Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu mô tả “Thực trạng điều dưỡng chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật theo kế hoạch và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện đa khoa Đức Giang năm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG
THỰC TRẠNG ĐIỀU DƯỠNG CHUẨN BỊ NGƯỜI BỆNH
TRƯỚC PHẪU THUẬT THEO KẾ HOẠCH
VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG
NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ: 60.72.07.01
HÀ NỘI 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG
THỰC TRẠNG ĐIỀU DƯỠNG CHUẨN BỊ NGƯỜI BỆNH
TRƯỚC PHẪU THUẬT THEO KẾ HOẠCH
VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
LỜI CẢM ƠN v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Đại cương về chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật 4
1.2 Chuẩn bị người bệnh phẫu thuật theo kế hoạch của điều dưỡng 5
1.3 Chuẩn bị người bệnh phẫu thuật cấp cứu của điều dưỡng 7
1.4 Vai trò của điều dưỡng trong công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật 8
1.5 Nhưng yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc và phẫu thuật 9
Một số nghiên cứu nước ngoài 12
Một số nghiên cứu trong nước 13
1.6 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu: Bệnh viện đa khoa Đức Giang 15
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
2.3 Thiết kế nghiên cứu 19
2.4 Cỡ mẫu 20
2.5 Phương pháp chọn mẫu 22
2.6 Phương pháp thu thập số liệu: 23
2.7 Các biến số nghiên cứu 26
2.8 Các khái niệm, thước đo đánh giá 27
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 28
Trang 42.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 28
2.11 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 28
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 31
3.2 Thông tin chung về công tác chuẩn bị người bệnh có chỉ định phẫu thuật 32 Chương 4: BÀN LUẬN 45
4.1 Thông tin chung đối tượng nghiên cứu: 45
4.2 Kết quả thực hiện qui trình chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa Đức Giang 46
4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật 50
4.4 Đề xuất các biện pháp khắc phục hạn chế và nâng cao hiệu quả 55
KẾT LUẬN 57
KHUYẾN NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
TIẾNG VIỆT 60
PHỤ LỤC 63
Phụ lục 1: Bảng biến số nghiên cứu 63
Phụ lục 2: Bảng kiểm chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của điều dưỡng viên tại bệnh viện ĐK Đức Giang – Chuẩn bị tinh thần người bệnh 68
Phụ lục 3: Bảng kiểm chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của điều dưỡng viên tại bệnh viện ĐK Đức Giang – Chuẩn bị hồ sơ bệnh án 69
Phụ lục 4: Bảng kiểm chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của điều dưỡng viên tại bệnh viện ĐK Đức Giang – Chuẩn bị thể chất người bệnh 71
Phụ lục 5: Phỏng vấn sâu TP Quản lý chất lượng 73
Phụ lục 6: Phỏng vấn sâu TP Kế hoạch tổng hợp 74
Phụ lục 7: Phỏng vấn sâu trưởng khoa có người bệnh phẫu thuật theo KH 75
Phụ lục 8: Phỏng vấn sâu điều dưỡng trưởng khoa có người bệnh PT theo KH77 Phụ lục 9: Thảo luận nhóm điều dưỡng chuẩn bị người bệnh theo kế hoạch 79
Phụ lục 10: Bảng kiểm quy trình chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật 81
Trang 5TP QLCL Trưởng phòng Quản lý chất lượng
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số ĐDV được chọn vào nghiên cứu tại 06 khoa lâm sàng 22
Bảng 3.1: Thủ tục hồ sơ bệnh án cho người bệnh trước phẫu thuật 32
Bảng 3.2: Chuẩn bị tinh thần người bệnh 33
Bảng 3.3: Tỷ lệ bệnh nhân và thân nhân được giải thích trước mổ 34
Bảng 3.4: Công việc chuẩn bị thể chất người bệnh 35
Bảng 3.5: Tỷ lệ điều dưỡng thực hiện công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật 36
Bảng 3.6: Một số hậu quả khi không chuẩn bị tốt NBTPT 36
Bảng 3.7 Ảnh hưởng đặc điểm tuổi của điều dưỡng đến công tác CBTPT 37
Bảng 3.8 Ảnh hưởng trình độ học vấn của điều dưỡng đến công tác CBTPT 37 Bảng 3.9 Ảnh hưởng của công tác đào tạo CBTPT đến công tác CBTPT 38
Bảng 3.10 Ảnh hưởng giới tính của đối tượng nghiên cứu đến công tác CBTPT 38
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: Tuổi, giới của đối tượng nghiên cứu 31
Biểu đồ 3.2: Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 31
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học và quý Thầy - Cô Trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình giảng dạy, cung cấp kiến thức quý báu và hướng dẫn em trong suốt hai năm học vừa qua
Với tất cả sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS Lã Ngọc Quang và thầy PGS.TS Nguyễn Thái Sơn đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ, truyền đạt những kinh nghiệm và tạo mọi điều kiện nhằm giúp
em hoàn thành tốt luận văn này
Em xin trân trọng cám ơn quý Thầy - Cô các bộ môn, các bạn đồng nghiệp, các bạn học viên Lớp Cao học Quản lý Bệnh viện khóa 9 có những ý kiến đóng góp quý báu giúp em trong khi làm luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban Giám đốc, các đồng chí trưởng phó các khoa phòng, các đồng chí điều dưỡng Bệnh viện đa khoa Đức Giang đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc điều tra, phỏng vấn cũng như cung cấp những tài liệu tham khảo giúp
em thu thập được những thông tin chính xác, trung thực làm cơ sở hoàn thành luận văn này
Tôi biết ơn gia đình, bạn bè người thân đã luôn động viên, khuyến khích tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành chương trình học tập của khóa học này
Cuối cùng, với những kết quả trong nghiên cứu này, tôi xin chia sẻ tới tất cả các đồng chí và bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn
Học viên Nguyễn Thị Ngọc Dung
Trang 8TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật là một công tác quan trọng, vì ảnh hưởng trực tiếp quá trình cũng như kết quả đến phẫu thuật Nếu chuẩn bị tốt, sẽ hạn chế được đến mức tốt thiểu các tai biến khi gây mê và tiến hành phẫu thuật như có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh, nhầm người bệnh, nhầm vùng phẫu thuật, nhiễm khuẩn
… Nếu chuẩn bị tốt người bệnh sẽ hạn chế các tai biến có thể xảy ra Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu mô tả “Thực trạng điều dưỡng chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật theo kế hoạch và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện đa khoa Đức Giang năm 2018” Qua đó giúp cho các nhà quản lý và chuyên môn – nhất là điều dưỡng có thêm thông tin để duy trì và nâng cao chất lượng chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật cho đội ngũ diều dưỡng
Nghiên cứu được thực hiện trên 47 nhân viên điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang bằng phương pháp nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2018 Các biến số trong nghiên cứu bao gồm chuẩn bị thể chất, chuẩn bị hồ sơ bệnh án, chuẩn bị tinh thần cho người bệnh và các biến về các yếu tố ảnh hưởng
