BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG TITTHASONE SOUNSAVATH KIẾN THỨC, THỰC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ HOÀN TOÀN TRONG 6 THÁNG ĐẦU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TITTHASONE SOUNSAVATH
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ HOÀN TOÀN TRONG 6 THÁNG ĐẦU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI HUYỆN XAY THA NY, THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN, LÀO NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TITTHASONE SOUNSAVATH
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ HOÀN TOÀN TRONG 6 THÁNG ĐẦU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI HUYỆN XAY THA NY, THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN, LÀO 2018
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐINH THỊ PHƯƠNG HÒA
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ tận tình của thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, các thầy cô, Trường Đại học Y tế công cộng đã có nhiều công sức đào tạo, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến PGS.TS Đinh Thị Phương Hòa và Ths Dương Kim Tuấn là thầy, cô giáo
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới lãnh đạo Bệnh viện huyện Xay tha ny cùng các bạn đồng nghiệp nơi tôi đang công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu làm luận văn
Sau cùng tôi xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các bạn trong lớp Thạc sỹ Y tế Công cộng khóa 20 và người thân trong gia đình đã cùng tôi chia sẻ những khó khăn
và dành cho tôi những tình cảm, động viên quý báu trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này./
Hà Nôi, tháng 10 năm 2018
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii
ĐẶT VẤN ĐỀ viii
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số kiến thức cơ bản về sữa mẹ và nuôi con bằng sữa mẹ 4
1.1.1.Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 4
1.1.2 Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ 5
1.2 Kiến thức và thực hànhnuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan 8
1.2.1 Một số nghiên cứu về Kiến thức và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu 8
1.2.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn 11 Yếu tố từ phía trẻ 11
1.3 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu: huyện Xay Tha Ny 13
KHUNG LÝ THUYẾT 15
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16
2.3 Thiết kế nghiên cứu 16
2.4 Cỡ mẫu 16
2.5 Phương pháp chọn mẫu 16
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 17
2.6.1 Công cụ thu thâ ̣p số liê ̣u 17
2.6.2 Phương pháp thu thâ ̣p số liê ̣u 17
2.7 Các biến số 18
2.8 Các khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá 18
2.8.1 Các khái niệm 18
2.8.2 Tiêu chuẩn đánh giá 18
2.9 Quản lý và phân tích số liệu 19
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 19
2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 19
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 21
3.2 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn 22
3.2.1 Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu 22
3.3 Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn 24
3.4 Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành NCBSMHT 29
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 33
4.1 Kiến thức và thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tại địa bàn nghiên cứu 33
4.1.1.Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu 33
4.1.2 Thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ 35
4.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu 36
Trang 54.3 Hạn chế của nghiên cứu 38
KẾT LUẬN 39
1 Kiến thức và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con từ 7-12 tháng tuổi: 39
2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu 39
KHUYẾN NGHỊ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
PHỤ LỤC 43
PHỤ LỤC 1: PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU 43
PHỤ LỤC 2: BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN 45
THÔNG TIN CHUNG VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM 45
M1: THỰC HÀNH NCBSM 46
KIẾN THỨC CỦA BÀ MẸ VỀ NCBSM 48
M2 KIẾN THỨC VỀ NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ 48
M3: TIẾP CẬN VỚI CÁN BỘ Y TẾ 51
M4: TIẾP CẬN TRUYỀN THÔNG 53
M5:ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC 54
PHỤ LỤC 3 BIẾN SỐ 57
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Bảng thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n=181) 21
Bảng 3.2 Thông tin về trẻ (n=181) 22
Bảng 3.3: Tỷ lệ trẻ cho ăn thêm trước 6 tháng (n=93) 23
Bảng 3.4 Lý do cho trẻ ăn thêm 6 tháng (n=93) 23
Bảng 3.5 Các loại thức ăn thêm 23
Bảng 3.5: Kiến thức về NCBSMHT 24
Bảng 3.6: Kiến thức về lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn 25
Bảng 3.7: Kiến thức về sữa non 26
Bảng 3.8: Kiến thức về cách giải quyết khi sữa mẹ không đủ cho trẻ 26
Bảng 3.9: Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ trong một số hoàn cảnh đặc biệt 27
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành NCBSMHT 29
Bảng 3.11: Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của bà mẹ với thực hành NCBSMHT 29
Bảng 3.12: Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của bà mẹ với thực hành NCBSMHT 30
Bảng 3.13: Mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin với thực hành NCBSMHT - trong thời gian 6 tháng đầu sau sinh 31
Bảng 3.14: Mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin với thực hành NCBSMHT - qua các phương tiện thông tin đại chúng (Thời gian trước sinh và sau sinh) 31
Bảng 3.15: Mối liên quan giữa điều kiện làm việc và cấu trúc hộ gia đình với thực hành NCBSM HT 32
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu 22 Biểu đồ 3.2 Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn 28
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc – United Nations
Children’s Fund WHO Tổ chức y tế Thế giới – World Health Organization
