1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại một số khoa lâm sàng của bệnh viện tim hà nội năm 2018

119 91 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được tiến hành từ tháng 11/2017 đến tháng 07/2018 tại Bệnh viện Tim Hà Nội trên 97 điều dưỡng ĐD trực tiếp chăm sóc người bệnh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

THỰC TRẠNG TUÂN THỦ VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA ĐIỀU DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

TẠI BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

THỰC TRẠNG TUÂN THỦ VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA ĐIỀU DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

TẠI BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS NGUYỄN THÚY QUỲNH

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo Trường Đại học Y tế Công cộng

đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong khóa học này

Với tất cả tình cảm sâu sắc nhất, tôi bày tỏ lòng biết ơn đến PGS TS Nguyễn Thúy Quỳnh, cô giáo kính mến, người đã hướng dẫn và tận tình chỉ

bảo, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu hoàn thành Luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội, đặc biệt

là các cán bộ công tác tại khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, phòng Điều dưỡng và phòng Quản lý chất lượng đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cha mẹ, người thân, bè bạn và đồng nghiệp đã giành tình cảm, động viên, giúp đỡ tôi trong cuộc sống và trong quá trình học tập vừa qua

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 01 tháng 8 năm 2018

Học viên

Nguyễn Thị Thu Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu 4

1.2 Vai trò của VST và mối liên quan với nhiễm khuẩn bệnh viện 5

1.3 Thực trạng kiến thức, thái độ về vệ sinh tay thường quy 6

1.3.1 Trên thế giới 6

1.3.2 Tại Việt Nam 7

1.4 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy 7

1.4.1 Trên thế giới 7

1.4.2 Tại Việt Nam 9

1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủvệ sinh tay ở nhân viên y tế 12

1.5.1 Kiến thức, thái độ về VST của NVYT 12

1.5.2 Phương tiện VST 12

1.5.3 Cường độ làm việc của NVYT 13

1.5.4 Mức độ kích ứng da của hóa chất VST 14

1.5.5 Hóa chất vệ sinh tay 15

1.5.6 Mang găng tay 15

1.5.7 Kiểm tra, giám sát 15

1.5.8 Quy định, thi đua, khen thưởng 16

1.5.9 Đào tạo, tập huấn 17

1.6 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu 17

1.7 Khung lý thuyết 18

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) 19

Trang 5

2.1.1 Nghiên cứu định lượng 19

2.1.2 Nghiên cứu định tính 19

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19

2.3 Thiết kế nghiên cứu 20

2.4 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 20

2.4.1 Nghiên cứu định lượng 20

2.4.2 Nghiên cứu định tính 21

2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 21

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 21

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 22

2.6 Cách đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành VST 27

2.6.1 Đánh giá kiến thức, thái độ về VST 27

2.6.2 Đánh giá tuân thủ VST 27

2.6.3 Xác định các yếu tố liên quan và yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ VST 28

2.7 Các biến số nghiên cứu 28

2.7.1 Biến số nghiên cứu định lượng 28

2.7.2 Chủ đề nghiên cứu định tính 29

2.8 Phương pháp phân tích số liệu 29

2.8.1 Số liệu định lượng 29

2.8.2 Số liệu định tính 30

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 30

2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 30

2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu 30

2.10.2 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 31

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 32

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 32

3.2 Thực trạng kiến thức, thái độ về VSTTQ của điều dưỡng 35

3.2.1 Thực trạng kiến thức về VSTTQ của điều dưỡng 35

3.2.2 Thực trạng thái độ về VSTTQ của điều dưỡng 37

3.3 Thực trạng tuân thủvệ sinh tay thường quy của điều dưỡng 38

3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ VSTTQ của điều dưỡng 42

Trang 6

3.4.1 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ VSTTQ của điều dưỡng qua kết quả

nghiên cứu định lượng 42

3.4.2 Các yếu tố tạo điều kiện tuân thủ VSTTQ 44

3.4.3 Các yếu tố tăng cường tuân thủ VSTTQ 45

3.4.4 Các yếu tố cản trở điều dưỡng tuân thủ VSTTQ 48

3.4.5 Mong muốn của điều dưỡng để tăng cường tuân thủ VSTTQ 52

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 54

4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 54

4.2 Thực trạng kiến thức, thái độ về vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2018 55

4.2.1 Thực trạng kiến thức tuân thủ VSTTQ của điều dưỡng 55

4.2.2 Thực trạng thái độ tuân thủ VSTTQ của điều dưỡng 56

4.3 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2018 57

4.4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ VSTTQ của điều dưỡng Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2018 60

4.4.1 Ảnh hưởng của yếu tố cá nhân, kiến thức, thái độ đến tuân thủ VSTTQ của điều dưỡng 60

4.4.2 Các yếu tố tạo điều kiện tuân thủ VSTTQ của điều dưỡng 62

4.4.3 Các yếu tố thúc đẩy điều dưỡng tăng cường tuân thủ VSTTQ 63

4.4.4 Các yếu tố cản trở điều dưỡng tăng cường tuân thủ VSTTQ 65

4.4.5 Mong muốn của điều dưỡng để tăng cường tuân thủ VSTTQ 68

4.5 Bàn luận về phương pháp nghiên cứu 68

KẾT LUẬN 70

KHUYẾN NGHỊ 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 76

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

BẢNG

Bảng 2.1: Số cơ hội cần quan sát tại các khoa 21

Bảng 3.1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 32

Bảng 3.2: Tiếp cận thông tin về vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng 33

Bảng 3.3: Công tác tổ chức, quản lý tại bệnh viện liên quan đến VSTTQ 34

Bảng 3.4: Kiến thức đúng của NVYT về vệ sinh bàn tay 35

Bảng 3.5 Kiến thức đúng của NVYT về thời gian một lần VSTTQ 36

Bảng 3.6: Thái độ của điều dưỡng về vai trò VSTTQ trong KSNK 37

Bảng 3.7: Tỷ lệ cơ hội tuân thủ vệ sinh tay thường quy 39

Bảng 3.8: Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thường quy theo 5 thời điểm 39

Bảng 3.9: Phương pháp VSTTQ trong số cơ hộituân thủ VSTTQ 40

Bảng 3.10: Tỷ lệ tuân thủ quy trình VSTTQ trong quan sát trực tiếp 41

Bảng 3.11: Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân với tuân thủ VSTTQ 42

Bảng 3.12: Mối liên quan giữa kiến thức với tuân thủ VSTTQ 43

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa thái độ với tuân thủ VSTTQ 43

BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1: Hiệu quả của việc vệ sinh tay với các loại hóa chất khác nhau 5

Biểu đồ 3.1: Kết quả sắp xếp đúng thứ tự 6 bước trong quy trình VSTTQ 36

Biểu đồ 3.2: Phân loại kiến thức chung về VSTTQ của điều dưỡng 37

Biểu đồ 3.3: Phân loại thái độ chung về VSTTQ 38

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ VSTTQ 42

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được tiến hành từ tháng 11/2017 đến tháng 07/2018 tại Bệnh viện Tim Hà Nội trên 97 điều dưỡng (ĐD) trực tiếp chăm

sóc người bệnh tại 05 khoa lâm sàng tại thời điểm nghiên cứu nhằm mục đích mô tả

kiến thức, thái độ, thực hành tuân thủ quy trình vệ sinh tay thường quy (VSTTQ) và tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ VSTTQ của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng tại Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2018

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cơ hội tuân thủ VSTTQ qua quan sát trực tiếp cao hơn so với quan sát bằng camera, lần lượt là 79,9% và 63,4% Tỷ lệ ĐD chưa tuân thủ VSTTQ chiếm 53,6% cao hơn tỷ lệ ĐD tuân thủ VSTTQ 46,4%.ĐD đạt về kiến thức về VSTTQ chiếm tỉ lệ cao hơn (72%) so với tỉ lệ ĐD không đạt (28%) 89,7% ĐD có thái độ tích cực về VSTTQ, chỉ có 10,3% ĐD có thái độ chưa tích cực Nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn và thâm niên công tác của ĐD với tuân thủ VSTTQ

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức, thái độ tuân thủ VSTTQ với thực hành tuân thủ VSTTQ của ĐD lần lượt với p < 0,001 và với p < 0,05 Các quy định của bệnh viện; hoạt động kiểm tra, giám sát; hoạt động thi đua, khen thưởng; công tác đào tạo, tập huấn góp phần tăng cường tuân thủ VSTTQ của ĐD Sự quá tải công việc; phương tiện đầy đủ nhưng chưa thực sự thuận tiện; giám sát chưa tốt; thiếu cán bộ KSNK là các yếu tố gây cản trở tuân thủ VSTTQ của ĐD Do đó nghiên cứu khuyến nghị Bệnh viện Tim Hà Nội cần tăng cường công tác đào tạo về VST cho ĐD; tăng cường nhân lực và năng lực cho đội ngũ giám sát và áp dụng nhiều biện pháp giám sát khác nhau; bố trí sử dụng nhân lực hợp lý để giảm quá tải công việc cho ĐD và tăng cường ứng dụng của camera trong hoạt động giám sát vệ sinh tay (VST) trong bệnh viện

Từ khoá:Điều dưỡng, vệ sinh tay thường quy.

