Từ kết quả nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị: Bệnh nhân điều trị Methadone cần tham gia đủ các buổi tư vấn, giáo dục nhóm để hiểu đúng và đủ thông tin liên quan; Sắp xếp phối hợp chặt
Trang 1
TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ METHADONE
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN ĐANG ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ TRUNG TÂM PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS ĐẮK LẮK
NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: YTCC: 60.72.03.01
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ METHADONE
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN ĐANG ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ TRUNG TÂM PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS ĐẮK LẮK
NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới quý Thầy,
Cô, Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo sau đại học Trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình giảng dạy, cung cấp kiến thức quý báu và hướng dẫn cho lớp trong suốt hai năm học vừa qua
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn giáo viên
hướng dẫn, đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ, truyền đạt những kinh nghiệm
và tạo mọi điều kiện, nhằm giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi xin trân trọng cám ơn các bạn đồng nghiệp, các bạn học viên lớp Cao học Y tế Công cộng khóa 20, Tây Nguyên đã có những ý kiến đóng góp quý báu giúp tôi trong khi làm luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Y – Trường Đại học Tây Nguyên, Sở Y tế Đắk Lắk, Trung tâm Truyền thông Giáo dụ Sức khỏe tỉnh Đắk Lắk, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Đắk Lắk đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc điều tra, phỏng vấn cũng như cung cấp những tài liệu tham khảo giúp tôi thu thập được những thông tin chính xác, trung thực làm cơ sở hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, với những kết quả trong nghiên cứu này, tôi xin chia sẻ với tất cả các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Lê Bảo Châu
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
dịch mắc phải ở người)
dịch ở người)
(The United Nations Office on Drugs and Crime)
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm 4
Một số khái niệm về chất ma túy, thuốc phiện, methadone [3, 5, 10] 4
1.2 Tình hình sử dụng ma túy và dịch HIV/AIDS 7
1.2.1 Trên thế giới 7
1.2.2 Tại Việt Nam 9
1.2.3 Tại Đắk Lắk 10
1.3 Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone: 10
1.3.1 Thông tin chung về Mathadone: 10
1.3.2 Tình hình triển khai điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone trên thế giới: 11
1.3.3 Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Việt Nam 12
1.4 Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone: 13
1.4.1 Định nghĩa tuân thủ điều trị: 13
1.4.2. Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị Methadone 14
Tại Việt Nam 15
1.5.1 Yếu tố cá nhân: 16
1.5.2 Kiến thức về tuân thủ điều trị Methadone: 17
1.5.3 Sự hỗ trợ của gia đình và xã hội: 18
1.5.4 Yếu tố môi trường: 19
1.6 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu: 20
1.6.1 Giới thiệu chung: 20
1.6.2 Tình hình điều trị Methadone tại Đắk Lắk: 20
1.7 Khung lý thuyết: Tuân thủ điều trị Methadone 22
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.3 Thiết kế nghiên cứu 23
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 23
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 23
Trang 62.5.1 Công cụ thu thập số liệu 23
2.5.2 Quy trình thu thập số liệu 24
2.6 Các biến số nghiên cứu (chi tiết xin xem phụ lục) 25
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá 26
2.8 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu 27
2.9 Sai số và cách khắc phục 28
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Một số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 29
3.2 Tình hình sử dụng ma túy 31
3.2.1 Tiền sử sử dụng ma túy 31
3.2.2 Tiền sử cai nghiện ma túy 32
3.2.3 Tình trạng sử dụng ma túy, rượu bia và thuốc lá hiện tại 33
3.3 Kiến thức về Methadone và tuân thủ điều trị Methadone 34
3.4 Tình hình điều trị Methadone 35
3.5 Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone tại cơ sở điều trị 36
3.6 Sự hỗ trợ của gia đình và CBYT đối với BN khi tham gia điều trị Methadone38 3.7 Yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị Methadone 39
Chương 4 BÀN LUẬN 44
KẾT LUẬN 53
KHUYẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Phụ lục 1: Phiếu đồng ý tham gia phỏng vấn 60
Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn bệnh nhân điều trị Methadone 62
Phụ lục 3: Bản đồ tỉnh Đắk Lắk 76
Phụ lục 4 Các biến số nghiên cứu 77
Phụ lục 5 Một số kết quả nghiên cứu: 83
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3 1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 29
Bảng 3 2 Tuổi bắt đầu sử dụug ma túy của đối tượug nghiên cứu 31
Bảng 3 3 Tiền sử sử dụng ma túy của đối tượng nghiên cứu 31
Bảng 3 4 Tiền sử cai nghiện ma túy của đối tượng nghiên cứu 32
Bảng 3 5 Lý do cai nghiện ma túy của đối tượng nghiên cứu 33
Bảng 3 6 Tình trạng sử dụng ma túy hiện tại của đối tượng nghiên cứu 33
Bảng 3 7 Tình trạng sử dụng bia rượu, thuốc lá của đối tượng nghiên cứu 34
Bảng 3 8 Kiến thức về Methadone và tuân thủ điều trị Methadone 34
Bảng 3 9 Hiểu về tác hại của việc không tuân thủ điều trị Methadone 35
Bảng 3 10 Kiến thức chung về điều trị Methadone 35
Bảng 3 11 Tình hình điều trị Methadone 35
Bảng 3 12 Tỉ lệ tuân thủ điều trị Methadone 36
Bảng 3 13 Xử trí của BN k hi k hông đến uống thuốc 37
Bảng 3 14 Lý do không thông báo với cơ sở điều trị khi BN không đến uống thuốc 38
Bảng 3 15 Xử trí của cơ sở điều trị khi BN không đến uống thuốc 38
Bảng 3 16 Hỗ trợ của gia đình đối với BN khi tham gia điều trị Methadone 38
Bảng 3 17 Hỗ trợ của CBYT đối với BN khi tham gia điều trị Methadone 39
Bảng 3 18 Yếu tố cá nhân liên quan đến tuân thủ điều trị Methadone 39
Bảng 3 19 Yếu tố tiền sử sử dụng ma túy liên quan đến tuân thủ điều trị Methadone 41
Bảng 3 20 Yếu tố sử dụng ma túy, rượu bia, thuốc lá liên quan đến tuân thủ điều trị Methadone 42
Bảng 3 21 Yếu tố kiến thức chung về điều trị Methadone liên quan đến tuân thủ điều trị 42
Trang 8DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 3 1 Phân bố tỷ lệ bệnh nhân theo kinh tế tự lo cho cá nhân 30Biểu đồ 3 2 Phân bố bệnh nhân theo nơi ở 30Biểu đồ 3 3 Phân bố tỷ lệ lý do bỏ trị của BN 37
Trang 9xã hội [53]
Việc tuân thủ điều trị Methadone sẽ giúp người nghiện chất ổn định tâm lý,
sẽ nâng cao chất lượng cuộc sống và có nhiều cơ hội tái hòa nhập cộng đồng
Đây là nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 02 đến tháng 7 năm 2018; Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ 277 bệnh nhân nghiện chích ma túy đang điều trị Methadone (duy trì) tại Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Đắk Lắk
