Nghiên cứu “Thực trạng và một số thuận lợi khó khăn trong ứng dụng CNTT quản lý bệnh viện tại bệnh viện đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp năm 2018” đƣợc tiến hành với 2 mục tiêu: 1 Mô tả th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ THANH NHÃ
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN QUẢN LÝ BỆNH VIỆN TẠI BỆNH
VIỆN ĐA KHOA SA ĐÉC, ĐỒNG THÁP NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
HÀ NỘI, NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
TÓM TẮT LUẬN VĂN viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện: 4
1.2 Thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện trên thế giới, tại Việt Nam và tỉnh Đồng Tháp 14
1.3 Những yếu tố thuận lợi khó khăn trong ứng dụng CNTT trong QLBV 19
1.4 Phần mềm quản lý bệnh viện 23
1.5 Thông tin chung về Bệnh viện đa khoa Sa Đéc 24
1.6 Khung lý thuyết 26
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 27
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 27
2.3 Thiết kế nghiên cứu: 27
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu: 28
2.5 Phương pháp thu thập số liệu: 29
2.6 Phân tích số liệu: 30
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá 30
2.8 Các chỉ số, biến số cần nghiên cứu: 30
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu: 31
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục: 32
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Mô tả thực trạng ứng dụng CNTT tại BVĐK Sa Đéc: 33
3.1.3 Đánh giá từ phía người sử dụng: 40
Trang 43.2 Các yếu tố thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai ứng dụng CNTT tại
BV Đa khoa Sa Đéc 53
3.2.1 Về yếu tố kỹ thuật, trang thiết bị cơ sở hạ tầng CNTT tại BV 53
3.2.2 Yếu tố về phần mềm quản lý tổng thể BV: 54
3.2.3 Về yếu tố nguồn nhân lực: 58
3.2.4 Về yếu tố tài chính 61
3.2.5 Về các văn bản chính sách: 62
3.2.6 Về yếu tố thông tin truyền thông 63
Chương 4 BÀN LUẬN 65
4.1 Mô tả thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý BV tại BV Đa khoa Sa Đéc theo Quyết định 5573/QĐ-BYT 65
4.1.1 Về cơ sở hạ tầng trang thiết bị CNTT: 65
4.1.2 Về phần mềm: 65
4.1.3 Đánh giá từ phía người sử dụng về chất lượng phần mềm 72
4.2 Phân tích các yếu tố thuận lợi, khó khăn: 73
4.2.1.Yếu tố kỹ thuật, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng mạng: 73
4.2.2 Yếu tố về phần mềm quản lý 74
4.2.3 Yếu tố nguồn nhân lực: 77
4.2.4 Văn bản chính sách: 79
4.2.5 Yếu tố về tài chính: 80
4.2.6 Yếu tố về thông tin và truyền thông 80
4.3 Hạn chế của nghiên cứu và cách khắc phục 81
KẾT LUẬN 82
KHUYẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 90
Phụ lục 1: Bảng phân công các đối tượng được phát vấn 90
Phụ lục 2 Bảng kiểm các tiêu chí phần mềm 91
Phụ lục 3 Phiếu phát vấn nhân viên y tế 107
Phụ lục 4 Bộ câu hỏi phỏng vấn sâu 111
Phụ lục 5 Thảo luận nhóm 116
Trang 5Phụ lục 6 Tiêu chuẩn phân loại các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong bộ câu
hỏi phát vấn 121
Phụ lục 7 Các chỉ số và biến số trong nghiên cứu 125
Phụ lục 8 Danh sách NVYT đƣợc mời phỏng vấn 130
Phụ lục 9 Các bảng trống số liệu 131
Phụ lục 9.1 Bảng cung cấp số liệu nhân sự hiện có tại phòng tổ chức cán bộ 131
Phụ lục 9.2 Bảng cung cấp số liệu của Tổ quản tri mạng về tình hình nhân sự sử dụng máy tính tại các khoa phòng 133
Phụ lục 9.3 Bảng cung cấp số liệu về ngân sách đầu tƣ cho CNTT 135
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chuẩn trao đổi dữ liệu hình ảnh
Đào tạo y khoa liên tục
Bệnh án điện tử
Hệ thống thông tin bệnh viện
Chuẩn trao đổi dữ liệu
Tích hợp các hệ thống ICD : International Statistical Classification of Diseases and Related
Health Problems Phân loại bệnh tật quốc tế và những vấn đề liên quan sức khỏe
Trang 7PACS : Picture Archiving and Communication System
Hệ thống thông tin lưu trữ và thu nhận hình ảnh
Hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.2 Bảng tổng hợp số lượng các tiêu chí quản lý và kỹ thuật 33
Bảng 3.13 Bảng thống kê nội dung đánh giá về tiếp cận của người dùng 42
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ cán bộ nhận được đào tạo hướng dẫn từ các đơn vị trong BV 42 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ cán bộ được đào tạo hướng dẫn từ các đơn vị bên ngoài BV 43
Biểu đồ 3.9 Đánh giá của NVYT về thuận lợi, khó khăn sử dụng phần mềm 49
Trang 10TÓM TẮT LUẬN VĂN
Bệnh viện Đa khoa Sa đéc triển khai ứng dụng CNTT từ năm 2009 đã đạt đƣợc khá nhiều thành tựu nổi bật mang lại nhiều lợi ích trong công tác quản lý bệnh viện, tuy nhiên cũng đã gặp không ít những khó khăn trong các hoạt động chung của bệnh viện
Nghiên cứu “Thực trạng và một số thuận lợi khó khăn trong ứng dụng CNTT quản lý bệnh viện tại bệnh viện đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp năm 2018” đƣợc tiến hành với 2 mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện theo Quyết định 5573/QĐ-BYT tại bệnh viện Đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp năm 2018 (2) Phân tích một số yếu tố thuận lợi, khó khăn khi ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện tại bệnh viện năm 2018
Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lƣợng và định tính Có 117 nhân viên y tế thao tác trực tiếp trên phần mềm đƣợc lựa chọn vào nghiên cứu bằng bộ câu hỏi phát vấn và 10 cuộc phỏng vấn sâu, 2 cuộc thảo luận nhóm Số liệu đƣợc xử lý bằng phần mềm Epi data 3.1 và SPSS 18.0 Thời gian tiến hành nghiên cứu từ 01/02/2018 đến 30/06/2018
Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng ứng dụng CNTT tại BV theo Quyết định 5573/2006/BYT: đã triển khai đầy đủ 8 phân hệ theo quy định Bộ Y tế, tuy nhiên một số tiêu chí trong 08 phân hệ phần mềm chƣa triển khai đầy đủ theo nhu cầu thực tế Bệnh viện đầu tƣ thiết bị cơ sở hạ tầng mạng Nhân lực chuyên trách CNTT và NVYT là đội ngủ trẻ nhiệt tình Tuy nhiên, một số trang thiết bị đã qua thời gian sử dụng lâu năm chƣa đủ kinh phí để thay mới Chất lƣợng thông tin phần mềm vẫn chƣa chính xác Hệ thống mạng còn chậm Nhân lực chuyên trách CNTT còn thiếu Một số NVYT chƣa nhận thức hết tầm quan trọng của ứng dụng CNTT Sở Y
Tế tỉnh Đồng Tháp chƣa có phần mềm dùng chung cho toàn tỉnh nên rất khó khăn, đa
số đơn vị tự xây dựng theo nhu cầu thực tế
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đã đƣa ra một số khuyến nghị:
Ban giám đốc BV cần thay mới, sửa chữa các trang thiết bị đã qua thời gian sử dung lâu năm Bổ sung nhân lực chuyên trách CNTT Khắc phục tình trạng mạng chậm Cần có biện pháp chế tài trong quá trình thao tác và sử dụng phần mềm Sở Y
tế Đồng Tháp cần xây dựng một phần mềm dùng chung cho toàn Tỉnh để đảm bảo tính đồng bộ
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Công nghệ thông tin (CNTT) là một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật to lớn của thế giới, đã và đang giúp thay đổi toàn diện và hiệu quả tất cả mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, chính trị, quân sự và đời sống…trong đó có lĩnh vực y tế [37]
Tại Việt Nam, thống kê năm 2014, 100% BV tuyến Trung ương có ứng dụng phần mềm tin học trong quản lý các hoạt động; ở tuyến tỉnh là 68% và tuyến huyện
là 61% [13] Việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành Y tế là nhiệm vụ quan trọng góp phần giảm tải BV, trong đó, mấu chốt là ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thực hiện bệnh án điện tử và giải pháp y tế từ xa [4] Ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành Y tế đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng quản lý BV, cải tiến chất lượng các dịch vụ khám chữa bệnh, giảm bớt các thủ tục hành chính, nâng cao tỷ lệ hài lòng của người bệnh, hỗ trợ tốt cho lãnh đạo trong công tác quản lý và điều hành
Trong những năm qua, ngành Y tế tỉnh Đồng Tháp đã và đang triển khai ứng dụng CNTT vào các BV trong tỉnh và đạt được nhiều thành tựu khả quan, đáp ứng
cơ bản các yêu cầu quản lý bệnh nhân nội, ngoại trú và BHYT Tuy nhiên, việc thực hiện chưa được đồng bộ, chưa có một hệ thống phần mềm chung, việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin còn nhỏ lẻ, tự phát, chưa có tính hệ thống, hiệu quả quản lý chung chưa được đáp ứng theo yêu cầu của Sở Y tế [45] [29]
Tại BV đa khoa Sa Đéc, lãnh đạo đã sớm nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của việc triển khai ứng dụng CNTT vào công tác quản lý BV Từ năm 2009 đến nay, đã đầu tư về nguồn nhân lực, trang thiết bị phần cứng, phần mềm, mạng nội bộ, kinh phí để phục vụ cho việc đưa công nghệ thông tin vào công tác quản lý
BV Đến nay, BV đã cơ bản thực hiện được đủ 8 phân hệ theo Quyết định 5573/QĐ-BYT ngày 26/12/2006 [1], nâng cao chất lượng trong công tác quản lý thông tin KCB, công khai minh bạch các hoạt động BV, quản lý nhân sự, dược, thu viện phí, trang thiết bị, cải cách thủ tục hành chính, giảm thời gian chờ người bệnh, giảm phiền hà, nâng cao tỷ lệ hài lòng người bệnh, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ KCB trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân
Trang 12Qua hơn 8 năm triển khai ứng dụng trong công tác quản lý BV, chƣa có nghiên cứu nào đƣợc thực hiện tìm hiểu về thực trạng ứng dụng CNTT, những thuận lợi, khó khăn gì về nhân lực, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng khi ứng dụng CNTT Câu hỏi đặt ra là thực trạng ứng dụng CNTT trong công tác quản lý BV theo Quyết định 5573/QĐ/2006/BYT tại BV đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp hiện tại ra sao?