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) hay còn gọi là nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc y tế là một trong những vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe người bệnh Có nhiều phương thức lây truyền NKBV, tuy nhiên sự lây truyền qua bàn tay nhân viên y tế (NVYT) là một trong những nguyên nhân hàng đầu Bàn tay không được rửa sạch được coi là một vật chủ trung gian truyền tác nhân gây NKBV

và theo Tổ chức y tế thế giới thì“Chăm sóc với bàn tay sạch là chăm sóc an toàn”,

“Vệ sinh tay được coi là liều vắc xin tự chế, rất đơn giản, dễ thực hiện, hiệu quả về chi phí cũng như có thể cứu sống hàng triệu người”[40].Tuy nhiên, việc thực hiện

tuân thủ vệ sinh tay (VST) đơn giản này ở các cơ sở khám chữa bệnh ở nước ta thường thấp hơn 40%[15] VST là một quy trình cần thiết ở tất cả các cơ sở khám chữa bệnh, nó giúp ngăn ngừa NKBV cho người bệnh, ngăn ngừa lây nhiễm chéo, giúp ngăn ngừa sự ô nhiễm của môi trường bệnh viện do các tác nhân gây bệnh tiềm tàng và giúp bảo vệ NVYT tránh những bệnh nhiễm khuẩn do nghề nghiệp

Tại bệnh viện, với một số lượng lớn cơ hội VST thì quan sát trực tiếp để giám sát sự tuân thủ là kém hiệu quả và tốn nguồn nhân lực Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ, giúp giảm bớt sự cần thiết phải quan sát trực tiếp [23], điều này giúp tạo ra một chiến lược mới giúp cho việc kiểm tra, giám sát, đánh giá mức độ tuân thủ VST từ đó giúp đề ra các giải pháp tích cực để cải thiện việc tuân thủ VST của NVYT

Bệnh viện Tim Hà Nội là bệnh viện chuyên khoa hạng I trực thuộc Sở Y tế

Hà Nội, và là bệnh viện chuyên khoa đầu ngành tim mạch của Sở y tế nên việc phòng ngừa và kiểm soát NKBV luôn được quan tâm, ưu tiên hàng đầu trong đó

có VST củ a NVYT, đặc biệt là điều dưỡng viên (ĐDV) Vì ĐDV chiếm 50% tổng số NVYT toàn bệnh viện và là những người trực tiếp chăm sóc cho người bệnh, thường xuyên thực hiện các quy trình chăm sóc khác nhau như tiêm, truyền, thay băng, lấy máu xét nghiệm, Thời gian chăm sóc người bệnh của điều dưỡng cũng nhiều hơn các NVYT khác Vì vậy, việc VST của ĐDV trong bệnh viện là rất quan trọng và cần thiết

Trang 11

Với một hệ thống camera bao phủ toàn bệnh viện và thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện VST qua quan sát trực tiếp và qua quan sát gián tiếp bằng việc sử dụng thiết bị công nghệ (camera) thì mức độ tuân thủ VST qua hai cách quan sát này là không đồng nhất trong khối điều dưỡng lâm sàng.Đặc biệt, bệnh viện chưa có nghiên cứu nào đánh giá thực trạng tuân thủ VSTTQ bằng cả hai phương pháp này Xuất phát từ những thực tế trên,chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài “Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và một số yếu tố

ảnh hưởng tại Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2018”

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức, thái độ tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng của Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2018

2 Mô tả thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng của Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2018

3 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng của Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2018

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu

Vệ sinh tay (VST): là thuật ngữ chung để chỉ làm sạch bàn tay bằng nước với xà

phòng hoặc với dung dịch VST chứa cồn/cồn [15]

VST bằng nước và xà phòng: là rửa tay với nước và xà phòng[15]

VST bằng dung dịch chứa cồn (hay còn gọi là chà tay khử khuẩn): là chà toàn

bộ bàn tay bằng một chế phẩm VST chứa cồn (không dùng nước) nhằm làm giảm lượng vi khuẩn có trên bàn tay Những chế phẩm cồn VST thường chứa 60 đến 90% cồn Ethanol hoặc Isopropanol hoặc kết hợp hai loại cồn này [15]

Cơ hội VST: là những thời điểm cần VST trong các hoạt động chăm sóc, điều

trị để ngăn sự lây truyền mầm bệnh qua bàn tay [40]

Năm thời điểm cần VST theo WHO [40]:

(1) Trước khi tiếp xúc với người bệnh

(2) Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn

(3) Sau khi tiếp xúc với người bệnh

(4) Sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết cơ thể

(5) Sau khi tiếp xúc vùng xung quanh người bệnh

Cơ hội tuân thủ VST: Một cơ hội VST được coi là tuân thủ phải đảm bảo: (1)

có VST khi có cơ hội cần VST; (2) phải VST với nước và xà phòng hoặc VST với dung dịch VST chứa cồn/cồn

Quy trình VST: dù VST bằng nước và xà phòng hoặc VST với dung dịch VST

chứa cồn/cồn đều cần thực hiện theo quy trình 6 bước [15]:

+ Bước 1: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau (5 lần)

+ Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu bàn tay kia và ngược lại (5 lần)

+ Bước 3: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các ngón tay vào các kẽ ngón (5 lần)

+ Bước 4: Chà mu các ngón tay này lên lòng bàn tay kia và ngược lại (mu tay

để khum khớp với lòng bàn tay) (5 lần)

+ Bước 5: Chà ngón cái của bàn tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại (lòng bàn tay ôm lấy ngón cái) (5 lần)

Trang 14

+ Bước 6: Chà các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại (5 lần)

1.2 Vai trò của VST và mối liên quan với nhiễm khuẩn bệnhviện

Bàn tay là công cụ đa năng nhất trong lao động và các sinh hoạt hàng ngày của con người và cũng là phương tiện chính để truyền tải phát tán mầm bệnh Bàn tay của một người có thể mang tới 4,6 triệu mầm bệnh Các mầm bệnh trên bàn tay bao gồm: loại bám dính, loại tạm trú và loại thường trú Vi khuẩn cư trú trên bàn tay tập trung một số lượng lớn ở các kẽ tay và kẽ móng tay

NKBV lây truyền qua một số con đường, tuy nhiên việc lây truyền thông qua bàn tay của NVYT là phổ biến nhất [29]

NKBV gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng không chỉ với người bệnh

mà còn đối với các NVYT Sự tuân thủ VST của NVYT (như VST với nước và xà phòng, VST với dung dịch chứa cồn) được coi là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất

có chứa cồn

Biểu đồ 1.1: Hiệu quả của việc vệ sinh tay với các loại hóa chất khác nhau[38]

Nhiều nghiên cứu cũng khẳng định VST bằng dung dịch VST có chứa cồn là biện pháp quan trọng nhất để dự phòng sự lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ

sở y tế [38] Một nghiên cứu của Didier Pittet tại bệnh viện thực hành Geneva ở Thụy Sỹ từ năm 1994 đến1997 trên 20.000 cơ hội rửa tay của tất cả NVYT ở các khoa lâm sàng đã cho thấy: khi tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT tăng từ 48% (1994) lên 66% (1997) thì tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện giảm từ 16,9% (1994) xuống còn 6,9% (1997)[36]

Trang 15

Tại Việt Nam, can thiệp làm tăng sự tuân thủ vệ sinh bàn tay của NVYT cũng mang lại hiệu quả tích cực trong việc làm giảm tỷ lệ NKBV Tại bệnh viện Bình Dân, tỷ lệ NKBV đã giảm từ 17,1% xuống 2,1% sau can thiệp VST, thời gian nằm viện và chi phí sử dụng kháng sinh cũng đã giảm Tại Bệnh viện Bạch Mai tỷ lệ NKBV giảm từ 1,5% (1995) xuống 0,8% (2006) sau khi đồng thời tiến hành tuyên truyền, tập huấn về công tác VSBT khi thăm khám người bệnh.[5]

Đánh giá được tầm quan trọng của VST trong việc phòng ngừa và giảm tỷ lệ NKBV, từ năm 1996 Bộ Y tế đã đã ban hành Quy trình rửa tay thường quy có hình ảnh minh hoạ Năm 2007, Bộ y tế đã ban hành công văn số 7517/BYT-Đtr ngày 12/10/2007 đề nghị các Sở Y tế, các cơ sở y tế tổ chức cho cán bộ, nhân viên học tập và thực hiện theo hướng dẫn mới [13] Năm 2009, Bộ Y tếban hành Thông tư 18/2009/TT-BYT về việc Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác KSNK tại các cơ

sở khám, chữa bệnh Tại Điều 1 của Thông tư quy định “Thầy thuốc, nhân viên y tế,

học sinh, sinh viên thực tập tại các cơ sở khám chữa bệnh phải tuân thủ rửa tay đúng chỉ định và đúng quy trình kỹ thuật theo hướng dẫn của Bộ Y tế Người bệnh

và người nhà người bệnh, khách đến thăm phải rửa tay theo quy định và hướng dẫn của cơ sở khám, chữa bệnh” [14]

1.3 Thực trạng kiến thức, thái độ về vệ sinh tay thường quy

1.3.1 Trên thế giới

Năm 2002, tại Italy, Nonile và cộng sự đã tiến hành đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành VST của NVYT tại các khoa Hồi sức tích cực của 24 bệnh viện vùng Campania và Calabria cho thấy 53,2% NVYT có kiến thức đúng, 96,8% có thái độ tích cực về VST, thái độ tích cực của nhóm NVYT có trình độ học vấn cao và nhóm nữ, lớn tuổi cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các nhóm khác, tỷ lệ TTVST của NVYT tại thời điểm trước khi chăm sóc người bệnh đạt 60% và sau chăm sóc đạt 72,5%[27] Nghiên cứu của Khaled M và cộng sự thực hiện năm 2008 tại bệnh viện Đại học Ain Shams (Cairo, Ai Cập) cho thấy điều dưỡng có kiến thức VST tốt hơn bác

sỹ nhưng các bác sỹ lại là những người tuân thủ tốt hơn (37,5%) tuy nhiên tỷ lệ VST đúng của họ chỉ là 11,6%[31]

