1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Cách tiếp cận mới trong việc xây dựng mô hình làng nghề - du lịch trong các làng nghề truyền thống khu vực Đồng bằng sông Hồng

6 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 375,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết chỉ ra sự cần thiết phải có cách tiếp cận mới, giải pháp mới; thay đổi cách thức khai thác các giá trị văn hóa nghề hiện nay đang tự phát, manh mún, không chú trọng phát triển các sản phẩm du lịch, coi du lịch là yếu tố ăn theo của phát triển nhiều nghề, tạo ra nhiều mâu thuẫn về môi trường.

Trang 1

trong các làng nghề truyền thống khu vực Đồng bằng sông hồng

Đặt vấn đề

Vùng ĐBSH có khoảng 7.500 làng truyền thống với khoảng

1.500 làng nghề, 11 nhóm nghề trong đó khoảng 300 làng

được công nhận là làng nghề truyền thống Các làng nghề

truyền thống không chỉ có nghề mà hầu hết còn có nhiều giá

trị về di sản kiến trúc, cảnh quan và các giá trị văn hóa phi vật

thể khác Đây thực sự là tiềm năng quý giá để các làng nghề phát triển du lịch, đóng góp vào phát triển kinh tế, bảo tồn các giá trị văn hóa

Đã có định hướng phát triển cấp quốc gia, đề án về lĩnh vực này như: Chương trình Bảo tồn và phát triển làng nghề của

PGS.TS Phạm hùnG CườnG

Đại học Xây dựng

Định hướng phát triển du lịch, khai thác các giá trị văn hóa của làng nghề truyền thống đã được xác định trong chủ trương phát triển kinh tế, xã hội, định hướng quy hoạch du lịch của nhiều tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) Tuy nhiên đến nay (2019) có rất ít những làng thành công, cơ bản tại các làng nghề hoạt động du lịch còn nhỏ, lẻ, mang tính tự phát

Bài viết này chỉ ra rằng cần thiết phải có cách tiếp cận mới, giải pháp mới Thay đổi cách thức khai thác các giá trị văn hóa nghề hiện nay đang tự phát, manh mún, không chú trọng phát triển các sản phẩm du lịch, coi du lịch là yếu tố “ăn theo” của phát triển nghề, tạo ra nhiều mâu thuẫn về môi trường, không gian giữa hoạt động sản xuất nghề và hoạt động du lịch Nghiên cứu đề xuất mô hình Làng nghề - Du lịch với các giải pháp đồng bộ như một mô hình mới khả thi, bền vững trong việc khai thác hiệu quả các tiềm năng văn hóa của các làng nghề truyền thống vùng ĐBSH nhằm phát triển du lịch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới (*)

Từ khóa: Du lịch làng nghề, làng nghề truyền thống, du lịch văn hóa.

new aPProaCh in buildinG a Trade villaGe model - TouriSm in TradiTional Trade villaGeS

in The red river delTa

Tourism development orientations, exploitation of cultural values of traditional craft villages have been determined in the socio-economic development guidelines, tourism planning orientations of many provinces and cities in the Red River Delta However,

up to now (2019), there are very few successful villages, basically in small and spontaneous tourism craft villages.

This article points out that a new approach or new solution is needed Changing the way of exploiting the cultural values of the current profession is spontaneous and fragmented, not paying attention to developing tourism products, considering tourism as

a “follow” factor of professional development, creating many conflict on environment and space between professional production activities and tourism activities Study and propose the model of Craft Tourism Village with comprehensive solutions as a feasible and sustainable new model in effectively exploiting the cultural potentials of traditional craft villages in the Red River Delta to develop tourism, contributing to socio-economic development and new rural construction (*)