BV gặp những thuận lợi và khó khăn gì khi ứng dụng CNTT trong quản lý BV? Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và một số thuận lợi khó khăn trong ứng dụng công nghệ thông tin quản lý bệnh viện tại bệnh viện đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp năm 2018” Từ kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ Ban lãnh đạo BV có những chính sách, kế hoạch phát triển ứng dụng CNTT hiệu quả hơn trong những năm tiếp theo một cách hiệu quả nhất góp phần cải tiến chất lƣợng dịch
vụ, quản lý chất lƣợng các hoạt động BV
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện theo quyết định 5573/QĐ-BYT tại bệnh viện Đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp năm
2018
2 Phân tích một số yếu tố thuận lợi, khó khăn khi ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện tại bệnh viện năm 2018
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện:
1.1.1 Khái niệm về BV, chức năng và nhiệm vụ của BV
- Khái niệm về BV
Cùng với thời gian, khái niệm BV có nhiều thay đổi Trước đây, BV được coi là "nhà tế bần" cứu giúp những người nghèo khổ Chúng được thành lập giống như những trung tâm từ thiện nuôi dưỡng người ốm yếu và người nghèo Ngày nay,
"BV được coi là nơi chẩn đoán và điều trị bệnh tật, nơi đào tạo và tiến hành các nghiên cứu y học, nơi xúc tiến các hoạt động chăm sóc sức khỏe và ở một mức độ nào đó là nơi trợ giúp cho các nghiên cứu y sinh học" [40]
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO): BV là một bộ phận của một tổ chức mang tính chất y học và xã hội, có chức năng đảm bảo cho nhân dân được chăm sóc toàn diện về y tế cả chữa bệnh và phòng bệnh BV còn là trung tâm giảng dạy y học
và nghiên cứu sinh vật xã hội [5]
Theo Quy chế BV, BV là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho NB [6]
- Chức năng và nhiệm vụ của BV
Trong quy chế BV quy định BV có 7 chức năng và nhiệm vụ chính: Khám, chữa bệnh; Đào tạo cán bộ; Nghiên cứu khoa học; Chỉ đạo tuyến; Phòng bệnh; Hợp tác quốc tế; Quản lý kinh tế trong BV [6]
Phân loại BV
BV đa khoa hạng I, hạng II, hạng III và Bệnh viện chuyên khoa hạng I, hạng
II, hạng III [6]
Nội dung quản lý BV:
Để thực hiện tốt 7 nhiệm vụ chính trong quy chế BV, trong quản lý BV cần đặc biệt xây dựng quy trình và thực hiện các nội dung về: Công tác hành chính, văn thư, lưu trữ hồ sơ tài liệu; Công tác kế hoạch; Công tác chuyên môn (khám, chẩn đoán và điều trị); Công tác tổ chức cán bộ; Công tác đào tạo nghiên cứu khoa học
và hợp tác quốc tế; Công tác dược; Công tác tài chính kế toán; Công tác chăm sóc điều dưỡng; Công tác vật tư trang thiết bị, công trình y tế [42]
1.1.2 Khái niệm về ứng dụng CNTT trong y tế:
Trang 15- Tin học - Viễn thông và tự động hoá" [15]
- Khái niệm CNTT trong y tế
CNTT trong y tế là sự kết hợp của khoa học thông tin, khoa học máy tính và chăm sóc sức khỏe Nó giải quyết các vấn đề về nguồn lực, thiết bị và các biện pháp được yêu cầu để tối ưu hóa thu thập, lưu trữ, khôi phục và sử dụng các thông tin về sức khỏe và y sinh học Việc ứng dụng CNTT trong y tế không chỉ bao gồm máy tính mà còn là các chỉ dẫn lâm sàng, điều dưỡng, nha khoa, dược, sức khỏe cộng đồng và các nghiên cứu về y tế [54] [56]
CNTT y tế là việc áp dụng quá trình xử lý thông tin liên quan tới phần cứng
và phần mềm máy tính để giải quyết việc lưu trữ, khôi phục, chia sẻ và sử dụng các thông tin dữ liệu và kiến thức về y tế cho việc giao tiếp và quyết định lựa chọn [46]
CNTT y tế bao gồm tập hợp các công nghệ về trao đổi và quản lý các thông tin sức khỏe được sử dụng bởi các khách hàng, nhà cung cấp, người trả chi phí, bảo hiểm y tế và tất cả đối tượng quan tâm tới sức khỏe và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà cụ thể là lưu trữ và xử lý số liệu của người bệnh Công nghệ này bao gồm
sự sắp xếp có thứ tự khác nhau một cách có hệ thống, được liên kết với nhau, làm cho các bác sĩ liên hệ với nhau dễ dàng, các thông tin người bệnh cũng được chia sẽ không giới hạn về các BV, về biên giới địa lý [54]
Trang 16cụ tối ưu hóa trong quản lý điều hành; phục vụ điều trị; phục vụ nghiên cứu và đào tạo; thống kê, dự báo, dự phòng tại các BV
EPR (Electronic Patient Record): Bệnh án điện tử thực chất là phần mềm dùng thay thế cho bệnh án giấy trong quản lý thông tin người bệnh, kết quả chẩn đoán, xét nghiệm, liệu trình điều trị với nhiều ưu điểm trong tìm kiếm, tra cứu, tổng hợp số liệu phục vụ điều trị và hỗ trợ nghiên cứu
Mối quan hệ giữa các hệ thống CNTT Y tế tại BV hoạt động dựa trên chuẩn hình ảnh DICOM và chuẩn trao đổi dữ liệu HL7
RIS (Radiology Information System): Hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh
là hệ thống phần mềm được triển khai tại Khoa chẩn đoán hình ảnh RIS bao gồm
Trang 17các thành phần và có tổ chức gần giống với HIS nhưng ở qui mô nhỏ hơn với các chức năng: quản lý thông tin người bệnh, quản lý danh sách người bệnh đến chụp - chiếu tại khoa, số liệu chụp - chiếu và kết quả chẩn đoán Thông tin dữ liệu của RIS gồm dạng Text và dạng ảnh theo tiêu chuẩn DICOM được lấy từ các thiết
bị chiếu chụp: X-quang, cắt lớp, siêu âm, cộng hưởng từ…
PACS (Picture Archiving and Communication System): Hệ thống thông tin lưu trữ và thu nhận hình ảnh có nhiệm vụ quản lý công tác lưu trữ, truyền và nhận hình ảnh trên mạng thông tin máy tính của Khoa Chẩn đoán hình ảnh hoặc của BV, trong đó các hình ảnh được lấy từ các thiết bị: siêu âm, X-quang, chụp cắt lớp vi tính (CT-scanner), cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) với định dạng ảnh phổ biến hiện nay là DICOM được lưu trữ tại các Server và truyền đến các máy tính tại Khoa Chẩn đoán hình ảnh và các khoa trong BV phục vụ công tác khám, chẩn đoán và điều trị PACS khác RIS là chỉ quản lý, tổ chức lưu trữ, truyền và nhận hình ảnh trên mạng mà không quan tâm đến các dữ liệu dạng Text như: Thông tin chi tiết của người bệnh, số lần chụp chiếu, bệnh án, liệu trình điều trị
DICOM (Digital Imaging and Communication in Medicine): Tiêu chuẩn ảnh
và truyền thông trong y tế, được phát triển từ năm 1988 dựa trên chuẩn NEMA, là qui chuẩn về định dạng và trao đổi ảnh y tế cùng các thông tin liên quan,
ACR-từ đó tạo ra một phương thức chung nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà sản xuất cũng như người sử dụng trong kết nối, lưu trữ, trao đổi, in ấn ảnh y tế Hiểu một cách đơn giản, tập tin ảnh DICOM ngoài dữ liệu hình ảnh giống như các tiêu chuẩn JPG, BMP, GIF còn chứa thêm một số thông tin dạng Text như: Tên người bệnh, loại thiết bị chụp chiếu tạo ra hình ảnh…
HL7 (Health Level Seven): Tên gọi HL7 bắt nguồn từ mô hình mạng truyền thông OSI 7 lớp trong đó lớp 7 là lớp ứng dụng (Application Level) HL7
là chuẩn dùng cho trao đổi dữ liệu dạng Text; chia sẻ, kết hợp, truy xuất các thông tin y tế điện tử giữa các BV cũng như các cơ sở y tế Ra đời từ năm 1987, trải qua nhiều phiên bản, cho đến nay HL7 ngày càng được hoàn thiện và ứng dụng rộng rãi
IHE (Intergrating Healthcare Enterprise): đây là khái niệm được phát triển