trị; 97,5% sử dụng qua đường tiêm chích; 87% có tần suất sử dụng ≥ 2 lần/ngày; 48,7% đã từng cai nghiện ít nhất 1 lần; liều điều trị duy trì Methadone là 86 mg/ngày Kiến thức chung về điều trị Methadone của đối tượng đạt 77,6%, riêng nội dung về tuân thủ điều trị đạt 97,1% Tỷ lệ đối tượng không tuân thủ điều trị là 36,5% Những lý do không tuân thủ điều trị bao gồm: 64,4% bận công việc, 21,8% quên uống thuốc, 5% khó khăn về đi lại lý do khác chiếm 6,9% Yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị: Nghề tự do, kinh tế không tự lo được cho bản thân, số năm sử dụng ma túy ≥ 10 năm và số lần tiêm chích ma túy < 2 lần trong ngày
Từ kết quả nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị:
Bệnh nhân điều trị Methadone cần tham gia đủ các buổi tư vấn, giáo dục nhóm để hiểu đúng và đủ thông tin liên quan; Sắp xếp phối hợp chặt chẻ với CSĐT
để không bỏ thuốc và tuân thủ điều trị tốt hơn
Gia đình, người hỗ trợ cho bệnh nhân cần tham gia đủ các buổi sinh hoạt nhóm để có kiến thức hỗ trợ bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt hơn
Trang 10Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Đắk Lắk: Có kế hoạch và thông báo cho
BN và người nhà BN lịch tư vấn cá nhân, sinh hoạt nhóm; Phối hợp với gia đình
BN để giúp BN tuân thủ điều trị tốt hơn
Cần có nghiên cứu phân tích sâu hơn nguyên nhân không tuân thủ điều trị để
có những biện pháp thích hợp nhằm giảm tỷ lệ bỏ trị
Trang 11
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo “Tình hình ma túy thế giới năm 2016” của Cơ quan phòng
chống ma tuý và tội phạm Liên Hợp Quốc (UNODC) toàn cầu có khoảng 250 triệu người sử dụng ma túy, trong khi đó số người lệ thuộc ma túy khoảng 29 triệu người, số người tiêm chích ma túy (TCMT) hiện là 12 triệu người, trong
đó có 14% người bị nhiễm HIV [51]
Theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Bộ LĐ-TBXH), tính đến tháng 8/2014, cả nước có 185.000 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý [2] Tại Đắk Lắk, theo báo cáo của Chi cục Phòng, chống Tệ nạn xã hội tỉnh Đắk Lắk, tính đến cuối năm 2016 toàn tỉnh có 1.133 người nghiện có hồ sơ quản lý, tăng 41 người (4,0%) so với năm 2015, tội phạm liên quan đến ma túy trong năm
2016 là 126 vụ với 157 đối tượng [8]
Bệnh nhân nghiện chất dạng thuốc phiện thường khó kiểm soát vì tình trạng tâm lý không ổn định, nếu thực hiện tuân thủ điều trị Methadone sẽ giúp bệnh nhân nhanh chóng ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống góp phần ổn định sức khỏe, giảm phạm tội và có chất lượng cuộc sống tốt hơn
Phần lớn những người TCMT có hành vi tiêm chích không an toàn điển hình nhất là dùng chung bơm kiêm tiêm Điều này góp phần làm lây lan HIV, viêm gan B và C một cách nhanh chóng trong quần thể những người TCMT và cả cộng đồng [50], do đó cần có biện pháp can thiệp kịp thời nhằm giảm tác hại của TCMT
C hương trình can thiệp trên nhóm quần thể TCMT như cấp phát bơm kim tiêm sạch, điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone (điều trị Methadone), góp phần quan trọng vào việc giảm tác hại của hành vi tiêm chích không an toàn, đồng thời giảm gánh nặng toàn cầu về kinh
tế, chính trị và an ninh xã hội [53]
Chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone đã được triển khai ở nhiều nước trên thế giới như Úc, Mỹ, Hà Lan, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc…[16, 18] Đây là một chương trình điều trị
Trang 12lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống, dưới dạng siro nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan
B, C, đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động
và tái hoà nhập cộng đồng [3] Chương trình được chính thức triển khai thí điểm tại Việt Nam từ tháng 4/2008 tại thành phố Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh Tính đến 9/2017, điều trị Methadone được triển khai mở rộng tại 63 tỉnh/thành, đến nay đã có 294 cơ sở điều trị Methadone T í n h đến hết tháng 9/2017, cả nước đang điều trị cho 52.818 bệnh nhân [6], đạt 65,20% chỉ tiêu Thủ tướng
Chính phủ giao tại Quyết định số 1008/QĐ-TTg [9]
Tại Đắk Lắk hiện tại chỉ có 01 cơ sở điều trị Methadone tại Trung tâm phòng chống HIV tỉnh Đắk Lắk vào cuối tháng 12/2015, tính đến 15/12/2017, cơ
sở đã tiếp nhận và điều trị cho cho 445 BN: 333 BN đang điều trị và 112 BN bỏ trị (25,2%) [21]
Mặc dù trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu đánh giá tuân thủ điều trị Methadone, tuy nhiên tại Đắk Lắk chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này Với tính chất điều trị liên tục và kéo dài tối thiểu trên 12 tháng cộng thêm đặc điểm phức tạp của bệnh nhân nên việc điều trị có thể gặp nhiều khó khăn Việc tham khảo sơ bộ số liệu tại Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Đắk Lắk cũng cho thấy trên toàn tỉnh hiện tại chỉ có 01 cơ sở điều trị Methadone tại Trung tâm bắt đầu điều trị cho bệnh nhân vào đầu năm 2016
và có nhiều khó khăn về tuân thủ điều trị trong thời gian qua, do bệnh nhân chưa vượt qua được yếu tố tâm lý, một số bệnh nhân nhà ở xa cơ sở điều trị Bên cạnh đó, việc thu phí uống Methadone được áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 có thể là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị Methadone Nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng tuân thủ điều trị Methadone
và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân tại cơ sở điều trị Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Đắk Lắk năm 2018
Trang 13
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1) Mô tả việc tuân thủ điều trị Methadone của bệnh nhân đang được quản lý điều trị tại cơ sở điều trị Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Đắk Lắk năm
2018
2) Xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị Methadone của bệnh nhân đang được quản lý điều trị tại cơ sở điều trị Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Đắk Lắk năm 2018
Trang 14Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm
Một số khái niệm về chất ma túy, thuốc phiện, methadone [3, 5, 10]
1.1.1 Chất ma túy
Chất ma túy là các chất gây nghiện được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành
1.1.2 Chất dạng thuốc phiện (opiats, opioid)
Chất dạng thuốc phiện là tên gọi chung cho nhiều chất như thuốc phiện, morphine, heroin, methadone, buprenorphine, codein, pethidine, fentanyle, có biểu hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ở não
1.1.3 Người nghiện ma túy
Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma tuý và bị lệ thuộc vào các chất này Bệnh nhân nghiện ma túy được xem là những bệnh nhân mạn tính cần điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone
1.1.4 Dung nạp
Dung nạp là tình trạng đáp ứng của cơ thể với một chất, được biểu hiện bằng sức chịu đựng của cơ thể ở liều lượng nhất định của chất đó Khả năng dung nạp phụ thuộc vào cơ địa và tình trạng của cơ thể Khi khả năng dung nạp thay đổi, cần thiết phải thay đổi liều lượng của chất đã sử dụng để đạt được cùng một hiệu quả
1.1.7 Quá liều
Là tình trạng sử dụng một lượng chất ma túy lớn hơn khả năng dung nạp của
Trang 15cơ thể ở thời điểm đó, đe dọa tới tính mạng của người sử dụng nếu không được cấp cứu kịp thời
1.1.11 Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone
Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc methadone là một điều trị lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống, dưới dạng siro nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, C, đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và tái hoà nhập cộng đồng