Trang 2

≥ ki’n Chuy™n gia & Nhµ qu∂n l˝

Bộ NN&PTNT năm 2011 có mục tiêu đến

năm 2015 bảo tồn từ 30-40 làng nghề truyền

thống, phát triển 50-70 làng nghề mới gắn

liền với du lịch Đề án “Chương trình Quốc

gia mỗi xã một sản phẩm - OCOP” giai đoạn

2017-2020, định hướng đến năm 2030 có

mục tiêu phát triển đến năm 2020 có 80-100

làng (bản) văn hóa du lịch đạt tiêu chuẩn từ

3-5 sao; Đề án Chiến lược phát triển sản

phẩm du lịch đến năm 2025, định hướng

2030 của Viện Nghiên cứu phát triển du lịch

- Tổng cục Du lịch (2016) và các định hướng

phát triển du lịch của các tỉnh trong đó có cả

phát triển du lịch tại các làng nghề.(5)

Tuy nhiên hiện nay (2019) mới chỉ có làng

gốm Bát Tràng có hoạt động du lịch khá tốt,

các làng khác hoạt động du lịch ở quy mô

nhỏ Thuật ngữ “loay hoay tìm ra giải pháp”,

“khai thác chưa hiệu quả”, “cần có một chính

sách bài bản” đang được nhắc đến nhiều

trong các hội thảo, các bài viết nghiên cứu

về thực trạng phát triển làng nghề gắn với du

lịch gần đây.(7)(8)

Tìm hiểu 30 làng có nghề truyền thống trong

phạm vi vùng ĐBSH cho thấy nguyên nhân

của thực trạng trên là:

n Các làng nghề chưa được đánh giá đúng

về mặt tiềm năng phát triển du lịch, quá chú

trọng vào việc đưa khách đến xem, thăm

quan nghề mà chưa giới thiệu được các giá

trị văn hóa khác của làng nghề truyền thống

Chính vì vậy các sản phẩm du lịch khá đơn

điệu, không hấp dẫn được khách, không có

các hoạt động cuốn hút giữ khách ở lại lâu, vì

vậy doanh thu từ du lịch thấp

n Cách làm hiện nay chỉ chú trọng vào khai

thác mà ít chú ý phát triển các sản phẩm du

lịch mới để vừa thu hút khách du lịch, vừa

thúc đẩy sự phát triển các sản phẩm nghề

truyền thống Thiếu hệ thống sản phẩm du

lịch đồng bộ, không đủ để một làng trở thành

một điểm đến du lịch hấp dẫn

n Cách phát triển làng nghề vẫn là tìm cách

phát triển thị trường, chú trọng vào kinh tế

mà chưa nhìn nhận phát triển kinh tế du lịch

cũng là một thế mạnh về phát triển kinh tế

của làng nghề Việc chỉ quan tâm phát triển

nghề trước du lịch dẫn đến rời xa giá trị văn

hóa, chạy theo sản phẩm thị trường, các giá

trị văn hóa nghề giảm sút Có hiện tượng ô

nhiễm môi trường, sự lộn xộn trong tổ chức

không gian làng Kết quả này mâu thuẫn với

điều kiện để phát triển du lịch Cách phát triển du lịch như một yếu tố “ăn theo” sự phát triển của làng nghề không phải là cách làm tốt, không tạo nên các làng du lịch bền vững

Có thể thấy khó khăn nhất là chưa có một mô hình phát triển rõ ràng, đủ thuyết phục để có thể triển khai từ chủ trương lớn thành các hành động cụ thể tại các địa phương

Vì vậy rất cần nghiên cứu tìm tòi những mô hình mới với cách tiếp cận mới, thay đổi cách đánh giá về tiềm năng của làng nghề truyền thống trên góc độ phát triển du lịch

Các làng nghề truyền thống vùng ĐBSH hầu hết có lịch sử hình thành khoảng

200-500 năm Cùng với các nghề truyền thống, nhiều làng còn có các di sản kiến trúc, cảnh quan, di sản văn hóa phi vật thể phong phú

Tuy nhiên qua cách khai thác, tổ chức du lịch cho thấy cách nhận diện, đánh giá giá trị tiềm năng của làng nghề còn chưa đầy đủ;