từ năm 1998, là giải pháp tích hợp các hệ thống, tiêu chuẩn giữa các tổ chức y tế
Trang 18bằng cách đưa ra các quy trình thực hiện (Process) và cách thức giao dịch (Transaction) IHE sử dụng các tiêu chuẩn DICOM và HL7, đưa ra các “Profile” tích hợp (Intergration Profile), hướng dẫn các thông tin hoặc quy trình làm việc dựa trên các tiêu chuẩn có sẵn như DICOM hoặc HL7 Tóm lại, IHE sẽ giúp loại bỏ sự không thống nhất, giảm chi phí, tạo ra khả năng tương thích ở mức độ cao nhất
Đơn thuốc điện tử: Đơn thuốc điện tử là một ứng dụng CNTT dùng cho bác
sĩ kê đơn và chỉ định các phương thức điều trị Do là hệ thống điện tử nên đơn thuốc điện tử có thể kiểm tra việc kê đơn thuốc dựa vào cơ sở dữ liệu có sẵn và các thuật toán cảnh báo về tương tác thuốc và lượng còn trong kho Áp dụng đơn thuốc điện
tử giúp giảm nguy cơ về sai sót trong chỉ định các chẩn đoán điều trị của bác sĩ, giúp người bệnh nhận dạng rõ hơn về thuốc và liều dùng của thuốc
Y tế từ xa (Telemedicine): là việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ
xa của hệ thống y tế bằng cách sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để trao đổi thông tin trong điều trị, chẩn đoán, phòng ngừa bệnh tật và thương tích, phục vụ cho công tác nghiên cứu, đánh giá, và giáo dục thường xuyên của các nhà cung cấp dịch vụ y tế Trong những trường hợp khẩn cấp đối với các bệnh nhân có bệnh nguy hiểm cần theo dõi như cao huyết áp, bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não, tiểu đường…cần có một sự giám sát và xử lý tức thời thì telemedicine có thể giúp ích
Y tế điện tử (E-health): Là một khái niệm mới được hình thành gần đây và
nó đề cập đến tất cả các hoạt động chăm sóc sức khỏe được triển khai với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin Trong mô hình này tất cả các vấn đề thuộc về y tế được điện tử hóa bao gồm: quản lý BV, quản lý hồ sơ bệnh nhân, quản lý hình ảnh, quản
lý dịch bệnh, quản lý bệnh mạn tính Một mô hình triển khai áp dụng CNTT mang tính toàn diện cho các quốc gia và hiện tại đang được tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo áp dụng trên toàn cầu
- Tình hình ứng dụng CNTT trong y tế trên thế giới và VN
Ở nhiều nước trên thế giới, chính phủ đã xây dựng chương trình quốc gia về công nghệ thông tin y tế nhằm tin học hóa ngành y tế Nhiều chương trình nghiên cứu và ứng dụng được triển khai tại các BV và các cơ sở y tế, như việc xây dựng các hệ thông tin BV bao gồm các hệ truyền tin, mệnh lệnh, hệ thông tin chăm sóc
Trang 19cho y tá, bệnh án, dược khoa, tia X, trợ giúp làm quyết định (giúp tạo đơn thuốc, lựa chọn thuốc kháng sinh, theo dõi liều thuốc, cảnh báo lâm sàng, dị ứng, chế độ ăn uống ) phục vụ lâm sàng Ngoài ra, còn xây dựng các hệ truyền tin lưu trữ ảnh PACS và y học từ xa giữa các BV, xây dựng các trạm chăm sóc dùng truyền thông không dây cho các bác sĩ và những người phục vụ y tế Đối với nhiều quốc gia, việc đào tạo là quốc sách, do đó việc nghiên cứu xây dựng các hệ dạy học y học thông minh là cần thiết, giúp cho việc đào tạo và tự học từ xa nhằm nâng cao trình độ cho các bác sĩ và những người làm công tác y tế ở khắp mọi miền đất nước Ở một số quốc gia phát triển, chính phủ chú trọng xây dựng mạng chăm sóc sức khỏe ở nhà phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe ban đầu và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi [25]
- Chức năng quản lý hệ thống thông tin BV: Các thông tin của bệnh viện đều được tổ chức, sắp xếp một cách khoa học và kiểm soát mọi thứ một cách
dễ dàng, tạo cơ sở cở tốt cho hiệu quả công tác quản lý bệnh viện [47]
- Cập nhật và nâng cao kiến thức chuyên môn: việc ứng dụng CNTT giúp cho nhân viên y tế từ vùng sâu vùng xa đến các vùng lân cận, từ các nước chậm phát triển đến các nước phát triển đều có thể dễ dàng cập nhật được kiến thức về chuyên môn thông qua hệ thống các website y học, forum, sách điện tử, video, bài giảng từ xa [47]
- Tự động hóa các phương tiện chẩn đoán và điều trị: Máy móc xét nghiệm ngày nay hoàn toàn tự động hóa, tiết giảm thao tác, nâng cao độ chính xác xét nghiệm Các máy móc chẩn đoán hình ảnh đã ứng dụng các kỹ thuật dựng hình để bộc lộ hình ảnh bệnh lý 3 chiều, phục vụ chẩn đoán và điều trị ngoại khoa Kỹ thuật nội soi giúp can thiệp điều trị một cách hiệu quả và tiết giảm chi phí…[47]
- Hỗ trợ đắc lực trong thực hành y khoa: CNTT mang lại nhiều lợi ích trong thực hành y khoa, đã được chứng minh trong thực tế như giảm thiểu tử vong do sai lầm y khoa, giúp bác sĩ quyết định lâm sàng nhanh chóng và chính xác, hỗ trợ y tế
từ xa (telemedicine), lưu trữ và phân tích số liệu cho nghiên cứu khoa học [47]
CNTT y tế tại Việt Nam bắt đầu nhập cuộc cùng với sự phát triển CNTT y tế thế giới từ những năm đầu thập kỷ 90 Với sự ra đời muộn màng này, CNTT ở nước
Trang 20ta có nhiều khó khăn, thách thức và đồng thời cũng có nhiều triển vọng Đó là, CNTT y tế Việt Nam phải từng bước đuổi kịp và tránh lạc hậu so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới; đòi hỏi phải xây dựng được phần mềm quản lý y tế
và các phần mềm ứng dụng khác trong y tế có chất lượng cao Thuận lợi và triển vọng lớn của CNTT nước ta là kế thừa các thành tựu của các nước đi trước trong kỹ thuật ứng dụng CNTT y tế [19]
Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo CNTT Bộ Y tế, Cục CNTT Bộ Y tế, ngành y tế bước đầu đã xây dựng các mạng diện rộng, mạng toàn quốc và mạng khu vực theo hệ thống chuyên ngành cùng các mạng nội bộ của các
cơ sở y tế [19] Bên cạnh đó để hỗ trợ cho các BV bước đầu triển khai CNTT trong quản lý BV và thống nhất các dữ liệu của các BV báo cáo về Bộ Y tế, năm 1999 Vụ Điều trị đã ban hành phần mềm Bsoft với chức năng quản lý hồ sơ bệnh án và quản
lý báo cáo thống kê [35] Sau đó, năm 2000 Bộ Y tế đã chuẩn hóa các biểu mẫu hồ
sơ bệnh án, biểu mẫu sổ sách Y Dược, xây dựng các danh mục mã các BV, làm cơ
sở tin học hóa BV Ngày 19/8/2004 Bộ Y tế ban hành Quyết định BYT về việc ban hành phần mềm ứng dụng tin học trong “Quản lý báo cáo thống kê
2824/2004/QĐ-BV và hồ sơ bệnh án” viết tắc là Mediosft 2003 và thống nhất ban hành trong tất cả các BV trên phạm vi toàn quốc [7] Cho đến nay nhiều BV đã áp dụng phần mềm này và một số BV đã phát triển phần mềm Medisoft 2003 để đạt được mục tiêu quản lý cao hơn Tháng 12/2006, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 5573/QĐ-BYT
về “Tiêu chí phần mềm và nội dung một số phân hệ phần mềm tin học quản lý BV” Quyết định này là một văn bản quan trọng, đặt nền tảng cho việc xây dựng phần mềm quản lý của các BV [1]
Theo sự phát triển kinh tế xã hội ngày càng tăng, hầu hết các BV Việt Nam
đã dần dần được trang bị nhiều thiết bị y tế hiện đại như máy xét nghiệm tự động, máy siêu âm 3D, 4D, X quang kỹ thuật số, máy chụp cắt lớp, cộng hưởng từ, giúp nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị Thiết bị y tế hiện đại đã giúp khám và điều trị hiệu quả các bệnh khó Chính nhờ các thiết bị này, y tế Việt Nam đã dần bắt kịp trình độ y tế trong khu vực, nhân viên y tế Việt Nam ngày nay đã hầu hết đã biết
