Để góp phần đưa ra á khuyến nghị tăng ường công tác sàng lọ và tư vấn về sức khỏe tâm thần của phụ nữ sau sinh tại Trà Vinh, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Trầm cảm sau sinh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
PHẠM THỊ BÉ LAN
TRẦM CẢM SAU SINH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở PHỤ NỮ SAU SINH TẠI THÀNH PHỐ TRÀ VINH,
TỈNH TRÀ VINH NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
PHẠM THỊ BÉ LAN
TRẦM CẢM SAU SINH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở PHỤ NỮ SAU SINH TẠI THÀNH PHỐ TRÀ VINH,
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp “Trầm cảm sau sinh và một số yếu tố liên quan ở phụ
nữ sau sinh tại thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh năm 2018” được hoàn
thành tại Trường Đại học Y tế công cộng Trong quá trình nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn học viên đã nhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện thuận lợi của các cấp lãnh đạo, thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và gia đình
Trước tiên tôi ch n thành xin cám ơn Trung tâm Y tế Thành phố Trà Vinh và các trạm y tế trực thuộc Trung tâm Y tế Thành phố Trà Vinh đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ nhiệt tình trong suốt quá trình thu thập số liệu và thực hiện nghiên cứu tại địa phương
Với lòng biết ơn s u sắc, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng đến TS Evansluong David Vinh Quang và ThS Đoàn Thị Thùy Dương đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tôi với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cám ơn đến Ban Giám Hiệu, phòng Đào tạo sau đại học cùng quý thầy cô giáo trường Đại học Y tế công cộng đã trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đặc biệt là những người thân trong gia đình đã quan t m, chia sẽ, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Phạm Thị Bé Lan
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BDI Thang đo trầm cảm Beck
(Beck Depression Inventory) CDI Thang đo trầm cảm cho trẻ em
(Children’s Depression Inventory)
DASS Thang đánh giá Stress, lo âu, trầm cảm (Depression
Anxiety Stress Scales) ĐTV Điều tra viên
EPDS Thang đo trầm cảm cho phụ nữ sau sinh của Edinburgh
(Edinburgh Postnatal Depression Scale)
PNSS Phụ nữ sau sinh
PDSS Thang đo trầm cảm phụ nữ sau sinh (The Pospartum
Depression Screening Scale) GDS Thang đánh giá trầm cảm ở người già
(Geriatric Depression Scale)
H A M - D Thang đánh giá trầm cảm của Hamilton
RLTT Rối loại tâm thần
Trang 5PHỤ LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
PHỤ LỤC iii
DANH MỤC BẢNG - BIỂU ĐỒ v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm trong nghiên cứu 4
1.1.1 Khái niệm trầm cảm sau sinh 4
1.1.2 Khái niệm trầm cảm 5
1.1.3 Đánh giá rối loạn trầm cảm 5
1.1.4 Nhận iết trầm cảm sau sinh 7
1.2 Hậu quả của trầm cảm sau sinh 8
1.3 Thang đo đánh giá trầm cảm cho phụ nữ sau sinh EPDS 9
1.3.1 Giới thiệu thang đo EPDS 10
1.3.2 Tính giá trị và độ tin cậy của thang đo EPDS 10
1.3.3 Ngưỡng phân biệt trầm cảm của thang đo EPDS 11
1.4 Thực trạng trầm cảm sau sinh trên thế giới và tại Việt Nam 13
1.4.1 Một số nghi n ứu về giá trị và độ tin cậy của thang đo EPDS 13
1.4.2 Trên thế giới 14
1.4.3 Tại Việt Nam 15
1.5 Các yếu tố li n quan đến trầm cảm sau sinh 19
1.5.1 Đặ điểm mẹ 19
1.5.3 Nhóm yếu tố li n quan đến trẻ 22
1.5.4 Yếu tố li n quan đến m i trường, gia đ nh và x hội 24
1.6 Đặ điểm địa bàn nghiên cứu 26
KHUNG LÝ THUYẾT 27
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
Trang 62.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 28
2.3 Thiết kế nghiên cứu: 28
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp họn mẫu 28
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 29
2.6 Biến số trong nghiên cứu 31
2.7 Một số khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá sử dụng trong nghiên cứu 31
2.8 Xử lý và phân tích số liệu 33
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 33
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Đặ điểm đối tượng nghiên cứu 35
3.2 Tỷ lệ trầm cảm sau sinh 39
3.3 Một số yếu tố li n quan đến trầm cảm sau sinh ở phụ nữ sau sinh tại Thành phố Trà Vinh năm 2018 40
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 47
4.1 Mô tả tình trạng trầm cảm sau sinh của phụ nữ sau sinh tại thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh năm 2018 47
4.2 Một số yếu tố li n quan đến trầm cảm sau sinh ở phụ nữ sau sinh tại Thành phố Trà Vinh năm 2018 48
4.3 Ưu điểm và một số hạn chế của nghiên cứu 61
KẾT LUẬN 64
KHUYẾN NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 1: PHIẾU ĐÁNH GIÁ TRẠNG THÁI TRẦM CẢM SAU SINH TRONG 7 NGÀY QUA 73
PHỤ LỤC 2 PHIẾU PHỎNG VẤN 75
PHỤ LỤC 3 PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU 82
PHỤ LỤC 4 BẢNG BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 83
PHỤ LỤC 5 CHỈ SỐ CRONBACH'S ALPHA 89
Trang 7DANH MỤC BẢNG - BIỂU ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Th ng tin về đặ điểm á nhân ủa đối tượng nghiên cứu 35 Bảng 3.2: Th ng tin về h n nhân, nghề nghiệp ủa đối tượng nghiên cứu 36 Bảng 3.3: Th ng tin về ạo lự gia đ nh ủa đối tượng……….37 Bảng 3.4: Thông tin về mứ độ quan tâm từ gia đ nh ủa đối tượng nguy n ứu…37 Bảng 3.5: Th ng tin về áp lực của đối tượng nghi n ứu………38 Bảng 3.6: Th ng tin về sự hỗ trợ từ gia đ nh, x hội đối với đối tượng………….38 Bảng 3.7: Mối liên quan giữa đặ điểm nhân khẩu học của đối tượng…… … 40 Bảng 3.8: Liên quan giữa đặ điểm quá trình mang thai và sinh nở với TCSS….41 Bảng 3.9: Liên quan gian giữa đặ điểm của trẻ và trầm cảm sau……….42 Bảng 3.10: Li n quan giữa đặ điểm m i trường, gia đ nh và x hội với TCSS… 43 Bảng 3.11 Mô hình hồi quy đa iến……… 45
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Phân bố mẫu trầm cảm trong mẫu nghiên cứu 39
Trang 8TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Trầm cảm vẫn còn là một thách thức trong việ hăm só sức khỏe trên toàn cầu và là gánh nặng cho từng quốc gia nói chung, cho ngành y tế nói riêng Hằng năm ó khoảng 5% dân số thế giới rơi vào t nh trạng trầm ảm Nguy ơ mắ rối loạn trầm ảm trong suốt uộ đời ủa nam giới là khoảng 15%, nữ là khoảng 24% Một số nghiên cứu trên thế giới về tỷ lệ mắc trầm cảm ở phụ nữ sau sinh cho kết quả dao động từ 3% đến 19% như ở Nhật tỷ lệ TCSS là 3%, ở Mỹ 16% và á nước khu vực Châu Âu tỷ lệ TCSS từ 13% đến 19% còn tại Việt Nam tỷ lệ trầm cảm ở PNSS ao hơn dao động từ 11,6% đến 33% Nghi n ứu này đượ thự hiện nhằm
đánh giá t nh trạng TCSS và á yếu tố li n quan ở phụ nữ sau sinh tại thành phố
Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh năm 2018
Nghiên cứu được thực hiện với hai mục tiêu: (1) Mô tả tình trạng trầm cảm sau sinh của phụ nữ sau sinh tại thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh năm 2018, (2)
Xá định một số yếu tố li n quan đến trầm cảm sau sinh của phụ nữ sau sinh tại thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh năm 2018
Nghi n ứu sử dụng phương pháp m tả cắt ngang, chọn toàn bộ 310 phụ nữ sau sinh từ 4 - 12 tuần tuổi tr n địa bàn thành phố Trà Vinh từ tháng 03/2018 đến 05/2018 Nghiên cứu sử dụng thang đo trầm cảm cho phụ nữ sau sinh Edinburgh (EPDS) với điểm cắt 12/13 được sử dụng để đánh giá t nh trạng trầm cảm Thang điểm EPDS có hệ số Cron a h’s Alpha = 0,861 Tỷ lệ phụ nữ sau sinh có dấu hiệu trầm cảm là 17,4% Kết quả phân tí h đa iến cho thấy những đối tượng lo lắng sau sinh có dấu hiệu TCSS cao gấp 2,5 lần so với những đối tượng kh ng lo lắng (OR=2,5; 95%CI: 1,1 - 5,7); phụ nữ có con có tình trạng sức khỏe không tốt có dấu hiệu TCSS cao gấp 3,8 lần (OR=3,8;95%CI: 1,5 - 9,9); kh ng được sự quan tâm từ người chồng đối tượng có dấu hiệu TCSS cao gấp 8,1 lần (OR=8,1;95%CI:2,0-33,4); mối quan hệ không tốt với gia đ nh đối tượng có dấu hiệu TCSS cao gấp 2,4 lần (OR=2,4;95%CI: 1,1 - 5,4) Ngoài ra, những đối tượng không nhận được sự hỗ trợ hăm só é vào ban ngày có dấu hiệu TCSS cao gấp 4,3 lần (OR=4,3;
95%CI: 1,9 - 9,6) so với á đối tượng khác Từ kết quả trên cho thấy phụ nữ sau
sinh cần được gia đ nh, đặc biệt là người chồng động viên, chia sẻ, ùng hăm só con và hỗ trợ hăm só é vào an ngày ùng á à mẹ nhằm giúp các bà mẹ vượt qua giai đoạn khó khăn sau sinh để giảm nguy ơ mắc trầm cảm
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Trầm cảm vẫn còn là một thách thức trong việ hăm só sức khỏe trên toàn cầu và là gánh nặng cho từng quốc gia nói chung, cho ngành y tế nói riêng Hằng năm khoảng 5% dân số thế giới rơi vào t nh trạng trầm ảm và theo nhiều nghi n
ứu khác nhau cho thấy nguy ơ mắ rối loạn trầm ảm trong suốt uộ đời ủa nam giới là 15%, nữ là 24% [30] Theo Tổ hứ Y tế thế giới (WHO) ước tính hằng năm
có khoảng 850.000 người mắc bệnh Dự tính đến năm 2020, trầm cảm là ăn ệnh thứ 2 trong số những ăn ệnh phổ biến trên toàn thế giới với 121 triệu người mắc
và ó xu hướng tăng dần Dự đoán đến năm 2030 trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu về gánh nặng bệnh tật với 340 triệu người mắc [66]
Giai đoạn sau sinh là giai đoạn nguy ơ mắc trầm cảm ao đối với phụ nữ Trong giai đoạn này, phụ nữ ó nguy ơ ị mắc trầm cảm nhiều hơn Theo thống kê của trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa kỳ (CDC), TCSS có thể ảnh hưởng đến 11,1% phụ nữ tại Mỹ [18] Theo báo cáo tổng quan năm 2013 ở Châu
Âu, tỷ lệ TCSS dao động 13% đến 19% [54] Tỷ lệ TCSS sẽ ngày càng phổ biến hơn tại á nước phát triển ũng như á nướ đang phát triển [4] Tại Việt Nam, tỉ
lệ TCSS dao động từ 11,6% đến 33% [1],[6]
Nguyên nhân gây rối loạn tâm thần nói chung và trầm cảm sau sinh nói riêng còn rất phức tạp Người bệnh bị giảm khí sắc, mất sinh lự , người mệt mỏi, mất ngủ, hán ăn hoặ ăn quá nhiều, giảm cân hoặc tăng cân quá mức, thiếu quan tâm
để ý đến on, hăm só on khó khăn [3],[17] Trầm cảm sau sinh ảnh hưởng đến suy nghĩ, ảm xú , thái độ ư xử, sức khỏe của người mẹ ũng như mối quan hệ của người mẹ và á thành vi n khá trong gia đ nh TCSS ũng làm giảm sự gắn kết giữa người mẹ và đứa con mới sinh, gây ảnh hưởng tiêu cực lên sự phát triển trí tuệ, cảm xúc và thể chất của trẻ Một trong những hậu quả trầm trọng và đáng lo ngại nhất của trầm cảm là tự tử Người mẹ có thể xuất hiện những ý nghĩ, hành vi tự sát, hủy hoại bản thân và hủy hoại đứa trẻ [6]
Nghi n ứu về trầm ảm sau sinh đ đượ quan tâm và thự hiện tại Việt Nam Một số yếu tố li n quan đến trầm ảm sau sinh tại Việt Nam đượ t m thấy
Trang 10như có con gửi dưỡng nhi, thai kỳ nguy ơ ao Tuy nhi n, đa số những nghi n
ứu này đượ thự hiện tại ệnh viện và á thành phố lớn [10],[13] và gần đây đ
có một số nghi n ứu đượ thự hiện tại ộng đồng nhưng tại thành phố lớn như Hà Nội [1], [12]
Thành phố Trà Vinh là trung tâm tỉnh lỵ và là trung tâm kinh tế lớn nhất ủa tỉnh Trà Vinh thuộc khu vực Tây Nam Bộ Với diện tích 68,035 km² và dân số 159.341 người, thành phố Trà Vinh đang ó sự phát nhanh về kinh tế - văn hóa - xã hội Tỷ lệ trầm ảm sau sinh tại thành phố Trà Vinh như thế nào? Yếu tố nào liên quan đến trầm ảm sau sinh ở thành phố Trà Vinh Để góp phần đưa ra á khuyến nghị tăng ường công tác sàng lọ và tư vấn về sức khỏe tâm thần của phụ nữ sau
sinh tại Trà Vinh, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Trầm cảm sau sinh và
một số yếu tố liên quan ở phụ nữ sau sinh tại thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh năm 2018”
Trang 11MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả tình trạng trầm cảm sau sinh của phụ nữ sau sinh tại thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh năm 2018
2 Xá định một số yếu tố li n quan đến trầm cảm sau sinh của phụ nữ sau sinh tại thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh năm 2018
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm trong nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm trầm cảm sau sinh
Trầm cảm sau sinh (postpartum depression) là một dạng của bệnh trầm
cảm ảnh hưởng chủ yếu đến phụ nữ sau khi sinh Khởi phát bệnh có khuynh hướng
từ từ hoặc có thể dai dẳng hoặc có khi lẫn vào các triệu chứng khác thời sinh đẻ [3] Theo hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần của Hiệp hội tâm thần Mỹ, TCSS khởi phát trong vòng 4 - 12 tuần đầu sau sinh và có thể kéo dài đến tháng thứ 12 sau sinh nếu kh ng được chẩn đoán và điều trị kịp thời [29]
Tuy nhiên, rất nhiều nhà nghiên cứu ũng như á huy n gia sức khỏe cho rằng, TCSS có thể khởi phát ở bất kỳ thời điểm nào trong vòng 1 năm đầu sau sinh [31], [27] TCSS có thể kéo dài vài tháng, nếu kh ng được phát hiện sớm và điều trị thích hợp có thể diễn biến thành bệnh mạn tính [49] TCSS biểu hiện bằng tính khí bất ổn, đặ trưng ởi sự chán nãn, cảm giác bất lực và lo lắng về khả năng hăm só con của mình, các bà mẹ thường lo lắng, kích thích và hay than phiền đau đầu, đau bụng, khó tiêu, ớn lạnh…Tự trách bản thân m nh và đ i khi muốn tự tử TCSS có thể gặp ớ tất cả mọi phụ nữ sau sinh [36]
Triệu chứng này thường xảy ra trong giai đoạn sau sinh Những thay đổi về sinh họ ũng như tinh thần khiến cho các bà mẹ dễ mắ TCSS TCSS ũng gây trở ngại cho khả năng hăm só on ủa bà mẹ Tuy được coi là một triệu chứng thông thường nhưng lại có khá nhiều phụ nữ cảm thấy xấu hổ và ngại ngùng khi nói đến vấn đề này Họ cảm thấy xấu hổ vì không thể làm mẹ một á h nh thường Thay
v đi khám hay nhận sự giúp đỡ từ những người xung quanh, họ lại giữ cho riêng mình và tự đưa m nh vào trạng thái đau khổ hay tội lỗi mà không biết rằng đó chính là RLTT TCSS là những cảm xúc mạnh mẽ hòa quyện vào nhau như phấn khí h, vui sướng ho đến lo lắng và sợ hãi từ việ ra đời của một em é Nhưng TCSS ũng có thể dẫn đến trầm cảm nặng, đòi hỏi điều trị lâu dài và đây là điều
kh ng ai mong đợi [51]
Trang 131.1.2 Khái niệm trầm cảm
Trầm cảm là một rối loạn tâm thần thường gặp, đặ trưng ởi sự buồn phiền, mất quan tâm thích thú, cảm giác tội lỗi, giảm sút lòng tự trọng - tự tin, rối loạn giấc ngủ hoặ ăn uống, cảm giác mệt mỏi và thiếu tập trung Trầm cảm có thể trở thành mãn tính hoặc tái phát, nó làm giảm đáng kể khả năng ủa một cá nhân trong công việc, học tập và trong việc ứng phó với cuộc sống hằng ngày, những trường hợp nặng còn có thể dẫn đến tự tử [65]
Trầm cảm có thể chia làm hai loại: trầm cảm điển hình và trầm cảm không điển hình Các nghiên cứu cho rằng hưa t m thấy yếu tố ụ thể để giải thích nguyên nhân gây trầm cảm Trầm cảm là một rối loạn phức tạp ũng giống như ất
kỳ các rối loạn tâm thần khác, RLTC là sự kết hợp, tương tá ủa 3 nhóm yếu tố: sinh học, tâm lý và xã hội Hầu hết á trường hợp trầm cảm có thể đượ điều trị bằng thuốc hoặc liệu pháp tâm lý [22]
1.1.3 Đánh giá rối loạn trầm cảm
RLTC là biểu hiện của nhiều triệu chứng, các triệu chứng đó ó thể được xem là nh thường, ví dụ như khi xảy ra một việc như mất mát về tinh thần và vật chất RLTC được coi là bất thường khi xảy ra trong những hoàn cảnh không thích hợp, mức độ nghiêm trọng và kéo dài, cản trở hoạt động sống hàng ngày Để chẩn đoán ệnh trầm cảm yêu cầu các tiêu chuẩn lâm sàng bằng cách khám và hỏi trực tiếp, đây là phương pháp hiệu quả nhất để chẩn đoán trầm cảm Tuy nhi n phương pháp khám lâm sàng đòi hỏi phải có sự thăm khám trực tiếp của á á sĩ huy n khoa, khó thực hiện ở các tuyến an đầu Một số công cụ sàng lọc tại cộng đồng được sử dụng để sàng lọc phát hiện những trường hợp nguy ơ RLTC sớm Những trường hợp ó nguy ơ hoặc nghi ngờ mắc trầm cảm sẽ tiếp tụ đượ đánh giá lâm sàng để xá định xem các triệu chứng đáp ứng các tiêu chí trầm cảm hay không Các công cụ sàng lọc trầm cảm ở cộng đồng ngoài việc hỗ trợ chẩn đoán còn giúp cán bộ y tế theo dõi kết quả điều trị và ũng thường được dùng rất nhiều trong lĩnh vực nghiên cứu cộng đồng [2]
Như vậy, RLTC có thể đượ đánh giá qua 2 cách tiếp cận, đó là sử dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng và sử dụng á thang đo để sàng lọc
Trang 14- Mất mọi quan tâm và thích thú
- Giảm năng lượng, dễ mệt mỏi dù chỉ sau một cố gắng nhỏ
Các triệu chứng phổ biến khác:
- Giảm sút sự tập trung và chú ý
- Giảm sút lòng tự trọng và lòng tự tin
- Những ý nghĩ ị tội và không xứng đáng
- Nh n vào tương lai thấy ảm đạm và bi quan
- Ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát
- Rối loạn giấc ngủ
- Ăn ít ngon miệng
Các triệu chứng “sinh họ ’ ủa trầm cảm như: sụt cân (5% trọng lượng ơ thể trong vòng 4 tuần sau sinh), giảm dụ năng, ít ngủ, thức giấc sớm, sững sờ,…
Dựa vào các triệu chứng trên, RLTC có thể đượ hia thành 3 giai đoạn [2]:
- Giai đoạn trầm ảm nhẹ (F32.0 - ICD 10): Phải ó ít nhất 2/3 triệu hứng chính ộng th m 2/7 triệu hứng phổ iến khá , hưa gây trở ngại trong sinh hoạt gia đ nh, x hội và nghề nghiệp Thời gian tồn tại á triệu hứng ít nhất là 2 tuần
- Giai đoạn trầm ảm vừa (F32.1 - ICD 10): Phải ó 2/3 triệu hứng hính ộng th m 3/7 triệu hứng phổ iến khá , gây nhiều trở ngại trong sinh hoạt gia
đ nh, x hội và nghề nghiệp Thời gian tồn tại á triệu hứng ít nhất là 2 tuần
- Giai đoạn trầm ảm nặng (F32.2 - ICD 10): Phải ó 3/3 triệu hứng hính ộng th m 4/7 triệu hứng phổ iến khá , ít ó khả năng tiếp tụ ng việ gia đ nh,
xã hội và nghề nghiệp, ó triệu hứng sinh họ ủa trầm ảm Thời gian tồn tại á triệu hứng ít nhất là 2 tuần
Trang 151.1.3.2 Các thang đo trầm cảm
Cá thang đo trắc nghiệm tâm lý không có giá trị chẩn đoán xá định trầm cảm Cá thang này ó ý nghĩa trợ giúp lâm sàng, đánh giá ường độ trầm cảm, dự đoán tiến triển, kết quả điều trị hội chứng trầm cảm
Tất cả á thang đo sàng lọc trầm cảm đều có một hệ thống tính điểm cụ thể, điểm sàng cao thì RLTC càng nặng Tuy nhiên tất cả các loại thang đo đều đưa ra một điểm cắt (ngưỡng), nếu tổng số điểm tr n điểm cắt đó th ệnh nhân ó nguy ơ
bị trầm cảm cao Một vài thang đo được chia ở các mứ độ khá nhau tương ứng với các mứ độ nhẹ, vừa, nặng của bệnh Tất cả những người có tổng số điểm trên điểm cắt sẽ được khuyến khí h đến á ơ sở y tế đánh giá ệnh bằng phương pháp khám lâm sàng và các xét nghiệm chuyên sâu tình trạng bệnh
Hiện nay trên thế giới có nhiều bộ công cụ được sử dụng để đánh giá á vấn
đề RLTC ho á đối tượng khác nhau, có thể kể đến một số công cụ được dùng nhiều trong các nghiên cứu khoa họ ũng như trong lâm sàng để hỗ trợ chẩn đoán như sau:
- Thang đánh giá trầm cảm của Hamilton (H A M - D)
- Thang đánh giá Stress, lo âu, trầm cảm của lovibon (DASS 42 và DASS 21)
- Thang đo trầm cảm ho đối tượng trẻ em: Children’s Depression Inventory (CDI)
- Thang đo trầm cảm ho đối tượng trên 14 tuổi: Beck Depression Inventory (BDI)
- Thang đánh giá trầm cảm ở người già “Geriatri Depression S ale” (GDS)
- Thang đo trầm cảm ho đối tượng phụ nữ mang thai và sau sinh: The Endinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS), The Pospartum Depression Screening Scale (PDSS)
1.1.4 Nhận i t trầm cảm sau sinh
Hầu hết tất cả phụ nữ đề trải qua giai đoạn “ ơn uồn thoáng qua” (Ba y Blues) khoảng 70-80% nhưng kh ng phải ai ũng ị TCSS [62] Tình trạng Baby Blues bắt đầu trong vòng 3 đến 4 ngày sau khi sinh và có thể kéo dài tới 14 ngày
Đó là những cảm giác buồn bã, mất ngủ, ủ rũ, mệt mỏi, tính tình dễ bị kích thích, khi ngủ hay có ác mộng Người bệnh dễ thay đổi cảm xúc, dễ chuyển nhanh từ vui
Trang 16sang buồn đặc biệt là rất dễ khóc, lo lắng rằng mình không có khả năng nu i on, xen kẽ với những cảm xúc hạnh phúc là tâm trạng bi quan chán nản Ngoài ra còn
có biểu hiện đau đầu, thiếu tập trung hú ý…Tất cả các biểu hiện của hội chứng Baby Blues rất dễ nhầm với hiện tượng TCSS, tuy nhi n điểm khác biệt lớn nhất cần phân biệt đó là hội chứng Baby Blues không phải là bệnh lý, nó có thể diễn ra
và biến mất trong vòng vài ngày hoặc 2 tuần sau sinh nếu như à mẹ có chế độ nghỉ ngơi, ăn uống hợp lý và sự hỗ trợ của gia đ nh Nếu như á iểu hiện trên kéo dài trên 2 tuần và ó xu hướng nặng lên thì bệnh nhân có thể bị TCSS [32], [35]
Tình trạng bệnh lý thiếu máu th người bệnh ũng ó những biểu hiện mệt mỏi, khí sắc giảm, hay đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ăn uống kém, ngủ kém, da xanh, niêm mạc nhợt, Xét nghiệm công thức máu ũng giúp chẩn đoán phân iệt tình trạng bệnh lý trên với TCSS
1.2 Hậu quả của trầm cảm sau sinh
Trầm cảm sau sinh gây ra những tá động tiêu cự đến sức khỏe người mẹ Ở dạng trầm cảm nhẹ người mẹ thường thấy mệt mỏi, các hoạt động v ùng khó khăn
và vụng về, lo lắng thái quá đối với sức khỏe của con và của bản thân,… Nếu bị trầm cảm nặng người mẹ trở nên buồn rầu, rối loạn giấc ngủ và ăn uống, hay cáu gắt vô cớ, có những xử sự kỳ quặc với đứa con mới đẻ và những đứa trẻ khác Người mẹ có thể rơi vào trạng thái rối loạn hành vi, với các biểu hiện như lu n ho rằng bản thân và con mắc bệnh hiểm nghèo, buồn rầu và hay khóc vô cớ, mất định hướng về không gian và thời gian, không chủ động được bản thân, có những lời nói hay hành vi thô bạo, xúc phạm đến người xung quanh, thậm chí xuất hiện ý nghĩ tự hủy hoại bản thân [19]
Bên cạnh những ảnh hưởng đến sức khỏe người mẹ, rất nhiều nghiên cứu gần đây đ quan tâm đến ảnh hưởng của trầm cảm sau sinh ở mẹ đến đứa con [62] TCSS đầu tiên ảnh hưởng đến sự tương tá giữa mẹ và con Các giác quan của trẻ ngay từ 3 tháng tuổi, thậm chí sớm hơn đ ắt đầu được hoàn thiện, đây là giai đoạn khởi đầu sự phát triển kỹ năng giao tiếp ở trẻ Tuy nhiên các bà mẹ bị TCSS thường biểu hiện thái độ lãnh cảm, đ i khi là khó hịu, thù địch với đứa con của mình Họ ít tham gia vào việ hăm só trẻ, ít biểu lộ cảm xú và hơi đùa với trẻ [50] Một số
Trang 17nghiên cứu đ ho thấy trẻ sơ sinh ủa các bà mẹ bị trầm cảm ít biểu cảm ngôn ngữ hơn và hứ năng nhận thức ngôn ngữ ũng kém hơn, trẻ ũng kém linh hoạt hơn so với những trẻ khác [62] Những hậu quả này có thể tiếp tục gây ảnh hưởng lâu dài lên sự phát triển về tâm lý, nhân cách và trí tuệ của trẻ sau này [62]
Hoạt động hăm só trẻ đặc biệt là cho trẻ bú sữa mẹ ũng ị ảnh hưởng bởi TCSS Các bà mẹ bị TCSS thường ngừng cho con bú vào tuần thứ 4 đến tuần 16 sau sinh [62] Một số nghiên cứu trầm cảm của mẹ lên sự phát triển của con ở á nước đang phát triển ũng ho thấy trẻ của bà mẹ bị trầm cảm có nguy ơ ị thiếu cân và còi cọc cao gấp 1,5 lần trẻ khác [56] Nguy hiểm hơn, một số bà mẹ bị TCSS thường cảm thấy sợ hải khi ở một mình với con, cảm thấy không có khả năng hăm sóc cho con, lo sợ rằng bản thân và con mắc bệnh hiểm nghèo,…và từ đó ó thể xuất hiện ý nghĩ tự hủy hoại con mình [19]
1.3 Thang đo đánh giá trầm cảm cho phụ nữ sau sinh EPDS
Trầm cảm sau sinh có tỷ lệ mắc bệnh biến thiên rất rộng, từ chỉ một vài cho đến hàng chục phần trăm, nguy n nhân là do á ti u huẩn chẩn đoán kh ng thống nhất ở á nước Hiện nay có nhiều thang đo đánh giá trầm cảm, trong đó thang đo EPDS được sử dụng rộng rãi trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng dành
ho đối tượng phụ nữ sau sinh Cấu trúc của thang đo EPDS hỉ bao gồm 10 câu hỏi
tự điền Nội dung chủ yếu tìm hiểu về tâm lý, cảm xúc ngoại trừ 1 câu có liên quan đến giấc ngủ là triệu chứng thực thể Thang đo EPDS là ộ công cụ được biết đến dành ho đối tượng PNSS với giá trị chẩn đoán dương tính tốt, độ nhạy và độ đặc hiệu ao Thang đo EPDS đ ó phi n ản tiếng việt và được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về TCSS ở Việt Nam Ở một số quố gia như: Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan,.… ũng sử dụng thang đo EPDS vào trong á nghi n ứu về TCSS [45], [48]
Vì vậy, nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thang đo EPDS làm ng ụ đo lường và sàng lọ TCSS v thang đo này ó ấu trúc ngắn gọn, rõ ràng, đ được kiểm định về tính giá trị và độ tin cậy, sử dụng ở nhiều nơi trong và ngoài nước Cụ thể tại Việt Nam bộ công cụ này đ được kiểm định thông qua nghiên cứu trên 465 PNSS có con từ 4 tuần đến 6 tháng tuổi ở Thừa Thiên Huế với kết quả kiểm định
Trang 18thang đo này đảm bảo tính giá trị và độ tin cậy trong việc sàng lọc các triệu chứng của trầm cảm, lo âu trong nhóm PNSS ở Việt Nam [7]
1.3.1 Giới thiệu thang đo EPDS
Thang đo EPDS được J.Cox và cộng sự giới thiệu năm 1987 ao gồm 10 câu hỏi tìm hiểu về cảm nhận của PNSS trong vòng 7 ngày qua như tâm trạng phiền
muộn, cảm giác bị tội, lo âu và ý tưởng tự sát [46]
EPDS là thang đo tự báo cáo, ở phiên bản gốc tiếng anh, EPDS được khuyến nghị sử dụng theo hình thức tự điền dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia sức khỏe tâm thần hoặc cán bộ y tế đ được tập huấn, trừ trường hợp á đối tượng có khó khăn về đọc, hiểu Thang đo EPDS được thiết kế ngắn gọn, dễ hiểu và đơn giản trong á h tính điểm, vì vậy có thể sử dụng ở các tuyến hăm só sức khỏe an đầu Thang đo EPDS sử dụng trong các nghiên cứu dịch tễ họ được báo cáo là có tính
chấp nhận cao ở đối tượng PNSS (tỷ lệ đối tượng trả lời cao) [46]
Ban đầu EPDS được thiết kế ri ng ho đối tượng PNSS, tuy nhiên qua quá trình chỉnh sửa từ 13 âu an đầu rút xuống òn 10 âu, thang đo đ kh ng òn những âu đặc biệt li n quan đến quá tr nh sau sinh như ảm giác làm mẹ hay liên quan đến trẻ nhỏ nên phạm vi ứng dụng của thang đo sau này được mở rộng để đánh giá trầm cảm cho những nhóm đối tượng bao gồm: phụ nữ mang thai, người chồng sau khi ó on,…[46]
1.3.2 Tính giá trị và độ tin cậy của thang đo EPDS
EPDS được xây dựng dựa trên kinh nghiệm lâm sàng khi chẩn đoán và điều trị bệnh nhân TCSS kết hợp với những thang đo trầm cảm đ ó sẵn như BDI (Be k Depression Inventory), SAD (The State of Anxiety and Depression),…Từ những thang đo ó sẵn tác giả chọn ra những câu hỏi có giá trị, loại bỏ những câu hỏi dễ gây nhằm lẫn hoặc không phù hợp ở giai đoạn sau sinh và xây dựng thêm một số câu hỏi Cuối cùng 13 câu hỏi được chọn ra, bộ 13 câu này sau đó đượ đánh giá trên mẫu gồm 60 PNSS và cho kết quả: thang đo ó khả năng phân iệt tốt giữa những đối tượng mắc và không mắc trầm cảm Tuy nhiên, phân tích nhân tố chỉ ra rằng 13 câu hỏi của thang đo kh ng hỉ đo lường một nhân tố duy nhất là trầm cảm
mà 3 trong 13 câu hỏi tr n òn đo lường những nhân tố khác (1 câu hỏi về cảm giác
Trang 19khi làm mẹ, 2 câu hỏi khác về sự khó chịu) Vì vậy bộ 13 câu hỏi này được rút ngắn
òn 10 âu và đượ đặt tên là EPDS Phiên bản EPDS 10 câu hỏi này tiếp tụ được tác giả đánh giá trên 48 PNSS và cho kết quả: có thể phân biệt được tất cả đối tượng
bị trầm cảm rõ rệt (major depression) ở điểm cắt 12/13 Trong số 11 đối tượng bị trầm cảm nhẹ (minor depression) chỉ ó 4 đối tượng qua thang đo ó điểm số âm tính giả và một điều đáng lưu ý là 3 phụ nữ được chẩn đoán rối loạn tâm thần khác
không phải trầm cảm đều ó điểm số dưới điểm cắt [46]
Với điểm cắt 12/13 độ nhạy của EPDS là 86% và độ đặc hiệu là 78%, giá trị
dự đoán dương tính là 73 % Những kết quả trên cho thấy rằng tỷ lệ thất bại trong phát hiện phụ nữ TCSS có thể giảm xuống dưới 10% bằng cách sử dụng điểm cắt thấp hơn 9/10 Đây là điểm cắt mà tác giả khuyến nghị ho ướ đầu ti n để sàng
lọc trầm cảm [46]
Độ tin cậy của thang đo EPDS ũng đượ đánh giá kết quả tốt với chỉ số Cron a h’s alpha là 0.87 Từ những kết quả tr n ũng như dựa vào kinh nghiệm lâm sàng của mình, tác giả J.Cox đ khuyến nghị thang đo EPDS hữu ích trong việc sàng lọc trầm cảm sau sinh ở cộng đồng ũng như sử dụng trong các nghiên cứu
về TCSS [46]
1.3.3 Ngưỡng phân iệt trầm cảm của thang đo EPDS
Trong nghiên cứu đầu tiên của J.Cox tr n đối tượng PNSS 6 tuần ở Anh, ngưỡng 13 điểm cắt có thể phân biệt được tất cả các bà mẹ bị trầm cảm rõ rệt theo chẩn đoán lâm sàng Độ nhạy là 86%, độ đặc hiệu 78% và giá trị dự đoán dương tính là 73% Điểm cắt thấp hơn 9/10 được khuyến nghị cho các sàng lọc tại tuyến hăm só sức khỏe an đầu ở cộng đồng để đảm bảo tất cả á trường hợp có khả năng ị trầm cảm được phát hiện, nhưng điểm cắt 12/13 vẫn là điểm cắt ó độ nhạy,
độ đặc hiệu và giá trị dự đoán dương tính tốt nhất và được tác giả khuyến nghị để
phân biệt á trường hợp RLTC [46]
Thang đo EPDS được sử dụng rộng rãi trên thế giới nói chung và Việt Nam nói ri ng dành ho đối tượng phụ nữ sau sinh Cấu trúc của thang đo EPDS ao gồm 10 câu hỏi tự điền Nội dung chủ yếu tìm hiểu về tâm lý, cảm xúc ngoại trừ 1
âu ó li n quan đến giấc ngủ là triệu chứng thực thể Thang đo EPDS là ộ công cụ
Trang 20được biết đến dành ho đối tượng PNSS với giá trị chẩn đoán dương tính tốt, độ nhạy và độ đặc hiệu ao Thang đo EPDS đ ó phi n ản tiếng việt và được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về TCSS ở Việt Nam Ở một số quố gia như: Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan,… ũng sử dụng thang đo EPDS vào trong á nghi n ứu về TCSS [45], [48]
Những năm gần đây nghi n ứu của tác giả Võ Thành Văn và Murray thực hiện trên cộng đồng PNSS để đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo EPDS với điểm cắt ≥ 13 điểm tại khu vực miền trung Việt Nam ũng hứng minh và đưa ra kết quả thang đo EPDS đạt được giá trị tin cậy nội bộ cao với chỉ số Cron a h’s Alpha 0.82 [11], [24]
Một số nghi n ứu về TCSS mà các tác giả đ sử dụng bộ công cụ EPDS với điểm cắt 12/13 tại Việt Nam như: Nghi n ứu của tác giả L Quố Nam (2002) thực hiện trên 321 phụ nữ sau sinh đ sinh tại ệnh viện Từ Dũ, đến tái khám vào tuần thứ 4 sau sinh với tỷ lệ TCSS là 12,5% Tá giả Huỳnh thị Duy Hương (2005) khảo sát 288 phụ nữ sau sinh đưa on đến khám tại phòng khám nhi vào tuần thứ 8 sau sinh tại ệnh viện Y Dượ thành phố Hồ Chí Minh với tỷ lệ TCSS là 25,34% Tá giả Lương Bạ h Lan (2008) khảo sát 290 phụ nữ sau sinh có con gửi dưỡng nhi vào tuần thứ 4 - 6 sau sinh tại ệnh viện Hùng Vương với tỷ lệ TCSS là 11,6% Tá giả Nguyễn Thanh Hiệp (2008) thự hiện tr n những phụ nữ sau sinh có thai kỳ nguy
ơ ao tại tuần thứ 4 sau sinh với kết quả là 21,6% TCSS Một nghi n ứu khá tại ệnh viện Hùng Vương ủa tá giả J.Fisher và ộng sự (2010) khảo sát tr n 506 phụ
nữ sau sinh đưa on đến khám tại phòng khám nhi vào tuần thứ 6 sau sinh với tỷ lệ TCSS là 33% Gần đây ó một số nghi n ứu thực hiện trên cộng đồng như: Nghi n
ứu Võ Thành Văn (2014) thự hiện tại Quận Hải Châu, TP Đà Nẵng trên 600 bà
mẹ sinh con từ 4 tuần đến 6 tháng với tỷ lệ TCSS là 19,3%, tiếp theo là nghi n ứu
ủa tá giả Murray ùng ộng sự (2015) tại Miền Trung Việt Nam khảo sát tr n 431 phụ nữ sau sinh với tỷ lệ TCSS là 18,1% và nghi n ứu ủa Bàng Thị Hoài (2016) thự hiện tr n những phụ nữ sau sinh từ 4 - 12 tuần tại Phường Ô Chợ Dừa của Quận Đống Đa, Hà Nội với kết quả TCSS là 30,2%
Trang 211.4 Thực trạng trầm cảm sau sinh trên th giới và tại Việt Nam
1.4.1 Một số nghiên cứu v giá trị và độ tin cậy của thang đo EPDS
Một nghiên cứu tại Lebanon khảo sát 228 phụ nữ sử dụng thang đo EPDS
với mục tiêu chính của nghiên cứu này là để đánh giá liệu một điểm số EPDS từ 9 điểm trở lên vào ngày thứ 2 sau sinh có dự đoán đượ giai đoạn trầm cảm giữa ngày
30 và 40 sau sinh để xá định các yếu tố nguy ơ ũng như sự phổ biến của trầm cảm sau sinh trong một mẫu phụ nữ Le anon và để xá định một điểm số ngưỡng của EPDS ti n đoán về tỷ lệ trầm cảm sau sinh Trên ngày thứ 2, điểm số trung bình trên EPDS là 7,1 (SD = 5,2) và 33,3% phụ nữ ó điểm số EPDS ≥ 9 Trong ngày thứ 30 - 40 sau khi sinh, điểm trung bình là 6,5 (SD = 4,7) và 19 phụ nữ (12,8%) trình bày với trầm cảm sau sinh Một mối tương quan dương được thể hiện giữa các điểm trên EPDS trên ngày 2 và ngày 30 - 40 (r = 0.5091, p <0.0001) Một hồi quy theo từng ước cho thấy điểm số EPDS ≥ 9 tr n ngày 2 (p <0.001) và lịch sử cá nhân của trầm cảm (p = 0.008) ó li n quan đáng kể đến việc chẩn đoán trầm cảm sau sinh trên ngày 30 - 40 [52]
Trong một số nghi n ứu việ sử dụng thang đo EPDS là thang đo sàng lọ đượ dùng phổ iến nhất, 15/22 nghi n ứu, tiếp đến là BDI-II (6/22), PHQ-9 (4/22) Thời gian sàng lọ đượ áo áo tại 21 nghi n ứu, trong đó 9 nghi n ứu từ 0-3 tháng, 4 nghi n ứu đến 6 tháng và 8 nghi n ứu l n đến 12 tháng hoặ hơn [52] Một nghi n ứu thự hiện tại Hungary gồm 266 phụ nữ đến kiểm tra sức khỏe định kỳ 6 tuần sau khi sinh tại Bộ môn Sản và Phụ khoa, Đại học Szeged, Hungary thực hiện khảo sát qua thang đo EPDS trong đó ó 3,0% á à mẹ được chẩn đoán
là trầm cảm sau sinh, và 13,5% với trầm cảm nhẹ tr n ơ sở SCID Điểm cắt là 12/13, với độ nhạy 100,0% và độ đặc hiệu 97,7% [63]
Qua á nghi n ứu tr n ho thấy thang đo EPDS ó thể sử dụng ở nhiều thời điểm đánh giá khá nhau sẽ có tỉ lệ trầm cảm khác nhau Một số lấy trước sinh, một
số theo dõi dọc lấy từ vừa sinh xong, hỏi lại sau 4 tuần, hỏi tiếp lại sau 12 tuần,…
và trong nghiên cứu này tôi chọn thời điểm sau sinh từ 4 - 12 tuần
Trang 221.4.2 Trên th giới
Trầm cảm là một rối loạn tâm thần đang lan rộng trên toàn cầu và ảnh hưởng đến tất cả húng ta v đối tượng mắc trầm cảm đa dạng một á h đáng kể trong khắp dân số thế giới Tỷ lệ mắc trầm cảm trong suốt đời khoảng 3% ở Nhật cho đến 16% ở Mỹ, còn với hầu hết á nướ th dao động trong khoảng 8% đến 12% [25] Một nghiên cứu bệnh chứng tại Anh cho biết trong 5 tuần đầu sau sinh phụ nữ
có khả năng ị trầm cảm cao gấp 3 lần nh thường Tương tự, một nghiên cứu khác tại Na Uy, phụ nữ sau khi sinh có nguy ơ trầm cảm cao gấp 1,8 lần so với phụ nữ không sinh con [40]
Ở các quốc gia phát triển trên thế giới, nghiên cứu về lĩnh vự TCSS đ được tiến hành từ rất lâu Vào năm 1986, một nghiên cứu phân tích tổng hợp 59 nghiên cứu tr n 12.810 đối tượng bệnh nhân TCSS tại một số quốc gia và khu vự như: Nhật Bản, Australia, Châu Âu, Bắc Mỹ,…đ ho kết quả tỷ lệ hiện mắc TCSS chung là 13% [57], hay một nghiên cứu khác tại Canada năm 2011 tr n 6421 phụ
nữ sau sinh chiếm tỷ lệ trầm cảm là 8% [38] Điều đặc biệt của nghiên cứu phân tích tổng hợp này là các nghiên cứu được lựa chọn vào phân tích phải đáp ứng được các yêu cầu cần thiết: Phương pháp họn mẫu phải đảm bảo tính ngẫu nhi n đại diện, đối tượng nghiên cứu phải ít nhất 2 tuần sau sinh để tránh sự nhầm lẫn với hội chứng Baby Blues là rất quan trọng [53] Với các yêu cầu đặt ra trong nghiên cứu
và kết quả ó được sau phân tích thì có thể nói nghiên cứu của tác giả M W O Hara và A M Swan đ ho húng ta thấy cái nhìn khá bao quát và đại diện về tỷ lệ hiện mắc TCSS vào khoảng thời gian trướ năm 2000, đặc biệt là quốc gia phát triển [48], [53], [61]
Những nghiên cứu được thực hiện gần đây như nghi n ứu của Bernard O và nhóm cộng sự thực hiện Jamaica một quố gia thuộ vùng Trung Mỹ khảo sát 3,517 PNSS từ 1-3 tháng sử dụng thang đo EPDS với điểm ắt ≥13 điểm Tỷ lệ TCSS trong nghi n ứu là 19,6% (KTC 95% 18,3-20,9%) Một số yếu tố li n quan đến tỷ
lệ TCSS như hỉ số hỗ trợ x hội (OR: 1.61 (1.07-2.43) t nh trạng ạo lự gia đ nh (OR=2,36;(1,66-3,38); p<0,001) và khó khăn về tài hính (OR:1,39; (1,07,1,80); p=0,013) [34]
Trang 23Một nghi n ứu khá thự hiện tại khu vự Châu Á ủa Abdul Raheem R và
á ộng sự tại Maldives ở một nhóm 458 à mẹ tại 2 ệnh viện lớn ở Malé, Maldives sau sinh 3 tháng Sử dụng thang đo trầm ảm sau sinh ủa Edinburgh (điểm ≥13) Tỷ
lệ TCSS là 12% Cá yếu tố li n quan là á sự kiện ăng thẳng trong uộ sống là một yếu tố nguy ơ dẫn đến trầm ảm ủa người mẹ trong những thời điểm này [28]
Từ một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy hầu hết các nghiên cứu đ làm việc mô tả tỷ lệ của bệnh Tuy nhiên các tỷ lệ này còn khác nhau rất nhiều ở một số quốc gia có thu nhập cao, trung bình hoặc thấp [42] Sự khác biệt tỷ lệ này có thể phụ thuộ vào đặ điểm của đối tượng nghiên cứu (sự khác biệt về điều kiện kinh
tế, xã hội, văn hóa, nhận thứ , hăm só y tế, ) Sự khác nhau về thời gian tiếp cận, tiêu chuẩn và phương pháp đánh giá…Từ thực tế tr n đặt ra yêu cầu có nhiều nghiên cứu về lĩnh vự này nhưng đa dạng về điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội để
ó được cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn Tóm lại, các nghiên cứu được thực hiện trên thế giới một phần nào cho thấy tỷ lệ TCSS của phụ nữ sau sinh trên thế giới và
sự chênh lệch tỷ lệ giữa á nước phát triển và đang phát triển Nhưng đa số nghiên cứu chỉ được thực hiện ở á nước phát triển, hưa được thực hiện nhiều ở á nước đang phát triển và á nước nghèo với nhiều nguy ơ về TCSS như vấn đề phân biệt chủng tộc, giới tính, bạo lự gia đ nh, t nh trạng nghèo đói tại á nước nghèo, vấn
đề an ninh lương thực, Như vậy cần có những nghiên cứu trên diện rộng tầm soát TCSS ở sản phụ sau sinh ở á nước phát triển và cả đang phát triển
1.4.3 Tại Việt Nam
Trong những năm qua, ngành Y tế Việt Nam đ ó nhiều đóng góp trong việc bảo vệ nâng cao sức khỏe thể chất của phụ nữ sau sinh và sơ sinh, song về mặt tâm
lý òn ít được quan tâm Chỉ vài năm gần đây, lĩnh vực này mới được tìm hiểu, khai tâm cho các nhà sản phụ khoa, nhi khoa, tâm lý để cùng tiếp cận, chẩn đoán, phòng
và điều trị cho phụ nữ sau sinh và sơ sinh [5], [4] Những nghiên cứu trong khoảng thời gian gần đây phát hiện ra rằng trong giai đoạn sau sinh, một giai đoạn dễ xảy ra các rối loạn về tâm lý và đáng lo ngại nhất là trầm cảm Cụ thể nhất là nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Như Ngọc (2001) sàng lọc TCSS bằng thang đo EPDS tr n nhóm đối tượng phụ nữ sau sinh 4-6 tuần với 32,8% TCSS Tuy nhiên thực trạng
Trang 24này lại được báo cáo thấp hơn trong á nghi n ứu của các tác giả khác tại bệnh viện Từ Dũ ho kết quả 5,3% và 12,5% [5]
Nghiên cứu của tác giả Phạm Ngọc Thanh thực hiện tại bệnh viện Nhi Đồng 1 khảo sát trên 48 bà mẹ ó on sinh non đang nằm điều trị tại khoa sơ sinh ệnh viện Nhi Đồng I qua bảng EPDS, số bà mẹ ó EPDS ≥ 13 điểm chiếm 70,8% (34 bà mẹ) Điều này có thể do cách tiến hành nghiên cứu chọn mẫu của chúng tôi, đây là á à
mẹ có con bệnh nặng nằm phòng cấp cứu của khoa sơ sinh Cá à mẹ này ó địa chỉ ư trú ở tỉnh là 81,2%, ó nghĩa là trẻ đ được sinh ra ở địa phương và trẻ bị cách ly mẹ on trước khi trẻ được nhập viện tại khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1 Cũng ó thể do ăng thẳng của m i trường khoa Sơ sinh, sự cách ly thể chất và sự cảm xúc của bà mẹ đối với trẻ, sinh ra một trẻ thiếu tháng là một cú sốc Tất cả công việ mang thai ũng như huẩn bị cho chuyển dạ và sự ra đời của đứa trẻ bị cắt đứt Đối với bà mẹ, đẻ non là một trải nghiệm đau đớn và mặc cảm tội lỗi có thể dẫn bà
mẹ tới trầm cảm và tự đánh giá thấp mình Sự ra đời và nằm viện của một trẻ sinh non là sự đau khổ tâm lý rất lớn cho bà mẹ Bà mẹ đau uồn và tự buộc tội mình Đặc biệt sự thiếu nâng đỡ xã hội, xung đột vợ chồng, gia đ nh và á iến cố gây ăng thẳng trong cuộc sống làm tăng ó ý nghĩa sự trầm cảm sau sinh [15]
Nghiên cứu của bệnh viện Hùng Vương thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 qua khảo sát 285 phụ nữ sau sinh tại ệnh viện Hùng Vương ó on phải gửi dưỡng nhi ghi nhận đượ á kết quả: Tỷ lệ mới mắ trầm ảm sau sinh ở phụ nữ sau sinh
ó on gửi dưỡng nhi là 11,6%, KTC 95% (7,88 - 15,31) [10] Sở dĩ, trong nghi n cứu trên có tỷ lệ TC ao như vậy là do đối tượng nghiên cứu ó on sinh non đang nằm viện tại khoa sơ sinh, điều này khẳng định tình trạng sức khỏe của em bé sau sinh có mối liên quan chặt chẽ với tình trạng TC [10],[14]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Hiệp và cộng sự tại Bệnh viện Từ Dũ cho thấy tỷ lệ TCSS chiếm 21,6% tr n nhóm đối tượng phụ nữ có thai kỳ nguy ơ
ao đến khám tại bệnh viện Tuy nhiên, thực trạng này mới chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu trong bệnh viện và đối tượng ó nguy ơ v vậy tỷ lệ hưa đại diện bức tranh cộng đồng và cần có nhiều nghiên cứu hơn để có cái nhìn toàn cảnh về thực trạng ăn ệnh trầm cảm [13]
Trang 25Nghiên cứu của Võ Thành Văn năm 2014 thực hiện tại Đà Nẵng cho thấy tỷ lệ điểm số EPDS cho thấy tỷ lệ phụ nữ có triệu chứng TCSS là 19,3% Trong số phụ
nữ có có triệu chứng TCSS, ó ý định tự tử là 37,9% Các yếu tố li n quan đến TCSS theo nghiên cứu được biết là: Không nhận được sự giúp đỡ từ người chồng, Người chồng kh ng thường xuyên tâm sự và chia sẻ cùng vợ, lo lắng về cuộc sống sau khi ó on và ó on thường xuyên ốm [24]
Một nghiên thực hiện tại Miền Trung của Việt Nam vào năm 2015 do Murray
và các cộng sự nghiên cứu về triệu chứng trầm cảm sau sinh ở phụ nữ miền Trung Việt Nam Nghiên cứu sử dụng cắt EPDS 12/13, tỷ lệ phụ nữ mắc TCSS là 18,1% (n = 78, 95% CI 14,6-22,1) phụ nữ bị trầm cảm (20,4% ở thành thị, 15,8% ở nông thôn) Trái với dự đoán, giới tính trẻ và mất tự do khi ó gia đ nh kh ng li n quan đến các triệu chứng trầm cảm Các yếu tố về kinh tế như: nghèo đói, thiếu lương
thực và bạo lự gia đ nh là nguy n nhân hủ yếu khiến trầm cảm sau sinh tăng l n
Trong đó hiếm 30,2% phụ nữ có nguyên nhân là: Bạo lực từ người chồng, thất nghiệp của chồng, khó khăn về thiếu sữa mẹ, bệnh tật ở trẻ sơ sinh, và nhận thức kém về xã hội ó li n quan đến điểm số EPDS Thứ hai là đ hiếm 22% phụ nữ có triệu chứng trầm cảm tr nh độ học vấn thấp, năng lực của người mẹ kém và sự phân biệt đối xử của gia đ nh đối với em bé [11]
Nghiên cứu của Bàng Thị Hoài thực hiện năm 2016 tại phường Ô Chợ Dừa của quận Đống Đa - Hà Nội Trong nghiên cứu này sử dụng tiến hành nghiên cứu
235 phụ nữ sau sinh từ 4 - 12 tuần sử dụng thang đo EPDS với điểm cắt là 12/13
Tỷ lệ phụ nữ có dấu hiệu trầm cảm là 30,2% Một số yếu tố li n quan trong đó t nh trạng h n nhân được ghi nhận là yếu tố nguy ơ ủa TCSS với OR=9,7 Đặ điểm
li n quan đến con: Bé hay ốm đau, tính khí kh ng ngoan, khó khăn khi ho é ăn và ngủ, mứ độ thường xuyên quấy khó an đ m là những yếu tố nguy ơ ủa TCSS
Đặ điểm li n quan đến quá trình mang thai và chuyển dạ: vấn đề sức khỏe khi mang thai OR=2,1 hay lo âu trong thai kỳ đượ xá định ó li n quan đến TCSS (OR=2,1) Đặ điểm li n quan đến gia đ nh, m i trường và xã hội: Mâu thuẫn bất đồng quan điểm với gia đ nh sống cùng, quan hệ không tốt với chồng và gia đ nh chồng, áp lực giới tính khi sinh con là những yếu tố dẫn đến TCSS với OR=4,6; 6,2;
Trang 263,8; 3,3 Th m vào đó, sự hỗ trợ hăm só on vào an ngày, hỗ trợ hăm só vào
an đ m, hỗ trợ hăm só ản thân và hỗ trợ chia sẻ cảm xú ũng là những yếu tố nguy ơ ủa TCSS với OR= 7,6; 4,1; 6,4; 11,6 [1]
Trong các nghiên cứu tr n, đ phần nào toát l n được cái nhìn bao quát về thực trạng TCSS tại Việt Nam Sử dụng điểm cắt 12/13 của thang đo EPDS được khuyến nghị sử dụng của tác giả J Cox để sàng lọ á trường hợp trầm cảm rõ rệt
đ được vận dụng linh hoạt và hiệu quả với những nghiên cứu trên, mặt khác thang
đo này đ được kiểm định tính gí trị và độ tin cậy trong nghiên cứu của tác giả Lê Tống Giang tại Thừa Thiên Huế Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì các nghiên cứu trướ đây òn vướng phải một số hạn chế như đối tượng nghiên cứu phần lớn chỉ tập trung vào các bà mẹ ó nguy ơ ao mắ TCSS như ó on nằm dưỡng nhi đến tại bệnh viện, thai kỳ ó nguy ơ ao hay ó on sinh non.…dẫn đến các con số trên hưa thể đại diện cho cộng đồng Trong những năm gần đây, ó một vài nghiên cứu thực hiện tại cộng đồng nhưng thực tế chỉ thực hiện tr n địa bàn nghiên cứu nhỏ, hoặc ở nhóm đối tượng nghiên cứu nhất định là phụ nữ ở thành thị
và chủ yếu ở dân tộ kinh hưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến các dân tộc thiểu số
và phụ nữ ở khu vực nông thôn vùng sâu, vấn đề TCSS hưa đượ đánh giá toàn diện và cần có các nghiên cứu thêm về vấn đề này
Bắt đầu từ những năm 2002, đ ó nhiều nghiên cứu thực hiện về đề tài TCSS
ở phụ nữ Nhưng đa số chỉ thực hiện tại Bệnh viện hưa thực hiện trên cộng đồng
và chỉ chú trọng tập trung vào các bà mẹ ó nguy ơ ao như á à mẹ có con gửi dưỡng nhi tại Bệnh viện Nhi đồng 1 của Phạm Ngọc Thanh Trong những năm gần đây ó nhiều nghiên cứu thực hiện trên cộng đồng như á nghi n ứu tại khu vực miền Trung của Võ Thành Văn và Murray, một số nghiên cứu của họ vi n Đại học
Y tế Công cộng thực hiện tại Hà Nội đ phần nào thể hiện được tỷ lệ TCSS ở Việt Nam và những yếu tố li n quan đến TCSS Nhưng thực tế cho thấy các nghiên cứu trên chỉ tập trung vào một số đối tượng sản phụ nhất định chứ hưa nghi n ứu sâu rộng ở nhiều đối tượng phụ nữ khá nhau Như trong nghi n ứu, Bàng Thị Hoài và Nguyễn Bích Thủy thực hiện tại Hà Nội chỉ nghiên cứu tr n địa bàn nhỏ mỗi nghiên cứu chỉ thực hiện tại hai phường và đối tượng phụ nữ thành thị và dân tộc kinh
Trang 27Hiện tại, hưa ó nhiều công bố nghiên cứu mới tại khu vực miền Tây Nam Bộ của Việt Nam về TCSS mang tính đại diện ho đặ điểm của vùng miền
1.5 Các y u tố liên quan đ n trầm cảm sau sinh
Giai đọan sau sinh là một giai đoạn v ùng quan trọng do ó những thay đổi
về mặt thể hất, tinh thần ũng như tâm sinh lý ủa người phụ nữ Sự thay đổi này
là ướ huyển đổi vai trò từ người phụ nữ trở thành người mẹ Đây là giai đoạn mà
sứ khỏe ủa người mẹ và sứ khỏe ủa trẻ ần đượ quan tâm nhiều Tuy nhiên với mụ ti u ủa nghi n ứu là xá định á yếu tố li n quan nhằm nhận iết những phụ nữ ó nguy ơ TCSS trong ộng đồng và đề xuất những iện pháp an thiệp kịp thời, hiệu quả nah82m nâng ao sứ khỏe ho người dân nói hung và PNSS nói
ri ng V vậy nghi n ứu tập trung vào á yếu tố ó li n quan đến đặ điểm ủa đối tượng ụ thể là: đặ điểm ủa mẹ, nhóm yếu tố li n quan quá tr nh mang thai và sinh nở, nhóm yếu tố li n quan đến trẻ và uối ùng là nhóm yếu tố li n quan đến
m i trường, gia đ nh và x hội
1.5.1 Đặc điểm mẹ
Yếu tố nhân khẩu họ đượ đề cập trong các nghiên cứu ó li n quan đến TCSS như: tuổi, giới, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, thu nhập á nhân, tr nh độ học vấn Cụ thể, trong một nghiên cứu C T Beck (thực hiện năm 2001) đ hỉ ra có mối quan hệ giữa tình trạng hôn nhân và TCSS, những phụ nữ mà hưa kết hôn có nguy ơ TCSS ao hơn phụ nữ đ kết hôn Bên cạnh đó, một số yếu tố khá như: tuổi, giới, nghề nghiệp ũng đượ đề cập có mối li n quan đến TCSS trong nghiên cứu trên 1379 phụ nữ sau sinh ở Quarta (A Bener và cộng sự năm 2001) Ngoài ra,
tr nh độ học vấn của người mẹ ũng được coi là một trong những yếu tố liên quan đến TCSS trong một nghiên cứu tr n 1.659 đối tượng phụ nữ giai đoạn sau sinh cho thấy bà mẹ trẻ có học vấn ao hơn (từ trung học trở lên) thì tỷ lệ mắ TCSS ao hơn chiếm 67,5% trong khi tr nh độ thấp hơn hiếm 35,7% [26], [37]
Tình trạng kinh tế: Những khó khăn về kinh tế, đặc biệt là giai đoạn gần sinh hoặ sau sinh ũng là một yếu tố nguy ơ ủa TCSS Theo A Bener (2011), những phụ nữ sau sinh ở những gia đ nh ó thu thập hàng tháng thấp thì tỷ lệ mắc TCSS
ao hơn ở những gia đ nh ó thu nhập cao (p<0,001) Kết quả này ũng giống với
Trang 28nghiên cứu của Emnia Robertson(2004) Theo Lanra A Pratt và Debra Gi Brody (tháng 8/2008) cho thấy người ở độ tuổi 18-39, 40-59 có thu nhập dưới mức nghèo thì tỷ lệ trầm cảm ao hơn hẳn ở những người có thu nhập mức trên (tỷ lệ trầm cảm tương ứng là 11,5% /3,5% và 22,4%/5,9% ) [26], [61]
Đặ điểm địa lý: Một nghi n ứu gần đây đượ tiến hành tr n PNSS tại thành phố Toronto (Canada) ho thấy phụ nữ sống ở á thành phố lớn ó nguy ơ mắ TCSS ao hơn 40% so với những phụ nữ sống ở vùng n ng th n và nghi n ứu ủa Caroline Cassels khảo sát tr n 6421 PNSS ó on đầu ti n ở Canada từ giữa tháng
11 năm 2005 đến tháng 5 năm 2016 kết quả ho thấy tỷ lệ TCSS hung là 7,4%, trong đó tỷ lệ phụ nữ sống ở thành thị là 9,16% và n ng th n là 6,07%
Số on hiện tại: T nh trạng sinh on lần thứ mấy trong lần sinh này Việ sinh
on lần đầu ti n hay từ lần thứ 2 trở l n ũng là một trong nhưng yếu tố ảnh hưởng đến TCSS Những bà mẹ sinh con lần đầu ( on so) ó nguy ơ ị trầm cảm gấp 2 lần bà mẹ sinh con từ lần thứ 2 trở l n [4],[13]
T nh trạng sống hung với hồng và người thân: Việ sống hung với hồng
và người thân sau sinh tứ là đối tượng sẽ đượ hia sẽ phần nào về mặt tâm lý ũng
như tinh thần Nhận được sự hỗ trợ của người thân trong giai đoạn ăng thẳng được
cho là một yếu tố bảo vệ với TCSS và là một yếu tố liên quan có hiệu lực khá mạnh Theo nghiên cứu của Misri và Kostarns (2000), cho thấy phụ nữ được chuẩn đoán TCSS nếu nhận được sự hỗ trợ của người thân đặc biệt là người chồng sẽ làm giảm nhanh các triệu chứng trầm cảm ũng như rút ngắn được thời gian nằm viện của người bệnh Việc nhận được sự hỗ trợ từ người thân trong thời kỳ mang thai đặc biệt là giai đoạn sau sinh ó ý nghĩa rất quan trọng đối với người phụ nữ, là một yếu
tố bảo vệ đối với trầm cảm sau sinh và là một yếu tố liên quan có hiệu lực khá mạnh
với trầm cảm sau sinh [33], [41]
1.5.2 u tố liên quan đ n quá tr nh mang thai và sinh nở
Kế hoạch mang thai: Việc mang thai ngoài ý muốn của các phụ nữ sau sinh có ảnh hưởng đến TCSS ở phụ nữ theo một nghiên cứu ở Quatar được thực hiện khảo sát 1.659 phụ nữ ở giai đoạn sau sinh cho thấy mang thai ngoài ý muốn có mối liên quan ó ý nghĩa với TCSS (OR=1,9, P<0,001) [55] Theo nghiên cứu của Ruisanen
Trang 29và cộng sự (2013) sợ sinh on ũng làm tăng nguy ơ ủa TCSS Tại Việt Nam năm
2005 lại báo cáo về một mối liên quan khá chặt: Những bà mẹ có thai kỳ ngoài ý muốn có tỷ lệ TCSS cao gấp 5,08 lần các bà mẹ khác trong nghiên cứu của Huỳnh Thị Duy Hương và ộng sự [4]
Yếu tố sản khoa: Bao gồm phương thức sinh, những vấn đề khi sinh như sinh sớm, sinh khó, ũng như á tai iến sản giật, tiền sản giật, chảy máu nhiều khi sinh, nhiễm trùng sau sinh… òn làm tăng tỷ lệ các rối loạn tâm thần sau sinh qua nhiều nghiên cứu [13], [4],[14]
Nghiên cứu của Lê Quố Nam tr n nhóm đối tượng PNSS 4 tuần lại chỉ ra: có 18,2% phụ nữ sau sinh sinh khó (chuyển dạ kéo dài, cần sự can thiệp…) ị trầm cảm so với 4,7% ở nhóm PNSS sinh mổ và 2,4% ở nhóm sinh thường, sự khác biệt này ó ý nghĩa thống kê (p<0,05 ) [5] Như vậy, ở nghiên cứu này yếu tố sinh khó
ó li n quan đáng kể với TCSS nhưng kh ng ó mối liên quan giữa sinh mổ và TCSS Có thể là bản thân quá trình sinh khó là một sang chấn tâm lý nặng nề hơn sinh mổ vì diễn biến thường kéo dài và phụ nữ sau sinh thường đau đớn nhiều hơn
Về vấn đề mối liên quan giữa sinh mổ và TCSS th trong y văn ũng ó nhiều ý kiến mâu thuẫn nhau thí dụ như theo Harmh P (Anh) thì sinh mổ ó li n quan đến trầm cảm ở tuần thứ 6 sau sinh còn tác giả Như Ngọc (Việt Nam) thì không thấy có mối liên quan giữa sinh mổ và TCSS
Thời gian mang thai của người phụ nữ kéo dài từ 38 - 42 tuần và được chia thành 3 quý Trong mỗi quý người phụ nữ có những thay đổi về thể chất và tâm lý khác nhau [43],[39]
Mang thai thường đi kèm với nhiều lo lắng, ăng thẳng đặc biệt là mang thai lần đầu Trong quý đầu người phụ nữ không nhìn thấy những thay đổi xảy ra trong
ơ thể của họ nhưng giai đoạn này vô cùng quan trọng Giai đoạn này nhiều phụ nữ
lo lắng thai nhi cử động trong tử cung vì họ không biết rằng đó là dấu hiệu của thai nhi, khi trẻ ra đời ó làm thay đổi cuộc sống, mối quan hệ xung quanh mình hay không Với phụ nữ mang thai lần đầu họ thường lo lắng bị sẩy thai, thai chết lưu…mặc dù họ biết điều đó là kh ng ó ăn ứ Ngoài ra người phụ nữ mang thai còn có thể có biểu hiện mệt mỏi, giảm trí nhớ, buồn n n, đau đầu, đau lưng, tiểu
Trang 30tiện rát, táo bón, sợ một số mùi hoặc một số thứ ăn nhất định Những mệt mỏi ăng thẳng, lo âu trong quý I đ qua th sự thay đổi cảm xúc của quý II lại bắt đầu Mặc
dù những cảm giá trong giai đoạn này thường ở mứ độ nhẹ hơn nhưng đ i khi nó ũng gây ra những vấn đề tương tự Họ lo lắng về việc chuẩn bị cho sự ra đời của đứa trẻ, liệu đứa trẻ có phát triển nh thường, liệu mình ó sinh đúng thời hạn hay
kh ng…, một số bà mẹ thấy thiếu sự tự tin do sự tăng ân nhiều của ơ thể Đặ iệt trong trong quý III ủa thai kỳ, giai đoạn này người phụ nữ mong đợi đến kỳ sinh đẻ và họ phải đối phó với sự thay đổi đáng kể về mặt ơ thể Một số phụ nữ thấy chán nản về hình ảnh của ơ thể mình, họ thấy mình không còn hấp dẫn nữa, thấy m nh đang xấu đi…Cảm giác sợ mất đứa trẻ thường biến mất ở giai đoạn này nhưng lại xuất hiện những lo lắng về sự xuất hiện của đứa trẻ, lo lắng cho cuộc chuyển dạ sắp tới của bản thân
Chế độ nghỉ ngơi sau sinh: Sau khi sinh á à mẹ bị kiệt sức nhiều do đau, do mất máu, do can thiệp thủ thuật, ũng như á ăng thẳng tâm lý trong quá trình chuyển dạ …V vậy, đượ hăm só và nghỉ ngơi sau sinh ó ý nghĩa rất lớn với họ, hai nghiên cứu gần đây tại Việt Nam cho thấy mối liên quan giữa hai yếu tố này trong đó những bà mẹ kh ng được nghỉ ngơi hoàn toàn 30 ngày sau sinh ó nguy ơ
bị TCSS ao hơn những bà mẹ khác 2008 [14]
1.5.3 Nhóm y u tố liên quan đ n trẻ
Giới tính trẻ: Quan niệm thích sinh con trai là một quan niệm đ ó từ lâu ở Việt Nam kể cả có ở gia đ nh và phụ nữ sau sinh Giới tính của trẻ ũng được cho là một yếu tố nguy ơ ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần đặc biệt là TCSS Theo phân tích tổng hợp của một loạt các nghiên cứu gần đây ở các nước Châu Á ( P Klainin
và D G Arthur 2009) ũng ho thấy sở thích giới tính trẻ ũng li n quan đến TCSS Những nghiên cứu từ Ấn Độ (Patel và cộng sự 2002) và tại Trung Quốc (Lee A M và cộng sự 2007) đ ho thấy sự thất vọng của người cha về giới tính trẻ, đặc biệt là é gái ó li n quan đáng kể đến sự phát triển của TCSS [55]
Tình trạng sức khỏe con sau sinh: 8% phụ nữ sau sinh có con sinh ra có vấn đề
về sức khỏe như phải nằm dưỡng nhi, bị bệnh hay tật bẩm sinh bị TCSS so với 3,6% trong nhóm phụ nữ sau sinh ó on nh thường Sự khác biệt này ó ý nghĩa
Trang 31thống k (p<0,05) Điều này ũng phù hợp với nhận xét của tác giả Glasser (Israel) cho rằng các vấn đề sức khỏe kéo dài ở đứa con là một trong những yếu tố dự báo tốt nhất về sự xuất hiện TCSS hay theo tác giả Mandl KD (USA) thì mẹ dễ bị TCSS nên trẻ sơ sinh có trên 1 vấn đề phải khám đa khoa hay on phải nhập phòng cấp cứu dù chỉ 1 lần [4]
Trong các mối quan tâm rất lớn của các bà mẹ, những vấn đề xảy ra với trẻ có ảnh hưởng không nhỏ đến SKTT bà mẹ Mối liên quan giữa khó khăn trong hăm sóc trẻ (trẻ có các vấn đề về sức khỏe, ăn,ngủ) và TCSS đ được khẳng định trong hầu hết các nghiên cứu Nghiên cứu của Lương Bạch Lan và cộng sự (2008) tại Việt Nam cho thấy, những bà mẹ ó on kh ng được khỏe ó nguy ơ TCSS ao gấp 4,6 lần các bà mẹ khác [9]
Tính khí trẻ: Những đứa trẻ sinh ra hay ăn uống khó, hay quấy khóc, khó ngủ… là một trong những nguy n nhân gây ăng thẳng cho bà mẹ 10,5% phụ nữ sau sinh phải tự hăm só é về đ m ị TCSS so với 3,7% trong nhóm phụ nữ sau sinh có chồng hay người khác giúp Sự khác biệt này ó ý nghĩa thống kê (p<0,05) Hay mối liên quan giữa khó bú và TCSS có 17% phụ nữ sau sinh gặp khó khăn khi cho con bú bị TCSS so với 3,3% trong nhóm phụ nữ sau sinh cho con bú bình thường Sự khác biệt này ó ý nghĩa thống kê (p<0,01) [5]
Tại Việt Nam nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Duy Hương và Nguyễn Thanh Hiệp cho kết quả những đứa trẻ hay quấy khóc và khó ngủ về đ m ũng làm cho bà mẹ ó nguy ơ ao ị TCSS [13],[4] Ngoài ra phân tích tổng quan của C T
Be k tr n 789 đối tượng bà mẹ sau sinh đ ho thấy con hay quấy khóc, khó dỗ dành là nguy n nhân gây ăng thẳng cho bà mẹ và là một trong những yếu tố liên quan chặt chẽ với tình trạng TCSS Tuy nhiên, hầu hết những nghiên cứu trướ đây đều là tr n đối tượng bà mẹ Việc khai thác hai yếu tố trên ở chính bà mẹ không khách quan vì bị ảnh hưởng bởi hậu quả của trầm cảm ở người mẹ Những người
mẹ bị TCSS ó xu hướng mô tả tiêu cự hơn về tình trạng của con cái họ [47] Con rạ/con so: Gần đây, hai nghi n ứu ở Việt Nam đ ho thấy đây ũng là một trong nhưng yếu tố ảnh hưởng đến TCSS Những bà mẹ sinh on đầu (con so)
ó nguy ơ ị trầm cảm gấp 2 lần bà mẹ sinh con rạ [4],[13]
Trang 321.5.4 u tố liên quan đ n m i trường gia đ nh và hội
Bạo lự gia đ nh: Theo định nghĩa ủa Tổ chức Y tế thế giới (WHO) “Bạo lực là việ đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất hay quyền lự đối với bản thân, người khác hoặ đối với một nhóm người hay một cộng đồng người mà gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến
sự phát triển hay gây ra sự mất mát”
Bạo lự gia đ nh là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng TCSS ở phụ nữ Trong nghiên cứu của Murray tại Miền trung Việt Nam trong đó chiếm 30,2% phụ nữ có nguyên nhân là: Bạo lực từ người chồng, thất nghiệp của chồng, khó khăn về thiếu sữa mẹ, bệnh tật ở trẻ sơ sinh, và nhận thức kém về xã hội
ó li n quan đến điểm số EPDS [4]
Sự kiện gây ăng thẳng, stress: Những sự kiện gây ăng thẳng bao gồm có: mất má người thân, ly dị, thất nghiệp, di chuyển chỗ ở…Theo Sara Thurgood (2009) và Roberson (2004); các sự kiện gây ăng thẳng trên có thể làm tăng nguy
ơ mắc TCSS [59], [64]
Mối liên hệ h n nhân, gia đ nh: Cá xung đột trong hôn nhân hay bất hòa trong các mối liên hệ gia đ nh là yếu tố nguy ơ ủa TCSS Theo nghiên cứu của Lê Quốc Nam (2002); 60% phụ nữ sau sinh có mối quan hệ với chồng “xấu” trong lần sinh này bị TCSS so với 4,5% trong nhóm phụ nữ sau sinh có mối quan hệ với chồng “tốt và trung nh” Điều này ũng phù hợp với nhận xét của tác giả Glasser (Israel) và Johanson R (Anh) cho rằng sự không hòa hợp trong hôn nhân ở phụ nữ sau sinh là một trong những yếu tố dự báo tốt nhất hay có liên quan chặt chẽ với sự xuất hiện TCSS Một số các nghiên cứu khác ở Châu Á đ áo áo: mâu thuẫn với
á thành vi n trong gia đ nh, đặc biệt là mâu thuẫn với mẹ chồng là một trong những yếu tố nguy ơ
Chandran và cộng sự năm (2002) nghi n cứu trên 359 bà mẹ cho thấy các yếu
tố ảnh hưởng đến trầm cảm sau sinh như: đối tượng có mối quan hệ kh ng tốt với
mẹ chồng, các sự kiện ăng thẳng trong cuộc sống trong thời kỳ mang thai, thiếu sự
hỗ trợ xã hội Còn theo tác giả O’Hara (1986) ó áo cáo các yếu tố có liên quan
Trang 33như: sự kiện ăng thẳng trong cuộc sống và ó được ít sự hỗ trợ của chồng ũng như kh ng được tâm sự và gần gũi với chồng
Sự hỗ trợ nhận được: Nhận được sự hỗ trợ của người thân, bạn bè trong giai đoạn ăng thẳng được cho là một yếu tố bảo vệ với TCSS và là một yếu tố liên quan
có hiệu lực khá mạnh Theo nghiên cứu của Misri và Kostarns (2000), cho thấy phụ
nữ được chuẩn đoán TCSS nếu nhận được sự hỗ trợ của người thân đặc biệt là người chồng sẽ làm giảm nhanh các triệu chứng trầm cảm ũng như rút ngắn được thời gian nằm viện của người bệnh
Hỗ trợ xã hội ảnh hưởng đến TCSS: Sự hỗ trợ về kinh tế ảnh hưởng đến tâm
lý của người mẹ mong đợi là quan trọng trong phúc lợi và sự trợ cấp từ bên ngoài của mẹ và con Nghiên cứu của Rashid và Mohd tại Malaysia năm 2017 kết quả tỷ
lệ các triệu chứng trầm cảm là 20% Sử dụng mô hình OSS-3 để đánh giá sự hỗ trợ
xã hội, hầu hết các họ vi n đều có hỗ trợ vừa phải (61,3%), tiếp theo là hỗ trợ kém (22%) và hỗ trợ mạnh (16,7%) Hỗ trợ xã hội đ được tìm thấy là ó li n quan đáng
kể với triệu chứng trầm cảm trong nghiên cứu này (OR 2,2, aor 2,1, AR 45%) [58] Trong giai đoạn này sự quan tâm hăm só ủa gia đ nh, ủa người thân đặc biệt là người chồng có vai trò rất quan trọng Nhiều nghiên cứu đ hứng minh rằng những bất ổn trong hôn nhân, tình trạng kinh tế khó khăn, á sự kiện ăng thẳng trong cuộc sống…, đặc biệt là các sang chấn đột ngột ở giai đoạn gần sinh hoặc sau sinh nếu thiếu sự hỗ trợ của xã hội… th ũng góp phần vào nguy ơ trầm cảm sau sinh [51] Việc nhận được sự hỗ trợ xã hội qua bạn è, người thân trong thời kỳ mang thai đặc biệt là giai đoạn sau sinh ó ý nghĩa rất quan trọng đối với người phụ
nữ, là một yếu tố bảo vệ đối với trầm cảm sau sinh và là một yếu tố liên quan có hiệu lực khá mạnh với trầm cảm sau sinh [33], [41] Ngoài ra một số nghiên cứu cho thấy rằng những trường hợp có thai ngoài ý muốn, sau sẩy thai, sau phá thai hoặc thai chết lưu hay sau một số tai biến sản khoa như tiền sản giật, sản giật… ó thể là tăng nguy ơ xuất hiện trầm cảm sau sinh Một số nghiên cứu phân tích tổng hợp của Be k năm 1996 tr n 6 nghi n ứu bao gồm 1200 đối tượng cho kết quả: mang thai ngoài ý muốn có mối liên quan với trầm cảm sau sinh Theo tác giả mối liên quan này có hiệu lực nhỏ (effect size d = 0,23)
Trang 34Tóm lại, qua quá trình tìm hiểu các nghiên cứu trên thế giới đặc biệt là các quốc gia phát triển TCSS đ được nghiên cứu từ rất lâu với các yếu tố liên quan có mối liên hệ mạnh như: lo âu, trầm cảm trong giai đoạn mang thai, yếu tố di truyền, bệnh lý khá …B n ạnh đó á mối liên quan khá như: t nh trạng kinh tế, tính khí trẻ…lại có mối liên quan yếu và trung bình Một số yếu tố li n quan thường xảy ra
ở Việt Nam mà hưa được bảo vệ thỏa đáng là t nh trạng bạo lự gia đ nh đối với phụ nữ đây là một yếu tố sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tâm lý của phụ nữ
Vì vậy việc chọn các yếu tố liên quan trên phù hợp với địa bàn nghiên cứu và sẽ sử dụng vào trong nghiên cứu
1.6 Đặc điểm địa àn nghiên cứu
Thành phố Trà Vinh, nằm bên bờ sông Tiền, trực thuộc tỉnh Trà Vinh Thành phố Trà Vinh nằm trên Quốc lộ 53 cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 202 km và cách thành phố Cần Thơ 100 km, với hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy khá hoàn chỉnh thuận tiện để phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và là vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh [23]
Thành phố Trà Vinh gồm 9 phường và 1 x (phường 1, phường 2, phường 3, phường 4, phường 5, phường 6, phường 7, phường 8, phường 9 và x Long Đứ ) Dân số toàn thành phố đạt khoảng 159.341 người, trong đó dân tộ Khmer hiếm 19,96%, dân tộ Hoa hiếm 6,22%, dân tộ khá hiếm 0,2% và số đ ng òn lại
là dân tộ Kinh Toàn thành phố ó khoảng 85.513 người trong độ tuổi lao động, mật độ dân số tăng tự nhi n hàng năm gần 1,35% Thành phố Trà Vinh là trung tâm tỉnh lỵ và trung tâm kinh tế lớn nhất ủa tỉnh Trà Vinh [23]
Theo áo áo hoạt động hăm só sứ khỏe à mẹ toàn tỉnh ủa Trung tâm hăm só sứ khỏe sinh sản tỉnh Trà vinh năm 2016 ó 14677 phụ nữ sinh on, trong đó thành phố Trà Vinh ó 1482 phụ nữ hiếm tỷ lệ 10,1 % phụ nữ sau sinh toàn tỉnh và năm 2017 toàn tỉnh ó 13618 phụ nữ sinh on, trong đó thành phố Trà Vinh ó 1155 phụ nữ hiếm tỷ lệ 8,48% phụ nữ sau sinh toàn tỉnh [20], [21]
Tr n địa àn thành phố Trà Vinh, hoạt động quản lý, hăm só sứ khỏe thai nghén và hăm só sứ khỏe à mẹ trẻ em rất đượ hú trọng quan tâm, tuy nhi n những hoạt động hỉ quan tâm đến sứ khỏe thự thể ủa à mẹ trẻ em
Trang 35KHUNG LÝ THU ẾT Dựa trên quá tr nh tổng quan tài liệu nghiên cứu ây ựng khung l thuy t các y u tố liên quan đ n trầm cảm của phụ nữ sau sinh như sau
Liên quan từ y u tố bên ngoài
YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MÔI
TRƯỜNG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI
- Bạo lự gia đ nh/xung đột/bất hòa từ
người chồng
- Sự quan tâm của người chồng
- Mối quan hệ h n nhân và gia đ nh
- Sự hỗ trợ từ gia đ nh, ạn bè và xã hội
YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TRẺ
- Giới tính của con
- Tình trạng sức khỏe con
- Khó khăn trong hăm só trẻ
- Tính của trẻ
- Con rạ, con so
YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ
TRÌNH MANG THAI VÀ SINH NỞ
- Ý định mang thai trong kế hoạ h
- Sinh thường, sinh mổ, tai biến
- Thời điểm trẻ được sinh ra
- Lo lắng quá trình mang thai và sau sinh
- Thời gian nghỉ sau sinh
YẾU TỐ NHÂN KHẨU HỌC
TRẦM CẢM SAU SINH ( >12 Điểm trong tiêu chuẩn đánh giá EPDS) Liên quan từ y u tố cá nhân
Trang 36CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ sau sinh từ 4 đến 12 tuần tại thành phố Trà Vinh
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Phụ nữ sinh con trong khoảng từ tháng 01/01/2018 đến tháng 01/04/2018, bao gồm cả trường hợp sinh thiếu tháng
- Hiện tại đang sinh sống trên địa bàn nghiên cứu, bao gồm cả trường hợp có hoặc không có đăng ký hộ khẩu tạm trú, tạm vắng
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Gia đ nh ủa phụ nữ sau sinh đang ó sự cố (gia đ nh ó người mất: Ông, bà, cha, mẹ, người thân, ) ngay tại thời điểm phỏng vấn
- Đang mắc bệnh nặng không thể tham gia nghiên cứu
- Không có khả năng trả lời phỏng vấn (giảm hoặc không có khả năng giao tiếp nh thường)
- Phụ nữ sinh con trong khoảng thời gian tr n nhưng trẻ đ tử vong
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 03/2018 đến 05/2018
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: Thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh
2.3 Thi t k nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang phân tích
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Trang 37Với n là cỡ mẫu tối thiểu cần thiết
Để mẫu cao nhất ta chọn p = 0,302 (dựa trên kết quả nghiên cứu của Bàng Thị Hoài thực hiện tại Hà Nội năm 2016) [1]
Z21-α/2 hệ số tin cậy = (1,96)2
α: là xác suất sai lầm loại I
d sai số tuyệt đối chấp nhận 6% = 0,06
Thay vào công thứ tr n ta tính được cỡ mẫu n = 225 Dự phòng 10% các trường hợp trả lời thiếu thông tin, vắng mặt hoặc từ chối tham gia nghiên cứu, làm tròn cở mẫu là n = 248 đối tượng
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu
Dựa theo thống kê sổ đẻ trong 4 tháng đầu năm 2018, tổng số PNSS từ 4 -12 tuần tr n địa bàn Thành phố Trà Vinh là 346 bà mẹ, do vậy chúng tôi quyết định lấy toàn bộ số bà mẹ vào nghiên cứu Trên thực tế phỏng vấn đượ 310 đối tượng chiếm tỷ lệ 89,6%, còn lại 36 đối tượng không thực hiện phỏng vấn với lý do là sau sinh đến thời điểm tiêm ngừa cho trẻ th đối tượng không cho trẻ đến tiêm ngừa tại các trạm Y tế mà họ cho trẻ đến các trung tâm y tế khá để tiêm ngừa cho trẻ và củng ó trường hợp sau sinh di chuyển về quê không có mặt tại địa bàn nghiên cứu
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Quá trình thu thập:
Quá tr nh thu thập đượ tiến hành từ tháng 03-05/2018
Bước 1: Vào đầu mỗi tháng, lập danh sá h phụ nữ sinh tại á phường (phường 1, phường 2, phường 3, phường 4, phường 5, phường 6, phường 7, phường
8, phường 9 và x Long Đức) trong vòng 1 tháng trướ đó, bao gồm các thông tin:
họ t n đối tượng, năm sinh, địa chỉ liên hệ, số điện thoại liên hệ) Danh sá h này đượ rút ra từ phần mềm hệ thống quản lý thông tin ti m hủng quố gia tại á trạm y tế tr n địa bàn thành phố Trà Vinh để ghi nhận tất cả phụ nữ sau sinh trong thời gian nghiên cứu
Bước 2 : Dựa vào danh sách và số điện thoại đ lập, điều tra vi n điện thoại liên hệ mời đối tượng đến trạm y tế tham gia vào nghiên cứu (những ngày tiêm chủng cho trẻ của từng trạm y tế) Khi đối tượng đ đến trạm th điều tra viên giải
Trang 38thích lại một lần nữa thông tin nghiên cứu ho đối tượng rõ hơn Mỗi tháng ĐTV tiến hành phỏng vấn đối tượng nghi n ứu vào 2 ngày ti m hủng định kỳ hàng tháng tại á trạm y tế tr n địa àn thành phố Trà Vinh (14 và 15 hàng tháng) và đượ tiến hành li n tụ từ tháng 3/2018 đến tháng 5/2018
Bướ 3 Theo quy định ủa việ ti m ngừa ho trẻ th sau khi trẻ đượ ti m xong á à mẹ phải ở lại trạm y tế để theo dõi á ất thường ủa trẻ sau khi ti m trong vòng 30 phút Khi á à mẹ là đối tượng nghi n ứu ở lại phòng hờ th ĐTV tiến hành phát phiếu tự điền là thang đo EPDS và hướng dẫn á h điền ho
đối tượng, sau đó ĐTV tiến hành phỏng vấn theo ộ âu hỏi ủa nghi n ứu
2.5.2 Tập huấn cho đi u tra viên
Nghiên cứu viên (NCV) trực tiếp tập huấn ho ĐTV, ĐTV là án ộ y tế phụ trách công tác quản lý sức khỏe sinh sản của các Trạm Y tế tr n địa bàn thành phố Trà Vinh ( ó 10 điều tra vi n tương ứng với 9 phường và 1 x ) Do nghi n ứu tiến hành phỏng vấn đối tượng vào á ngày ti m hủng định kỳ ho trẻ ho n n mỗi trạm phải ó 1 ĐTV để thuận tiện ho việ phỏng vấn đối tượng
Tài liệu tập huấn gồm:
- Bộ câu hỏi phỏng vấn
- Hướng dẫn kỹ năng, phương pháp phỏng vấn
- Kỹ năng, phương pháp phỏng vấn theo bộ câu hỏi, giải thích một số từ ngữ câu hỏi Hướng dẫn ĐTV sử dụng câu hỏi dễ hiểu, nói to, rõ ràng, lắng nghe ghi chép và có thể hỏi lại đối tượng để xá định câu trả lời chắc chắn
- Giải thí h thang đo đánh giá trạng thái TCSS trong bảy ngày qua
- NCV trực tiếp giám sát, hỗ trợ ĐTV trong quá tr nh phỏng vấn
2.5.3 Công cụ thu thập số liệu:
Thông tin từ đối tượng nghiên cứu được sử dụng nội dung phỏng vấn từ bộ câu hỏi đượ xây dựng dựa tr n khung lý thuyết và thang điểm đánh giá TCSS của Edinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS) để phỏng vấn trực tiếp đối tượng Nội dung ụ thể ủa ộ âu hỏi gồm các phần sau:
Phần A : Th ng tin hung về đối tượng nghi n ứu
Phần B :Yếu tố li n quan đến quá tr nh mang thai và sinh nở
Trang 39Phần C : Yế tố li n quan đến trẻ
Phần D: Yếu tố li n quan đến m i trường, gia đ nh và x hội
Phần E: Sử dụng thang đo EPDS
2.6 Bi n số trong nghiên cứu
- Nhóm iến th ng tin hung ủa đối tượng nghi n ứu ao gồm á iến: Tuổi; địa hỉ; dân tộ ; t nh trạng h n nhân; tr nh độ họ vấn, nghề nghiệp; t nh trạng kinh tế gia đ nh; số on hiện tại và t nh trạng sống hung với hồng, người thân
- Nhóm iến li n quan đến quá tr nh mang thai và sinh nở ao gồm á iến:
Kế hoạ h mang thai lần sinh này; sinh thường, sinh mổ, tai iến; thời điểm trẻ đượ sinh ra; lo lắng quá trình mang thai và sau sinh; thời gian nghỉ sau sinh
- Nhóm iến li n quan đến trẻ ao gồm á iến: Giới tính ủa on; t nh trạng sứ khỏe on; khó khăn trong hăm só trẻ; tính ủa trẻ và iến sinh on rạ,
on so trong lần sinh này
- Nhóm iến li n quan đến m i trường, gia đ nh và x hội ao gồm á iến: Bạo lự gia đ nh/xung đột/ ất hòa từ người hồng; sự quan tâm ủa người hồng; mối quan hệ h n nhân và gia đ nh; và iến về sự hỗ trợ từ gia đ nh, ạn è và x hội
- Nhóm iến trắ nghiệm tâm lý về trầm ảm sau sinh ao gồm á iến: Cảm nhận về niềm vui; lạ quan về tương lai; tư tưởng ị tội; lo âu; sợ h i; áp lự
ng việ ; uồn đến khó ngủ; ảm giá uồn, khổ sở; uồn đến muốn khóc và có ý định tự tử
- Chi tiết về iến số đượ tr nh ày tại Phụ lụ 4 ( ảng iến số nghi n ứu -
trang 83)
2.7 Một số khái niệm tiêu chuẩn đánh giá sử ụng trong nghiên cứu
2.7.1 Thang đo trầm cảm sau sinh
Trầm cảm sau sinh đượ đánh giá ằng thang đo EPDS (Edinburgh Postnatal Depression Scale) Thang đo EPDS ó tổng cộng 10 câu, mỗi câu hỏi gồm 4 lựa chọn trả lời tính theo thang điểm từ 0 đến 3 Tổng điểm của bộ câu hỏi từ 0 đến 30 điểm, điểm càng cao thì mứ độ trầm trọng của trầm cảm càng nặng và điểm các
âu trong thang đo được tính bằng phương thức sau:
- Từ câu 1 đến câu10 có số điểm lần lượt từ 0 đến 3
Trang 40- Tổng số được điểm ghi nhận là: thấp nhất là 0 điểm và cao nhất là 30 điểm
- Trong nghiên cứu sử dụng điểm cắt là 12/13 Đây là điểm cắt được khuyến cáo sử dụng nhiều trong các nghiên cứu trên Thế Giới và đ được thực hiện tại Việt Nam như trong nghi n ứu của Võ Thành Văn và Murray tại miền Trung của Việt Nam, Bàng Thị Hoài tại Hà Nội [24], [11], [1] Trong nghiên cứu đầu tiên của J.Cox
tr n đối tượng PNSS 6 tuần ở Anh, ngưỡng 13 điểm cắt có thể phân biệt được tất cả các bà mẹ bị trầm cảm rõ rệt theo chẩn đoán lâm sàng Độ nhạy là 86%, độ đặc hiệu 78% và giá trị dự đoán dương tính là 73% Điểm cắt thấp hơn 9/10 được khuyến nghị cho các sàng lọc tại tuyến hăm só sức khỏe an đầu ở cộng đồng để đảm bảo tất cả á trường hợp có khả năng ị trầm cảm được phát hiện, nhưng điểm cắt 12/13 vẫn là điểm cắt ó độ nhạy, độ đặc hiệu và giá trị dự đoán dương tính tốt nhất
và được tác giả khuyến nghị để phân biệt á trường hợp RLTC [46]
- Với ngưỡng đánh giá 12/13, kết quả của thang đo với tổng điểm là 0 - 30 điểm đượ phân ra như sau:
+ Với tổng điểm á âu ≤ 12 điểm: không có dấu hiệu trầm cảm sau sinh + Với tổng điểm các câu ≥ 13 điểm: Có dấu hiệu trầm cảm sau sinh
2.7.2 Mối quan hệ
Với mối quan hệ trong bộ công cụ đượ đánh giá th ng qua thang đo Likert
5 mứ độ (từ rất tốt ho đến rất không tốt) được sử dụng đế đối tượng nghiên cứu đánh giá về các mối quan hệ của mình với các thành viên khá trong gia đ nh Kết quả phân loại như sau: đối với từng mối quan hệ nếu đối tượng trả lời rất tốt hoặc tốt th đượ xem như ó mối quan hệ tốt và nếu đối tượng trả lời các câu còn lại thì đượ xem như ó mối quan hệ không tốt
2.7.3 Mức độ lo lắng, bạo hành, chăm sóc và hỗ trợ
Trong bộ công cụ có các biến như: lo lắng trong quá trình mang thai, mứ độ khó khăn trong quá tr nh hăm só on, tính ủa trẻ, tần xuất xảy ra bạo lực gia
đ nh, sự quan tâm, chia sẽ sau sinh,… đượ đánh giá th ng qua thang đo Likert 5
mứ độ Kết quả nếu đối tượng trả lời rất thường xuyên, rất khó khăn hay thường xuy n và khó khăn th được phân loại “Có”, nếu đối tượng trả lời các câu còn lại thì được phân loại “Kh ng”