Trang 16

1.3.2 Tại Việt Nam

Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2005) cho thấy tỷ lệ NVYT nhận thức về rửa tay chưa tốt ở mọi đối tượng, mọi lứa tuổi Trong nghiên cứu này tỷ lệ NVYT

có nhận thức tốt về rửa tay chỉ đạt 41,2%[4]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Anh (2012)cho thấy 70,1% điều dưỡng có kiến thức tốt về thực hành VST Điều dưỡng khoa Ngoại 63,6% có kiến thức tốt hơn khoa Nội 36,4% [2]

Nghiên cứu của Phùng Văn Thủy (2014) về đánh giá thực trạng tuân thủ VSTTQ và các yếu tố liên quan của NVYT tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy 65,8% NVYT có kiến thức tốt về thực hành VST [17]

Nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền (2015) về về kiến thức, thái độ, thực hành về

vệ sinh tay thường quy và một số yếu tố liên quan của nhân viên y tế tại bệnh viện

Đa khoa Hoè Nhai, Hà Nội cho thấy phần lớn NVYT (70,1%) có kiến thức đạt yêu cầu về vệ sinh tay, 39,1% NVYT trả lời đúng 6 bước của quy trình VSTTQ Tỷ lệ NVYT có thái độ tích cực với VST và tuân thủ VSTTQ đúng quy định là 52,9% [3] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương và cộng sự (2017) cho thấy kiến thức của NVYT về vệ sinh bàn tay tăng lên từ 60,5% lên 86,3% (p < 0,05), số nhân viên sắp xếp lại 6 bước của quy trình rửa tay thường quy theo trình tự tăng từ 30,5% lên 87,1% (p < 0,01) [11]

Nghiên cứu của Nguyễn Quang Toàn và cộng sự (2017) cho thấy có 18,43% NVYT không đạt về kiến thức VST; 45,18% NVYT không nêu chính xác được 5 thời điểm vệ sinh tay; 27,56% NVYT cho rằng mang găng có thể thay thế VST; vẫn còn 2,2% NVYT có thái độ không tích cực với VST [16]

1.4 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy

1.4.1 Trên thế giới

Năm 1910, Rosephine Baker (Hoa kỳ) đã tổ chức khóa tập huấn đầu tiên về VST giảng dạy cho NVYT chăm sóc bệnh nhân nhi Năm 1988, Hiệp hội KSNK Hoa Kỳ (APIC) xuất bản cuốn hướng dẫn về rửa tay và khử khuẩn tay Chỉ định về

Trang 17

Disease Control and Prevention -Trung tâm phòng chống dịch bệnh Hoa Kỳ), biện pháp khử khuẩn bằng dung dịch chứa cồn lần đầu được khuyến khích áp dụng tại tất

cả các cơ sở y tế Năm 2002 CDC yêu cầu các bệnh viện khuyến khích NVYT khử khuẩn tay bằng cồn trong mọi thao tác chăm sóc, điều trị người bệnh[22]

Năm 2004, WHO xây dựng hướng dẫn thực hành VST trong các cơ sở y tế Năm 2009, bản hướng dẫn chính thức được ban hành, cùng với nó WHO kêu gọi

các quốc gia cam kết tham gia chiến dịch VST và lấy ngày 5/5 hàng năm là “ngày rửa tay toàn cầu” [40]với khẩu hiệu “Vì sự sống hãy rửa tay” và mong muốn đến

05/05/2010 sẽ có sự tham gia của 10.000 bệnh viện trên toàn thế giới[30, 40] Bộ y tế Việt Nam đã cam kết cùng WHO tham gia chiến dịch ngày 20/5/2009

Nghiên cứu của Pittet tại Thụy Sỹ thực hiện từ năm 1995 đến 1997 cho thấy 48% điều dưỡng tuân thủ VSTTQ và sau 3 năm thực hiện chương trình can thiệp tỷ

lệ này tăng lên tới 66%; nghiên cứu đưa ra các chỉ số đánh giá: tỷ lệ NKBV và mức

độ tiêu thụ dung dịch VST chứa cồn [36] Một nghiên cứu thực hiện trên các sinh viên điều dưỡng Thổ Nhĩ Kỳ, được hỏi theo bộ câu hỏi, có 80,2% sinh viên trả lời

có VSTTQ sau mỗi lần làm thủ thuật cho người bệnh, 71,9% có thời gian trung bình một lần VSTTQ từ 1 phút trở lên Kết quả từ nghiên cứu cho thấy tất cả các sinh viên đều được học về cách VST nhưng thực sự sinh viên vẫn chưa quan tâm tới VST và chưa thực hành được kiến thức đã học[20]

Tuân thủ VST phòng tránh được NKBV, tuy nhiên tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT còn rất thấp Tại Hoa Kỳ nghiên cứu VST trong 12 tháng tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe bằng cách quan sát trực tiếp NVYT, tính toán về sử dụng sản phẩm VST cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST tại cơ sở là 26% Sau 12 tháng sử dụng sản phẩm

tỷ lệ tuân thủ tăng lên 37% Nghiên cứu cũng chỉ ra việc tuân thủ VST có thể tăng khi thực hiện giám sát kết hợp với phản hồi cho NVYT [33]

Năm 2010 nghiên cứu của B.Allegranzi và cộng sự tại 47 quốc gia cho thấy tỷ

lệ tuân thủ VST của mẫu nghiên cứu là 60,7% [24]

Nghiên cứu của Morgan DJ năm 2012 so sánh kết quả qua quan sát trực tiếp

và sử dụng thiết bị công nghệ trong vòng 30 tuần tại khoa thần kinh và khoa tim

Trang 18

mạch, kết quả sau 30 tuần cho thấy khi sử dụng thiết bị công nghệ tỷ lệ tuân thủ tăng đáng kể (22,7%), nhưng với quan sát trực tiếp thì tỷ lệ này là không thay đổi đáng kể (2,9%) [34]

Năm 2014, nghiên cứu của Marra (Bệnh viện Albert Einstein Israel, Sao Paulo, Brazil)với việc ứng dụng thiết bị công nghệ vào giám sát việc TTVST của NVYT bằng việc sử dụng thiết bị cảm ứng với cồn và lắp đặt máy quay tại các bồn rửa tay, việc này đã giúp đem lại hiệu quả là tỷ lệ tuân thủ VST tăng từ 66% lên 92% [23]

1.4.2 Tại Việt Nam

Quy trình hướng dẫn VST đầu tiên được BYT ban hành năm 1996 Năm 2008 Bệnh viện Bạch Mai triển khai đồng bộ chương trình VST tại 4 khoa hồi sức cấp cứu[8] theo đó, bệnh viện yêu cầu NVYT thực hiện VST theo quy trình 6 bước và khử khuẩn tay bằng chế phẩm chứa cồntrước,saumọithựchànhchămsócngườibệnh Chươngtrìnhnàyđãmang lại kết quả mong đợi NKBV tại khoa Hồi Sức Cấp Cứu giảm 30%[8]

Năm 2007, Bộ y tế đã ban hành công văn số 7517/BYT- Đtr ngày 12/10/2007 hướng dẫn tổ chức thực hiện quy trình rửa tay thường quy và sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn Năm 2009, Bộ Y tế ban hành Thông tư 18/2009/TT-BYT về việc Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác KSNK tại các cơ sở khám, chữa bệnh

Với sự cam kết của BYT thông qua chương trình VST toàn cầu do WHO phát động trong 4 năm, qua chương trình tăng cường VST đã được triển khai ở hầu hết các bệnh viện Tuy nhiên kết quả chủ yếu đạt được ở một khía cạnh đào tạo, trang bị một phần phương tiện VST, tỷ lệ tuân thủ VST tại các bệnh viện vẫn còn thấp Việc giám sát VST (bao gồm kiến thức, phương tiện, tuân thủ quy trình, chỉ định) chưa thành thường quy ở hầu hết các bệnh viện vì còn gặp phải nhiều khó khăn chính như giá thành hóa chất VST còn cao, nhân lực, năng lực giám sát còn yếu, các nhà lãnh đạo bệnh viện vẫn còn thiếu quan tâm (chưa trang bị đủ phương tiện VST, thiếu nhân lực giám sát và chưa tạo được môi trường an toàn trong khám chữa bệnh) [7]

Tuân thủ VST trong các cơ sở y tế ởnướcta hiện nay chưa tốt, khảo sát năm

2005 tại10 bệnh viện tuyến tỉnh và bệnh viện tuyến trung ương phía Bắc cho thấy tỷ

Trang 19

lệ tuân thủ VST ở NVYT giao động từ 0% - 32,1%, trung bình chỉ là 13,4% [4] Một số nguyên nhân dẫn tới tuân thủ VST chưa tốt gồm: (1) Thiếu phương tiện VST: Trung bình chỉ có 9,8 vị trí VST/100 giường bệnh; (2) Hầu hết bệnh viện chưa có quy định VST, chưa tổ chức giám sát tuân thủ VST ở NVYT;(3) Kiến thức

và thái độ của NVYT về thực hành VST chưa tốt [4] Nghiên cứu cũng cho thấy thực hành VST của NVYT tốt hơn khi buồng bệnh được trang bị bình cồn, khi các bệnh viện có số vị trí VST/100 giường bệnh cao (hiện nay chưa có quy định về tỷ lệ

số vị trí VST/ giường bệnh nhưng thực tế cho thấytỷ lệ này càng cao thì càng thuận lợi hơn cho NVYT tuân thủ VST) [18]

Những năm gần đây, Bộ Y tế đã phát động phong trào VST ở bệnh viện và cộng đồng Theo nhiều báo cáo của chuyên gia KSNK trong và ngoài nước, các bệnh truyền nhiễm đã, đang diễn ra trong cộng đồng hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng cách giữ VST trong đó có VST bằng xà phòng là biện pháp cơ bản nhất Theo đó, chỉ một động tác rửa tay sạch đã làm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn tiêu chảy 47%, nhiễm khuẩn đường hô hấp khoảng 19-45%[35]