Kết quả cho thấy chuẩn bị về hồ sơ bệnh án: Chuẩn bị tốt là 77,1%, chuẩn bị khá
là 11,7% và chưa tốt/chưa đạt yêu cầu là 11,2% Chuẩn bị về tinh thần: Chuẩn bị tốt là 71,3%, chuẩn bị khá là 19,7% và chưa tốt/chưa đạt yêu cầu là 9,0% Chuẩn bị về thể chất: Chuẩn bị tốt chiếm 36,7% ,chuẩn bị khá là 50% và chưa tốt/chưa đạt yêu cầu là 13,3%
Một số yếu tố ảnh hưởng tích cực đến công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật theo kế hoạch bao gồm: quy định đầy đủ về quy trình chuẩn bị người bệnh và có bảng kiểm chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật, Sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện qua việc mở các lớp đào tạo về chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật và bố trí kèm cặp trực tiếp cho điều dưỡng mới Một số yếu tố cản trở quá trình chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật: Ý thức chủ quan, không cẩn thận của điều dưỡng, sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa các nhân viên y tế và bố trí, phân công công việc còn chưa hợp lý
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi đưa ra khuyến nghị cho bệnh viện bao gồm: Thực hiện có có hiệu quả công tác đào tạo, bố trí sắp xếp nhân lực hợp lý và Hiệu
Trang 9chỉnh quy trình, bảng kiểm chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật theo kế hoạch phù hợp với tình hình thực tế tại đơn vị
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật (NBTPT) là một công tác quan trọng, vì ảnh hưởng trực tiếp quá trình cũng như kết quả đến phẫu thuật Nếu chuẩn bị tốt, sẽ hạn chế được đến mức tốt thiểu các tai biến khi gây mê và tiến hành phẫu thuật như
có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh, nhầm người bệnh, nhầm vùng phẫu thuật, nhiễm khuẩn [2]… Nếu chuẩn bị tốt người bệnh sẽ hạn chế các tai biến có thể xảy ra Do
đó, phải tiến hành chuẩn bị người bệnh trước khi phẫu thuật tốt là việc hết sức quan trọng của cả quá trình phẫu thuật [12]
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm trên toàn thế giới ước chừng có trên 230 triệu ca phẫu thuật Biến chứng xảy ra gây nguy hiểm đến tính mạng của 7 triệu trường hợp, trong đó gần 1 triệu trường hợp tử vong liên quan đến an toàn phẫu thuật (ATPT), gần 10% các biến chứng chết người xảy ra tại các phòng mổ lớn Cứ 150 người bệnh nhập viện, có 1 trường hợp tử vong do sự cố y khoa và 2/3 sự
cố xảy ra trong bệnh viện liên quan đến phẫu thuật [2]
Theo các báo cáo gần đây cho thấy tỷ lệ sự cố liên quan đến phẫu thuật của các nước kém phát triển chiếm khoảng 18%, các bệnh lý cần can thiệp phẫu thuật ngày càng tăng do: tăng bệnh lý tim mạch, tăng tai nạn thương tích và nhiều người bệnh chấn thương, bệnh lý ung thư, tăng tuổi thọ… và như vậy, nguy cơ xảy ra sự cố hoặc sai sót y khoa liên quan đến phẫu thuật cũng gia tăng [2]
Thông tư 07/2011/ TT - BYT của Bộ Y tế về “Hướng dẫn công tác điều dưỡng chăm sóc người bệnh trong các cơ sở y tế” quy định người bệnh được điều dưỡng viên, hộ sinh viên hướng dẫn và hỗ trợ thực hiện chuẩn bị trước phẫu thuật, thủ thuật theo yêu cầu của chuyên khoa và của bác sĩ điều trị [11]
Bệnh viện đa khoa Đức Giang là một bệnh viện hạng I với nhiều kỹ thuật cao mới đang triển khai, mỗi năm bệnh viện thực hiện khoảng 7000 ca phẫu thuật trong đó có khoảng 2500 ca phẫu thuật theo kế hoạch Một số phẫu thuật lớn như thay khớp gối, khớp háng, cát đại tràng, cắt tử cung bán phần … Công tác đảm bảo ANPT cho người bệnh luôn được quan tâm, ưu tiên hàng đầu Việc chuẩn bị trước mổ của điều dưỡng được thực hiện và ghi chép vào các mẫu phiếu chăm sóc chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật in
Trang 11sẵn được ban giám đốc Bệnh viện thông qua Để đảm bảo an toàn cho người bệnh, kiểm soát được tai biến, hạn chế biến chứng có thể xảy ra trong và sau phẫu thuật thì vai trò rất lớn thuộc về công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của điều dưỡng Hiện nay, do số lượng bệnh nhân phẫu thuật gia tăng, việc chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của điều dưỡng vẫn còn có thiếu sót là nguy cơ mất an toàn cho người bệnh Qua công tác kiểm tra của phòng Điều dưỡng cũng như đánh giá của các điều dưỡng trưởng công tác chuẩn bị người bệnh còn nhiều vấn đề tồn tại như: Chưa vệ sinh vùng phẫu thuật, chuẩn bị không đúng vùng phẫu thuật, chưa hướng dẫn người bệnh tắm … Các sai sót này không được báo cáo thành văn bản Vấn đề này vẫn còn
là vấn đề tồn tại của bệnh viện, có ít nhiều ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả phẫu thuật
Câu hỏi đặt ra là: Thực trạng chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật theo kế hoạch của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa Đức Giang như thế nào? Có yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác này tại bệnh viện Để đánh giá việc chuẩn bị người bệnh
trước phẫu thuật của điều dưỡng, chúng tôi triển khai nghiên cứu: “Thực trạng điều dưỡng chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật theo kế hoạch và các yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện đa khoa Đức Giang năm 2018”
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng điều dưỡng chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật theo kế hoạch tại bệnh viện đa khoa Đức Giang, năm 2018
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật theo kế hoạch của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa Đức Giang, năm 2018
Trang 13Chương 1: TỔNG QUAN
1.1 Đại cương về chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật
1.1.1 Định nghĩa và các khái niệm
Phẫu thuật là các thủ thuật dùng trong ngoại khoa để chữa bệnh hoặc chẩn đoán bệnh Ngoài ra còn mục đích tìm tòi trên cơ sở khoa học những phương pháp và kỹ thuật mổ mới để giải quyết các yêu cầu chữa bệnh ngày một cao hơn Phẫu thuật gắn liền với các phương pháp gây mê, chống đau Phẫu thuật gây ra những sang chấn nhất định cho người bệnh về tinh thần, thể chất, có nguy cơ gây tai biến cho người bệnh
Một bệnh nhân khi được chỉ định phẫu thuật với mục đích khác nhau:
Để chẩn đoán: Sinh thiết hoặc mổ thăm dò;
Để điều trị triệt để: Cắt bỏ khối u, cắt bỏ ruột thừa viêm…;
Để tạo hình hoặc thẩm mỹ: Cắt bỏ sẹo dính, tạo hình vú…;
Có thể là phẫu thuật tạm thời: Mở thông dạ dày…
Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ là việc làm cần thiết đầu tiên cho tất cả các hoạt động gây mê hồi sức tiếp theo Qua thăm khám, người gây mê hiểu rõ được bệnh lý ngoại khoa cũng như các hoạt động phẫu thuật sẽ diễn ra, biết được tiền sử bệnh tật của gia đình và bệnh nhân, thói quen và tình trạng sức khoẻ hiện tại Trên cơ sở đó, đánh giá được một cách chính xác bệnh tật và các nguy hiểm có thể xảy ra cũng như