Đánh giá, giới thiệu giá trị văn hóa nghề còn

sơ lược Nhiều nơi cũng chỉ mới giới thiệu được quy trình sản xuất, tổ chức một vài hoạt động trải nghiệm (chủ yếu là nghề gốm), các giá trị khác như lịch sử của nghề, tinh hoa của nghề qua các quy trình sản xuất thủ công, đồ lưu niệm từ nghề, các giá trị văn hóa tinh thần, tập quán của cộng đồng hình thành từ nghề vẫn chưa được nhận diện và giới thiệu Đặc biệt nhiều nghề truyền thống tuy đã mai một nhưng tính biểu tượng của nó đã đi vào tiềm thức của cộng đồng như lụa Vạn Phúc, gốm Hương Canh, nón lá làng Chuông, giò chả Ước Lễ chưa được đánh giá đúng như một giá trị thương hiệu để quảng bá du lịch

Chưa nhận diện và đánh giá giá trị văn hóa làng tích hợp, đầy đủ Các giá trị văn hóa

di sản kiến trúc như đình, chùa, miếu, cảnh quan, các giá trị văn hóa phi vật thể khác thể hiện giá trị của làng truyền thống, một mô hình cộng đồng có giá trị sinh thái - nhân văn phát triển hàng ngàn năm chưa được nhận diện để khai thác giới thiệu Lịch sử của làng, phong tục tập quán tiêu biểu cho văn hóa của người Việt có thể mang đến cho

du khách những câu chuyện hấp dẫn không kém gì những trải nghiệm nghề.(2)(3)

Cần nhận thức đúng rằng giá trị văn hóa nghề chỉ là một phần trong giá trị văn hóa làng, văn hóa của nghề và văn hóa làng nghề là hai giá trị không thể tách rời

Việc nhìn nhận các giá trị di sản văn hóa cũng chưa được nhìn nhận trên khía cạnh sản phẩm du lịch Ví dụ như cảnh quan đẹp, thanh bình, mang bản sắc làng quê dù là mới tạo lập đối với khách du lịch hấp dẫn hơn là một di sản nhiều năm tuổi nhưng để trong môi trường lộn xộn thiếu thẩm mỹ Yếu tố mới lạ về văn hóa, cảnh quan đối với các đối tượng khách khác nhau, trong nước, quốc tế chưa được đánh giá Đây là bài học rút ra từ trường hợp du lịch làng quê Yên Đức (Đông Triều, Quảng Ninh) Làng không có nhiều di tích cấp quốc gia, di sản cổ kính, không có nghề thủ công truyền thống nhưng với cảnh quan tổng thể làng quê được gìn giữ, giới thiệu tốt cũng rất hấp dẫn khách du lịch Có nhiều nghiên cứu về

di sản phi vật thể trong làng, nhưng để biến nó thành sản phẩm du lịch chứ không phải là kết quả nghiên cứu thì chưa được đánh giá làm rõ

Có thể nói, tiềm năng của di sản làng nghề, với văn hóa nghề, văn hóa làng hiện nay như là những viên ngọc quý chưa được mài giũa để tỏa sáng

Hạn chế của tiềm năng

Tính phân tán, quy mô nhỏ, còn ít làng có giá trị văn hóa tích hợp cao là một hạn chế để phát triển làng trở thành điểm đến du lịch Có làng có nghề phát triển, nghề có giá trị văn hóa cao thì các giá trị di sản, cảnh quan lại không nổi bật, kiến trúc mới, cảnh quan mới chiếm đa phần Ví dụ như làng nghề mây tre đan Phú Vinh (xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội), cảnh quan thiếu bản sắc của làng quê, ít di sản được công nhận là di tích Có làng có giá trị di sản, cảnh quan khá tốt nhưng nghề đang gặp khó khăn như làng nghề Cựu may comple (xã Vân Từ, huyện Phú Xuyên), làng nghề đan đó Nội Lăng, Tất Viên (xã Thủ Sỹ, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên).(3)

Số lượng các làng có giá trị tích hợp cao không nhiều Qua nghiên cứu đánh giá tiềm năng cả về văn hóa nghề và các di sản trong

