Một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của sinh viên hệ cao đẳng Trường Cao đẳng Y Tế Phú Yên .... Nghiên cứu “Thực trạng stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Phú Yên năm 201
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
DƯƠNG THỊ ÁNH NGỌC
THỰC TRẠNG STRESS CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ PHÚ YÊN NĂM 2018
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2018
Trang 2DƯƠNG THỊ ÁNH NGỌC
THỰC TRẠNG STRESS CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ PHÚ YÊN NĂM 2018
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Đinh Thị Phương Hòa TS Trương Quang Tiến
HÀ NỘI, 2018
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái niệm stress 4
1.2 Những biểu hiện của stress 5
1.3 Nguyên nhân của stress 6
1.3.1 Nguyên nhân khách quan cụ thể gây stress 6
1.3.2 Nguyên nhân chủ quan – cá nhân 8
1.4 Ảnh hưởng của stress 9
1.5 Thực trạng stress của sinh viên Y khoa trên thế giới và Việt Nam 11
1.5.1 Thực trạng về stress của sinh viên Y khoa trên thế giới 11
1.5.2 Thực trạng về stress của sinh viên Y, Dược tại Việt Nam 11
1.6 Một số yếu tố liên quan đến stress ở sinh viên 12
1.6.1 Yếu tố về đặc điểm cá nhân 12
1.6.2 Yếu tố về gia đình 13
1.6.3 Yếu tố về trường học 14
1.6.4 Yếu tố xã hội 15
1.6.5 Yếu tố lối sống và hành vi 16
1.7 Công cụ sử dụng nghiên cứu stress ở học sinh - sinh viên 16
1.8 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 18
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.3 Thiết kế nghiên cứu 21
2.4 Cỡ mẫu 21
2.5 Phương pháp chọn mẫu 22
2.6 Các biến số nghiên cứu, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá 22
2.6.1 Các biến số trong nghiên cứu (phụ lục 3) 22
2.6.2 Bộ công cụ: 22
2.6.3 Tiêu chuẩn đánh giá Stress 23
2.7 Phương pháp thu thập số liệu 24
2.7.1 Thu thập số liệu: 24
Trang 42.7.2 Tổ chức thu thập thông tin 24
2.8 Xử lý và phân tích số liệu 26
2.9 Đạo đức nghiên cứu 26
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục 26
2.10.1 Sai số 26
2.10.2 Biện pháp khắc phục 27
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 28
3.2 Thực trạng stress của sinh viên 33
3.3 Một số yếu tố liên quan đến thực trạng stress của sinh viên 36
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 46
4.1 Thực trạng stress ở sinh viên hệ cao đẳng 46
4.2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của sinh viên hệ cao đẳng Trường Cao đẳng Y Tế Phú Yên 48
4.2.1 Các yếu tố cá nhân 48
4.2.2 Các yếu tố gia đình 49
4.2.3 Các yếu tố về xã hội 50
4.2.4 Các yếu tố về lối sống và hành vi 50
4.3 Bàn luận về bộ công cụ 51
4.4 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 51
4.4.1 Ưu điểm về nghiên cứu 51
4.4.2 Hạn chế nghiên cứu 52
KẾT LUẬN 53
1 Thực trạng stress ở sinh viên 53
2 Một số yếu tố liên quan đến stress ở sinh viên 53
KHUYẾN NGHỊ 54
1 Đối với sinh viên 54
2 Đối với nhà trường 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 60
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN 81
BẢNG DỰ TRÙ KINH PHÍ 85
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học và lối sống của ĐTNC 31
Bảng 3.2 Đặc điểm về ngành học, năm học, kết quả học tập của ĐTNC 32
Bảng 3.3 Đặc điểm gia đình của ĐTNC 33
Bảng 3.4 Quan hệ xã hội của ĐTNC 34
Bảng 3.5 Đặc điểm hành vi lối sống của ĐTNC 35
Bảng 3.6 Mức độ stress ở sinh viên 37
Bảng 3.7 Tỷ lệ stress ở sinh viên theo ngành và năm học 37
Bảng 3.8 Mức độ stress theo ngành và năm học 38
Bảng 3.9 Mức độ stress ở nam và nữ 39
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa stress và đặc điểm nhân khẩu của sinh viên 41
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa stress và ngành học, năm học, kết quả học tập của sinh viên 42
Bảng 3.12 Mối liên quan stress với nghề nghiệp học vấn của cha mẹ 43
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa stress với đặc điểm gia đình 44
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa stress với thời gian học và áp lực thi cử của sinh viên 45
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa stress và môi trường học tập 46
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa stress và áp lực tiếp xúc với bệnh nhân và dịch tiết bệnh nhân 47
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa stress và các mối quan hệ với Thầy, Cô, bạn bè 48
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa stress với đặc điểm xã hội 48
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa stress với lối sống và hành vi sức khỏe 49
Trang 7TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Stress đang có xu hướng tăng trong học sinh, sinh viên, đặc biệt với sinh viên các trường Y khoa với chương trình học căng thẳng cả lý thuyết và thực tập tại bệnh viện Nghiên cứu “Thực trạng stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Phú Yên năm 2018
và một số yếu tố liên quan” được thực hiện nhằm mô tả thực trạng stress và xác định các yếu tố liên quan ở sinh viên trường Cao đẳng Y tế Phú Yên
Sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang có phân tích định lượng với công cụ
là phiếu điều tra đã được thiết kế bao gồm thang đo DASS 21 đánh giá thực trạng stress
và bảng tìm hiểu các yếu tố liên quan đến nguy cơ mắc stress Đối tượng nghiên cứu là
355 sinh viên thuộc 2 ngành điều dưỡng và dược, thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2018 đến tháng 6/2018
Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc stress ở sinh viên cao đẳng của trường là 50,1% (nữ: 52,5% và nam: 37%) Tỷ lệ cao nhất ở sinh viên năm thứ 2 (65,1%); sinh viên năm thứ nhất và thứ 3 là 42,3% và 41,7% Sinh viên ngành Điều dưỡng có tỷ lệ mắc cao hơn ngành Dược (54,4% so với 48,9%) Các yếu tố về liên quan có ý nghĩa thống kê với stress gồm: Sinh viên nữ, sinh viên có sức khỏe không tốt và sinh viên có mức sinh hoạt phí thấp có nguy cơ bị stress cao hơn (OR lần lượt là: 1,9; 2,1 và 3,1) Sinh viên năm thứ
2 có nguy cơ stress cao gấp 2,6 so với năm thứ 2 và 3 Chơi thể thao đều đặn giảm nguy
cơ stress (OR = 0,38) Không có người thân chia sẻ khi gặp khó khăn có nguy cơ stress cao hơn từ 1,5-1,7 lần Dựa vào kết quả nghiên cứu, chúng tôi khuyến nghị đối với sinh viên là cần xây dựng kế hoạch học tập hợp lý, cân đối giữa học tập với các hoạt động thể dục, thể thao Trang bị kiến thức, kỹ năng giao tiếp khi thực tập ở cơ sở y tế Chia sẻ, tâm sự với bạn bè người thân, thầy cô khi gặp những vấn đề khó khăn Nhà trường cần quan tâm hơn đối với sinh viên nữ, sinh viên năm 2 về điều kiện học tập và sinh hoạt, đồng thời phối hợp với các cơ sở y tế để xây dựng các chương trình thực tập, phân công lịch trực lịch học phù hợp cho sinh viên Có tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ và có giải