đề xuất khám hoặc xét nghiệm chuyên khoa bổ sung Sau khi thăm khám bệnh nhân, người gây mê đưa ra một kế hoạch gây mê và hồi sức tốt nhất cho bệnh nhân Qua thăm khám cùng với những lời giải thích và động viên phù hợp sẽ giúp bệnh nhân hiểu, tin tưởng và hợp tác với thầy thuốc [27]
1.1.2 Vai trò của công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật
Tai biến trong điều trị và phẫu thuật là sự cố gây nguy hại cho bệnh nhân ngoài
ý muốn, xảy ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, điều trị người bệnh [2]
Dù tai biến xảy ra ở bất cứ mức độ và nguyên nhân nào cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất của người bệnh Nhiều tai biến xảy ra do thiếu sót trong công tác chuẩn bị và kiểm soát người bệnh trước, trong và sau phẫu
Trang 14thuật Những tai biến đó hoàn toàn có thể kiểm soát, giảm thiểu được nếu công tác chuẩn bị trước mổ được kiểm soát chặt chẽ Chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật phải được thực hiện một cách nghiêm túc, cẩn trọng, chu đáo và theo một quy trình nhất định để tránh sai sót
Công tác chuẩn bị người bệnh phải được thực hiện xuyên suốt từ khi người bệnh có chỉ định phẫu thuật đến khi họ được phẫu thuật
Mục đích của công tác chuẩn bị trước mổ
Đánh giá toàn trạng và các bệnh lý nội khoa mà bệnh nhân mắc phải
Xác định các yểu tố nguy cơ có thể ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật
Tư vấn, giải thích cho người bệnh biết về các phương pháp điều trị, phương pháp tối ưu cho NB NB cũng cần được biết mức độ trầm trọng căn bệnh của mình và nguy cơ xảy ra biến chứng của cuộc phẫu thuật cũng như các vấn đề khác có thể xảy
ra trong và sau khi mổ, đặc biệt các vấn đề liên quan đến thẩm mỹ, phục hồi, vận động
và hòa nhập với cộng đồng
Tối ưu hóa tình trạng toàn thân cũng như trạng thái tâm lý, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ xảy ra các tai biến và biến chứng sau phẫu thuật góp phần vào thành công cho cuộc mổ
1.2 Chuẩn bị người bệnh phẫu thuật theo kế hoạch của điều dưỡng
1.2.1 Chuẩn bị tinh thần người bệnh
Cần giải thích để người bệnh biết mục đích, lợi ích, phương thức phẫu thuật Thông báo về các ảnh hưởng sau phẫu thuật: đau, khó chịu khi mang trên người các ống dẫn lưu
Điều dưỡng cũng cần trả lời đầu đủ các thắc mắc của người bệnh trong phạm vi cho phép và trao đổi với thân nhân người bệnh những điều cần thiết của người bệnh
và khuyên họ nên quan tâm chia sẻ động viên người bệnh, cùng hợp tác trong công việc chuẩn bị trước phẫu thuật cho người bệnh [12]
Trang 15Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, trong chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật điều dưỡng không được cho người bệnh biết tình trạng nguy kịch của bệnh mà sinh ra lo lắng sợ hãi Truyệt đối không giải thích những điều mà bác sỹ không cho phép [1]
1.2.2 Thủ tục hành chính
Người bệnh hoặc người nhà cần ký giấy cam kết chấp nhận phẫu thuật Điều dưỡng cần hoàn thiện hồ sơ phẫu thuật: giấy điều trị, chỉ định phẫu thuật của bác sĩ, phiếu chăm sóc, phiếu theo dõi dấu hiệu sinh tồn, bảng tóm tắt bệnh lý, các phiếu xét nghiệm cần thiết, phiếu thử test kháng sinh, bảng kiểm chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật [12]
Giấy cam kết phẫu thuật của người bệnh hoặc người nhà người bệnh
Điều dưỡng phải ghi chép hồ sơ bệnh án những theo dõi hằng ngày để báo cáo bác sỹ chẩn đoán và tiên lượng sau này[1]
1.2.3 Chuẩn bị thể chất người bệnh
* Đánh giá tình trạng sức khỏe toàn thân người bệnh
Tổng trạng: Tuổi tác, da niêm mạc, tỉnh, kém ý thức, vô thức, cân nặng: gầy béo, dấu hiệu sinh tồn, tiền sử, bệnh sử
* Chuẩn bị các xét nghiệm theo y lệnh của bác sĩ: Xét nghiệm máu: công thức máu, dung tích hồng cầu, thời gian máu chảy- máu đông (TS- TC), nhóm máu, đường huyết, ure máu, xét nghiệm nước tiểu: tổng phân tích nước tiểu, X quang, siêu âm, điện tâm đồ, các xét nghiệm khác: chức năng gan, thận, tuyến giáp, hô hấp…[1]
* Chuẩn bị vệ sinh cá nhân: vệ sinh da vùng phẫu thuật
Những ngày trước phẫu thuật: Người bệnh được tắm rửa sạch sẽ hàng ngày Trước ngày phẫu thuật phải cạo lông vùng da phẫu thuật (nếu có) và tránh làm xây xát
da, sau đó rửa sạch da bằng xà phòng Vùng phẫu thuật đặc biệt như sọ não thì phải cắt hết tóc trước khi cạo nhẵn da Báo cáo các vết bất thường vùng da nơi sẽ phẫu thuật: u, nhọt, vết thương có sẵn…
* Chuẩn bị chế độ ăn uống của người bệnh: Một tuần trước phẫu thuật người bệnh cần được bồi dưỡng đầy đủ thức ăn có đạm, đường, sinh tố, chất khoáng Một
Trang 16ngày trước phẫu thuật cho người bệnh ăn nhẹ buổi sáng, chiều uống nước đường: ăn cháo hoặc uống sữa Nhịn ăn uống 6-8 giờ trước phẫu thuật Thụt tháo phân 2 lần: 1 lần hôm trước phẫu thuật, 1 lần sáng sớm ngày hôm sau trước phẫu thuật (theo y lệnh của bác sĩ) [12], [7]
1.2.4 Chuẩn bị người bệnh trong ngày phẫu thuật:
Điều dưỡng chuẩn bị và thực hiện: Lấy lại dấu hiệu sinh tồn, Làm gọn tóc người bệnh, tháo các tư trang người bệnh gửi thân nhân hoặc ký gửi khoa phòng (phải
có giấy biên nhận, bàn giao), thụt tháo phân (nếu có chỉ định), đeo bảng tên vào tay người bệnh Người bệnh được thay quần áo sạch đúng quy định cho người bệnh phẫu thuật, kiểm tra đầy đủ hồ sơ, thực hiện các thủ thuật đặc biệt riêng từng người bệnh nếu có (đặt sonde tiểu, dạ dày…), sát khuẩn vùng da phẫu thuật, phủ gạc vô khuẩn và băng lại [1] Điều dưỡng di chuyển người bệnh lên nhà phẫu thuật, nên dùng xe đẩy hoặc cáng (một số người bệnh đặc biệt phải di chuyển nhẹ nhàng, không được thay đổi tư thế như xuất huyết tiêu hóa, chấn thương sọ não, vỡ xương chậu), bàn giao người bệnh với nhân viên phòng phẫu thuật cùng hồ sơ bệnh án [12]
1.3 Chuẩn bị người bệnh phẫu thuật cấp cứu của điều dưỡng
Phẫu thuật cấp cứu gồm các chỉ định người bệnh cần phẫu thuật ngay, có thể là tối khẩn như vỡ tạng (gan, lách, thận…), vỡ dạ con, vết thương thấu phổi, vết thương thấu tim hoặc phẫu thuật khẩn như: xuất huyết tiêu hóa, thoát vị bẹn nghẹt, viêm ruột thừa, viêm phúc mạc, thủng dạ dày [12]…
1.3.1 Chuẩn bị tinh thần
Giải thích cho người bệnh hoặc thân nhân người bệnh biết mục đích, lợi ích về phương thức phẫu thuật và những điều cần thiết với người bệnh [12]
1.3.2 Thủ tục hành chính không làm kịp thì bổ sung sau
Kiểm tra chỉ định phẫu thuật cấp cứu của bác sĩ và giấy cam kết phẫu thuật, kiểm tra kết quả các xét nghiệm để dán và hồ sơ, dán các bảng biểu: kế hoạch chăm sóc, bảng theo dõi dấu hiệu sinh tồn, giấy chứng nghiệm test kháng sinh [12]
Trang 171.3.3 Chuẩn bị về thể chất
Hồi sức cho người bệnh: truyền dịch, tiêm các thuốc trợ tim, trợ lực theo y lệnh của bác sĩ Theo dõi chỉ số cân nặng, dấu hiệu sinh tồn, làm các xét nghiệm cận lâm sàng cơ bản theo y lệnh của bác sĩ phải thực hiện khẩn trương[12]