30 làng nghề truyền thống trong vùng ĐBSH (ngoài làng gốm Bát Tràng) chỉ có một số làng như làng may Cựu, làng giò chả Ước Lễ (Hà Nội), làng gốm Phù Lãng (Bắc Ninh) là những làng có giá trị tiềm năng nhất Nhóm kế tiếp là làng nón Chuông, mây tre đan Phú Vinh, chế biến thực phẩm Cự Đà (Hà Nội), làng đan đó Nội Lăng, Tất Viên (xã Thủ Sỹ,

Trang 3

Miện, Hải Dương) Còn nhiều làng khác giá

trị văn hóa nghề, di sản kiến trúc, cảnh quan

không thật đặc sắc, bị tác động đô thị hóa,

môi trường kém nên khó phát triển thành

một điểm du lịch hoàn chỉnh

Du lịch làng chịu sự cạnh tranh về thị trường

khách du lịch trong vùng ĐBSH Về mặt văn

hóa truyền thống dân cư, so với các làng

ở miền núi như Hòa Bình, Sa Pa, các làng

vùng ĐBSH đã suy giảm bản sắc hơn kể cả

về văn hóa, cảnh quan thiên nhiên Để tôn

vinh, khôi phục các bản sắc văn hóa phải

đầu tư nhiều hơn Việc chia sẻ lợi ích, tạo

sự công bằng với cả một cộng đồng làng, xã

vốn đông dân cư (vài ngàn đến hàng chục

ngàn người), so với các làng bản nhỏ ở miền

núi gặp khó khăn hơn nhiều

Nhiều làng nghề đã bảo tồn được nghề, đang

phát triển như các làng nghề bạc Châu Khê

(Hải Dương), đồ đồng Đại Bái (Bắc Ninh),

chạm khắc đá Ninh Vân (Ninh Bình) lại có môi

trường kém, ô nhiễm So với các cảnh quan,

môi trường đẹp, trong lành ở vùng biển, miền

núi nước ta đây là một hạn chế lớn Một số bài

báo ca ngợi vẻ đẹp cảnh phơi bánh đa trên

đường làng ở làng Cự Đà (Hà Nội), nhưng

đứng về mặt vệ sinh an toàn thực phẩm, cách

làm đó là không phù hợp, gây phản cảm với

khách du lịch, nhất là khách quốc tế

Rất cần sự đánh giá đúng giá trị để thấy hết

khó khăn, thuận lợi, biết phát huy thế mạnh

và khắc phục hạn chế của các giá trị tiềm

năng này

Các đặc điểm tích cực, hạn chế

của một số mô hình hoạt động du

lịch nông thôn hiện nay

Qua một số hoạt động du lịch nông thôn có

liên quan đến làng truyền thống cho thấy đã

có các hình thức sau:

q Hoạt động thăm quan trải nghiệm: Thăm

quan các hộ gia đình làm nghề Các đơn vị

tổ chức du lịch liên hệ trực tiếp với các hộ

gia đình, thường chọn một vài hộ (làng mây

tre đan Phú Vinh, làng gốm Phù Lãng) Chỉ

khai thác được một vài khía cạnh giá trị của

văn hóa nghề

q Khai thác sản phẩm du lịch từ văn hóa

nông nghiệp: Thăm quan cảnh quan ngoài

hưởng đến điểm dân cư Các giá trị văn hóa thường dùng thủ pháp tái hiện, không dùng các giá trị gốc Ví dụ như khu du lịch sinh thái Đồi Thông, Quang Huy nằm cạnh xã Cần Kiệm (huyện Thạch Thất, Hà Nội), khu du lịch Long Việt (Ba Vì, Hà Nội) tái hiện các kiến trúc, cảnh quan làng cổ

Cách làm này đã bước đầu tạo nên sự quan tâm của du khách tới các làng truyền thống, tới du lịch văn hóa nông thôn Có hạn chế là không khai thác được hết các giá trị di sản ẩn chứa, nằm bên trong làng Nhưng đây cũng là cách né tránh các khó khăn khi phải vận động cộng đồng, phải xin ý kiến đồng thuận của nhiều người Cách làm này tuy có sự chủ động của doanh nghiệp du lịch nhưng không mang lại lợi ích trực tiếp đến cho cộng đồng

do cộng đồng ít được tham gia

Một số điểm du lịch, khu du lịch, có tên “làng

du lịch” nhưng thực chất là các khu du lịch đơn thuần đặt cạnh làng truyền thống, cạnh các trung tâm thắng cảnh lớn, không hình thành từ giá trị gốc của văn hóa làng (Ví dụ:

Làng “Việt cổ Cổ Văn Lầu” ở Ninh Bình) Mô hình này khó hấp dẫn khách quốc tế vốn coi trọng các giá trị văn hóa gốc

Nhìn chung những cách làm trên là cách làm manh mún, không tạo nên sự phát triển bền vững, nhiều doanh nghiệp du lịch đã thất bại khi đầu tư theo cách này

Lựa chọn mô hình phát triển từ kinh nghiệm quốc tế

Có nhiều mô hình du lịch trong làng truyền thống các nước đã thực hiện thành công Có

ba xu hướng chính:

n Với các làng miền núi, hải đảo hoặc vùng

cư dân thưa, văn hóa còn đậm bản sắc, cảnh quan thiên nhiên rộng dễ phát triển du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng thành công Ví dụ như Làng mây tre đan Bang Chao Cha, Pho Thong, Ang Thong - Thái Lan; Làng nghề truyền thống gỗ da cá sấu Kemenuh Mas, khu làng cổ nhất của đảo Bali, Indonesia với hơn 1.000 năm tuổi; Làng nghề truyền thống rượu, gốm Aritayaki tại Nhật Bản

n Với các làng dân cư đông, có thể khoanh vùng riêng một khu vực làm du lịch, tách khỏi cuộc sống thông thường hoặc tái hiện

n Với các làng có nhiều di sản kiến trúc, với mục tiêu bảo tồn cao, có thể di một phần hoặc toàn bộ dân, nhà nước mua lại, thiết lập lại cách ở mới kết hợp làm du lịch như Làng cố Hoành Thôn, An Huy - Trung Quốc Cách làm này chủ động trong tổ chức tạo cảnh quan, bảo tồn và khai thác du lịch Cả ba cách này đều cần có sự đầu tư, phối hợp quản lý, tạo lập các sản phẩm du lịch đồng bộ Tuy nhiên, không thể vận dụng thuần túy cho cho làng nghề truyền thống vùng ĐBSH Bởi sự khác biệt của giá trị di sản, hoàn cảnh xã hội địa phương, của các dân tộc mỗi quốc gia

Bài học rút ra trong sự thành công nói chung của các làng phát triển du lịch cộng đồng,

du lịch văn hóa trên thế giới đó là sự quan tâm đến việc tạo lập các mô hình bài bản với sản phẩm du lịch có bẳn sắc, đa dạng, các không gian cảnh quan đều được quan tâm thiết kế, tạo lập, môi trường sạch sẽ, quản lý chặt chẽ

Quan điểm hình thành mô hình Làng nghề

- Du lịch

Từ thực tiễn, tiềm năng của các làng nghề, quan điểm là phải có sự lựa chọn để hình thành mô hình Làng nghề - Du lịch, gắn mục tiêu phát triển nghề truyền thống với mục tiêu phát triển du lịch ngay từ ban đầu, tích hợp khai thác thế mạnh tiềm năng của cả văn hóa nghề truyền thống và các di sản văn hóa khác trong làng để phát triển du lịch, đồng thời lấy du lịch để phát triển nghề truyền thống

Hai mục tiêu phát triển nghề - phát triển du lịch thực hiện song hành sẽ đạt được mục tiêu vừa phát triển kinh tế, vừa bảo tồn được các giá trị văn hóa nghề, di sản truyền thống Đây là việc kết hợp để xây dựng mô hình kinh tế văn hóa, lấy văn hóa là một tiềm lực để phát triển

Nguyên tắc

n Xây dựng mô hình du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng Lấy giá trị văn hóa làng truyền thống là gốc Không tách biệt dân cư khỏi làng để làm du lịch hoặc xây dựng “làng du lịch” mới hoàn toàn, xa rời văn hóa gốc

Trang 4

n Có mục tiêu phát triển nghề - du lịch đồng

bộ Khi phát triển nghề phải định hướng

ngay cho phát triển du lịch Xác định phát

triển du lịch tốt sẽ thúc đẩy việc gìn giữ các

giá trị văn hóa nghề truyền thống

n Khai thác được thế mạnh văn hóa nghề,

sáng tạo các giá trị mới cho sản phẩm Đây

chính là cách làm khác biệt với quan điểm

phát triển kinh tế làng nghề đơn thuần Các

sản phẩm của nghề khi được phát triển sáng

tạo trên các tiềm năng văn hóa nghề, sản

phẩm truyền thống chính là cơ sở để tạo sản

phẩm du lịch văn hóa Đây đang là khâu yếu

nhất trong các làng nghề hiện nay, các nghề

truyền thống đang khó cạnh tranh với các

sản phẩm tương tự sản xuất bởi công nghệ

mới, vật liệu mới

Mỗi một loại nghề, sản phẩm phải có sự

sáng tạo riêng, đặc biệt là sự tham gia của

các nhà thiết kế (designer), các họa sỹ, tạo

dáng công nghiệp góp sức để sản phẩm

nghề có thêm các loại hình mới Sự khởi sắc

ở các làng nghề gốm Bát Tràng, Phù Lãng

đã minh chứng cho sự quan trọng của việc

sáng tạo ra các sản phẩm mới cho nghề

truyền thống

Hình dưới đây minh họa khả năng phát triển

các sản phẩm truyền thống từ loại đó bắt tôm

cá được đan ở làng Nội Lăng, Tất Viên (xã

Thủ Sỹ, Hưng Yên) thành đồ lưu niệm, sản

phẩm tiêu dùng mới

n Khai thác được tất cả các giá trị văn hóa

truyền thống của văn hóa làng, văn hóa vùng

ĐBSH, chú trọng tạo lập giá trị tích hợp Đây

là quan điểm khác biệt với cách nhiều nơi

đang khai thác làng nghề làm du lịch hiện

nay, thường chỉ đưa khách đến thăm quan

nơi sản xuất mà thiếu sự giới thiệu về các giá

trị văn hóa khác của làng thể hiện qua các di

sản kiến trúc như đình chùa, miếu, nhà cổ và

các di sản văn hóa phi vật thể khác của làng

Tính đa dạng của các giá trị sẽ tạo nên sự đa

dạng về sản phẩm du lịch, cũng là điều kiện

để tổ chức các hoạt động du lịch thành công

Cần giới thiệu cả văn hóa làng và văn hóa

vùng ĐBSH, các sản phẩm đặc sản OCOP

của vùng (theo chương trình quốc gia “mỗi

xã một sản phẩm”) Ví dụ biểu diễn múa rối

nước, hát chèo là văn hóa không chỉ riêng

của làng nào mà là văn hóa chung của vùng,

đều có thể tạo lập và giới thiệu ở nhiều làng

Các sản vật ẩm thực, hoa quả của vùng ĐBSH đều có thể giới thiệu được ở làng

Chú trọng khai thác các giá trị di sản nổi bật, đã có thương hiệu Ví dụ cùng nhóm mây tre đan nhưng nón lá làng Chuông đã có thương hiệu, gắn liền với văn hóa, hình ảnh phụ nữ Việt Nam, rất có thể mạnh để tạo bản sắc riêng

n Thiết lập được các Bộ sản phẩm du lịch dựa trên các giá trị tiềm năng có sáng tạo

Không thể khai thác các làng nghề như một thứ tài nguyên sẵn có Các tài nguyên văn hóa này khẳng định hiện mới là tiềm năng, cần phải thiết lập sáng tạo, có đầu tư để trở thành các bộ sản phẩm du lịch có tính sáng tạo, bền vững, khai thác lâu dài

