1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ dân tộc mông trong độ tuổi 15 49 có chồng tại xã thài phìn tủng, huyện đồng văn, tỉnh hà giang

106 112 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI HIỆN ĐẠI CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC MÔNG TRONG ĐỘ TUỔI 15 - 49

Trang 1

NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI HIỆN ĐẠI CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC MÔNG TRONG ĐỘ TUỔI 15 - 49 CÓ CHỒNG TẠI

XÃ THÀI PHÌN TỦNG, HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG,

NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI HIỆN ĐẠI CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC MÔNG TRONG ĐỘ TUỔI 15 - 49 CÓ CHỒNG TẠI

XÃ THÀI PHÌN TỦNG, HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG,

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4

1.1 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 4

1.1.1 Kế hoạch hóa gia đình 4

1.1.2 Dịch vụ kế hoạch hóa gia đình 4

1.1.3 Các biện pháp tránh thai 4

1.1.3.1 Các biện pháp tránh thai tự nhiên 4

1.1.3.2 Các biện pháp tránh thai hiện đại 5

1.2 Tình hình sử dụng biện pháp tránh thai trên thế giới và tại Việt Nam 6

1.2.1 Trên thế giới 6

1.2.2 Tại Việt Nam 9

1.3 Các yếu tố liên quan đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại 14

1.3.1 Các yếu tố nhân khẩu học 14

1.3.3.1 Tuổi ………14

1.3.3.2 Số con còn sống 15

1.3.3.3 Số con mong muốn sinh 15

1.3.3.4 Giới tính của con 16

1.3.3.5 Nhận thức, sự hiểu biết về các biện pháp tránh thai 16

1.3.3.6 Thái độ đối với việc sử dụng các biện pháp tránh thai 17

1.3.2 Các yếu tố văn hóa - xã hội 18

1.3.2.1 Tôn giáo 18

1.3.2.2 Phong tục 18

1.3.2.3 Những động thái về giới 18

Trang 4

1.3.2.4 Truyền thông 19

1.3.2.5 Mạng lưới cộng đồng 19

1.3.3 Tiếp cận dịch vụ kế hoạch hóa gia đình 19

1.3.3.1 Khoảng cách/giao thông đi lại 20

1.3.3.2 Bất đồng ngôn ngữ 20

1.3.3.3 Tính sẵn sàng cung cấp dịch vụ 20

1.3.3.4 Chất lượng dịch vụ 21

1.4 Đặc điểm tự nhiên, xã hội của địa bàn nghiên cứu 21

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 23

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ: 23

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23

2.3 Thiết kế nghiên cứu 23

2.3.1 Nghiên cứu định lượng 23

2.3.2 Nghiên cứu định tính 23

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 23

2.4.1 Cỡ mẫu 23

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 24

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 25

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 25

2.5.2 Kỹ thuật thu thập thông tin 25

2.6 Xử lý và phân tích số liệu 26

2.6.1 Phân tích định lượng 26

2.6.2 Phân tích định tính 26

2.7 Các biến số và một số khái niệm, thước đo dùng trong nghiên 26

2.7.1 Biến số nghiên cứu 27

2.7.2 Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 27

2.7.3 Phương pháp phân tích số liệu 28

2.7.4 Đạo đức nghiên cứu 29

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Thực trạng sử dụng các biện pháp tránh thai của đối tượng nghiên cứu 31

Trang 5

3.2.1 Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai của đối tượng nghiên cứu 31

3.2.1.1 Tỷ lệ đã từng sử dụng các biện pháp tránh thai 31

3.2.1.2 Lý do ngừng sử dụng biện pháp tránh thai 31

3.2.1.3 Tỷ lệ hiện đang sử dụng các biện pháp tránh thai 32

3.3 Một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại 36

3.3.1 Đặc điểm, quy mô gia đình của đối tượng nghiên cứu 36

3.3.2 Nhận thức, sự hiểu biết và thái độ của đối tượng nghiên cứu với việc sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại 36

3.3.3 Thái độ của người chồng 40

3.3.4 Tiếp cận dịch vụ 40

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 50

4.1 Thực trạng sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổi 15 - 49 có chồng tại xã Thài Phìn Tủng, Đồng Văn, Hà Giang năm 2018 50

4.2 Một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổi 15 - 49 có chồng tại xã Thài Phìn Tủng, Đồng Văn, Hà Giang năm 2018 51

4.3 Một số hạn chế của nghiên cứu………… ……….………58

KẾT LUẬN 58

(1) - Thực trạng sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổi 15 -49 có chồng tại xã Thài Phìn Tủng, Đồng Văn, Hà Giang năm 2018: 58

(2) - Mối liên quan giữa việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổi 15 - 49 có chồng tại xã Thài Phìn Tủng, Đồng Văn, Hà Giang năm 2018: 58

KHUYẾN NGHỊ 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

PHỤ LỤC 1: KHUNG LÝ THUYẾT 64

PHỤ LỤC 2: GIẤY ĐỒNG Ý THAM GIA PHỎNG VẤN NGHIÊN CỨU 65

PHỤ LỤC 3: BỘ CÔNG CỤ 67

PHỤ LỤC 4: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU 1 77

PHỤ LỤC 5: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU 2 79

PHỤ LỤC 6: CÁC BIẾN SỐ 81

Trang 6

LARC Biện pháp tránh thai tác dụng kéo dài

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tỷ trọng sử dụng các biện pháp tránh thai năm 2006 - 2015 12

Bảng 1.2: Tỷ lệ sử dụng các BPTT chia theo thành thị - nông thôn(2002 - 2015) 13

Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 30

Bảng 3.2: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đã từng sử dụng các biện pháp tránh thai 31

Bảng 3.3: Lý do đối tượng nghiên cứu ngừng sử dụng biệnpháp tránh thai 31

Bảng 3.4: Cơ cấu các biện pháp tránh thai hiện đối tượng nghiên cứu đang sử dụng……… 33

Bảng 3.5: Lý do đối tượng nghiên cứu lựa chọn sử dụng biện pháp tránh thai hiện tại 34

Bảng 3.6: Lý do các đối tượng nghiên cứu không sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại 35

Bảng 3.7: Số con hiện có và quy mô gia đình mong muốn của đối tượng nghiên cứu 36 Bảng 3.8: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu kể được tên các biện pháp tránh thai 37

Bảng 3.9: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu hiểu biết về hậu quả của nạo, hút thai 38

Bảng 3.10: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết nơi cung cấp dịch vụ về các biện pháp tránh thai ……… 38

Bảng 3.11: Thái độ đối với biện pháp tránh thai lý tưởng 39

Bảng 3.12: Thái độ về người nên có trách nhiệm trong việc sử dụng biện pháp tránh thai 39

Bảng 3.13: Thái độ của người chồng với việc sử dụng biện pháp tránh thai của đối tượng nghiên cứu………… 40

Bảng 3.14: Đường giao thông từ nhà đối tượng nghiên cứu tới nơi cung cấp dịch vụ tránh thai 40

Bảng 3.15: Nhận xét của đối tượng nghiên cứu về chất lượng dịch vụ cung cấp các biện pháp tránh thai………… 41

Bảng 3.16: Lý do đối tượng nghiên cứu không hài lòng với dịch vụ cung cấp các biện pháp tránh thai hiện đại 42

Bảng 3.17: Nguồn thông tin về các biện pháp tránh thai 42

Bảng 3.18: Nguồn cung cấp thông tin hiệu quả nhất 44

Trang 8

Bảng 3.19: Mối liên quan giữa yếu tố nhân khẩu họcvà sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại của đối tƣợng nghiên cứu 44 Bảng 3.20: Mối liên quan giữa yếu tố văn hóa - xã hội với việc sử dụng biện pháp tránh thai… 46 Bảng 3.21: Mối liên quan giữa yếu tố tiếp cận dịch vụ với việc sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại………… 48

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ (%) sử dụng các biện pháp tránh thai duy trì ở mức cao 9 Biểu đồ 1.1: Tổng tỷ suất sinh của Việt Nam, 1960 - 2015 (số con/phụ nữ) 10 Biểu đồ 1.2: Dân số nữ tuổi sinh đẻ ở mức ổn định 10 Biểu đồ 1.3: Tỷ lệ (%) sử dụng biện pháp tránh thai giữa các vùng trên toàn quốc giai

đoạn 2011 - 2014 (Nguồn: Điều tra MICS 2015) 11

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ đối tƣợng nghiên cứu sử dụng các biện pháp tránh thai tại thời

điểm nghiên cứu………… 32 Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ đã từng đƣợc nghe nói về các biện pháp tránh thai 37

Biểu đồ 3.3: Nhu cầu đƣợc cung cấp thêm thông tin 43 Biểu đồ 3.4: Những thông tin đối tƣợng nghiên cứu mong muốn đƣợc cung cấp thêm……… 43

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Sử dụng biện pháp tránh thai là biện pháp hữu hiệu nhất giúp phụ nữ và trẻ

em gái có thể tự do quyết định việc có sinh con hay không, thời điểm sinh con và số con mong muốn, họ sẽ có nhiều cơ hội hơn để có thể tìm kiếm các công việc được trả lương và tăng mức thu nhập cho gia đình Khi phụ nữ tiếp cận được với các nguồn lực trong sản xuất, phụ nữ cho biết sức khỏe của họ được chăm sóc tốt hơn,

họ có thể đạt được trình độ học vấn cao hơn và ít phải gánh chịu bạo lực từ người

chồng hơn Đề tài nghiên cứu:“Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc sử

dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổi 15 -

49 có chồng tại xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, năm 2018”

được thực hiện với 2 mục tiêu: (1)- Mô tả thực trạng sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổi 15 - 49 có chồng tại xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, (2)- Xác định mối liên quan giữa một

số yếu tố và việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổi 15 - 49 có chồng tại xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh

Hà Giang, năm 2018

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích bằng phương pháp định lượng kết hợp định tính Nghiên cứu định lượng tiến hành với 165 phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổi 15 - 49 có chồng Nghiên cứu định tính gồm 5 cuộc PVS Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 02/2018 đến tháng 06/2018 Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổi từ 15 - 49 có chồng; lãnh đạo Trạm Y tế; cán bộ chuyên trách dân số tại xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang Thông tin của đối tượng nghiên cứu được thu thập từ Sổ hộ gia đình do cộng tác viên dân số quản lý Số liệu định lượng thu thập được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phầm mềm SPSS 20, số liệu định tính được ghi lại bằng băng ghi âm, sau đó gỡ băng và sử dụng kết quả bổ sung cho nghiên cứu định lượng Nghiên cứu đã thu được những kết quả chính như sau:

Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đang sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại là 66,1% (trong đó sử dụng vòng tránh thai 66%, tiêm thuốc tránh thai 21,1%, thuốc

Trang 11

uống tránh thai 9,2% và bao cao su 3,7%) Số đối tượng nghiên cứu không sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại nào do: Kiêng kỵ không dùng biện pháp tránh thai 57,1%; Vì nó có thể ảnh hưởng đến sức khỏe 46,4%; Chưa hiểu biết về các biện pháp tránh thai 26,7%; 1,8% cho rằng đã thử nhưng không lựa chọn được phương pháp phù hợp

Nghiên cứu chỉ ra yếu tố nhân khẩu học được xem là yếu tố quan trọng nhất tác động đến thực trạng sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại Thái độ của người chồng cũng là một yếu tố liên quan đến thực trạng sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại của người vợ Có mối liên quan giữa sự hài lòng dịch vụ cung cấp các biện pháp tránh thai với thực trạng sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại Không có mối liên quan giữa tôn giáo, truyền thông hay khoảng cách giao thông đi lại với thực trạng

sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại

Từ các kết quả trên, tác giả khuyến nghị cần tiếp tục đầu tư cho công tác truyền thông giáo dục bằng nhiều kênh, nhiều hình thức truyền thông, đặc biệt là truyền thông trực tiếp, thăm hộ gia đình, truyền thông nhóm nhỏ Tài liệu truyền thông cần cụ thể bằng tiếng và chữ viết của dân tộc Mông Có các hoạt động cụ thể nhằm thay đổi tập quán, quan niệm, tư tưởng không có lợi cho công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình ở địa phương Nâng cao vai trò trách nhiệm của nam giới trong việc ủng hộ và cùng người vợ thực hiện kế hoạch hóa gia đình, tích cực sử dụng bao cao su nếu muốn giãn khoảng cách sinh và triệt sản khi muốn thôi đẻ vĩnh viễn Cần nâng cao trình độ học vấn và vị thế cho phụ nữ Mông trong gia đình và xã hội

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo số liệu thống kê của viện Guttmacher, có khoảng 214 triệu phụ nữ có nhu cầu chủ động về thời gian hoặc ngăn ngừa mang thai nhưng lại không sử dụng các BPTT hiện đại và 40% trường hợp mang thai là ngoài ý muốn, một nửa trong số

này kết thúc bằng việc đình chỉ thai nghén Có 56 triệu ca nạo phá thai mỗi năm,

trong đó có 22 triệu ca là phá thai không an toàn [1]

Mặc dù tỷ lệ sử dụng các BPTT hiện đại đã tăng gần gấp đôi trên toàn thế giới - từ 36% tại thời điểm năm 1970 lên 64% vào năm 2016 Tuy nhiên chúng ta vẫn còn phải vượt qua một chặng đường dài để có thể đảm bảo rằng tất cả phụ nữ đều có quyền tự quyết định số con, thời điểm sinh và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với chính mình [1]

Có thể nói rằng, kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 đã cho thấy công tác Dân số đạt được thành tựu hết sức tốt đẹp Tổng tỷ suất sinh năm 2009 là 2,03 con và đã đạt mức sinh thay thế Tỷ suất sinh thô giảm từ 18,6‰ năm 2001 xuống còn 17,6‰ năm 2009 Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai tăng từ 73,9% năm 2001 lên 79,5% năm 2008 Tuy nhiên công tác Dân số còn nhiều khó khăn, thách thức Giảm sinh đã làm tốt nhưng chưa bền vững, còn 28/63 tỉnh, thành (chiếm 34% dân số cả nước) chưa đạt mức sinh thay thế trong đó có tỉnh Hà Giang[2]

Hà Giang là một tỉnh địa đầu cực bắc của Tổ quốc có đường biên giới dài hơn 274km Dân số là 820.427 người (49,65% là nữ), mật độ dân số bình quân là

103 người/km2, tỷ lệ dân số thành thị là 14,99% và nông thôn là 85,01%; Hà Giang

có 11 huyện, thành phố với 22 dân tộc anh em cùng sinh sống trong đó có năm nhóm dân tộc chính là: Mông (32,7%); Tày (23,2%); Dao (14,9%); Kinh (12,8%) Người Mông chủ yếu sống tập trung ở Cao nguyên đá Đồng Văn [19]

Đồng Văn là một trong những huyện mang đầy đủ nét đặc trưng của tỉnh Hà Giang Huyện Đồng Văn gồm 2 thị trấn và 17 xã trong đó 17/17 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn theo chương trình 135 của Chính phủ Toàn huyện có 75.500 người chủ yếu là dân tộc Mông (92,3%) Số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng

Trang 13

các BPTT hiện đại chỉ chiếm có 66,4%, thấp nhất so với toàn tỉnh và mức trung bình áp dụng các BPTT hiện đại trên cả nước [3]

Xã Thài Phìn Tủng nằm ở phía Bắc của huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang Thài Phìn Tủng theo tiếng Mông là “nhà trên hố nước” Trước kia Thài Phìn Tủng

là một trong những xã nghèo nhất của huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang và cả nước

Cả xã là một rừng đá tai mèo nhọn hoắt Nước thiếu, đất thiếu, đồng bào chỉ biết lật

đá trồng ngô nên cái đói nghèo cứ đeo bám dai dẳng Xã có 15 thôn bản, với 960

hộ, trong đó có tới 81% là hộ nghèo [19] Diện tích đất canh tác lúa rất ít, cây trồng chủ yếu là ngô, chăn nuôi chủ yếu là bò Nói chung, đời sống người dân còn nhiều khó khăn Tổng số dân là 5.191 người trong đó số phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng là

936 người chiếm 18,03% tổng số dân Cả xã có 566 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh

đẻ đang sử dụng các BPTT hiện đại, chiếm 60,5% Cơ cấu sử dụng BPTT chủ yếu

là DCTC chiếm 83,03% [4]; Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông tại xã đã phản ánh đúng thực trạng sử dụng trên thực

tế hay chưa? Và liệu có những yếu tố nào liên quan đến việc sử dụng các BPTT hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông tại xã Thài Phìn Tủng? Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng các BPTT hiện đại của phụ

nữ dân tộc Mông là rất cần thiết nhằm góp phần bổ trợ cho hoạt động tác nghiệp về KHHGĐ, nâng cao chất lượng sống của đồng bào dân tộc thiểu số và cũng là thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Để trả lời cho câu hỏi trên, chúng

tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc sử

dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổi 15 -

49 có chồng tại xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang”

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1- Mô tả thực trạng sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổi 15 - 49 có chồng tại xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, năm 2018

2- Xác định một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổi 15 - 49 có chồng tại xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, năm 2018

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu

1.1.1 Kế hoạch hóa gia đình

Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) là sự cố gắng có ý thức của các cặp vợ chồng nhằm điều chỉnh số con mong muốn và khoảng cách giữa các lần sinh KHHGĐ không chỉ là sử dụng các biện pháp để tránh thai ngoài ý muốn mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chồng hiếm muộn để có thai và sinh con

1.1.2 Dịch vụ kế hoạch hóa gia đình

Bao gồm việc cung cấp thông tin, truyền thông, tư vấn về KHHGĐ, các BPTT và chăm sóc sức khỏe sinh sản, cung cấp các phương tiện tránh thai, can thiệp thủ thuật sử dụng BPTT lâm sàng

1.1.3 Các biện pháp tránh thai

Khái niệm: BPTT là các biện pháp can thiệp tác động lên cá thể vợ hoặc

chồng nhằm ngăn cản việc thụ thai ở người phụ nữ

Phân loại: Căn cứ vào cơ chế tác dụng, tính chất và phương thức cung ứng,

có thể có nhiều cách để phân loại các biện pháp tránh thai: BPTT hiện đại là những biện pháp cần sử dụng đến các dụng cụ hoặc phương tiện để tránh thai BPTT tự nhiên là các biện pháp không có sự can thiệp của khoa học kỹ thuật như tính vòng kinh để kiêng giao hợp vào ngày rụng trứng, xuất tinh ngoài âm đạo, cho con bú vô kinh

Ngoài ra, trong thực tế người ta còn phân loại BPTT lâm sàng và BPTT phi lâm sàng BPTT lâm sàng là có sự can thiệp của cán bộ y tế như đặt DCTC, triệt sản nam, triệt sản nữ, thuốc tiêm tránh thai, thuốc cấy tránh thai BPTT phi lâm sàng là không cần có sự can thiệp của cán bộ y tế như viên uống tránh thai, bao cao su, thuốc diệt tinh trùng

1.1.3.1 Các biện pháp tránh thai tự nhiên

(1)- Phương pháp tính vòng kinh (phương pháp kiêng giao hợp định kỳ): Là biện pháp dựa vào vòng kinh, xác định những ngày xa giai đoạn rụng trứng

để không có thai khi giao hợp vào những ngày này

Trang 16

(2)- Phương pháp cho con bú vô kinh: Là BPTT tạm thời dựa vào việc cho

bú mẹ hoàn toàn sau sinh khi chưa có kinh trở lại và con dưới 6 tháng tuổi

(3)- Phương pháp xuất tinh ngoài âm đạo: Phương pháp này đòi hỏi sự

chủ động của nam giới trong lúc giao hợp là chính Phương pháp này cho phép quá trình giao hợp diễn ra bình thường nhưng lúc chuẩn bị xuất tinh, người nam đưa dương vật ra ngoài cho xuất tinh ngoài âm đạo, không cho tinh trùng vào được

đường sinh dục nữ nên ngăn cản hiện tượng thụ tinh

Ưu điểm của các BPTT tự nhiên:

- Không cần phương tiện, thiết bị can thiệp do đó tránh được những tai biến cũng như các tác dụng phụ

Nhược điểm:

- Hiệu quả tránh thai thấp

- Yêu cầu sự chủ động khi áp dụng các biện pháp

- Một số biện pháp khá phức tạp và dễ thất bại khi sử dụng

1.1.3.2 Các biện pháp tránh thai hiện đại

(1) - Triệt sản:

Ưu điểm: Hiệu quả tránh thai cao, chỉ thực hiện một lần có tác dụng tránh

thai vĩnh viễn; không có tác dụng không mong muốn, không ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống tình dục

Nhược điểm: Phải được thực hiện tại cơ sở y tế có đầy đủ phương tiện; khó

hồi phục sau khi can thiệp; có thể có những tai biến xảy ra trong và sau khi phẫu thuật

(2) - Đặt dụng cụ tử cung:

Ưu điểm: Sử dụng tiện lợi, thời gian sử dụng lâu dài, hiệu quả tránh thai cao;

nhanh chóng có thai sau khi tháo bỏ dụng cụ

Nhược điểm: Không có tác dụng ngăn ngừa các bệnh lây truyền qua đường

tình dục; cần có sự can thiệp y tế khi đặt vòng; tăng lượng máu kinh, nguy cơ viêm nhiễm đường sinh dục

(3) - Thuốc cấy tránh thai:

Trang 17

Ưu điểm: Sử dụng tiện lợi, hiệu quả tránh thai cao, thời gian sử dụng lâu dài

(3 - 5 năm)

Nhược điểm: Kinh không đều, rối loạn kinh nguyệt hoặc mất kinh; tăng cân

(4) - Thuốc tiêm tránh thai:

Ưu điểm: Hiệu quả tránh thai cao, có tác dụng kéo dài, giảm nguy cơ u xơ tử

cung, ngăn ngừa ung thư niêm mạc tử cung

Nhược điểm: Rối loạn kinh nguyệt, vô kinh; có thai trở lại chậm; không tránh

được các bệnh lây truyền qua đường tình dục

(5)- Viên uống tránh thai (Viên thuốc tránh thai kết hợp):

Ưu điểm: Hiệu quả tránh thai cao, nhanh chóng có thai lại sau khi dừng

thuốc; giảm lượng máu kinh, đau bụng kinh, giảm nguy cơ chửa ngoài tử cung

Nhược điểm: Đòi hỏi phải uống hàng ngày vào một giờ nhất định để đảm bảo

hàm lượng thuốc trong máu; không có tác dụng phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS

(6)- Bao cao su:

Ưu điểm: Tránh được các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS;

tiện lợi, dễ sử dụng, rẻ tiền

Nhược điểm: Nếu không biết sử dụng đúng cách có thể dẫn tới tránh thai thất

bại; có thể bị thủng hoặc rách khi sử dụng

1.2 Tình hình sử dụng biện pháp tránh thai trên thế giới và tại Việt Nam

1.2.1 Trên thế giới

Theo báo cáo xu hướng sử dụng biện pháp tránh thai năm 2015 của WHO, 64% phụ nữ trong độ tuổi tuổi từ 15 - 49 có sử dụng BPTT Tỷ lệ sử dụng BPTT cao nhất ở Bắc Mỹ (75%), tiếp đến là Châu Đại Dương (59%) và thấp nhất ở Châu Phi với 33%[40]

Ở Châu Á, hơn một nửa các quốc gia ở châu lục này có tỷ lệ sử dụng BPTT

từ 60% trở lên, trong đó Hồng Kông và Trung Quốc có tỷ lệ sử dụng BPTT cao nhất thế giới với khoảng 86% và 84% Cộng hòa Hồi giáo Iran, Thái Lan, Việt Nam cũng là một trong những nước có mức độ sử dụng các BPTT trên 70% Tuy nhiên

Trang 18

vẫn còn một số nước có tỷ lệ sử dụng BPTT dưới 30% như Campuchia, Afghanistan [22]

Trên toàn thế giới năm 2015, ước tính có khoảng 12% phụ nữ đã kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng không được tiếp cận các BPTT Tỷ lệ này cao nhất

ở khu vực cận Sahara (24%), gấp đôi so với trung bình của thế giới; tiếp đến là một

số quốc gia phát triển (22%) Biện pháp tránh thai chủ yếu được sử dụng là BPTT hiện đại Tính trên toàn cầu năm 2015, có 57% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản đã kết hôn hoặc sống chung như vợ chồng sử dụng một phương pháp tránh thai hiện đại Một số quốc gia có tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại cao như Trung Quốc, Hồng Kông… Trong khi đó, 18% phụ nữ đã kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng chưa được tiếp cận với các BPTT hiện đại, họ thường dùng các BPTT truyền thống như tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âm đạo [40]

BPTT được sử dụng chủ yếu trong nhóm phụ nữ đã kết hôn và đang sống chung như vợ chồng là chất diệt tinh trùng và dụng cụ tử cung với tỷ lệ tương ứng

là 19% và 14% Một số biện pháp khác chiếm tỷ lệ nhỏ hơn như viên uống tránh thai (9%), BCS nam (8%), thuốc tiêm tránh thai (5%) Chỉ có 6% phụ nữ đã kết hôn hoặc đang sống chung như vợ chồng trên thế giới sử dụng biện pháp tính vòng kinh hay xuất tinh ngoài âm đạo Có sự khác biệt khá lớn trong việc sử dụng BPTT ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau Cụ thể, các biện pháp ngắn hạn như viên uống tránh thai, tiêm thuốc tránh thai, bao cao su nam khá phổ biến ở Châu Phi và Châu

Âu Trong khi đó tại Châu Á và Bắc Mỹ các biện pháp chủ yếu được sử dụng là thuốc diệt tinh trùng, cấy hoocmôn hay dụng cụ tử cung [40]

Dự đoán đến năm 2030, gần 800 triệu phụ nữ đã kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng sẽ được sử dụng các BPTT Số phụ nữ trong độ tuổi sinh sản sử dụng BPTT sẽ tăng khoảng 20 triệu người trên toàn thế giới từ năm 2015 đến năm 2030, chủ yếu ở khu vực Châu Phi và Nam Á Số lượng phụ nữ không được tiếp cận các dịch vụ KHHGĐ sẽ có sự thay đổi nhỏ từ 142 triệu người năm 2015 lên 143 triệu người năm 2030, số lượng tăng chủ yếu trong nhóm phụ nữ trong độ tuổi sinh sản ở khu vực cận Sahara, Châu Phi [23]

Trang 19

Tại Hoa Kỳ, 42% thanh thiếu niên từ 15 - 19 tuổi có quan hệ tình dục Hầu hết thanh thiếu niên quan hệ tình dục cho biết có sử dụng một số phương pháp tránh thai Thanh thiếu niên thường sử dụng BPTT với tỷ lệ thất bại điển hình sử dụng tương đối cao như BCS, xuất tinh ngoài âm đạo, hoặc viên uống tránh thai Không

sử dụng, sử dụng không phù hợp, và sử dụng các phương pháp với tỷ lệ sử dụng thất bại điển hình cao được thể hiện ở tỷ lệ cao các ca mang thai ngoài ý muốn vị thành niên ở Hoa Kỳ 83% các ca mang thai tuổi vị thành niên là ngoài ý muốn, chiếm 1/5 của tất cả các lần mang thai ngoài ý muốn ở Hoa Kỳ [24]

Phương pháp tránh thai có tác dụng lâu dài và có thể lấy ra khỏi cơ thể (LARC) là phương pháp đang ngày càng phổ biến với việc sử dụng ngày càng tăng

từ 2,4% của tất cả phụ nữ ở Hoa Kỳ sử dụng BPTT trong năm 2002 lên 8,5% trong năm 2009 [25] Khoảng 4,5% phụ nữ độ tuổi từ 15 - 19 hiện đang sử dụng một biện pháp tránh thai sử dụng LARC, trong đó hầu hết sử dụng vòng tránh thai Thuốc cấy tránh thai do Cục Quản lý Thực phẩm và Dược Hoa Kỳ thông qua năm 2006, được phụ nữ ở Hoa Kỳ sử dụng ít hơn (chiếm 1%) và 0,5% ở những phụ nữ từ15 -

19 tuổi [26] Các BPTT như BCS, viên uống tránh thai… là sự lựa chọn BPTT chủ yếu của vị thành niên, lý do chính là sự thuận tiện, có sẵn, dễ mua tuy nhiên hiệu quả sử dụng không cao do nhóm tuổi vị thành niên còn trẻ, dễ quên và không muốn người khác biết mình sử dụng [27] Trong một nghiên cứu tương tự, tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn của phương pháp tránh thai tác dụng ngắn cao hơn 22 lần so với tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn khi sử dụng LARC Rào cản đối với việc sử dụng các phương pháp LARC ở thanh thiếu niên là thiếu sự hiểu biết hoặc sai lầm về phương pháp sử dụng, chi phí cao, thiếu sự tiếp cận và mối quan tâm của các nhà cung cấp chăm sóc y tế về sự an toàn của LARC [22]

Sử dụng BPTT giúp các cặp đôi và các cá nhân nhận ra quyền cơ bản của mình trong việc tự do quyết định và chịu trách nhiệm về việc khi nào có con và số con họ có Sự tăng tỷ lệ sử dụng các BPTT không chỉ liên quan tới tăng cường sức khỏe mà còn giảm tỉ lệ chết mẹ và tử vong sơ sinh [23] Cần thiết phải tăng cường giáo dục, nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản, trong đó có sử dụng BPTT, đặc biệt ở phụ nữ và trẻ em gái

Trang 20

1.2.2 Tại Việt Nam

Chương trình KHHGĐ được áp dụng ở Việt Nam từ những năm 1960 và được UNFPA tài trợ từ những năm 1978 UNFPA đã cung cấp hầu hết các nhu cầu

về dụng cụ tử cung, viên uống tránh thai cho cả nước, đồng thời tập trung hỗ trợ toàn diện cho bảy vùng trọng điểm Từ năm 1993, chúng ta đã triển khai Chiến dịch Truyền thông lồng ghép với KHHGĐ tại chỗ cho người dân Hầu hết các BPTT hiện đại đều được cung cấp miễn phí (90,2%) chủ yếu tại các trạm y tế (42,95%), số còn lại được cung cấp tại các cơ sở y tế tư nhân như các phòng khám tư nhân, hiệu

thuốc [6] Với nỗ lực của Chính phủ, sự kết hợp của UNFPA và các tổ chức phi

chính phủ khác, Việt Nam đã có được đội ngũ cán bộ chuyên trách về dân số, mở rộng mạng lưới cộng tác viên dân số đến tận thôn, bản Tất cả các nỗ lực này góp phần nâng cao tỷ lệ sử dụng các BPTT, đặc biệt là các BPTT hiện đại.Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ phụ nữ Việt Nam sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại ngày càng cao Năm 2001 là 61,1%, năm 2008 là 68,8%, tới năm 2015 là 65,4% [7], [8], [9]

Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ (%) sử dụng các biện pháp tránh thai duy trì ở mức cao

(Nguồn: Báo cáo của Vụ Quy mô Dân số, Tổng cục DS-KHHGĐ năm 2015)

Trong nhiều năm qua, các cuộc điều tra cũng cho thấy có mối liên hệ trực tiếp giữa mức sinh (CBR, TFR) với tỷ lệ sử dụng các BPTT (CBR) TFR giảm từ

Trang 21

6,4 con năm 1960 xuống 2,05 con năm 2012 Từ thập niên 1990, mức sinh giảm nhanh Năm 2006 đã đạt và duy trì mức sinh thay thế [10]

Biểu đồ 1.1: Tổng tỷ suất sinh của Việt Nam, 1960 - 2015 (số con/phụ nữ)

(Nguồn: Báo cáo của Vụ Quy mô Dân số, Tổng cục DS-KHHGĐ năm 2015)

Biểu đồ 1.2: Dân số nữ tuổi sinh đẻ ở mức ổn định

(Nguồn:Báo cáo của Vụ Quy mô Dân số, Tổng cục DS-KHHGĐ năm 2015)

Tỷ lệ sử dụng BPTT của phụ nữ tuổi từ 15 - 49 giữa các vùng trên cả nước cũng có sự khác nhau Các vùng có tỷ lệ tránh thai cao nhất là đồng bằng sông Cửu

6.4

4.8 3.8

23530.315

23772.956 23740.475

24347.8

24313.00 24343.00

Trang 22

Long, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ Trong khi các khu vực miền núi như Trung du phía Bắc và Tây Nguyên có tỷ lệ sử dụng BPTT thấp hơn nhiều Từ năm 2011 - 2014, tỷ lệ sử dụng các BPTT ở các vùng hầu như giảm, trừ đồng bằng Sông Hồng tăng 1%, giảm nhiều nhất là khu vực Tây Nguyên (giảm 5%) và Nam Trung Bộ (giảm 4%) do chính sách dân số lới lỏng hơn, nhiều nghiên cứu chỉ ra tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến phổ biến các BPTT ở các khu vực khó khăn [11]

Biểu đồ 1.3: Tỷ lệ (%) sử dụng biện pháp tránh thai giữa các vùng

trên toàn quốc giai đoạn 2011 - 2014 (Nguồn: Điều tra MICS 2015)

Tại Việt Nam cũng như tương tự ở các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới, cơ cấu sử dụng các BPTT cũng có sự thay đổi Điều tra biến động dân số

và KHHGĐ hàng năm từ 1997 đến 2015 cho thấy, từ trước năm 1993 BPTT chủ yếu được sử dụng là DCTC chiếm 33,1% (1988), tăng lên 42,9% (1995) và tăng lên 55,8% (2008) trong tổng số các BPTT hiện đại được sử dụng [6], [12] Kết quả trên

là do sự nhận thức còn phiến diện về công tác DS - KHHGĐ Trước Hội nghị Cairo

1994, DCTC được coi là phương tiện tránh thai tốt nhất và được khuyến khích sử dụng tại Việt Nam, vì vậy chúng ta cứ tuyên truyền về DCTC Kể từ sau Hội nghị này, Việt Nam đã có chủ trương đa dạng hóa các PTTT trong chương trình KHHGĐ

Nam Trung Bộ

ĐB Sông Cửu Long

Trang 23

vì vậy cơ cấu sử dụng các BPTT cũng đã bắt đầu có sự thay đổi, tuy nhiên kết quả vẫn chưa được như mong đợi Tỷ trọng sử dụng DCTC vẫn chiếm rất lớn, các biện pháp khác cũng đã được tuyên truyền rộng rãi tuy nhiên tỷ lệ sử dụng chưa cao Tỷ

lệ sử dụng bao cao su từ 10,1% (2006) đã tăng lên 14,7% (2015) và tỷ lệ sử dụng viên uống tránh thai cũng tăng từ 13,2% (2006) lên 18,8% (2015) Các BPTT như triệt sản nam, triệt sản nữ có xu hướng ít được sử dụng (giảm từ 5,8% năm 2006 xuống còn 2,2% năm 2015) do sự e ngại trong tiềm thức của người Việt Nam khi coi triệt sản là mất đi bản lĩnh đàn ông, ảnh hưởng đến cuộc sống vợ chồng [9]

Bảng 1.1: Tỷ trọng sử dụng các biện pháp tránh thai năm 2006 - 2015

Đơn vị tính: %

Biện pháp 2006 2007 2008 2010 2011 2012 2013 2015 Xu

hướng Tổng 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0

DCTC 55,4 55,3 55,8 52,1 53,1 51,9 49,6 47,9 ↓↓↓ Viên uống

tránh thai 13,2 13,2 13,2 15,5 15,7 16,7 17,6 18,8 ↑↑ Tiêm

Trang 24

Khác 0,7 0,4 0,2 0,3 0,2 0,2 0,2 0,1

(Nguồn: Báo cáo của Vụ Quy mô Dân số,Tổng cục DS-KHHGĐ năm 2015)

Theo kết quả điều tra DS - KHHGĐ hàng năm của Tổng cục DS - KHHGĐ (2008) đã chỉ ra tỷ lệ sử dụng các BPTT gia tăng theo tuổi Tỷ lệ sử dụng các BPTT cao nhất ở 2 nhóm tuổi từ 35 - 39 (89,8%) và nhóm tuổi 40 - 44 (89,9%) Bắt đầu từ nhóm tuổi 20 - 24, trên một nửa số phụ nữ đều sử dụng các BPTT Phụ nữ ở mọi lứa tuổi đều ưu tiên sử dụng DCTC Tỷ trọng đang sử dụng DCTC đạt cực đại ở nhóm tuổi 30 - 34, còn tỷ trọng thực hiện triệt sản nữ đạt giá trị cực đại ở nhóm tuổi 45 -

49 Phụ nữ ở khu vực thành thị có xu hướng sử dụng các BPTT thấp hơn so với phụ

nữ khu vực nông thôn (76% so với 78,8%) Tuy nhiên phụ nữ thành thị lại thích sử dụng các BPTT truyền thống hơn so với các phụ nữ ở nông thôn Kết quả điều tra cũng cho thấy, có mối quan hệ khá chặt chẽ giữa mức độ sử dụng các BPTT với trình độ học vấn, số con còn sống của người phụ nữ [9]

Bảng 1.2: Tỷ lệ sử dụng các BPTT chia theo thành thị - nông thôn(2002 - 2015)

BPTT bất

kỳ

BPTT hiện đại

BPTT bất

kỳ

BPTT hiện đại

Trang 25

2013 77,2 67,0 75,5 64,2 78,0 68,3

(Nguồn: Báo cáo của Vụ Quy mô Dân số, Tổng cục DS-KHHGĐ năm 2015)

1.3 Các yếu tố liên quan đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại

Việc lựa chọn sử dụng hay không sử dụng các BPTT của người phụ nữ ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như hiểu biết, thái độ, thực hành của người phụ nữ [30] Ngoài ra còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như các hoạt động truyền thông, tác động của xã hội, những người xung quanh, các dịch vụ y tế [31], [32], [33],[34],[35],[36] Các yếu tố này có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới việc chọn lựa và sử dụng các BPTT của người phụ nữ Nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến sử dụng BPTT đã được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu từ đó tăng cường việc sử dụng các BPTT nói chung và BPTT hiện đại nói riêng, hạn chế bùng nổ dân số, nâng cao tác dụng phòng tránh mang thai ngoài ý muốn và hạn chế phá thai

1.3.1 Các yếu tố nhân khẩu học

Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng các yếu tố nhân khẩu học có ảnh hưởng đến việc sử dụng và lựa chọn các BPTT Các yếu tố nhân khẩu học chủ yếu ảnh hưởng đến việc lựa chọn và sử dụng BPTT bao gồm: Tuổi, số con còn sống, số con mong muốn

1.3.3.1 Tuổi

Việc sử dụng BPTT có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm tuổi Nghiên cứu của Indra Gunawan năm 2002 cho thấy nhóm phụ nữ từ 25 - 34 tuổi sử dụng BPTT nhiều hơn cả Việc sử dụng BPTT nhiều ở lứa tuổi này có thể lý giải do họ có đủ số con mong muốn hoặc giãn khoảng cách các lần sinh nở Nghiên cứu năm 2004 tại Indonesia cho thấy tỷ lệ sử dụng BPTT thấp nhất ở lứa tuổi 15 - 19 và có xu hướng tăng dần lên khi tuổi tăng lên đến 30 - 34 Sau đó tỷ lệ lại giảm dần, đặc biệt ở nhóm các phụ nữ lớn tuổi (45 - 49) Nghiên cứu này chỉ ra rằng phụ nữ trong nhóm tuổi 20 - 44 có xu hướng sử dụng các BPTT hiện đại nhiều hơn các nhóm tuổi còn

lại [33]

Trang 26

Theo báo cáo MICS Việt Nam năm 2014 chỉ ra rằng tỷ lệ sử dụng BPTT bất

kì cao nhất ở nhóm tuổi 35 - 39 (89,4%) và nhóm tuổi 15 - 19 có tỷ lệ sử dụng BPTT thấp nhất (38,4%) Các biện pháp được sử dụng nhiều nhất là DCTC, viên

uống tránh thai, triệt sản nữ [11]

1.3.3.2 Số con còn sống

Số con còn sống có thể ảnh hưởng đến việc sử dụng và lựa chọn các BPTT Nghiên cứu tại Thái Lan cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa số con còn sống và việc sử dụng các BPTT của bà mẹ Những phụ nữ chưa có con chỉ có tỉ lệ

sử dụng BPTT là 64%, trong khi đó những phụ nữ đã có từ 1 - 2 con có xu hướng

sử dụng biện pháp tránh thai nhiều nhất (85,9%) [37] Ngoài ra số con còn sống cũng liên quan tới việc lựa chọn các BPTT ngắn hạn, dài hạn hay biện pháp tự

nhiên [38] Số con sống là một yếu tố quan trọng trong việc xác định sẽ ngừng sinh

con và sử dụng các BPTT Xu hướng sử dụng các BPTT ở nhóm phụ nữ có từ 2 con

trở lên cao hơn nhóm phụ nữ chỉ có 1 con hoặc chưa có con [31]

Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hương năm 2011 cũng chỉ ra rằng đối tượng có

từ 0 - 2 con có tỷ lệ sử dụng các BPTT nhiều hơn đối tượng có từ 3 con trở lên (52,7% so với 40%) [13] Trong báo cáo MICS năm 2014 cho kết quả 86,2% phụ

nữ đã có 2 con sử dụng BPTT, cao hơn 10 lần so với số phụ nữ chưa sinh con và

cao 19% so với những phụ nữ đã có 1 con [11]

1.3.3.3 Số con mong muốn sinh

Số con mong muốn sinh hay dự định về quy mô gia đình của các cặp vợ chồng có ảnh hưởng đến việc sử dụng các BPTT Nghiên cứu tại 8 tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ năm 2013 - 2014 cho thấy, những người phụ nữ có dự định sinh thêm con có tỷ lệ sử dụng BPTT bằng 0,7 lần những người phụ nữ không có dự định sinh thêm con [14]

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thu Hương năm 2011 cũng cho thấy 55,85 số đối tượng mong muốn có từ 1 - 2 con sử dụng BPTT hiện đại, trong khi chỉ

có 37,5% đối tượng mong muốn có từ 3 con trở lên sử dụng BPTT hiện đại Như vậy số con mong muốn sinh hay dự định về quy mô gia đình cũng là một trong

Trang 27

những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng hay không sử dụng các BPTT ở phụ nữ [13]

Nghiên cứu của UNFPA tại tỉnh Hà Giang năm 2003 cho thấy, khi người Mông đã đạt được số con mong muốn khoảng 4 - 5 con hoặc có đủ cả con trai và gái thì khi đó họ sẽ cân nhắc đến việc sử dụng các BPTT hiện đại [17]

1.3.3.4 Giới tính của con

Tỷ lệ áp dụng các BPTT của người phụ nữ cũng phụ thuộc vào giới tính của con Những phụ nữ có cả con trai và con gái thường sử dụng BPTT tự nhiên nhiều hơn 52,3% so với những người chỉ có con gái Khi các cặp đôi có 1 bé trai hoặc nhiều hơn thì họ có xu hướng sử dụng BPTT nhiều hơn để giãn khoảng cách sinh

Vì thế những người phụ nữ có con trai có xu hướng sử dụng BPTT nhiều hơn 60%

những người chưa có con trai [39]

Tư tưởng mong muốn có con trai, trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại ở Việt Nam, đặc biệt là các vùng nông thôn Theo nghiên cứu của Nguyễn Lan Hương thì

tỷ lệ áp dụng các BPTT thường tập trung nhiều nhất ở nhóm phụ nữ đã có con trai,

tỷ lệ này chiếm 86,7%, trong khi tỷ lệ này ở nhóm phụ nữ chưa có con trai là

72,5%[16] Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hương năm 2011 cũng chỉ ra rằng, những

đối tượng nghiên cứu có cả con gái và con trai có tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại nhiều gấp 1,593 lần so với đối tượng chỉ có con 1 bề (p= 0.041) [13]

Người Mông thường có tâm lý phải sinh con trai và càng có nhiều con trai thì cha mẹ khi về già càng yên tâm có người chăm sóc, nuôi dưỡng [21] Tùy từng hoàn cảnh gia đình cụ thể như kinh tế, đất đai hay tiếng nói của người đàn ông trong gia đình để quyết định số con mong muốn nhưng ít nhất phải có một con trai [17] Như vậy yếu tố giới tính của con có ảnh hưởng đến việc lựa chọn và sử dụng BPTT của người mẹ

1.3.3.5 Nhận thức, sự hiểu biết về các biện pháp tránh thai

Việc sử dụng BPTT phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau trong đó có kiến thức của người phụ nữ về các BPTT Kiến thức về sử dụng BPTT không chỉ đơn thuần là việc nghe và biết về các BPTT mà còn là hiểu cách sử dụng các BPTT đó Nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa kiến thức và thực hành sử dụng BPTT

Trang 28

Những người phụ nữ càng hiểu biết nhiều về các BPTT hiện đại thì họ càng có xu hướng sử dụng các BPTT hiện đại

Trong các BPTT thì vòng tránh thai được người Mông biết đến nhiều nhất và cũng được lựa chọn ưu tiên sử dụng Viên uống tránh thai thường không được phụ

nữ dân tộc Mông ưu tiên sử dụng do bận rộn công việc, hay quên thời điểm cần uống thuốc và thiếu thông tin khi chuyển từ vỉ thuốc cũ sang vỉ thuốc mới Người Mông ngại sử dụng bao cao su do sự bất tiện, cũng như sự “phức tạp” trong cách sử dụng, với họ thì nếu cả hai vợ chồng đều khỏe mạnh thì không cần sử dụng bao cao

su khi quan hệ vì không sợ bị lây bệnh, một số cho rằng ngại người khác nghĩ mình không đứng đắn trong quan hệ tình dục [15]

Phương pháp triệt không được người Mông chấp nhận Họ hiểu rất ít về triệt sản, họ còn cho rằng triệt sản tức là bị “thiến”,“triệt giống”, “ngu muội” hoặc “liệt dục” [17]

1.3.3.6 Thái độ đối với việc sử dụng các biện pháp tránh thai

Thái độ đối với việc tránh thai là nhân tố quan trọng quyết định việc có sử dụng hay không sử dụng các BPTT Những đối tượng có thái độ tích cực đối với việc tránh thai có xu hướng sử dụng các BPTT nhiều hơn những người có thái độ tiêu cực Thái độ tích cực hay tiêu cực đối với việc sử dụng các BPTT của phụ nữ gắn liền với việc sử dụng của họ Những phụ nữ đánh giá cao tính hiệu quả và hoàn toàn tin tưởng vào BPTT mà họ sử dụng có tỷ lệ sử dụng BPTT cao hơn những phụ

nữ có thái độ trung lập và không chắc chắn vào BPTT [37]

Cho đến nay dùng BPTT vẫn coi là việc của giới nữ, còn giới nam ít dùng

Dư luận cộng đồng cho rằng nam giới nếu dùng bao cao su thì không tiện, nhất là

về mùa rét, sau khi ngủ với nhau xong ngại dậy đi làm vệ sinh và vứt bỏ bao cao su

đã sử dụng [21]

Còn một số người hiểu chưa đúng về BCS và thuốc uống tránh thai (sợ có tác dụng phụ, ngại người khác coi mình là người không đứng đắn trong quan hệ tình dục) nên đã góp phần làm cho BCS và thuốc uống tránh thai hiện nay còn ít được sử dụng Đối với BCS, lý do BCS còn ít người sử dụng, được đa số người Mông đồng tình nhất là: “Người dân không thích” chiếm 42,4% Đối với thuốc uống tránh thai,

Trang 29

lý do hiện nay thuốc uống tránh thai còn ít người sử dụng, được nhiều phụ nữ Mông đồng tình nhất là: “Người dùng hay quên” chiếm 66,3%, “e sợ có các tác dụng phụ” chiếm 14,3% [15], [17]

1.3.2 Các yếu tố văn hóa - xã hội

1.3.2.1 Tôn giáo

Trước đây người Mông ở Hà Giang theo đạo Tin lành, các nghiên cứu cho thấy hoạt động KHHGĐ thường ít hiệu quả ở nhóm người này [17] Trước sự phát triển không bình thường của đạo Tin lành, tỉnh Hà Giang đã có những biện pháp chỉ đạo tích cực để hạn chế những diễn biến phức tạp của đạo này Nghiên cứu của Chi cục DS - KHHGĐ tỉnh Hà Giang năm 2011cho thấy người Mông ở cao nguyên đá Đồng Văn đã không còn theo đạo nữa, hiện nay ở Hà Giang chỉ có đạo Thiên chúa giáo và tập trung đông nhất ở dân tộc Tày - huyện Bắc Quang

1.3.2.2 Phong tục

Mỗi cặp vợ chồng người Mông nhất thiết phải có được một con trai, vì trong tập quán của họ, vai trò người đàn ông trong gia đình rất quan trọng, khi người cha mất đi, anh cả có quyền quyết định các công to việc lớn, gia đình không có con trai thì đó là một bất hạnh lớn, được ví như nhà dột, không có nóc[17]

Theo phong tục của người Mông, khi chết không được chôn theo bất cứ vật

lạ nào bằng kim loại theo người, do vậy, việc đặt vòng rất khó bởi người dân sợ khi chết có vòng trong người ma nhà sẽ không nhận Việc ma tổ tiên không nhận cũng như khi còn sống mà bị hình phạt đuổi ra khỏi làng, khỏi cộng đồng đối với họ là một hình phạt nặng nề nhất Nhiều chị em từ 35 tuổi trở lên đã sinh nhiều con cũng không muốn sinh thêm con nữa, nhưng khi được hỏi về việc sử dụng vòng tránh

thai, các chị đều lo sợ điều cấm kị này [21]

1.3.2.3 Những động thái về giới

Gia đình người Mông theo chế độ phụ hệ, người đàn ông làm chủ gia đình và

là đại diện giao tiếp với xã hội, người phụ nữ khi đã về nhà chồng thì trở thành

“ma” của nhà chồng, không được phép sinh con hay chết ở nhà bố mẹ đẻ; con gái không được quyền thừa kế tài sản Do vậy người Mông thường có tâm lý phải sinh

Trang 30

con trai và càng có nhiều con trai thì cha mẹ khi về già càng yên tâm có người chăm sóc, nuôi dưỡng [21]

Con dâu người Mông phải tuân theo mọi quyết định của gia đình nhà chồng

và chồng, nếu cãi lại bố mẹ chồng thì khi sinh đẻ sẽ gặp nhiều khó khăn, bên cạnh

đó họ không bao giờ tự quyết định sử dụng BPTT bởi vì sợ bị chồng đánh hoặc gia đình nhà chồng mắng mỏ Việc sinh con khi nào, bao nhiêu con không phải do người phụ nữ quyết định [17], [18]

1.3.2.5 Mạng lưới cộng đồng

Với người Mông truyền khẩu là kênh truyền thông hiệu quả nhất, với bố mẹ họ thường không nói chuyện về vấn đề SKSS nhưng khi lên nương họ lại trao đổi với nhau về hiệu quả và tác dụng phụ của các BPTT hiện đại Ngày phiên chợ là cơ hội tốt để phụ nữ Mông gặp gỡ những người phụ nữ dân tộc khác, nói chuyện trao đổi

về những vấn đề SKSS và các BPTT, những vấn đề mà họ chưa được biết qua tivi, đài phát thanh, tờ rơi [17]

Hầu như cộng tác viên dân số thôn bản đều là những người trong thôn, họ còn trẻ, năng lực có hạn và thiếu kinh nghiệm về truyền thông nên thường gặp khó khăn trong vấn đề tư vấn, thuyết phục những người lớn tuổi hơn họ thay đổi hành vi về SKSS/KHHGĐ [17]

1.3.3 Tiếp cận dịch vụ kế hoạch hóa gia đình

Trang 31

1.3.3.1 Khoảng cách/giao thông đi lại

Việc tiếp cận dễ dàng với cơ sở y tế (CSYT) sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đến sử dụng dịch vụ cũng như giúp cơ sở chuyển tuyến nhanh chóng Đối với nhiều người Mông, việc đến các cơ sở y tế gặp nhiều khó khăn do họ phải đi qua những con đường đất, đá, dốc cheo leo Xe máy là phương tiện giao thông xa xỉ

và không phải người Mông nào cũng có xe máy để đi do kinh tế và địa hình khá khó khăn, phức tạp [15]

Nghiên cứu của UNFPA tại tỉnh Hà Giang năm 2003 cho thấy khoảng cách

đi lại trung bình từ CSYT tuyến tỉnh đến nơi xa nhất của tỉnh là 165km; khoảng cách đi lại trung bình từ CSYT tuyến huyện đến nơi xa nhất của huyện là 57,8 km

và khoảng cách đi lại trung bình từ CSYT tuyến xã đến nơi xa nhất của xã là 8,5km Phương tiện đi lại phổ biến nhất từ CSYT tuyến tỉnh đến địa bàn xa nhất thường là

ô tô/xe máy với thời gian trung bình khoảng 10 giờ [15]

1.3.3.2 Bất đồng ngôn ngữ

Vấn đề bất đồng ngôn ngữ cũng là vấn đề quan trọng có tác động lớn đến việc tiếp cận thông tin và quyết định sử dụng các dịch vụ y tế ở người Mông Đa số cán bộ y tế (CBYT) là người Kinh hoặc Tày, họ không nói được tiếng Mông, điều này ảnh hưởng đến thái độ đối xử của CBYT đối với người người Mông Bên cạnh

đó cũng là một cản trở giữa CBYT xã với cán bộ Mông công tác tại các ban, ngành, đoàn thể ở xã [15]

1.3.3.3 Tính sẵn sàng cung cấp dịch vụ

Đối với các dịch vụ KHHGĐ mà cả 3 tuyến đều được phép thực hiện (cung cấp và/hoặc hướng dẫn sử dụng thuốc uống tránh thai, BCS, đặt DCTC, tiêm thuốc tránh thai, tư vấn về các BPTT): Tỷ lệ người cung cấp dịch vụ (CCDV) tuyến tỉnh trả lời có khách hàng để thực hiện dịch vụ thường xuyên hơn ở tuyến huyện và tuyến xã [15]

Đối với các dịch vụ KHHGĐ mà tuyến xã không được phép thực hiện theo quyết định 385/QĐ/2001 - BYT: Chỉ có 20,1% số người CCDV tuyến tỉnh và 30%

số người CCDV tuyến huyện đã từng thực hiện các dịch vụ cấy thuốc tránh thai,

Trang 32

đình sản nam/nữ Số người CCDV có khách hàng để thực hiện dịch vụ hàng quý cao hơn hàng tháng, hàng tuần và hàng ngày [15]

Đối với phá thai (hút điều hòa kinh nguyệt, hút thai, nong/phá thai và phá thai bằng thuốc): 60% người CCDV tuyến tỉnh, 90% người CCDV tuyến huyện và 40% người CCDV tuyến xã đã từng thực hiện các loại dịch vụ phá thai Tỷ lệ người CCDV ở tuyến huyện có khách hàng để thực hiện dịch vụ thường xuyên hơn ở tuyến tỉnh và tuyến xã [15]

Có thể thấy ở tuyến tỉnh có khách hàng để thực hiện các dịch vụ KHHGĐ thường xuyên hơn ở tuyến huyện và tuyến xã [15]

1.3.3.4 Chất lượng dịch vụ

Nghiên cứu của Viện dân tộc học năm 2004 cho thấy tuy hầu hết phụ nữ được điều tra cho biết họ có thể dễ dàng tiếp cận dịch vụ tránh thai tại địa phương, nhưng 43% phụ nữ không biết nhận xét về chất lượng dịch vụ đó Tỷ lệ phụ nữ cho rằng chất lượng dịch vụ tránh thai là tốt và bình thường chiếm hơn 50% số người được hỏi và không đồng đều giữa các dân tộc với tỷ lệ khá xa giữa phụ nữ người Mông với các dân tộc khác Rất ít phụ nữ các dân tộc cho rằng chất lượng dịch vụ còn chưa tốt [21]

Qua kết quả nghiên cứu của UNFPA tại Hà Giang năm 2003 về chất lượng dịch vụ ở TYT xã và Bệnh viện huyện cho thấy trên 60% đối tượng tham gia nghiên cứu nhận định: CBYT luôn có mặt tại CSYT, CBYT luôn ân cần cởi mở, người dân không phải chờ lâu, CSYT sạch sẽ gọn gàng, có tranh ảnh tuyên truyền về các BPTT và có các loại thuốc thông thường tại CSYT 40% đối tượng phỏng vấn xác nhận là đúng, đó là: CBYT có tay nghề vững, CBYT dành thời gian để nói chuyện với khách hàng về các vấn đề sức khỏe, mọi thông tin của người đến khám/chữa bệnh tại CSYT được giữ kín và trang thiết bị y tế đầy đủ và sạch sẽ Qua đó có thể thấy mối quan hệ giữa phía CCDV (gồm cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc men và người CCDV) với người dân là tương đối tốt [15]

1.4 Đặc điểm tự nhiên, xã hội của địa bàn nghiên cứu

Xã Thài Phìn Tủng là một xã thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang Thài Phìn Tủng theo tiếng Mông là “nhà trên hố nước” Trước kia Thài Phìn Tủng là một

Trang 33

trong những xã nghèo nhất của huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang và cả nước Cả xã

là một rừng đá tai mèo nhọn hoắt Nước thiếu, đất thiếu, đồng bào chỉ biết lật đá trồng ngô nên cái đói nghèo cứ đeo bám dai dẳng

Xã có 15 thôn bản, với 960 hộ, trong đó có tới 81% là hộ nghèo [19] Diện tích đất canh tác lúa rất ít, cây trồng chủ yếu là ngô, chăn nuôi chủ yếu là bò Nói chung, đời sống người dân còn nhiều khó khăn

Dân số của Thài Phìn Tủng tại thời điểm 31/12/2016 là 5.191 người, trong

đó số phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng là 936 người chiếm 18,03% tổng số dân Theo

số liệu thống kê năm 2016, cả xã có 566 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ đang sử dụng BPTT, chiếm 60,5% Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với mức trung bình của toàn huyện và mức trung bình áp dụng các BPTT trên cả nước Cơ cấu sử dụng các BPTT trong xã chủ yếu là dụng cụ tử cung chiếm 83,03%, tỷ lệ áp dụng các BPTT hiện đại còn lại dưới 9% Số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ không sử dụng các BPTT là 370 cặp chiếm 39,5%, trong đó cặp có 2 con một bề là 88 cặp chiếm 23,8%; cặp có 3 con trở lên là 15 cặp chiếm 4%; So với toàn huyện thì xã Thài Phìn Tủng có tỷ lệ không sử dụng các BPTT hiện đại cao nhất [4]

Trang 34

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổi sinh đẻ 15 - 49 có chồng đang sinh sống tại xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:

- Phụ nữ thuộc dân tộc khác, phụ nữ dân tộc Mông có chồng nhưng hiện chồng đi làm xa trên 6 tháng, đã ly dị hoặc ly thân, góa chồng được loại bỏ trước khi phỏng vấn

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 1/2018 - tháng 6/2018

Địa điểm: Xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Kết quả của nghiên cứu định tính sẽ bổ sung, giải thích thêm cho kết quả nghiên cứu định lượng

2.3.1 Nghiên cứu định lượng

Điều tra về sử dụng các BPTT, các yếu tố liên quan đến việc sử dụng các BPTT Kết quả của nghiên cứu trả lời cho 2 mục tiêu nghiên cứu đã xác định

2.3.2 Nghiên cứu định tính

Mục tiêu của phần nghiên cứu định tính là nhằm khai thác thêm các thông tin

về các yếu tố liên quan đến việc lựa chọn sử dụng các BPTT hiện đại Việc khai thác thêm các thông tin này sẽ hỗ trợ cho việc kiểm định lại những thông tin thu được trong nghiên cứu định lượng, làm rõ thêm những vấn đề mà bộ câu hỏi chưa bao quát hết và làm sáng tỏ một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng các BPTT hiện đại của ĐTNC

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu

Trang 35

(1)- Mẫu định lƣợng:

Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng được tính toán dựa vào công thức tính cỡ mẫu ngẫu nhiên đơn, ước lượng cho một tỷ lệ trong quần thể với độ chính xác tuyệt đối

Trong đó:

n: cỡ mẫu cần chọn

z: Hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95% thì giá trị của z1 – α/2 = 1,96

p: Là tỷ lệ ước tính của số phụ nữ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại Theo Niên giám thống kê của Tổng cục DS - KHHGĐ năm 2015, tỷ lệ này khoảng 65,4% (p = 0,654)

d: Khoảng sai lệch do nghiên cứu lựa chọn, d = 0,07

Thay vào công thức trên, ta có: n = (1,962 x 0,654 x 0,346)/ 0,072 = 150 Chúng tôi cộng thêm 10% bỏ cuộc hoặc các trường hợp vắng nhà, từ chối tham gia nghiên cứu và làm tròn được tổng số cỡ mẫu dự kiến là 165 đối tượng

(2)- Mẫu định tính:

Đối tượng phỏng vấn sâu: PVS có chủ định các đối tượng sau:

1 ĐTNC đang sử dụng BPTT hiện đại

1 ĐTNC chưa sử dụng BPTT hiện đại

1 ĐTNC bỏ cuộc không tiếp tục sử dụng BPTT hiện đại

Trang 36

- Tính khoảng cách mẫu (tổng số người/mẫu điều tra):

Ta có khung mẫu dự kiến N = 936

Cỡ mẫu dự kiến là n = 165, thực tế thu thập đủ theo tính toán

Từ đó ta tính khoảng cách mẫu k dựa trên số phụ nữ 15-49 tuổi có chồng tại

xã = 936/165 = 5,672

Khoảng cách mẫu k được làm tròn là 5 Bốc ngẫu nhiên 1 số trong khoảng từ

1 đến 5 để xác định số thứ tự cho người được chọn đầu tiên và người tiếp theo được chọn bằng số thứ tự của người thứ nhất cộng thêm 5 Cứ tiếp tục như vậy cho đến khi chọn đủ số mẫu cần chọn

Chọn mẫu định tính: Chọn ĐTNC có chủ định trên tinh thần tự nguyện

tham gia nghiên cứu Cụ thể đãchọn:

1 ĐTNC đang sử dụng BPTT hiện đại;

1 ĐTNC chưa sử dụng BPTT hiện đại;

1 ĐTNC bỏ cuộc không tiếp tục sử dụng BPTT hiện đại;

1 Cán bộ y tế xã (Trưởng trạm y tế);

1 Cán bộ chuyên trách dân số xã;

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

Nội dung nghiên cứu của đề tài có những vấn đề nhạy cảm, nếu chỉ nghiên cứu định lượng thì sẽ không khai thác sâu được thông tin thuộc các phạm trù tập quán, tâm lý và văn hóa đặc thù ở dân tộc Mông Mặt khác nếu chỉ nghiên cứu định tính thì sự khái quát hóa về thực trạng sử dụng các BPTT hiện đại sẽ gặp nhiều khó khăn Do đó để thu thập dữ liệu chúng tôi đã sử dụng đồng thời phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

- Sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc thiết kế sẵn Các câu hỏi được tham khảo từ các nghiên cứu trước đó để có cơ sở so sánh và bàn luận Các câu hỏi đã được chỉnh

sửa cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và thực tế địa phương (phục lục 3)

- Những cuộc phỏng vấn sâu được tiến hành theo một khung phỏng vấn có

sẵn (phụ lục 4,5)

2.5.2 Kỹ thuật thu thập thông tin

Trang 37

- Nghiên cứu định lượng: Phỏng vấn trực tiếp các ĐTNC bằng bộ câu hỏi có cấu trúc Trước khi phỏng vấn, giải thích rõ với ĐTNC về mục tiêu nghiên cứu, đảm bảo giữ kín các thông tin mà ĐTNC cung cấp và chỉ tiến hành phỏng vấn những đối tượng đồng ý tham gia

- Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu bằng khung phỏng vấn có sẵn Thu băng, ghi chép bằng biên bản để giải thích và bổ sung cho kết quả nghiên cứu định lượng

- Các cuộc phỏng vấn đều được tiến hành bởi điều tra viên là cán bộ của Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện và trạm y tế xã, có khả năng giao tiếp bằng tiếng Mông tốt Để tiếp cận đối tượng nghiên cứu, điều tra viên đến nhà đối tượng

để trực tiếp phỏng vấn dựa trên bảng hỏi có sẵn Riêng 05 cuộc phỏng vấn sâu được nghiên cứu viên trực tiếp phỏng vấn có sự phiên dịch của cán bộ chuyên trách xã

Phân tích các số liệu thu được bằng phần mềm SPSS 20

Sử dụng các thuật toán thống kê như tần số để mô tả các thông tin chung và

2.7 Các biến số và một số khái niệm, thước đo dùng trong nghiên

Trang 38

2.7.1 Biến số nghiên cứu (Chi tiết xem tại phụ lục 6)

2.7.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

- Tuổi

- Trình độ học vấn

- Tôn giáo

2.7.1.2 Thực trạng sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại

- Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại

- Cơ cấu sử dụng các biện pháp tránh thai

2.7.1.3 Các yếu tố liên quan đến việc sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại

- Yếu tố nhân khẩu học: Tuổi, trình độ học vấn, số con còn sống, quy mô gia đình mong muốn, giới tính của con, nhận thức, hiểu biết và thái độ;

- Yếu tố văn hóa - xã hội: Tập tục, thái độ của chồng, truyền thông, mạng lưới cộng đồng

- Yếu tố tiếp cận dịch vụ: Khoảng cách giao thông, thái độ của nhân viên y tế, tính sẵn sàng cung cấp dịch vụ, chất lượng dịch vụ

2.7.2 Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

Tiêu chuẩn đánh giá nhận thức, sự hiểu biếtvà thái độ về kế hoạch hóa gia đình

Trang 39

đó đánh giá phân loại theo tiêu chuẩn của Bloom

Thang điểm đánh giá nhận thức, sự hiểu biết cụ thể như sau:

TT Phân loại nhận thức, sự hiểu biết Số điểm kiến thức

(Điểm tối đa 36 điểm)

2.7.3 Phương pháp phân tích số liệu

- Số liệu được làm sạch trước và sau khi nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.1

- Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20 Kết quả phân tích được chia thành 2 phần:

+ Phần mô tả: Thể hiện tần suất các biến trong nghiên cứu

+ Phần phân tích: Đưa ra những mối liên quan giữa thực trạng sử dụng BPTT với các yếu tố khác bằng kiểm định χ2

Trang 40

- Phỏng vấn định tính được ghi âm và có biên bản gỡ băng phỏng vấn, nhằm giải thích và bổ sung cho kết quả nghiên cứu định lượng

2.7.4 Đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu tuân thủ theo đúng quy định tại Quyết định số 015/2018/YTCC

- HD3 ngày 29/1/2018 của Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng

- Đây là nghiên cứu mô tả và hoàn toàn không có hoạt động can thiệp trên ĐTNC, ĐTNC trong độ tuổi sinh đẻ từ 15 - 49 tuổi

- Nghiên cứu hoàn toàn được sự chấp thuận của cộng đồng, sự ủng hộ của chính quyền địa phương và lãnh đạo các cơ quan y tế cũng như các ban, ngành, đoàn thể khác trên địa bàn nghiên cứu

- Việc tham gia của ĐTNC là hoàn toàn tự nguyện dựa trên việc giải thích rõ ràng về mục tiêu nghiên cứu trước khi đối tượng đồng ý tham gia trả lời bộ câu hỏi phỏng vấn

- Toàn bộ những thông tin do các ĐTNC cung cấp đều được đảm bảo giữ

kín, các thông tin trong phiếu trả lời chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu

Ngày đăng: 31/01/2021, 12:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w