Theo dõi dấu hiệu sinh tồn và ghi hồ sơ bệnh án
Làm các xét nghiệm cơ bản: số lượng hồng cầu, bạch cầu, thời gian máu chảy máu động[1]
Chuẩn bị da vùng phẫu thuật: Rửa da và cạo lông vùng phẫu thuật (nếu có) Dinh dưỡng: người bệnh nhịn ăn, uống hoàn toàn, trường hợp người bệnh vừa ăn thì tiến hành rửa dạ dày, thay quần áo sạch theo quy định [12]
1.3.4 Chuẩn bị trước khi đưa người bệnh lên phòng mổ:
Khẩn trương làm các thủ thuật đặc biệt theo y lệnh bác sĩ Di chuyển người bệnh lên phòng mổ nhẹ nhàng bằng xe đẩy hoặc cáng, người điều dưỡng phải đi ở phía chân người bệnh để quan sát sắc mặt người bệnh phát hiện và xử trí các biến chứng (trước khi di chuyển phải báo trước nhân viên phòng phẫu thuật để có kế hoạch tiếp đón người bệnh) Tiến hành bàn giao người bệnh cùng hồ sơ với nhân viên gây
mê [12]
1.4 Vai trò của điều dưỡng trong công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật
Người điều dưỡng có vai trò rất quan trọng trong việc chuẩn bị người bệnh trước khi phẫu thuật nhằm mục đích giúp cho người bệnh yên tâm, sẵn sàng chấp nhận cuộc mổ Có rất nhiều yếu tố góp phần vào sự lo lắng của người bệnh sắp phải phẫu thuật, họ có nhiều những băn khoăn cần được giải đáp, đối tượng mà người bệnh hay tìm đến và dễ tìm thấy nhất chính là điều dưỡng
Chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của điều dưỡng là chăm sóc sức khỏe toàn diện theo quy trình điều dưỡng Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ căn cứ vào tính chuyên khoa, mức độ nặng nhẹ của từng loại phẫu thuật (mổ cấp cứu, mổ kế hoạch, loại đặc biệt, loại 1, 2, 3…)
Trang 18Điều dưỡng là người trực tiếp thực hiện công tác chăm sóc, hướng dẫn, gần gũi, động viên tinh thần cho người bệnh do vậy cần nắm những thông tin cơ bản về người bệnh như bệnh tật và các rối loạn kèm theo; hiểu và biết phản ứng của người bệnh trước mổ; biết cách đánh giá những xét nghiệm tiền phẫu và biết lượng giá những thay đổi của cơ thể, nguy cơ, biến chứng liên quan đến phẫu thuật [8]
Thông tư 07/2011/TT -BYT đã quy định chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật là một trong 12 nhiệm vụ của điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh
Người bệnh được điều dưỡng viên, hộ sinh viên hướng dẫn và hỗ trợ thực hiện chuẩn bị trước phẫu thuật, thủ thuật theo yêu cầu của chuyên khoa và của bác sĩ điều trị [11]
Trước khi đưa người bệnh đi phẫu thuật, thủ thuật, điều dưỡng viên, hộ sinh viên phải:
1.5 Nhưng yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc và phẫu thuật
Đặc điểm nhân lực ĐD
Điều dưỡng hiện tại đang được quan tâm để nâng cao trình độ và tay nghề
Những điều dưỡng chuyên nghiệp có trình độ cao đẳng và đại học, có thâm niên công tác lâu năm trong chăm sóc bệnh nhân sẽ nhận thức được giá trị của việc áp dụng quy trình điều dưỡng để nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân Họ nhận thấy áp dụng quy trình điều dưỡng trong chăm sóc bệnh nhân là khoa học và hiệu quả Họ được học
ở trường và luôn được nâng cao kiến thức về chăm sóc bệnh nhân đặc biệt là việc chăm sóc bệnh nhân dựa vào bằng chứng[18]
Trang 19Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy Trâm cho thấy có mối liên quan giữa tuổi và thâm niên công tác của điều dưỡng tới mức độ hoàn thành công việc chăm sóc người bệnh Nghiên cứu cho thấy ĐDV dưới 30 tuổi thì có mức độ chưa hoàn thành nhiệm
vụ CSNB cao gấp 2 lần so với ĐDV lớn hơn hoặc bằng 30 tuổi ĐDV có thâm niên công tác dưới 10 năm thì mức độ chưa hoàn thành công việc cao gấp 2 lần ĐDV có thâm niên công tác bằng hoặc trên 10 năm Đối với ĐDV có trình độ trung học thì mức độ chưa hoàn thành công việc cao gấp 3 lần đối tượng ĐDV có trình độ cao đẳng trờ lên [28]
Tổ chức CSNB
Việc sử dụng quy trình điều dưỡng giúp cho điều dưỡng áp dụng được kiến thức chính xác vào chăm sóc, giải quyết vấn đề của bệnh nhân rõ ràng Sử dụng quy trình điều dưỡng trong chăm sóc bệnh nhân làm cho người điều dưỡng tự tin và yêu nghề của mình và thái độ của họ trong việc áp dụng quy trình điều dưỡng trong chăm
sóc bệnh nhân rất tốt [18]
Điều kiện làm việc
Bổ sung trang thiết bị, phương tiện phục vụ chăm sóc tăng cường sự tiện nghi
cho người bệnh khi nằm viện, sự thuận tiện cho nhân viên y tế trong công tác[19]
Sự quan tâm của lãnh đạo
Theo sự phát triển của ngành y tế nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, nâng cao chất lượng chăm sóc nên bệnh viện có sự hỗ trợ tốt cho điều dưỡng trong công tác chăm sóc bệnh nhân Bệnh viện không ngừng đào tạo cán bộ điều dưỡng có chất lượng và tạo điều kiện cho điều dưỡng làm việc trong môi trường tốt nhất với những quy định, thưởng, phạt rõ ràng Bệnh viện từng bước chuẩn hóa đội ngũ điều dưỡng
để đáp ứng nhu cầu xã hội và chuẩn của Bộ Y tế [18]
Bệnh viện có sự kiểm tra, giám sát, đánh giá việc áp dụng quy trình điều dưỡng trong chăm sóc bệnh nhân như một tiêu chuẩn đánh giá điều dưỡng và sự cải tiến
chăm sóc
Chế độ khuyến khích
Trong bài báo xuất bản của Health Services Research vào tháng 8 năm 2008, Tiến sĩ Christopher Friese và các đồng nghiệp nhận thấy rằng trình độ học vấn điều dưỡng có liên quan đáng kể với kết quả chăm sóc người bệnh Các điều dưỡng được
Trang 20chuẩn bị ở cấp độ đại học liên quan đến tỷ lệ tử vong thấp hơn và tỉ lệ sai sót trong chăm sóc ít hơn các đối tượng không được đào tạo đại học [32]
Ảnh hưởng của môi trường chăm sóc bệnh viện đối với tử vong và kết quả chăm sóc bệnh nhân:
Trong một nghiên cứu được công bố tháng 5 năm 2008 trên Tạp chí Journal
of Nursing Administration, Tiến sĩ Linda Aiken và các đồng nghiệp đã khẳng định kết quả từ nghiên cứu năm 2003 cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa trình độ và hiệu quả chăm sóc người bệnh Các nhà nghiên cứu điều dưỡng đã chỉ ra rằng cứ tăng 10% tỷ
lệ cử nhân điều dưỡng cho nhân viên bệnh viện thì nguy cơ tử vong của người bệnh giảm 4% [29]
Công tác chăm sóc sức khỏe là một hệ thống phức tạp, vì chăm sóc y tế hiếm khi do một cá nhân thực hiện mà nó phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhân viên y tế [30] Chăm sóc người bệnh an toàn và hiệu quả phụ thuộc không chỉ vào kiến thức, kỹ năng và hành vi của các nhân viên y tế trực tiếp điều trị cho bệnh nhân, mà cả vào cách thức các nhân viên đó hợp tác và liên lạc với nhau trong môi trường làm việc Nói cách khác, bệnh nhân phụ thuộc vào việc nhiều người làm đúng việc và đúng thời điểm Tức là họ phụ thuộc vào hệ thống chăm sóc
Không những vậy, chăm sóc y tế còn là hoạt động rất phức tạp do sự đa dạng của các nhiệm vụ liên quan đến cung ứng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân, sự đa dạng về bệnh nhân, bác sĩ, nữ hộ sinh, điều dưỡng và các nhân viên khác; rồi còn vô
