÁI BÈ, HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN

GIANG NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGHÀNH ĐÀO TẠO: 60.72.03.01

HÀ NỘI 2018

Trang 2

NGUYỄN TOÀN THẮNG

SÂU RĂNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở HỌC SINH LỚP 5 TẠI THỊ TRẤN CÁI BÈ, HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN

GIANG NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGHÀNH ĐÀO TẠO: 60.72.03.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS.BS NGUYỄN TUYẾT XƯƠNG

HÀ NỘI 2018

Trang 3

Cô giáo, các anh chị đồng nghiệp và gia đình Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành đến:

Các Thầy, Cô giáo Trường Đại học Y tế công cộng đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn TS BS Nguyễn Tuyết Xương, Bệnh viện Nhi Trung ương và ThS Nguyễn Thị Nga, Giảng viên Trường Đại học Y tế công cộng

đã dành nhiều công sức và thời gian quý báu của mình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời cám ơn tới Ban giám đốc, các đồng nghiệp tại Trung tâm Y

tế huyện Cái Bè, Phòng Giáo dục huyện Cái Bè,Trạm Y tế thị trấn Cái Bè, trường tiểu học thị trấn Cái Bè, đã tạo điều kiện tốt nhất, giúp đỡ và phối hợp chặt chẽ với tôi trong thời gian nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè thân thiết đã luôn động viên, khuyến khích tôi trong quá trình học tâp và hoàn thành luận văn

Hà Nội, tháng 10 năm 2018 Học viên

Nguyễn Toàn Thắng

Trang 4

MỤC LỤC

Mục lục i

Danh mục những chữ viết tắt iv

Danh mục các bảng biểu v

Danh mục các biểu đồ vi

Tóm tắt nghiên cứu vii

Đặt vấn đề 1

Mục tiêu nghiên cứu 3

Chương 1: Tổng quan tài liệu 4

1.1 Một số khái niệm về răng và sâu răng 4

1.2 Thực trạng sâu răng ở học sinh 6

1.2.1 Thực trạng sâu răng ở trẻ em trên thế giới 6

1.2.2 Thực trạng sâu răng ở học sinh Việt Nam 7

1.3 Tổng quan kiến thức thực hành phòng chống sâu răng ở học sinh 8

1.4 Tổng quan các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng sâu răng ở học sinh 10

1.4.1 Yếu tố cá nhân của học sinh 10

1.4.2 Kiến thức thực hành phòng chống sâu răng ở học sinh 11

1.4.3 Thực hành phòng chống sâu răng cho con của cha mẹ học sinh 12

1.4.4 Yếu tố thuộc về trường học 12

1.5 Công tác nha học đường ở trường tiểu học thị trấn Cái Bè 13

1.6 Khung lý thuyết 15

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16

2.3 Thiết kế nghiên cứu 16

2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu và phương pháp chọn mẫu 16

Trang 5

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 17

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 17

2.5.2 Qui trình thu thập số liệu 18

2.5.3 Điều tra viên và giám sát viên 20

2.6 Các biến số nghiên cứu 20

2.7 Các tiêu chuẩn đánh giá 20

2.7.1 Sâu răng 20

2.7.2 Chỉ số sâu mất trám 21

2.7.3 Phương pháp đánh giá kiến thức 21

2.8 Phương pháp phân tích số liệu 22

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 22

Chương 3: Kết quả nghiên cứu 24

3.1 Thông tin về học sinh 24

3.2 Thực trạng sâu răng của học sinh 24

3.3 Kiến thức, thực hành phòng chống sâu răng của học sinh 26

3.3.1 Kiến thức PCSR sâu răng ở học sinh 26

3.3.2 Thực hành phòng chống sâu răng cũa học sinh 29

3.4 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng sâu răng của học sinh 32

Chương 4: Bàn luận 39

Chương 5: Kết luận 55

Chương 6: Khuyến nghị 56

Trang 6

Tài liệu tham khảo 57

Phụ lục 1: Các biến số nghiên cứu 61

Phụ lục 2: Phiếu khám răng cho học sinh 66

Phụ lục 3: Phiếu phát vấn học sinh 67

Phụ lục 4: Bảng kiểm quan sát học sinh chải răng 71

Phụ lục 5: Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu 72

Phụ lục 6: Bảng chấm điểm đánh giá 74

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Mức độ trầm trong của sâu răng (theoWHO) 5

Bảng 2.1: Mã số qui ước (theo WHO) đánh giá tình trạng răng 21

Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng tham gia nghiên cứu 24

Bảng 3.2 Thực trạng sâu răng của học sinh 24

Bảng 3.3: Chỉ số SMT 26

Bảng 3.4: Kiến thức chung về sâu răng 26

Bảng 3.5 Kiến thức về PCSR của học sinh 27

Bảng 3.6 : Thực hành PCSR của học sinh 29

Bảng 3.7 Quan sát kỹ năng chải răng của học sinh 30

Bảng 3.8 Tỷ lệ học sinh đạt thực hành PCSR 31

Bảng 3.9 Mối liên quan với yếu tố cá nhân cửa học sinh 32

Bảng 310 Mối liên quan với kiến thức PCSR của học sinh 33

Bảng 3.11 Mối liên quan với thực hành PCSR của học sinh 33

Bảng 3.12 Thực hành PCSR của cha mẹ học sinh 34

Bảng 3.13 Mối liên quan với thực hành PCSR của cha mẹ học sinh 36

Bảng 3.14 Các yếu tố từ trường học 37

Bảng 3.15 Mối liên quan với các yếu tố thuộc về trường học 37

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ sâu răng theo giới tính 25

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ sâu răng theo khu vực sinh sống 25

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ học sinh đạt điểm kiến thức PCSR 29

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ học sinh đạt điểm thực hành PCSR 31

Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ cha mẹ học sinh đạt điểm thực hành PCSR 36

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, rất quan tâm đến công tác phòng chống sâu răng ở học sinh, đặc biệt là học sinh cấp tiểu học Huyện Cái Bè và nhiều địa phương khác trong cả nước bắt đầu triển khai chương trình nha học đường từ năm 1988 Qua nhiều năm thực hiện chương trình, nhưng hiện nay tỷ lệ sâu răng vẫn chưa thực sự giảm nhiều, nhất là ở các em trong độ tuổi vừa kết thúc quá trình chuyển tiếp từ hệ răng sữa sang răng vĩnh viễn (11- 13 tuổi)

Do đó, nghiên cứu này được tiến hành nhằm (1) xác định tình trạng sâu răng,

(2) mô tả kiến thức thực hành về phòng chống sâu răng, đồng thời (3) xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng sâu răng ở học sinh lớp 5 tại thị trấn Cái

Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang năm 2018

Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành thông qua khám lâm sàng, quan sát học sinh chải răng và phát vấn 379 học sinh khối lớp 5 đang học tại trường tiểu học trong thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 03 đến tháng 05 năm 2018 Số liệu được nhập bằng phần mềm EpiData và được phân tích bằng phần mềm SPSS

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ học sinh sâu răng là 44,1% Chỉ số sâu trám của học sinh là 0,828, trong đó ở nam là 0,941; ở nữ là 0,781 Tỷ lệ học sinh

mất-có kiến thức phòng chống sâu răng (PCSR) đạt chiếm 60,9%, thực hành PCSR đạt chiếm 64,1%

Xác định được 5 yếu tố có mối liên quan đến tình trạng sâu răng của các em (có

ý nghĩa thống kê): Kiến thức phòng chống sâu răng (PCSR), thực hành PCSR, kỹ năng chải răng, thói quen ăn thường xuyên ăn ngọt, thức ăn vặt của các em học sinh

và thực hành PCSR cho con của cha mẹ học sinh

Nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị tập trung vào việc phòng ngừa và điều trị sâu răng cho các em, nâng cao kiến thức và thực hành PCSR cho học sinh chủ yếu

là truyền thông giáo dục trong nhà trường và tại gia đình Thông qua hiểu biết đúng thực hành PCSR cho con của cha mẹ học sinh, giúp các em nâng cao kỹ năng thực hành tốt trong việc chăm sóc sức khỏe răng miệng