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là cách nuôi trẻ nhỏ lý tưởng nhất, cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng kể cả vitamin và khoáng chất cần thiết cho trẻ mà không cần bổ sung thêm bất cứ loại thức ăn, nước uống nào Tuy nhiên, chỉ
có 40% trẻ em trên thế giới được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Nhằm tìm hiểu nguyên nhân để cải thiện hiện trạng này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu“Kiến thức, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan của bà mẹ có con từ 7 đến 12 tháng tuổi tại huyện Xay Tha Ny, thủ đô Viêng Chăn, Lào năm 2018” với 2 mục tiêu: 1, Mô tả Kiến thức và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và 2, Xác định một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn ở bà mẹ có con từ 7 đến 12 tháng tuổi Nghiên cứu cắt ngang trên 181 bà mẹ có con từ 7 đến 12 tháng tuổi Thu thập số liệu qua phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ bằng bộ câu hỏi có cấu trúc Số liệu được nhập trên phần mềm Epidata 3.1 và được phân tích bằng phần mềm SPSS 18.0
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đạt về nuôi con bằng sữa
mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 72,9% Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đạt tỷ lệ 48,6% Trong số trẻ cho ăn thêm trước 6 tháng, có 24,2% được cho ăn thêm trong vòng 2 tháng đầu; 67,1% cho ăn thêm tại thời điểm 4 tháng và
và 31,9% cho ăn thêm trước 6 tháng Lý do chính không cho trẻ bú mẹ hoàn toàn là mẹ không đủ sữa (52,2%); trẻ quấy khóc (45,7%) và 20,7% do mẹ phải đi làm Nghiên cứu của chúng tôi không tìm được mối liên quan nào có ý nghĩa thống kê tới thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Tuy nhiên có sự khác biệt là tỷ lệ phụ nữ người dân tộc Mon-khơme thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (37,5%) thấp hơn hai nhóm dân tộc Lào-tai và Hmong-Dao (49,5) Cần thúc đẩy việc áp dụng kiến thức vào thực tế nhằm cải thiện thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn ở các
bà mẹ ở địa bàn nghiên cứu cũng như trong cả nước Các can thiệp của chương trình nuôi con bằng sữa mẹ cần ưu tiên tăng cường cho nhóm bà mẹ người dân tộc Mon – Khowme Các can thiệp của chương trình nuôi con bằng sữa mẹ cần ưu tiên tăng cường cho nhóm bà mẹ người dân tộc Mon-Khowme
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bú mẹ hoàn toàn là chỉ cho trẻ bú mẹ mà không cho bất cứ thức ăn, đồ uống nào khác, kể cả nước trắng, trừ trường hợp phải uống bổ sung các vitamin, khoáng chất hoặc thuốc theo chỉ định của thầy thuốc Cũng theo khuyến nghị của WHO, cần cho trẻbú mẹ hoàn toàn trong6 tháng đầu sau đẻ Vì trong giai đoạn này, chỉ có sữa mẹ là thức ăn lý tưởng nhất, cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng kể cả vitamin và khoáng chất cần thiết cho trẻ [34]
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (NCBSMHT)trong 6tháng đầu đời là can thiệp giảm tỷ
lệ bệnh tật, tử vong hiệu quả nhất cho trẻ em vì sữa mẹ có kháng thể giúp trẻ phòng bệnh, đặc biệt là viêm phổi và tiêu chảy [24] Theo một số nghiên cứu, chỉ riêng can thiệp cho trẻ
bú sớm và bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu có thể cứu sống được hơn 1 triệu trẻ em hàng năm [25]
Sữa mẹ còn là yếu tố thúc đẩy phát triển hệ thống miễn dịch, đáp ứng tích cực với tiêm phòng vác xin giúp trẻ hoàn thiện chức năng miễn dịch sau này Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn đặc biệt quan trọng ở các nước có thu nhập thấp, nơi có nguy cơ cao là thực phẩm chứa
vi khuẩn hoặc ký sinh trình và nguồn nước bị ô nhiễm Bú mẹ hoàn toàn làm giảm nguy cơ trẻ mắc các bệnh truyền nhiễm thông qua việc ăn bổ sung các thực phẩm khác Nuôi con bằng sữa mẹ còn mang lại lợi ích cho bà mẹ Một số nghiên cứu cho thấy rằng các bà mẹ cho con bú, giảm 6% nguy cơ phát triển ung thư vú xâm lấn; ngăn chặn khoảng 20.000 ca tử vong do ung thư vú mỗi năm đối với việc thực hành nuôi con bằng sữa mẹ [25]
Mặc dù lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ nói chung và NCBSMHT đã được khẳng định nhưng nhiều bà mẹ vẫn chưa hiểu biết đầy đủ và thực hành đúng về NCBSMHT cũng như thực hành đúng Đặc biệt, tỷ lệ cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu vẫn còn thấp và
có xu hướng giảm Số liệu của WHO và UNICEF cho thấy chỉ 40% trẻ em trên thế giới được
bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và chỉ có 23 quốc gia có tỷ lệ NCBSMHT trên 60% [10]
Ở Lào, tỷ lệ NCBSMHTtrong 6 tháng đầu cũng tương tự như thống kê trong toàn cầu là 40% với tỷ lệ ở thành thị (38%) thấp hơn so với nông thôn (41%)[30]
Huyện Xay Tha Ny là huyện ngoại thành của Thủ đô Viêng Chăn là khu vực nằm ở hai bên bờ sông Ngừm Huyện Xay Tha Ny bao gồm 11 trạm y tế xã có 104 làng, có dân số 196,600 người, trong đó nữ 98,300 người.Tổng số hộ là 39,400 hộ Dân số của huyện Xay Tha Ny chiếm 24% trong 9 huyện của Thủ đô Viêng Chăn Mặc dù nguồn thu nhập chính của huyện là nông nghiệp (70%) nhưng trong địa bàn cómột số nhà máy và khu công nghiệp
Trang 11hoạt động là cơ sở thu hút nhiều bà mẹ đến làm việc Đó cũng là nguyên nhân khiến một bộ phận các bà mẹ phải đi làm sớm sau khi sinh, ảnh hưởng đến việc cho trẻ bú mẹ, đặc biệt là
bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Theo báo cáo của Trung tâm Y tế huyện Xay Tha Ny thì
tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu năm 2017 là 30%, thấp hơn so với tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trên toàn quốc[17]
Để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng NCBSM ở một vùng ngoại thành đang có xu hướng
công nghiệp hóa như huyện Xay Tha Ny Chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện Xay Tha Ny , Thủ đô Viêng Chăn, Lào, năm 2018” Các kết quả thu được sẽ làm cơ sở để đề xuất các can
thiệp phù hợp nhằm nâng cao tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn ở địa bàn nghiên cứu
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của
bà mẹ có contừ 7 đến 12 tháng tuổitại huyện Xay Tha Ny, Thủ đô Viêng Chăn năm