1.1.12 Nguyên tắc điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện
- Nghiện chất dạng thuốc phiện là một bệnh mãn tính cần được điều trị lâu dài
- Việc điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện chỉ được thực hiện khi người nghiện chất dạng thuốc phiện tự nguyện tham gia điều trị
- Việc điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện chỉ được thực hiện tại cơ sở đã công bố đủ điều kiện điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện theo quy định tại Nghị định này
Trang 16- Việc điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện phải tuân thủ hướng dẫn chuyên môn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế
- Điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện phải trải qua các giai đoạn: Khởi liều, điều chỉnh liều hoặc dò liều, điều trị duy trì, giảm liều tiến tới ngừng điều trị
1.1.13 Theo dõi tuân thủ điều trị
Người bệnh phải uống thuốc Methadone hàng ngày dưới sự giám sát của cán
bộ y tế để đảm bảo điều trị hiệu quả và an toàn
Các biện pháp hỗ trợ tuân thủ điều trị bao gồm:
- Tư vấn cho người bệnh và gia đình
- Hướng dẫn người bệnh và gia đình biết cách xử trí các tác dụng không mong muốn và các diễn biến bất thường trong quá trình điều trị
- Phối hợp với gia đình, cộng đồng và các tổ chức xã hội động viên và giúp đỡ người bệnh tuân thủ điều trị
1.1.14 Uống lại methadone sau khi bỏ điều trị
Nếu người bệnh bỏ uống methadone, khi quay lại điều trị thì xử trí như sau:
- Bỏ uống thuốc 01 đến 03 ngày: Không thay đổi liều methadone đang điều trị
- Bỏ uống thuốc 04 đến 05 ngày: Đánh giá lại sự dung nạp thuốc của người bệnh Cho 1/2 liều methadone bệnh nhân vẫn uống trước khi dừng điều trị đồng thời khám lại và cho liều methadone thích hợp
- Bỏ uống thuốc trên 5 ngày (từ ngày thứ 6 trở đi): Khởi liều methadone lại từ đầu
1.1.15 Điều kiện chuyển, tiếp nhận người bệnh
Điều kiện chuyển, tiếp nhận người bệnh
a Điều kiện chuyển người bệnh từ cơ sở điều trị methadone đến cơ sở cấp phát thuốc:
Người bệnh đang tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng
Trang 17thuốc Methadone đáp ứng tất cả các tiêu chí sau:
- Đang sử dụng liều điều trị duy trì (liều điều trị có hiệu quả và phong tỏa được tác dụng gây khoái cảm của heroin) liên tục ít nhất 01 tháng trở lên
- Không sử dụng thêm các chất dạng thuốc phiện và các chất gây nghiện bất hợp pháp khác trong ít nhất 01 tháng liên tục
- Không bỏ liều điều trị trong ít nhất 01 tháng qua
- Tuân thủ các quy định của cơ sở điều trị
- Không có đợt cấp do các bệnh lý khác
b Điều kiện chuyển người bệnh từ cơ sở cấp phát thuốc về cơ sở điều trị: Người bệnh sẽ được chuyển lại cơ sở điều trị để quản lý, điều trị và uống thuốc khi gặp một trong các vấn đề sau:
- Bỏ liều liên tiếp từ năm (05) ngày trở lên
- Tuân thủ điều trị kém, bỏ liều không có lý do chính đáng ba (03) lần liên tiếp trở lên
- Sử dụng lại ma túy trong hai (02) lần xét nghiệm liên tiếp trở lên
- Từ chối xét nghiệm nước tiểu ngẫu nhiên
- Có vấn đề về tâm lý cần được tư vấn tích cực hoặc có vấn đề sức khỏe cần theo dõi, đánh giá lâm sàng chặt chẽ
1.2 Tình hình sử dụng ma túy và dịch HIV/AIDS
1.2.1 Trên thế giới
Theo báo cáo của Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC), trong năm 2012, trên thế giới có khoảng 162 triệu đến 324 triệu người đã sử dụng một loại thuốc bất hợp pháp (cần sa, CDTP, cocain, Amphetamine,…) ít nhất một lần trong năm trước đó Số người nghiện ma túy trên thế giới vẫn duy trì ở mức 16 -39 triệu người Các tổ chức UNODC, UNAIDS, WB
và WHO dựa trên các dữ kiện mới nhất đã cùng nhau ước tính số lượng người TCMT trên thế giới khoảng 12,7 triệu người Đặc biệt, khu vực Đông và Đông Nam châu Âu có tỷ lệ người TCMT cao hơn 4,6 lần so với tỷ lệ trung bình toàn cầu [50] Tại khu vực châu Á Thái Bình Dương ước tính có khoảng 3,8 triệu người TCMT Trong số này có 2,5 triệu người đang sinh sống tại Trung Quốc [49] Tuy nhiên, nếu
Trang 18xét về số lượng người TCMT thực tế thì 3 nước Liên Bang Nga, Trung Quốc và Hoa Kỳ chiếm 46% tổng số người TCMT trên toàn thế giới [50]
Tử vong là hậu quả nghiêm trọng nhất do hành vi sử dụng ma túy mang lại Ước tính có khoảng 207.400 trường hợp tử vong liên quan đến ma túy đã được báo cáo trong năm 2014 Sử dụng ma túy quá liều là nguyên nhân chính dẫn đến các trường hợp tử vong có liên quan đến ma túy trên toàn cầu Bên cạnh đó, hành vi TCMT không an toàn như việc dùng chung bơm kim tiêm có thể gây ra những tác động nghiêm trọng đối với sức khỏe, nguy cơ dẫn đến các bệnh nhiễm trùng đường máu như HIV, viêm gan B và viêm gan C [51] Một nghiên cứu gần đây về gánh nặng bệnh tật toàn cầu từ việc lệ thuộc ma túy đã ước tính trong năm 2010 đã có 1.980.000 năm sống bị mất đi do hành vi tiêm chích ma túy không an toàn dẫn đến nhiễm HIV, đồng thời có 494.000 năm sống bị mất đi trên toàn thế giới do viêm gan
C [38]
Theo số liệu thống kê của UNAIDS, tính đến cuối năm 2013, trên thế giới có khoảng 35 triệu người đang sống chung với HIV, trong đó có khoảng 3 triệu người nhiễm viêm gan B và khoảng 4,5 triệu người nhiễm viêm gan C Trong năm 2013, trên thế giới đã phát hiện 2,1 triệu ca nhiễm HIV mới, giảm 38% so với năm 2011 (3,4 triệu ca nhiễm HIV mới) Trong 3 năm vừa qua, số ca nhiễm HIV mới đã giảm 13% [49]
Trong số 12,7 triệu người TCMT trên thế giới hiện nay, có khoảng 13,1% đang sống chung với HIV Các tổ chức UNODC, WB, WHO, UNAIDS đã cùng nhau ước tính trên toàn cầu có khoảng 1,7 triệu người TCMT bị nhiễm HIV Xét về mặt số lượng thực tế, bốn quốc gia Trung Quốc, Pakistan, Liên Bang Nga và Hoa
Kỳ cộng lại đã chiếm 62% những người TCMT nhiễm HIV trên toàn cầu [50] Tại nhiều quốc gia, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người TCMT cao hơn nhiều lần so với
tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng Báo cáo của UNAIDS năm 2012 chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người TCMT cao hơn ít nhất 22 lần so với dân số nói chung
ở 49 quốc gia, và cao hơn ít nhất 50 lần ở 11 quốc gia [48] Tại Liên Bang Nga, các chính sách nhà nước không ủng hộ cho việc cung cấp dịch vụ điều trị thay thế CDTP cho những người TCMT thì tỷ lệ nhiễm HIV trong số những người TCMT
Trang 19ước tính trong khoảng 18- 31% Ngược lại, các quốc gia ở Tây và Trung Âu có mật
độ bao phủ cao các dịch vụ can thiệp giảm tác hại như phân phát, trao đổi bơm kim tiêm sạch, chương trình điều trị thay thế nghiện các CDTP… dẫn đến số ca nhiễm HIV mới thấp [49]
1.2.2 Tại Việt Nam
Sử dụng thuốc phiện nổi lên là vấn đề xã hội chủ yếu ở Việt Nam trong những năm 90 của thế kỷ 20 Theo báo cáo của Bộ LĐ-TBXH, tính đến cuối tháng 8/2014, cả nước có 185.000 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý Tuy nhiên trong thực tế, số người nghiện ma túy có thể cao hơn do không có trong danh sách quản lý của Bộ Công an và Bộ LĐ-TBXH Số người nghiện ma túy đang gia tăng trong 3 năm qua tuy nhiên tốc độ tăng khá chậm Năm 2011 là 158.414 người; năm 2012 là 172.000 người (tăng 8,57%); năm 2013 là 181.396 người (tăng 5,46%); 8 tháng đầu năm 2014, tăng 0,8% Trong số người nghiện có 96% nam giới, 50% ở độ tuổi 16 -