Khoảng 10 năm trở lại đây việc vệ sinh bàn tay của NVYT được chú trọng hơn tại Việt Nam, do đó đã có nhiều nghiên cứu liên quan tới vấn đềnày

Theo một điều tra về tình hình thực hiện các biện pháp dự phòng cơ bản tại Bệnh Viện Bạch Mai và một số Bệnh viện khu vực phía Bắc được công bố ngày 17/3/2007 Tại Bệnh Viện Bạch Mai: Chỉ 26% NVYT thực hiện VSTTQ trước khi thăm khám người bệnh và 4,2% VSTTQ trước khi chuyển từ thao tác bẩn sang thao tác sạch trên cùng một người bệnh[6]

Nghiên cứu của Hoàng Thị Xuân Hương trước và sau can thiệp về vệ sinh bệnh viện tại Bệnh viện Đống Đa, Hà Nội năm 2010 được thực hiện trên đối tượng bác sỹ và điều dưỡng cho thấy kiến thức sau can thiệp đạt yêu cầu của NVYT về rửa tay tăng lên 12,7% (từ 59,5% lên 82,5%, p < 0,001) Nghiên cứu can thiệp bao gồm: tập huấn cho NVYT về rửa tay thường quy, phát tờ rơi và bổ sung thiết bị, phương tiện vệ sinh đã làm tăng tỷ lệ tuân thủ rửa tay từ 53,1% lên tới 60,4% (p < 0,05) Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy điều dưỡng là người có kiến thức tốt hơn

và có tỷ lệ tuân thủ rửa tay cao hơn các bác sỹ [10]

Trang 20

Đặng Thị Vân Trang (năm 2010) đã khảo sát tỷ lệ TTVST theo 5 thời điểm tại bệnh viện Chợ Rẫy Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT trung bình là 25,7%, tỷ lệ tuân thủ VST của điều dưỡng (67,5%) cao hơn so với bác sỹ (24,6%)

Tỷ lệ tuân thủ VST lần lượt là 17,0% trước khi tiếp xúc người bệnh, 31,8% trước thao tác vô khuẩn, 56,75 sau tiếp xúc dịch, 29,2% sau tiếp xúc người bệnh và 12,3% sau khi chạm vào môi trường xung quanh người bệnh[19]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Anh (2012) về kiến thức và tỷ lệ tuân thủ VSTTQ của điều dưỡng Bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội cho thấy tỷ lệ tuân thủ các cơ hội VST là 58%, tỷ lệ tuân thủ buổi sáng cao hơn buổi chiều (60,7% so với 50,3%) [2] Nghiên cứu của Phùng Văn Thủy (2014) về đánh giá thực trạng tuân thủ VSTTQ và các yếu tố liên quan của NVYT tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy tỷ lệ tuân thủ các cơ hội VST là 41,7% tuân thủ tốt nhất cơ hội “trước khi làm thủ thuật vô khuẩn” và “sau khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể” Tỷ lệ nhân viên

y tế có thực hành VSTTQ đạt là 14,8% [17]

Nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền (2015) về về kiến thức, thái độ, thực hành về

vệ sinh tay thường quy và một số yếu tố liên quan của nhân viên y tế tại bệnh viện

Đa khoa Hoè Nhai, Hà Nội cho thấy tỷ lệ NVYT tuân thủ VSTTQ cao nhất ở cơ hội sau khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể (100%) và thấp nhất là sau khi động chạm vào các đồ vật, bề mặt xung quanh người bệnh (66,2%) [3]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương và cộng sự (2017) về đánh giá thực trạng

và hiệu quả của các biện pháp can thiệp nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng thực hành vệ sinh tay của nhân viên y tế Viện Bỏng Quốc Gia cho thấytỷ lệ thực hiện vệ sinh tay tăng lên từ 28,9% lên 46,5%; trong đó tỷ lệ chấp hành quy trình tăng lên từ 14,4% lên 35,8% (p < 0,05) [11]

Nghiên cứu của Đặng Thị Thu Hương và cộng sự (2017) về mức độ cải thiện tuân thủ vệ sinh tay tại Bệnh viện Nhi Trung ương qua giám sát giai đoạn từ 2012 đến 2015 cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST qua quan sát trực tiếp là 81,2% cao gấp 1,4 lần so với tỷ lệ tuân thủ VST qua quan sát camera (p < 0,01); tỷ lệ tuân thủ VST tăng từ 68,4% (2012) lên 81,4% (2015) tăng 1,2 lần [9]

Trang 21

Nghiên cứu của Nguyễn Quang Toàn và cộng sự (2017) về đánh giá kiến thức, thái độ và khảo sát sự tuân thủ VST của nhân viên y tế Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2017 cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST là 58,71% [16]

1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủvệ sinh tay ở nhân viên y tế

1.5.1 Kiến thức, thái độ về VST của NVYT

Kiến thức của NVYT về VST không tốt sẽ ảnh hưởng đến tuân thủ VST trong khám chữa bệnh tại nhiều cơ sở y tế, một tỷ lệ lớn NVYT chưa có kiến thức đầy đủ

về vấn đề này

Kết quả đánh giá kiến thức của NVYT về VST tại 10 bệnh viện khu vực phía Bắc (Nguyễn Việt Hùng và cộng sự, 2005) cho thấy tỷ lệ trả lời đúng hoàn toàn các câu hỏi VST chỉ đạt 43,5%, không có sự khác biệt về kiến thức VST của NVYT khi tính theo tuổi, giới, trình độ chuyên môn, khu vực điều trị Nhiều nghiên cứu trong

và ngoài nước đã cho thấy thực hành VST liên quan chặt chẽ với thái độ và liên quan tương đối chặt chẽ với kiến thức VST của NVYT[4]

Nghiên cứu của Phùng Văn Thủy (2014) cho thấy kiến thức và thực hành có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.Tỷ lệ thực hành VST đạt trong nhóm NVYT có kiến thức đạt là 22%, trong khi tỷ lệ này ở nhóm có kiến thức chưa đạt là 0% Có hơn 70% NVYT có kiến thức đạt nhưng thực hành chưa đạt về VST [17] Nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền (2005) cho thấy những NVYT có thái độ không tích cực không tuân thủ VST cao gấp 2,7 lần so với nhóm NVYT có thái độ tích cực (p < 0,05) [3]

1.5.2 Phương tiện VST

Trang bị phương tiện rửa tay (bồn nước xà phòng khăn lau tay sử dụng một lần) tại buồng bệnh giúp cải thiện tuân thủ vệ sinh tay ở NVYT Trang bị bình cồn tại buồng bệnh sẽ tiết được 2/3 thời gian VST, giúp NVYT tuân thủ VST tốt hơn [5] Nghiên cứu của Voss và Widmer cho thấy thời gian trung bình để một điều dưỡng đi tới bồn rửa tay, hoàn thành một quy trình rửa tay là 62 giây Tuy nhiên, thời gian này sẽ giảm bằng 1/4 nếu thực hiện quy trình khử trùng, khử khuẩn tay bằng cồn ngay tại giường bệnh [26] Khử khuẩn tay bằng cồn vừa tiện lợi, vừa tiết kiệm thời gian sẽ giúp NVYT VST thường xuyên hơn

Trang 22

Tại Việt Nam, buồng bệnh có bồn rửa tay chỉ đạt 37,6%, hầu hết các bồn rửa tay không có khăn lau tay sử dụng 1 lần, ảnh hưởng đến thực hành VST của NVYT,

số lần VST trung bình/NVYT/ngày khi sử dụng cồn (7,9 lần), khi rửa tay bằng xà phòng (5,0 lần) [5]

Theo Nguyễn Việt Hùng và cộng sự, khi khảo sát tại 10 bệnh viện khu vực phía Bắc năm 2005, kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT dao động từ 0% đến 32,1% Tỷ lệ tuân thủ VST chỉ ở mức thấp do thiếu phương tiện VST, trung bình chỉ có 9,8 vị trí VST/100 giường bệnh [4]

Các nghiên cứu của Phùng Văn Thủy và Nguyễn Thị Hồng Anh và Hoàng Thị Hiền cũng chỉ ra phương tiện rửa tay (bồn rửa, hóa chất rửa tay, khăn lau tay và nước sạch) thiếu hoặc không đảm bảo chất lượng gây ảnh hưởng đến tuân thủ VST của điều dưỡng [2, 3, 17]

1.5.3 Cường độ làm việc của NVYT

Cường độ làm việc của NVYT càng cao số cơ hội cần VST càng nhiều, ngược lại thời gian cho VST lại ít đi, do vậy việc tuân thủ quy định sẽ khó khăn hơn [37] Một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST giảm 5% khi tăng thêm 10 cơ hội VST trong 1 giờ[39]

Tỷ lệ tuân thủ VST thấp nhất (36%) ở đơn vị Hồi sức cấp cứu, nơi cần VST (trung bình 20 cơ hội/1 giờ), ngược laị tỷ lệ tuân thủ VST cao nhất (59%) ở khoa Nhi, nơi có mật độ chăm sóc thấp hơn khu vực khác trong bệnh viện (trung bình 8

cơ hội VST/giờ) [5]

Sự mất cân đối giữa nhân lực và khối lượng công việc thường dẫn đến NVYT kém tuân thủ quy định KSNK trong đó có quy định VST [5]

Nghiên cứu của Phùng Văn Thủy (2014)khi phỏng vấn NVYT cho thấy số lượng bệnh nhân đông nên thiếu thời gian để VST, do quá tải công việc và nhiều

việc phải làm nên cũng ảnh hưởng đến việc tuân thủ VST:“…Ở khoa tôi thì do

công việc quá nhiều nên ít có thời gian để rửa tay, ngoài việc chăm sóc bệnh nhân chúng tôi còn phải đi gửi xét nghiệm, đưa bệnh nhân đi chụp chiếu, siêu

Trang 23

âm Ngoài ra còn phải hoàn tất thủ tục hồ sơ bệnh án nữa nên việc tuân thủ rửa tay rất khó khăn…”[17]

Qua nghiên cứu định tính của Hoàng Thị Hiền (2015) cũng thấy lượng bệnh nhân đông, khối lượng và áp lực công việc lớn, một số NVYT còn kiêm nhiệm nhiều công việc nên việc thực hiện các quy định của bệnh viện trong đó có tuân thủ VSTTQ của NVYT là rất hạn chế, thiếu thời gian để thực hiện Một ý kiến trong

nghiên cứu chia sẻ như sau: “Nhân viên ít, bệnh nhân nhiều, có 15 phút nếu rửa tay

đúng đủ 5 thời điểm phải rửa đến 4 lần trong 15 phút đạt tiêu chuẩn 5 thời điểm rửa tay Một bệnh nhân mà bọn em rửa đúng 5 thời điểm của rửa tay thì bọn em phải rửa 4 lần, 1 nhân viên không phải phục vụ 1 bệnh nhân mà phải phục vụ 16 bệnh nhân, nhân với số lần như thế, hạn chế về bồn rửa, thời gian đi rửa, hạn chế không có chỗ để khăn lau tay”, hoặc một ý kiến khác cho rằng“Mật độ bệnh nhân

ra vào trong phòng khám rất là nhanh Cứ một bệnh nhân lại rửa tay luôn thì chắc bọn em cũng phải thay người, tức là không làm kịp”[3]

1.5.4 Mức độ kích ứng da của hóa chất VST

Xà phòng iodine, iodophors, cồn ethanol hoặc chlohexidine có thể gây kích ứng, khô da tay khi được sử dụng thường xuyên; lo ngại hóa chất VST làm kho da tay, nhiều NVYT hạn chế VST [5]

Để khắc phục tình trạng này, BV cần thông báo đầy đủ cho NVYT biết tác dụng phụ của mỗi hóa chất đang được sử dụng.Thiếu kiến thức về vấn đề này là một trở ngại trong việc thúc đẩy thực hành VST

Trong một số nghiên cứu, chà tay bằng cồn chứa chất dưỡng da (cồn isopropanol, ethanol hoặc n-propanol 60-90%) ít gây kích ứng da hơn xà phòng hoặc chất tẩy rửa Việc sử dụng các chế phẩm này được hầu hết NVYT chấp nhận, qua đó đã cải thiện đáng kể thực hành VST [5]

Các nghiên cứu của Phùng Văn Thủy và Nguyễn Thị Hồng Anh và Hoàng Thị Hiền cũng chỉ ra nhiều NVYT không muốn vệ sinh tay do sử dụng dung dịch sát khuẩn tay nhanh bằng cồn 70 độ gây khô da [2, 3, 17]

Trang 24

1.5.5 Hóa chất vệ sinh tay

Hiện nay có rất nhiều loại hóa chất vệ sinh tay có hiệu lực diệt khuẩn tốt đang được sử dụng rộng rãi trong các cơ sở y tế

Tác dụng không mong muốn của các hóa chất VST cũng là một nguyên nhân làm giảm tuân thủ VST ở NVYT Trên thực tế rất ít NVYT bị viêm da dị ứng do hóa chất VST trừ khi sử dụng loại hóa chất VST chất lượng không tốt (xà phòng bột, dung dịch xà phòng hoặc cồn không được bổ sung chất làm ẩm và dưỡng da) Các chế phẩm VST chứa iodine hoặc chlorhexidine có nguy cơ kích ứng da cao hơn dung dịch VST chứa cồn [15]

Trong một nghiên cứu thực nghiệm, tỷ lệ trực khuẩn Gram âm (định cư trên da bệnh nhân) lan truyền tới catheter thông qua tay NVYT chỉ còn 17% khi NVYT khử khuẩn tay bằng cồn Ngược lại, nếu rửa tay bằng xà phòng thường và nước tỷ lệ này là 92% Thử nghiệm trên cho thấy khi bàn tay NVYT bị ô nhiễm, khử khuẩn bàn tay bằng cồn có tác dụng phòng ngừa sự lan truyền tác nhân gây bệnh hiệu quả hơn là rửa tay với xà phòng và nước [32]

1.5.6 Mang găng tay

Nhân viên y tế mang găng tay khi chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân là một hình ảnh phổ biến trong các cơ sở điều trị, hiện nay NVYT thường lạm dụng găng tay và có thói quen sử dụng một đôi găng để chăm sóc nhiều bệnh nhân hoặc để thực hiện nhiều hoạt động trên cùng một bệnh nhân, đây chính là yếu tốt làm giảm

tỷ lệ tuân thủ VST, do đó tăng nguy cơ lan truyền NKBV

Mặc dù hiện nay chất lượng găng tay đã được cải thiện đáng kể, NVYT vẫn cần VST sau mỗi lần tháo găng, vi khuẩn định cư ở bệnh nhân có thể thấy ở 30% tay NVYT có mang găng khi chăm sóc người bệnh Tác nhân gây bệnh xâm nhập vào tay qua lỗ nhỏ ở găng hoặc bàn tay bị ô nhiễm khi tháo găng Không nên khử khuẩn găng bằng cồn để tiếp tục sử dụng cho bệnh nhân khác [39]

1.5.7 Kiểm tra, giám sát

Nghiên cứu của Didier Pittet ở Thụy Sỹ đã sử dụng phương pháp giám sát sự tuân thủ VST của NVYT và phản hồi tới họ kết quả giám sát đó, thời điểm giám sát

Trang 25

là tất cả các ngày trong tuần, 20 phút đầu tiên của một ca làm việc Kết quả nghiên cứu đã cho thấy: khi tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT tăng từ 48% (1994) lên 66% (1997) thì tỷ lệ NKBV giảm từ 16,9% (1994) xuống còn 6,9% (1997); phương pháp giám sát này được đánh giá là có hiệu quả [36]

Nghiên cứu của Hoàng Xuân Hương năm 2010 [10] và của Nguyễn Thị Hồng Anh năm 2012 [2] cũng chỉ rõ những yếu tố tăng cường, thúc đẩy tuân thủ vệ sinh tay bao gồm: Các quy định chuyên môn của bệnh viện quy định nhân viên y tế phải tuân thủ VST; Kiểm tra, giám sát thường xuyên của bệnh viện khiến điều dưỡng VST nhiều hơn; và tập huấn về VST thường được tổ chức định kỳ hàng năm giúp điều dưỡng cập nhật kiến thức về VST và tầm quan trọng của VST trong phòng chống NKBV từ đó có thái độ và thực hành tuân thủ VST tốt hơn khi chăm sóc ngườibệnh

Nghiên cứu của Armellino và cộng sự năm 2012 tại Bệnh viện Đại học North Shore, Hoa Kỳ kết hợp sử dụng thiết bị công nghệ cao kết hợp với phản hồi thông tin tới NVYT Trong 16 tuần đầu, kết quả giám sát VST qua máy quay từ xa mà không có phản hồi, và 91 tuần có phản hồi dữ liệu, kết quả phản hồi được hiển thị trên bảng điện tử gắn trên hành lang Kết quả tỷ lệ VST thu được là sau 16 tuần là 81,6% (trước đó là dưới 10%), mức tăng duy trì qua 91 tuần ở mức 87,9% cho thấy việc sử dụng công nghệ giám sát kết hợp với phản hồi lại cho NVYT đã tạo ra sự cải thiện VST đáng kể và bền vững [25]

1.5.8 Quy định, thi đua, khen thưởng

Thực tế tại nhiều bệnh viện cho thấy công tác VST còn yếu ở hầu hết các cơ

sở y tế do không có các quy định cụ thể, cần thiết để mọi người thực hiện, đa phần chỉ là phổ biến hướng dẫn VST của Bộ y tế hoặc tổ chức phát động phong trào VST Quy định VST thể hiện ý chí của lãnh đạo về việc áp dụng hướng dẫn VST vào hoàn cảnh cụ thể tại đơn vị Việc ban hành quy định VST sẽ giúp nhân viên KSNK và các khoa, phòng triển khai công tác VST thuận tiện hơn[5]

Chế độ thưởng, phạt liên quan đến VST: chỉ nên áp dụng cho tập thể khoa, phòng vì mục đích chính là nhằm khuyến khích NVYT tuân thủ quy định VST [5]

Trang 26

1.5.9 Đào tạo, tập huấn

NVYT không có kiến thức và thái độ đúng thì sẽ không tuân thủ đúng quy định VST Ngoài việc học tập nội dung quy định VST, NVYT cần hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng của VST trong phòng ngừa và kiểm soát NKBV Những chương trình đào tạo, tập huân, phổ biến thông tin bằng nhiều hình thức khác nhau như phát

tờ rơi, hội thảo cần được tiến hành thường xuyên trong bệnh viện và mọi NVYT đều phải tham gia Việc đào tạo phải thực hiện hàng năm và mỗi khi tiếp nhận nhân viên mới đến làm việc, học tập tại bệnh viện [5]

1.6 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu

Bệnh viện Tim Hà Nội là bệnh viện chuyên khoa hạng I trực thuộc Sở y tế

Hà Nội.Bệnh viện được thành lập từ năm 2001 trên cơ sở tổ chức lại Bệnh viện Hoàn Kiếm, chính thức đi vào hoạt động vào năm 2004 Hiện nay, Bệnh viện Tim

Hà Nội là bệnh viện chuyên khoa đầu ngành tim mạch của Sở y tế Hà Nội, bệnh viện hạt nhân về tim mạch của Bộ y tế với 5 hoạt động mũi nhọn: tim mạch nội khoa, tim mạch nhi khoa, tim mạch chuyển hóa, tim mạch can thiệp và phẫu thuật tim mạch