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sâu răng là tình trạng tổn thương răng rất phổ biến ở nước ta cũng như nhiều nơi trên thế giới, lứa tuổi nào cũng có, hay gặp nhất là ở các em học sinh tiểu học Sâu răng có thể xuất hiện rất sớm ngay sau mới mọc răng, nó gây đau đớn cho cơ thể, đồng thời cũng ảnh hưởng tới tinh thần và thể chất của các em Nếu không điều trị kịp thời, tiến triển sâu răng sẽ ngày một trầm trọng, làm gãy vỡ, thậm chí là mất luôn chiếc răng Tình trạng này kéo dài, sức nhai sẽ giảm, tiêu hóa kém sẽ ảnh hưởng dần đến sức khỏe toàn thân Ngoài ra, sâu răng còn là nguyên nhân của một

số bệnh nội khoa nguy hiểm như viêm nội tâm mạc, viêm vi cầu thận, viêm tĩnh mạch xoang hang, viêm đa khớp [8] Điều trị sâu răng mất rất nhiều thời gian, nhưng nếu không phát hiện và điều trị sớm, đến khi răng gãy vỡ, mất răng thì kinh phí để điều trị, phục hồi răng sẽ tăng lên gấp nhiều lần, rất là tốn kém

Sâu răng đặc biệt phổ biến ở học sinh tiểu học, nhất là học sinh lớp 5 (các em đang ở lứa tuổi 11- 12), lúc này các em vừa kết thúc giai đoạn chuyển đổi từ hệ răng sữa sang răng vĩnh viễn, hình dạng khung hàm, cấu trúc răng có nhiều thay đổi Trong khi đó, ở độ tuổi này các em bắt đầu gia tăng những hoạt động, giao tiếp ăn uống ở bên ngoài gia đình, giới hạn sự theo dõi chăm sóc thường xuyên từ cha mẹ Trong giai đoạn này, nếu thực hành chăm sóc răng miệng của các em không tốt thì sâu răng sẽ có cơ hội hình thành và phát triển Một số nghiên cứu về sâu răng cũng cho thấy tỷ lệ sâu răng ở lứa tuổi này rất cao, như nghiên cứu của Ma Thanh Quế năm 2009, trên học sinh lớp 5 tại thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang cho thấy

tỷ lệ sâu răng là 62,5%, nghiên cứu của Trần Tấn Tài năm 2016, tiến hành nghiên cứu ở học sinh tiểu học tại Thừa Thiên Huế cho thấy tỷ lệ sâu răng là 77,9%; chỉ số sâu mất trám là 1,60; theo báo tổng hợp cáo của Trung tâm Y tế huyện Cái Bè năm

2017, tỷ lệ sâu răng của học sinh tiểu học thị trấn Cái Bè là 34,0%, tăng cao hơn năm 2016 (27,5%); trong đó học sinh khối lớp 5 có tỷ lệ sâu răng cao nhất so với các khối lớp khác (38,4%)[14],[15],[3]

Trang 12

Lứa tuổi 11- 12 được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chọn để theo dõi, so sánh và giám sát xu hướng phát triển của tình trạng sâu răng trên toàn cầu [36] Ở tuổi này, các em bắt đầu dần hình thành ý thức tự lập trong chăm sóc bản thân trong

đó có chăm sóc răng miệng Để trẻ có được kiến thức thực hành phòng chống sâu răng đúng, lúc này các em cần có sự nhắc nhở, hướng dẫn thường xuyên trong việc

tự chăm sóc răng miệng từ cha mẹ Như những địa phương khác ở Việt Nam, trường tiểu học thị Trấn Cái Bè triển khai chương trình nha học đường từ năm 1988

ở tất cả lớp học phổ thông Chương trình có sự tham gia của quý Thầy Cô, cán bộ y

tế học đường, thông qua việc lồng ghép các tiết học chăm sóc sức khỏe răng miệng vào các môn chính khóa Đồng thời nhà trường còn tổ chức hoạt động trám bít hố rãnh, súc miệng bằng nước Fluor, tuyên truyền phòng chống sâu răng qua bản tin tại trường Chương trình được sự hỗ trợ và giám sát thường xuyên của cơ quan Y tế

và các cấp Chính quyền, nhưng tình trạng sâu răng ở học sinh trong những năm gần đây vẫn chưa thực sự giảm

Nhận thấy đây là tình trạng sức khỏe rất quan trọng và cần có nghiên cứu đánh giá về thực trạng, kiến thức, thực hành phòng chống sâu răng của các em, cũng như tìm hiểu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sâu răng, để kịp thời sửa chữa, bổ sung những thiếu khuyết còn tồn tại, từ đó đưa ra kiến nghị giải pháp dự phòng can thiệp phù hợp để kéo giảm tỷ lệ sâu răng ở nhóm đối tượng này, làm giảm tác hại nhiều mặt do sâu răng gây ra Xuất phát từ đó chúng tôi tiến hành

nghiên cứu tình trạng “sâu răng và một số yếu tố liên quan ở học sinh lớp 5 tại thị

trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang năm 2018.”

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Xác định tỷ lệ sâu răng, chỉ số sâu mất trám của học sinh lớp 5 tại thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang năm 2018

2 Mô tả kiến thức, thực hành phòng chống sâu răng của học sinh lớp 5 tại thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang năm 2018

3 Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng sâu răng của học sinh lớp 5 tại thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang năm 2018

Trang 14

tổ chức canxi hóa của răng, rất cứng, có tác dụng che chở bảo vệ cấu trúc bên trong răng khi nhai, cắn thức ăn Khác với ngà răng, men răng chỉ được tạo ra lúc mọc răng, không có sự tái khoáng, phục hồi mà chỉ mòn dần theo thời gian [16]

Sâu răng là tình trạng tổn thương tổ chức canxi hóa của răng (men răng, ngà răng) được đặc trưng bởi sự hủy khoáng thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần hữu cơ (thần kinh, mạch máu trong khoang tủy) của răng Có 4 yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sâu răng (chất bột đường, vi khuẩn, môi trường nước bọt quanh răng

và cấu trúc mô cứng của răng), nhưng nguyên nhân chính là do vi khuẩn streptococcus mutans lên men các chất bột đường bám vào răng, sinh ra acid phá hủy cấu trúc của răng Tổn thương sâu răng tùy theo mức độ, nhẹ nhất là chỉ có lổ nhỏ làm vướn thám trâm khi thăm khám cho đến lổ to nhìn thấy được, có thức ăn giắt vào, thậm chí rất nặng là gãy vỡ hoặc mất luôn chiếc răng [7]

Sâu răng làm cho răng bị đau, đau tăng lên khi nhai, thậm trí không nhai được thức ăn Thức ăn không được nhai nghiền tốt sẽ ảnh hưởng tới tiêu hóa, hấp thu chất dinh dưỡng giãm, lâu dài sẽ làm cho sức khỏe suy kém Sâu răng không chỉ gây đau đớn cho trẻ, nếu không điều trị sớm, tổn thương sâu răng sẽ trầm trọng hơn, gây ra ổ nhiễm trùng ở tủy răng Tình trạng nhiễm trùng của sâu răng lan rộng ra nha chu, xương hàm, xâm nhập vào hệ thống mạch máu sẽ ảnh hưởng tới toàn thân như nhiễm trùng huyết, viêm tĩnh mạch xoang hang Ngoài ra sâu răng làm cho xấu răng, sưng mặt, hôi miệng, làm hạn chế giao tiếp, học tập của trẻ Điều trị sâu răng mất rất nhiều thời gian và chi phí [9]