30, 0,02% dưới 16 tuổi Thống kê cho thấy có gần 90% các quận, huyện của các tỉnh thành phố và 60% số xã, phường, thị trấn đều đã có người nghiện ma túy Cả nước hiện có 142 trung tâm cai nghiện đang quản lý và cai nghiện cho 32.200 người Hầu hết các học viên đều phải chấp hành cai nghiện đủ 24 tháng cai nghiện tại trung tâm [2, 14]
Sử dụng ma túy qua đường tiêm chích là nguyên nhân hàng đầu làm gia tăng các trường hợp nhiễm mới HIV tại Việt Nam Trong 9 tháng đầu năm 2017, cả nước xét nghiệm phát hiện mới 6.883 trường hợp nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS là 3.484 người, số bệnh nhân tử vong là 1.260 trường hợp Ước tính năm 2017 sẽ phát hiện mới khoảng 9.800 người nhiễm và khoảng 1.800 người nhiễm HIV tử vong So sánh số liệu nhiễm HIV/AIDS, tử vong báo cáo năm
2016, số tường hợp nhiễm HIV phát hiện mới giảm 1,1%, số bệnh nhân AIDS giảm 39% và người nhiễm HIV tử vong giảm 15%
Số người nhiễm HIV hiện được báo cáo đang còn sống là 208.371 trường hợp, tuy nhiên số quản lý được chỉ đạt 80%, số bệnh nhân AIDS trong số người nhiễm HIV là 90.493 trường hợp, tổng số người nhiễm HIV tử vong từ đầu vụ dịch đến nay được báo cáo là 91.840 trường hợp [6]
Trang 201.2.3 Tại Đắk Lắk
Ước tính toàn tỉnh có khoảng hơn 1.360 người nghiện chích ma túy và 355 gái mại dâm được quản lý Việc tiếp cận các đối tượng này gặp nhiều khó khăn do các đối tượng này thường thay đổi chỗ ở và không có kinh phí để chi trả cho nhóm đồng đẳng viên thực hiện việc thu thập thông tin [8]
Về tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong năm 2017, tỷ lệ mẫu giám sát phát hiện vượt 15,7% so với chỉ tiêu kế hoạch năm Có 56 trường hợp nhiễm mới phân bố rải rác ở 11/15 huyện/Thị xã/Thàn phố trong tỉnh, tập trung nhiều nhất ở huyện Krông Pắc, tiếp đến là TP Buôn Ma Thuột Phân bố theo hành vi nguy cơ: 32 trường hợp qua đường tình dục, 13 trường hợp qua đường máu, 01 trường hợp mẹ truyền sang con và 10 trường hợp không rõ đường lây; Phân bố theo độ tuổi: <16 tuổi: 01 trường hợp; 16 -19 tuổi: 1 trường hợp; 20-29 tuổi: 30 trường hợp; 30-39 tuổi: 19 trường hợp; 40-49 tuổi: 03 trường hợp; và >50 tuổi: 02 trường hợp Phân bố theo giới: nam 38 trường hợp, nữ 18 Tỷ lệ nhiễm HIV toàn tỉnh tập trung ở đối tượng nghiện chích ma túy, hiện đã có 162/184 xã có người nhiễm HIV [21]
Tính đến ngày 15/12/2017, toàn tỉnh có 1.765 người nhiễm HIV còn sống được báo cáo, 1.001 người chuyển sang giai đoạn AIDS và 428 người nhiễm HIV
đã tử vong do AIDS [21]
1.3 Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone:
1.3.1 Thông tin chung về Mathadone:
Methadone được tổng hợp lần đầu tiên vào năm 1937 tại một phòng thí nghiệm dược phẩm của Đức Đây là thuốc tổng hợp có tác dụng kéo dài được sản xuất với mục đích ban đầu là làm thuốc giảm đau trong Chiến tranh thế giới thứ II
Nó là một chất đồng vận với chất dạng thuốc phiện, nghĩa là có tác dụng tương tự các chất dạng thuốc phiện như morphine, heroin nhưng có thời gian tác dụng kéo dài hơn
Methadone được đăng ký vào năm 1941, và được công ty Eli Lilly giới thiệu vào Mỹ năm 1947 để sử dụng như thuốc giảm đau và chống ho Trong những năm
1940, một số nghiên cứu tiến hành tại Vương quốc Anh đã ghi nhận hiệu quả của Methadone trong việc điều trị hội chứng cai cho những người nghiện heroin Trong
Trang 21thập niên 1950 và thập niên 1960, khi việc sử dụng thuốc phiện đã trở thành một mối quan ngại trong các khu đô thị với sự gia tăng đáng kể các trường hợp phạm tội
và tử vong, các nhà nghiên cứu và các bác sĩ đã tham gia trong việc cố gắng tìm một giải pháp y tế cho tình trạng phụ thuộc CDTP Vào cuối năm 1963 và đầu năm
1964, nghiên cứu về Methadone đầu tiên được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Y học Rockefeller do tiến sĩ Marie Nyswander và Vincent Dole thực hiện Nghiên cứu của
họ đã kết luận rằng methadone có tác dụng ngăn ngừa hội chứng cai ở những người nghiện CDTP, ngăn chặn hưng phấn của heroin, và giảm cảm giác thèm thuốc ở những người nghiện CDTP và do đó xác nhận Methadone có hiệu quả như một loại thuốc duy trì sự phụ thuộc CDTP [52] Tuy nhiên, Methadone chỉ có tác dụng điều trị thay thế đối với các chất dạng thuốc phiện chứ không có tác dụng đối với người nghiện các chất ma túy khác (cocain, cần sa…), nhất là ma túy tổng hợp [16]
Năm 1963, Tiến sĩ Robert Holliday, một nhà nghiên cứu Canada, là người đã thiết lập chương trình điều trị Methadone đầu tiên trên thế giới tại British Columbia
Kể từ thời điểm đó, điều trị thay thế nghiện CDTP bằng Methadone đã trở thành một lựa chọn hiệu quả cho việc điều trị những người nghiện CDTP trên toàn thế giới Năm 2005, Methadone được WHO xếp vào danh mục thuốc thiết yếu để điều trị nghiện CDTP [52]
1.3.2 Tình hình triển khai điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc
Methadone trên thế giới:
Chương trình điều trị thay thế bằng Methadone đã được triển khai ở nhiều nước trên thế giới như: Úc, Mỹ, Hà Lan, Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar, Trung Quốc, Hồng Kông và tại những nước này, chương trình Methadone đã góp phần đáng kể làm giảm tội phạm và giảm sự lây truyền HIV trong nhóm NCMT và từ nhóm NCMT ra cộng đồng [16, 18]
Sau khi có các bằng chứng khoa học về tác dụng của điều trị bằng Methadone, chương trình này đã được triển khai ở hầu hết các bang của Hoa Kỳ và được chính phủ Mỹ thừa nhận đây là biện pháp quan trọng giúp ngăn ngừa lây nhiễm HIV Số cơ sở điều trị thay thế bằng Methadone và số bệnh nhân được điều trị ngày càng gia tăng theo thời gian Năm 2004 có 1.100 cơ sở điều trị duy trì bằng
Trang 22thuốc Methadone tại 44 bang của nước Mỹ, đến năm 2010 tăng lên 1.433 cơ sở tại
46 bang Chương trình Methadone giúp BN cải thiện đáng kể về tình hình sức khỏe, giảm tội phạm, giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV [23]
Úc ban hành hướng dẫn quốc gia đầu tiên về điều trị Methadone vào năm
1985 Kể từ đó, số người tham gia điều trị đã tăng nhanh chóng, từ 2000 người năm
1985, tăng lên 14.996 người năm 1994, đến nay có trên 2.132 cơ sở điều trị với 35.850 người được điều trị Methadone trên toàn lãnh thổ của Úc Chương trình điều trị Methadone được thực hiện tại cả hệ thống y tế công lập và tư nhân [31, 39]
Hồng Kông triển khai chương trình điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone từ năm 1972, hiện nay Hồng Kông có 20 cơ sở điều trị Methadone đang hoạt động Tổng số người đăng ký tham gia chương trình Methadone là 8.159 Trung bình hàng ngày có khoảng 6.214 trường hợp tham gia điều trị Chương trình điều trị Methadone tại Hồng Kông đã điều trị cho khoảng 60% số người nghiện các CDTP Đây được coi là một trong những chương trình dự phòng HIV liên quan đến
sử dụng ma túy thành công nhất vì Hồng Kông vẫn duy trì được tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người sử dụng ma túy thấp dưới 0,1% cho đến năm 2004 [45]
Trung Quốc triển khai chương trình điều trị thay thế bằng Methadone vào năm 2004 với 8 cơ sở Đến cuối năm 2010 đã có 738 cơ sở điều trị thay thế bằng Methadone tại 28 tỉnh, điều trị cho 140.000 người nghiện các CDTP [37]
Chương trình điều trị thay thế bằng Methadone tại Malaysia bắt đầu triển khai từ tháng 10/2005 với khoảng 4.000 bệnh nhân tham gia điều trị Tính đến năm
2010, Malaysia có 95 cơ sở và dự kiến tăng lên đến 674 cơ sở vào năm 2012, điều trị cho 44.428 người Malaysia đang tiến hành chuyển giao mô hình “Trung tâm cai nghiện bắt buộc” thành “Phòng khám tự nguyện” [27]