2018
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹhoàn toàn trong
6 tháng đầu ởbà mẹ có con từ 7 đến 12 tháng tuổitại huyện Xay Tha Ny, Thủ đô Viêng Chăn năm 2018
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số kiến thức cơ bản về sữa mẹ và nuôi con bằng sữa mẹ
1.1.1.Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Sữa mẹ là sữa do vú mẹ sản xuất ra trong thời gian mang thai và cho con bú Sữa mẹ
có đầy đủ tất cả cá thành phần dinh dưỡng mà trẻ cần, bao gồm chất béo, đạm, đường, vitamin, muối khoáng và nước Các thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ dễ tiêu hóa, hấp thu, có sẵn trong bầu vú mẹ, không mất công chuẩn bị
Cơ chết tiết sữa mẹ: Khi mang thai, ngực của người mẹ sẵn sàng để sản xuất sữa
Vào quý 2 của thai kỳ, tuyến vú bắt đầu tạo sữa non Sữa này có màu vàng, đặc dính, rất giàu chất dinh dưỡng và các kháng thể Sau khi bé chào đời và rau thai đã bong, cơ thể mẹ bắt đầu sản xuất nhiều sữa hơn Trong vài ngày tiếp theo, lượng sữa tiếp tục tăng và sữa đổi màu trắng, trông có vẻ loãng hơn
Giải phẫu tuyến vú [6]:
Cấu trúc vú gồm 3 mô chính: mô tuyến, mô mỡ và mô liên kết Vú các bà mẹ có thể to nhỏ khác nhau tùy thuộc thành phần mô mỡ và mô liên kết nhiều hay ít, còn số lượng mô tuyến
vú thì hầu như tương đương nhau Tính từ ngoài vào trong vú gồm 5 lớp: da, mỡ dưới da và
tổ chức liên kết, dây chằng cooper treo vú, mô tuyến, mô sau tuyến
Phần mô tuyến được chia thành 15-20 thuỳ, sắp theo hình nan hoa, tập trung về núm vú Mỗi thùy gồm 38-80 tiểu thùy, có nhiều nang sữa
Sữa từ các tiểu thuỳ đổ vào các ống góp ở mỗi thuỳ (đường kính khoảng 2 mm), rồi tới các xoang chứa sữa dưới quầng vú (đường kính 5-8 mm) Có tất cả 5 -10 ống dẫn sữa mở ra ở núm vú Do cấu tạo đặc biệt của tuyến vú nên tắc sữa có thể xảy ra ở một hay nhiều nang sữa, một hoặc nhiều tiểu thùy, một hay nhiều thùy tuyến vú
Trong sữa mẹ bao gồm sữa non, sữa trưởng thành, sữa đầu và sữa cuối [7]
Sữa non: Sữa mẹ được bài tiết trong 3 ngày đầu được gọi là sữa non
Sữa non đặc sánh, màu vàng nhạt, trong đó chứa nhiều chất chống nhiễm khuẩn để bảo vệ cơ thể, đặc biệt là kháng thể chống mắc bệnh tiêu chảy và viêm đường hô hấp (2 bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ)
- Sữa non chứa nhiều vitamin A làm giảm nhiễm khuẩn nặng và phòng các bệnh về mắt
- Sữa non còn có tác dụng xổ nhẹ giúp cho việc đẩy phân su, ngăn chặn vàng da
- Sữa non có yếu tố phát triển, giúp cho hệ thống tiêu hóa của trẻ phát triển nhanh sau khi sinh, đề phòng chống dị ứng và không dung nạp với các thức ăn khác
Trang 14- Thành phần sữa non cũng chưa 1 lượng chất đạm cao hơn sũa trưởng thành, nhằm giúp trẻ tăng tạo đề kháng chống lại nhiễm trùng sau khi rời khỏi cơ thể mẹ
- Sữa có vị lờ lợ gần giống orezol giúp trẻ được bù đắp đầy đủ điện giải
- Nếu trẻ chỉ bú sữa đầu sẽ chóng đói và không bụ bẫm do thiếu năng lượng
Sữa cuối
- Trông đặc hơn vì có nhiều chất béo và có màu vàng hơn sữa đầu Chất béo cung cấp năng lượng cho bữa bú và cung cấp thêm cả một số vitamin tan trong dầu như vitamin A, D, E, K nên cần cho trẻ bú kiệt hết một bên vú mỗi bữa bú để trẻ nhận được đầy đủ lượng chất béo cần thiết
- Trẻ được bú sữa cuối sẽ no lâu hơn, đủ giá trị dinh dưỡng và trẻ bụ bẫm hơn những trẻ chỉ
bú sữa đầu
Nuôi con bằng sữa mẹ là cách nuôi dưỡng trong đó trẻ trực tiếp bú sữa mẹ hoặc được
nuôi bằng sữa mẹ vắt ra [33]
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là chỉ cho trẻ bú mẹ mà không cho ăn, uống bất
kỳ thức ăn, đồ uống nào khác kể cả nước chín, trừ trường hợp phải uống bổ sung các vitamin, khoáng chất hoặc thuốc theo chỉ định của thầy thuốc[11], [33]
Bú sớm: là cho trẻ bú ngay trong vòng 1 giờ sau khi sinh [33]
Sữa non: là sữa mẹ có trong 2 – 3 ngày sau đẻ
1.1.2 Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất, lý tưởng nhất cho trẻ nhỏ Nuôi con bằng sữa
mẹ là phương pháp tối ưu nhất trong thực hành nuôi dưỡng trẻ vì có đó là biện pháp nuôi con
tự nhiên, bảo đàm sự phát triển hoàn hảo cho trẻ, bảo vệ sức khỏe cho mẹ, mang lại lợi ích kinh tế cho gia đình, cộng đồng và xã hội
Trang 15Lợi ích đối với trẻ:
Sữa mẹ giúp trẻ chống lại bệnh tật đồng thời tăng cường sức khỏe và thúc đẩy sự tăng trưởng tối ưu của trẻ.Sữa mẹ có cả lợi ích ngắn hạn và dài hạn đối với trẻ Khi đứa trẻ vừa sinh ra, sữa mẹ chính là yếu tố miễn dịch đầu tiên giúp trẻ chống lại bệnh tật đồng thời có chứa các thành phần giúp phát triển và hoàn thiện hệ thống miễn dịch về sau Chính vì thế, trẻ được bú sữa mẹ ít mắc các bệnh tiêu chảy, viêm phổi và một số bệnh khác so với trẻ không được bú mẹ NCBSM cũng được nhiều nghiên cứu chứng minh là có liên quan đến khả năng giảm mắc các bệnh như đái tháo đường, bệnh tim mạch và béo phì khi ở tuổi trưởng thành [32]
Sữa mẹ là thức ăn duy nhất đáp ứng nhu cầu lớn lên và phát triển của trẻ Sữa mẹ thay đổi thành phần để đáp ứng nhu cầu thay đổi của trẻ trong các cữ bú cũng như trong suốt thời gian trẻ bú mẹ Khi đứa trẻ lớn lên, các thành phần trong sữa mẹ cũng thay đổi để đáp ứng những nhu cầu của trẻ đang lớn, điều mà các sản phẩm thay thế sữa mẹ không có được Với các lợi ích về dinh dưỡng, miễn dịch và các yếu tố cho sự lớn lên, phát triển, sữa mẹ được khẳng định là thức ăn lý tưởng nhất đối với trẻ mà không một thức ăn, nước uống nào
có thể thay thế được Nếu như tất cả các bà mẹ sinh con hàng năm đều cho con bú thì có thể ngăn ngừa được 823 000 trẻ dưới 5 tuổi tử vong hàng năm cho dù họ ở quốc gia giàu hay nghèo nào trên thế giới[25]
Đối với các trẻ từ 0-6 tháng tuổi, sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo, đáp ứng đầy
đủ nhu cầu trẻ, thúc đẩy sự phát triển cơ thể của trẻ và kích thích sự phát triển của não Sữa
mẹ không chỉ là nguồn thức ăn hoàn hảo nhất, được hấp thu hiệu quả nhấtđối với trẻ dưới 6 tháng mà còn cung cấp đầy đủ nước cho trẻ, ngay cả khi thời tiết nóng nực Sữa mẹ luôn sạch, sẵn sàng và đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ, nhấtlà trong những trường hợp khó khăn, khẩn cấp như bão lụt, chiến tranh [3]