số các mối quan hệ giữa bệnh nhân, thân nhân người bệnh, nhân viên y tế, các nhà quản lý, và cộng đồng; cũng như những khác biệt trong cách bố trí các khoa/phòng, hay tạo dựng các qui định chồng chéo, không thống nhất hoặc không có qui định cũng tạo nên vô số rắc rối, phức tạp trong vận hành hệ thống Hay như chưa kể đến một hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị, vật tư tiêu hao, công nghệ kỹ thuật mới đa dạng và phức tạp Điều đó cũng tạo nên nhiều cơ hội mắc lỗi và nhiều sai sót hơn [36]
Nguyên nhân của các sai sót, sự cố y khoa liên quan tới phẫu thuật:
Các biến chứng xảy ra liên quan đến nhiều yếu tố như: lỗi con người, lỗi kỹ thuật, lỗi hệ thống, thiếu sự phối hợp đồng bộ trong quá trình thực hiện phẫu thuật
Trang 21nhất là nhóm gây mê và phẫu thuật viên, cũng như lỗi phương tiện sử dụng do thiếu hoặc hỏng hóc
Các thao tác phẫu thuật thường rất phức tạp và thường vấp nhiều sai sót Công việc hành chính trong khoa ngoại cũng có thể dẫn đến sai sót Trong một số trường hợp, có những biến chứng và nguy cơ của phẫu thuật dù đã được dự báo trước nhưng cũng không thể tránh khỏi được [2]
Những nguyên nhân chính dẫn đến sai sót, sự cố được xếp theo mức độ:
- Bất cẩn/thiếu quan tâm
- Nhân viên chưa được đào tạo/thiếu kinh nghiệm
- Tuổi và sức khoẻ của “Nhóm phẫu thuật”
- Thiếu thông tin liên lạc
- Nhân viên làm việc quá sức, áp lực công việc
- Đọc toa thuốc sai hoặc sai sót trong cấp phát thuốc, bao gồm cả việc ghi chép không “rõ ràng” trong hồ sơ bệnh án hoặc do nhầm nhãn
- Thiếu công cụ (Bảng kiểm) để chắc chắn mọi thứ được kiểm tra kỹ lưỡng
- “Nhóm Phẫu thuật” chưa thực sự ăn ý và gắn kết
- Áp lực giảm thời gian phẫu thuật
- Văn hóa tổ chức/làm việc
- Mức độ thân thiện, an toàn của môi trường làm việc
- Chăm sóc/theo dõi tiếp tục sau phẫu thuật
- Đặc điểm người bệnh, nhất là khi người bệnh có nguy cơ như: béo phì, bất thường giải phẫu
- Sự hiểu nhầm giữa Người bệnh – Nhóm phẫu thuật do bất đồng ngôn ngữ: khách du lịch, dân tộc thiểu số …
- Do bản thân người bệnh gây ra: do rối loạn ý thức, thiếu sự hợp tác [2]
Một số nghiên cứu nước ngoài
Theo nghiên cứu của Blitz JD năm 2016, cho thấy: Có 11 trường hợp tử vong
từ 13.964 (0,08%) bệnh nhân thấy trong thăm khám trước khi phẫu thuật có gây mê và
23 trường hợp tử vong từ 13.964 (0,16%) bệnh nhân không được thăm khám trước khi gây mê [31]
Trang 22Theo khảo sát được tiến hành của Martin LA trên 2017 người bệnh trước phẫu thuật cho thấy có có mối liên quan giữa nguồn thông tin y tế được trao đổi giữa thầy thuốc và người bệnh, cho thấy: So với các bệnh nhân không được chuẩn bị, những người phẫu thuật theo kế hoạch được nhiều thông tin từ NVYT hơn so với phẫu thuật cấp cứu (92 so với 77%, p <0,001) và trước khi rời khỏi bệnh viện (91 so với 69%, p
= 0,02) nhất NB được chuẩn bị phẫu thuật theo kế hoạch có tỷ lệ phải quay trở lại điều trị thấp hơn người bệnh không được chuẩn bị trước phẫu thuật bệnh nhân cảm thấy chuẩn bị hoặc trước (7%, so với 22% chuẩn bị không chuẩn bị, p = <0.001) hoặc sau khi phẫu thuật (9% so với chuẩn bị 23% không được chuẩn bị, p <0,001) [34]
Tổ chức Y tế Thế giới đã cố gắng nỗ lực để làm giảm bớt các nguy cơ dẫn đến việc phẫu thuật không an toàn như xây dựng chương trình an toàn người bệnh, bao gồm an toàn phẫu thuật, áp dụng bảng kiểm đầu tiên từ năm 2009 Theo báo cáo của
Tổ chức Y tế thế giới, nghiên cứu thử nghiệm ở 8 bệnh viện trên toàn cầu: 7688 bệnh nhân trong đó 3733 trước và 3955 sau thực hiện bảng kiểm từ tháng 10- 2007 đến T9-
2008 Biến chứng lớn giảm từ 11% đến 7% (giảm 36%), tỷ lệ tử vong nội trú giảm từ 1,5% đến 0,8% (giảm gần 50%) [35]
Theo nghiên cứu tại 6 bệnh viện tại Hà Lan (Netherland) qua 3760 trường hợp trước và 3820 sau áp dụng Checklist an toàn phẫu thuật: Biến chứng giảm từ 27,3% đến 16,7% tử vong tại bệnh viện giảm từ 1,5% đến 0,8% [2]
Một số nghiên cứu trong nước
Năm 2011, tác giả Lê Tuyên Hồng Dương và cộng sự làm nghiên cứu tại bệnh viện Giao thông vận tải Trung ương cho thấy có tới 16,7% người bệnh bị nhiễm trùng sau phẫu thuật cấp cứu so với 4,4% nhiễm trùng sau mổ phiên Như vậy có sự khác biệt rất lớn về tỷ lệ nhiễm trùng sau mổ giữa nhóm người bệnh mổ có chuẩn bị và mổ không chuẩn bị [14]
Tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2011, qua nghiên cứu của tác giả Đặng Hồng Thanh đã chỉ ra: có 18 người bệnh nhiễm trùng vết mổ trên 281 người bệnh được mổ cấp cứu tại bệnh viện này Trong khi đó chỉ có 8 người bệnh nhiễm trùng vết mổ trong tổng số 225 người bệnh được mổ phiên tại đây [24] Điều này một
Trang 23lần nữa lại nói đến tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật
Tác giả Đoàn Quốc Hưng và các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu ở bệnh nhân
mổ tim hở có chuẩn bị ở người trưởng thành tại khoa Phẫu thuật Tim mạch - Lồng ngực - Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho thấy nhận thức về tầm quan trọng của công tác chuẩn bị người bệnh trước mổ chưa phải đã được quán triệt đồng đều tới tất cả thầy thuốc cũng như điều dưỡng Không ít nhân viên y tế nghĩ rằng chỉ cần mổ tốt là được giải thích trước mổ vẫn còn một tỷ lệ nhất định bệnh nhân chưa được biết về những can thiệp sau phẫu thuật (84,6%) và nơi nằm điều trị sau phẫu thuật (47,3%), 36,3% bệnh nhân chưa được bác sĩ gây mê trực tiếp giải thích trước mổ, vẫn còn 46% điều dưỡng viên chưa quan tâm đến công tác chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân trước
mổ Chỉ có 58 trường hợp (63,7%) bác sĩ giải thích cho cả người nhà và bệnh nhân, còn lại 33 trường hợp (36,3%) bác sĩ chỉ giải thích về phẫu thuật cho người nhà Tỷ lệ bệnh nhân không được hướng dẫn tháo răng giả cao (77%), có 61 BN (67%) không được căn dặn [17]
Tác giả Bùi Thị Huyền: Đánh giá thực trạng chuẩn bị và bàn giao người bệnh trước phẫu thuật tại khoa Phẫu thuật - phiếu khám trước mổ, vẫn còn thiếu 1,3 - 2% Chưa vệ sinh toàn thân hay tại chỗ 58%, chưa thụt tháo 66,7%, chưa băng vô trùng để xác định vùng mổ 84,7% Bàn giao bệnh nhân: Điều dưỡng nhận người bệnh không kiểm tra lại thông tin, đối chiếu tên người bệnh là 3,3%, chưa thực hiện ký nhận giữa người đưa và người nhận bệnh nhân 48% Khi kiểm tra thực tế, vệ sinh toàn thân và tại chỗ có tỷ lệ thấp hơn so với kết quả trong phiếu chuẩn bị NB trước mổ (28% so với 42%) [16]
Được sự giúp đỡ của WHO, Việt Nam đã bước đầu áp dụng bảng kiểm vào năm 2011 Tại bệnh viện Việt Đức trung tâm lớn về ngoại khoa của cả nước và một số bệnh viện đã tiến hành áp dụng thử Bảng kiểm ATPT trong năm 2010
Triển khai an toàn trong phẫu thuật là một trong những nội dung mà Bộ Y tế đã
đề ra trong Thông tư số 19/2013/TT – BYT về triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn người bệnh và nhân viên y tế với các nội dung chủ yếu sau:
Xác định chính xác người bệnh, tránh nhầm lẫn khi cung cấp dịch vụ;