Thái Lan đưa chương trình điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone vào hoạt động từ năm 1979 Hiện có khoảng hơn 4000 BN đang được điều trị Tuy nhiên Thái Lan là một nước không quan tâm đến việc mở rộng chương trình Methadone do đó tỷ lệ nhiễm HIV vẫn tiếp tục tăng cao trong nhóm nghiện chích ma túy tại nước này [40]
1.3.3 Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế
Trang 23Methadone tại Việt Nam
Tình hình triển khai chương trình điều trị Methadone
Đề án triển khai thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại thành phố Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh đã được Bộ trưởng
Bộ Y tế ký quyết định phê duyệt ngày 12/12/2007, cho phép thí điểm điều trị Methadone tại 2 thành phố này trong 2 năm, bắt đầu từ tháng 4/2008 Kết quả đánh giá bước đầu Đề án triển khai thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone do Bộ Y tế tiến hành ghi nhận những kết quả hết sức tích cực, mang lại nhiều lợi ích cho bản thân BN, gia đình BN và xã hội
Căn cứ trên những kết quả đã đạt được của Đề án thí điểm, Chính phủ đã cho phép nhiều tỉnh/thành phố trọng điểm về ma túy và HIV/AIDS tiến hành triển khai chương trình Methadone tại địa phương Tính đến 30/6/2014, chương trình điều trị Methadone được triển khai tại 32 tỉnh, thành phố, với 92 cơ sở điều trị Tổng số BN đang được điều trị là 17.907 BN, so với cuối năm 2013 tăng thêm 2 tỉnh, 12 cơ sở điều trị và 2.355 BN [4] Theo Quyết định số 1008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 20/6/2014 về việc giao chỉ tiêu BN được điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone năm 2014 và 2015, dự kiến số BN được điều trị Methadone có thể tăng lên hơn 80.000 người vào năm 2015 [9]
1.4 Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone:
1.4.1 Định nghĩa tuân thủ điều trị:
Hiện nay, chưa có định nghĩa chuẩn tuân thủ điều trị Methadone Nghiên cứu của Ramli tại Malaysia năm 2012 định nghĩa không tuân thủ điều trị Methadone là bệnh nhân bỏ trị 2 tuần hoặc hơn, tuy nhiên nếu bệnh nhân đó tiếp tục duy trì điều trị sau 2 tuần thì vẫn được coi là tuân thủ điều trị, hay như định nghĩa trong nghiên cứu của A dili tại Tanzania, không tuân thủ điều trị là vắng mặt
30 ngày liên tiếp, sau đó có trở lại điều trị nhưng cần có can thiệp của nhân viên y
tế [43] Nghiên cứu của Femke tại Amsterdam năm 2010 lại đưa ra định nghĩa tuân thủ điều trị là dùng đủ 95% thuốc trở lên trong 6 tháng gần nhất [34]
Dựa theo hướng dẫn điều trị Methadone của Bộ Y tế [5], nghiên cứu này đánh giá thực hành tuân thủ điều trị Methadone của bệnh nhân trong 1 tháng
Trang 24gần nhất (tính từ khi phỏng vấn) Bệnh nhân được đánh giá là tuân thủ điều trị
khi ‘không bỏ bất kì ngày uống thuốc nào’ trong vòng 1 tháng trước khi phỏng
vấn
1.4.2 Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone và một số yếu tố liên
quan đến tuân thủ điều trị Methadone
Trên thế giới
Một trong những thách thức của chương trình MMT là tuân thủ điều trị của các bệnh nhân Trên thế giới, tỉ lệ tuân thủ điều trị rất khác nhau giữa các khu vực và các quốc gia
Theo kết quả theo dõi 172 bệnh nhân trong 2 năm tại cơ sở điều trị Methadone bệnh viện Tengku (Malaysia) 40,1% bệnh nhân không tuân thủ điều trị Cũng một nghiên cứu khác của Sharifa Ezat tại bệnh viện Kuala Lumpur năm
2009, tỉ lệ tuân thủ điều trị lại cao hơn rất nhiều với 86,1% [24]
Lamber tiến hành theo dõi 934 bệnh nhân HIV điều trị Methadone tại Amsterdam từ năm 1999 – 2009, tỉ lệ bệnh nhân không tuân thủ điều trị trong khoảng 6,2% (năm 2002) đến 18,9% (năm 2005) và 11,9% trong thời gian 6 tháng gần nhất [33]
Mức độ tuân thủ điều trị Methadone trong một số nghiên cứu được chia như sau: tuân thủ tốt là không bỏ thuốc ngày nào, tuân thủ trung bình là bỏ 1 – 2 ngày, và tuân thủ kém là bỏ từ 3 ngày trở lên (trong thời gian 30 ngày trở lại kể
từ thời điểm tiến hành nghiên cứu)
Nghiên cứu cắt ngang của Sharma trên 165 người nghiện ma túy đang điều trị methadone tại Kathmandu và Lalitpur (Nepal) năm 2016 đã đưa ra kết quả 72,1% tuân thủ tốt, 18,8% tuân thủ trung bình và 9,1% tuân thủ kém [44]
Kết quả không tuân thủ điều trị tại Nepal cũng tương đương với kết quả nghiên cứu của Roux tại Pháp năm 2014 Roux đã tiến hành nghiên cứu tuân thủ điều trị Methadone tại thời điểm 3, 6, 12 tháng trong quá trình diều trị Kết quả tại tháng 12 cho thấy 35,2% tuân thủ điều trị tốt, 55,9% tuân thủ điều trị trung bình và 9% tuân thủ kém [41]
Nghiên cứu của M.Haskew tại London (2008) lại có cách chia mức độ
Trang 25tuân thủ điều trị khác: tuân thủ tốt là dùng thuốc đủ 28 – 30 ngày, tuân thủ trung bình là dùng thuốc (3 – 27 ngày) và tuân thủ kém là dùng thuốc 0 – 2 ngày Kết quả nghiên cứu trên 91 bệnh nhân đang điều trị methadone tại cộng đồng cho thấy
tỉ lệ tuân thủ điều trị tốt là 58%, trung bình là 24% và kém là 18% [28]
Một nghiên cứu khác tại Trung Quốc do Lei Zhang và cộng sự tiến hành vào năm 2013 nhằm đánh giá một cách hệ thống tỷ lệ BN ra khỏi chương trình, sự thay đổi hành vi và lý do BN ra khỏi chương trình điều trị Methadone từ năm 2004 đến năm 2013 Các cơ sở dữ liệu tiếng Anh và tiếng Trung được rà soát để công bố tỷ lệ
BN duy trì điều trị, hành vi sử dụng ma túy và quan hệ tình dục của BN Đây là nghiên cứu tổng quan hệ thống những bài báo cáo khoa học đánh giá kết quả điều trị Methadone tại các cơ sở điều trị Methadone của Trung Quốc Qua phân tích cho thấy có khoảng 1/3 số người tham gia điều trị Methadone đã ra khỏi chương trình trong ba tháng đầu điều trị (tỷ lệ duy trì 69,0%) Nguyên nhân phổ biến nhất của việc ra khỏi chương trình là do công an bắt giữ hoặc bị đưa vào các trung tâm cai nghiện bắt buộc (chiếm 22,2%) Trong số những BN vẫn đang duy trì điều trị, hành
vi sử dụng ma túy không an toàn có sự thay đổi rõ rệt hơn so với hành vi tình dục không an toàn Sau 1 năm điều trị, chỉ còn 24,6% BN có kết quả xét nghiệm nước tiểu dương tính với heroin/morphine, 9,3% BN vẫn còn tiêm chích ma túy và chỉ có 1,1% đã bán dâm để có tiền mua ma túy Tuy nhiên, tỷ lệ BN sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục không có sự thay đổi đáng kể Nghiên cứu cho thấy chương trình điều trị Methadone cho người sử dụng ma túy ở Trung Quốc đạt hiệu quả cao Tuy nhiên, những người duy trì điều trị đa phần là những người nghèo, có liên quan đáng kể đến việc giam giữ bắt buộc Do đó việc cải cách hệ thống giam giữ bắt buộc người sử dụng ma túy có thể cải thiện hiệu quả chương trình điều trị Methadone [35]
Tại Việt Nam
Theo kết quả đánh giá chương trình thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh của USAID, PEPFAR và FHI trong thời gian 2 năm (11/2009 – 11/2011), trong 3 tháng đầu của nghiên cứu, chỉ có 11,5% bệnh nhân bỏ liều trong vòng 1 đến 2
Trang 26ngày (tuân thủ điều trị trung bình) Tỷ lệ này tăng dần – đạt đỉnh với 33,4% giữa tháng 12 đến tháng 18 Trong giai đoạn cuối (tháng thứ 18 đến tháng thứ 24), 27,6% bệnh nhân bỏ liều trong khoảng từ 1 – 2 ngày Một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân gián đoạn điều trị trong vòng từ 3 – 4 ngày, cũng như từ 5 ngày trở lên (1 – 3 %) (tuân thủ kém) [17]
Tỉ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị Methadone trong các nghiên cứu tại Việt Nam nhìn chung dao động trên dưới 80%
Nguyễn Thị Hằng tiến hành nghiên cứu về tuân thủ điều trị methdone tại quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh, 65% bệnh nhân tuân thủ tốt [13] Tỉ lệ này cũng tương đương với nghiên cứu của Phạm Thị Bích tại Hải Dương năm 2015, tỉ
lệ tuân thủ điều trị là 78,7% [ 1 ] và Nguyễn Dương Châu Giang tại Đà Nẵng năm 2015, 73,4% bệnh nhân tuân thủ điều trị và trong số những bệnh nhân không tuân thủ điều trị, 3,1% bỏ thuốc 4 – 5 ngày liên tiếp và 5,4% bỏ thuốc trên 5 ngày [12] Kết quả về tuân thủ điều trị Methadone theo nghiên cứu của Trung tâm phòng chống HIV/A IDS Nam Định năm 2014 cũng khá cao (90%)[22]
1.5 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị Methadone:
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra việc tuân thủ điều trị Methadone bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố như: Các yếu tố nhân khẩu học (tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trang s ức khỏe ), liều điều trị, mối quan hệ xã hội, kiến thức
về tuân thủ điều trị Methadone, sự hỗ trợ hay kỳ thị của gia đình, xã hội; chất lượng dịch vụ y tế, các yếu tố liên quan đến pháp luật [17, 43]
1.5.1 Yếu tố cá nhân:
Một số yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị được chỉ ra trong các nghiên cứu là: tuổi, giới, nghề nghiệp, tiền sử và tình trạng sử dụng chất gây nghiện, liều dùng Methadone, tình trạng sức khỏe
- Về giới: Bệnh nhân nữ có tỉ lệ tuân thủ điều trị Methadone cao hơn trong
nghiên cứu của A dili tại Tazania năm 2013 [43] và của Roux tại Pháp năm
2014 [41] Tuy nhiên tỉ lệ nữ giới tuân thủ điều trị thấp hơn nam giới trong nghiên cứu của Lambers tại A msterdam [34]
- Về thu nhập: Nghiên cứu của A dili tại Tanzania năm 2013 trên 609
Trang 27bệnh nhân điều trị Methadone tại bệnh viện quốc gia Muhimbili cho biết 72,7% bệnh nhân có nguồn thu nhập từ việc làm, 56,7% có thu nhập từ gia đình/bạn bè
và 42,7% từng có thu nhập từ các hoạt động bất hợp pháp Những bệnh nhân có thu nhập từ việc làm tuân thủ điều trị cao hơn 1,5 lần so với những bệnh nhân không có thu nhập [43]
- Về sử dụng chất gây nghiện: v i ệ c s ử d ụ n g c h ấ t g â y n g h i ệ n
trong quá trình điều trị Methadone cũng có tác động đến việc tuân thủ điều trị Theo kết quả nghiên cứu của Raffa theo dõi 60 bệnh nhân trong vòng 3 năm (2002 – 2005) tại Vancouver, 93,8% bệnh nhân trong máu không phát hiện heroin tuân thủ điều trị trong khi tỉ lệ này ở những bệnh nhân có phát hiện heroin là 84,2% Tuy nhiên, chỉ sử dụng anphetamin lại không ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân, thậm chí tỉ lệ tuân thủ điều trị còn cao hơn [42] Theo Sharma (2016), bệnh nhân không s ử dụng chất gây nghiện trong 3 tháng có tỉ lệ tuân thủ điều trị cao hơn 2,7 lần [44]
- Về liều điều trị: Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra kết quả liều điều trị
Methadone càng cao thì tỉ lệ tuân thủ càng cao [34, 42]
Tình trạng sức khỏe của bệnh nhân tham gia chương trình MMT cũng ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị Như kết quả nghiên cứu của Gu tại Quảng Châu năm 2014 cho biết những yếu tố tác động đến tuân thủ điều trị là tình trạng sức khỏe ốm yếu, tâm trạng không tốt hoặc trải qua một sự kiện không vui [26]
1.5.2 Kiến thức về tuân thủ điều trị Methadone:
Bệnh nhân có kiến thức tốt về methadone và tuân thủ điều trị methadone có
tỉ lệ tuân thủ điều trị cao hơn
Theo kết quả nghiên cứu của Sharma tại Nepal (2016), bệnh nhân có kiến thức tốt về điều trị methadone có tỉ lệ tuân thủ điều trị cao hơn 9,4 lần so với những bệnh nhân có kiến thức trung bình và kém [44] Bệnh nhân có kiến thức tốt về methadone có nhận thức tốt hơn về tầm quan trọng của chương trình này
Gu tiến hành theo dõi 158 bệnh nhân đang điều trị Methadone trong 18 tháng (từ tháng 1/5/2009 đến 31/10/2010) và nghiên cứu định tính 15 bệnh nhân mới tham gia điều trị để nghiên cứu về những nhận thức sai lầm về Methadone ảnh
Trang 28hưởng đến việc tuân thủ điều trị và rời khỏi chương trình điều trị như thế nào Các nhận định được đưa ra là: Methadone chủ yếu để cai nghiện; Một người có thể cai nghiện hoàn toàn và ngừng sử dụng Methadone sau 2 – 3 tháng; Điều trị Methadone là điều trị lâu dài, thâm chí suốt đời; Phải giảm liều Methadone vì nó
có hại đến sức khỏe Kết quả nghiên cứu cho thấy càng có nhiều nhận định sai
về MMT tỉ lệ tuân thủ điều trị càng thấp [29]
1.5.3 Sự hỗ trợ của gia đình và xã hội:
Sự hỗ trợ của gia đình và xã hội có liên quan đến tuân thủ điều trị Methadone của bệnh nhân:
Theo Lambers (2010), những bệnh nhân không nhân được sự theo dõi tại gia đình và không có đối tác lâu dài trong vòng một tháng có tỉ lệ không tuân thủ điều trị cao hơn (14,2% so với 7,0% và 12,4% so với 11,3%) Điều này có thể lí giải rằng người thân và đối tác có thể giúp họ trong việc nhắc nhở sử dụng thuốc và động viên trong quá trình điều trị [34]
Kết quả nghiên cứu của Sharma (2016) cho thấy những bệnh nhân nhận được
sự hỗ trợ của gia đình ở mức độ cao có tỉ lệ tuân thủ điều trị cao hơn những bệnh nhân chỉ nhận được sự hỗ trợ ở mức độ trung bình và thấp (87,2% so với 66,1%) Cũng tương tự với những bệnh nhân nhận được sự hỗ trợ từ nhân viên y tế cao có
tỉ lệ tuân thủ điều trị là 87,7% so với những bệnh nhân nhận được sự hỗ trợ trung bình và thấp (63,9%) [44]
Nghiên cứu của Gu (2014) chỉ ra trong nhóm những bệnh nhân tuân thủ điều trị Methadone, 6,8%; 9,8% có tương tác với những người sử dụng ma túy; 6% được bạn sử dụng ma túy rủ rê không điều trị Methadone trong khi những tỉ lệ tương ứng ở nhóm không tuân thủ điều trị là 13,5%; 14,3% và 9,8% [ 26]
Nghiên cứu do Feng Su-qing và cộng sự (2010) thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả chương trình điều trị Methadone cho người nghiện heroin ở thành phố Thường Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc Có 371 BN đã điều trị Methadone hơn 1 năm đồng ý tham gia nghiên cứu Kết quả cho thấy độ tuổi bắt đầu sử dụng ma túy trung bình là 26,7, thời gian nghiện ma túy trung bình là 8,2 năm Sau khi được điều trị Methadone, tỷ lệ tiêm chích ma túy đã giảm từ 73,0% xuống còn 16,7% Tỷ lệ có
Trang 29quan hệ tình dục với nhiều bạn tình giảm từ 6,5% xuống còn 0,5% Tỷ lệ có sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần đây nhất tăng từ 14,3% lên 28,1%
Tỷ lệ những người nghiện có liên lạc với bạn nghiện nhiều hơn 1 lần mỗi ngày trong 1 tháng vừa qua giảm từ 19,7% xuống còn 7,3% Tuy nhiên không có sự cải thiện đáng kể về tỷ lệ các hành vi phạm pháp, mối quan hệ với các thành viên trong gia đình và tình trạng thất nghiệp Nghiên cứu cho thấy chương trình điều trị Methadone góp phần thay đổi các hành vi liên quan đến tiêm chích ma túy, giảm thiểu số lần liên lạc với bạn nghiện, cải thiện tình dục an toàn Tuy nhiên các BN này cần cải thiện nhận thức của bản thân, tuân thủ điều trị và sự giúp đỡ của cộng đồng nhiều hơn nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình Điều trị Methadone [25]
1.5.4 Yếu tố môi trường:
- Về nới ở: Khoảng cách từ nhà đến cơ sở điều trị là yếu tố quan trọng tác
động đến v iệc tiếp cận điều trị của bệnh nhân Methadone bán hủy trong vòng