Trẻ bú mẹ hoàn toàn bao gồm cả bú sớm và hoàn toàn trong vòng 1 giờ đầu sau đẻ
Bú sớm trong vòng 1 giờ sau đẻ là cung cấp cho trẻ nguồn sữa non quí giá có trong bầu vú
mẹ và có thể sẵn sàng cho con bú ngay sau khi sinh Sữa non chứa nhiều kháng thể,là “liều vắc xin đầu tiên” giúp trẻ chống nhiều bệnh nhiễm khuẩn mà trẻ có thể mắc khi lần đầu tiếp xúc với môi trường mới lại ngoài tử cung mẹ Sữa non còn có tác dụng xổ nhẹ, giúp thải phân su giảm mức độ vàng da Sữa non chứa nhiều yếu tố tăng trưởng giúp hoàn thiện cấu trúc của ruột Sữa non chứa nhiều vitamin A có tác dụng làm giảm độ nặng của các bệnh nhiễm khuẩn, giảm nguy cơ dị ứng Sữa non là thức ăn phù hợp nhất với trẻ mới sinh đồng thời cũng tạo nền tảng vững chắc cho sự lớn lên và phát triển của trẻ[35]
Trang 16Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đặc biệt mang quan trọngđối với trẻ sơ sinh đẻ non và nhẹ cân Ngoài những lợi ích của sữa mẹ đối với tất cả các trẻ nói chung, sữa
mẹ giúp trẻ đẻ non hoàn thiện bộ máy tiêu hóa, tăng cân, giảm nguy cơ một số bệnh hay xẩy
ra ở trẻ đẻ non như viêm ruột hoại tử, nhiễm khuẩn huyết.v.v Trẻ đẻ non, nhẹ cân được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn sẽ giảm đáng kể nguy cơ tử vong trong giai đoạn sơ sinh và di chứng tinh thần, vận động về sau [25], [25]
Lợi ích đối với bà mẹ
Cho trẻ bú sớm ngay sau khi sinh giúp xổ rau thuận lợi, co hồi tử cung tốt, giảm nguy
cơ mất máu cho mẹ Trẻ bú mẹ ngay và thường xuyên tăng cường quá trìnhtạo sữa và phòng cương tức sữa cho mẹ Nuôi con bằng sữa mẹ là hình ảnh đẹp về gắn bó mẹ con, tạo tâm lý thoải mái, tình cảm ấm áp giúp bà mẹ thoải mái, vui vẻ giảm nguy cơ trầm cảm NCBSM kéo dài được chứng minh là giảm nguy cơ bị loãng xương, đái đường và tăng huyết áp của mẹ[3],[3]
Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu cũng có tác dụng rất tốt cho sức khỏe của
mẹ như giảm thiếu máu, phòng ung thư vú, cổ tử cung…đồng thời là một biện pháp tránh thai hiệu quả cho mẹ, [3],[3]
Lợi ích với xã hội:
Nuôi con bằng sữa mẹ giúp tiết kiệm chi phí chăm sóc sức khỏe Kinh phí cho y tế của một đất nước mà trẻ được bú mẹ hoàn toàn thấp hơn những nước mà trẻ không được bú
mẹ hoàn toàn vì phải tốn chi phí cho bệnh tật, thuốc men và bệnh viện.WHO cũng vừa công
bố một nghiên cứu cho thấy, nếu tỷ lệ trẻ trên toàn thế giới được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời tăng từ 40% lên 50% trong 10 năm tới, thì có 520.000 trẻ sẽ được cứu sống và thế giới sẽ tiết kiệmđược 300 tỷ USD [10]
Nuôi con bằng sữa mẹ góp phần tăng lực lượng lao động Những bà mẹ cho con bú làm việc ít hơn nhưng con của họ thì ít bệnh hơn Do đó, chi phí cho y tế cho việc thuê mướn lao động thấp hơn nhưng năng suất lao động cao hơn Bên cảnh đó, việc cho con bú cũng góp phần bảo vệ môi trường sống vì như thế sẽ có ít chai sữa và các vật dụng liên quan đến việc cho con bú ngoài thải ra môi trường hơn [3]
Trang 171.2 Kiến thức và thực hànhnuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một
số yếu tố liên quan
1.2.1 Một số nghiên cứu về Kiến thức và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
1.2.1.1 Trên thế giới
Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu:
Các chương trình truyền thông về NCBSMnói chung và lợi ích củaNCBSMHT đã được triển khai ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, kiến thức BMHT còn chưa đạt mức mong muốn Theo điều tra của Alive&Thive (2012) ở Việt Nam, trong 11 câu hỏi về kiến thức NCBSM thìtrung bình các bà mẹ trả lời đúng chỉ là 5,6 câu Khoảng ba phần tư những người tham gia nghiên cứu hiểu rằng trẻ cần được cho bú ngay hoặc trong vòng 1 giờ Tỷ lệ
bà mẹ biết BMHT trong 6 tháng đầulà 83,9% nhưng chỉ 52,5% thấy cho trẻ chỉ bú sữa mẹ trong 6 tháng đầu là tốt [12]
Kiến thức về NCBSMHT khác nhau tùy theo thời gian và địa bàn nghiên cứu ở Việt Nam Nghiên cứu của Bùi Thị Duyên ở 1 huyện miền núi Bắc Trung bộ năm 2013 cho thấy chỉ có 33,9% bà mẹ có kiến thức đạt về NCBSMHT[13], thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Đỗ Ngọc Ánh ở 1 huyện miền núi phía Bắc Việt Nam năm 2015với tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đạt về BMHT trong 6 tháng đầu là 77,9% Lợi ích NCBSMHT mà bà mẹ biết ít nhất là
có lợi ích kinh tế (30,1%), giúp mẹ tiêu hóa tốt hơn (28,6%)[12] Trong một nghiên cứu ở 1
xã ở đồng bằng số Cửu long, Nguyễn Kim Tuyết (2010) bà mẹ có trình độ cấp 1 chiếm 43,1%, cấp hai chiếm 35,4% Kiến thức của bà mẹ về định nghĩa cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu chỉ đạt 44,5% và không biết 55,5% Kiến thức về lợi ích của việc NCBSMHT: không biết chiếm 39,7%, nhiều chất dinh dưỡng 29,7%, hợp vệ sinh 12,4%, tiện lợi, ít tốn thời gian 18,2%[15]
Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu:Tổ chức Y tế Thế giới
công bố đánh giá nuôi con bằng sữa mẹ toàn cầu nhận định rằng 194 quốc gia đều thất bại trong việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn Theo báo cáo từ các nước, chỉ có 40% trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi trên thế giới được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời và chỉ có 23 quốc gia có tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của trẻ đạt trên 60% [10]
Tại Hoa Kỳ tăng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ là ưu tiên số một trong chương trình mục tiêu quốc gia Tuy nhiên, tỷ lệ bú sữa sớm và bú hoàn toàn vẫn thấp hơn các chương trình mục tiêu quốc gia khác Hoa Kỳ đã kêu gọi hành động trong năm 2011 với các sáng kiến phản ánh trong Chương trình Healthy People 2020 nhằm tăng tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn và bú
Trang 18mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu lên 81,9% và 25% Vào năm 2013, tỷ lệ bú mẹ trong 6 tháng
Tại Việt Nam,các hoạt động về khuyến khích NCBSM có từ những năm đầu của thập kỷ 80
và các hướng dẫn thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ đã được đưa vào các