Trang 24An toàn phẫu thuật, thủ thuật;
An toàn trong sử dụng thuốc;
Phòng và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện;
Phòng ngừa rủi ro, sai sót do trao đổi, truyền đạt thông tin sai lệch giữa nhân viên y tế;
Phòng ngừa người bệnh bị ngã;
An toàn trong sử dụng trang thiết bị y tế [26]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Viết Thanh với cộng sự nghiên cứu trên 200 người bệnh đã đưa ra kết quả: Có 100% BN được đối chiếu xác nhận tên tuổi với thẻ
BN, 100% xác nhận chính xác vị trí mổ, phương pháp mổ, giấy cam đoan mổ, có 91%
BN được đánh vết mổ và băng vô trùng vết mổ Có 04 trường hợp có răng giả nhưng
bị bỏ sót chưa tháo bỏ chiếm 5,8% chưa đánh rửa vết mổ và băng vô trùng 18 BN chiếm tỷ lệ 9% [25]
1.6 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu: Bệnh viện đa khoa Đức Giang
BVĐK Đức Giang được thành lập theo quyết định số 8032/QĐ- UB ngày 29 tháng 12 năm 2003 của Uỷ ban nhân Thành phố Hà Nội, tiền thân là một BVĐK hạng
IV được thành lập từ năm 1963, lên BVĐK Hạng III năm 1995, BVĐK Hạng II năm
2004 và tháng 9/2011 đã được Thành phố công nhận xếp bệnh viện hạng I
Bệnh viện đa khoa Đức Giang đóng trên địa bàn quận Long Biên, trực thuộc Sở
Y tế Hà Nội quản lý được giao kế hoạch 490 giường bệnh Với chức năng của một BVĐK khu vực phía Bắc Thủ đô, BVĐK Đức Giang là đầu mối khám chữa bệnh cho nhân dân không chỉ của quận Long Biên, Huyện Gia Lâm (với tổng số dân trên 500,000) người mà còn khám, điều trị bệnh cho nhân dân các khu vực lân cận như tỉnh Hưng Yên, tỉnh Bắc Ninh, huyện Đông Anh, huyện Sóc Sơn
Hiện nay, BVĐK Đức Giang đã triển khai nhiều kỹ thuật mới và dịch vụ mới, xây dựng và hoàn thiện nhiều đề án dịch vụ kỹ thuật, phê duyệt và đưa vào áp dụng phục vụ người bệnh, tạo bước ngoặt lớn trong phát triển chuyên môn kỹ thuật tại bệnh viện như: triển khai thận nhân tạo, điều trị tim mạch, các chương trình quản lý bệnh mãn tính, phẫu thuật theo yêu cầu, giường bệnh theo yêu cầu, khám bệnh theo yêu cầu Nhiều kỹ thuật mới, kỹ thuật cao cũng được triển khai: giảm đau sau mổ, đẻ không đau, nội soi gây mê, nhiều kỹ thuật xét nghiệm khác: gelcard, trips tests, xét
Trang 25nghiệm miễn dịch, giải phẫu bệnh…Nhờ những đề án này mà chất lượng chuyên môn
kỹ thuật và phục vụ người bệnh được nâng lên rõ rệt [4]
Nhân sự bệnh viện: tính đến tháng 12 năm 2017 là 948 nhân viên Trong đó: cán bộ biên chế có 509 người, cán bộ hợp đồng (theo 68) có 54 người, hợp đồng ngắn hạn có 385 người
Trình độ chuyên môn tại BVĐK Đức Giang có 184 bác sĩ (trong đó gồm 11 tiến sĩ , 37 thạc sỹ 37, 11 chuyên khoa II, và 44 chuyên khoa I), 08 dược sĩ đại học, 06
kỹ sư CNTT, 54 điều dưỡng đại học, 36 điều dưỡng cao đẳng và 245 điều dưỡng trung học [10]
Cơ cấu tổ chức: Bệnh viện hoạt động theo khối (04 khối), gồm có 10 phòng, 35 khoa
Ban giám đốc gồm: 01 Giám đốc và 03 Phó Giám đốc
BVĐK Đức Giang đang nỗ lực cố gắng xây dựng bệnh viện với phương châm:
“Chăm sóc sức khỏe cho bạn là hạnh phúc của chúng tôi”
Về chức năng nhiệm vụ: Bệnh viện thực hiện công tác khám và chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, đào tạo, chỉ đạo tuyến, phòng bệnh, quản lý bệnh viện, hợp tác quốc tế
Mỗi năm bệnh viện phẫu thuật khoảng 7000 ca, trong đó khoảng 2500 ca phẫu thuật theo kế hoạch Loại phẫu thuật tại bệnh viện có thể thực hiện như: Thay khớp háng, khớp gối, nội soi khớp gối, phẫu thật ổ bụng, cắt bán phần tử cung [4]
Tại bệnh viện Đức Giang đã xây dựng và đưa vào thực hiện quy trình chuẩn bị người bệnh trước mổ thống nhất trong toàn bệnh viện Quy trình được thực hiện từ khi tiếp đón người bệnh vào viện phẫu thuật cho tới lúc người bệnh được đưa vào phòng phẫu thuật Tại các khoa điều trị có trang bị hệ thống nhà tắm, trang bị vòng đeo nhận dạng NB khi bàn giao với khoa GMHS
Người bệnh đến khoa Gây mê hồi sức để phẫu thuật được bàn giao giữa điều dưỡng các khoa và điều dưỡng tiếp đón phòng mổ Bệnh viện đã quy định về chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của điều dưỡng như sau:
- Tối hôm trước phẫu thuật:
+ Hướng dẫn người bệnh ký giấy cam kết trước mổ khi người bệnh tự nguyệt
và đồng ý mổ
Trang 26+ Thực hiện y lệnh về thuốc kháng sinh, an thần, giảm đau cho người bệnh + Giải thích cho người bệnh yên tâm (trong phạm vi ĐD)
+ Thực hiện vệ sinh cá nhân (theo quy định vệ sinh người bệnh trước mổ) + Thực hiện các xét nghiệm cần thiết phục vụ phẫu thuật, thủ thuật
+ Thụt tháo cho người bệnh từ tối hôm trước phẫu thuật (nếu có chỉ định) + Hướng dẫn chế độ ăn, uống
+ Kiểm tra lại vệ sinh cá nhân của người bệnh, thay quần áo
+ Băng và sát khuẩn vùng chuẩn bị mổ
+ Cho người bệnh đi tiểu
+ Chuẩn bị đầy đủ hồ sơ bệnh án, phim XQ
+ Tiêm thuốc đặc hiệu nếu có
+ Tháo trang sức, răng giả (nếu có)
+ Đeo biển Phòng mổ cho người bệnh đi phẫu thuật
- Điều dưỡng thực hiện bảng kiểm trước phẫu thuật và chuyển người bệnh vào phòng mổ, bàn giao cho nhân viên phòng mổ [9]
Trang 27- Đánh giá tình trạng SK toàn thân NB
- Chuẩn bị CLS theo y lệnh
- Chuẩn bị vệ sinh cá nhân: vệ sinh da vùng phẫu thuật
- Chuẩn bị chế độ ăn của NB
4 Chuẩn bị người bệnh trong ngày phẫu thuật:
- Lấy lại dấu hiệu sinh tồn
- Mô hình phân công CS
- Phân công công việc
- Số nhân lực ĐDV trực tiếp
chuẩn bị NB TPT
- Số NB trung bình/điều
dưỡng trực tiếp chăm sóc
- Thời gian trung bình ĐDV
trực tiếp chuẩn bị NBTPT
- Tình trạng bệnh của NB
Điều kiện làm việc
- Môi trường làm việc
CỦA ĐIỀU DƯỠNG
- Cơ hội làm việc và thăng tiến
Quan tâm của lãnh đạo đến công tác chuẩn bị NBTPT
- Đào tạo, cập nhật kiến thức trong thực hành chuẩn bị NBTPT
Trang 28Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng
Điều dưỡng trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật tại các khoa tại bệnh viện đa khoa Đức Giang
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Điều dưỡng viên khoa điều trị chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật
* Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Điều dưỡng học việc hoặc đang trong thời gian thử việc
+ Các ĐDV không có mặt tại bệnh viện trong thời gian nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3/2018 đến tháng 5/2018
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Tại 06 khoa có người bệnh phẫu thuật theo kế hoạch: Ngoại tổng hợp, Chấn thương chỉnh hình, Ngoại thận tiết niệu, Mắt, Răng hàm mặt, Tai mũi họng Bệnh viện
đa khoa Đức Giang
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định tính và định lượng
Trang 29Phương pháp định lượng nhằm mô tả thực trạng chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của điều dưỡng Bệnh viện đa khoa Đức Giang Phương pháp định tính được thực hiện đồng thời cùng phương pháp định lượng nhằm thu thấp các thu thập các thông tin sâu hơn về những ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa Đức Giang