sử dụng máy tính, thích nghi được với CNTT, sử dụng internet để tự nâng cao kiến
Trang 21thức chuyên môn và ứng dụng trong chẩn đoán khám, chữa bệnh góp phần nâng cao chất lượng BV [36]
Trong những năm qua, Nhà nước cũng đặc biệt quan tâm, chú trọng đến việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT cho đơn vị trong ngành y tế từ trung ương đến địa phương Và để định hướng và thúc đẩy các hoạt động ứng dụng CNTT trên các lĩnh vực nói chung và ngành, Quốc hội, Chính phủ và Đặc biệt là Bộ Y tế đã ban hành khá nhiều các văn bản quy định, hướng dẫn, trong đó có một số văn bản như:
- Quyết định số 2824/2004/QĐ-BYT ngày 19/8/2004 của Bộ Y tế về việc
"Ban hành phần mềm ứng dụng tin học trong quản lý báo cáo thống kê BV và hồ sơ bệnh án "Medisoft 2003"
- Luật CNTT số 67/2006/QH10 ngày 29/6/2006
- Quyết định số 5573/QĐ-BYT ngày 19/12/2006 của bộ y tế về việc "Ban hành tiêu chí phần mềm và nội dung một số phân hệ phần mềm tin học quản lý BV"
- Quyết định số 5574/QĐ-BYT ngày 29/12/2006 của Bộ Y tế về việc
"Hướng dẫn xây dựng dự án ứng dụng CNTT trong quản lý BV"
- Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc "Ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước"
- Nghị định 71/2007/NĐ-CP ngày 03/05/2007 về quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của luật công nghệ thông tin về công nghệ thông tin
- Chỉ thị số 02/CT-BYT ngày 25/2/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế về "Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT ngành y tế"
- Quyết định số 80/2014/QĐ-TTg ngày 30 tháng 12 năm 2014 quy định thí điểm về thuê dịch vụ công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước
- Luật số 86/2015/QH13 ngày 19/11/2015 về ban hành Luật an toàn thông tin mạng
- Quyết định số 5748/QĐ-BYT phê duyệt kế hoạch ứng dụng CNTT năm
2018 của Bộ Y tế
Ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành y tế nói chung và trong quản lý
BV nói riêng đang là một nhu cầu cấp bách, đòi hỏi có sự quan tâm của các cấp
Trang 22lãnh đạo, đặc biệt giám đốc Sở Y tế và giám đốc BV đầu tư thích hợp ngang với yêu cầu phát triển, để ngành y tế không bị tụt hậu, phát triển ngang tầm với các ngành khoa học khác và cập nhật với các nước trung bình tiên tiến trong khu vực [19]
1.1.3 Khái niệm ứng dụng CNTT trong QLBV
Ứng dụng CNTT trong QLBV là việc triển khai và ứng dụng các phần mềm
hệ thống quản lý bệnh nhân (PIS) và hệ thống quản lý bệnh viện (HIS) vào công tác quản lý toàn bộ hoạt động bệnh viện.“Hệ thống quản lý bệnh nhân bao gồm các phân hệ ghi chép thông tin của bệnh nhân từ khi bắt đầu nhập viện đến khi xuất viện Mỗi giai đoạn giao dịch của bệnh nhân với bệnh viện đều được ghi nhận bằng máy tính” [38] Hệ thống quản lý bệnh viện, ngoài các phân hệ quản lý bệnh nhân ra còn bổ sung thêm các phân hệ để quản lý hoạt động bệnh viện như phân hệ quản lý tài chính, nhân sự, tài sản, hành chính [38]
Những lợi ích ứng dụng CNTT trong QLBV
- Lợi ích đối với lãnh đạo BV:
+ Giám sát hoạt động BV một cách toàn diện, ngay tại bàn làm việc, theo thời gian thực, không cần chờ báo cáo từ cấp dưới Dữ liệu được lưu dưới dạng số hóa, truyền qua mạng, đến ngay bàn làm việc của Giám đốc, dễ dàng thống kê Số liệu báo cáo đảm bảo trung thực, chính xác Số liệu có thể được hiển thị dưới dạng biểu đồ [38]
+ Giám sát hoạt động BV từ xa: Với hệ thống internet ban Giám đốc có thể truy cập vào máy chủ BV để kiểm tra số liệu tất cả mọi mặt hoạt động của BV: nhân
sự, tài chính, lâm sàng, cận lâm sàng… theo thời gian thực [38]
+ Minh bạch thông tin trong BV: Các thông tin tài chính, thuốc men, dược, trang thiết bị, vật tư, hóa chất được nhập liệu chính xác và quản lý theo quy trình, loại bỏ hoàn toàn các sai sót do vô tình hay cố ý trong BV Chống thất thoát viện phí, vật tư và thuốc men [38]
+ Tiết kiệm giấy tờ, phim ảnh: Các thông tin nội bộ có thể truyền qua hệ thống mạng, dần xóa bỏ hình thức thông tin trên giấy; phim ảnh X-quang hay các hình ảnh y khoa được lưu trữ dưới dạng Digital, thời gian lưu dữ lâu, bảo quản dễ dàng, dễ nhân bản và chia sẻ [38]
Trang 23+ Y học thực chứng, chứng cứ pháp lý: Các thông tin dù nhỏ cũng được lưu trữ giúp làm bằng chứng khoa học và pháp lý Lãnh đạo BV có thể truy nguyên sai sót khi có sự cố xảy ra [38]
+ Báo cáo lên cấp trên (Bộ Y tế, Sở Y tế ), Bảo hiểm y tế: Các số liệu chuyên môn được thống kê ngay tức thì và chuyển qua mạng internet có thể giúp cơ quan quản lý y tế như Bộ Y tế, Sở Y tế có ngay số liệu phục vụ cho quản lý cộng đồng và quản lý dịch bệnh; Các mẫu báo cáo thống kê được thiết kế sẵn theo tiêu chuẩn của các cơ quan quản lý Cập nhật nhanh chóng thay đổi các chính sách BHYT [38]
- Lợi ích đối với bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên y tế:
+ Tiết giảm thời gian làm việc: Do tất cả các công việc liên quan đến dữ liệu được lập trình, các thao tác phức tạp trước đây được đơn giản hóa [38]
+ Kế thừa thông tin: Các đơn vị chức năng không cần phải nhập liệu lại những dữ liệu đã được người khác nhập rồi Ví dụ tên người bệnh, địa giới hành chính, lịch sử bệnh [38]
+ Hội chẩn online: Các bác sĩ cùng làm việc trên hệ thống và thấy được dữ liệu của nhau, cùng phát hiện sai sót và cùng đối chiếu công việc của nhau [38]
+ Chẩn đoán từ xa: Các thông tin người bệnh dưới dạng digital có thể gửi lên mạng Ineternet hoặc email để cùng hội chẩn từ xa [38]
+ Giảm thiểu sai lầm y khoa: Các thông tin giúp trí nhớ như bài giảng y khoa, thông tin thuốc, xét nghiệm được cung cấp cho bác sĩ ngay khi bác sĩ cần Các
hệ thống hỗ trợ chẩn đoán, hỗ trợ điều trị được lập trình sẵn giúp tránh sai sót Các đơn thuốc được in ấn rõ ràng, tránh nhầm lẫn khi dùng thuốc [38]
+ Hệ thống thông tin nội bộ: Các bác sĩ có thể trao đổi thông tin chuyên môn qua các forum nội bộ Hệ thống này có thể dùng làm hội chẩn và đào tạo liên tục (CME) Giám đốc có thể gửi ngay thông điệp mỗi ngày đến toàn thể nhân viên, những thông tin này lập tức xuất hiện ngay trên màn hình làm việc của nhân viên [38]
+ Nghiên cứu khoa học: Những dữ liệu bệnh án được lưu trữ lâu dài, dễ dàng trích xuất, thống kê một cách nhanh chóng và chính xác [38]
- Lợi ích đối với người bệnh:
Trang 24+ Tiết giảm thời gian chờ đợi của người bệnh: Các thông tin hành chính người bệnh được lưu trữ trên thẻ người bệnh và trên máy chủ, có thể dùng lại qua thời gian, các thông tin thường xuyên không cần lập lại, với số lượng người bệnh đông, việc tiết giảm thời gian sẽ rất đáng kể Có thể lập nhiều trạm thu phí ở nhiều chỗ khác nhau giúp thuận tiện cho người bệnh nộp phí [38]
+ Không cần mang theo hồ sơ: Tài liệu người bệnh được lưu trữ trong hệ thống mạng, sắp xếp theo mã số người bệnh, khi người bệnh đến tái khám tất cả dữ liệu của người bệnh được thể hiện đầy đủ trên màn hình Đây là điều quan trọng đối với người bệnh có bệnh mạn tính [38]
+ Sao chép hồ sơ: Người bệnh có thể yêu cầu sao chép toàn bộ hồ sơ một cách nhanh chóng dưới dạng digital hoặc bản in mà không làm mất hồ sơ gốc tại
BV [38]
+ Tài liệu y khoa rõ ràng: Người bệnh nhận được các tài liệu in dưới dạng vi tính, đẹp mắt, rõ ràng, tránh nhầm lẫn nguy hiểm do chữ viết tay không rõ ràng [38]
+ Dịch vụ an toàn: Người bệnh nhận được dịch vụ khám và điều trị an toàn nhờ hệ thống hỗ trợ chẩn đoán và hỗ trợ điều trị Hệ thống không chỉ là nơi lưu trữ thông tin mà còn là phương tiện nhắc nhở bác sĩ đối với những sai sót thường ngày như trùng tên thuốc, thuốc có tác dụng đối kháng, có hại khi dùng chung, thuốc chống chỉ định [38]
+ Truy cập internet để sao lục thông tin sức khỏe của mình: Những tài liệu y khoa như xét nghiệm, nội soi, đơn thuốc… được lưu trữ trong website của BV trong những thư mục riêng giúp người bệnh có thể truy cập bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu Người bệnh có hẳn một bộ bệnh án đầy đủ, tích lũy từ nhiều lần khám bệnh, giúp xem xét lại toàn bộ lịch sử bệnh tật của mình [38]
+ Hóa đơn tài chính minh bạch: Người bệnh cảm thấy thoải mái khi nhận hóa đơn minh bạch từ hệ thống máy vi tính [38]
1.2 Thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện trên thế giới, tại Việt Nam và tỉnh Đồng Tháp
1.2.1 Ứng dụng CNTT trong QLBV trên thế giới
Trang 25Các quốc gia trên thế giới đều nhận thức rõ vai trò quan trọng của CNTT đối với sự phát triển mạnh mẽ của ngành y tế, do đó đã xây dựng các chương trình quốc gia về công nghệ thông tin y tế nhằm thích nghi với thời đại mới [39]
Thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện qua một số nghiên cứu tại một
số quốc gia trên thế giới
Tại Ấn độ, các nhà phân tích nhận định rằng, ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe của Ấn Độ sẽ đạt 155 tỷ USD doanh thu vào năm 2017 Narayana Hrudayalaya là một trong những BV thành công nhất trong việc ứng dụng CNTT để cung cấp những dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao với giá cả phải chăng [48]
Theo nghiên cứu của Tiến sĩ Devi Shetty, người sáng lập chuỗi BV Narayana Hrudayalaya - Ấn độ hiện 70% dân số Ấn Độ sinh sống ở khu vực nông thôn nhưng
có đến 80% bác sĩ và 60% BV tập trung ở khu vực thành thị Điều đó giúp mở ra một cánh cửa mới cho y học từ xa và X-quang chính là lĩnh vực chịu tác động lớn nhất Chuỗi BV Narayana Hrudayalaya không có bác sĩ X-quang cao cấp tại từng
BV mà chỉ có một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh duy nhất chịu trách nhiệm đọc kết quả
CT, MRI cho tất cả các BV trong nhóm BV cũng đã điều trị từ xa cho hơn 53.000 bệnh nhân từ khắp nơi trên Ấn Độ và tin rằng sẽ ngày càng có ít bệnh nhân phải đến
BV hơn, chỉ trừ những trường hợp cần được phẫu thuật Với các vấn đề về y tế, người bệnh có thể ở nhà và sử dụng các thiết bị cầm tay để chẩn đoán (như đo điện tâm đồ, xét nghiệm máu) và tương tác với bác sĩ thông qua video conferencing [48]
Các nhà quản lý tin rằng, Ấn Độ sẽ trở thành quốc gia đầu tiên tách biệt rạch ròi giữa y tế với sự sung túc Trong vòng 10 năm tới, tất cả người dân Ấn Độ sẽ được tiếp xúc với công nghệ cao trong việc chăm sóc sức khỏe Ấn Độ sẽ chứng minh cho cả thế giới biết rằng, sự giàu có của một quốc gia hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân [48]
Theo Nir Menachemi và các cộng sự về việc ứng dụng CNTT tại 109 các BV nhi trên toàn nước Mỹ thì việc ưu tiên sử dụng CNTT tại các BV làm hạn chế lỗi, sai sót trong chẩn đoán, chăm sóc và điều trị và góp phần thúc đẩy an toàn người bệnh (72,5%) Nghiên cứu cũng chỉ ra khó khăn lớn nhất khi triển khai CNTT tại
Trang 26các BV là BV không có khả năng cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh (85,4%) Ngoài ra một số khó khăn khác như là thiếu nguồn lực CNTT (82,3%) và khó đạt được sự chấp nhận của người dùng cuối (82,2%) [57]
Một khảo sát khác của Hiệp hội các bệnh viện Mỹ ở hơn 1500 BV cộng đồng trong 2 năm 2005 và 2006 cho thấy có sự tiến bộ của việc ứng dụng CNTT trong các bệnh viện, nhưng còn xa mới đạt được mục tiêu phổ cập Mặc dù có một số lợi ích của việc ứng dụng CNTT trong việc cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe nhưng tài chính vẫn là yếu tố trở ngại lớn nhất cho các BV, do vậy có thể cần sự chia sẻ đầu tư giữa người cung cấp và người hưởng lợi Một số trở ngại khác là thiếu hệ thống có thể chia sẻ thông tin một cách rõ ràng, các quy trình quản lý thay đổi và thiếu các nhân viên IT được đào tạo [21]
1.2.2 Ứng dụng CNTT trong QLBV tại VN
Theo báo cáo tổng quan Ngành y tế năm 2015, Ứng dụng công nghệ thông tin
là một trong những ưu tiên của ngành và của hầu hết các lĩnh vực Bộ Y tế đã ban hành danh mục các giao thức tiêu chuẩn kỹ thuật ứng dụng công nghệ thông tin trong các hệ thống thông tin y tế được áp dụng để làm căn cứ trong hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn ngành Kiến trúc tổng thể về y tế điện tử đang nghiên cứu, ứng dụng trong một số lĩnh vực Thủ tục hành chính công được ưu tiên cung cấp trực tuyến như đăng ký dược, mỹ phẩm, cấp phép hành nghề, hướng dẫn quản lý chất lượng BV [13]
Tại Việt Nam có một số ít các công trình nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ thông tin trong y tế
Theo báo cáo năm 2016 tại Hội thảo toàn cảnh CNTT-TT Việt Nam lần thứ 21 của Ts Bs Tăng Chí Thượng – Phó Giám đốc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, toàn thành phố còn 10 BV chưa có Phần mềm quản lý bệnh viện; 14 BV (15%) đạt được 11 phân hệ; 48 BV (52%) có từ 7 – 9 phân hệ chiếm đa số; các phần mềm quản lý XN, chẩn đoán hình ảnh thường chạy độc lập; hơn 20 Cty cung cấp phần mềm cho các BV; 53 BV (58%) thực hiện các biểu mẫu báo cáo tổng kết một cách thủ công [44]
Trang 27Luận văn Thạc sỹ quản lý BV của tác giả Trần Ngọc Luân - QLBV khóa 7 nghiên cứu về “Thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý BV tại BV Đa khoa Tâm Trí - Đồng Tháp năm 2015” Kết quả trình độ tin học của cán bộ nhân viên trong
BV, nghiên cứu cho thấy kết quả tại BV Đa khoa Tâm Trí Đồng Tháp có tỷ lệ nhân viên sử dụng máy tính cho công việc khá cao, nhân viên có chứng chỉ A tin học chiếm tỷ lệ 66% và chứng chỉ B tin học chiếm 19% Ngoài đội ngũ nhân viện phòng CNTT có trình độ chuyên môn cao về tin học thì tại BV không có đối tương nào có chứng chỉ C trở lên [20]
Nghiên cứu của tác giả Vũ Hoài Nam về mô tả thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác khám chữa bệnh và xác định một số yếu tố liên quan bao gồm các văn bản chỉ đạo, văn bản quy định hệ thống tổ chức, nhân lực tài chính; Trình độ, quyết tâm của đội ngủ quản lý, điều hành, vận hành và sử dụng hệ thống, trong đó vai trò của người lãnh đạo của đơn vị là rất lớn; các quy trình, quy chế chuyên môn, công nghệ và các chuẩn kỹ thuật đến ứng dụng công nghệ thông tin trong báo cáo công tác khám chữa bệnh tại một số BV đa khoa tuyến tỉnh năm
2009 Kết quả cho thấy có 83,06% BV đã có tổ chức CNTT và có mạng Lan trong đó: 27,42% BV mạng LAN chưa phủ kính đơn vị Có 88,80% máy chủ hoạt động từ trung bình trở lên; 7,69% hoạt động kém và 3,51% hỏng, không đáp ứng được công việc Có 83,06% đơn vị đã sử dụng phần mềm trong báo cáo công tác khám chữa bệnh, trong đó có 20,16% BV tự xây dựng riêng [23]
Theo Vũ Thị Lâm (2011), nghiên cứu “Thực trạng ứng dụng hồ sơ bệnh án điện tử tại BV Việt Pháp Hà Nội năm 2011”, từ khi bệnh án điện tử được áp dụng,
xu hướng các ca bệnh được ứng dụng bệnh án điện tử trong khám và điều trị bệnh tăng lên từ 28% đến 66% từ tháng 06 đến tháng 8/2011 Bên cạnh đó, số lượng Bác
sĩ sử dụng bệnh án điện tử cũng tăng từ 50% (tháng 6/2011) lên đến 90% (tháng 8/2011) Việc áp dụng bệnh án điện tử đã góp phần công khai, minh bạch trong KCB cho NB, giúp NB biết: Kết quả xét nghiệm, tiền thuốc lưu trong đơn thuốc; theo dõi được diễn biến bệnh nếu NB đến khám đều đặn, đồng thời cũng góp phần giảm các chi phí cho chăm sóc sức khỏe của NB [21]
Trang 28Theo Nguyễn Thi Thục Oanh (2015), nghiên cứu “Nhận xét thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý BV tại BV Đa khoa Vĩnh Long năm 2015” Qua kết quả nghiên cứu, đối chiếu với 8 phân hệ quản lý theo quy định của Bộ y tế BV thực hiện 50% còn thiếu 04 phân hệ là: QL cận lâm sàng, QL nhân sự_ tiền lương, QL chỉ đạo tuyến, QL trang thiết bị y tế Phân hệ đạt cao nhât là 86,95% ” Phân hệ quản lý khoa khám bệnh”, phân hệ đạt thấp nhất là ” Phân hệ quản lý khoa lâm sàng/bệnh nhân nội trú” đạt 54,5% Một số biểu mẫu báo cáo cho Bộ y tế và BHXH không kết xuất được tại tất cả các phân hệ Phòng Tài chính kế toán BV đang phải sử dụng 3 phần mềm: Medisoft, Misa và của BHYT Đây là một tồn tại lớn của phần mềm cần được điều chỉnh và bổ sung hợp lý Phòng Tổ chức được trang bị phần mềm Quản lý nhân sự
- chấm công- tiền lương nhưng chưa thực hiện [24]
bị đủ, hoặc dã qua thời gian sử dụng lâu năm, chưa thay mới được do kinh phí còn hạn hẹp và đứng trước cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định 16/NĐ_CP [14] nên các đơn vị còn khó khăn trong quá trình triển khai và thực hiện Nhân sự có một số đơn vị chưa đảm bảo nhân lực chuyên trách CNTT theo quy định Bộ Y tế
Ngày 30/12/2011, UBND Tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết định số UBND-HC về việc phê duyệt quy hoạch phát triển công nghệ thông tin Tỉnh Đồng
1199/QĐ-Tháp giai đoạn 2011-2020 với chỉ tiêu đặt ra “đến năm 2020, 100% bệnh viện trên
địa bàn tỉnh sử dụng phần mềm quản lý tổng thể bệnh viện; trên 50% bệnh viện được trang bị hệ thống chẩn đoán bệnh từ xa; 80% cơ sở y tế cấp huyện trở lên được trang bị phần mềm quản lý khám và điều trị; hoàn thiện mạng y tế và cập nhật các thông tin y tế, hệ thống cảnh báo dịch bệnh và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng lên mạng” [46]
Trang 29Ngày 22/2/2016 Sở Y tế Đồng Tháp đã tổ chức Hội nghị triển khai Thông tư 37/2015/TTLT-BYT-BTC và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám chữa bệnh của Tỉnh Đồng Tháp [30] Dự Hội nghị gồm lãnh đạo Sở Y tế, lãnh đạo các Phòng ban, cán bộ CNTT tại các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện, các trung tâm y tế trên toàn tỉnh Trong Hội nghị đại biểu đã được nghe triển khai Thông tư 37/2015/TTLT-BYT-BTC và nghe báo cáo tình hình ứng dụng CNTT trong quản lý khám chữa bệnh Qua thảo luận, các đơn vị trong Tỉnh Đồng Tháp còn gặp khó khăn do mỗi đơn vị tự thiết kế phần mềm quản lý bệnh viện nên chưa đáp ứng hết được yêu cầu của Bộ Y tế quy định [30] Đồng thời Sở Y tế Đồng Tháp ban hành
kế hoạch về việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động ngành y tế năm
2018 với mục tiêu “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản
lý, điều hành nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, cải tiến môi trường làm việc trên môi trường điện tử” [31]
Dưới sự chỉ đạo của Cục Công nghệ thông tin về việc tăng cường ứng dụng CNTT tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp đã có văn bản chỉ đạo các đơn vị trực thuộc ngành y tế toàn tỉnh “phải tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, và trong quá trình thực hiện có khó khăn vướng mắc đề nghị báo cáo ngay về Sở Y tế” [11]
1.3 Những yếu tố thuận lợi khó khăn trong ứng dụng CNTT trong QLBV
* Thuận lợi:
Thời gian qua, được sự quan tâm và chỉ đạo sâu sắc của các ngành, các cấp lãnh đạo, Cục công nghệ thông tin liên tục ban hành các văn bản về việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý bệnh viện, vào các hoạt động quản lý thông tin KCB tại bệnh viện [50] Tuy nhiên để đạt được hiệu quả như mong đợi, việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố: Yếu tố kỹ thuật, trang thiết bị cơ sở hạ tầng; Yếu tố tổ chức; Yếu tố liên quan đến người sử dụng; Yếu tố liên quan đến chất lượng phần mềm
Yếu tố kỹ thuật, trang thiết bị cơ sở hạ tầng:
- Hầu hết các đơn vị tự thiết kế phần mềm theo nhu cầu thực tế, phần mềm được thiết kế với giao diện thân thiện, các chức năng, báo cáo đáp ứng được nhu cầu công
Trang 30việc của người sử dụng, với các quy trình thực hiện phù hợp và logic với tình hình thực
tế, tạo thuận lợi cho nhân viên y tế trong quá trình thực hiện và ứng dụng
- Về hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin y tế, Bộ Y tế và 100% đơn vị thuộc/trực thuộc Bộ, các Sở y tế, các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh có mạng LAN toàn cơ quan và kết nối Internet tốc độ cao; có đủ 100% máy tính cho công chức, viên chức, người lao động có nhu cầu ứng dụng CNTT trong công việc [13]
Cơ chế chính sách
Môi trường bên trong:
- Có quy trình, kế hoạch triển khai rõ ràng, hợp lý và được giám sát chặt chẽ
Có kế hoạch kiểm tra định kỳ việc thực hiện ứng dụng CNTT tại đơn vị
- Nguồn nhân lực CNTT được chuẩn bị khá đầy đủ, có trình độ tương đối cao đáp ứng đầy đủ theo yêu cầu của cơ quan, đơn vị
- Đội ngũ nhân viên y tế đa số có trình độ tin học căn bản, tiếp cận nhanh với phần mềm, và công tác đào tạo và đào tạo lại cũng được lãnh đạo quan tâm
Môi trường bên ngoài:
- Cục Công nghệ thông tin Bộ Y tế, các Sở Y tế luôn ban hành các văn bản đẩy mạnh ứng dụng CNTT tại các bệnh viện [45] [49]
- Hàng năm Bộ Y tế, Bộ Tài chính, UBND các Tỉnh, thành phố đều có kế hoạch dự trù kinh phí đầu tư cho việc trang bị các thiết bị phần cứng phần mềm, cơ
sở hạ tầng mạng Tháng 03/2017, Bộ Y tế ban hành Kế hoạch số 266/KH-BYT về việc triển khai ứng dụng CNTT trong quản lý khám chữa bệnh và thanh toán BHYT năm 2017 Trong kế hoạch nêu rõ: Vụ Kế hoạch - Tài chính tổng hợp nhu cầu báo cáo Lãnh đạo Bộ Y tế đề nghị Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch - Đầu tư bố trí kinh phí
để thực hiện các nhiệm vụ theo Kế hoạch này; Ưu tiên bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước, từ các dự án để thực hiện các nhiệm vụ trong giai đoạn 2016 – 2020 [23]
Yếu tố liên quan đến nhân lực:
- Nhân viên y tế đa số có trình độ tin học căn bản nên việc tiếp cận hệ thống phần mềm rất thành thạo
- Đội ngũ nhân lực CNTT tại đơn vị được bố trí khá đầy đủ để đáp ứng được việc hỗ trợ về kỹ thuật phần cứng phần mềm khi cần thiết Các bác sĩ Việt Nam
Trang 31ngày nay đã hầu hết đã biết sử dụng máy tính, thích nghi được với CNTT, sử dụng internet để tự nâng cao kiến thức chuyên môn và ứng dụng trong khám chữa bệnh [37]
- Lãnh đạo đơn vị luôn quan tâm và đưa ra các hình thức khen thưởng cho các đơn vị khoa phòng, các cá nhân thực hiện tốt việc ứng dụng CNTT để tạo động lực làm việc cho NVYT Ngoài ra, lãnh đạo cũng rất chú ý đến sự phân công công việc một cách hợp lý, hạn chế bố trí nhân viên lớn tuổi ở vị trí tiếp cận CNTT để hạn chế sai sót trong khâu nhập liệu
Yếu tố liên quan nguồn tài chính:
- Hàng năm, lãnh đạo đơn vị lập kế hoạch dự trù kinh phí để đầu tư cho hoạt động ứng dụng CNTT tại đơn vị
- Tranh thủ các nguồn viện trợ từ lãnh đạo UBND tỉnh, Sở Y tế, các công ty đầu tư cho hoạt động ứng dụng CNTT
Yếu tố liên quan thông tin truyền thông:
- Tìm hiểu các đơn vị khác có sử dụng phần mềm giống đơn vị của mình của cùng công ty cung cấp phần mềm để so sánh hiệu quả
- Tổ chức tập huấn, truyền thông thông tin về phần mềm đến người sử dụng Yếu tố liên quan chất lượng phần mềm:
Bộ Y tế ban hành các tiêu chuẩn phần mềm được thiết kế phải tuân thủ theo quy định tại Quyết định 5573 của Bộ Y tế [1], chất lượng phần mềm phải đạt các tiêu chuẩn phù hợp với thông số kỹ thuật hệ thống, chạy có hiệu quả, tuân theo quy chuẩn, sử dụng công nghệ hiện đại và được chỉnh sửa một cách dễ dàng, các tính năng được thực hiện chính xác, đầy đủ, hệ điều hành tin cậy, nhất quán, dễ sử dụng,
hỗ trợ một cách nhanh chóng và chính xác[52]
* Khó khăn
Bên cạnh những thành tựu đạt được trong quá trình đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào quản lý bệnh viện thì vẫn còn tồn tại một số yếu tố khó khăn, hạn chế liên quan đến trang thiết bị, cơ sở hạ tầng mạng; nguồn lực; người sử dụng và chất lượng của hệ thống phần mềm
Trang 32Theo đánh giá của Bộ Y tế, khó khăn chung trong ứng dụng CNTT của ngành y tế là hạ tầng chung của ngành y tế còn nhiều yếu kém; chưa có trung tâm
dữ liệu y tế quốc gia; chưa có hệ thống đường truyền kết nối ngành y tế; nhiều dịch
vụ kèm theo chưa có (hệ thống quản lý chữ ký số dùng trong y tế, quản lý định dạng cho từng cơ sở KCB) [26]
Yếu tố trang thiết bị cơ sở hạ tầng mạng
- Cơ sở vật chất, phòng ốc của BV có diện tích rộng lớn nên việc xây dựng
hệ thống mạng nội bộ, cơ sở hạ tầng mạng có đường truyền và tốc độ ổn định là một việc tương đối khó
- Một số đơn vị do kinh phí còn hạn hẹp nên các thiết bị phần mềm chưa được đầu tư đồng bộ, không đủ đáp ứng nhu cầu công việc
- Một số lãnh đạo chưa thật sự quan tâm đến việc ứng dụng CNTT tại đơn vị nên công tác quản lý và triển khai chưa được chặt chẽ, hiệu quả chưa cao
Yếu tố liên quan nhân lực:
- Trình độ tin học của nhân viên y tế còn nhiều hạn chế, nhóm tuổi từ 40 trở lên, việc đào tạo và sử dụng phần mềm thành thạo là một việc rất khó khăn, nhưng đây là một số lượng nhân sự chiếm đa số trong tổng số lượng nhân sự của BV
- Trong công tác kiểm tra của lãnh đạo BV chưa được chặt chẽ, chưa có biện pháp chế tài cụ thể trong việc ứng dụng CNTT tại đơn vị Chưa có chính sách đãi ngộ, tạo động lực cho nhân viên y tế trong việc sử dụng CNTT tại đơn vị
- Một số đơn vị nguồn nhân lực chuyên trách CNTT còn hạn chế về số lượng
và chất lượng nên công tác hỗ trợ chuyên môn đôi lúc chưa kịp thời
Yếu tố liên quan nguồn tài chính
Trang 33Một số đơn vị, Sở Y tế, UBND tỉnh nguồn kinh phí còn hạn hẹp, nên việc đầu tư cho ứng dụng CNTT tai các đơn vị trực thuộc còn hạn chế
Yếu tố liên quan truyền thông thông tin
Công tác truyền thông các thông tin về việc sử dụng phần mềm tại đơn vị chưa được chặt chẽ và hiệu quả chưa cao
Yếu tố liên quan chất lượng phần mềm:
- Bộ Y tế chưa có một phần mềm quản lý tổng thể dùng chung hiệu quả nên mỗi đơn vị tự xây dựng một hệ thống phần mềm đáp ứng nhu cầu sử dụng của đơn vị nên mỗi đơn vị có cách thiết kế hệ thống khác nhau, khó khăn trong việc liên thông
dữ liệu với Sở Y tế, Bộ Y tế và các đơn vị trong toàn tỉnh, huyện và khu vực [13]
- Từ trước đến nay, chúng ta đã ứng dụng CNTT trong ngành y tế nhưng hoạt động này vẫn manh mún và không gắn kết với nhau Nguyên nhân là do các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động này còn ít và các bệnh viện đều phải tự làm
về CNTT [44], nên dữ liệu không được đồng bộ
Ứng dụng CNTT còn manh mún, nhỏ, rời rạc, chỉ có một vài hệ thống thông tin của một số lĩnh vực theo ngành dọc; các hệ thống đã xây dựng không có khả năng kết nối, trao đổi thông tin Điều này làm hạn chế khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thu thập, xử lý, phân tích và phổ biến thông tin Chưa có những nền tảng cần thiết cho việc ứng dụng CNTT bài bản, thống nhất, bảo đảm việc kết nối, trao đổi thông tin giữa các hệ thống như danh mục chung, kiến trúc và thiết kế tổng thể hệ thống thông tin y tế, cơ sở dữ liệu tích hợp [13]
1.4 Phần mềm quản lý bệnh viện
Phần mềm là yếu tố quan trọng quyết định thành công hay thất bại trong việc triển khai thực hiện ứng dụng CNTT tại đơn vị Tuy nhiên để có được phần mềm chuẩn, hoạt động ổn định, hiệu quả, phù hợp với quy trình làm việc tại đơn vị là một bài toán khó, có đủ kinh phí cũng chưa chắc đã thực hiện được
Để có được phần mềm ổn định, Bộ thông tin và Truyền thông cũng đưa ra chuẩn quốc gia về chất lượng sử dụng của phần mềm Phần mềm được xây dựng phải đạt các tính năng về hiệu quả, năng suất, an toàn với độ bảo mật cao và sự thõa mãn của người dùng khi sử dụng phần mềm
Trang 34Như vậy, tính hiệu quả ở đây là khả năng cho phép người dùng đạt được mục đích Phần mềm ở lĩnh vực nào thì phải đáp ứng các yêu cầu của người dùng ở lĩnh vực đó
Theo Quyết định 5573/QĐ-BYT của Bộ Y tế, về nội dung phần mềm QLBV phải bao gồm 8 phân hệ cơ bản: [1]
- Phân hệ quản lý khoa khám bệnh;
- Phân hệ quản lý khoa lâm sàng/người bệnh nội trú;
- Phân hệ quản lý cận lâm sàng;
- Phân hệ quản lý dược BV;
- Phân hệ quản lý thanh toán viện phí và bảo hiểm y tế;
- Phân hệ quản lý nhân sự, tiền lương;
- Phân hệ quản lý chỉ đạo tuyến;
- Phân hệ quản lý trang thiết bị y tế;
Trong mỗi phân hệ đều quy định các tiêu chí quản lý cụ thể và chi tiết Về các tiêu chí kỹ thuật, phần mềm phải đảm bảo 7 tiêu chí sau: [1]
- Tiêu chí mở;
- Tiêu chí kết nối;
- Tiêu chí an toàn dữ liệu và bảo mật thông tin;
- Tiêu chí sao lưu dự phòng và phục hồi dữ liệu;
- Tiêu chí thống nhất các danh mục sử dụng trong phần mềm;
- Tiêu chí phông chữ UTF-8;
- Tiêu chí chuẩn cở sở dữ liệu: HL7 (với phần mềm chẩn đoán hình ảnh có thêm chuẩn DICOM, PACS)
Tuy Quyết định 5573/QĐ-BYT không đề cập đến quy định một chuẩn trang thiết bị vi tính khi triển khai ứng dụng CNTT, nhưng để một hệ thống phần mềm hoạt động hiệu quả, cần trang bị cơ sở hạ tầng mạng, thiết bị phần cứng máy tính, máy in, máy chủ,… để đảm bảo hệ thống thông tin hoạt động xuyên suốt, hiệu quả với chất lượng thông tin đáng tin cậy và phần mềm đạt chất lượng cao
1.5 Thông tin chung về Bệnh viện đa khoa Sa Đéc
BV Đa khoa Sa Đéc là một BV công lập được xếp hạng II tuyến tỉnh, theo quy định thực hiện 7 chức năng và nhiệm vụ của Bộ Y tế giao cho BV Đa khoa Sa Đéc với quy mô 500 giường bệnh (thực kê 771 giường) được tổ chức gồm Ban
Trang 35Giám đốc, 8 phòng chức năng, 14 khoa lâm sàng và 02 khoa cận lâm sàng và 03 khoa không giường bệnh Tính đến tháng 11/2017 BV hiện có 563 nhân viên y tế (trong đó: sau đại học: 57; đại học: 87; cao đẳng: 12; trung học: 301; sơ học: 05; khác: 101) Mỗi năm BV tiếp nhận khám và điều trị khoảng 363.534 lượt người bệnh (NB) ngoại trú và trên 45.753 NB nội trú
Thực hiện chủ trương tin học hóa quản lý BV của Nhà nước và Bộ Y tế, đơn
vị đã triển khai ứng dụng tin học vào quản lý BV Tuy nhiên trong quá trình thực hiện bên cạnh những thuận lợi đạt được trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ KCB trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và trong hoạt động quản lý bệnh viện vẫn còn nhiều khó khăn bất cập cần được xem xét và giải quyết
Trang 361 Phân hệ quản lý khoa khám bệnh
2 Phân hệ quản lý khoa lâm sàng/người bệnh nội trú
3 Phân hệ quản lý cận lâm sàng
4 Phân hệ quản lý dược BV
5 Phân hệ quản lý viện phí và thanh toán bảo hiểm y tế
6 Phân hệ nhân sự tiền lương
7 Phân hệ chỉ đạo tuyến
8 Phân hệ quản lý trang thiết bị
- Ứng dụng 8 phân hệ thỏa các tiêu chí về quản lý và
ưu tiên ứng dụng CNTT
Quản lý Kế hoạch triển khai Đào tạo Giám sát Kiểm tra Tài chính Các văn bản
- Môi trường bên ngoài + Sự quan tâm của BYT, SYT
+ Đơn vị cung cấp phần mềm + Sự chia sẽ của các đơn vị khác có
-
-
- Nguồn tài chính đầu tư cho CNTT:
phần cứng, phần mềm
- Nguồn nhân lực CNTT chuyên trách
- Nguồn nhân lực
có kiến thức cơ bản về CNTT
Yếu tố tài chính
Yếu tố nhân lực
- Tìm hiểu các đơn vị khác sử dụng chung phần mềm
- Thông tin truyền thông các nội dung đến người sử dụng
Yếu tố thông tin truyền thông
- Chất lượng thông tin
- Hệ thống hoạt động hiệu quả
- Chất lượng phần mềm
Yếu tố phần mềm
Trang 37Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Lãnh đạo BV, Trưởng, phó khoa Phòng, nhân viên y tế (NVYT) làm việc tại
BV, có liên quan đến sử dụng phần mềm quản lý tổng thể tại BV Đa khoa Sa Đéc
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Các báo cáo thống kê, tổng kết được ban hành
- NVYT có mặt tại thời điểm nghiên cứu và làm việc ít nhất một năm trở lên
- NVYT trực tiếp thao tác trên phần mềm, người có liên quan đến hoạt động ứng dụng CNTT trong quản lý BV tại BV đa khoa Sa Đéc
- Người đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- NVYT không có mặt tại BV trong thời điểm nghiên cứu
- NVYT làm việc không liên quan đến phần mềm quản lý tổng thể BV (bảo
vệ, lái xe, y công, nhân viên hành chính không thao tác trên phần mềm)
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ 01/02/2018 đến 30/06/2018
- Địa điểm: Tại BV Đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính Nghiên cứu định tính thực hiện sau nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng nhằm mục tiêu: mô tả thực trang ứng dụng công nghệ thông tin tại bệnh viện Nghiên cứu định tính nhằm mục tiêu: tìm hiểu một số khó khăn và thuận lợi trong việc ứng dụng CNTT tại bệnh viện
Trang 382.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu:
Phần mềm; Phần cứng, cơ sở vật chất, hạ tầng mạng
Số liệu sơ cấp:
- Điều tra định lượng bằng các bảng kiểm được xây dựng sẵn:
Trao đổi trực tiếp với Tổ trưởng Tổ CNTT về các phân hệ mà phần mềm đã triển khai và đang áp dụng
và lấy thêm 10% dự phòng, chọn cỡ mẫu nghiên cứu là 117 đối tượng Các đối tượng được chọn ngẫu nhiên hệ thống dựa trên danh sách NVYT có sử dụng phần mềm QLBV (gồm 521 người) với bước nhảy k = 4
- Điều tra định lượng bằng câu hỏi phát vấn: Chọn ngẫu nhiên NVYT gồm Bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, nhân viên tài chính kế toán, với số lượng 117 nhân viên (Phụ lục 1) Điều tra lãnh đạo các Khoa lâm sàng và cận lâm sàng, một số lãnh đạo Phòng chức năng có sử dụng nhiều phần mềm quản lý bệnh viện (Phòng KHTH, Tài chính kế toán, VTTBYT) Mỗi
Trang 39khoa chọn 5 NVYT (mỗi tua trực chọn 01 NVYT theo lịch trực từ thứ hai đến thứ sáu) và không chọn lại NVYT đã phát vấn rồi
- Điều tra định tính kết hợp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm 20 cán bộ, nhân viên (Phụ lục 8)
+ Phỏng vấn sâu 01 lãnh đạo phụ trách trực tiếp công tác ứng dụng CNTT,
01 Tổ trưởng Tổ CNTT và 08 lãnh đạo Khoa Phòng Thực hiện 02 cuộc thảo luận nhóm, mỗi cuộc 05 nhân viên y tế
Quá trình thu thập thông tin định tính sẽ dừng lại khi thông tin bão hòa Tiêu chí loại trừ:
- NVYT không có mặt tại BV trong thời điểm nghiên cứu
- NVYT làm việc không liên quan đến phần mềm quản lý tổng thể BV (bảo
vệ, lái xe, y công, nhân viên hành chính không thao tác trên phần mềm)
2.5 Phương pháp thu thập số liệu:
* Số liệu thứ cấp:
Nghiên cứu viên sẽ trực tiếp đến các bộ phận có liên quan gặp lãnh đạo khoa phòng nêu rõ mục đích nghiên cứu và yêu cầu được cung cấp số liệu Thu thập số liệu thứ cấp theo mẫu là các bảng trống có sẵn để thu thập thông tin từ các báo cáo về hoạt động ứng dụng CNTT tại đơn vị (Phụ lục 9.1, Phụ lục 9.2, Phụ lục 9.3)
* Số liệu sơ cấp:
- Thu thập số liệu định lượng
+ Nghiên cứu viên làm việc trực tiếp với Tổ trưởng Tổ CNTT Nội dung công việc là sẽ đối chiếu các phân hệ trong phần mềm quản lý tổng thể BV đang áp dụng so với các tiêu chí của từng phân hệ theo Quyết định 5573/QĐ-BYT của Bộ Y
tế theo 08 bảng kiểm đã được xây dựng sẵn dựa vào 08 phân hệ theo Quyết định 5573/QĐ-BYT (Phụ lục 2)
+ Bộ phiếu phát vấn có cùng cấu trúc dành cho nhân viên y tế (Phụ lục 3) Điều tra viên sự giao ban Khoa, Phòng vào mỗi buổi sáng, hướng dẫn cách trả lời câu hỏi, sau đó đợi nhân viên trả lời xong sẽ thu lại
- Thu thập số liệu định tính:
Trang 40+ Tiến hành phỏng vấn sâu đối tượng là đại diện lãnh đạo Bệnh viện và lãnh đạo một số Khoa, Phòng (Phụ lục 4.1), Tổ trưởng tổ CNTT (phụ lục 4.2) Nghiên cứu viên sẽ là người trực tiếp đến từng đối tượng và nêu rõ mục đích nghiên cứu, đề nghị trả lời các câu hỏi phỏng vấn sâu và xin phép được ghi âm nội dung phỏng vấn
+ Tiến hành thảo luận nhóm với nhân viên y tế khối lâm sàng (Phụ lục 5.1)
và khối cận lâm sàng (Phụ lục 5.2) Nghiên cứu viên sẽ là người trực tiếp tập hợp từng đối tượng và nêu rõ mục đích nghiên cứu, đề nghị trả lời, thảo luận các câu hỏi
và xin phép được ghi âm nội dung thảo luận
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá
Đánh giá các phân hệ phần mềm quản lý tổng thể mà BV đang ứng dụng: dựa vào các tiêu chí của Bộ Y tế theo Quyết định 5573/QĐ-BYT ngày 29/12/2006
về việc ban hành “Tiêu chí phần mềm và nội dung một số phân hệ phần mềm tin học quản lý BV” [1] Các tiêu chí phần mềm đang ứng dụng tại BV sẽ được tổng hợp và so sánh với các tiêu chí theo Quyết định 5573/QĐ-BYT
Qua kết quả điều tra định lượng phát vấn, bảng kiểm và phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm sẽ tìm hiểu và phân tích các yếu tố thuận lợi và khó khăn
2.8 Các chỉ số, biến số cần nghiên cứu:
Để mô tả thực trạng ứng dụng CNTT tại BV Đa khoa Sa Đéc, nhóm nghiên cứu sử dụng các biến sau (Phụ lục 7)