chương trình y tế quốc gia về sức khỏe bà mẹ và trẻ em [2] Tuy vậy, số liệu điều tra của
Viện Dinh Dưỡng cho thấy tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu khá thấp 24,3% và không tăng lên trong giai đoạn gần đây[3].Kết quả điều tra của Dự án Alive&Thrive năm 2012 tại
11 tỉnh của Việt Nam cho thấy NCBSMHT trong 6 tháng đầu là 20,2% Các tỉnh có tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu khá thấp là Khánh Hòa 0,6%, Đà Nẵng 3,5%, Cà Mau 6,5%
và Tiền Giang 11,6% Tỷ lệ NCBSMHT giảm dần trong 6 tháng đầu; tỷ lệ NCBSMHT là 41,4% ở trẻ 1 tháng tuổi giảm xuống còn 6,2% ở trẻ 5 tháng tuổi[12]
Hơn một phần ba trẻ bị ốm trong 2 tuần trước khi phỏng vấn (36%), với 29,5% trẻ dưới 6 tháng tuổi và khoảng 45% trẻ từ 6 đến 23,9 tháng tuổi Có 23,6% trẻ được bú mẹ hoàn toàn bị ốm so với 31% trẻ không được bú mẹ hoàn toàn
Một nghiên cứu của Nguyễn Thị Thịnh (2014) [9]tại Cao Bằng của các bà mẹ người dân tộc H’Mông cho thấy tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 39,6% cao hơn
so với mục tiêu về tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu của Bộ Y tế là 25,5%
Trang 191.2.1.2 Tại Lào
Nuôi con bằng sữa mẹ đã được đưa vào Thông tư hướng dẫn của BYT Lào từ năm
2004, trong đó qui định các thực hành NCBSM theo khuyến nghị của WHO về thời gian bú sớm, BMHT và cho ăn bổ sung hợp lý Để hỗ trợ việc NCBSM, đặc biệt là cho trẻ BMHT, Luật Lao động của Lào đã cho bà mẹ được nghỉ đẻ 5 tháng sau sinh Tuy nhiên tỷ lệ cho con BMHT vẫn con thấp, mặc dù đã có một số cải thiện trong vài thập kỷ qua
Theo báo cáo điều tra NCBSM của quốc gia Lào năm 2000 – 2011 cho thấy tỷ lệ bý sớm trong vòng 24 giờ đầu tăng 10% và tỷ lệ NCBSMHT từ 0-5 tháng tăng lên 14%
Nghiên cứu của Mr Phukhao Hương Păn Nha về nuôi con bằng sữa mẹ và cho trẻ ăn
bộ sung của bà mẹ có con từ 0-2 tuổi tại huyện Ba Chiêng, tỉnh Chăm Pa Sắc, năm 2009 cho thấy bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu đạt tỷ lệ 26,9%, và bà mẹ cho con bú sớm sau khi sinh 30 phút chiếm tỷ lệ 39,6% [19]
Kết quả điều tra giai đoạn 2011-2012 (Lao Social Indicator Survey(LSIS) trong toàn quốc cho thấy tỷ lệ các bà mẹ cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu có tăng lên ở mức 40% Tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu ở nông thôn (41%) cao hơn ở thành thị (38%), thấp nhất là ở Thủ đô Viêng Chăn chỉ đạt 30%[30]
Một nghiên cứu khác của KhănThong KEOMUNGKHUN tại bệnh viện Ma Hô Sột, Thủ đô Viêng Chăn, năm 2014 cho thấy tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu là 37,2%[18]
Tỷ lệ NCBSMHT khác nhau rõ rệt theo từng dân tộc, cao nhất là dân tộc Hmong-Mieu (68%), dân tộc Mon-Kmer là 38,5% và thấp hơn là dân tộc Lao-Tay (33%)[18] Nghiên cứu của KhănThongcho thấy sự khác biệt tỷ lệ NCBSMHT theo kinh tế gia đình, các bà mẹ trong
Trang 20gia đình nghèo cho con bú bằng sữa mẹ hoàn toàn cao hơn hẳn (46,6%) sơ với các bà mẹ trong gia đình khá giả (34,1%) [18]
1.2.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
Các rào cản và hỗ trợ cho việc NCBSMHT đã được xác định sau 20 năm nghiên cứu
từ 19 quốc gia Đó là các nhóm yếu tố chính bao gồm yếu tố về phía người mẹ, về phía trẻ, các dịch vụ y tế, gia đình và xã hội[29]
Các yếu tố về phía mẹ: Các yếu tố đặc trưng các nhân của người mẹ như tuổi, trình
độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, bệnh lý của mẹ, hiểu biết của bà mẹ về NCBSMHT được một số tác giả chứng minh là có liên quan đến thực hành NCMSMHT
Nghiên cứu của Nghiên cứu của Hông Chăn SAVATPHAI (2007) tại huyện Nan, tỉnh Luông Pha Bang, Lào cho thấy: trình độ học vấn của các bà mẹ có ảnh hưởng đến nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn từ 0-6 tháng tuổi Các bà mẹ có trình đọ học vấn cấp 2 trợ lên là thành công về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tốt hơn các bà mẹ có trình
độ học vấn cấp 1 và mù chữ 62%[18] Các bà mẹ có trình độ học vấn của bà mẹ cao cũng là các bà mẹ hiểu biết nhiều hơn về BMHT Một số nghiên cứu ở Việt Nam cũng cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa hiểu hiết và thực hành về NCBSMHT của bà mẹ [12], [12].Khi các bà mẹ tin rằng cho trẻ uống nước hoặc sữa bột trước 6 tháng tuổi là thích hợp vì trẻ có nhu cầu, thiếu sữa mẹ, trẻ khát nước hoặc do thời tiết nóng sẽ cho ăn, uống
thêm, không cho trẻ BMHT [28]
Chăm sóc bà mẹ trong thời gian mang thai và sinh đẻ cũng có ảnh hưởng quan trọng đến thực hành NCBSMHT về sau Các bà mẹ đi khám thai trước sinh con tại cơ sở y tế có thành công cao về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu [20] Nghiên cứu của Alive and Thrive về thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ ở 11 tỉnh năm 2012 cho thấy chỉ
có 55% số trẻ sơ sinh được bú sớm trong vòng 1 giờ đầu, trong đó tỷ lệ cho trẻ bú sớm ở miền núi cao hơn hẳn so với đồng bằng (70% ở miền núi và 30% ở đồng bằng) Tỷ lệ cho con bú sớm ở những bà mẹ sinh con trạm y tế cao hơn (40%) so với ở các bệnh viện (32%) [1] Các biến chứng sau sinh của bà mẹ cũng là yếu tố gây cản trở bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu Các bà mẹ mổ đẻ hầu như không cho con bú hoàn toàn ngay sau sinh, hậu quả là tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn thấp hơn so với các bà mẹ sinh thường [22],[22]
Yếu tố từ phía trẻ
Yếu tố thuộc về trẻ như tuổi, thứ tự trẻ, cân nặng khi đẻ và bệnh lý có ảnh hưởng đến thực hành bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu Nghiên cứu của Alive and Thrive ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ BMHT giảm dần theo độ tuổi của Tỷ lệ BMHT giảm từ 41,4% ở trẻ sơ sinh dưới 1
Trang 21tháng tuổi tới chỉ 6,2% ở trẻ 5 tháng tuổi[12] Các trẻ là con thứ 2 trở lên được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tốt hơn trẻ là con đầu được chứng minh ở một số nghiên cứu ở Lào [22]
Yếu tố từ phía gia đình:
Vai trò của người cha trong thực hành NCBSM được quan tâm nhiều trong những năm gần đây Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Tâm cho thấy mối liên quan giữa kiến thức của người cha với thái độ của họ về vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ Ở nhóm đẻ thường có mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, sự hỗ trợ của người cha về nuôi con bằng sữa mẹ với thực hành NCBSMHT tính đến thời điểm ra viện[8] Nghiên cứu của Trần Hữu Bích năm 2012 về vai trò của người cha trong nuôi con bằng sữa mẹ cho thấy những người chồng có kiến thức thái
độ NCBSMHT tốt sẽ hỗ trợ bà mẹ thực hành cho con bú hoàn toàn cao hơn nhóm không có
sự hỗ trợ của người chồng Kết quả can thiệp sau 1 năm với sự tham gia của người cha ở Chí Linh, Hải Dương, Việt Nam đã tăng tỷ lệ NCBSMHT gấp 2 lần [3]
Nghiên cứu của Đỗ Ngọc Ánh về yếu tố ảnh hưởng đến bú sớm và BMHT, cho thấy các bà mẹ không được ủng hộ của gia đình có tỷ lệ cho con bú sớm và BMHT thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với các bà mẹ có gia đình hỗ trợ [2]
Yếu tố xã hội:
Các yếu tố quyết định việc nuôi con bằng sữa mẹ đòi hỏi nhiều biện pháp hỗ trợ ở nhiều cấp độ, từ các chính xã pháp lý tới thái độ và giá trị xã hội; việc làm và điều kiện làm việc của phụ nữ, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Việc tiếp thị các sản phẩm thay thế sữa mẹ ảnh hưởng tiêu cực đến nuôi con bằng sữa mẹ [26].Các nhân tố văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toán cũng được đề cập đến của nghiên cứu ở các nước khác như các bà mẹ sống ở khu nhà ổ chuột Nairobi, Kenya làm việc ở các khu vực tư nhân như ở Malaysia đều có tỷ lệ NCBSMHT thấp hơn các bà mẹ khác [27], [28]
Ở Việt Nam đã có những điều khoản nhằm hỗ trợ việc NCBSMHT trong 6 tháng đầu như Chính phủ đã ban hành Nghị định số 21/2006/NĐ-CP quy định về việc kinh doanh và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ em nhằm tăng cường NCBSM nói chung và NCBSMHT[14]
Tiếp cận thông tin và các can thiệp nâng cao kiến thức cho bà mẹ:
Thông tin trên các phương tiện truyền thông đai chúng, sách báo cũng như tư vấn của nhân viên y tế là các hỗ trợ tích cực nâng cáo kiến thức, thực hành về NCBSM của các bà mẹ Nghiên cứu của Bùi Thị Duyên thhông tin về NCBSMHT mà bà mẹ được nhận phần lớn
Trang 22là từ nguồn thông tin đại chúng như radio, tivi, báo chiếm tới 71,4% Nghiên cứu phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hànhNCBSMHT của các bà mẹ cho thấy ngoài
có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi, nghề nghiệp và trình độ học vấn và kiến thức của bà mẹcòn có mối liên quan giữa sự tiếp nhận thông tin về NCBSMHT từ phương tiện thông tin địa phương[1]
Can thiệp truyền thông nâng cao kiến thức của Alive&Thive từ năm 2000 đến năm 2014các phòng tư vấn "Mặt trời bé thơ" cho kết quả là tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
đã tăng từ 19% lên 58%, tức là lên gấp 3 lần trên địa bàn có các phòng tư vấn "Mặt trời bé thơ" hoạt động[16]
1.3 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu: huyện Xay Tha Ny
Xay Tha Ny là một trong 9 huyện của Thủ đô Viêng Chăn nằm ở hai bên bờ sông Ngừm có cả ba địa hình là: đồng bằng, trung du và miền núi, có vị trí nằm gần trung tâm tỉnh
lỵ của Thủ đô Viêng Chăn, cách Thủ đô Viêng Chăn 7 km dọc theo quốc lộ 13 Nam, theo hướng Đông - Đông Nam
Vị trí địa lý có nhiều thuận tiện cho sự giao lưu hàng hóa và phát triển dịch vụ Xay Tha Ny là huyện trọng điểm phát triển của Thủ đô Viêng Chăn có Đại học Quốc gia Đông Độc, có sân thể thao Quốc gia, có nhiều công ty và nhà máy như nhà máy Bia Năm Khong, nhà máy Coca Cola có đường Quốc lộ 13 từ miền Bắc đến miền Nam chạy qua là những điều kiện rất thuận lợi để huyện phát triển một nền kinh tế đa dạng (công nghiệp - dịch vụ và nông lâm nghiệp) và hình thành các khu công nghiệp, các trung tâm dịch vụ; đồng thời có cơ hội tiếp cận nhanh những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa của huyện
Nền kinh tế trong những năm gần đây có nhiều tiến bộ Các mục tiêu kinh tế xã hội do các kỳ đại hội và các chương trình kế hoạch 5 năm được triển khai thực hiện có hiệu quả Huyện Xay Tha Ny đang nằm bắt thời cơ, đang tạo nên những bước đột phá và đang có những tiền đề cho một thời kỳ tăng tốc
Quy mô dân số trung bình của huyện Xay Tha Ny tính đến năm 2016 là 196,600 người, trong đó nữ có 98,399 người, diện tích của huyện có 80,860 km2., gồm 11 xã và 11 trạm y tế, và 104 làng
Xay Tha Ny là huyện có nhiều dân tộc anh em, những dân tộc gồm nhiều nhánh tộc
và được chia thành 4 nhóm: Lao-tai, Hmong-Dao, Mon- Khơ Me, Hán -Tây Tạng.Về tôn giáo: trên địa bàn huyện chủ yếu là Đạo Phật (chiếm khoảng85%)
Với đặc trưng huyện Xay Tha Ny gần đây phát triển rất nhiều nhà máy, khu công
Trang 23nghiệp thu hút nhiều nhân công trong huyện, đặc biệt là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ Thời gian làm việc tương đối dài do đó các bà mẹ có những khó khăn trong việc cho trẻ bú sữa
mẹ, vì vậy đa số các bà mẹ cho con ăn dặm khi trẻ được 3-4 tháng Theo số liệu thống kê của Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản huyện Xay Tha Ny thì tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa
mẹ trong 6 tháng đầu thấp 30%, thấp hơn so với tỷ lệ chung của Quốc gia là 40%[17]
Theo chính sách của chính phủ năm 2016 các bà mẹ và trẻ em dưới 5 tuổi đi khám bệnh tại cơ sở y tế của nhà nước được miền phí như: phụ nữ mang thai đi khám thai không nốp tiền, phụ nữ có thai đi sinh con không nộp tiền, các trẻ em <5 tuổi đi chữa bệnh, tiêm chủng không nộp tiền và các bà mẹ khi sinh con được nghỉ 5 tháng tuổi
Trang 24Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên mô hình
“Môi trường xã hội” và các kết quả từ báo cáo
điều tra ban đầu về Thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ
sinh và trẻ nhỏ của dự án Alive & Thrive [5]
Yếu tố liên quan khác
- NCBSMHT trong 4 tháng
- Cho trẻ bú sớm sau sinh
Tiếp cận thông tin về NCBSMHT
- Thông tin nhận được về NCBSMHTHT khi mang thai và sau khi sinh
- Nguồn thông tin:NCBSMHTtừ cán
NCBSMHTtruyền thông đại chúng (TV, loa/đài, Internet)