2.4 Cỡ mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng
Cỡ mẫu quan sát trực tiếp và rà soát hồ sơ bệnh án của điều dưỡng viên: Toàn
bộ ĐDV tham gia công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật tại 06 khoa có người bệnh phẫu thuật theo kế hoạch tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang Tổng số gồm 47 ĐDV đủ tiêu chuẩn tham gia vào nghiên cứu
Bảng 2.1 Tổng hợp tổng số ĐDV và ĐDV tham gia nghiên cứu tại các khoa
Trang 30- Quan sát công việc chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật khi ĐDV thực hiện cho người bệnh Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho xác định một tỷ lệ:
Trang 31Bảng 2.1: Số ĐDV được chọn vào nghiên cứu tại 06 khoa lâm sàng
Trang 32Phương pháp quan sát trực tiếp chuẩn bị bệnh nhân trước phẫu thuật của điều dưỡng viên và rà soát hồ sơ bệnh án
Toàn bộ ĐDV tham gia công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật tại 06 khoa có người bệnh phẫu thuật theo kế hoạch có mặt tại bệnh viện vào thời điểm thu thập số liệu được mời thamn gia nghiên cứu, tổng số gồm 47 ĐDV đã tham gia vào nghiên cứu
Theo báo cáo của bệnh viện đa khoa Đức Giang, số lượng người bệnh phẫu thuật theo kế hoạch trung bình mỗi tuần là 15 ca Để đảm bảo cỡ mẫu đã tính cho quan sát Mỗi điều dưỡng được chọn vào nghiên cứu được đánh giá 4 lần chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật Trong giai đoạn thu thập số liệu từ tháng 3 năm 2018, theo lịch mổ phiên, trước khi người bệnh được đưa vào phòng mổ, điều dưỡng viên được phân công chuẩn bị được lựa chọn để quan sát theo bảng kiểm Mỗi điều dưỡng viên được quan sát cho tới khi đủ 04 lượt chuẩn bị người bệnh thì dừng lại Tổng số quan sát là 188 lượt
2.6 Phương pháp thu thập số liệu:
- Thời gian thu thập số liệu từ tháng 03/2018 – 06/2018
- Sử dụng 2 phương pháp thu thập số liệu để đánh giá việc chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của ĐDV và một số yếu tố ảnh hưởng, gồm: quan sát và phỏng vấn sâu
2.6.1 Phương pháp thu thập định lượng
Công cụ: Bảng kiểm quan sát (Phụ lục 2,3,4) theo bài giảng Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ, sách Điều dưỡng ngoại khoa của Nhà xuất bản Y học và bảng kiểm chuẩn bị người bệnh trước mổ của Bệnh viện đa khoa Đức Giang [12]
Trang 33* Phương pháp quan sát: được thực hiện với mục đích đánh giá việc thực hiện chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của ĐDV đã thực hiện quan sát trực tiếp
- Quan sát trực tiếp: được tiến hành đối với công việc chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật khi ĐDV thực hiện cho người bệnh
* Phương pháp rà soát hồ sơ bệnh án: đã làm để đánh giá một số công việc chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật mà ĐDV đã thực hiện, không thể quan sát trực tiếp, hoặc các ghi chép về điều dưỡng trong quá trình chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của ĐDV
Điều tra viên: Học viên và 06 người là điều dưỡng trưởng khoa có kỹ năng trong việc đánh giá, kiểm tra, giám sát ĐTV được tập huấn trong 01 ngày cả lý thuyết
và thực hành về phương pháp thu thập số liệu Nghiên cứu viên cùng ĐTV thảo luận
để thống nhất các nội dung bảng thu thập và các tiến hành thu thập số liệu Học viên trực tiếp giám sát quá trình thu thập số liệu của các điều tra viên, đảm bảo tính chính xác và tin cậy của số liệu được thu thập
Danh sách ĐDV trực tiếp thực hiện chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật được điều dưỡng trưởng khoa các khoa có người bệnh phẫu thuật theo kế hoạch lập nên, bao gồm họ tên, thời gian chuẩn bị người bệnh chuẩn bị phẫu thuật theo kế hoạch
Quan sát các bước chuẩn bị người bệnh theo kế hoạch của điều dưỡng
- Nghiên cứu viên tổ chức họp điều dưỡng trưởng các khoa có người bệnh phẫu thuật theo kế hoạch và thông báo mục đích, kế hoach, thời gian nghiên cứu đến các khoa có người bệnh phẫu thuật theo kế hoạch: trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2018, nhóm ĐTV quan sát ĐDV chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật tại khoa của mình Quan sát được thực hiện khi điều dưỡng nhận được thông báo chuẩn bị người bệnh khi có chỉ định phẫu thuật sau khi có sự đồng ý của trưởng khoa
và các đối tượng nghiên cứu, các ĐTV tiến hành quan sát các bước điều dưỡng chuẩn
bị người bệnh trước phẫu thuật
- Nghiên cứu sử dụng phương pháp quan sát không tham gia: ĐTV đứng ở vị trí phù hợp, dễ quan sát và không gẫy ảnh hưởng đến việc thực hiện chuyên môn của ĐTNC, ĐTNC không biết mình sẽ được quan sát vào thời gian nào, ai quan sát ĐTV
Trang 34chỉ quan sát khi ĐTNC thực hiện chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật, không ghi chép ngay nhằm tránh mất tập trung và gây sự chú ý cho ĐTNC, ghi nhớ và điền ngay vào bảng kiểm tại phòng hành chính
- Giám sát viên là nghiên cứu chính (học viên), thực hiện giám sát và hỗ trợ các ĐTV trong quá trình quan sát Nếu có bất cứ sự thay đổi nào, nghiên cứu viên gửi ngay thông tin cho ĐTV để tiến hành quan sát bổ sung
- Mỗi ĐDV được quan sát 04 lượt chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật và có
mã số riêng Mã số này tương ứng với mã số bảng kiểm thực hiện chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của điều dưỡng
2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu định tính
Mục đích của nghiên cứ định tính nhằm tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị người bệnh theo kế hoạch của điều dưỡng tại bệnh viện
Phỏng vấn sâu:
Dựa vào bản hướng dẫn PVS phỏng vấn 06 TK Ngoại TH, CTCH, Ngoại TN, Mắt, Răng hàm mặt, Mắt (phụ lục 7), phỏng vấn TP KHTH (phụ lục 6), QLCL (phụ lục 5), phỏng vấn 06 ĐDTK (phụ lục 8) Cuộc PVS này do học viên trực triếp tiến hành ghi âm và ghi chép có biên bản phỏng vấn
Địa điểm: Tại phòng làm việc của đối tượng được tiến hành phỏng vấn
* Phương pháp thảo luận nhóm (TLN): 1 nhóm được thực hiện với mục đích tìm hiểu về một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị NB trước phẫu thuật của ĐDV
Dựa vào bản hướng dẫn TLN (Phụ lục 9) để phỏng vấn điều dưỡng 6 khoa: CTCH, Ngoại TH, Ngoại TN, Tai mũi họng, Răng hàm mặt, Mặt, nguồn số liệu này
do Nghiên cứu viên chính trực tiếp phỏng vấn, phó phòng Điều dưỡng bệnh viện đa khoa Đức Giang là thư ký ghi biên bản, ghi âm và phối hợp gỡ băng
Thời giam TLN: 30 – 45 phút.cuộc TLN
Thời gian tiến hành: ngoài giờ hành chính (buổi trưa)
Địa điểm: phòng Điều dưỡng – Bệnh viện đa khoa Đức Giang
Trang 352.7 Các biến số nghiên cứu
Trong nghiên cứu này chúng tôi xác định các biến số theo mục tiêu nghiên cứu
đã đưa ra, bao gồm:
- Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng điều dưỡng chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật theo kế hoạch tại bệnh viện đa khoa Đức Giang năm 2018 Sau khi tham khảo nghiên cứu trước đây làm về khảo sát thực trạng chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của điều dưỡng Các biên số nghiên cứu gồm:
o Thủ tục hồ sơ bệnh án cho người bệnh trước phẫu thuật: Gồm các mục tiêu thể hiện sự chuẩn bị về thủ tục hành chính, họ tên người bệnh, chẩn đoán, các cận lâm sàng, cam kết phẫu thuật, biên bản hội chẩn
o Chuẩn bị về tinh thần: gồm các mục tiêu thể hiện công tác hướng dẫn tư vấn giải thích trước mổ, hỏi tiền sử, thông báo thời gian, dự kiến cuộc
mổ
o Chuẩn bị về thể chất: thể hiện chuẩn bị vệ sinh, vùng mổ, theo dõi dấu hiệu sinh tồn, thụt tháo, dùng thuốc đặc hiệu, đeo biển người bệnh phẫu thuật
Mục tiêu 2: Một số yếu tố ảnh hưởng tới chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của điều dưỡng:
- Đặc điểm của ĐDV
- Mô hình tổ chức chăm sóc người bệnh
- Điều kiện làm việc
- Sự quan tâm của lãnh đạo đến công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật
- Chế độ động viên, khuyến khích điều dưỡng
- Hoạt động đào tạo, tập huấn
- Hoạt động giám sát, đảm bảo chất lượng dịch vụ bệnh viện
(Chi tiết bảng biến số trình bày trong Phụ lục 1)
Trang 362.8 Các khái niệm, thước đo đánh giá
Trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật dựa trên bảng kiểm chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật đang
áp dụng tại bệnh viện đa khoa Đức Giang, bao gồm 25 biến thuộc 3 thành phần:
(1) Thủ tục hồ sơ bệnh án cho người bệnh trước phẫu thuật: thể hiện sự chuẩn
bị về thủ tục hành chính, họ tên người bệnh, chẩn đoán, các cận lâm sàng, cam kết phẫu thuật, biên bản hội chẩn, đảm bảo tính pháp lý khi thực hiện phẫu thuật cho người bệnh
(2) Chuẩn bị về tinh thần: thể hiện công tác hướng dẫn tư vấn giải thích trước
mổ, hỏi tiền sử, thông báo thời gian, dự kiến cuộc mổ Nói lên tầm quan trọng về chuẩn bị tinh thần của người bệnh để người bện an tâm phẫu thuật (3) Chuẩn bị về thể chất: thể hiện chuẩn bị vệ sinh, vùng mổ, theo dõi dấu hiệu sinh tồn, thụt tháo, dùng thuốc đặc hiệu, đeo biển người bệnh phẫu thuật Nói lên khả năng thực hiện chuẩn bị của điều dưỡng về thể chất nhằm đáo ứng điều kiện cho cuộc mổ, tránh nhầm lẫn, sai sót, nhiễm khuẩn cho người bệnh
Mức độ đánh giá được sử dụng trong nghiên cứu đo lường về công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật đối với các mục tiêu được xây dựng:
- B: Thực hiện khá; thực hiện một phần hoặc chưa đầy đủ 1 điểm
- C: Thực hiện kém hoặc không thực hiện 0 điểm
Theo hướng dẫn về chuẩn bị người bệnh của bệnh viện điểm đánh giá chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật được mã hóa thành 3 nhóm: Nhóm chuẩn bị người bệnh
tốt: khi tiêu chí đạt trên 90%, Chuẩn bị khá: 80 – 90%, Chuẩn bị chưa tốt/chưa đạt yêu
cầu: dưới 80% Điểm chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của một lần quan sát = Tổng điểm/25 tiêu chí [9]
Để đánh giá điều dưỡng viên thực hiện tốt, khá, chưa tốt/chưa đạt yêu cầu dựa trên điểm đánh giá của mỗi lần thực hiện chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật Trong
Trang 374 lần quan sát nếu điều dưỡng thực hiện tốt ¾ lần thì được đánh giá là thực hiện Tốt, tương tự như vậy với đánh giá về Khá và chưa tốt/chưa đạt yêu cầu
2.9 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu quan sát sau khi được thu thập sẽ được kiểm tra, làm sạch sau đó nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.0
Số liệu định lượng được phân tích theo mục tiêu 1 của nghiên cứu bằng các thuật toán thống kê mô tả, với việc sử dụng phần mềm SPSS 18.0
Số liệu định tính được tách băng và phân tích theo các chủ đề đã xác định của mục tiêu 2 trong nghiên cứu
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Những người bệnh được hỏi ý kiến và đồng ý tự nguyện tham gia vào nghiên cứu Những người không đồng ý, hoặc từ chối, sẽ không đưa vào mẫu nghiên cứu và không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào
Đề cương nghiên cứu được gửi tới Hội đồng đạo đức nghiên cứu Y sinh học, trường Đại học Y tế công cộng để xem xét phê duyệt trước khi triển khai nghiên cứu
Mã số phê duyệt của hội đồng: 018-088/DD-YTCC
Các thông tin nhạy cảm đều được giữ bí mật và mã hoá trên máy tính, đảm bảo không tiết lộ thông tin
Ngoài mục đích khoa học phục vụ cho công tác, nghiên cứu này không có mục đích nào khác
2.11 Sai số và biện pháp khắc phục sai số
Sai số của nghiên cứu
- Việc quan sát trực tiếp và công khai khi ĐDV thực hiện các công việc chuẩn
bị người bệnh trước phẫu thuật có thể gây cho ĐDV sự mất tự nhiên và làm không theo thói quen hàng ngày, có thể dẫn đến việc đánh giá thiếu chính xác
Trang 38- ĐTV phải quan sát cùng lúc quá nhiều tiểu mục, nên có thể chủ quan trong đánh giá mức độ đạt của các tiểu mục, hoặc giữa các ĐTV có sự đánh giá khác nhau
về mức độ đạt, dễ xảy ra sai số
Trang 39Khắc phục sai số
Tại bệnh viện đa khoa Đức Giang, ĐDV đã quen dần với việc phòng Điều dưỡng, ĐDT kiểm tra thường xuyên về công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật, nên việc thu thập số liệu qua quan sát chúng tôi tích hợp đan xen vào các lần đến kiểm tra tại các khoa Ngoài ra, các cuộc quan sát trực tiếp được tiến hành một cách ngẫu nhiên không theo lịch trình báo trước trong suốt thời gian 03 tháng thu thập
số liệu, nên không làm mất sự tự nhiên và thói quen làm việc của ĐDV
Xây dựng các tiêu chí đánh giá “Thực hiện tốt” phù hợp nhất có thể đối với các khoa có chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật, để có sự chính xác trong đánh giá chung về mức độ hoàn thành chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của ĐDV
Tổ chức các buổi gặp mặt đối tượng nghiên cứu tại mỗi khoa để giải thích rõ mục đích của cuộc điều tra
Để hạn chế sai số thông tin, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thử nghiệm bộ công
cụ tại bệnh viện trước khi tiến hành điều tra thu thập số liệu Bộ bảng kiểm được thiết
kế ngắn gọn, sử dụng từ ngữ dễ hiểu phù hợp với người tham gia nghiên cứu Bên cạnh đó tập huấn kỹ càng cho ĐTV để họ khai thác đúng thông tin theo mục tiêu của nghiên cứu
Để hạn chế khả năng ảnh hưởng đến tâm lý người tham gia nghiên cứu khi trả lời TLN, nghiên cứu viên bố trí một khu vực riêng để thu thập số liệu Cuộc TLN diễn
ra chỉ có điều tra viên và người tham gia nghiên cứu
Trang 40Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.1: Tuổi, giới của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.1 trình bày thông tin chung đối tượng nghiên cứu, trong nghiên cứu này có 15( 31,9%) là nam giới, độ tuổi trên 30 có 20 điều dưỡng chiếm tỷ lệ 42,5% Nữ giới chiếm 68.1(32), độ tuổi dưới 30 có 27 đối tượng chiếm 57.5%
Biểu đồ 3.2: Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu