1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ ở trẻ dưới 1 tuổi tại huyện châu thành, tỉnh tây ninh năm 2017

88 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 4,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiến thức của bà mẹ về TCMR và một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ ở trẻ dưới 1 tuổi .... Trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và đặc biệt là huyện Châu Thành cũng chưa có nghiên c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

BIỆN ĐƯỜNG PHI THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

ĐẾN TỶ LỆ TIÊM CHỦNG ĐẦY ĐỦ

Ở TRẺ DƯỚI 1 TUỔI TẠI HUYỆN CHÂU

THÀNH, TỈNH TÂY NINH NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ: 60.72.03.01

HÀ NỘI-2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

BIỆN ĐƯỜNG PHI THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

ĐẾN TỶ LỆ TIÊM CHỦNG ĐẦY ĐỦ

Ở TRẺ DƯỚI 1 TUỔI TẠI HUYỆN CHÂU

THÀNH, TỈNH TÂY NINH NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ: 60.72.03.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ ĐÌNH THIỂM

PGS.TS LÃ NGỌC QUANG

HÀ NỘI-2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy, cô đã giảng dạy trong chương trình Cao Học Y Tế Công Cộng – Trường Đại Học Y Tế Công Cộng, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích về ngành y tế công cộng làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này

Tôi xin chân thành cám ơn Thầy Thiểm và Thầy Quang đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong thời gian tôi thực hiện luận văn Mặc dù trong quá trình làm luận văn có giai đoạn không được thuận lợi nhưng những gì các thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo đã cho tôi nhiều kinh nghiệm trong việc hoàn thành đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ Khoa Y tế Dự phòng của Trung tâm

Y tế huyện Châu Thành và các cán bộ Trạm Y tế 15 xã, thị trấn thuộc huyện Châu Thành đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và thông tin của luận văn

Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn

Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy/Cô và các anh chị học viên

Học Viên

Trang 4

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tổng quan về tiêm chủng 4

1.2 Thực trạng tiêm chủng đầy đủ và các yếu tố liên quan 9

1.3 Kiến thức về TCMR của người mẹ và các yếu tố liên quan đến TCĐĐ ở trẻ dưới 1 tuổi 10

1.4 Một số nghiên cứu khác về tiêm chủng đầy đủ ở trẻ dưới 1 tuổi 14

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu 16

1.6 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu 18

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19

2.3 Thiết kế nghiên cứu 19

2.4 Cỡ mẫu 19

2.5 Phương pháp chọn mẫu 20

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 21

2.7 Các biến nghiên cứu 22

2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 22

2.9 Phương pháp quản lý và phân tích số liệu 23

2.10 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 23

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

3.1 Thông tin chung 25

3.2 Thực trạng tiêm chủng đầy đủ của trẻ dưới 1 tuổi tại huyện Châu Thành 29

3.3 Kiến thức của bà mẹ về TCMR và một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ ở trẻ dưới 1 tuổi 31

BÀN LUẬN 37

1 Thực hành tiêm chủng đầy đủ của trẻ em dưới 1 tuổi 37

2 Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ TCĐĐ của trẻ dưới 1 tuổi 39

3 Hạn chế của nghiên cứu 44

KẾT LUẬN 44

1 Thực hành về TCĐĐ trẻ dưới 1 tuổi 45

2 Kiến thức của người chăm sóc trẻ về TCMR và yếu tố liên quan đến thực hành TCĐĐ cho trẻ dưới 1 tuổi 45

KHUYẾN NGHỊ 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Trang 5

Tiếng Việt 47

Tiếng Anh 48

PHỤ LỤC 51

Phụ lục 1: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 51

Phụ lục 2: DANH SÁCH CỤM ĐƯỢC CHỌN THEO XÃ 56

Phụ lục 3: BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN 57

Phụ lục 4: PHIẾU ĐIỀU TRA CÁC MŨI TIÊM CHỦNG CỦA TRẺ DƯỚI 1 TUỔI 63 Phụ lục 5: CÁCH TÍNH ĐIỂM KIẾN THỨC BÀ MẸ 64

Trang 6

DPT – VGB – Hib

hoặc Quinvaxem

Vắc xin 5 trong 1: bạch hầu – ho gà – uốn ván – viêm gan B – viêm màng não và viêm phổi do vi khuẩn Hib

Hib Haemophilus influenzae týp B: Vi khuẩn Haemophilus

influenzae týp B (gây viêm màng não, viêm phổi, …)

MR Vắc xin phòng sởi – Rubella

OPV Oral Polio Vaccine: Vắc xin bại liệt uống

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 2 Phân loại phản ứng sau tiêm chủng theo nguyên nhân 7

Bảng 3 1 Thông tin chung của bà mẹ trong nghiên cứu 25

Bảng 3 2 Bà mẹ nghe các trường hợp phản ứng nặng sau tiêm chủng và tử vong sau tiêm chủng 26

Bảng 3 3 Nguồn thông tin bà mẹ nghe về tiêm chủng 26

Bảng 3 4 Hỗ trợ từ gia đình về tiêm chủng cho trẻ 27

Bảng 3 5 Thông tin của trẻ 27

Bảng 3 6 Dịch vụ y tế trong tiêm chủng 28

Bảng 3 7 Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch của trẻ dưới 1 tuổi 29

Bảng 3 8 Kiến thức của bà mẹ về tiêm chủng 31

Bảng 3 9 Bà mẹ biết mục đích tiêm chủng và các bệnh phòng được nhờ tiêm vắc xin 31

Bảng 3 10 Kiến thức về lịch tiêm chủng 32

Bảng 3 11 Kiến thức của bà mẹ về thời gian và địa điểm tiêm chủng 32

Bảng 3 12 Kiến thức bà mẹ về chỉ định hoãn tiêm 33

Bảng 3 13 Kiến thức về phản ứng sau tiêm chủng và cách xử trí của bà mẹ 33

Bảng 3 14 Mối liên quan giữa trẻ TCĐĐ với thông tin chung của bà mẹ 34

Bảng 3 15 Mối liên quan giữa trẻ TCĐĐ với việc trẻ gặp biến cố bất lợi thông thường sau tiêm chủng 35

Bảng 3 16 Mối liên quan giữa trẻ được TCĐĐ với việc bà mẹ nhận được thông tin về ngày tiêm chủng 36

Bảng 3 17 Mối liên quan giữa trẻ TCĐĐ với sự ủng hộ của gia đình 36

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3 1 Lý do trẻ không được tiêm chủng đúng lịch 30

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 1: Bản đồ vị trí địa lý huyện Châu Thành 18

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Tiêm chủng là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng chống các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, phổ biến ở trẻ nhỏ Tuy nhiên, trong thời gian gần đây một số bệnh truyền nhiễm có nguy cơ bùng phát trở lại do sự chủ quan của người dân trong việc phòng bệnh như bệnh sởi có 4000 ca mắc; có 03 ca mắc bạch hầu trong đó có 02 ca tử vong

và 62 ca mắc viêm não Nhật Bản trong đó 01 ca tử vong… Bên cạnh đó, việc xảy ra các biến cố bất lợi sau tiêm chủng cũng làm cho tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ giảm còn 96,4% (2017): có 1740 trẻ có biến cố bất lợi sau tiêm chủng, trong đó có 21 trường hợp thuộc biến cố nặng Trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và đặc biệt là huyện Châu Thành cũng chưa có nghiên cứu nào về TCĐĐ cho trẻ dưới 1 tuổi, chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng đầy

đủ ở trẻ dưới 1 tuổi tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh 2017”

Nghiên cứu áp dụng phương pháp điều tra mô tả cắt ngang có phân tích Được thực hiện từ tháng 11/2017 đến tháng 09/2018, tại 15 xã, thị trấn thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh Đối tượng nghiên cứu là 330 các bà mẹ có con trong độ tuổi từ

12 đến 23 tháng tuổi Tiến hành phỏng vấn bà mẹ thông qua bộ câu hỏi và kiểm tra mũi tiêm từ sổ tiêm chủng lưu tại Trạm Y tế xã Số liệu được nhập liệu bằng phần mềm thống kê Epidata 3.0, và sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ của trẻ dưới 1 tuổi đạt 93,6% và tỷ lệ trẻ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch đạt 5,8% Lý do trẻ không tiêm chủng đúng lịch là do trẻ bệnh Kết quả phân tích đơn biến cho thấy nhóm các mẹ dưới

30 tuổi có trẻ TCĐĐ cao hơn so với nhóm các bà mẹ từ 30 tuổi trở lên là 3,0 lần (p<0,05)

Từ các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đề xuất một số khuyến nghị: Tăng cường kiến thức về TCMR cho các bà mẹ, đặc biệt là kiến thức về chăm sóc trẻ sau tiêm chủng và tăng cường vận động các bà mẹ đưa trẻ đi tiêm chủng đúng lịch

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vắc xin là một công cụ rất hiệu quả trong việc phòng một số bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là cho trẻ em, do trẻ em chưa có miễn dịch đầy đủ Hiện nay đã có gần 30 bệnh truyền nhiễm có thể dự phòng được bằng vắc xin Vắc xin giúp tạo ra miễn dịch chủ động

để phòng các bệnh được tiêm vắc xin Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ đã xếp tiêm chủng mở rộng đứng thứ 4 trong 10 thành tựu lớn nhất về y tế công cộng của thế kỷ

20 [12]

Chương trình Tiêm chủng mở rộng (CTTCMR) bắt đầu được triển khai ở Việt Nam

từ năm 1981 do Bộ Y tế khởi xướng với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) Chương trình có mục tiêu ban đầu là cung cấp dịch vụ tiêm chủng miễn phí cho trẻ em dưới 1 tuổi, bảo vệ trẻ khỏi mắc 6 bệnh truyền nhiễm phổ biến và gây tử vong cao là bệnh lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi, bại liệt [6] Năm 1985 CTTCMR được mở rộng và tăng cường trên phạm vi cả nước Mục tiêu tiêm chủng mở rộng đã hoàn thành với tỷ lệ 87% (năm 1990) và trên 90% (năm 1993) trẻ em dưới 1 tuổi trong cả nước được tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắc xin [2] Năm 1997, 4 loại vắc xin mới được đưa vào CTTCMR là vắc xin viêm gan B, viêm não Nhật Bản, thương hàn, tả Tháng 6/2010, vắc xin Hib phòng các bệnh viêm màng não và viêm phổi do Hib

và năm 2015, vắc xin rubella được đưa vào CTTCMR [1]

Khi tỷ lệ TCĐĐ được nâng cao, tỷ lệ mắc các bệnh trong tiêm chủng cũng giảm xuống hàng năm Đặc biệt, đã thanh toán được bại liệt vào năm 2000 và đã loại trừ được bệnh uốn ván sơ sinh vào năm 2005 (đã được WHO công nhận) Hiện nay, CTTCMR quốc gia đang thực hiện mục tiêu loại trừ bệnh sởi và giảm tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B

ở trẻ dưới 5 tuổi xuống 1% trước năm 2020 [1,6] Qua các nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ

lệ TCĐĐ của trẻ dưới 1 tuổi đã tăng đáng kể như 99% ở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định [5]; 95,4% tại huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum [7]

Trong những năm gần đây, một số bệnh truyền nhiễm có nguy cơ bùng phát trở lại Năm 2014, dịch sởi đã trở lại ở 62 tỉnh thành trong cả nước với hơn 4.000 trường hợp mắc bệnh [27] Trong 6 tháng đầu năm 2017, có 62 trường hợp viêm não Nhật Bản trong

đó 1 trường hợp tử vong; có 3 trường hợp mắc bệnh bạch hầu trong đó có 2 trường hợp tử

Trang 12

vong [26] Thêm vào đó trong 6 tháng đầu năm 2017 trên cả nước đã xảy ra 1.740 trường hợp phản ứng nặng sau tiêm chủng và 21 trường hợp biến cố nặng sau tiêm chủng vắc xin Quinvaxem, BCG, OPV, viêm gan B, viêm não Nhật Bản ở 13 tỉnh, thành phố, trong đó

có 12 trường hợp hồi phục và 09 trường hợp tử vong [26] Những vấn đề này đã làm tỷ lệ TCĐĐ ở trẻ dưới 1 tuổi giảm dần trong chương trình TCMR trên toàn quốc 97,2% (2015), 98,0% (2016), 96,4% (2017) [29]

Tại Tây Ninh, công tác tiêm chủng cũng đạt được kết quả cao Tuy nhiên bên cạnh

đó cũng còn nhiều khó khăn trong công tác tiêm chủng như những lo lắng, hoang mang của gia đình trẻ khi đưa trẻ đi tiêm chủng bởi những thông tin về phản ứng nặng sau tiêm chủng vừa qua… hậu quả làm tình hình bệnh truyền nhiễm ở trẻ diễn biến phức tạp và có nguy cơ bùng phát thành dịch trên địa bàn Vì vậy việc đẩy mạnh công tác tiêm chủng để phòng bệnh chủ động cho trẻ và cộng đồng là hết sức cần thiết Do thời gian và nguồn lực

có hạn nên nghiên cứu này chỉ chọn đối tượng là những trẻ dưới 12 tháng tuổi và từ trước đến nay chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề tiêm chủng đầy đủ ở trẻ dưới 1 tuổi tại

huyện Châu Thành, nên chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và một

số yếu tố liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ ở trẻ em dưới 1 tuổi tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh năm 2017”

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng tiêm chủng đầy đủ 8 loại vắc xin ở trẻ em dưới 1 tuổi tại huyện Châu Thành năm 2017

2 Mô tả kiến thức người chăm sóc trẻ về TCMR cho trẻ dưới 1 tuổi và xác định một

số yếu tố liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 8 loại vắc xin ở trẻ em dưới 1 tuổi tại huyện Châu Thành năm 2017

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về tiêm chủng

Vắc xin là chế phẩm được sản xuất từ những vi sinh vật (vi khuẩn, vi rút), có khi là

toàn bộ vi sinh vật đó (sống, giảm độc lực hoặc chết, toàn tế bào), có khi chỉ là một hay một vài thành phần kháng nguyên của chúng sau khi được làm biến đổi để trở thành vô hại không gây bệnh cho người khi được đưa vào cơ thể, nhưng lại kích thích cơ thể tạo ra kháng thể đặc hiệu chống lại vi sinh vật đó [6]

Tiêm chủng là việc đưa vắc xin vào cơ thể con người với mục đích tạo cho cơ thể

khả năng miễn dịch để phòng bệnh tật [8]

Tiêm chủng đầy đủ: trẻ dưới 1 tuổi được coi là TCĐĐ khi trẻ nhận được đủ 8 liều

vắc xin: 1 mũi BCG; 3 mũi DPT-VGB-Hib; 3 lần uống OPV và 1 mũi Sởi [18]

Để tạo được miễn dịch phòng bệnh tốt nhất cho trẻ, bên cạnh tiêm chủng đầy đủ còn cần phải tiêm đúng lịch Tiêm chủng đúng lịch là tiêm đúng khoảng cách giữa các liều vắc xin Khoảng cách giữa các liều vắc xin phải tuân thủ theo quy định của nhà sản xuất

và quy định cho phép của BYT cho từng vắc xin, khoảng cách đó là tối thiểu Không được tiêm chủng trước lịch tiêm, vì như vậy trẻ sẽ không được miễn dịch tốt nhất [18] Theo Quyết định số 845/2010/QĐ-BYT ngày 17/03/2010 của Bộ Y tế, từ năm 2010, lịch tiêm chủng thường xuyên trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng áp dụng cho trẻ dưới

1 tuổi như sau [13]:

Một trẻ dưới 1 tuổi được coi là TCĐĐ và đúng lịch nếu trẻ được tiêm chủng đầy đủ

8 loại vắc xin và đủ 14 liều (gồm có: Vắc xin BCG, 3 mũi vắc xin DPT, 3 mũi vắc xin VGB, 3 mũi viêm màng não mủ do Hib, 3 lần uống vắc xin OPV và tiêm vắc xin sởi) và theo đúng thời gian quy định của Bộ Y tế Với từng loại vắc xin cụ thể, khái niệm về tiêm chủng đầy đủ đúng lịch được hiểu như sau:

- Vắc xin BCG:

+ Đầy đủ: Tiêm 01 mũi trước sinh nhật 1 tuổi

+ Đúng lịch: Tiêm trong vòng 01 tháng tuổi

- Vắc xin Viêm gan B:

Trang 15

+ Đầy đủ: Hoàn thành 03 mũi trước sinh nhật 1 tuổi

+ Đúng lịch: Tiêm khi đủ 02 tháng tuổi, hoàn thành 03 mũi trước 06 tháng tuổi, các mũi cách nhau tối thiểu 01 tháng

- Vắc xin DPT:

+ Đầy đủ: Hoàn thành 03 mũi trước sinh nhật 1 tuổi

+ Đúng lịch: Tiêm khi đủ 02 tháng tuổi, hoàn thành 03 mũi trước 06 tháng tuổi, các mũi cách nhau tối thiểu 01 tháng

- Vắc xin OPV:

+ Đầy đủ: Hoàn thành 03 mũi/liều uống trước sinh nhật 1 tuổi

+ Đúng lịch: Tiêm/uống khi đủ 02 tháng, hoàn thành 03 mũi/liều trước 06 tháng, các mũi cách nhau tối thiểu 01 tháng

- Vắc xin viêm màng não mủ do Hib:

+ Đầy đủ: Hoàn thành 03 mũi trước sinh nhật 1 tuổi

+ Đúng lịch: Tiêm khi đủ 02 tháng tuổi, hoàn thành 03 mũi trước 06 tháng tuổi, các mũi cách nhau tối thiểu 01 tháng

- Vắc xin Sởi:

+ Đầy đủ: Tiêm 01 mũi trước sinh nhật 1 tuổi

+ Đúng lịch: Tiêm 01 mũi khi đủ 09 tháng tuổi đến trước 11 tháng tuổi

Lợi ích của việc tiêm chủng vắc xin đầy đủ và đúng lịch

Một trẻ được tiêm chủng vắc xin đầy đủ và đúng lịch mới có miễn dịch đầy đủ cho trẻ đó phòng bệnh

Tiêm vắc xin cho trẻ em vào thời điểm:

- Trước khi trẻ có nguy cơ mắc bệnh (vì vậy phải tiêm vắc xin cho trẻ càng sớm càng tốt trong năm tuổi đầu tiên)

- Tiêm ngay sau khi trẻ mất miễn dịch do mẹ truyền sang (kháng thể của mẹ có thể trung hòa vắc xin)

- Tiêm bất kỳ lúc nào sau khi trẻ bỏ lỡ cơ hội tiêm chủng vào đúng tuổi quy định

Trang 16

Khoảng cách giữa các liều vắc xin phải tuân thủ hướng dẫn nhà sản xuất với mỗi loại vắc xin Khoảng cách giữa các mũi tiêm chủng đó là tối thiểu Không nên tiêm chủng trước lịch tiêm chủng, vì như vậy trẻ sẽ không được miễn dịch tốt

Các hình thức tiêm chủng được áp dụng ở Việt Nam

Từ điều kiện thực tế về địa lý, giao thông đòi hỏi phải triển khai các hình thức tiêm chủng thích hợp ở Việt Nam như sau:

Tiêm chủng thường xuyên: buổi tiêm chủng được tổ chức hằng tháng và mỗi tháng

chỉ tổ chức tiêm chủng 1 – 3 ngayỳ cố định Tuyến xã là nơi tiêm hầu hết các mũi vắc xin trong chương trình TCMR cho đối tượng trẻ em và phụ nữ có thai/phụ nữ ở tuổi sinh đẻ

Ở hầu hết các xã, điểm tiêm chủng cố định taij Trạm Y tế xã là hình thức cơ bản nhất, tại các xã này buổi tiêm chủng được tổ chức vào một ngày hoặc một số ngày cố định trong tháng Riêng vắc xin viêm gan B, do khuyến cáo của chuognư trình la tiêm trong vòng 24 giờ đầu sau khi sinh nên liều sơ sinh được các Trạm Y tế thực hiện bất cứ khi nào có trẻ được sinh ra

- Ở những vùng đồng bằng, điều kiện giao thông thuận tiện, không quá xa, người dân dễ dàng tiếp cận với dịch vụy tế, mỗi xã chỉ có một điểm tiiêm chủng tại Trạm Y tế

- Ở một số xã có địa bàn rộng hoặc đi lại khó khăn điểm tiêm chủng ngoài Trạm Y

tế có thể được tổ chức hàng tháng, định kỳ hoặc trong các đợt chiến dịch Mỗi điểm tiêm chủng ngoài trạm thực hiện tiêm chủng cho một cụm các thôn gần nhau Điểm được chọn

là thôn nằm giữa trung tâm của cụm Cách thức này giúp người dân dễ tiếp cận với dịch

vụ tiêm chủng hơn, làm tăng tỷ lệ tiêm chủng tại các vùng khó khăn, đặc biệt ở vùng núi vùng song nước Điểm tiêm tại các trường học thường được nhắc tới trong các đợt triển khai tiêm chủng chiến dịch cho các đối tượng trong độ tuổi đi học

Tiêm chủng định kỳ: Tại một số vùng rất khó tiếp cận, do khó khăn về điều kiện

địa lý, giao thông, dân cư thưa thớt (mùa mưa, đi lại khó khăn, có khi không có đường vào xã, thôn bản) nên mỗi năm chỉ có thể tổ chức tiêm vắc xin cho trẻ từ 3 đến 6 lần Với hình thức tiêm chủng này trẻ không thể được tiêm chủng đúng lịch mà chỉ cố gắng đảm bảo cho trẻ nhận đủ các liều vắc xin quy định Do hạn chế về chất lượng của việc tiêm

Trang 17

chủng định kỳ nên các địa phương càng ngày càng cố gắng khắc phục khó khăn như cung cấp tủ lạnh tại xã để bảo quản vắc xin trước mùa mưa, tang cường phối hợp với bộ đội biên phòng, quân y… để chuyển dần sang hình thức tiêm chủng thường xuyên hàng tháng

Tiêm chủng lưu động: Cán bộ y tế đến tiêm “vét” tại nhà các đối tượng xa trạm

hoặc vì bất kỳ lý do gì không đi tiêm chủng Trước đây hình thức này khá phổ biến Tuy nhiên, từ năm 2007, Bộ Y tế đã có quy định không tiến hành tiêm chủng theo hình thức này nhằm tăng cường an toàn và chất lượng tiêm chủng

Khoa sản của các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện chỉ tiêm vắc xin viêm gan B sơ sinh cho tréinh tại các bệnh viện này Một số bệnh viện thực hiện tiêm vác xin BCG cho trẻ sơ sinh cùng với vắc xin viêm gan B

Phản ứng sau tiêm chủng

Khái niệm: là hiện tượng bất lợi về sức khỏe bao gồm các biểu hiện tại chỗ tiêm hoặc toàn thân xảy ra sau tiêm chủng, không nhất thiết do sử dụng vắc xin, bao gồm phản ứng thông thường sau tiêm chủng và tai biến nặng sau tiêm chủng [8]

Phân loại phản ứng sau tiêm chủng theo nguyên nhân [2]

Bảng 1 1 Phân loại phản ứng sau tiêm chủng theo nguyên nhân Phản ứng của vắc xin Phản ứng xảy ra do vắc xin không phải do sai sót trong tiêm

chủng Sai sót trong tiêm chủng Phản ứng xảy ra do sai sót trong tiêm chủng

Trùng hợp Phản ứng trùng hợp ngẫu nhiên với một tình trạng bệnh của

trẻ xảy ra sau tiêm chủng Phản ứng do sự tiêm Phản ứng do sự lo sợ hoặc bị tiêm đau

Không rõ nguyên nhân Phản ứng không xác định được nguyên nhân

Phân loại phản ứng sau tiêm chủng theo mức độ: Phản ứng sau tiêm chủng có thể

nhẹ tự khỏi nhưng cũng có thể nghiêm trọng đê dọa tính mạng hoặc gây tử vong Tùy

Trang 18

thuộc vào mức độ phản ứng mà cần phải xử trí Điều tra hoặc theo dõi hay cần sự giúp đỡ của tuyến trên [2]:

- Phản ứng sau tiêm chủng nhẹ: Có thể có các phản ứng như sốt nhẹ <38,5℃, đau tại chỗ tiêm, quấy khóc Đây là phản ứng thông thường cho thấy đáp ứng của cơ thể với vắc xin, không kéo dài các phản ứng sẽ khỏi trong vòng 1 ngày

- Phản ứng sau tiêm chủng nghiêm trọng: Thường ít gặp nhưng phải được phát hiện sớm và xử lý kịp thời Bao gồm: sốc phản vệ, hội chứng sốc nhiễm độc, nghi ngờ do sai sót trong tiêm chủng và tử vong

Phản ứng thông thường sau tiêm là các trường hợp có biểu hiện tại chỗ như sưng,

nóng, đỏ đau tại vị trí tiêm và sốt nhẹ [8]

Phản ứng nặng sau tiêm chủng là biến cố bất lợi sau tiêm chủng có thể đe dọa đến

tính mạng người được tiêm chủng hoặc để lại di chứng hoặc làm người được tiêm chủng

tử vong do vắc xin gây ra [8]

Các trường hợp hoãn tiêm chủng

Cần hoãn tiêm chủng cho trẻ khi trẻ mắc các bệnh cấp tính hoặc các bệnh mãn tính, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng; sốt từ 37,5℃ trở lên hoặc thân nhiệt dưới 35,5℃ (đo nhiệt độ tại nách); trẻ sơ sinh có cân nặng dưới 2kg; trẻ bị sốc, phản ứng nặng từ lần tiêm chủng trước đó; trẻ đang hoặc mới kết thúc điều trị corticoid hoặc grammaglobulin Ngoài

ra khi trẻ có biểu hiện bất thường về nhịp tim, nhịp thở, phổi, tri giác (ly bì hoặc kích thích) cũng nên hoãn tiêm chủng cho trẻ [2]

Những vắc xin triển khai trong chương trình TCMR

Có 10 loại vắc xin tiêm cho mọi trẻ trong chương trình TCMR:

- Vắc-xin BCG [15]: Vắc-xin phòng bệnh lao và cần được tiêm càng sớm càng tốt sau khi trẻ được sinh ra, tiêm 1 mũi

- Vắc-xin viêm gan B liều sơ sinh [15]: Vắc-xin viêm gan B được sử dụng để phòng bệnh viêm gan B và cũng cần được tiêm cho trẻ càng sớm càng tốt, tốt nhất là trong vòng 24h sau sinh để phòng ngừa lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con

Trang 19

- Vắc-xin 5 trong 1 (DPT-VGB-Hib hay Quinvaxem) [15]: phòng 5 bệnh bạch hầu,

ho gà, uốn ván, viêm gan B và viêm phổi, viêm màng não do vi khuẩn Hib Vắc xin Quinvaxem được tiêm 3 mũi gồm:

• Mũi tiêm thứ 1: khi trẻ đủ 2 tháng tuổi

• Mũi tiêm thứ 2: khi trẻ đủ 3 tháng tuổi

• Mũi tiêm thứ 3: khi trẻ đủ 4 tháng tuổi

- Vắc-xin phòng bại liệt (OPV) [15]: phòng bệnh bại liệt với 3 liều uống:

• Uống liều thứ 1: khi trẻ đủ 2 tháng tuổi

• Uống liều thứ 2: khi trẻ đủ 3 tháng tuổi

• Uống liều thứ 3: khi trẻ đủ 4 tháng tuổi

- Vắc-xin phòng bệnh sởi [15]: gồm có 2 mũi tiêm

• Mũi tiêm thứ 1: khi trẻ đủ 9 tháng tuổi

• Mũi tiêm thứ 2: khi trẻ đủ 18 tháng tuổi

- Vắc-xin phòng bệnh viêm não Nhật Bản [15]: gồm 3 mũi tiêm

• Mũi tiêm thứ 1: khi trẻ đủ 1 tuổi

• Mũi tiêm thứ 2: 1 - 2 tuần sau liều 1

• Mũi tiêm thứ 3: 1 năm sau liều 2

- Vắc-xin phòng bệnh rubella [15]: tiêm khi trẻ 18 tháng tuổi

1.2 Thực trạng tiêm chủng đầy đủ và các yếu tố liên quan

Theo báo cáo của WHO năm 2016, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin là 86%,

tỷ lệ tiêm chủng DPT mũi 3 là 86%, Hib mũi 3 là 70%, VGB mũi 3 là 84%, sởi mũi 1 là 85%, OPV liều 3 là 85% Một nghiên cứu tiến hành khảo sát trên 31 quốc gia trong giai đoạn 2005 - 2007 cho thấy trung bình tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc xin dao động từ 91% với sởi đến 98% với BCG ; về tiêm chủng đúng lịch cho kết quả là trung bình 65% cho BCG, 41% cho DPT mũi 3, 38% cho OPV liều 3 và 51% cho liều sởi [22] Một nghiên cứu khác tại Senegal năm 2017 khảo sát số liệu 2013-2014 cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đầy

Trang 20

đủ là 72%, 88,3% tiêm chủng đúng lịch với BCG, 73,4% tiêm chủng đúng lịch với OPV liều 3, 73,7% tiêm chủng đúng lịch với penta vắc xin mũi 3 (gồm DPT, HiB, Hepatitis B)

và 72,3% với sởi mũi 1 [23]

Ở Việt Nam tỷ lệ TCĐĐ hàng năm luôn duy trì ở mức trên 90% nhưng bên cạnh đó

tỷ lệ TCĐĐ đúng lịch còn thấp Một nghiên cứu tại huyện Phù Mỹ tỉnh Bình Định năm

2016 cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ ở trẻ dưới 1 tuổi là 99% nhưng tiêm đầy đủ và đúng lịch chỉ đạt 24,7% trong đó mũi BCG đạt 92,7%; tiêm mũi 1 DPT-VGB-Hib đạt 75,7%, mũi 2 đạt 52,7%, mũi 3 đạt 40,7%; uống OPV1 đạt 80,3%, OPV2 đạt 65%, OPV3 đạt 55,7%; sởi mũi 1 đạt 69,3% [5] Một nghiên cứu khác tại huyện Tu Mơ Rông tỉnh Kon Tum năm 2016 cho thấy tỷ lệ TCĐĐ cho trẻ dưới 1 tuổi là 95,4% tuy nhiên tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch 8 loại vắc xin chỉ là 55% [7] Tại một nghiên cứu ở huyện An Dương thành phố Hải Phòng số trẻ được tiêm chủng đầy đủ là 64,8%, tiêm đầy đủ và đúng lịch là 51,9%[29] Qua đó có thể thấy tỉ lệ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch thay đổi theo địa bàn và khác nhau với từng loại vắc xin

1.3 Kiến thức về TCMR của người mẹ và các yếu tố liên quan đến TCĐĐ ở trẻ dưới

1 tuổi

Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ TCĐĐ ở trẻ dưới 1 tuổi trong bài được xây dựng dựa trên kết quả của một số nghiên cứu về tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ và các yếu tố liên quan trước đó [5,7] Tại huyện Châu Thành, có thể có các yếu tố ảnh hưởng đến TCĐĐ cho trẻ dưới 1 tuổi cụ thể là:

a) Yếu tố bản thân người mẹ:

Kiến thức của người mẹ về tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi: Kiến thức của người mẹ

là yếu tố hết sức quan trọng góp phần nâng cao tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch ở trẻ, gồm:

- Kiến thức về các loại bệnh truyền nhiễm có thể phòng được nhờ tiêm chủng và các loại vắc xin có trong chương trình TCMR;

- Kiến thức về lịch tiêm, thời gian và địa điểm tiêm chủng cho trẻ;

- Kiến thức về lợi ích của việc tiêm chủng;

Trang 21

- Kiến thức về các phản ứng thông thường và phản ứng nặng sau tiêm chủng;

- Kiến thức về cách chăm sóc, theo dõi và xử trí khi trẻ có những phản ứng thông thường sau tiêm chủng

- Kiến thức đúng về các trường hợp cần hoãn tiêm cho trẻ

Thông tin về người mẹ là những yếu tố nhân khẩu học của người mẹ như: tuổi; trình

độ học vấn; nghề nghiệp; tôn giáo; số con

- Tuổi của mẹ: Tuổi mẹ lớn hơn sẽ có được nhiều kinh nghiệm trong chăm sóc và

nuôi trẻ nhiều hơn

- Trình độ học vấn của bà mẹ: Trình độ học vấn càng cao bà mẹ sẽ có được nhiều

thông tin hơn và hiểu biết hơn dẫn đến trẻ được TCĐĐ hơn, đúng lịch hơn và được chăm sóc sức khỏe chu đáu hơn những bà mẹ có trình độ thấp hơn Và cũng có thể ngược lại, do

có nhiều thông tin hơn dẫn đến làm bà mẹ phân vân trong việc chon loại vắc xin nào tiêm cho trẻ hay lo sợ trẻ bị những biến cố bất lợi sau tiêm nên chậm trễ trong việc dẫn trẻ đi tiêm chủng

- Nghề nghiệp: Những bà mẹ có nghề nghiệp ổn định hoặc những công việc có thời

gian để chăm sóc trẻ hơn thì có thể trẻ sẽ được TCĐĐ và đúng lịch hơn và ngược lại các

bà mẹ không có nghề nghiệp ổn định hoặc làm công việc không có thời gian để chăm sóc trẻ phải gởi người thân hoặc nhà trẻ có thể trẻ sẽ không đuọc TCĐĐ và không đúng lịch

- Số con trong nhà của một gia đình cũng ảnh hưởng ít hoặc nhiều đến việc trẻ

được TCĐĐ và đúng lịch Gia đình có 1 hoặc 2 con sẽ có nhiều thời gian để chăm sóc cho con hơn gia đình có nhiều con và việc này sẽ làm trẻ bị tiêm trễ hoặc bỏ mũi tiêm

b) Yếu tố cộng đồng và xã hội:

Thông tin về lịch tiêm chủng là việc bà mẹ hoặc người chăm sóc trẻ nhận thông tin

về lịch tiêm chủng cho trẻ thông qua nhiều nguồn cung cấp thông tin khác nhau như: cán

bộ y tế, tivi, báo chí, đài phát thanh, mạng internet, bạn bè, người thân,…

Trang 22

Thông tin về lợi ích của tiêm chủng là việc bà mẹ hoặc người chăm sóc trẻ nhận thông tin về lợi ích của việc đưa trẻ đi TCĐĐ và đúng lịch từ cộng đồng và xã hội Nhằm khuyến khích đưa trẻ đi tiêm chủng phòng ngừa bệnh

Thông tin về các phản ứng có thể xảy ra sau tiêm chủng và thông tin không đầy đủ

về các trường hợp tử vong sau tiêm chủng là việc bà mẹ hoặc người chăm sóc trẻ nhận những thông tin bất lợi có thể xảy ra khi dẫn trẻ đi tiêm chủng Yếu tố này gây ảnh hưởng xấu và làm giảm tỷ lệ tiêm chủng hoặc bỏ tiêm do việc bà mẹ hoặc người chăm sóc trẻ lo lắng, hoang mang, lo sợ trước biến cố bất lợi xảy ra với trẻ

Khoảng cách từ nhà đến địa điểm tiêm chủng: Nếu khoảng cách đến nơi tiêm chủng cho trẻ quá xa hoặc phương tiện đi lại hoặc đường xá khó khăn sẽ dẫn đến việc trẻ khó tiếp cận được với việc tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin và thường xuyên tiêm trễ các mũi tiêm

c) Yếu tố dịch vụ y tế:

Sự sẵn có của vắc xin, vật tư tiêm chủng, phiếu tiêm chủng là yếu tố quan trọng nhất trong khâu chuẩn bị trước khi tiêm chủng Việc đáp ứng đủ và kịp thời vắc xin, vật tư tiêm chủng là góp phần nâng cao tỷ lệ TCĐĐ và đúng lịch, giúp trẻ tiêm chủng không bị gián đoạn tăng cao tỷ lệ phòng bệnh cho trẻ

Sổ sách quản lý số liệu tiêm chủng: là việc ghi chép hoặc lưu giữ số liệu số lần tiêm/uống vắc xin của trẻ nhằm theo dõi trẻ có tiêm ngừa đầy đủ không? Có đúng ngày theo lịch hẹn không? Từ đó có thể rà sót lại những trẻ chưa được tiêm, những trẻ bỏ tiêm

để tổ chức tiêm “vét”

Tuyên truyền vận động đưa trẻ đi tiêm chủng, tư vấn đúng và đầy đủ của cán bộ y tế: Cán bộ y tế tiêm chủng là người trực tiếp tiếp xúc với trẻ và người dẫn trẻ đi tiêm chủng, nên đay là kênh tuyên truyền hiệu quả nhất trong việc vận động người đưa trẻ đi tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch Việc tư vấn đúng và đầy đủ về tiêm chủng sẽ giúp nâng cao kiến thức của bà mẹ về tiêm chủng và từ đó góp phần nâng cao kiến thức trong cộng đồng dẫn đến công tác phòng ngừa bệnh từ tiêm ngừa vắc xin

Trang 23

Tổ chức tiêm chủng an toàn: là việc lập kế hoạch bố trí trang thiết bị và nhân sự phục vụ cho ngày tiêm chủng, luôn có: 1 bàn tư vấn, 1 phòng tiêm ngừa, 1 phòng chờ theo dõi 30 phút trước khi trẻ ra về

d) Yếu tố gia đình:

Sự ủng hộ, tham gia của chồng và các thành viên trong gia đình khi đưa trẻ đi tiêm chủng: Đây là một trong các yếu tố giúp nâng cao tỷ lệ TCĐĐ ở trẻ, do có được sự quan tâm và chăm sóc của cả người cha và người mẹ

Lo lắng về tai biến có thể xảy ra khi tiêm chủng: những lo lắng về tai biến có thể làm giảm tỷ lệ TCĐĐ ở trẻ, do bà mẹ sợ không dám đưa trẻ đi tiêm chủng hoặc chần chừ khi quyết định đưa trẻ đi tiêm chủng

Sự quan tâm của gia đình về tiêm chủng của trẻ: nếu có được sự quan tâm của gia đình thì sẽ làm tăng tỷ lệ TCĐĐ lên cao hơn, do người trong gia đình có thể nhắc nhở nhau trong việc đưa trẻ đi tiêm chủng hoặc nếu như mẹ của trẻ bận hay không thể đưa trẻ

đi tiêm chủng thì có thể nhờ các thành viên trong gia đình đưa trẻ đi hộ

e) Yếu tố bản thân trẻ:

Yếu tố tuổi, tâm, sinh lý ở trẻ: Trẻ ở độ tuổi từ 0-12 tháng đang ở trong giai đoạn

non nớt, phụ thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc của người mẹ và gia đình Trong năm đầu đời trẻ tin tưởng hoàn toàn vào cha mẹ/ người chăm sóc Sự gắn bó, cảm giác an toàn rất quan trọng với trẻ trong giai đoạn dưới 1 tuổi và ảnh hưởng tới cả những năm tháng sau này trong đời khi trẻ đã trưởng thành

Hệ miễn dịch của trẻ: Cho đến nay, người ta vẫn cho rằng trẻ sơ sinh có hệ miễn

dịch chưa trưởng thành Giai đoạn này hệ thống miễn dịch của trẻ vẫn chưa hoàn thiện Miễn dịch thụ động ở trẻ là hệ thống kháng thể nhận được từ người mẹ ở thời điểm 3 tháng cuối thai kỳ, trẻ còn trong bào thai và sau đó qua nguồn sữa mẹ Các kháng thể này chỉ có tác dụng bảo vệ bé tạm thời tồn tại trong vài tháng đầu sau sinh và giảm nhanh chóng sau đó Trẻ dưới 1 tuổi cần được tiêm chủng đầy đủ 8 loại vắc xin gồm VGB, Lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, hib, sởi để phòng bệnh tốt nhất ở giai đoạn này

Giới tính của trẻ: Riêng đối với phong tục, tập quán tại Việt Nam, ngoài những yếu

Trang 24

tố trên, vấn đề giới tính của trẻcũng có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêm chủng, đặc biệt ở

những địa phương còn mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ

1.4 Một số nghiên cứu khác về tiêm chủng đầy đủ ở trẻ dưới 1 tuổi

1.3.1 Trên thế giới

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tiêm chủng được thực hiện nhằm đánh giá

độ bao phủ trong cộng đồng, từ đó đưa ra các biện pháp phù hợp với từng địa phương Ví

dụ như trong các nghiên cứu sau:

Tại Châu Phi, một nghiên cứu được tiếm hành vào năm 2010 tại các trung tâm trong các lĩnh vực công cộng và tư nhân của Libreville trên 1001 trẻ và người giám hộ của trẻ cho thấy nguyên nhân chính dẫn đến tiêm chủng không đầy đủ cho trẻ là do thiếu tài chính 28,3%; thiếu thông tin 25,9%; quên 21,7%; còn lại là do trẻ mắc bệnh, mẹ thiếu hiểu biết, thiếu thời gian Trong nghiên cứu này trình độ học vấn của mẹ lại không phải là yếu tố liên quan đến tiêm chủng không đầy đủ của trẻ [21]

Một nghiên cứu khác tại Ấn Độ, sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang ở 450 trẻ từ 12 đến 23 tháng tuổi tại khu vực nông thôn và thành thị của Lucknow năm 2013 cho thấy tỷ lệ TCĐĐ của trẻ dưới 1 tuổi là 62,7%, những lý do chính cho sự thất bại của chương trình tiêm chủng là: trì hoãn việc tiêm chủng đến lần khác, trẻ bị bệnh nên không đưa đi tiêm, không ý thức được sự cần thiết của tiêm chủng, nơi tiêm chủng quá xa, không ý thức được sự cần thiết của liều tiêm thứ 2, thứ 3, mẹ quá bận rộn, sợ phản ứng phụ, những quan niệm sai lầm về tiêm chủng [19]

Năm 2013, một nghiên cứu cắt ngang dựa vào cộng đồng tại 15 quận huyện tại miền nam Ethiopia trên 630 trẻ trong độ tuổi từ 12 đến 23 tháng tuổi cho kết quả gần 3 phần tư trẻ em được TCĐĐ (73,2%); 20,3% trẻ được tiêm chủng không đầy đủ Một số yếu tố liên quan đến tình trạng tiêm chủng của trẻ là trình độ học vấn của mẹ, hiểu biết của mẹ về các loại vắc xin, kiến thức của mẹ về lịch tiêm chủng [20]

Trang 25

1.3.2 Tại Việt Nam

Trong các nghiên cứu tại Việt Nam trong thời gian qua đã chỉ ra được phần nào thành quả đạt được trong công tác TCMR toàn quốc, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ của trẻ dưới

1 tuổi được cải thiện đáng kể Nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều yếu tố làm ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ như:

Kiến thức của bà mẹ về tiêm chủng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả TCĐĐ ở trẻ Nghiên cứu của tác giả Đào Văn Khuynh và cộng sự năm 2009 tại huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau điều tra 460 bà mẹ có con dưới 1 tuổi cho thấy bà mẹ có kiến thức đúng có con TCĐĐ đúng lịch cao gấp 2,3 lần so với bà mẹ có kiến thức không đúng [3] Tương tự một nghiên cứu của Mai Anh Tuấn tại huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương năm 2017, cũng cho thấy bà mẹ có kiến thức thực hành đúng về tiêm chủng thì thực hành tiêm chủng cho trẻ đạt cao hơn so với bà mẹ có kiến thức không đạt [4]

Trình độ học vấn của bà mẹ cũng ảnh hưởng đến kết quả TCĐĐ ở trẻ Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương năm 2015 tại Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh cho thấy trẻ có bà mẹ có trình độ học vấn từ THPT trở lên được TCĐĐ cao gấp 3,2 lần so với trẻ có bà mẹ có trình độ học vấn thấp hơn [6]

Nghề nghiệp của bà mẹ cũng ảnh hưởng đến kết quả TCĐĐ ở trẻ dưới 1 tuổi Nghiên cứu của Trương Văn Dũng năm 2010 tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh cho thấy tỷ lệ trẻ TCĐĐ và đúng lịch ở bà mẹ làm nông nghiệp thấp hơn các bà mẹ làm nghề khác [17] Còn theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tân năm 2016 tại huyện Phù Mỹ, Bình Định lại cho thấy kết quả ngược lại, các bà mẹ làm nghề nội trợ, làm nông nghiệp có con dưới 1 tuổi TCĐĐ và đúng lịch cao hơn những bà mẹ là CBVC-VC, buôn bán, công nhân

là 2,28 lần [5]

Bên cạnh trình độ học vấn thì số con cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ TCĐĐ cho trẻ dưới 1 tuổi Nguyễn Ngọc Tân và Trương Văn Dũng cho kết quả tỷ lệ TCĐĐ và đúng lịch của bà

mẹ có ≥2 con cao hơn bà mẹ có 1 con [5,17]

Yếu tố dịch vụ y tế: việc cung ứng vắc xin và dụng cụ tiêm chủng, kế hoạch cụ thể cho 1 buổi tiêm chủng của trạm y tế cũng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả TCĐĐ của trẻ dưới 1 tuổi Nghiên cứu của Trương Văn Dũng cho thấy nguyên nhân trẻ tiêm chủng

Trang 26

không đầy đủ và đúng lịch lên đến 33,73% là do hết vắc xin và trẻ ốm trong ngày tiêm chủng là 43,37% [17] Cũng trong nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tân có 7,7% bà mẹ trả lời thiếu vắc xin trong buổi tiêm chủng cho trẻ [5]

Yếu tố gia đình cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ TCĐĐ của trẻ dưới 1 tuổi Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương thì có 48,0% các bà mẹ sợ tác dụng phụ sau tiêm chủng, trẻ ốm không đưa đi tiêm chủng 33,3% [6] Trong nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tân thì tỷ lệ người cha đưa trẻ đi tiêm chủng là 67,3%, tỷ lệ gia đình ủng hộ việc tiêm chủng của trẻ là 98,3% [5]

Yếu tố cộng đồng và xã hội cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ TCĐĐ của trẻ dưới 1 tuổi Trong nghiên cứu của Trương Văn Dũng cho thấy có 5,12% bà mẹ chưa nhận được thông báo lịch tiêm chủng, về thời gian và địa điểm tổ chức buổi tiêm chủng chỉ có khoảng gần 50% là hài lòng [4]

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu

Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên quá trình tổng quan của các nghiên cứu về tiêm chủng trước đó [5,7]

Trang 27

Tuổi; trình độ học vấn; nghề nghiệp; dân tộc; tôn

giáo; số con

Yếu tố gia đình

Sự ủng hộ, tham gia

của chồng và các

thành viên trong gia

đình khi đưa trẻ đi

Thông tin về lịch tiêm chủng

Thông tin về các lợi ích của tiêm chủng

Thông tin về các phản ứng có thể xảy ra sau tiêm chủng

Thông tin về các trường hợp tử vong sau tiêm chủng

Khoảng cách từ nhà đến điểm tiên chủng

Tư vấn đúng, đầy đủ của cán

bộ y tế

Thực trạng tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi

- Tình trang sức khỏe của trẻ vào các buổi tiêm chủng

Trang 28

1.6 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu

Huyện Châu Thành nằm trên tuyến biên giới phía tây nam của tỉnh Tây Ninh, có chung đường biên giới với tỉnh Svây Riêng (Campuchia) dài 48 km, có diện tích tự nhiên 571,25 km2, gồm 1 thị trấn và 14 xã, trong đó có 6 xã thuộc vùng sâu vùng xa biên giới [10], dân số toàn huyện năm 2017 là 141.875 người [24]

Chương trình tiêm chủng mở rộng triển khai lần đầu tiên tại huyện Châu Thành vào năm 1984 Đến năm 1991, đã triển khai trên toàn 15/15 xã, thị trấn của huyện Bước đầu triển khai chương trình cũng gặp một số khó khăn như: ý thức của người dân về tiêm chủng chưa cao, chưa hiểu biết nhiều về lợi ích của tiêm chủng phòng bệnh, thiếu trang thiết bị bảo quản dây chuyền lạnh,… Tuy nhiên, với sự nỗ lực chương trình đã từng bước khắc phục những khó khăn ban đầu và đến nay đã: tổ chức tiêm chủng thường xuyên hàng tháng và địa điểm cố định tại TYT xã tại 15/15 xã, thị trấn; cung cấp trang thiết bị bảo quản vắc xin cho TYT xã; vận động, tuyên truyền cho người dân đưa trẻ đi tiêm chủng,… và kết quả là tỷ lệ TCĐĐ cho trẻ dưới 1 tuổi đạt trên 90%

Hình 1 2: Bản đồ vị trí địa lý huyện Châu Thành

(Nguồn: onthidialy.wordpress.com)

Trang 29

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các bà mẹ có con từ 12 tháng đến 23 tháng tuổi tính đến thời điểm điều tra (trẻ sinh

ra từ tháng 4/2016 đến tháng 4/2017)

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Những bà mẹ có con từ 12 tháng đến 23 tháng tuổi hiện đang sống trên địa bàn

nghiên cứu vào thời điểm thu thập số liệu

- Tự nguyện tham gia phỏng vấn

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Những bà mẹ không trực tiếp chăm sóc con

- Các bà mẹ thiểu năng về nghe, nói và có vấn đề về tâm thần

- Những bà mẹ không sẵn sàng tham gia nghiên cứu và không có khả năng cung

cấp thông tin sau khi đã giới thiệu mục đích nghiên cứu

- Bà mẹ vắng nhà trong thời gian điều tra thu thập số liệu

- Bà mẹ của những trẻ có kết quả TCĐĐ từ huyện khác chuyển đến

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 09 năm 2018

Địa điểm: huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu điều tra mô tả cắt ngang có phân tích

n: là số bà mẹ cần điều tra

Trang 30

p: là tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ, trong nghiên cứu Phạm Minh Khuê là 89,84%% vì vậy chọn p=0,89 [9]

d: là độ chính xác tuyệt đối (lấy d = 0,05)

α: chọn mức ý nghĩa thống kê 95%, có α = 0,05

Z1-α/2: là giá trị thu được bằng tra bảng Z, có α = 0,05; Z = 1,96

Thay các tham số vào công thức tính được cỡ mẫu n = 150 Trong nghiên cứu này ta chọn mẫu theo cụm nên lấy hệ số thiết kế mẫu DE = 2 nên n = 300 Lấy thêm 10% mẫu

dự phòng, tổng mẫu cần lấy là 330 bà mẹ có con từ 12 đến 23 tháng tuổi

2.5 Phương pháp chọn mẫu

Mẫu nghiên cứu được chọn theo hướng dẫn chọn mẫu của WHO để đánh giá mức bao phủ của vắc xin Các bước tiến hành chọn mẫu gồm 2 giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: lựa chọn các cụm Chọn 30 cụm từ 15 xã, thị trấn có sẵn

- Lập danh sách tất cả các xã, thị trấn trong huyện cùng với số trẻ từng xã, thị trấn

- Chọn 30 cụm dựa vào tổng số trẻ lũy tích và tính khoảng cách chọn mẫu, bằng phương pháp ngẫu nhiên hệ thống

Giai đoạn 2: lựa chọn hộ gia đình trong 1 cụm:

- Mỗi cụm chọn số trẻ = mẫu/tổng số cụm = 330/30 = 11 trẻ

- Chọn ngẫu nhiên 1 hộ gia đình có trẻ từ 12 – 23 tháng tuổi trong xã, thị trấn, phỏng vấn bà mẹ và điều tra phiếu tiêm chủng của trẻ từ 12 – 23 tháng tuổi trong hộ gia đình đó, tiếp tục chọn ngẫu nhiên cho đến khi đủ 11 trẻ trong 1 cụm

Trang 31

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

Qua phương pháp chọn mẫu nghiên cứu viên có được danh sách các bà mẹ và các trẻ Từ đó, nghiên cứu viên kết hợp với cán bộ y tế Trạm Y tế xã, thị trấn tiến hành thu thập số liệu qua 2 phần:

Phần 1: Thu thập số mũi tiêm của trẻ

Thu thập mũi tiêm của trẻ được tiến hành tại Trạm Y tế xã, thị trấn

Nghiên cứu viên đến TYT xã, thị trấn giới thiệu rõ mục đích nghiên cứu của mình Sau khi được sự chấp thuận của TYT xã, nghiên cứu viên căn cứ vào danh sách trẻ đã có sẵn tiến hành ghi chép lại thông tin đầy đủ của trẻ, bà mẹ và kết quả tiêm chủng từng loại vắc xin trẻ đã tiêm lúc trước 12 tháng tuổi từ sổ quản lý tiêm chủng A2.1/YTCS

Kết quả thông tin thu được nghiên cứu viên điền vào mẫu phiếu điều tra như ở Phụ lục 4

Phần 2: Thu thập thông tin của người mẹ hoặc người chăm sóc trẻ

Điều tra viên gồm 2 thành viên: 1 nghiên cứu viên và 1 cán bộ y tế đang công tác tại khoa y tế dự phòng

Người dẫn đường: Cán bộ y tế của TYT xã, thị trấn đang phụ trách công tác chương trình TCMR

Nghiên cứu viên xây dụng bộ câu hỏi dựa vào mục tiêu nghiên cứu và tổ chức tập huấn cho điều tra viên trong một buổi về kỹ năng phỏng vấn thu thập thông tin, ghi chép thông tin

Tổ chức cho điều tra viên điều tra thử nghiệm trên 10 bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại huyện Châu Thành (10 bà mẹ không nằm trong danh sách mẫu được chọn vào nghiên cứu) để đánh giá tính khả thi, phù hợp của bộ câu hỏi và sau đó hoàn thiện bộ câu hỏi in phục vụ cho điều tra

Sau khi đã thu thập mũi tiêm của trẻ, điều tra viên cùng với cán bộ y tế đến nhà của trẻ tiến hành phỏng vấn để thu thập thông tin của người mẹ hoặc người chăm sóc trẻ

Điều tra viên phỏng vấn trực tiếp bà mẹ bằng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn như ở

Phụ lục 3 Câu trả lời được điền hoặc đánh dấu vào bộ câu hỏi ngay sau câu trả lời của

người được phỏng vấn tại buổi phỏng vấn Thời gian phỏng vấn 01 bà mẹ khoảng 15 – 20

Trang 32

phút Trước khi phỏng vấn các bà mẹ, điều tra viên giới thiệu rõ mục đích nghiên cứu, tính bảo mật và sự cần thiết hợp tác

Các điều tra viên tiến hành điều tra theo hình thức cuốn chiếu, hết xã này đến xã khác Trường hợp không gặp được đối tượng nghiên cứu, điều tra viên có thể xin số điện thoại và quay lại sau một vài giờ trong ngày hoặc chọn một đối tượng nghiên cứu khác cùng xã để thay thế

Giám sát viên kiểm tra phiếu về số lượng, chất lượng Những phiếu điền thiếu thông tin, trả phiếu cho điều tra viên thu thập tiếp Sau khi điều tra viên nộp phiếu điều tra

là bộ câu hỏi phỏng vấn đã được bà mẹ trả lời cho giám sát viên

2.7 Các biến nghiên cứu

Gồm 6 nhóm biến số:

- Nhóm thực hành tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch có 12 biến số

- Nhóm biến thông tin về mẹ của trẻ có 6 biến số

- Nhóm biến số về kiến thức của bà mẹ về TCMR có 14 biến

- Nhóm dịch vụ y tế có 7 biến

- Nhóm thông tin về cộng đồng, xã hội có 6 biến

- Nhóm thông tin về yếu tố gia đình có 10 biến

- Nhóm thông tin về yếu tố của trẻ có 8 biến

Chi tiết bảng biến số được trình bày trong Phụ lục 1

2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

Xác định tiêu chuẩn trẻ dưới 1 tuổi tiêm chủng đầy đủ [6]:

- Một trẻ được TCĐĐ là được tiêm đủ: 1 mũi BCG, 3 mũi DPT-VGB-Hib, 3 lần uống OPV và 1 mũi sởi

- Một trẻ được TCĐĐ đúng lịch: theo Bảng 2 lịch tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi tại Việt Nam

- Trẻ được tiêm chủng một phần là trẻ được tiêm ít nhất 1 loại vắc xin

Trang 33

- Trẻ không được tiêm chủng là trẻ chưa được tiêm hay uống bất kì loại vắc xin nào trong 8 loại vắc xin trên

- Một trẻ tiêm chủng không đầy đủ là trẻ chỉ được tiêm chủng 1 phần hoặc không được tiêm chủng

Đánh giá tình trạng tiêm chủng của trẻ dựa vào kết quả điều tra

- Đối chiếu với sổ quản lý tiêm chủng tại TYT để đánh giá trẻ được TCĐĐ hay không TCĐĐ; TCĐĐ đúng lịch hay trễ lịch hay bỏ tiêm

Đánh giá kiến thức bà mẹ về tiêm chủng mở rộng bằng cách tính điểm theo Phụ lục 5 Bà mẹ có tổng điểm từ 14 trở lên là đạt, dưới 14 điểm là không đạt

2.9 Phương pháp quản lý và phân tích số liệu

Số liệu sau khi thu thập được mã hóa, làm sạch và nhập vào máy tính bằng phần mềm EpiData 3.0

Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 (Statistical Package for the Social Sciences) để phân tích số liệu, kết quả phân tích được chia làm 2 phần:

Phần mô tả: Thể hiện tần suất và tỷ lệ của các biến trong nghiên cứu

Phần phân tích: Đưa ra những mối liên quan của một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ

tiêm chủng đầy đủ của trẻ bằng kiểm định khi bình phương (𝑥2); dựa trên kết quả phân tích đưa các biến có mối liên quan với tiêm chủng đầy đủ vào phân tích hồi qui logistic để kiểm soát các yếu tố nhiễu

2.10 Vấn đề đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai sau khi được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu Y Sinh học của trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt với mã số: 018-128DD-YTCC

Những người được chọn phỏng vấn đều đồng ý tham gia nghiên cứu Để bảo đảm tính riêng tư, toàn bộ thông tin do người trả lời phỏng vấn cung cấp không ghi họ tên và

sẽ được tổng hợp cùng với thông tin thu được từ những người khác, mã hoá, không chứa các thông tin nhận dạng cá nhân, nên sẽ không ai khác biết được họ đã trả lời cụ thể những gì

Trang 34

Các kết quả nghiên cứu, ý kiến đề xuất được sử dụng vào mục đích phục vụ sức khỏe nhân dân Ngoài ra không có mục đích gì khác

Trang 35

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung

Bảng 3 1 Thông tin chung của bà mẹ trong nghiên cứu

Trang 36

là THCS; cao nhất là THPT (54,2%); trên THPT là 19,7%; vẫn còn 3,3% bà mẹ là mù chữ

và trình độ tiểu học Các bà mẹ có nghề nghiệp nội trợ là cao nhất 39,1%; buôn bán là 21,5%; công nhân 18,8%; CBVC là 9,4%; làm nông là 7,9% và làm các nghề khác là 3,3% Đa số các bà mẹ có từ 2 con trở xuống là 95,2 và 4,8 % bà mẹ có trên 2 con Đa số (65,1%) các bà mẹ không theo tôn giáo; Phật giáo là 10%; Thiên chúa giáo là 18,2% và Cao đài là 10,3%

Bảng 3 2 Bà mẹ nghe các trường hợp phản ứng nặng sau tiêm chủng và tử vong sau tiêm chủng

tử vong sau tiêm chủng

(chưa rõ nguyên nhân)

Có 48,8% bà mẹ có nghe về các phản ứng nặng sau tiêm chủng và trong số các bà

mẹ đó có 26,1% các bà mẹ có nghe về các trường hợp tử vong sau tiêm chủng (chưa rõ nguyên nhân)

Bảng 3 3 Nguồn thông tin bà mẹ nghe về tiêm chủng

Trang 37

Bảng 3 4 Hỗ trợ từ gia đình về tiêm chủng cho trẻ

Sức khỏe của trẻ trong buổi tiêm

chủng mũi Quinvaxem1 và uống

OPV1

Sức khỏe của trẻ trong buổi tiêm

chủng mũi Quinvaxem2 và uống

OPV2

Không nhớ/bận việc

1/1 0,3/0,3

Sức khỏe của trẻ trong buổi tiêm

chủng mũi Quinvaxem3 và uống

Trang 38

chủng mũi sởi Bị bệnh 95 28,8

Không nhớ/bỏ tiêm

Theo kết quả thống kê trên thì trẻ có sức khỏe bình thường trong buổi tiêm chủng đạt tỷ lệ cao ở mũi BCG (93,0%); Quinvaxem2 và OPV2 là 80,9%; Quinvaxem3 và OPV3 là 83,9%, chỉ có mũi Quinvaxem1 và OPV1 đạt tỷ lệ thấp là 33,9% Tỷ lệ trẻ bị bệnh trong ngày tiêm chủng cũng khác nhau giữa từng bệnh, cao nhất là Quinvaxem1 và OPV1 là 65,8%; mũi BCG là 6,7%; Quinvaxem2 và OPV2 là 18,5%; Quinvaxem3 và OPV3 là 15,8%; mũi sởi là 28,8%

Trang 39

3.2 Thực trạng tiêm chủng đầy đủ của trẻ dưới 1 tuổi tại huyện Châu Thành

Bảng 3 7 Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch của trẻ dưới 1 tuổi

Loại vắc xin Số trẻ

điều tra

Số trẻ được tiêm/uống đầy đủ

Tỷ lệ (%)

Số trẻ được tiêm/ uống, đầy đủ và đúng lịch

Tỷ lệ (%)

Trang 40

Sởi 330 314 95,2 172 54,8

Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch 8 loại vắc xin 19 5,8

Tỷ lệ trẻ được tiêm/uống từng loại vắc xin đạt tỷ lệ cao, cao nhất là vắc xin BCG (99,7%), tiếp theo là vắc xin OPV uống lần 1, lần 2(99,4%) và vắc xin Quinvaxem mũi 1, mũi 2 (99,4%), thấp nhất là vắc xin sởi (95,2%) kế đó là vắc xin Quinvaxem mũi 3 (98,2%) và vắc xin OPV uống lần 3 (98,8%) Mặc dù tỷ lệ tiêm uống từng loại vắc xin là cao như vậy nhưng tỷ lệ tiêm/uống đúng lịch thì lại thấp, chỉ có tiêm vắc xin BCG đạt 88,8%; sởi đạt 54,8%; còn lại thì đạt thấp hơn 10% và thấp nhất là vắc xin bại liệt uống lần 3 và vắc xin Quinvaxem mũi 3 đạt 7,4%

Cũng trong bảng kết quả trên tỷ lệ TCĐĐ ở trẻ dưới 1 tuổi đạt 93,6% và có 6,4 % trẻ không được tiêm đầy đủ và trong số những trẻ được TCĐĐ chỉ có 5,8% trẻ được

tiêm/uống 8 loại vắc xin đầy đủ và đúng lịch

Lý do trẻ tiêm chủng không đúng lịch (n=239)

Biểu đồ 3 1 Lý do trẻ không được tiêm chủng đúng lịch

Trẻ bị bệnh trong ngày tiêm chủng (chống chỉ định tạm thời) là lý do phổ biến nhất chiếm tỷ lệ 95,81% Các lý do khác như gia đình bận việc, không nhớ lịch, không ai nhắc chiếm tỷ lệ thấp

0.831.262.1

95.81

KhácKhông ai nhắc

Gia đình bận việc

Trẻ bị bệnh

Ngày đăng: 31/01/2021, 12:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w