Trang 15

Để đo lường mức độ sâu răng của cộng đồng, người ta dùng tỷ lệ sâu răng và chỉ số sâu mất trám (SMT) Đối với sâu răng, nếu chỉ sử dụng tỷ lệ mắc sâu răng hiện tại thì chưa phản ánh hết thực trạng sâu răng, do đó chỉ số SMT được dùng để

bổ sung cho hạn chế trên Chỉ số SMT thể hiện mức độ trầm trọng và khuynh hướng phát triển của sâu răng đối với nghiên cứu dịch tể học [7]

Chỉ số SMT có giá trị rất lớn để giám sát sâu răng trên toàn cầu, được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công nhận và đưa vào hệ thống đánh giá sâu răng từ năm 1997 [35] Trên thế giới, để so sánh và giám sát xu hướng sâu răng giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, người ta sử dụng chỉ số SMT ở lứa tuổi 12, vì ở lứa tuổi này các răng vĩnh viễn gần như đã mọc đủ trên cung hàm (trừ răng khôn), do đó việc theo dõi chỉ số SMT sẻ không bị ảnh hưởng bởi việc thay răng (đối với răng sữa), hoặc răng chưa mọc đủ [37]

Chỉ số SMT của quần thể là trung bình một cá thể có tổng số răng sâu/ răng mất/ răng được trám được ghi nhận trong một khoãng thời gian xác định Chỉ số SMT áp dụng cho răng vĩnh viễn, chỉ số này có tính chất không hoàn nguyên có nghĩa là chỉ số này ở một người chỉ có dừng lại hoặc tăng lên theo thời gian chứ không giảm [35]

Dựa vào tỷ lệ sâu răng và chỉ số SMT, tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra khuyến cáo đánh giá mức độ trầm trọng của sâu răng

Bảng 1.1 Mức độ trầm trọng của sâu răng [35]

Trang 16

1.2 Thực trạng sâu răng ở học sinh

1.2.1 Thực trạng sâu răng ở trẻ em trên thế giới

Hiện nay sâu răng vẫn là vấn đề sức khỏe được quan tâm nhiều ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển Sâu răng ảnh hưởng tới 60-90% trẻ em trong độ tuổi đi học và đa số là các thanh thiếu niên Tổ chức Y tế thế giới (WHO)

đã xây dựng hệ thống giám sát bệnh răng miệng trên toàn thế giới, đặt biệt quan tâm đến tình trạng sâu răng ở trẻ em [37]

Ở các nước phát triển đã áp dụng triệt để chương trình Fluor hóa nước uống, nước súc miệng, kem đánh răng và kết hợp với giáo dục nha khoa trong trường học nên bệnh sâu răng giảm mạnh Tại Đức, theo nghiên cứu của Pieper cho thấy, chỉ số SMT giảm từ 2,44 (năm 1994- 1995) xuống còn 1,81 vào năm 1997 và 1,24 năm

2000 [32] Đến năm 2006 nghiên cứu của Shulter chỉ ra SMT tiếp tục giảm xuống ở mức 0,98 [31]

Các nghiên cứu khác tại các nước Châu Úc và Châu Âu cũng ghi nhận thực trạng sâu răng ở trẻ em có chiều hướng giảm Davies G và cộng sự (2013) ghi nhận tại Anh, có giảm tỷ lệ trẻ em bị sâu răng từ 30,9% năm 2008 còn 27,9% vào năm

2012, tỷ lệ giảm là 9,7% Chỉ số sâu mất trám giảm từ 1,11 năm 2008 còn 0,94 năm 2012, mức giảm 15,3% [26] Do LG, Ha DH, Spencer AJ (2015) nghiên cứu ở

2214 trẻ 5-8 tuổi và 3186 trẻ 9-14 tuổi ở 216 trường thuộc 16 vùng thuộc Queensland cho thấy, tần suất sâu răng sữa và răng vĩnh viễn là 47,1% và 38,8% Trẻ ở vùng không có fluor hóa nước có tỷ lệ sâu răng cao hơn 31% so với vùng có fluor hóa nước [28]

Ngược lại những nước đang phát triển, do không được Fluor hóa nước uống, thiếu giáo dục nha khoa, không hạn chế ăn chất đường nên tình trạng sâu răng vẫn còn rất cao, những năm gần đây có nhiều công trình khoa học nghiên cứu công bố với tỷ lệ sâu răng khác nhau nhưng đều ở mức cao [36] Cleaton- Jones P, Fatti P, Bönecker M (2006) đánh giá tính trầm trọng và tần suất sâu răng ở các nước đang phát triển qua 35 năm (1974-2004) ở trẻ 5-6 tuổi và 11-13 tuổi Tỷ lệ sâu răng thấp

Trang 17

nhất ở Nam Sahara Châu phi, cao nhất ở Châu Mỹ La tinh và Caribe Tỷ lệ sâu răng gia tăng ở các nước đang phát triển [27]

Các nghiên cứu ở nước tại Châu Á về tình trạng sâu răng cũng ở mức cao Theo nghiên cứu của J Moses và cộng sự (2011), trên 2362 trẻ từ 5 đến 15 tuổi tại

7 trường học ở Chidambaram, Thái Lan, kết quả cho thấy trẻ em từ 5- 8 tuổi có 68,05% nam và 62,5% nữ mắc sâu răng, ở nhóm tuổi 9-11 tuổi, 69,4% nam và 63,7% nữ giới có sâu răng [34] Shingare P và cộng sự (2012), nghiên cứu tần suất sâu răng tại Uran, Ấn Độ, 472 trẻ ở lứa tuổi từ 3-14 tuổi, kết quả có tỷ lệ sâu răng chung là 80,92%, trung bình SMT là 3,6; trong đó, lứa tuổi 7-10 tỷ lệ sâu răng chung là 88,61%, trung bình SMT là 4,47 [33]

1.2.2 Thực trạng sâu răng ở học sinh Việt Nam

Việt Nam là nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á, do điều kiện sinh sống, người dân chưa thực sự chú trọng đến tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe răng miệng Theo một số nghiên cứu về sâu răng ở học sinh trong độ tuổi 11-

12 những năm gần đây cho thấy tỷ lệ sâu răng, sâu mất trám có thay đổi ở những vùng khác nhau, nhưng nhìn chung vẫn ở mức cao

Tại Tuyên Quang, năm 2009 Ma Thanh Quế tiến hành nghiên cứu thực trạng sâu răng, viêm lợi và một số yếu tố liên quan của học sinh lớp 5, tại thị xã Tuyên Quang cho thấy tỷ lệ sâu răng là 62,5%; chỉ số sâu mất trám (SMT) là 2,27[14] Ở khu vực Thủ đô Hà Nội, khi nghiên cứu thực trạng sâu răng ở học sinh tiểu học Nhật Tân, quận Tây Hồ năm 2010, tác giả Nguyễn Thanh Thũy ghi nhận tỷ

lệ sâu răng là 67% [17]

Những năm sau này, có được sự quan tâm của xã hội, với nỗ lực phòng chống sâu răng, sau nhiều năm triển khai của chương trình nha học đường, tỷ lệ sâu răng có giãm, nhưng không nhiều Năm 2015, Lê Hữu Lộc nghiên cứu về thực trạng sâu răng và một số yếu tố liên quan ở học sinh khối lớp 6 trường THCS Bình Hàng Tây, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp cho thấy tỷ lệ sâu răng là 47,9%; chỉ số SMT của nam là 1,1; nữ là 0,9; tỷ lệ SMT chung là 1,0 [11] Năm 2016 theo nghiên cứu

Trang 18

của Trần Tấn Tài, tỷ lệ sâu răng của học sinh tại các trường tiểu học ở Thừa Thiên Huế là 77,9%, trong đó sâu răng sữa là 68,2%, sâu răng vĩnh viễn là 43,9%, chỉ số SMT là 1,6 [15]