Bệnh viện có 9 phòng chức năng, 16 khoa lâm sàng và cận lâm sàng và 1 trung tâm đào tạo và chỉ đạo tuyến với chỉ tiêu giường bệnh được giao là 200 giường với tổng số 662 cán bộ nhân viên, trong đó số điều dưỡng của bệnh viện là 329 điều dưỡng Năm 2017, bệnh viện tiếp đón 270.775 lượt bệnh nhân tới khám bệnh, số bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện 11.400 người[1]

Tại bệnh viện hệ thống camera đầu tiên được lắp đặt vào năm 2005, đến nay

hệ thống camera đã bao phủ 100% các khoa, phòng trong bệnh viện Hệ thống camera này giúp theo dõi, giám sát an ninh trật tự cũng như các hoạt động chuyên môn, hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện

Trong các khoa lâm sàng của bệnh viện thì khối Hồi sức (Hồi sức tích cực, hồi sức tích cực nhi, các bệnh mạch máu) và 2 khoa Nội, Ngoại (115 điều dưỡng) là nơi có số lượng bệnh nhân điều trị nội trú cao nhất trong bệnh viện Tần suất hoạt động chuyên môn của NVYT (nhất là điều dưỡng) tại đây diễn ra với cường độ cao

Trang 27

hơn so với các khoa lâm sàng khác Đây là đặc điểm quan trọng để lựa chọn các khoa trên trong nghiên cứu

1.7 Khung lý thuyết

Khung lý thuyết được xây dựng dựa vào Quyết định số 3916/QĐ-BYT của Bộ

Y tế ngày 28/08/2017 về việc phê duyệt các Hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [15] và dựa trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu trong nước và quốc tế về vấn đề tuân thủ VST của NVYT nói chung và VST của điều dưỡng nói riêng

Yếu tố tạo điều kiện:

2 Kiểm tra, giám sát

3 Thi đua: thưởng/phạt

4 Đào tạo, tập huấn

Yếu tố cản trở:

1 Quá tải trong công việc

2 Phương tiện thiếu/không

phù hợp

3 Giám sát chưa tốt

4 Thiếu cán bộ KSNK

5 NVYT chưa được cập

nhật thông tin thường xuyên

3 Tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ VST

Trang 28

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC)

2.1.1 Nghiên cứu định lượng

- Đối tượng nghiên cứu:

Nội, Ngoại, Các bệnh mạch máu, Hồi sức tích cực, Hồi sức tích cực Nhi) của Bệnh viện Tim Hà Nội

Mỗi ĐD được quan sát và đánh giá thực hiện 2 cơ hội VST bất kỳ bằng nước và xà phòng hoặc bằng dung dịch VST chứa cồn/cồn qua 2 phương pháp quan sát:

+ Quan sát trực tiếp: quan sát cơ hội VST của ĐD và quan sát việc thực hành 6 bước của quy trình VST

+ Quan sát bằng camera: quan sát cơ hội VST của ĐD

- Tiêu chuẩn loại trừ:

những điều dưỡng từ chối tham gia nghiên cứu (Điều dưỡng hành chính, Điều dưỡng nghỉ thai sản, Điều dưỡng đi học dài ngày)

2.1.2 Nghiên cứu định tính

+ Phó giám đốc phụ trách công tác KSNK

+ Trưởng khoa KSNK

+ Điều dưỡng trưởng 05 khoa lâm sàng tham gia nghiên cứu

+ Điều dưỡng viên 05 khoa lâm sàng tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 11/2017 đến tháng 07/2018

Địa điểm: 05 khoa lâm sàng của BV Tim Hà Nội bao gồm: khoa Nội, khoa

Ngoại, khoa các bệnh mạch máu, khoa Hồi sức tích cực, khoa Hồi sức tích cực Nhi Đây là các khoa có số lượng bệnh nhân điều trị nội trú cao nhất trong bệnh viện nên tần suất hoạt động chuyên môn của điều dưỡng tại đây diễn ra với cường độ cao

hơn so với các khoa lâm sàng khác nên có nhiều cơ hội VST để quan sát

Trang 29

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính

2.4 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu

2.4.1 Nghiên cứu định lượng

Điều dưỡng: Áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ cho điều tra kiến thức,

thái độ về VSTTQ: toàn bộ điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh tại 5 khoa lâm sàng được mời tham gia vào nghiên cứu, tổng số 97 điều dưỡng đạt tiêu chuẩn nghiên cứu

Cơ hội VSTTQ: Nghiên cứu áp dụng công thức mẫu cho xác định một tỷ lệ

Cỡ mẫu:

n = Z(1-2 a/2) p(1- p)

d2

Trong đó:

+ n: cỡ mẫu tối thiểu

+ Z(1-α/2): hệ số tin cậy (với độ tin cậy 95%, Z1-α/2 = 1,96)

+ p = 0,583 Đây là tỷ lệ cơ hội tuân thủ VSTTQ của điều dưỡng trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Anh thực hiện tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn, Hà Nội năm 2012 (58,3%)[10]

+ d: là sai số chấp nhận trong nghiên cứu (lấy d = 0,07)

Áp dụng vào công thức trên, số cơ hội cần quan sát là 190 Trên thực tế tham khảo một số đề tài về VST những năm gần đây, chúng tôi thấy các nghiên cứu thường quan sát 2 cơ hội VST/ĐTNC như trong nghiên cứu năm 2016 của Lê Thị Thanh Mai [12] Để thuận tiện cho số cơ hội VST trên số điều dưỡng được chọn, chúng tôi làm tròn thành 194 cơ hội trên 97 điều dưỡng

Nghiên cứu tiến hành quan sát cơ hội VST của điều dưỡng bằng 2 phương pháp quan sát, như vậy nghiên cứu có 194 cơ hội VST được quan sát trực tiếp và

194 cơ hội VST được quan sát bằng camera (tương ứng mỗi điều dưỡng được quan sát 2 cơ hội VST trực tiếp và 2 cơ hội VST bằng camera)

Trang 30

Bảng 2.1: Số cơ hội cần quan sát tại các khoa

Số ĐDV của mỗi khoa

Số ĐDV đạt tiêu chuẩn nghiên cứu

Số cơ hội VST quan sát trực tiếp

Số cơ hội VST quan sát bằng camera

Thảo luận nhóm (TLN) có trọng tâm được thực hiện trên 02 nhóm:

Nhóm 1- Nhóm Điều dưỡng trưởng: Nhóm Điều dưỡng trưởng của 05 khoa lâm sàng được mời tham gia thảo luậnnhóm: 05 điều dưỡng trưởng

Nhóm 2- Nhóm điều dưỡng viên: Chọn có chủ đích một điều dưỡng viên từ mỗi khoa lâm sàng để tham gia vào thảo luận nhóm Người được chọn là người đã tham gia nghiên cứu định lượng, đồng ý tham gia thảo luận nhóm: 05 điều dưỡng từ

05 khoa lâm sàng

2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

➢ Công cụ thu thập số liệu định lượng

Dựa trên tiêu chuẩn và bộ công cụ của Tổ chức y tế thế giới (WHO) và Bộ y tế [15, 40]; dựa trên mục tiêu và biến số nghiên cứu xây dựng 2 phiếu điều tra (kiến thức, thái độ và thực hành VST):

Trang 31

- Phiếu điều tra kiến thức (phụ lục 2): Bộ câu hỏi phát vấn kiến thức, thái độ

về VST bao gồm 5 câu hỏi về thông tin cá nhân; 9 câu hỏi về phần đào tạo, tập huấn; 7 câu hỏi về phần tổ chức, quản lý; 20 câu hỏi về kiến thức VST và 8 câu hỏi đánh giá thái độ của ĐD về VST

- Bảng kiểm quan sát thực hành VST (phụ lục 1) bao gồm 2 tiêu chí đánh giá:

(1) Cơ hội tuân thủ VST và (2) Thực hiện 6 bước của quy trình VST

+ Quan sát trực tiếp: đánh giá cả 2 tiêu chí trên

+ Quan sát bằng camera: chỉ đánh giá cơ hội tuân thủ VST mà không đánh giá việc thực hiện 6 bước của quy trình VST

➢ Công cụ thu thập số liệu định tính

- Hướng dẫn thảo luận nhóm (TLN)(phụ lục 6): Nội dung gợi ý thảo luận gồm

các câu hỏi mở được xây dựng dựa trên chức năng, nhiệm vụ của ĐTNC, thu thập ý kiến của ĐTNC về thực trạng vấn đề VST của ĐDV, vai trò và tầm quan trọng, tìm hiểu những thói quen, lý do, những nguyên nhân thường gặp khiến NVYT không VST, những thuận lợi, khó khăn và mong muốn của ĐTNC khi thực hành VST và

đề xuất giải pháp để giải quyết thống nhất với số đông ý kiến của các thành viên trong nhóm thảo luận

- Hướng dẫn phỏng vấn sâu(phụ lục 7):Gồm các câu hỏi mở được xây dựng

dựa trên chức năng, nhiệm vụ của ĐTNC Mục đích thu thập ý kiến của đối tượng PVS về thực trạng VST tại bệnh viện để tìm hiểu phân tích sâu hơn xem yếu tố nào

là yếu tố tăng cường, yếu tố nào là yếu tố cản trở công tác VST của ĐD bệnh viện

và những giải pháp để nâng cao tuân thủ VST của ĐD

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu

➢ Thu thập số liệu định lượng

Nghiên cứu viên trực tiếp đến 05 khoa lâm sàng để xin phép, thông báo mục đích, kế hoạch, thời gian nghiên cứu đến các khoa lâm sàng

Tập huấn điều tra viên và thử nghiệm bộ công cụ

- Lựa chọn điều tra viên (ĐTV):

+ Nghiên cứu viên (học viên) là người thu thập số liệu chính với trên 50% phiếu quan sát thực hành và là người trực tiếp tổ chức phát vấn kiến thức, thái độ về VST của ĐDV

Trang 32

+ 02 Điều tra viên (ĐTV) là thành viên trong mạng lưới KSNK của BV, là những người đang thực hiện công tác giám sát KSNK hàng ngày, có kiến thức, kỹ năng trong việc giám sát, kiểm tra, đánh giá và là người của bệnh viện nên biết rõ

họ sẽ quan sát ai

Nghiên cứu viên tổ chức họp nhóm ĐTV để thông báo mục đích, kế hoạch, thời gian nghiên cứu và tập huấn cho ĐTV ĐTV được tập huấn trong 01 ngày cả lý thuyết

và thực hành về phương pháp thu thập số liệu Nội dung tập huấn bao gồm:

Hướng dẫn ĐTV để hiểu rõ cách thức quan sát cơ hội VST, quy trình VST 6 bước của ĐDV theo bảng kiểm, cách điền thông tin vào bảng kiểm

Nghiên cứu viên cùng ĐTV thảo luận để thống nhất nội dung bộ câu hỏi, kỹ thuật và cách tiến hành thu thập số liệu đểbảo đảm chất lượng của số liệu thu thập được và tránh những sai số do quá trình thu thập số liệu

- Danh sách nghiên cứu: danh sáchĐDV trực tiếp chăm sóc tại các khoa lâm sàng do nghiên cứu viên chính lập: bao gồm họ tên,khoa làm việc,mã số nghiên cứu (mã số này giống nhau trong quan sát trực tiếp, quan sát bằng camera và phiếu khảo sát kiến thức và thái độ tuân thủ VST của ĐDV) Sau đó gửi danh sách đến các ĐTV và phân công lịch quan sát

- Quan sát và phát vấn thử 10 ĐDV Sau đó tổ chức họp với các ĐTV, mời cán

bộ Khoa KSNK để xin ý kiến góp ý cho bộ công cụ nghiên cứu; thảo luận và giải quyết những khó khăn trong quá trình thu thập số liệu nghiên cứu Sau đó tiến hành điều chỉnh bộ công cụ trước khi tiến hành thu thập số liệu chính thức

Các nội dung điều chỉnh sau phát vấn thử bao gồm:

Bổ sung thêm nội dung phát vấn: Tiếp cận thông tin vệ sinh tay (từ câu B1 đến B9); Tổ chức quản lý (từ câu C1 đến C7)

Hướng dẫn điền bảng kiểm quan sát thực hành VST (Phụ lục 1) gồm 3

phần:(1) Phần thông tin hành chính; (2) Quan sát thực hành cơ hội VST và (3) Quan sát thực hành 6 bước của quy trình VST

(1) Phần thông tin hành chính

+ Mã số nghiên cứu: là mã số của ĐDV trong danh sách nghiên cứu

+ Khoa: là khoa mà ĐDV đó công tác

Trang 33

+ Phương pháp quan sát: Tích vào ô "Trực tiếp" nếu là quan sát trực tiếp,

"Camera" nếu là quan sát qua camera

+ Thời điểm quan sát: Tích vào ô "Sáng" nếu thời gian quan sát là buổi sáng, "Chiều" nếu thời gian quan sát là buổi chiều

(2) Quan sát thực hành cơ hội VST:

Các ĐTV dùng bảng kiểm để quan sát xem ĐDV có thực hiệnVST hay không

và điền vào bảng kiểm Cách điền bảng kiểm được ví dụ như sau:

Trước khi ĐDV thực hiện tiêm cho bệnh nhân thì ĐDVcó thực hiện VST bằng dung dịch VST chứa cồn thìtrường hợp này được đánh dấu (X) vào dòng thứ 2 (Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn) và cột thứ nhất (VST bằng dung dịch chứa cồn/cồn) như bảng bên dưới:

Phương phápVST

VST bằng dụng dịch chứa cồn/cồn

VST bằng nước và

xà phòng

Không VST Thời điểm VST

4 Sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết cơ thể

(3) Quan sát thực hành 6 bước của quy trình VST

+ Nội dung này chỉ được quan sát khi ĐDV có thực hiện cơ hội VST ở (2) Nếu ĐDV không thực hiện VST thì bỏ qua bước này

+ Khi ĐDV đó có thực hiện VST ở (2), tiếp tục quan sát ĐDV đó thực hiện 6 bước của quy trình VST và đánh dấu vào bảng kiểm: có nếu thực hiện đúng, không nếu không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng không đủ 5 lần

Ví dụ:Tiếp theo ví dụ trên, ĐDV có VST trước khi tiêm cho bệnh nhânbằng dung dịch VST chứa cồn và có thực hiện quy trình VST 6 bước, trong đó có 5 bước thực hiện đúng và bước số 5không thực hiện đủ 5 lần thì đánh dấu (X) vào bảngkiểm như sau:

Trang 34

STT Các bước tiến hành Có Không

2 Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu bàn tay kia và

4 Bước 4: Chà mu các ngón tay này lên lòng bàn tay kia và

ngược lại (mu tay để khum khớp với lòng bàn tay) (5 lần)

X

5 Bước 5: Chà ngón cái của bàn tay này vào lòng bàn tay

kia và ngược lại (lòng bàn tay ôm lấy ngón cái) (5 lần)

X

6 Bước 6: Chà các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia

và ngược lại (5 lần)

X

Quan sát tuân thủ VST của điều dưỡng

Quan sát tuân thủ VSTđược tiến hành bằng 2 phương pháp: quan sát trực tiếp

và quan sát qua camera

Thời gian quan sát: sáng từ 8h đến 12h; chiều từ 13h đến 16h

Mỗi ĐDV được quan sát liên tiếp 2 cơ hội cần VST/ĐDV/phương pháp quan sát trong cùng một ca làm việc, buổi sáng hoặc buổi chiều/ngày (Do ĐDV làm việc theo ca)

Thời gian thu thập đủ số liệu định lượng trong khoảng 2 tháng

Quan sát trực tiếp: được tiến hành quan sát vào ngày chẵn thứ 2, thứ 4, thứ 6

Quan sát trực tiếp được thực hiện bằng phương pháp quan sát không tham gia

và điền vào bảng kiểm(phụ lục 1) như hướng dẫn phía trên

Phương pháp quan sát này đánh giá: (1) Cơ hội tuân thủ VST và (2) Thực hiện

6 bước của quy trình VST

Tại các khoa lâm sàng, ĐTV chọn vị trí quan sát thích hợp, để có thể quan sát được ĐD thực hiện VST mà không gây ảnh hưởng đến hoạt động chuyên môn và không gây sự chú ý đối với ĐD Vì nhóm ĐTV là thành viên của mạng lưới KSNK, công việc hàng ngày là đi giám sát hoạt động KSNK chung nên sẽ lồng ghép việc giám sát việc tuân thủ VST vào cùng với các hoạt động giám sát KSNK khác

Quan sát bằng camera: được tiến hành quan sát vào ngày lẻ thứ 3, thứ 5

Sau khi có danh sách ĐDV đã được quan sát trực tiếp với mã số nghiên cứu, ĐTV tiếp tục tiến hành quan sát ĐDV VST bằng camera

Trang 35

Phương pháp quan sát bằng camera chỉ đánh giá cơ hội tuân thủ VST mà không đánh giá được việc thực hiện 6 bước của quy trình VST vì do hạn chế tầm nhìn trong quan sát bằng camera nên không thể quan sát chi tiết từng bước và số lần thực hiện 6 bước của quy trình

Địa điểm quan sát tại phòng Công nghệ thông tin, Bệnh viện Tim Hà Nội Đối với mỗi khoa lâm sàng, ĐTV quan sát lần lượt từng màn hình chiếu của camera lắp đặt tại khoa đóđể quan sát cơ hội VST của ĐD và điền vào bảng kiểm

Vì các ĐD được phân công cố định theo từng buồng bệnh nên rất dễ dàng quan sát

và tìm kiếm xem ĐD đó xuất hiện ở màn hình camera nào

Trong trường hợp, ĐTV chưa quan sát kịp hoặc muốn quan sát kỹ hơn thì có thể dừng hoặc tua lại bất kỳ camera nào

Phát vấn kiến thức, thái độ và một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ VST của điều dưỡng

- Sau khi quan sát đủ cỡ mẫuthực hành VST của ĐDV, 97 ĐDV đã được quan sát sẽ được mời tham gia trả lời bộ câu hỏi để đánh giákiến thức, thái độ và các yếu

tố liên quan đến tuân thủ VST theo phương pháp phát vấn sau buổi giao ban của từng khoa lâm sàng

- Trong từng buổi thu thập số liệu, nghiên cứu viên và ĐTV thông báo mục đích của nghiên cứu và cách điền phiếu Nếu ĐDV đồng ý tham gia nghiên cứu, tích vào ô “đồng ý” và tiếp tục tự điền phần trả lời vào phiếu Nếu ĐDV tích vào ô

“Không đồng ý” ĐTV sẽ kết thúc phần phát vấn đối với ĐDV đó

- Trong quá trình điền phiếu, ĐTV phải kiểm soát không để ĐDV trao đổi câu trả lời với nhau ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu ĐDV hoàn thành phiếu xong thì nộp phiếu cho ĐTV kiểm tra phiếu để hạn chế bỏ xót thông tin

➢ Thu thập số liệu định tính

Sau khi tiến hành nghiên cứu định lượng, nghiên cứu viên xử lý sơ bộ kết quả

và có sự điều chỉnh nội dung hướng dẫn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm dựa trên kết quả nghiên cứu bước đầu của nghiên cứu định lượng

Phỏng vấn sâu (PVS):