pháp hỗ trợ phù hợp đối với những sinh viên có dấu hiệu stress
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Stress là trạng thái cơ thể khi ứng phó với những hoàn cảnh, điều kiện mới, khi đối mặt với những tình huống hoặc là hậu quả của những tác động không mong muốn hoặc mối nguy từ môi trường bên ngoài [4] Stress là hiện tượng phổ biến xảy ra đối với hầu hết mọi người ở nhiều giai đoạn trong cuộc đời Tuy nhiên, nếu stress kéo dài liên tục sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe và cuộc sống của mỗi người Vì vậy, nhận biết các dấu hiệu của stress, xác định được nguyên nhân và mức độ của stress sẽ giúp mọi người cải thiện sức khỏe một cách hiệu quả cả về sức khỏe tâm thần và thể lực [16]
Sinh viên là một trong các đối tượng có tỷ lệ mắc stress cao Theo các nghiên cứu
ở Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy có tới 38% - 48% số sinh viên báo cáo là có stress, trong đó
có khoảng 11% số sinh viên ở mức stress nặng và rất nặng [30] Đặc biệt là sinh viên trường Y với chương trình học cả lý thuyết trên lớp và đi thực tập tại các cơ sở y tế, trực tại bệnh viện với mức độ làm việc căng thẳng Vì vậy tỷ lệ stress ở sinh viên trường Y
có thể cao hơn so với sinh viên các ngành khác Nghiên cứu cắt ngang trên sinh viên trường Y của một trường Đại học ở Sauud, A Rập cho kết quả là 63% sinh viên bị stress trong đó có 25% sinh viên bị stress nặng [27] Ở Việt Nam, theo kết quả từ một số nghiên cứu cho thấy tình trạng stress ở sinh viên rất đáng lo ngại Tỉ lệ stress trong sinh viên trường Cao Đẳng Y Tế Thái Nguyên năm 2016 là 55,6% [26]; ở sinh viên năm thứ 2, trường Đại học Y dược TP HCM năm 2012 là 71,4% [20]
Stress ở sinh viên sẽ ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và tiếp tục theo một vòng xoắn stress - sức khỏe - stress [19] Sức khỏe yếu đi dẫn đến tâm lý mệt mỏi và hiệu quả học tập của sinh viên thấp Hiện trạng này lại là yếu tố tạo thêm áp lực mới cho học tập và như thế, tiếp tục dẫn đến đến vòng xoắn áp lực mới nếu đối tượng không có kiến thức
và kỹ năng ứng phó Vì vậy, can thiệp giảm nhẹ stress là hoạt động rất quan trọng đối với sinh viên và cho cộng đồng nói chung
Trường cao đẳng Y tế Phú Yên được thành lập từ năm 2014 với chức năng đào tạo
hệ cao đẳng cho 2 ngành là Dược và Điều dưỡng Mỗi năm trường tuyển sinh khoảng
Trang 91000 sinh viên cao đẳng chính quy và liên thông Kết quả đánh giá hết mỗi môn học của sinh viên năm 2017 cho thấy lịch học dày, cường độ học tập cao, lịch thực tập bệnh viện nhiều tạo áp lực học tập đối với sinh viên Trong số 355 sinh viên được đánh giá có đến
178 sinh viên cảm thấy áp lực với lịch học lý thuyết, 176 sinh viên áp lực với lịch trực tại bệnh viện, 82 sinh viên căng thẳng với năm học thứ hai Những điều này tạo ra yếu
tố gây stress trong quá trình hình tập của sinh viên Vì vậy câu hỏi đặt ra là thực trạng stress của sinh viên tại Trường như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến stress của
sinh viên Để trả lời câu hỏi này nghiên cứu “Thực trạng stress của sinh viên Trường
Cao đẳng Y tế Phú Yên năm 2018 và một số yếu tố liên quan” được tiến hành để có
được những cơ sở nhằm đề xuất một số giải pháp góp phần giảm tình trạng stress, nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên
Trang 10MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả tình trạng stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Phú Yên năm 2018
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Phú Yên năm 2018
Trang 11
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm stress
Trong cuộc sống hiện đại thuật ngữ stress xuất hiện ngày càng nhiều, mỗi tác giả
sử dụng thuật ngữ này với những sắc thái khác nhau Waher Canon, bác sĩ chuyên khoa thần kinh ở Mỹ, định nghĩa stress là biểu hiện của sự khó chịu hay những áp lực của đời sống gia đình, cá nhân [26] Định nghĩa của nhà sinh lý học người Hung-ga-ri Hans Selye
“stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng” Hans Selye nhấn mạnh: stress có tính chất tổng hợp chứ không phải chỉ thể hiện trong một trạng thái bệnh lý Cũng theo ông, stress có mặt lợi đó là kích thích tính tích cực, huy động sức mạnh để con người vượt qua các khó khăn, nhưng cũng có mặt hại nếu vượt qua khả năng đáp ứng của cơ thể sẽ dẫn đến tình trạng ốm đau, bệnh tật [35] Nhìn chung khi bị stress con người có những thay đổi cả về thể chất và tâm lý (nhận thức, cảm xúc, hành vi) Về thể chất đó là những thay đổi ở hệ tim mạch, thần kinh, tiêu hóa, hô hấp, tiết niệu như tim đập nhanh, vã mồ hôi, chóng mặt, nhức đầu, rối loạn giấc ngủ, chán ăn, căng mỏi cơ bắp, đau nhức xương khớp, đau dạ dày và buồn nôn, nôn Về mặt tâm lý thể hiện sự thay đổi hoạt động của các quá trình nhận thức, cảm xúc
và hành vi như giảm sự tập trung, lơ đãng, hay quên, suy nghĩ kém linh hoạt, mệt mỏi
về tinh thần và trí lực giảm sút, cảm giác về học tập, công việc bị áp lực đè nặng, tinh thần hoang mang, buồn chán [6], [13]
Với tình trạng bình thường hiện tượng stress là một đáp ứng để thích nghi về mặt tâm lý, sinh học và tập tính Nó đặt con người vào hoạt động như dàn xếp, thích ứng với môi trường xung quanh, tạo ra một sự cân bằng mới sau khi chịu đựng những tác động
từ môi trường Stress góp phần làm cho cơ thể thích nghi, nếu sự đáp ứng của cá nhân với stress không đầy đủ, không phù hợp và cơ thể chưa có được một cân bằng mới thì những chức năng của cơ thể ít nhiều sẽ bị ảnh hưởng, những dấu hiệu bệnh lý, tâm lý, tập tính sẽ xuất hiện và tạo ra những stress bệnh lý cấp tính hoặc kéo dài [8]
Theo Giáo sư Ferreri thì stress được hiểu là mối liên quan giữa con người với môi trường xung quanh Stress vừa chỉ tác nhân công kích vừa chỉ phản ứng của cơ thể trước
Trang 12tác nhân đó Do đó, stress là mối tương tác giữa tác nhân công kích và phản ứng của cơ thể [21]
Ở Việt Nam, Giáo Sư Tô Như Khuê, người đã nhiều năm nghiên cứu sự căng thẳng
cảm xúc của các chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam trong chiến đấu cho rằng: “Stress
tâm lý cũng chính là những phản ứng tâm lý không đặc hiệu xảy ra một cách chung khắp,
do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà con người chủ quan thấy
là bất lợi hoặc đe dọa, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do tác nhân kích thích,
mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó” [19] Theo Trần Anh Thụ, stress phải được
hiểu một cách tổng hợp, vừa như một kích thích, vừa như một hậu quả kèm theo; đồng thời đề cập stress với các yếu tố sinh học, xã hội và tâm lý trong ứng phó Stress là một tình trạng gây khó chịu hoặc gây thương tổn về cảm xúc và tinh thần, xảy ra khi cá nhân phản ứng lại những kích thích hoặc tình huống cực kỳ khó khăn, nhiều áp lực và căng thẳng do tác động từ bên ngoài; Trong thực tế, stress còn được dùng để chỉ một nguyên nhân, tác nhân gây ra phản ứng stress (như bệnh tật, công việc, sự thay đổi chỗ ở, tiếng
ồn của thành phố…) Đồng thời là hậu quả của những tác nhân gây kích thích mạnh như
sự hốt hoảng khi gặp các biến cố bất ngờ, sự cô quạnh trong môi trường sống: tình trạng căng thẳng khi gặp khó khăn, áp lực trong công việc [16]
Như vậy, có thể hiểu tình trạng stress bao gồm hai thành phần chính là: (1) tình huống stress dùng để chỉ tác nhân kích thích gây ra stress (Stressor) và (2) đáp ứng stress dùng để chỉ trạng thái cơ thể phản ứng với stress (Reaction), gồm cả phản ứng sinh lý và tâm lý
1.2 Những biểu hiện của stress
Biểu hiện của trạng thái stress về cơ bản chia làm 4 nhóm biểu hiện về mặt cơ
thể, trí tuệ, cảm xúc và hành vi [4], [5]
Nhóm ảnh hưởng về cơ thể: Khi ở trong trạng thái stress, cơ thể thường có biểu
hiện như mệt mỏi, đau đầu, đau lưng, đau cơ bắp, chóng mặt, tức ngực, khó thở, chân tay bủn rủn, không ăn ngoan, ăn quá nhiều hoặc quá ít, khó ngủ, tim đập nhanh…
Trang 13Nhóm ảnh hưởng về trí tuệ: Stress ảnh hưởng khá nghiêm trọng đến trí tuệ của
mỗi người, các biểu hiện thường thấy như mất khả năng tập trung, liên tưởng chậm, phán đoán không chính xác, trí nhớ giảm sút… [14]
Nhóm ảnh hưởng về cảm xúc: trạng thái stress thường biểu hiện rõ với các biểu
hiện thường gặp như: lo âu, dễ nổi nóng, hồi hộp, chán nãn, sợ hãi, không hài lòng với bản thân, cảm thấy trống rỗng mất phương hướng, cảm thấy bản thân dễ bị tổn thương, căng thẳng…
Nhóm ảnh hưởng về hành vi: Khi bị stress, các biểu hiện hành vi thường gặp như
là hạn chế tham gia các hoạt động, căng thẳng tranh luận quá khích, né tránh học tập, diễn đạt không lưu lót, ngại tiếp xúc [14]
1.3 Nguyên nhân của stress
Theo quan điểm hệ thống về stress, một cá nhân bị stress là do bản chất của các
sự kiện kích thích và do những yếu tố thuộc về cá nhân quyết định mức độ stress của cá nhân đó vì vậy có hai nhóm nguyên nhân gây stress là nguyên nhân khách quan (nguyên
nhân bên ngoài cá nhân), và nguyên nhân chủ quan (tự bản thân) [16]
1.3.1 Nguyên nhân khách quan cụ thể gây stress
Chủ yếu do 3 yếu tố chính: Môi trường sinh thái; Môi trường xã hội và Các mối
quan hệ cá nhân trong xã hội
Stress do môi trường sinh thái:
Những yếu tố có nguồn gốc sinh thái góp phần gây nên stress, nó phát sinh từ mối quan hệ giữa môi trường bên ngoài và bên trong cơ thể Cụ thể là do (1) rối loạn chu kỳ sinh học, rối loạn ăn ngủ; (2) do suy giảm khả năng thích ứng với môi trường vì chấn thương và bệnh tật làm giảm khả năng chống đỡ với stress, đồng thời những nhận thức
về mối đe dọa thể chất, tâm lý xã hội hoặc lo lắng về tình trạng sức khỏe cũng làm gia tăng thêm stress và bệnh tật càng nặng thêm Như một chu kì vòng tròn bệnh tật gây stress, stress làm cho bệnh tật nặng hơn, khó chữa hơn Thêm vào đó, bất kì những đe dọa nào đối với hình ảnh thân thể, thay đổi hình ảnh thân thể đều có thể khơi gợi sự lo
Trang 14hãi, và là nguồn gốc đặc biệt gây stress (3) do những tác nhân trong môi trường vật lý,
tự nhiên như tiếng ồn, hóa chất, sự đông đúc hạn chế tính riêng tư, không gian chật chội,
ô nhiễm, nóng bức, sự mới mẻ do thay đổi nơi cư trú… [18]
Stress do môi trường xã hội:
Xã hội cũng cõ những yếu tố góp phần tạo nên stress cho cá nhân trong xã hội đó Theo thuyết xung đột thì stress xuất hiện khi con người rơi vào các hoàn cảnh như không
có việc làm, không có nhà ở Stress là hậu quả của những mối quan hệ xã hội ít ổn định, của nghèo khổ, của quyền hạn thấp kém, và stress nảy sinh do những vấn đề của tòan cầu hóa, về mức độ dân số, tội phạm, suy thóai kinh tế, tình trạng thất nghiệp, hội nhập
xã hội và tuân giữ các tiêu chuẩn xã hội, sự phân phối hàng hóa kinh tế và dịch vụ xã hội, sự phát triển của khoa học công nghệ mạnh mẽ, mau lẹ, sự quá tải thông tin và những biến động xã hội, những giá trị thay đổi, địa vị xã hội… tác động lên cá nhân làm cá nhân không thích ứng kịp và dễ rơi vào tình trạng stress [12] Ngòai ra, stress còn nảy sinh khi chúng ta xử lý sai các thông tin hỗn độn và ồ ạt từ môi trường xã hội xung quanh mình hoặc khi mong muốn một cái gì đó mà kết quả lại tệ hại ngoài dự kiến hoặc do có vấn đề trong quá trình thích ứng về mặt tâm lý trước những sự kiện thay đổi, biến cố trong cuộc sống [12]
Stress do những mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau trong xã hội
Con người sống trong xã hội luôn phải gắn kết mình với những quan hệ xã hội nhất định, và những mối quan hệ này có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của mỗi người, do đó những vấn đề bất lợi từ những mối quan hệ xã hội mà cá nhân tham dự như quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, tình yêu… sẽ là một tác nhân gây stress đáng kể cho con người [14] Ngoài ra, việc thiếu những quan hệ gần gũi, thiếu bạn bè, thiếu giao tiếp, sống một mình và cô độc hoặc phải ở một mình khi bản thân không muốn sẽ làm con người có cảm giác cô đơn hay những người thiếu mạng lưới hỗ trợ xã hội cũng có nguy cơ và gia tăng mức stress
Trang 151.3.2 Nguyên nhân chủ quan – cá nhân
Về nguyên nhân chủ quan gây stress chủ yếu xuất phát từ các yếu tố về kiểm soát bản thân; Lo lắng về tương lai; Cảm thấy tự ti, không đưa ra được quyết định; Hụt hẫng khi không được thỏa mãn nhu cầu và có thể có những hành vi không tích cực
Sự thiếu ý thức về khả năng kiểm soát sự kiện sẽ làm tăng thêm stress khi cá nhân cảm thấy hành vi của họ chẳng có hiệu quả gì hoặc các sự kiện là không thể kiểm soát được Điều này được đặc trưng bởi tính thụ động trong hành vi, cảm xúc ức chế và tư tưởng tập trung vào sự thất vọng [10], [26] Những cảm xúc này dẫn đến sự không chắc chắn về tương lai, không dự đoán trước được những sự kiện quan trọng, không dự đoán trước được những thay đổi cũng gây ra stress Khi cá nhân cảm thấy không có quyền hoặc ít có quyền quyết định những việc của bản thân hoặc việc quan trọng thì sẽ chịu đựng một ít stress bất lợi Bên cạnh đó quá nhiều quyền quyết định và sự chắc chắn cũng
có thể gây stress bất lợi
Cảm giác hụt hẫng khi các nhu cầu bị cản trở trong việc làm thỏa mãn chúng cũng
là một nguồn gốc gây stress, việc cản trở có thể là do chậm trễ hay trì hoãn, hoặc cũng
có thể bắt nguồn từ thất bại mặc dù đã cố gắng tìm sự thỏa mãn nhưng không được, hoặc