24 giờ nên bệnh nhân phải uống thuốc hàng ngày, họ có thể mất nửa ngày làm việc hoặc tốn kém chi phí trong việc đi lại để uống thuốc [36] Rà soát của Nguyễn Thị Minh Tâm trên 44 cơ sở điều trị MMT tại Việt Nam cũng chỉ ra điều kiện làm việc và khoảng cách đến cơ sở điều trị là rào cản để bệnh nhân đến cơ sở uống thuốc hàng ngày [46]
- Về thực hiện quy định của pháp luật: Ngành công an cũng là một yếu tố
gây cản trở việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân Công an tại nơi sinh sống là một trong những thành phần để tuyển chọn bệnh nhân tham gia chương trình MMT Một số bệnh nhân vẫn còn sử dụng ma túy bị bắt hay một số bệnh nhân do tâm lí e ngại công an nên đôi khi tránh xuất hiện tại cơ sở điều trị (nơi đông người) gây gián đoạn điều trị [30]
- Về sự kỳ thì của gia đình, xã hội: Sự kỳ thì của gia đình, xã hội có
những ảnh hưởng nhất định đến việc tham gia điều trị và quá trình điều trị Methadone Kết quả nghiên cứu của B.X Tran năm 2016 về sự kỳ thị đối với người
sử dụng ma túy tại các mô hình điều trị Methadone khác nhau cho thấy hơn 17% bệnh nhân đã từng bị kỳ thị, 2,5% bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc và 1,7% bị phân biệt đối xử tại các cơ s ở y tế Sự kỳ thị này đã làm giảm tuân thủ điều trị
Trang 30của bệnh nhân [47] Nhận định này cũng được chỉ ra trong nghiên cứu của Sanders (2013), bệnh nhân đôi khi thấy xẩu hổ khi tham gia chương trình MMT
vì tình trạng nghiện ma túy của họ bị nhiều người biết hay áp lực từ chính gia đình lại ảnh hưởng đến quá trình điều trị của bản thân [32]
1.6 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu:
1.6.1 Giới thiệu chung:
Đắk Lắk là tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, có diện tích tự nhiên 13.139
chiếm 30%), khá đa dạng về tập quán sinh hoạt với nhiều nét văn hoá khác nhau Phía bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía đông giáp Khánh Hoà và Phú Yên, phía nam giáp Lâm Đồng và Đắk Nông, phía Tây có 70 km đường biên giới chung với Vương quốc Cam Pu Chia, có 15 đơn vị hành chính gồm: 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện (184 đơn vị xã, phường; 2.683 thôn, buôn, khối phố); ở nhiều xã giao thông không thuận lợi đặc biệt là các xã vùng sâu vùng xa về mùa mưa đi lại rất khó khăn Tỷ lệ
di dân tự do và dân di cư biến động lớn nhưng tình hình an ninh trật tự tại địa phương vẫn ổn định Đa số người dân sống bằng nghề nông chủ yếu trồng cây công nghiệp: cà phê, tiêu, cao su, chè…thu nhập bình quân đầu người khoảng 28.000.000đ/năm Khí hậu nóng và khô hanh, được chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10), mùa khô (tháng 11 đến tháng 4 năm sau)
1.6.2 Tình hình điều trị Methadone tại Đắk Lắk:
Tệ nạn ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk vẫn diễn biến phức tạp, tăng cả về
số lượng người nghiện, loại ma túy và hình thức sử dụng Theo báo cáo của Chi cục Phòng, chống tệ nạn xã hội tỉnh Đắk Lắk, tính đến cuối năm 2016, toàn tỉnh có 1.133 người nghiện có hồ sơ quản lý tăng 41 người (4,0%) so với năm 2015, tội phạm liên quan đến ma túy trong năm 2016 là 126 vụ với 157 đối tượng; 124/184
xã, phường, thị trấn tại 15 huyện, thị, thành phố trong tỉnh có người nghiện ma túy, tăng 06 xã, phường, thị trấn (năm 2015: 118, năm 2016: 124) [8]
Đắk Lắk là một trong những tỉnh triển khai chương trình MMT khá muộn Tháng 12 năm 2015, cơ sở MMT đầu tiên đã được triển khai tại Đắk Lắk Tính tới tháng 9 năm 2017, trên toàn tỉnh chỉ có 1 cơ sở điều trị tại Trung tâm Phòng, chống
Trang 31HIV/AIDS Trong 9 tháng đầu năm 2017 đã có 403 bệnh nhân đăng ký điều trị, trong đó hiện đang điều trị là 307, có 86 bệnh nhân bỏ trị (chiếm 21,3 %), tỷ lệ này tương đương một số tỉnh như Đà Nẵng, Hải Dương, thấp hơn ở cơ sở điều trị Quận
6 - Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cao hơn nhiều so với Nam Định Với đặc thù điều trị MMT đòi hỏi liên tục và lâu dài và cần sự hỗ trợ của gia đình và xã hội trong điều trị MMT, tuy nhiên có rất nhiều yếu tố tác động đến sự duy trì điều trị MMT khi hiện tại trên toàn tỉnh chỉ có 01 cơ sở điều trị và sẽ thu phí uống thuốc từ ngày 01/01/2018
Trang 321.7 Khung lý thuyết: Tuân thủ điều trị Methadone
Tuân thủ điều trị Methadone
Không bỏ thuốc bất kỳ ngày nào trong
30 ngày gần nhất
người đang điều trị đối với
CBYT, điều kiện, cơ sở
vật chất tại cơ sở điều
NC về Sự KTPBĐX, CSHT của người nhà
và cộng đồng qua phỏng vấn BN
Bệnh nhân điều trị Methadone
1 Đặc tính riêng của bệnh nhân:
Bao gồm: Tuổi, Giới, Trình độ học vấn, Tình trạng hôn nhân, Nghề nghiệp, Hoàn cảnh sống (nơi ở, người chung sống), Tình hình sử dụng rượu, bia, thuốc lá, ma túy
3 Tình trạng nhiễm HIV/HBV/ HCV, test heroine của ĐTNC khi đang điều trị
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân đang điều trị tại cơ sở điều trị Methadone tại Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Đắk Lắk, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí sau đây:
- Bệnh nhân trong giai đoạn duy trì liều từ 1 tháng trở lên
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu và có khả năng trả lời bảng câu hỏi Tiêu chí loại trừ: những bệnh nhân bị bệnh nặng, rối loạn trí nhớ, khó khăn trong giao tiếp
Bệnh nhân được điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone miễn phí được cấp từ nguồn kinh phí của dự án Quỹ toàn cầu qua
sự phân phối của Cụ Phòng, chống HIV/AIDS
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 02/2018 đến tháng 07/2018 tại cơ sở điều trị Methadone Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Đắk Lắk
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Toàn bộ bệnh nhân đang điều trị ở giai đoạn duy trì liều, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn được chọn vào nghiên cứu Tổng cộng đã điều tra được 277 đối tượng
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi có cấu trúc được xây dựng dựa trên bộ câu hỏi của một số nghiên cứu đã thực hiện về Methadone, tuân thủ điều trị Methadone [1, 12] dùng để phỏng vấn đối tượng nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, bộ câu hỏi được chia làm 8 phần (phụ lục 2):
Phần A: Thông tin chung về bệnh nhân: mã số bệnh nhân, các thông tin nhân khẩu học, tiền sử sử dụng ma túy, liều điều trị Methadone
Trang 34Phần G: Sự hỗ trợ của gia đình và xã hội khi tham gia điều trị Methadone Phần H: Tình trạng nhiễm HIV/HBV/HCB của ĐTNC
2.5.2 Quy trình thu thập số liệu
- Chuẩn bị cho nghiên cứu:
+ Xây dựng phiếu phỏng vấn bệnh nhân
+ Liên hệ với cơ quan có đối tượng nghiên cứu
+ Tập huấn cho Điều tra viên (ĐTV), giám sát viên (GSV)
+ Chuẩn bị văn phòng phẩm; in, photocopy phiếu phỏng vấn và chuẩn bị công tác hậu cần
- Tiến hành nghiên cứu:
- Học viên liên hệ với Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Đắk Lắk để trình bày về mục tiêu, nội dung và mục đích tiến hành nghiên cứu; sau khi nhận được sự đồng ý cho phép tiến hành nghiên cứu tại cơ sở, học viên thống nhất cách thức, kế hoạch thực hiện với cơ sở điều trị, ĐTV đã tiến hành điều tra thử nghiệm 10 người đang điều trị tại cơ sở điều trị của TTPC HIV/AIDS và
đã có những chỉnh sửa cần thiết (thực hiện trong tháng 2/2018)