Dựa vào bản hướng dẫn PVS, phỏng vấn Phó giám đốc phụ trách công tác KSNK, Trưởng khoa KSNK (phụ lục 7) Các cuộc PVS này do học viên trực tiếp

Trang 36

điều hành và một thư ký (là một trong hai cán bộ y tế trong mạng lưới KSNKcùng tham gia giám sát tuân thủ VST).Nội dung các cuộc thảo luận và phỏng vấn được thư ký ghi âm và tóm tắt bằng biên bản

- Thời gian PVS: 30 - 45 phút/cuộc PVS

- Thời điểm: ngoài giờ hành chính (buổi trưa)

- Địa điểm: Tại phòng làm việc của đối tượng được phỏng vấn

Thảo luận nhóm (TLN):

Dựa vào bản hướng dẫn TLN, tiến hành TLN đối với điều dưỡng trưởng các khoa lâm sàng và ĐDV các khoa lâm sàng (phụ lục 6) Các buổi thảo luận nhóm này

do nghiên cứu viên chính (học viên) điều khiển và 01 thư ký ghi biên bản và ghi âm

- Thời gian TLN: 45-60 phút/ cuộc TLN

- Thời điểm tiến hành: Ngoài giờ hành chính (buổi trưa)

- Địa điểm: phòng hội trường bệnh viện

2.6 Cách đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành VST

2.6.1 Đánh giá kiến thức, thái độ về VST

Với 20 câu đánh giá kiến thức về VST, điểm tối đa cho phần đánh giá kiến thức là: 20 điểm Kiến thức được đánh giá là Đạt khi số điểm ≥ 15 điểm (≥75% tổng

số điểm); Chưa đạt khi số điểm <15 điểm (phụ lục 3)theo nghiên cứu của Đoàn Hoàng Yến tại Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2012 [21]

Có 8 câu hỏi để đánh giá thái độ về VST của điều dưỡng: Với mỗi nhận định được đưa ra về VST, có 2 mức “Không đồng ý” và “Đồng ý” để NVYT lựa chọn Điểm tối đa của phần đánh giá thái độ là: 8 điểm ĐDV được đánh giá là

có thái độ tích cực khi số điểm ≥ 6 điểm (≥75% tổng số điểm); Chưa tích cực khi

số điểm <6điểm (phụ lục 4)theo nghiên cứu của Đoàn Hoàng Yến tại Bệnh viện

Tim Hà Nội năm 2012 [21]

2.6.2 Đánh giá tuân thủ VST

- Một cơ hội VST được coi là tuân thủkhi đảm bảo 2 yêu cầu: (1)Có thực hiện VST khi có cơ hội cần VST; (2)Phải VST với nước và xà phòng hoặc dung dịch VST có chứa cồn/cồn

Tỷ lệ % cơ hội tuân thủ VST = (Số cơ hội tuân thủ VST/Tổng số cơ hội cần VST được quan sát) × 100%[5]

Trang 37

- Một quy trình VST được coi là tuân thủ khi đảm bảo yêu cầu:Thực hiện đúng

và đủ 6 bước của quy trình VST

Tỷ lệ % tuân thủ quy trình VST = (Số quy trình VST tuân thủ/Tổng số quy trìnhVST được quan sát) × 100% [5]

-Một điều dưỡng được coi là tuân thủ VST khi đảm bảo 2 yêu cầu: (1)Tuân thủ tất cả các cơ hội VST mà ĐD được quan sát(tuân thủ cả2 cơ hội VST ở quan sát trực tiếp và tuân thủ cả 2 cơ hội VST quan sát qua camera); (2) Tuân thủtất cả các quy trình VST được quan sát

Tỷ lệ % điều dưỡng tuân thủ VST = (Số điều dưỡng tuân thủ VST/Tổng số điều dưỡng tham gia nghiên cứu) × 100% [5]

2.6.3 Xác định các yếu tố liên quan và yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ VST

Các yếu tố liên quan đến tuân thủ VST của NVYT được xác định bằng phương pháp định lượng và định tính

Phương pháp định lượng: tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân, kiến thức, thái độ với tuân thủ VST

Phương pháp định tính: thông qua kết quả thảo luận nhóm kết hợp với phỏng vấn sâu dựa trên chủ đề nghiên cứu định tính:

- Yếu tố nào thúc đẩyĐDV tăng cường tuân thủ VST

- Yếu tố rào cản hạn chế ĐDV tuân thủ VST

- Mong muốn của ĐDV khi thực hiện VST

2.7 Các biến số nghiên cứu

2.7.1 Biến số nghiên cứu định lượng (phụ lục 8)

Trong nghiên cứu này chúng tôi xác định các biến số định lượng theo mục tiêu nghiên cứu đã đưa ra

Với mục tiêu 1: Mô tả thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều

dưỡng tại một số khoa lâm sàng của Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2018

Các biến số này được thu thập qua bảng kiểm đánh giá thực hành tuân thủ VST bao gồm đánh giá cơ hội tuân thủ VST, thực hiện đúng quy trình VST 6 bước, điều dưỡng tuân thủ VST: tỷ lệ % cơ hội tuân thủ VST, tỷ lệ % đạt quy trình VST,

tỷ lệ % điều dưỡng tuân thủ VST

Trang 38

Với mục tiêu 2: Mô tả kiến thức, thái độ về vệ sinh tay thường quy của điều

dưỡng tại một số khoa lâm sàng của Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2018

Các biến số này được thu thập thông qua bộ câu hỏi phát vấn ĐD: kiến thức đúng về vệ sinh bàn tay, quy trình VST, thời gian VST, kiến thức chung về VST, thái

độ chung về VST

Với mục tiêu 3: Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay

thường quy của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng của Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2018

Các biến số liên quan đến tuân thủ VST được thu thập qua các yếu tố cá nhân, kiến thức, thái độ tuân thủ VST, lần tập huấn, hình thức kiểm tra, giám sát

Nhóm biến số liên quan đến tuân thủ VST: Nhóm yếu tố cá nhân, Nhóm tiếp cận thông tin về VST, Nhóm tổ chức, quản lý

Mọi thông tin được quản lý và nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.0

Trang 39

95% để phân tích mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân, kiến thức, thái độ và thực hành VST của NVYT Phân tích đơn biến, đa biến để tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố với tuân thủ VST

2.8.2 Số liệu định tính

Bản ghi âm nội dung thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu được gỡ băng, mã hóa

và phân tích và trích dẫn theo chủ đề nghiên cứu

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu được chấp thuận bởi Hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế Công Cộng số 106/2018/YTCC-HD3 ngày 28/02/2018

Đối tượng tham gia nghiên cứu được giải thích rõ ràng và đầy đủ về mục đích, nội dung nghiên cứu Việc tham gia nghiên cứu của đối tượng là hoàn toàn tự nguyện Mọi thông tin cá nhân về ĐTNC được đảm bảo giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu khoa

Trong quá trình phỏng vấn, các đối tượng có quyền từ chối bất cứ câu hỏi nào

mà họ không muốn trả lời, người nghiên cứu cũng không gây một áp lực nào đòi hỏi hoặc cố gắng thuyết phục đối tượng để lấy thông tin và họ có thể dừng cuộc phỏng vấn bất cứ khi nào họ muốn

Nội dung nghiên cứu phù hợp, được lãnh đạo Bệnh viện Tim Hà Nội quan tâm

và ủng hộ.Kết quả nghiên cứu được phản hồi và báo cáo cho lãnh đạo bệnh viện khi kết thúc nghiên cứu

2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số

2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu

Do nguồn lực về thời gian và nhân lực hạn chế nên nghiên cứu chỉ được thực hiện qua một điều tra cắt ngang nên kết quả nghiên cứu chỉ đánh giá được tại thời điểm nghiên cứu

Quan sát bằng camera chỉ dừng lại ở việc xác định tỷ lệ cơ hội tuân thủ VST chứ chưa nghiên cứu quy trình 6 bước của VST Do hạn chế tầm nhìn trong quan sát bằng camera nên không thể quan sát chi tiết, cụ thể từng bước và số lần thực hiện 6 bước của quy trình VST

Trang 40

Đánh giá tuân thủ quy trình VST chỉ đánh giá việc thực hiện đúng 6 bước, chưa nghiên cứu về thời gian ĐTNC thực hiện quy trình VST

2.10.2 Sai số và biện pháp khắc phục sai số

Vì mỗi phương pháp quan sát VST có những ưu và nhược điểm riêng nên việc chỉ sử dụng một phương pháp quan sát thường không cho kết quả tin cậy Để đánh giá đúng hơn về việc tuân thủ VST tại một thời điểm nhất định tốt nhất là tiến hành đồng thời nhiều phương pháp giám sát Trong nghiên cứu chúng tôi kết hợp 2 phương pháp quan sát thực hành VST là quan sát trực tiếp và quan sát bằng camera:

+ Quan sát bằng camera chỉ quan sát được việc thực hiện cơ hội VST mà không quan sát được việc thực hiện 6 bước của quy trình vì do hạn chế tầm nhìn trong quan sát bằng camera nên không thể quan sát chi tiết từng bước và số lần thực

hiện 6 bước của quy trình

+ Quan sát trực tiếp gặp sai số: ĐTNC có thể phát hiện được là mình đang bị quan sát nên có xu hướng thực hành VST tốt hơn so với khi không bị giám sát dẫn đến ảnh hưởng tới kết quả quan sát

Do vậy, chúng tôi tiến hành kết hợp hai phương pháp quan sát này để tiến hành so sánh và nhằm hạn chế sai số này

ĐTV được lựa chọn là các thành viên trong mạng lưới KSNK, đảm bảo nắm vững kiến thức và có kinh nghiệm trong giám sát VST để hạn sai sót trong việc thu thập số liệu

Ngày đăng: 31/01/2021, 12:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w