do mất đi nguồn gây thỏa mãn, mâu thuẫn nội tâm trong mỗi người những chấn thương tâm lý cũng là nguồn gốc cơ bản gây stress Những cảm xúc thái quá, tiêu cực như lo lắng, buồn rầu, chán nản, thất vọng, đau khổ… kéo dài lâu ngày sẽ khiến con người rơi vào tình trạng stress và trầm trọng hơn là bị trầm cảm; Những người hay có trạng thái cảm xúc không ổn định, hay lo âu, căng thẳng, né tránh cũng là những nét nhân cách dễ
bị tổn thương Từ đó có thể dẫn đến những hành vi không thích hợp, thái quá gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến bản thân và người khác làm nguy cơ bị stress cho bản thân cao hơn [10], [26]
Trang 161.4 Ảnh hưởng của stress
Có rất nhiều nghiên cứu cho thấy stress có thể gây tác động xấu cho bản thân nói riêng cũng như những bất lợi cho mọi người xung quanh và xã hội nói chung Đó là những ảnh hưởng đến hầu hết các bộ phận quan trọng của cơ thể người, cụ thể là:
Ảnh hưởng đến não: stress thường xuyên khiến não trở nên chậm chạp, kém minh
mẫn, hậu quả là trí nhớ sẽ suy giảm dẫn đến rất ảnh hưởng đến quá trình học tập, nghiên cứu, quan hệ xã hội [9]
Ảnh hưởng đến hệ hô hấp: stress kích thích tuyến thượng thận giải phóng hormone
adrenaline Khi lượng hormone này tăng cao làm cho hơi thở thường trở nên gấp gáp, hổn hển, không sâu, phải rướn lên để thở Người bị stress nếu đã mắc bệnh suyễn hoặc các bệnh khác về đường hô hấp thì bệnh tình sẽ trở nên tồi tệ hơn [26]
Ảnh hưởng đến tim: stress liên quan đến các yếu tố của bệnh sơ vữa động mạch
vành, rối loạn nhịp tim (tim đập nhanh, mạnh) Những áp lực trong cuộc sống hàng ngày
có thể gây ra tình trạng thiếu máu cục bộ cơ tim, một trong những tác động thầm lặng có hại đến sức khỏe thậm chí tính mạng [26]
Ảnh hưởng đến hệ bài tiết: khiến cơ thể có những phản ứng khác thường như bị
đổ mồ hôi ngay cả khi nhiệt độ không cao hoặc không có sự vận động gắng sức [7]
Ảnh hưởng đến cơ khớp: Ngoài ảnh hưởng đến hệ hô hấp, hormone adrenaline còn
khiến cơ bắp dễ căng cứng, mệt mỏi; lưng, cổ, hàm hay mặt dễ bị đơ hoặc đau nhức Khiến chúng ta lười vận động, stress còn làm cho các hoạt động như nằm, ngồi, đi, đứng… không hợp lý, càng thêm mỏi mệt, và gây ra những bệnh cơ khớp [26]
Ảnh hưởng đến mắt, cơ quan cảm giác: Mất ngủ do stress lâu ngày làm mắt mệt
mỏi, thâm quầng hoặc sưng đỏ thậm chí còn có thể làm giảm thị lực cũng như gây thêm nhiều căn bệnh nguy hiểm khác về mắt Stress làm cho cơ thể có những phản ứng giác quan quá mức như tai có cảm giác khó chịu với những tiếng động hằng ngày, mắt nhạy cảm với ánh sáng [7]
Ảnh hưởng đến da: theo các công trình nghiên cứu trên thế giới một trong những
tác động của stress đó là kích thích các tuyến nhờn hoạt động mạnh, khiến da trở nên
Trang 17kém mịn màng, nhanh lão hóa và dễ nổi mụn, có khi còn làm xuất hiện các bệnh nguy hiểm khác như chàm bội nhiễm, vảy nến… [26]
Ảnh hưởng đến tiêu hóa: Khi bị stress có thể dẫn đến tình trạng khó tiêu, đầy hơi,
buồn nôn và chướng bụng, tiêu chảy hoặc táo bón Do những loại hormone có tác dụng tăng cường lưu lượng máu đến các cơ trên cơ thể sẽ thuyên giảm do stress, hậu quả là sức vận động cũng như sự co bóp của chúng bị giới hạn hoặc yếu đi, trong đó có dạ dày Đồng thời tạo ra những thay đổi trong ăn uống (ăn không ngon miệng, ăn quá nhiềuhoặc
ít hơn bình thường, không muốn ăn) dẫn đến cơ thể tăng hoặc giảm cân đột ngột Ảnh hưởng về tiêu hóa đó có thể dẫn đến những hậu quả xấu về sức khỏe [7]
Ảnh hưởng đến răng miệng: khi gặp tình trạng stress, căng thẳng dẫn đến họat động
của hệ miễn dịch trở nên kém hiệu quả, nổi mụn ở vòm miệng, nướu, lợi, lưỡi…
Ảnh hưởng đến đầu: stress là một trong những nguyên nhân chính khiến đầu óc dễ
mệt mỏi, kém tập trung, thậm chí chứng đau đầu kinh niên Nguy cơ này sẽ cao hơn nếu lưng và cổ bị tổn thương trong khi stress hành hạ [23]
Ảnh hưởng hệ sinh sản: giảm nhu cầu tình dục, lãnh cảm, giao hợp đau, xuất tinh
sớm… Đối với nữ thì có sự rối loạn kinh nguyệt, đau hơn khi hành kinh [7]
Ảnh hưởng đến giấc ngủ: làm rối loạn giấc ngủ như khó ngủ, ngủ chập chờn, hay
thức giấc, hay có ác mộng và cảm giác khó thức dậy, khó hồi phục sức lực sau khi ngủ
Ảnh hưởng đến hệ thần kinh: gây ra các chứng nhức đầu (đau nửa đầu, chóng mặt,
choáng, hoa mắt và nhiều trường hợp gây ra chứng suy nhược thần kinh)
Ảnh hưởng đến cảm xúc và đời sống tình cảm của cá nhân: khi bị stress, cá nhân
có những 2 dạng phản ứng xúc cảm: một là phản ứng xúc cảm thụ động là không làm gì
mà chỉ chờ cho nó qua đi do tính tích cực ứng xử hạ thấp và quá trình ý chí giảm sút, sự phản ứng xúc cảm thụ động này lâu dài có thể làm cho cảm xúc bị chai sạn, khô khan; hai là sự thay đổi cảm xúc trở nên rõ nét hơn, phát sinh những cảm xúc tiêu cực như: khóc nhiều hơn hoặc cảm thấy không thể khóc ngay cả khi muốn khóc, dễ bị kích thích (bực bội, cáu gắt vô cớ, mất bình tĩnh), lo sợ, cảm thấy sợ hãi mà không có bất kỳ lý do chính đáng, hồi hộp và bất an, lo lắng quá nhiều về những điều nhỏ nhặt, thiếu tự tin, dễ
Trang 18cảm thấy bối rối, chán nản, buồn bã và mất mọi hứng thú, cảm thấy bị dồn nén Cảm thấy dễ bị tổn thương; Cảm thấy tủi thân; nôn nóng, sốt ruột, trở nên thiếu kiên nhẫn khi
có bất cứ điều gì bị trì hoãn; cảm thấy cô đơn, trống trải; thấy khó chịu ngay cả với những điều bình thường, thay đổi tâm trạng đột ngột; trở nên nhạy cảm hơn; cảm thấy ủ rũ, dễ xúc động; cảm thấy không hạnh phúc; cảm thấy thật khó để bình tĩnh lại sau khi một cái
gì đó khiến mình lo lắng; cảm thấy bồn chồn không yên stress làm cho cá nhân dễ cáu gắt, lo âu, khó chịu, dễ bị kích động từ đó làm cho mối quan hệ với những người xung quanh trở nên khó khăn [5]
Ảnh hưởng đến hành vi và hoạt động, giao tiếp xã hội của cá nhân
Mức độ stress cao ngăn chặn người ta đối phó giải quyết một cách hài hòa hợp lý với các tình huống trong cuộc sống Thậm chí với các mức độ stress cao có thể dẫn đến cảm xúc thái quá, mất khả năng hành xử Những người thường xuyên gặp tình trạng stress kéo theo đó sẽ mất khả năng giải quyết, đáp ứng với các yếu tố tác động gây ra stress mới Vì vậy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chống lại stress trong tương
lai [26]
1.5 Thực trạng stress của sinh viên Y khoa trên thế giới và Việt Nam
1.5.1 Thực trạng về stress của sinh viên Y khoa trên thế giới
Theo nghiên cứu của R Beiter và cộng sự tại Đại học Franciscan, bang Ohio, Mỹ cho thấy có tới 38% số sinh viên có stress, đặc biệt 11% số sinh viên ở mức stress nặng
và rất nặng [44] Một nghiên cứu khác tại trường Đại học Uludag, Thổ Nhĩ Kỳ của Nuran Bayram và Nazan Bilgel, cho thấy có tới 48,2% số sinh viên có stress, (6,9%) là stress nặng [39] Nghiên cứu cắt ngang của trường Đại học King Sauud, A Rập được thực hiện trên 755 sinh viên y khoa cho thấy 63% sinh viên bị stress trong đó có 25% sinh viên bị stress nặng và tỷ lệ sinh viên năm thứ ba bị stress là cao nhất (30,5%) [27]
1.5.2 Thực trạng về stress của sinh viên Y, Dược tại Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Hải Yến (2016), trên 678 sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên sử dụng thang đo DASS 21 để đo lường tỷ lệ sinh viên bị stress,
Trang 19tỷ lệ stress ở sinh viên của trường là 48,5% trong đó tỷ lệ sinh viên nam là 48,4% và tỷ
lệ sinh viên nữ là 49,1% Tỷ lệ sinh viên stress ở năm thứ 2 là cao nhất (55,6%), sau đó
là năm thứ 3 (47,2%) và năm thứ nhất có tỷ lệ thấp nhất (42,3%) Tỷ lệ sinh viên stress
ở ngành điều dưỡng (50,8%) và hộ sinh (51,1%) cao hơn ngành dược (41,1%) [26] Một nghiên cứu khác của tác giả Lê Minh Thuận (2010) sử dụng thang đo DASS 42 để đánh giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm trên đối tượng 252 sinh viên Y khoa Đại học Y dược TP HCM, kết quả cho thấy tỷ lệ stress là 11% [15] Kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Kim Trang sử dụng thang đo DASS 21 để đánh giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm trên 483 sinh viên năm thứ 2 khoa Y và khoa Răng Hàm Mặt trường Đại học Y Dược TP.HCM năm 2012 tỷ lệ sinh viên bị stress 71,4% [20] Kết quả nghiên cứu của tác giả Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh và Lê Thu Huyền (2010) tìm hiểu về mức độ về tình trạng stress của sinh viên y tế công cộng Đại học Y- Dược TP HCM trên 182 sinh viên cho thấy tỷ lệ sinh viên có những biểu hiện của stress chiếm 24,2% [10]
1.6 Một số yếu tố liên quan đến stress ở sinh viên
1.6.1 Yếu tố về đặc điểm cá nhân
Giới tính:
Yếu tố giới tính có liên quan đến vấn đề stress ở sinh viên Theo nghiên cứu củaĐại học California tại Los Angeles (UCLA) năm 2011 ghi nhận nữ sinh viên bị stress nhiều hơn nam [47] Tương tự nghiên cứu Nguyễn Hữu Thụ (2009) về stress trong học tập của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội trên 829 sinh viên cũng chỉ ra rằng mức độ stress trong học tập sinh viên nữ cao hơn nam là (62,3% và 37,7%) Các nghiên cứu cũng đưa
ra lời giải thích sinh viên nữ thường nhạy cảm hơn về các vấn đề xảy ra xung quanh họ
và họ cũng thường có những suy nghĩ hay cảm nhận quá mức so với bình thường [14]
Tuổi:
Nghiên cứu của Somaich (2015) ở sinh viên y khoa Iran cũng chỉ ra mối liên quan giữa stress và độ tuổi, tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc stress càng cao Những sinh viên từ 20
Trang 20tuổi trở lên có nguy cơ mắc stress cao gấp 2 lần so với những sinh viên dưới
20 tuổi [46]
Năm học:
Năm học cũng là yếu tố liên quan tới stress ở sinh viên Sinh viên năm cuối thường
có nguy cơ mắc stress cao hơn các sinh viên khác Một nghiên cứu kết hợp trên đối tượng
là các sinh viên điều dưỡng ở Anh của Linda Wolf (2013) cũng chỉ ra rằng sinh viên năm thứ 4 có nguy cơ mắc stress cao hơn sinh viên năm thứ 3 Lý do được giải thích rằng càng học lên cao hơn, sinh viên y khoa càng phải chịu nhiều áp lực học tập từ việc học
lý thuyết tới việc học lâm sàng tại các bệnh viện hoặc các trung tâm y tế và cả những áp lực về công việc tương lai… [33] Theo nghiên cứu của tác giả Lê Hải Yến, trên 678 sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên sử dụng thang đo DASS 21 để đo lường tỷ
lệ sinh viên bị stress và phân tích đa biến để xác định các yếu tố liên quan cho thấy tỷ lệ sinh viên stress ở năm thứ 2 là cao nhất (55,6%) [26] Ở giai đoạn này, sinh viên có thể cảm thấy cô đơn do sống xa gia đình, thay đổi môi trường học tập hay như chưa thích nghi được với chương trình học Họ vừa phải học lý thuyết tại trường và thực tập tại bệnh viện trong khi sinh viên các năm cuối họ thường chỉ phải đi thực tập tại bệnh viện
mẹ và con cái… đều là những yếu tố thuận lợi dẫn đến những căng thẳng tâm lý Các
Trang 21yếu tố gây stress trong gia đình không chỉ xuất phát từ trong gia đình mà còn có thể do
bố mẹ mang về từ công sở, do con cái mang về từ nhà trường và do môi trường sống tự nhiên và xã hội mang đến Sinh viên càng nhận được nhiều sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bè thì càng có ít nguy cơ mắc stress Nghiên cứu này cũng cho thấy trình độ học vấn hay nghề nghiệp của cha mẹ cũng có liên quan chặt chẽ với stress của con Sinh viên có cha
mẹ từng học đại học trở lên hay cha mẹ làm cán bộ công chức thì có tỷ lệ mắc stress thấp hơn những sinh viên có cha mẹ chưa từng học đại học Điều này có thể giải thích rằng
do cha mẹ đã từng học đại học có kinh nghiệm hơn và hỗ trợ con cái mình Khi gặp phải vấn đề khó khăn, gia đình sẽ là nơi sinh viên tham khảo ý kiến và sinh viên nữ thường
có xu hướng thực hiện việc này nhiều hơn sinh viên nam [31, 46]
Tuy nhiên, sinh viên sống tại gia đình lại có nguy cơ mắc stress cao hơn sinh viên sống xa gia đình Mặc dù, sinh viên sống cùng với gia đình không phải lo lắng về nơi ở hay chi phí sinh hoạt nhưng họ lại phải chịu ảnh hưởng bởi áp lực kỳ vọng học hành từ cha mẹ, họ bị kiểm soát các chi phí, các hoạt động cá nhân, việc đi lại hàng ngày hơn các sinh viên không sống cùng gia đình Mặc khác sinh viên lạm dụng rượu bia đều có hại cho sức khỏe nói chung và sức khỏe tâm thần nói riêng Đối với người trưởng thành
sử dụng rượu bia ở mức độ an toàn có lợi cho sức khỏe nhưng lạm dụng rượu bia hay sử dụng rượu bia để chế ngụ những cảm giác lo lắng lại gây ra những hậu quả nghiêm trọng [43]
1.6.3 Yếu tố về trường học
Trường học có vai trò trong việc hình thành nhân cách, phong cách sống của các
em vì phần lớn thời gian của các em là sinh hoạt cùng thầy cô và bạn bè ở trường học Không gian học tập, những nội quy, việc tổ chức học tập, thi cử hay các hoạt động ngoại khóa đều có ảnh hưởng nhất định đến sức khỏe tâm thần của các em [43] Đặc biệt đối với sinh viên y khoa là một thầy thuốc tương lai, luôn chịu nhiều sức ép trong kỳ vọng trong nhà trường và phụ huynh Bên cạnh đó, phải thường xuyên tiếp xúc với bệnh nhân, dịch tiết bệnh nhân, các bệnh truyền nhiễm cũng là những áp lực chỉ có với sinh viên
Trang 22trường Y Lịch trình học tập tại trường, lịch thực tập ở bệnh viện và những yêu cầu cao
về mặt dung lượng kiến thức mà sinh viên phải hoàn thành tương đối lớn so với các sinh viên trường khác Vì vậy sinh viên phải có phương pháp học tập khoa học, tổ chức quản
lý sử dụng thời gian hợp lý để cân đối các nhiệm vụ học tập tại trường và hoạt động khác trong đời sống cá nhân của mình Không sắp xếp tốt các việc đó, các e rất dễ rơi vào trạng thái stress Trong nghiên cứu ở Iran thì sinh viên trường Y gặp phải những căng thẳng trong học tập có nguy cơ mắc stress cao gấp 5 lần so với những sinh viên bình thường [46] Tại Việt Nam, nghiên cứu của Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh và Lê Thị Thu Huyền (2010) cho thấy 80% sinh viên y tế công cộng Y dược TP HCM có biểu hiện của stress lựa chọn nguyên nhân chính gây căng thẳng là khối lượng bài tập, các kì thi và kết quả học tập [8] Nghiên cứu Lê Anh Tuấn và cộng sự (2010) trên 1078 học sinh THPT Nguyễn Hữu Tiến, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xác định tỉ lệ bị stress, trầm cảm, lo âu và các yếu tố liên quan yếu tố nhà trường, gia đình, bạn bè có 66,5% học sinh
bị stress [22]
Một số các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức độ stress của sinh viên còn bị ảnh hưởng từ phía các thầy cô giáo Không chỉ ở phương pháp giảng dạy mà khâu kiểm tra đánh giá không phù hợp, thái độ của giảng viên không tốt cũng có thể làm cho sinh viên
bị stress từ mức độ nhẹ đến mức độ nặng [42] Bên cạnh đó, sinh viên còn sống xa gia đình nên khi gặp khó khăn họ thường tìm đến bạn bè để tâm sự, giải bày Chỉ có một số
ít là tìm đến cá chuyên gia tâm lý [38, 46]
Trang 23thuật để tạo được độ tin tưởng với bệnh nhân, người nhà người bệnh Ngoài ra, thực tập tại bệnh viện sinh viên còn phải thường xuyên chứng kiến sự đau đớn chịu đựng hay những cái chết do bệnh tật gây nên ở bệnh nhân Trong mối quan hệ với các bộ y tế, sinh viên cảm thấy căng thẳng khi cán bộ y tế thiếu cảm thông hay giúp đỡ các kỹ năng thực hành và lo lắng khi cán bộ y tế yêu cầu thảo luận, trả lời về tình hình bệnh tật của bệnh nhân [32, 42]
1.6.5 Yếu tố lối sống và hành vi
Trong nghiên cứu của nhóm tác giả của Iran thì những người thường xuyên gặp phải tình trạng như: rối loạn giấc ngủ, ăn uống không đầy đủ, có sử dụng chất kích thích như rượu bia, thuốc lá, không tham gia các hoạt động thể dục thể thao sẽ có nguy cơ mắc stress cao hơn so với những người khác [46] Kết quả cũng tương đồng với nghiên cứu trên sinh viên Y khoa ở Ả Rập, những sinh viên có các vấn đề về thể chất thường mắc stress cao gấp 2,1 lần [27] Hút thuốc lá và rượu bia đều có hại cho sức khỏe về thể chất
và tinh thần của con người Các yếu tố độc hại trong thuốc lá có liên quan đến phản ứng của bộ não và đặc biệt là chất gây nghiện Nicotin Nicotin giúp cải thiện tâm trạng và sự tập trung nhưng nếu sử dụng lâu ngày thì người hút thuốc lá trở nên phụ thuộc nicotin dẫn đến căng thẳng thường xuyên, thay đổi cảm xúc và hành vi Tương tự, với người trưởng thành sử dụng rượu bia ở mức độ an toàn có lợi cho sức khỏe nhưng lạm dụng rượu bia hay sử dụng rượu bia để chế ngụ những cảm giác lo lắng lại gây ra những hậu quả nghiêm trọng [43]
1.7 Công cụ sử dụng nghiên cứu stress ở học sinh - sinh viên
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều bộ công cụ để đánh giá các vấn đề về sức khỏe tâm thần Trong đó một số bộ công cụ đã được chuẩn hóa và sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu cũng như trong chẩn đoán lâm sàng về stress như: bộ công cụ về đánh giá stress nghề nghiệp (JSQ), bộ câu hỏi đánh giá stress của Beck & Srivastava…
Bộ câu hỏi đánh giá về stress dành cho sinh viên điều dưỡng (SINE) của Rhead (1995): đây là bộ câu hỏi được phối hợp giữa thang đo về căng thẳng tâm lý ở điều dưỡng
Trang 24viên với căng thẳng trong học tập Bộ câu hỏi gồm có 32 tiểu mục trong đó có 16 tiểu mục liên quan tới các tình huống trong phòng khám và 16 tiểu mục liên quan tới các tình huống trong học tập Điểm cho mỗi tiểu mục là từ 0 đến 3 điểm (từ không căng thẳng tới cực kỳ căng thẳng) Tổng điểm của 32 tiểu mục là từ 0 – 96 điểm [32]
Chỉ số đánh giá stress ở sinh viên điều dưỡng (SNSI) của Jones & Johnston (1999) được phát triển trên bộ công cụ đánh giá stress của Beck & Srivastava (1991) và được
bổ sung thêm 15 câu hỏi Tổng cộng SNSI có 22 câu hỏi được chia làm 4 phần: áp lực học tập, áp lực trong thực hành lâm sàng, các lo lắng khác và các vấn đề cá nhân Các câu trả lời được đánh giá trên thang điểm từ 1 đến 5 (từ không căng thẳng tới cực kỳ căng thẳng) [32]
Bộ câu hỏi đánh giá cảm nhận về stress (PSS-10): thang đo PSS -10 (Perceived stress scale -10) của Cohen bao gồm 10 câu hỏi đánh giá về cảm nhận về stress của sinh viên trong vòng 30 ngày trở về trước dựa vào bộ công cụ PSS-10 Các câu hỏi trong phần này là các câu hỏi nhiều lựa chọn gồm 5 mức độ không bao giờ, hầu như không bao giờ, thỉnh thoảng, khá thường xuyên và rất thường xuyên Mức độ stress được đánh giá bằng việc dựa vào tổng điểm của các câu hỏi, tổng điểm càng cao, mức độ stress càng lớn [1] Thang đánh giá stress, lo âu, trầm cảm của Lovibond (DASS 42 và DASS 21): là thang đo đánh giá được cả 3 vấn đề SKTT gồm stress, lo âu và trầm cảm, được sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu khoa học cũng như được ứng dụng trong lâm sàng giúp
hỗ trợ chẩn đoán [10-23] Thang đo DASS 21, đây là phiên bản rút gọn của DASS 42 nhằm tạo sự tiện lợi hơn cho người dùng DASS 42 gồm 42 tiểu mục chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm 14 tiểu mục sẽ đánh giá về một vấn đề sức khỏe tâm thần là stress, lo âu hoặc trầm cảm Tương tự, DASS 21 gồm 21 tiểu mục chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm gồm 7 tiểu mục Mỗi tiểu mục là một mô tả về triệu chứng thực thể hoặc tinh thần Điểm cho mỗi tiểu mục là từ 0 đến 3 điểm, tùy thuộc vào mức độ và thời gian xuất hiện triệu chứng Bên cạnh đó thang đo khác, kết quả thu được từ DASS 21 không có ý nghĩa chẩn đoán xác định bệnh mà chỉ có vai trò sàng lọc ban đầu nhưng đối tượng có biểu hiện stress, lo
Trang 25mô tả trong thang đo chỉ tính được trong khoảng thời gian 1 tuần trở lại vì vậy kết quả thu được từ thang đo chỉ có giá trị ngay tại thời điểm đánh giá [25]
Trong các thang đo trên hiện chỉ có thang đo DASS 21 được Viện sức khỏe tâm thần quốc gia biên dịch, thử nghiệm trên một số đối tượng nghề nghiệp khác nhau như lái xe bus, công nhân dệt may… và cũng được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu trên đối tượng là học sinh – sinh viên tại Việt Nam Nghiên cứu của Lê Minh Thuận (2010)
và Trần Kim Trang (2011) ở sinh viên trường Đại học Y – Dược thành phố Hồ Chí Minh
và nghiên cứu Lê Hải Yến (2016) ở sinh viên cao đẳng trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên đều sử dụng bộ công cụ này [15, 20, 26]
Các tác giả của các nghiên cứu trên sử dụng DASS 21 để đánh giá thực trạng stress
ở sinh viên là phù hợp và khả thi Vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng bộ công cụ DASS 21 cho sinh viên tự điền Điểm cắt để xác định có stress là trên 14 điểm (sau khi tổng số điểm đã nhân 2, tính theo thang DASS 42) [26]
1.8 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Trường Cao đẳng Y tế Phú Yên là trường được thành lập vào năm 2014 trên cơ sở nâng cấp từ trường Trung cấp Y tế Phú Yên Hiện trường đào tạo 2 bậc học Trung cấp
và Cao đẳng với 5 mã ngành (2 mã ngành cao đẳng và 3 mã ngành trung cấp) Từ năm
2014 trường bắt đầu tuyển sinh sinh viên hệ cao đẳng khóa I trong đó có ngành Điều dưỡng và Dược Đến nay, trường đã tuyển sinh được 4 khóa cao đẳng điều dưỡng, 4 khóa cao đẳng dược Tổng số sinh viên toàn trường là trên 2400 học sinh, sinh viên trong
đó nữ chiếm 90% và nam chiếm 10% Hàng năm trường tuyển sinh khoảng 1000 chỉ tiêu sinh viên hệ cao đẳng chính quy và liên thông Học sinh, sinh viên của trường hiện đang
Trang 26ở ngoại trú chiếm 50%, do các em ở nơi khác đến Do vậy các em phải sống một mình, việc sinh hoạt cá nhân tự túc, tự giác là chủ yếu Chính vì thế sinh viên năm đầu thường phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý do phải rời xa gia đình và sống tự lập trong một môi trường mới Bên cạnh đó, gánh nặng do chương trình học ở trường Y đòi hỏi sinh viên phải dành nhiều thời gian cho việc học tập và nghiên cứu tài liệu, thi cử, thực hành… Rối loạn tâm thần ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của sinh viên, đến mối quan hệ của sinh viên với thầy cô, bạn bè, người thân, đến kết quả học tập cũng như sự phát triển nói chung Những năm gần đây, các nghiên cứu đánh giá về sức khỏe tâm thần của sinh viên đại học, đặc biệt là sinh viên Y – Dược mới được chú trọng nhiều hơn Vì vậy, đánh giá stress của sinh viên rất cần thiết để góp phần đưa ra giải pháp can thiệp nhằm tăng cường sức khỏe cho sinh viên
Trang 27KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Dựa trên kiến thức có được đã trình bày ở phần Tổng quan về Thực trạng và các yếu tố liên quan đến Stress, học viên phát triển Khung lý thuyết là tình trạng stress ở sinh viên Biến độc lập là các yếu tố liên quan khư trú vào 5 nhóm chính: Nhóm yếu tố về đặc trưng cá nhân; Lối sống và hành vi sức khỏe; Gia đình; Nhà trường và Xã hội
-Thời gian làm thêm
- Chi phí sinh hoạt
- Mối quan hệ với bạn thân
- Mối quan hệ với người yêu
TÌNH TRẠNG STRESS CỦA SINH VIÊN
Yếu tố lối sống và hành vi sức khỏe:
-Thể dục và thể thao
- Lạm dụng rượu bia, thuốc lá
- Thiếu/ Mất ngủ
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên hệchính quy trường Cao đẳng Y tế Phú Yên
Tiêu chuẩn lựa chọn: Sinh viên hệ Cao đẳng chính quy đang học tại trường Cao
đẳng Y tế Phú Yên trong thời gian tiến hành nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu:
- Sinh viên từ chối tham gia nghiên cứu
- Sinh viên không đến trường trong thời gian tiến hành nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: 01/2018 đến 06/2018
- Địa điểm: Trường Cao đẳng Y tế Phú Yên
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4 Cỡ mẫu
Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỉ lệ:
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể:
- p: tỷ lệ ước đoán của quần thể=0,7 [20]
- Thay vào công thức trên, ta được:
Trang 29n = Z2(1 - 𝛼
2) x 𝑝(1−𝑝)
𝑑 2 = 1,962 x 0,7(1−0,7)
0,05 2 = 323 SV Thêm 10% số mẫu tối thiểu dự trù trường hợp một số mẫu có thể bị mất trong quá trình thu thập số liệu Khi đó, ta tính được cỡ mẫu là: 323 + (323 x 0,1) = 355 SV
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống:
Lấy danh sách sinh viên có sẵn ở tất cả các lớp của 2 ngành học, sắp xếp danh sách trình tự theo các năm học của từng ngành học và tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên theo hệ thống để chọn ra đủ số mẫu cần lấy
Tính khoảng cách mẫu (k) bằng cách lấy tổng số sinh viên (972) chia cho số mẫu
đã xác định (355):
k = N/n = 972/355 ≈ 2,73 làm tròn là 3
Chọn đối tượng đầu tiên trong khung mẫu bằng cách chọn ngẫu nhiên 1 con số (ký hiệu là n), chọn đối tượng tiếp bằng cách cộng n với khoảng cách mẫu là 3, như vậy đối tượng thứ 2 sẽ là: n+3, các đối tượng tiếp sẽ là n+ (2x3); n+(3x3)… và cứ chọn như vậy
để có đủ số sinh viên cho từng năm học của hai ngành học; cuối cùng sẽ chọn được mẫu
355 sinh viên
2.6 Các biến số nghiên cứu, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá
2.6.1 Các biến số trong nghiên cứu (phụ lục 3)
- Biến số: Đặc điểm cá nhân, các yếu tố ảnh hưởng (biến độc lập) và tình trạng stress (biến phụ thuộc)
2.6.2 Bộ công cụ:
Bộ công cụ được sử dụng để đánh giá thực trạng stress của đối tượng là DASS 21
và phiếu điều tra các yếu tố liên quan Thang đo DASS 21 đã được chuẩn hóa và hướng dẫn rất chi tiết, phối hợp với trình độ của nghiên cứu viên, với độ tuổi của đối tượng trong nghiên cứu Sử dụng thang đo này đã cho kết quả về thực trạng stress của sinh viên
Trang 30một cách tổng thể để làm cơ sở cho khuyến nghị nâng cao sức khỏe tâm thần cho sinh viên Bộ công cụ này đo lường bằng 7 tiểu mục stress trích từ thang đo chung Stress- Lo
âu - Trầm cảm (Depression, Anxiety and Stress Scale - 21 Items DASS-21) [27] Gồm
có 6 phần:
- Phần A: Thông tin chung gồm có 16 câu
- Phần B: Cảm nhận về tình trạng của bạn trong tuần qua gồm có 7 câu
- Phần C: Yếu tố gia đình gồm có 09 câu
- Phần D: Yếu tố nhà trường gồm có 13câu
- Phần E: Yếu tố xã hội gồm có 09 câu
- Phần F: Yếu tố hành lối sống và hành vi gồm có 07 câu
2.6.3 Tiêu chuẩn đánh giá Stress
Sử dụng phần B (Cảm nhận về tình trạng của bạn trong tuần qua) gồm có 7 câubằng cách cho điểm theo bảng sau:
Không đúng Đúng một phần Đúng phần nhiều Hoàn toàn đúng
Điểm cho mỗi câu hỏi là từ 0 đến 3 điểm, tùy thuộc vào câu trả lời của đối tượng nghiên cứu về mức độ cảm nhận đối với nội dung được hỏi
Tổng số điểm của cả phần B đo mức độ stress được tính bằng cách cộng điểm của
7 câu hỏi rồi nhân hệ số 2 Như vậy tổng số điểm sẽ được ghi nhận từ 0 - 42 điểm Sử dụng điểm cắt tại mức 14 điểm để sàng lọc các đối tượng có dấu hiệu stress [25]
Phân loại stress:
Trang 31Nặng 26-33
2.7 Phương pháp thu thập số liệu
2.7.1 Thu thập số liệu:
Thu thập thông tin bằng cách phát bộ câu hỏi về stress (Phụ lục 2) và hướng dẫn
sinh viên tự điền
2.7.2 Tổ chức thu thập thông tin
Bước 1: Liên hệ địa bàn nghiên cứu
Học viên liên hệ với Phòng đào tạo và phòng Chính trị- HSSV để hỗ trợ trong quá trình thu thập số liệu như: Giấy triệu tập sinh viên tham gia vào nghiên cứu và danh sách sinh viên đính kèm theo từng lớp
Liên hệ với giáo viên chủ nhiệm lớp và lớp trưởng các lớp hệ Cao đẳng Điều dưỡng, dược chính quy thông báo về thời gian, địa điểm cụ thể để thu thập thông tin thuận lợi hơn
Bước 2: Thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ
Học viên tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi trên 10 đối tượng sinh viên của trường
(không phải hệ cao đẳng chính qui), để điều chỉnh bộ câu hỏi cho phù hợp trước khi sử
dụng thu thập số liệu chính thức
Bước 3: Tập huấn điều tra viên