Qua các số liệu trên cho thấy tỷ lệ sâu răng ở học sinh còn rất phổ biến, đang

ở mức cao và chưa có dấu hiệu suy giảm, tỷ lệ sâu răng tăng nhanh theo tuổi

Nhưng chỉ số SMT của học sinh nhìn chung vẫn ở mức thấp theo phân loại của tổ

chức Y tế Thế giới

1.3 Tổng quan kiến thức, thực hành phòng chống sâu răng ở học sinh

1.3.1 Kiến thức phòng chống sâu răng ở học sinh

Kiến thức phòng chống sâu răng (PCSR) là nền tảng cho thực hành PCSR,

có ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng sâu răng Ở cấp tiểu học các em được nhà trường trang bị kiến thức PCSR thông qua giáo dục nha học đường, ngoài ra các em

có được kiến thức PCSR qua chỉ dạy của cha mẹ, sách báo, tivi và ở cả bạn bè Có một số nghiên cứu, đánh giá về kiến thức PCSR ở học sinh ở lứa tuổi này, nhưng nhìn chung kiến thức đúng của các em về PCSR chưa cao lắm Theo tác giả Lê Huy Nguyên năm 2007, nghiên cứu tình trạng sâu răng của học sinh lớp 5 ở Hoài Đức,

Hà Tây cho thấy kiến thức của các em khi được hỏi về tác hại của sâu răng thì chỉ

có 61,59% số em cho biết là gây đau răng; 48,44% cho là làm xấu răng, rất ít (38,06%) các em biết được sẻ làm mất răng [13] Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Tước năm 2008 ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh cho thấy tỷ lệ học sinh có kiến thức phòng chống sâu răng đạt chỉ có 37,7%; thực hành phòng chống sâu răng đạt chỉ có 29,9%, trong đó đa số các em thực hành chải răng không đúng cách là 92,9% [21] Ma Thanh Quế năm 2009 tại thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, tỷ lệ học sinh có kiến thức phòng chống sâu răng đạt 87,0%[ 14] Theo nghiên cứu của Lê Hữu Lộc trên học sinh lớp 6 trường trung học cơ sở Bình Hàng Tây năm 2015 cho thấy 85,7% học sinh biết phòng sâu răng bằng cách chải răng hàng ngày; 67,1% cho rằng cần hạn chế đồ ngọt [11] Thời gian này, ở phía bắc nước ta, theo nghiên cứu của Vũ Thị Sao Chi năm 2015 tại trường trung học cơ sở Tân Bình, thành phố Hải

Trang 19

Dương cho thấy 61,5% học có kiến thức PCSR không đạt [4] Kiến thức PCSR các

em không cao có thể do chương trình giáo dục nha học đường chưa thực sự hiệu quả, hoăc do cha mẹ và xã hội ít quan tâm đến tầm quan trọng của PCSR

1.3.2 Thực hành phòng chống sâu răng ở học sinh

Thực hành PCSR tốt sẽ làm giảm tỷ lệ sâu răng Thực hành PCSR của các

em có được chủ yếu từ sự hướng dẫn của cha mẹ là chính, khi đến tuổi tới trường Thầy cô giáo sẽ trang bị thêm kiến thức thực hành PCSR cho các em thông qua chương trình giáo dục nha học đường Qua các nghiên cứu về sâu răng cho thấy thực hành đúng của các em chưa cao, như nghiên cứu của Nguyễn Hữu Tước năm

2008 ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh cho thấy tỷ lệ học sinh có thực hành phòng chống sâu răng đạt yêu cầu chỉ có 29,9%, trong đó đa số các em thực hành chải răng không đúng cách (92,9%) [21], theo nghiên cứu của Ma Thanh Quế năm 2009 tại thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, thực hành phòng chống sâu răng đạt là 64,8%, trong đó thực hành chải răng đúng phương pháp là 40,7% [14] Theo nghiên cứu của Lê Hữu Lộc trên học sinh lớp 6 trường trung học cơ sở Bình Hàng Tây năm

2015 cho thấy có tới 72,9% học sinh chải răng không đúng cách, chỉ có 38,5% học sinh chải đủ 3 mặt răng, phần lớn học sinh chải răng dưới 2 phút, chiếm 85,7% [11] Theo nghiên cứu của Vũ Thị Sao Chi năm 2015 tại trường trung học cơ sở Tân Bình, thành phố Hải Dương cho thấy 61,5% học có kiến thức PCSR không đạt, thực hành PCSR không đạt là 43,3%, trong đó thực hành chải răng đúng phương pháp là 71,3% [4] Thực hành PCSR chưa đúng của học sinh phần lớn là do cha mẹ thướng dẫn thực hành PCSR cho các em chưa tốt, hoặc chính thực hành PCSR của cha mẹ các em chưa đạt Chương trình nha học đường chỉ chú trọng nhiều vào kiến thức PCSR, rất ít trường có dành riêng khu vực để hướng dẫn các em thực hành PCSR

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng sâu răng ở học sinh

Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học, người ta biết rằng sâu răng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố liên quan với nhau: yếu tố cá nhân, kiến thức, hành vi, thói quen của đối tượng và thực hành chăm sóc răng miệng cho con của cha mẹ Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sâu răng và dự phòng sâu răng của học sinh phụ thuộc rất

Trang 20

nhiều vào sự hiểu biết, các biện pháp giáo dục của cha mẹ, nhà trường với học sinh, phong tục tập quán và thói quen ăn uống

1.4.1 Yếu tố cá nhân của học sinh

Yếu tố cá nhân của học sinh bao gồm các đặc tính sinh học, tuổi, giới, vùng miền sinh sống, nó ảnh hưởng không ít đến tình trạng sâu răng của các em Do đặc tính sinh học khác nhau nên tình trạng sâu răng cũng không giống nhau ở mỗi người, có những gia đình mắc sâu răng rất trầm trọng ở cùng lúc nhiều thế hệ khác nhau Về giới tính, học sinh nữ thường cẩn thận, hay chú ý chăm sóc bản thân nhiều hơn học sinh nam (trong đó có việc chăm sóc răng miệng), nên tình trạng sâu răng cũng ít hơn Có một số nhiên cứu cũng tìm ra được mối liên quan này như nghiên cứu của Ma Thanh Quế, năm 2009 ở học sinh lớp 5 tại hai trường tiểu học An Thường và Hồng Thái, thị xã Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang cho thấy tỷ lệ học sinh nam bị sâu răng cao hơn học sinh nữ (67,7% và 57,2%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p= 0,037 <0,05) [14]

Tuổi sâu răng được ghi nhận nhiều nhất là lứa tuổi tiểu học, có một số nơi tỷ

lệ sâu răng rất cao, như nghiên cứu của Trần Tấn Tài năm 2016 ở học sinh các trường tiểu học Huế, cho thấy tỷ lệ sâu răng là 77,9% Học sinh sống ở các vùng miền khác nhau, điều kiện địa lý, môi trường sống, thói quen sinh hoạt khác nhau nên tình trạng sâu răng cũng thay đổi, không giống nhau Theo nghiên cứu của Đỗ Văn Ước (2010) tại thị trấn Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận cho thấy tỷ lệ sâu răng ở học sinh tiểu học là 65,23%, trong đó vùng ven biển của tỉnh có tỷ lệ sâu răng là 80,48% [25]

1.4.2 Kiến thức phòng chống sâu răng ở học sinh

Kiến thức PCSR có ảnh hưởng đến tình trạng sâu răng, các em học sinh có kiến thức PCSR tốt chắc chắn sẽ có thực hành chăm sóc răng miệng tốt hơn các em khác

có cùng điều kiện, lứa tuổi, khu vực sinh sống Có một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, kiến thức phòng chống sâu răng (PCSR) có liên quan đến tình trạng sâu răng như: năm 2012, theo nghiên cứu thực trạng sâu răng và một số yếu tố liên quan ở

Trang 21

học sinh trường THCS Ngô Sỹ Liên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội của Nguyễn Huyền Trang đã tìm được mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức PCSR của học sinh với tình trạng sâu răng, nhóm học sinh có kiến thức không đạt mắc sâu răng cao gấp 1,9 lần so với nhóm học sinh có kiến thức đạt (p=0,02) [18].Theo nghiên cứu của Vũ Thị Sao Chi năm 2015 tại trường trung học cơ sở Tân Bình, thành phố Hải Dương cho thấy: học sinh có kiến thức PCSR không đạt mắc sâu răng cao hơn 2,1 lần so với nhóm có kiến thức PCSR đạt (P= 0,01)[4]

1.4.3 Thực hành phòng chống sâu răng ở học sinh

Thực hành PCSR có ảnh hưởng rất lớn với tình trạng sâu răng ở học sinh Thực hành PCSR bao gồm những hành vi, thói quen chăm sóc răng miệng của học sinh như số lần chải răng trong ngày, thời điểm chải răng, thói quen ăn ngọt, kỹ năng chải răng Thực hành PCSR của học sinh có được từ sự chỉ dẫn của cha mẹ, Thầy

cô giáo, bạn bè, sách báo, tivi , thực hành PCSR ở học sinh tốt sẽ làm giảm tỷ lệ sâu răng

Một số nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa thực hành PCSR với tình trạng sâu răng Năm 2015, Vũ Thị Sao Chi nghiên cứu sâu răng ở học sinh trung học cở sở ở thành phố Hải Dương cho thấy học sinh có thực hành phòng PCSR không đạt mắc sâu răng cao hơn 2,1 lần so với nhóm có thực hành PCSR đạt (p= 0,005) [4] Theo nghiên cứu của Trần Tấn Tài trên học sinh tiểu học Huế năm 2016 cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa chải răng dưới 3 lần/ngày có nguy

cơ mắc sâu răng gấp 5,32 lần đối tượng có chải răng trên 3 lần/ngày (p= 0,03 < 0,05), thường xuyên ăn đồ ngọt nguy cơ mắc sâu răng gấp 6,14 lần đối tượng ít ăn (p=0,02 <0,05) [15]

1.4.4 Thực hành phòng chống sâu răng của cha mẹ học sinh

Cha mẹ là người cận kề, chăm sóc răng miệng các em từ khi còn nhỏ cho tới khi các em trưởng thành, tự chăm sóc được cho mình Nếu cha mẹ thực hành PCSR cho con chưa đúng, sẽ ảnh hưởng tới thực hành và tình trạng sâu răng của các em Một số nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa thực hành PCSR của cha mẹ và

Trang 22

tình trạng sâu răng ở học sinh Theo Lê Hữu Lộc năm 2015 tại Đồng Tháp, nghiên cứu về thực trạng sâu răng và một số yếu tố liên quan ở học sinh khối lớp 6 trường THCS Bình Hàng Tây, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp thì nguy cơ mắc sâu răng

ở học sinh có cha mẹ thực hành PCSR cho con không đạt yêu cầu cao gấp 1,34 lần

so với những học sinh có cha mẹ có kiến thức PCSR cho con đạt yêu cầu [11]

Theo nghiên cứu của Vũ Thị Sao Chi, năm 2015 tại Hải Dương cho thấy học sinh có điểm thực hành PCSR của phụ huynh không đạt có nguy cơ sâu răng gấp 4,3 lần so với những học sinh có phụ huynh đạt điểm thực hành PCSR cho con [4]

Theo nghiên cứu của Trần Tấn Tài năm 2016 tại Huế cho thấy những học sinh được cha mẹ thay bàn chải đánh răng trên 3 tháng một lần có nguy cơ mắc sâu răng cao gấp 2,11 lần học sinh được cha mẹ thay bàn chải dưới 3 tháng (p= 0,02 < 0,05) [15]

1.4.5 Yếu tố thuộc về trường học

Ở một số nước phát triển, việc áp dụng các phương pháp phòng ngừa sâu răng trong trường học được áp dụng rất triệt để, như súc miệng bằng nước Fluor 0,2%, sử dung kem có Fluor, trám bít hố rãnh kết hợp với giáo dục nha khoa nên tỷ

lệ sâu răng rất thấp, như ở Hoa kỳ áp dụng triệt để chương trình nha học đường, đã kéo giãm chỉ số SMT từ 4 (năm 1983) xuống còn 1,62 (năm 2002)[25]

Tại Việt Nam, chương trình nha học đường áp dụng từ năm 1987, ngành giáo dục chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, tuy không đồng bộ, có khác nhau ở mỗi địa phương, nhưng nói chung hầu hết có thực hiện được 4 nội dung của chương trình nha học đường [2]:

- Nội dung 1: Giáo dục chăm sóc răng miệng

- Nội dung 2: Súc miệng nước Fluor 0,2% mỗi tuần 1 lần

- Nội dung 3: Khám răng miệng định kỳ, phát hiên sớm bệnh răng miệng

- Nội dung 4: Trám bít hố rãnh răng vĩnh viễn, dự phòng sâu răng

Tuy nhiên do nguồn lực dành cho chương trình hạn chế nên hiệu quả của công tác nha học đường chưa được như mong đợi Cụ thể ta thấy kiến thức PCSR răng ở

Trang 23

học sinh chưa cao, điểm thực hành PCSR của các em thấp và tỷ lệ sâu răng của học vẫn còn ở mức cao [3],[4],[11],[15],[17],[18] Một số nghiên cứu cũng cho thấy công tác nha học đường chưa thật hiệu quả, như theo nghiên cứu của Vũ Thị Sao Chi năm 2015 tại trường trung học cơ sở Tân Bình, thành phố Hải Dương cho thấy kiến thức PCSR của học sinh 45,6% là từ Thầy cô giáo dạy [4]

Theo nghiên cứu của Lê Hữu Lộc trên học sinh lớp 6 trường trung học cơ sở Bình Hàng Tây năm 2015 cho thấy chỉ có 15,7% học sinh biết biện pháp phòng sâu răng bằng cách súc miệng bằng nước Fluor, đa số giáo viên chưa được tập huấn về công tác nha học đường, chương trình giảng dạy còn sơ sài, ít cập nhật, công tác khám răng định kỳ được lòng ghép vào khám sức khỏe định kỳ [11]

1.5 Vài nét về công tác nha học đường tại thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè,

tỉnh Tiền Giang

Thị trấn Cái Bè có 2 trường tiểu học là tiểu học A và tiểu học B, có tổng số 2011 học sinh Cả 2 trường đều nằm ở khu vục đông dân cư, học sinh theo học tại đây đa

số là con, em của những gia đình sinh sống trong khu vực lân cận Mỗi điểm trường

có 01 phòng Y tế học đường (YTHĐ) được trang bị 01 ghế nha cũ, một số trang thiết bị khám răng đơn giản và y sĩ làm công tác nha học đường (NHĐ), kiêm nhiệm YTHĐ của trường

Chương trình nha học đường cũng được triển khai ở trường từ năm 1988, lồng ghép một số tiết giảng dạy kiến thức chăm sóc răng miệng vào môn khoa học xã hội Bảng tin của nhà trường có dành hẳn 1 khu vực cho bảng tin phòng chống sâu răng Song song đó, nhà trường có tổ chức cho học sinh súc miệng bằng nước pha Fluor (nhưng không thường xuyên) Nhà trường tuy không có tổ chức khám nha định kỳ, nhưng được trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Tiền Giang hỗ trợ trám bít hố rãnh cho học sinh mỗi năm 1 lần Việc trám bít hố rãnh và súc miệng bằng nước Fluor chỉ được thực hiện trong trường học, chưa triển khai ra ngoài xã hội Hiện tại nhà trường chưa có điều kiện bố trí khu vực tổ chức hướng dẫn cho học sinh thực hành chải răng đúng phương pháp

Trang 24

Cũng như nhiều nơi khác trong nước, chương trình nha học đường được triển khai nhiều năm nay, tuy nhiên tỷ lệ sâu răng ở học sinh vẩn còn rất cao Theo báo cáo tổng hợp công tác y tế trường học của Trung tâm y tế huyện Cái Bè năm 2017,

tỷ lệ sâu răng chung ở cấp tiểu học là 32,3%; trong đó học sinh khối lớp 5 trong là 33,6% Riêng thị trấn Cái Bè có tỷ lệ sâu răng ở học sinh tiểu học là 34,0%, cao hơn năm 2016 (27,5%), riêng học sinh khối lớp 5 ở thị trấn Cái Bè có tỷ lệ sâu răng là 38,4%, cao hơn tỷ lệ sâu răng chung trong toàn huyện [3] Thực trạng này đặt ra vấn

đề là phải chăng cách tổ chức, thực hiện của chương trình chưa phù hợp hay vì ý thức của học sinh chưa cao?

Trang 25

1.6 Khung lý thuyết

Yếu tố cá nhân của học sinh

- Giới tính học sinh

- Sống ở nông thôn hay thành thị

Tình trạng sâu răng ở học sinh lớp 5

Thực hành PCSR của cha mẹ học sinh

- Mua bàn chải, kem đánh răng đúng loại dành cho trẻ em

- Đưa con đi khám khi

- Số lần chải răng trong ngày

- Thời điểm chải răng trong ngày

- Thói quen ăn đồ ngọt

Trang 26

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh đang học lớp 5 tại trường tiểu học của thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Học sinh đang học lớp 5 ở trường tiểu học của thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, đồng ý tham gia vào nghiên cứu

- Cha, mẹ của những học sinh này đồng ý cho con mình tham gia vào nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Loại trừ những học sinh sau:

+ Không có mặt trong lúc tiến hành nghiên cứu

+ Mắc các bệnh tâm thần, tự kỷ, bệnh toàn thân, bệnh cấp tính tại chỗ

+ Trẻ có các bệnh lý bẩm sinh về răng miệng: dị tật bẩm sinh răng như bệnh sún răng tiến triển chậm ở trẻ em, sinh men bất toàn, khe hở môi – vòm miệng, đang điều trị nắn chỉnh răng…

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Từ tháng 03 năm 2018 đến tháng 08 năm 2018

- Địa điểm nghiên cứu: Tại hai trường tiểu học A và tiểu học B thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

2.3 Thiết kế nghiên cứu : Theo phương pháp cắt ngang có phân tích

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

Công thức tính cỡ mẫu một tỷ lệ:

Trong đó:

n: cỡ mẫu

Z(1-  /2): Độ tin cậy ở mức xác xuất 95% (≈ 1,96)

p: Tỷ lệ sâu răng ở học sinh lớp 5: 0,384 (tỷ lệ sâu răng của khối lớp 5, năm 2017 của thị trấn Cái Bè [3])

2

2 ) 2 / 1 (

d

pq x Z

n  

Trang 27

q = 1 – p = 0,626

d = 0,05; Khoảng sai lệch mong muốn

Thay các số vào, ta có n= 369

Dự phòng 10% bỏ cuộc, ta có cỡ mẫu ban đầu cần có là 406

Học sinh lớp 5 ở thị trấn Cái Bè có 407 em, gồm có 258 em ở trường tiểu học A ( 6 lớp) và 149 em ở trường tiểu học B (5 lớp) Như vậy số lượng này gần bằng với cỡ mẫu cần có ban đầu nên ta chọn mẫu toàn bộ

Trong quá trình tiến hành nghiên cứu có 28 em học sinh vắng mặt lúc khám răng,

nên chỉ có 379 học sinh tham gia đầy đủ các phần của nghiên cứu, vì vậy tổng mẫu

thực tế là 379

2.5 Phương pháp thu thập số liệu:

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu:

Mỗi học sinh được gán cho 1 mã số và được ghi vào phiếu phát vấn, bảng kiểm quan sát chải răng, cũng như phiếu khám răng của học sinh đó

a Phiếu khám răng: Người nghiên cứu cùng với 01 Bác sĩ chuyên khoa

Răng Hàm Mặt của TTYT Cái Bè trực tiếp khám và ghi kết quả vào phiếu khám

theo mẫu của WHO (phụ lục 2)

b Bộ câu hỏi phát vấn (phụ lục 3), được thiết kế dựa vào các công trình

nghiên cứu về răng trước (có cùng mục tiêu và đối tượng nghiên cứu), các tài liệu

về nha khoa của của Đại học Y Huế, Y Hà Nội, Y dược tp Hồ Chí Minh, gồm các

thông tin chính:

+ Thông tin cá nhân học sinh

+ Kiến thức phòng chống sâu răng của học sinh

+ Kiến thức thực hành phòng chống sâu răng của học sinh

+ Thực hành phòng chống sâu răng cho con của cha mẹ học sinh

Trang 28

+ Yếu tố thuộc về trường học

Lưu ý về thực hành phòng chống sâu răng của cha mẹ học sinh: do điều kiện

nguồn lực hạn chế nên chúng tôi không thể chắc chắn là cha mẹ học sinh trả lời câu hỏi trong phiếu phát vấn, nên phần đánh giá thực hành phòng chống sâu răng của cha mẹ học sinh sẽ ghi nhận thông qua những câu hỏi phát vấn học sinh về thực hành phòng chống sâu răng của cha mẹ được các em nhớ lại

c Bảng kiểm quan sát thực hành chải răng của học sinh (phụ lục 4)

Do 03 điều tra viên ghi nhận và đánh dấu vào bảng kiểm, mỗi ngày quan sát được khoãng 40 em học sinh, gồm các mục

- Hướng đưa bàn chải: Chải ngang thân răng, chải dọc thân răng, chải xoay tròn (vừa chải dọc chậm vừa chải ngang)

- Các mặt răng được chải: Mặt ngoài, mặt trong, mặt nhai của răng

- Thời gian chải răng: Từ lúc bắt đầu chải cho đến lúc hoàn thành

2.5.2 Quy trình thu thập số liệu:

- Phát vấn học sinh (Phụ lục 3):

Trong cuối buổi họp phụ huynh đầu học kỳ 2, được sự cho phép của giáo viên chủ nhiệm, tiến hành giới thiệu đề tài và mục đích nghiên cứu cho phụ huynh được biết, sau đó tiến hành lấy chữ ký xác nhận đồng ý ở các phụ huynh đồng ý cho con mình tham gia nghiên cứu

Sau 2 tuần, vào đầu tháng 03 năm 2018, tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi ở các em học sinh lớp 4 trong trường Trong quá trình trả lời thử nghiệm các câu hỏi, ghi nhận những câu các em không hiểu rõ nghĩa, những lỗi đánh máy, chính tả, ghi tắt Ngay trong ngày sau đó tiến hành điều chỉnh tất cả những khiếm khuyết và cho

in đủ số lượng bộ câu hỏi để tiến hành phát vấn ở học sinh khối lớp 5

Ngay sau 01 tuần, tiến hành tập huấn cho 05 cán bộ của trung tâm Y tế và 02 cán bộ phụ trách Y tế học đường của 2 trường Tài liệu tập huấn do người nghiên cứu biên soạn dựa vào nhiều tài liệu nghiên cứu trước và tổng hợp lại cho phù hợp với nghiên cứu này, nhưng tuân thủ đúng theo các tiêu chuẩn của nghiên cứu và có thống nhất về phương pháp đánh giá của tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

Trang 29

Một ngày trước khi khám răng, tiến hành phát phiếu có bộ câu hỏi thu thập thông tin về kiến thức, thực hành phòng chống sâu răng cho toàn bộ học sinh (HS) lớp 5 tại lớp học 02 điều tra viên (ĐTV) phụ trách phát vấn 01 lớp học, hết lớp này thì chuyển sang lớp khác Điều tra viên giới thiệu về mục đích của nghiên cứu, hướng dẫn học sinh cách điền phiếu Trong đó nhấn mạnh việc tham gia của các em là hoàn toàn tự nguyện và có sự đồng ý của cha mẹ các em (có phiếu xác nhận đồng ý cho con tham gia nghiên cứu của cha mẹ)