Trang 25Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các bà mẹ có con từ 7 -12 tháng tuổi ít nhất 6 tháng trước ngày điều tra và sống tại huyện Xay Tha Ny, Thủ đô ViêngChăn
Tiêu chí loại trừ đối tượng:
- Các bà mẹ không cho con bú
- Các bà mẹ không có khả năng trả lời các câu hỏi do bệnh nặng, các vấn đề tâm thần hoặc thần kinh
- Đối tượng không hợp tác chỉ được xác định khi điều tra viên tới vận động tại
hộ gia đình 3 lần không thành công, đối tượng chuyển, tử vong
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 11/2017 đến tháng 4/2018
Địa điểm: Huyện Xay Tha Ny, Thủ đô Viêng Chăn, Lào
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
Z 1-α/2: Giá trị thu được bằng cách tra bảng Z, có α = 0,05; Z = 1,96
Từ các dữ liệu trên, cỡ mẫu tối thiểu được làm tròn là 165, thêm 10% từ chối trả lời làm tròn mẫu là 181
2.5 Phương pháp chọn mẫu
* Chọn mẫu ngẫu nhiên:
Chọn mẫu ngẫu nhiên hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Bốc thăm ngẫu nhiên 6 xã trong tổng số 11 xã trong huyện
2
2
2 /
1 .( 1 )
d
p p
Trang 26- Lập danh sách tất cả 11 xã, thị trấn của huyện Xay Tha Ny, Thủ đô Viêng Chăn, bốc thăm ngẫu nhiên 6 xã trong huyện như: xã Tha ngon, xã Bạn Xay là trung tâm khu đô thị của huyện , xã Tha Đin Đeng, xã Đông Băng là xã có nhiều dân tọc Hmong-Dao, xã Khộc Sy Vy Lay , xã Xay Sôm Bun là xã có nhiều làng mới có nhiều người dân từ miền Bắc và Nam vào sống và nhiều dân tộc khác nhau
Giai đoạn 2: Dùng phương pháp ngẫu nhiên hệ thống để chọn các bà mẹ trong từng
xã
- Lập danh sách các trẻ từ 7 đến 12 tháng tuổi trong từng xã và các bà mẹ có các trẻ tương ứng
- Tính khoảng cách k=707/180=4 (707Tổng số trẻ tương ứng với số bà mẹ của 6 xã)
- Bốc thăm ngẫu nhiên chọn trẻ đầu tiên (x), có số thứ tự từ 1 đến 4
- Trẻ thứ 2 có số thứ tự trong danh sách là x + k, x + 2k x+(n-1)k, chọn tiếp theo cho đến đủ cỡ mẫu là 181
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Công cu ̣ thu thâ ̣p số liê ̣u
Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên khung lý thuyết và tham khảo từ bộ câu hỏi sử dụng
điều tra ban đầu của Alive & Thrive về Thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (chi tiết
về bộ câu hỏi xem phụ lục 1)
Bộ câu hỏi sẽ được thử nghiệm tại một xã thuộc huyện Xay Tha Ny không được cho ̣n tham gia vào điều tra trước khi tiến hành thu thập số liệu Sau giai đoạn thử nghiệm, bộ câu hỏi sẽ được chỉnh sửa và hoàn thiện
2.6.2 Phương pháp thu thâ ̣p số liê ̣u
Phỏng vấn trực tiếp bà me ̣ tại hộ gia đình, dựa trên bô ̣ câu hỏi đi ̣nh lượng được thiết kế sẵn Tổng số 05 người tham gia điều tra bao gồm: 01 học viên lớp Cao học YTCC 20, 04 cán bộ y tế ở trạm y tế xã 1 học viên đi phỏng vấn 2 xã, có 4 xã cán bộ y tế 1 người phỏng vấn 1 xã
Điều tra viên phỏng vấn các bà mẹ tại nhà, điều tra viên (ĐTV) đến giới thiệu về nghiên cứu và xin sự đồng ý tham gia nghiên cứu
Sau đó tiến hành phỏng vấn theo bộ câu hỏi để đối tượng nghiên cứu trả lời
Trường hợp đối tượng không có mặt tại thời điểm ĐTV đến thì ĐTV sẽ quay lại hỏi sau Đến lần thứ ba không gặp được đối tượng thì sẽ chọn người tiếp theo trong khung mẫu tham gia vào nghiên cứu theo hệ số k
Trang 272.7 Các biến số
(Chi tiết tại phụ lục 3)
- Thông tin chung và các đặc điểm
- Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
- Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
- Tiếp cận thông tin
2.8 Các khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá
2.8.1 Các khái niệm
Nuôi con bằng sữa mẹ: là cách nuôi dưỡng trong đó trẻ trực tiếp bú sữa mẹ hoặc uống sữa từ
vú mẹ vắt ra
Bú sớm: la ̀ cho trẻ bú ngay trong vòng 1 giờ sau khi sinhBú mẹ hoàn toàn: Chỉ cho trẻ bú mẹ
mà không cho ăn, uống bất cứ thức ăn, đồ uống nào khác, kể cả nước trắng, trừ trường hợp phải uống bổ sung các vitamin, khoáng chất hoặc thuốc
Khuyến nghi của WHO và UNICEF về nuôi dưỡng trẻ: Trẻ cần được bú mẹ sớm trong vòng
1 giờ đầu sau sinh, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Ăn thức ăn bổ sung hợp lý khi trẻ tròn 6 tháng và tiếp tục bú mẹ cho đến 24 tháng tuổi hoặc hơn
2.8.2 Tiêu chuẩn đánh giá
➢ Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức bú sớm
- Kiến thức về bú sớm được đánh giá qua 3 câu hỏi (câu hỏi số 201, 203) Điểm tối đa là 6 điểm
- Mỗi ý trả lời đúng được 1 điểm Câu số 201trả lời đúng là ý số 1, câu số 202 trả lời đúng là ý số 2; câu 203 trả lời đúng là ý số 1,2,3,4
- Kiến thức bú sớm được đánh gia là đạt nếu mỗi câu hỏi phải trả lời được 1 điểm đồng thời tổng điểm kiến thức phải >= 50% tổng số trung bình tổng điểm kiến thức)
➢ Kiến thức về NCBSMHT được đánh giá qua 12 câu hỏi (câu hỏi số 204 đến 215) Điểm tối đa là 29 điểm
- Mỗi ý trả lời đúng được 1 điểm Câu số 204 trả lời đúng là số 3, câu số 205 trả lời đúng là ý số 1, 2,3,4,5,6; câu số 206 trả lời đúng là ý số 1,2,3,4,5,6,7,8,9; câu số 207 trả lời đúng là ý số 2; câu số 208 trả lời đúng là ý số 1 ; câu số 209 trả lời đúng là ý số 1,3,4,5,7 ; câu số 210 trả lời đúng là ý số 2; câu số 211 trả lời đúng là ý số 2 ; câu số 212 trả lời đúng
Trang 28là ý số 1; câu số 213 trả lời đúng là ý số 1 ; câu số 214 trả lời đúng là ý số 1 ; câu số 215 trả lời đúng là ý số 1
- Kiến thức NCBSMHT được đánh giá là đạt nếu mỗi câu hỏi phải trả lời được 1 điểm đồng thời tổng điểm kiến thức phải >= 50% tổng số trung bình tổng điểm kiến thức)
- Kiến thức NCBSMHT của bà mẹ đạt được 50% trên tổng số điểm thực hành được đánh giá là có thực hành đạt về NCBSMHT
2.9 Quản lý và phân tích số liệu
Các số liệu thu thập được từ nghiên cứu định lượng sẽ được xử lý thô, nhập máy tính 2 lần độc lập sau đó so sánh và sửa chữa lỗi nhập liệu trước khi tính toán các thông số của nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thống kê sử dụng trong y sinh học để nhập liệu và phân tích số liệu với phần mềm Epidata 3.1 và SPSS 18.0
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ được tiến hành khi được Hội đồng Đạo đức trường Đại học Y tế công cộng (ĐH YTCC) thông qua và cho phép tiến hành nghiên cứu Hội đồng thông qua nghiên
cứu dựa trên các tiêu chuẩn đạo đức của Bộ Y tế và tiêu chuẩn Quốc tế