+ Sau khi hoàn chỉnh bộ câu hỏi, điều tra viên đã tiến hành phỏng vấn bệnh nhân khi đến uống thuốc, nếu đủ tiêu chuẩn thì được lựa chọn, tiến hành phỏng vấn theo thứ tự đến uống thuốc và phỏng vấn cho đến khi hết đối tượng đủ tiêu chuẩn (từ tháng 3 đến tháng 7/2018 đã phỏng vấn được 277 bệnh nhân)
Trang 35+ Điều tra viên (ĐTV) xin được đối chiếu hồ sơ bệnh án sau mỗi buổi phỏng vấn để thu thập một số thông tin: uống thuốc trong 30 ngày gần đây, tình trạng xét nghiệm HIV/HBV/HCB và kết quả test heroine
+ ĐTV có trách nhiệm phản ánh những vấn đề nảy sinh trong quá trình thu thập số liệu và báo cáo cho giám sát viên (01 cán bộ của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS và 01 của Trung tâm Truyền thông-Giáo dục-Sức khỏe tỉnh) kịp thời
Điều tra viên (ĐTV) là 2 cán bộ của Trung tâm Truyền thông Giáo dục Sức khỏe tỉnh Đắk Lắk để đảm bảo tính khách quan của kết quả phỏng vấn (vì có những nội dung phỏng vấn liên quan đến cán bộ y tế và chất lượng của cơ sở điều trị) ĐTV được tập huấn về nội dung phiếu phỏng vấn, cách thức phỏng vấn
2.6 Các biến số nghiên cứu (chi tiết xin xem phụ lục)
Mục tiêu 1 bao gồm các nhóm biến số:
- Đặc điểm chung: tuổi, giới, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp
- Sử dụng ma túy: tiền sử SDMT, tiền sử cai nghiện, tiết lộ thông tin SDMT cho người nhà, thực trạng TCMT
- Thực trạng điều trị Methadone: Thời gian tham gia, liều điều trị
- Tình trạng nhiễm HIV/HBV/HCV, test heroine của ĐTNC khi đang điều trị: kết quả xét nghiệm HIV, HBV, HCB và kết quả thử heroine
Mục tiêu 2 bao gồm các nhóm biến số:
- Thực trạng tuân thủ điều trị: Số lần không uống Methadone trong 30 ngày gần nhất, lý do không tuân thủ, xử trí của ĐTNC và của cơ sở điều trị khi ĐTNC không tuân thủ điều trị
- Nhận thức về điều trị Methadone: nhận thức về Methadone, nhận thức về tuân thủ điều trị Methadone
- Dịch vụ điều trị Methadone: tính sẵn có và dễ tiếp cận dịch vụ, đánh giá của ĐTNC về thái độ phục vụ của CBYT, đánh giá dịch vụ điều trị của ĐTNC
- Sự hỗ trợ của gia đình và xã hội đối với ĐTNC: Sự hỗ trợ của gia đình, sự hỗ trợ của CBYT, sự kỳ thị đối với bệnh nhân
Trang 362.7 Tiêu chuẩn đánh giá
Đánh giá tuân thủ điều trị:
Dựa vào hướng dẫn điều trị Methadone của Bộ Y tế [5] tại Quyết định số 3140/2010/QĐ-BYT Hướng dẫn điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone và kết hợp cách đánh giá mức độ tuân thủ điều trị Methadone trong nghiên cứu thí điểm tại Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh năm 2009 [11], tuân thủ điều trị MMT được đánh giá như sau:
- Tuân thủ điều trị: Không bỏ liều điều trị ngày nào trong 30 ngày gần nhất
- Không tuân thủ điều trị: có bỏ liều điều trị trong 30 ngày gần nhất
Đánh giá nhận thức của ĐTNC về Methadone và tuân thủ điều trị Methadone:
Các câu hỏi nhận thức về điều trị Methadone, tuân thủ điều trị Methadone, được xây dựng dựa vào hướng dẫn điều trị Methadone của Bộ Y tế (2010) [2] và tham khảo nghiên cứu đã thực hiện tại Hải Dương năm 2015, Đà Nẵng 2015 [1] [12]
Trong nghiên cứu này, nhận thức của bệnh nhân được đánh giá cụ thể như sau:
Câu C1 hỏi về Methadone: trả lời 1 là hiểu đúng về Methadone; còn lại là hiểu không đúng
Câu C2 hỏi về điều trị Methadone: trả lời 1 là hiểu đúng về điều trị Methadone; còn lại là hiểu không đúng
Câu C3 hỏi về tuân thủ điều trị Methadone: trả lời 1 là hiểu đúng về tuân thủ Methadone; còn lại là hiểu không đúng
Kiến thức chung về điều trị Methadone được đánh giá Đạt khi trả lời đúng cả 3 câu C1, C2 và C3
Đánh giá về dịch vụ điều trị Methadone: Nghiên cứu này tham khảo phần
đánh giá giá mức độ hài lòng của bệnh nhân với thái độ của cán bộ của cơ sở điều trị của Phạm Thị Bích đã nghiên cứu tại Hải Dương năm 2015 [1] Câu hỏi về dịch
vụ điều trị chỉ đánh giá sự hài lòng của người bệnh về cơ sở vật chất và thái độ của CBYT theo ý kiến đánh giá của bệnh nhân từng câu một từ câu F6 đến F12
Trang 37là có hài lòng hoặc không hài lòng
Đánh giá Hài lòng chung: Căn cứ vào tổng số điểm của các câu trả lời, nếu tổng số điểm của câu trả lời:
+ Từ 4 điểm trở lên: Hài lòng
+ Dưới 4 điểm: Không hài lòng
Ngoài ra phân tích từng câu để đánh giá Hài lòng của bệnh nhân đối với Bác sĩ khám điều trị, Tư vấn viên, nhân viên cấp phát thuốc, nhân viên hành chính, kỹ thuật viên xét nghiệm và nhân viên bảo vệ, chỉ dẫn
Đánh giá sự hỗ trợ của gia đình và cán bộ y tế:
Câu G1: Đánh giá sự hỗ trợ của các thành viên trong gia đình: Có hỗ trợ hay không hỗ trợ
Câu G3: Đánh giá sự hỗ trợ của cán bộ y tế: Có hỗ trợ hay không hỗ trợ
Câu G5: Đánh giá sự kỳ thị khi tham gia điều trị Methadone: đã từng bị kỳ thị hay chưa bao giờ bị kỳ thị
Phân tích thống kê mô tả nhằm mô tả các đặc trưng chung và xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân đang điều trị Methadone, tình trạng nhiễm HIV/HBV/HCV
Phân tích mối liên quan nhằm tìm hiểu mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân, kiến thức, thwcj hành, sự hài lòng của ĐTNC, sự hỗ trợ của gia đình, CBYT đến việc tuân thủ điều trị Methadone của ĐTNC (có tuân thủ hay không tuân thủ) và sử dụng kiểm định Khi bình phương, OR và 95%CI của OR
2.8 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu
- Nghiên cứu được sự chấp thuận của lãnh đạo Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk
Trang 38- Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức - Trường Đại học Y tế công cộng thông qua trước khi tiến hành triển khai trên thực tế (Quyết định số: 046/2018 YTCC/HD3)
- Những qui định về đạo đức nghiên cứu đã được tuân thủ đúng trong quá trình tiến hành nghiên cứu
2.9 Sai số và cách khắc phục
Việc thu thập thông tin từ người nghiện các chất dạng thuốc phiện gặp sai số
do thái độ hợp tác của họ, cách khắc phục là điều tra viên đã giải thích rõ ràng mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu, động viên sự tự nguyện tham gia
- Để tránh các sai số thông tin do ĐTNC không trả lời thật một số câu hỏi nhạy cảm hoặc mang tính đánh giá chất lượng dịch vụ (sợ ảnh hưởng đến việc tiếp cận DVYT và dịch vụ BHYT) Học viên giải thích rõ ý nghĩa cũng như mục đích của nghiên cứu, khéo léo trong việc khai thác thông tin cũng như xem xét các câu trả lời dựa trên bối cảnh và thái độ của ĐTNC
- Nghiên cứu được thu thập hầu hết qua phỏng vấn người bệnh, điều này có thể dẫn đến sai số tự khai báo và sai số nhớ lại, đặc biệt khi hỏi các thông tin nhạy cảm như sử dụng ma túy và chất lượng cuộc sống Người bệnh có xu hướng trả lời theo những gì có lợi cho bản thân chứ không như thực tế Tuy nhiên, việc đảm bảo tính bí mật và quyền riêng tư cũng phần nào khắc phục được vấn đề này
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Một số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3 1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Trang 40Bảng 3.1 cho thấy đối tượng nghiên cứu là nam chiếm 97,5%; độ tuổi trung bình là 33,9 (tuổi cao nhất là 62 và thấp nhất là 22), đối tượng thuộc nhóm tuổi 30 trở lên chiếm tỷ lệ 67,4%; dân tộc kinh chiếm 94,9% Số đối tượng làm nghề tự do chiếm 40,8%
Không tự lo được 34,3%
Tự lo được
65,7%
Biểu đồ 3 1 Phân bố tỷ lệ bệnh nhân theo kinh tế tự lo cho cá nhân
Biểu đồ 3.1 cho thấy 34,3% bệnh nhân không tự lo được kinh tế cho bản thân mà phải nhờ vào sự giúp đỡ của gia đình
Sống ở BMT 80,9%
Sống ở huyện 19,1%
Biểu đồ 3 2 Phân bố bệnh nhân theo nơi ở