Tuyển chọn điều tra viên (ĐTV): chọn ĐTV là cán bộ phòng nghiên cứu khoa học của trường Cao đẳng Y tế Phú Yên, đã từng tham gia điều tra, phỏng vấn cho các nghiên cứu trong bệnh viện hoặc tại cộng đồng Tổng số điều tra viên cần cho nghiên cứu này là 3 người
Tập huấn điều tra viên: Học viên chịu trách nhiệm tập huấn cho 3 ĐTV
Nội dung tập huấn:
Trang 32- Giới thiệu mục tiêu của nghiên cứu, bộ công cụ sử dụng cho nghiên cứu
- Giải thích nội dung các câu hỏi Lưu ý giải thích rõ các câu hỏi khó
- Phổ biến đạo đức nghiên cứu để ĐTNC đồng ý tham gia vào nghiên cứu
- Thực hành phát phiếu và hướng dẫn sinh viên tự điền
- Kế hoạch thu thập số liệu
Bước 4: Tiến hành thu thập số liệu
Sau khi thống nhất thời gian, địa điểm với giáo viên chủ nhiệm, học viên và ĐTV
sẽ tập trung ĐTNC theo năm học và số lượng học viên cho mỗi phòng Số lượng ĐTNC trong mỗi phòng học ít nhất là 23 và nhiều nhất là 36 Các sinh viên này là những sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu
Có 2 ĐTV phụ trách mỗi phòng ĐTV chuẩn bị đủ số lượng bộ câu hỏi để phát cho sinh viên trong danh sách mà mình phụ trách
Trước khi hướng dẫn sinh viên điền phiếu, ĐTV bố trí ĐTNC ngồi ở các bàn riêng trong lớp học để đảm bảo 2 sinh viên ngồi cạnh nhau không thể nhìn được thông tin trong phiếu của nhau
Tiếp theo, ĐTV nêu mục tiêu của nghiên cứu, khẳng định về sự tự nguyện tham gia nghiên cứu và hướng dẫn đọc phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu ĐTV giải thích rõ với ĐTNC là phiếu điều tra không ghi tên, các câu hỏi không có vấn đề nhạy cảm, các thông tin mà các em điền trong phiếu được bảo mật
ĐTV tiếp tục với phần chính là giới thiệu cho ĐTNC về bộ câu hỏi hướng dẫn ĐTNC cách điền phiếu và trả lời các thắc mắc của các em
Sau khi sinh viên điền xong, ĐTV tới tận nơi để thu phiếu, trước khi thu phiếu nhắc
sinh viên rà soát lại lần nữa rồi mới thu
Bước 5: Tổng hợp và làm sạch phiếu
Học viên tổng hợp phiếu theo từng ngày Kiểm tra thông tin ghi trong phiếu Các phiếu thiếu quá nhiều thông tin sẽ được loại bỏ
Trang 332.8 Xử lý và phân tích số liệu
- Làm sạch và nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1
- Phân tích và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0 với các test thống kê thông thường như tính tỷ lệ % sử dụng kiểm định Khi bình phương, Fisher exact test nếu giá trị kỳ vọng dưới 5 để tính giá trị OR
2.9 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu tuân theo quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức Trường Đại học
Y tế Công Cộng theo Quyết định Số 042/2018/YTCC-HD3 ngày 29 tháng 01 năm 2018 của Hội đồng đạo đức trong NCYSH và triển khai khi được sự thông qua và cho phép của Hội đồng Nghiên cứu cũng đã được sự ủng hộ và cho phép của lãnh đạo Trường Cao đẳng Y tế Phú Yên
Trong khi thu thập thông tin, giải thích rõ ràng và đầy đủ về mục đích và nội dung nghiên cứu cho đối tượng Đối tượng nghiên cứu được phát giấy đồng ý tham gia nghiên cứu Do vậy, ĐTNC có quyền quyết định tự nguyện tham gia nghiên cứu hay không Nghiên cứu sử dụng phiếu điều tra không ghi tên nên mọi thông tin cá nhân cũng như thông tin về tình trạng stress của ĐTNC hoàn toàn được giữ kín
Kết quả nghiên cứu được thông báo cho Ban giám hiệu, phòng Đào tạo, phòng Công tác chính trị học sinh sinh viên trường Cao đẳng Y tế Phú Yên Trên cơ sở kết quả nghiên cứu nhằm cung cấp thông tin và đưa ra những khuyến nghị cho việc làm giảm tình trạng stress và nâng cao sức khỏe cho sinh viên
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục
2.10.1 Sai số
- Thu thập thông tin hồi cứu rất dễ mắc sai số nhớ lại
- Thu thập thông tin trong lớp dễ xảy ra tình trạng học sinh trao đổi, sao chép kết quả lẫn nhau
Trang 34- Thu thập thông tin qua bộ câu hỏi phát vấn mới có đánh giá chủ quan từ sinh viên nên dễ bỏ sót thông tin
- Sai số do điều tra viên không hiểu rõ câu hỏi, điều tra viên giải thích sai câu hỏi
và sai sót trong quá trình nhập liệu như nhìn nhầm hoặc nhập sai đáp án
2.10.2 Biện pháp khắc phục
- Tập huấn kỹ cho điều tra viên và thực hành điều tra
- Thiết kế bộ câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu, trước khi tiến hành điều tra có điều tra thử
và chỉnh sửa bộ câu hỏi cho hợp lý
- Sinh viên được sắp xếp vị trí chỗ ngồi, có sự giám sát của điều tra viên để tránh
sự trao đổi thông tin, các vấn đề chưa rõ có thể hỏi trực tiếp điều tra viên
- Trước khi thu phiếu, ĐTV nhắc ĐTNC cần rà soát kỹ toàn bộ các câu hỏi để bảo đảm đã điền đầy đủ thông tin
- Trong quá trình nhập liệu, cần kiểm tra chặt chẽ các số liệu nhập vào Học viên
sẽ kiểm tra ngẫu nhiên 10% số phiếu để xác định độ chính xác của việc nhập số liệu
Trang 35CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC (n= 355)
Kết quả bảng 3.1 cho thấy phần lớn đối tượng tham gia nghiên cứu là sinh viên
nữ (301/355) Độ tuổi trung bình của sinh viên nam và nữ tương đương nhau 20,4), nhỏ nhất là 19, cao nhất là 24 tuổi Sinh viên là người Kinh chiếm 97,2%; Có
Trang 36(20,5-57,7% số sinh viên không ở nhà bố mẹ Hầu hết (97,5%) các sinh viên sử dụng mạng
xã hội Số sinh viên có sức khỏe bình thường là 88,5% Có 25,4% số sinh viên đi làm thêm ngoài giờ học với 91% trong số đó làm thêm ≥ 3 giờ/ngày Có đến 90,4% số sinh viên có mức chi phí sinh hoạt học tập, ăn ở là dưới 4 triệu/tháng
Bảng 3.2 Ngành học, năm học và kết quả học tập của ĐTNC (n=355)
Kết quả bảng 3.2 cho thấy số sinh viên năm thứ nhất chiếm 27,3% năm thứ hai
và thứ 3 lần lượt là 35,5% và 37,2%; Số sinh viên cao đẳng điều dưỡng là 22,3% và sinh viên cao đẳng dược là 77,7% Có 63,1% sinh viên đạt học lực khá trở lên và 36,9% sinh viên đạt học lực trung bình và yếu
Bảng 3.3 Đặc điểm gia đình của ĐTNC (n=355)
Trang 38Bảng 3.4 Quan hệ xã hội của ĐTNC (n=355)
Trang 39viên (83,7%) có bạn bè Trong số 297 sinh viên trả lời câu hỏi về mâu thuẫn với bạn thân, có 69 em (23,2%) trả lời là có mâu thuẫn với bạn bè Có 69 em trả lời về mức
độ mâu thuẫn thì có 25 em (36,2%) cho là mâu thuẫn đã tạo áp lực đối với việc học
Có 48,5% số sinh viên đã có người yêu Trong số những sinh viên có người yêu có đến 34,9% đã từng có mâu thuẫn với người yêu
Bảng 3.5 Đặc điểm hành vi lối sống của ĐTNC (n=355)
Trang 40Thường xuyên 1 7,7 Kết quả bảng 3.5 cho thấy chỉ có 38,7% số sinh viên tham gia các hoạt động thể dục thể thao và trong số đó chỉ có 10,7% số sinh viên tham gia thường xuyên (>5 lần/tuần)
Tỷ lệ sinh viên uống rượu bia chiếm 17,1% và hầu hết chỉ thỉnh thoảng mới uống… Tỷ lệ số sinh viên có hút thuốc lá là 3,8%
3.2 Thực trạng stress của sinh viên
Hình 1 Tỷ lệ Stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Phú Yên
Nhận xét: Tỷ lệ sinh viên bị stress chiếm đến 50,1% tổng số sinh viên nghiên cứu
Bảng 3.6 Mức độ stress ở sinh viên (trong số bị stress n= 178)