Đối tượng nghiên cứu phải được giải thích về mục đích, nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn, phải có sự đồng ý tham gia của đối tượng nghiên cứu và hoàn toàn có quyền từ chối tham gia phỏng vấn
Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu, số liệu điều tra phỏng vấn sẽ được giữ kín
Các số liệu, thông tin thu thập được phục vụ cho mục đích học tập trong nghiên cứu khoa học, không phục vụ cho mục đích khác
2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục
Trong quá trình thu thập số liệu, nhóm sẽ gặp các trường hợp: 1) bà mẹ và/hoặc trẻ không sống tại Huyện Xay Tha Ny, không có nhà và sẽ không về nhà trong khi nhóm thu thập số liệu làm việc ở xã; 2) bà mẹ chuyển chỗ ở trước thời gian điều tra; và 3) bà mẹ từ chối phỏng vấn hoặc không thể hoàn thành phỏng vấn (vì lý do sức khỏe), hoặc 4) CBYT hoặc ĐTV thu thập số liệu đến nhà bà mẹ 3 lần nhưng vẫn chưa gặp được bà mẹ để mời tham gia nghiên cứu Để khắc phục vấn đề này, nhóm đã sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống có sự thay thế nên dự kiến cỡ mẫu sẽ tăng thêm 10% nhằm đảm bảo được cỡ mẫu đã chọn
Trang 29Nhóm nghiên cứu tổ chức các buổi tập huấn cho nhóm thu thập số liệu để có thể thống nhất phương pháp/cách phỏng vấn, nội dung phỏng vấn
Trong bộ câu hỏi phỏng vấn có sử dụng rất nhiều câu hỏi cần đến việc nhớ lại của bà mẹ/người chăm sóc trẻ chính về các bữa ăn, thời điểm thay đổi chế độ ăn uống của trẻ nên đa
số các câu hỏi sử dụng đều hỏi về ngày hôm qua để hạn chế sai số nhớ lại trong khi phỏng vấn
Trang 30Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Bảng thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n=181)
Trang 313.2 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
3.2.1 Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Có 48,6% số bà mẹ NCBSMHTtrong 6 tháng đầu
48,6%
Đạt Không đạt
Trang 32Bảng 3.3: Tỷ lệ trẻ cho ăn thêm trước 6 tháng (n=93)
Bảng 3.4 Lý do cho trẻ ăn thêm 6 tháng (n=93)
Lý do chính cho trẻ ăn thêm là mẹ không đủ sữa (52,2%); trẻ quấy khóc (45,7%) Có 20,7% số trẻ phải ăn thêm vì mẹ phải đi làm
Bảng 3.5 Các loại thức ăn thêm
Kết quả bảng 3.5cho thấy trẻ ăn uống thêm ngoài sữa mẹ nhiều nhất là sữa bột và các loại sữa khác cho trẻ nhỏ(33,7%) Có đến 37,5% số trẻ được ăn thức ăn đặc (cơm, xôi, bột, cháo (28,7%) và thịt, trứng (8,8%)
Các loai thức ăn, nước uống ngoài sữa mẹ n= 181 %
Sữa bột và các loa ̣i sữa khác cho trẻ nhỏ 61 33,7
Trang 333.3 Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
Bảng 3.5: Kiến thức về NCBSMHT
Định nghĩa nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
Kiến thức về NCBSMHT khá cao ở địa bàn nghiên cứu, 63,5% số bà mẹ trả lời đúng
về định nghĩa 81,8% số bà mẹ biết đúng thời gian khuyến nghị về NCBSMHT là trong vòng
6 tháng chiếm tỷ lệ 81,8% Các bà mẹ trong nghiên cứu đa số cho rằng lợi ích của việc nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn đối với trẻ sơ sinh/trẻ nhỏ là bảo vệ trẻ khỏi bị bệnh (88,4%)
Trang 34Bảng 3.6: Kiến thức về lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
Cung cấp một nguồn dinh dưỡng thiết yếu, đáp ứng tất cả nhu
cầu dinh dưỡng của trẻ trong 6 tháng đầu
Lợi ích đối với bà mẹ
Giúp tống rau thai ra, làm giảm nguy cơ chảy máu 78 43,1
Tốt cho sức khỏe bà mẹ (Giảm nguy cơ ung thư vú,…) 134 74,0
Tăng cường dinh dưỡng và trao đổi chất cho bà mẹ 47 26,0
Phần các bà mẹ biết được những lợi ích chính của NCBSMHT (75-88%) đối với con
là bảo vệ trẻ khỏi bị bệnh, gíup tăng trưởng, phát triển và cung cấp đủ dinh dưỡng cần thiết Chỉ có 28,2% biết là sữa mẹ cung cấp đủ nước cho trẻ
Hầu hết các bà mẹ biết là có lợi ích kinh tế (92,8%) và tăng cường mối liên kết giữa mẹ và con (86,7%) Lợi ích ngăn ngừa căng sữa quá mức được ít bà mẹ đề cấp đến nhất (38,7%)
Trang 35Bảng 3.7: Kiến thức về sữa non
Lợi ích của sữa non
Chỉ có 14,4% số bà mẹ biết đúng về sữa non là sữa có trang vài ngày sau đẻ Có đến 73,5% cho là sữa có ngay sau khi đẻ Đa số các bà mẹ trong nghiên cứu biết lợi ích của sữa non là giúp phòng chống dị ứng và nhiễm khuẩn cho trẻ (88,4%) và 87,8% đủ dinh dưỡng và phù
hợp với trẻ mới sinh
Bảng 3.8: Kiến thức về cách giải quyết khi sữa mẹ không đủ cho trẻ
Kết quả bảng 3.8cho thấy 71,8% số bà mẹ có kiến thức đúng về cách giải quyết đối với con
là cho bú nhiều hơn Hơn 67% số bà mẹ giải quyết đúng về phía mẹ là ăn, uống nhiều hơn Chỉ có khoảng 33% bà mẹ biết là cần nghỉ ngơi nhiều hơn
Trang 36Bảng 3.9: Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ trong một số hoàn cảnh đặc biệt
Nên cho trẻ ăn gì khi trẻ đói và bà mẹ phải đi làm
Trang 37Trường hợp nếu bà mẹ mang thai: chỉ có 35,9% biết đúng là vẫn cho con bú
Đối với các bà mẹ đi làm xa: có 69,1% biết là cần vắt sữa để cho con ăn và 13,8% biết đúng thời gian sữa mẹ để ở nhiệt độ thường Có 49,2% số bà mẹ cho là chỉ có thể để < 3 giờ ở nhiệt độ thường
Biểu đồ 3.2 Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
Biều đồ 3.2 cho thấy đa số bà mẹ trong nghiên cứu đều có kiến thức đạt về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn chiếm 72,9%
27,1%
72,9%
Không đạt Đạt
Trang 383.4 Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành NCBSMHT
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành NCBSMHT
Trang 39(49-Bảng 3.12: Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của bà mẹ với thực hành
Trang 40Bảng 3.13: Mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin với thực hành NCBSMHT - trong
thời gian 6 tháng đầu sau sinh
Kết quả bảng 3.13 cho thấy không có mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin với thực
hành NCBSMHT và thực hành NCBSMHT của bà mẹ (p>0,05)
Bảng 3.14: Mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin với thực hành NCBSMHT - qua các
phương tiện thông tin đại chúng (Thời gian trước sinh và sau sinh)
Kết quả bảng 3.14 cho thấy không có mối liên quan giữa thời gian trước sinh và sau sinh với quảng cáo sữacho trẻ nhỏ và thực hành NCBSMHT của bà mẹ (p>0,05)