ĐTV nhận lại phiếu sau khi các em học sinh điền hoàn chỉnh, ĐTV rà soát lại phiếu, đảm bảo thông tin đã điền đầy đủ

- Quan sát học sinh thực hành chải răng trước khi khám (phụ lục 4)

Trong ngày, trước khi khám răng cho học sinh, cán bộ Y tế trường học sẽ mời mỗi đợt 3 em học sinh đến khu vực labo rửa tay của trường để chải răng trước khi vào bàn khám cho Bác sĩ khám răng Học sinh được phát một bàn chải đánh răng, một cốc nước và tự lấy kem chải răng Điều tra viên quan sát học sinh ở nơi thuận tiện, thấy rõ được các thao tác chải răng, nhưng không quá gần làm các em chú ý ĐTV quan sát học sinh chải răng theo bảng kiểm và sử dụng đồng hồ bấm giây để tính thời gian chải răng của học sinh Trung bình mỗi ngày 01 Bác sĩ và 01 ĐTV khám và ghi nhận thông tin cho 01 lớp học (khoãng 40 học sinh), lần lượt cho đến khi toàn bộ các lớp trong khối 5 được khám hết

- Khám răng cho toàn bộ 379 học sinh lớp 5

Khám răng cho học sinh tại phòng y tế học đường, do người nghiên cứu cùng với 1 Bác sỹ chuyên khoa Răng Hàm Mặt của Trung tâm Y tế huyện Cái Bè thực hiện, cách khám và phương pháp đánh giá được thống nhất như trong tập huấn trước khi tiến hành nghiên cứu

Khám dưới ánh sáng tự nhiên nơi đủ ánh sáng, phát hiện sâu răng bằng phương pháp quan sát kết hợp với sử dụng thám trâm, kiểm tra toàn bộ các bề mặt của từng chiếc răng, dựa vào các tiêu chuẩn xác định sâu răng và chỉ số sâu mất trám để đưa

ra kết quả, ghi kết quả vào phiếu khám (phụ lục 2)

2.5.3 Điều tra viên, giám sát viên

Trang 30

- Điều tra viên (ĐTV) là Y sỹ của trung tâm y tế (TTYT) huyện Cái Bè, trạm y tế (TYT) thị trấn Cái Bè, tiến hành quan sát thực hành chải răng của học sinh ĐTV được tập huấn trước cách sử dụng bảng kiểm chải răng

- Giám sát viên (GSV) là người nghiên cứu và 01cán bộ của TTYT huyện Cái Bè, giám sát chặt chẽ quá trình khám, kiểm tra toàn bộ số phiếu phát vấn, xem thông tin được ghi đầy đủ trong phiếu chưa, nếu có sai sót thì tiến hành chỉnh sửa ngay bằng cách phát vấn lại các em đó vào ngày hôm sau

2.6 Các biến số nghiên cứu

Biến số của nghiên cứu gồm có các nhóm biến sau (được trình bày chi tiết tại Phụ lục 1):

- Thông tin chung của học sinh: giới tính, khu vực sinh sống

- Kiến thức phòng chống sâu răng của học sinh

- Thực hành phòng chống sâu răng của học sinh, trong đó có các biến thực hành chải răng

- Các yếu tố thuộc về trường học: gồm có nguồn cung cấp kiến thức PCSR, công tác trám bít hố rãnh, súc miệng bàng nước Fluor, bản tin PCSR

- Thực hành phòng chống sâu răng cho con của cha mẹ học sinh

- Tình trạng sâu răng của học sinh: tỷ lệ sâu răng, số răng sâu, răng mất và số răng trám

2.7 Các tiêu chuẩn đánh giá:

- Răng có trám để điều trị sâu răng và tiếp tục sâu răng

Trang 31

giá tình trạng sâu răng đã mắc từ trước đến nay tại quần thể này

- Dùng cho răng vĩnh viễn (răng chưa mọc, răng thừa, răng sữa không tính trong chỉ

số này)

- Tiêu chuẩn đánh giá:

+ Răng sâu: có sâu răng nguyên phát hoặc sâu răng sau khi được trám + Răng mất: Răng mất không còn trên cung hàm, nguyên nhân do sâu răng, không tính trường hợp mất răng do ngã, tai nạn (kết hợp hỏi tiền sử học sinh khi khám răng)

+ Răng trám: Răng có trám (hàn răng) để điều trị sâu răng

- Số SMT của mỗi học sinh là tổng số: răng sâu + răng mất + răng trám của học

2.7.3 Phương pháp đánh giá kiến thức, thực hành PCSR

Cách đánh giá kiến thức chỉ áp dụng trong nghiên cứu này, cụ thể như sau: Đánh giá kiến thức, thực hành PCSR của học sinh và thực hành PCSR cho con của cha

Trang 32

mẹ học sinh qua việc chấm điểm các câu trả lời của bộ câu hỏi (phụ lục 3), chấm điểm theo bảng chấm điểm (phụ lục 6) Quy ước như sau: nếu đạt trên 50% số điểm

tối đa thì coi là có kiến thức hoặc thực hành đạt yêu cầu, cụ thể:

- Quy định về kiến thức đạt (đánh giá theo bộ câu hỏi đánh giá kiến thức HS về

bệnh sâu răng từ câu 3 đến câu 9), chấm điểm theo phụ lục 6 Tổng điểm là 39

điểm, đạt từ 20 điểm trở lên là kiến thức đạt, dưới 19 điểm là không đạt

- Quy định về thực hành PCSR của học sinh (từ câu 10 ,11, 12 và điểm quan sát

thực hành chải răng của học sinh (phụ lục 4)), có tổng điểm là 18 Thực hành đạt

khi trên 50% số điểm (từ 09 điểm trở lên), không đạt khi dưới 8 điểm

- Quy định về thực hành PCSR cho con của cha mẹ HS (đánh giá theo bộ câu hỏi

phát vấn học sinh từ câu 17 đến câu 24), chấm điểm theo phụ lục 6 Có tổng điểm

tối đa là 17 điểm Từ 09 điểm trở lên là đạt ( > 50%), từ 08 điểm trở xuống (< 50%)

là không đạt

2.8 Phương pháp phân tích số liệu

- Số liệu được làm sạch trước khi đưa vào phân tích

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:

Đề cương nghiên cứu được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế cộng

cộng đồng ý cho tiến hành nghiên cứu theo công văn số 138/2018/YTCC-HD3 ngày

15 tháng 03 năm 2018 Khi tiến hành nghiên cứu, được sự cho phép của Ban giám

hiệu trường tiểu học thị trấn Cái Bè, Phòng giáo dục huyện Cái Bè Kết thúc nghiên cứu sẽ có báo cáo phản hồi kết quả cho địa phương Thông tin thu được đều giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu, chỉ có người nghiên cứu mới được phép tiếp cận

Trang 33

Tất cả các đối tượng nghiên cứu (học sinh) được giải thích rõ mục đích

nghiên cứu Cha mẹ của học sinh được giới thiệu về mục đích, nội dung và quy

trình tiến hành nghiên cứu trong buổi hợp phụ huynh đầu học kỳ Nghiên cứu chỉ được tiến hành trên những đối tượng được cha mẹ đồng ý (có xác nhận đồng ý -

Phụ lục 5) và tự nguyện tham gia nghiên cứu

Nghiên cứu không làm tổn hại đến sức khỏe, tinh thần các em học sinh tham gia cũng như các em từ chối tham gia Quá trình khám răng không ảnh hưởng đến sức khỏe của các em (vì dụng cụ sau khi khám xong được ngâm với dung dịch sát khuẩn 10 phút trước khi khám cho học sinh khác), không xảy ra bất cứ tai biến nào trong quá trình thăm khám răng cho các em không ảnh hưởng đến kết quả học tập

và uy tín của đối tượng tham gia nghiên cứu

Sau khi có kết quả khám răng, tổng hợp thông tin chi tiết về tình trạng sâu răng của học sinh và gửi danh sách cho cán bộ Y tế học đường của trường, đồng thời cho trạm Y tế thị trấn Cái Bè cũng như thông báo cho gia đình biết để hổ trợ, hợp tác trong kế hoạch điều trị sâu răng cho các em Hàng năm sẽ tổ chức khám răng và đặc biệt quan tâm theo dỏi điều trị cho các em này Cán bộ Y tế trường học theo dỏi kết quả điều trị để báo cáo công tác nha học đường vào đầu học kỳ sau cho trung tâm Y

tế huyện Cái Bè

Trang 34

Chương 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin về học sinh

Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng tham gia nghiên cứu

3.2 Thực trạng sâu răng ở học sinh

Bảng 3.2 Tỷ lệ sâu răng ở học sinh:

Trang 35

Kết quả bảng 3.2, cho thấy học sinh có sâu răng chiếm tỷ lệ 44,1%, không sâu răng chiếm tỷ lệ 55,9% Trong số những học sinh có sâu răng (167 em) thì số em có 1 đến 2 răng sâu chiếm tỷ lệ cao nhất, lần lượt là 46,73% và 37,12% Các em có 3 răng sâu chiếm tỷ lệ 10,17%, thấp nhất là các em có từ 4 răng sâu trở lên (2,6%)

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ sâu răng theo giới tính

Tỷ lệ sâu răng theo giới tính (nam và nữ) được thể hiện ở biểu đồ 3.1 Trong mỗi nhóm học sinh nam và nữ, tỷ lệ sâu răng cũng khác nhau Ta thấy tỷ lệ sâu răng của học sinh nam (46,5%) cao hơn tỷ lệ của học sinh nữ (41,7%)

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ sâu răng theo khu vực sinh sống

Trang 36

Ở biểu đồ 3.2, ta thấy học sinh có gia đình sống ở khu vực thành thị có tỷ lệ sâu răng (56,9%) cao hơn khu vực nông thôn (54,8%)

Bảng 3.3 Chỉ số Sâu-Mất-Trám

Giới Tổng số

khám

Sâu răng

Số răng sâu

Số răng mất do sâu

Số răng trám

Tổng số SMT

Chỉ số SMT

3.3 Kiến thức, thực hành phòng chống sâu răng ở học sinh

3.3.1 Kiến thức phòng chống sâu răng ở học sinh

Gồm có kiến thức chung về sâu răng và kiến thức về cách phòng chống sâu răng của học sinh

Bảng 3.4 Kiến thức chung về sâu răng ở học sinh (n= 379)

Trang 37

Bảng 3.4 cho ta thấy kiến thức đúng của các em học sinh hiểu biết về dấu hiệu của sâu răng có khác nhau, đa số (72,0%) các em cho biết là có lổ sâu, kế đến (62,3%) các em cho biết có dấu hiệu đau buốt khi ăn uống lạnh, có tới 8,2% các em không biết dấu hiệu nào cho biết đang mắc sâu răng

Về tác hại của sâu răng, đa số các em (83,6%) đều biết là gây đau răng, kế đến là làm bể, sứt mẻ răng (48,8%), làm xấu răng (46,7%), tác hại lớn nhất của sâu răng là làm mất răng thì có rất ít (28,8%) các em biết được

Nguyên nhân dẫn đến sâu răng phần lớn các em đều biết là do ăn nhiều chất đường (75,5%), do không chải răng (79,4%), còn nguyên nhân không kém phần quan trọng

là do vi khuẩn thì chỉ có 28,0% các em biết được, số em trả lời không biết nguyên tại sao sâu răng chiếm tỷ lệ rất thấp (4,2%)

Bảng 3.5 Kiến thức về cách phòng sâu răng của học sinh (n= 379)

Biện pháp phòng

ngừa sâu răng

Xúc miệng bằng nước fluor 234 20,3 Không ăn đồ ngọt nhiều lần 234 61,7 Khác (khám răng định kỳ…) 1 0,3

Trang 38

Thờ điểm chải

răng trong ngày

Buổi sáng lúc mới thức dậy 338 89,2 Buổi tối trước khi ngủ 358 94,5

Hiểu biết của học sinh về số lần cần chải răng trong một ngày: chỉ có 21,4% có kiến thức đúng nhất là cần chải răng 3 lần trong ngày, còn số em có kiến thức chưa đúng

về số lần chải răng trong ngày, cho biết chỉ cần chải 2 lần trong ngày là đủ (65,4%), 11,6 % học sinh cho rằng chỉ cần đánh 1 lần trong ngày Rất ít em không biết cần phải chải răng bao nhiêu lần trong ngày (1,6 %)

Về thời điểm cần đánh răng trong ngày, đúng nhất là chải răng sau khi ăn và trước khi ngủ, ở kết quả này ta thấy đa số học sinh (89,2%) cho rằng cần chải răng vào buổi sáng sau khi ngủ dậy và 94,5 % các em biết cần chải răng vào buổi tối trước khi đi ngủ và chỉ có 22,4% các em cho rằng cần đánh răng sau bữa trưa

Khi hỏi về kiến thức của học sinh về cách xử trí khi bị sâu răng, có 75,2%

cho biết là đi khám răng (đây là lựa chọn tốt nhất), 54,6% lựa chọn cách vệ sinh răng miệng, 31,7% các em biết cần tránh ăn uống đồ lạnh và 9,8% không biết nên làm gì khi bị sâu răng

Trang 39

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ học sinh có kiến thức phòng chống sâu răng đạt

Biểu đồ 3.3, cho ta thấy tỷ lệ học sinh có điểm kiến thức phòng chống sâu răng đạt yêu cầu chiếm ưu thế hơn (60,9%), như vậy vẫn còn tỷ lệ tương đối cao (39,1%) các

em học sinh có kiến thức PCSR chưa đạt

3.3.2 Thực hành phòng chống sâu răng của học sinh

Gồm có thực hành phòng chống sâu răng do các em nhớ lại và phần quan sát trực tiếp các em chải răng

Thời điểm chải

răng trong ngày

Chải 1 lần sau ngủ dậy buổi sớm 22 5,8 Chải 1 lần buổi tối trước khi đi ngủ 65 17,2 Chải 2 lần sáng và tối 256 67,5 Chải 3 lần (sáng, trưa, tôí) 36 9,5

60.9%

39.1%

Kiến thức phòng chống sâu răng của học sinh

Đạt Không đạt

Trang 40

Thói quen ăn quà

vặt, nhiều đồ

ngọt

Kết quả bảng 3.6, Thực hành phòng chống sâu răng của học sinh ta thấy: có rất ít các em (9,5%) thực hiện đúng chải răng 3 lần trong ngày, đa số là các em chỉ chải hai lần trong ngày, lúc sáng và tối (72,0%), còn lại một số ít các em chỉ chải răng 1 lần vào buổi sáng mới thức dậy (7,0%) và chải răng 1 lần vào buổi tối trước khi đi ngủ chiếm 16,6% Không có em nào không chải răng trong ngày

Thói quen ăn quà vặt, đa số các em cho rằng mình ít khi ăn quà vặt, đồ ngọt (56,5%) Số em cho rằng mình thường xuyên ăn quà vặt (thói quen không tốt) chiếm tỷ lệ rất thấp (6,1%), còn số em bảo rằng mình có ăn quà vặt, đồ ngọt nhưng không thường xuyên, số này chiếm tỷ lệ là 36,7%

Bảng 3.7 Quan sát kỹ năng chải răng của học sinh

Kỹ năng chải răng của học sinh (n= 379) Tần số Tỷ lệ % Cách đưa bàn

chải

Chải ngang thân răng 155 40,9

Khi quan sát các em chải răng, có 3 mục quan sát gồm có:

Cách đưa bàn chải: phần lớn (51,5%) các em thực hành chải răng đúng cách (chải dọc thân răng), còn lại (40,9%) các em đều đưa bàn chải ngang thân răng khi chải

Ngày đăng: 31/01/2021, 12:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w