Bộ sản phẩm du lịch phải phong phú, đúng với nhu cầu của sản phẩm du lịch, bao hàm hết các nhu cầu của khách như thăm quan, trải nghiệm, vui chơi, ẩm thực, lưu trú Có bốn nhóm sản phẩm du lịch cần thiết lập là:

n Nhóm sản phẩm du lịch văn hóa nghề truyền thống: Khai thác đủ các khía cạnh lịch sử phát triển nghề, các quy trình sản xuất đặc biệt, tinh hoa của sản phẩm, giá trị văn hóa cộng đồng, các tập quán hình thành cùng với nghề Có cả sản phẩm thăm quan và sản phẩm trải nghiệm học tập, khảo cứu

n Nhóm sản phẩm du lịch văn hóa nghề nông: Khai thác khía cạnh tìm hiểu phương thức sản xuất truyền thống, trải nghiệm kinh nghiệm làm nông, đánh bắt tôm cá, tát nước, thăm quan đồng ruộng, vườn rau hoa, hiểu về các giá trị phi vật thể của văn hóa nghề nông đối với cuộc sống cộng đồng làng (6)

n Nhóm sản phẩm du lịch các di sản kiến trúc, cảnh quan Đây là khối lượng di sản lớn, nhất là mô hình làng vùng ĐBSH là mô hình cư trú đặc thù, khác với các vùng khác, có cổng, lũy tre, cây đa, đình, chùa, miếu, nhà cổ, vườn nhà, giếng, ao làng cầu đá, chợ, quán nhiều

di sản được công nhận là di tích

n Nhóm sản phẩm văn hóa phi vật thể: Ẩm thực, nghệ thuật biểu diễn, trang phục, tập quán, lễ hội

Như vậy dù là làng nghề truyền thống, cần xác định văn hóa nghề chỉ là một loại hình tạo lập sản phẩm du lịch Trong các nhóm

sản phẩm này, các bộ sản phẩm cụ thể như thăm quan, trải nghiệm nghề, ẩm thực, trò chơi, đồ lưu niệm, khảo cứu, thăm quan học tập cần được thiết lập cụ thể

≥ ki’n Chuy™n gia & Nhµ qu∂n l˝

Mẫu 1 Mẫu đan làm đồ lưu niệm Từ hình chiếc đó truyền thống có khoét 2 chỗ để hom, trong

2 hom này đặt 2 túi đựng mạ gieo, khi tưới nước mạ sẽ mọc xanh Gợi nhớ hình ảnh các khóm mạ vùng lúa nước ĐBSH.

Mẫu 2 Mẫu Khay hoa quả: Đan làm đồ lưu niệm và đồ bày hoa quả Là mẫu đó bắt cá được cải biên mẫu để đựng được hoa quả Hoa quả đựng trong mẫu bán kèm vào mùa hè sẽ là Nhãn lồng, đặc sản của Hưng Yên

Mẫu 3 Mẫu nghệ thuật sắp đặt Là tổ hợp 5 con cá tạo hình từ đó đan Kích thước tổ hợp khoảng 1,5m x 1,2m Để trưng bày tại các

vườn, trên mặt nước.

Mẫu 4 Chùm đèn làm bằng đó bắt cá Là tổ hợp của các đó truyền thống, liên kết bằng khung thép, thân bằng tre Có thể đặt đứng độc lập, bên trong có đèn Làm đèn vườn, đặt dọc lối đi Cao khoảng 2,1m Hình 1 Sản phẩm đan “đó” được phát triển thành đồ lưu niệm, đèn trang trí.

Trang 5

động du lịch.

n Phải tích hợp không gian du lịch trong

quy hoạch xây dựng, tổ chức không gian

làng, xã

Các xã có làng nghề đã có Quy hoạch xây

dựng nông thôn mới phải có nghiên cứu

để điều chỉnh, bổ sung các không gian du

lịch nếu có định hướng phát triển theo mô

hình Nhiều không gian phải được thiết kế,

tạo lập có bản sắc theo mục tiêu phục vụ

khách du lịch

Có tối thiểu 16 loại hình không gian du lịch

cần được thiết lập, gắn kết với đồ án Quy

hoạch xây dựng nông thôn

Trong nhóm các không gian này, Trung tâm

dịch vụ du lịch là loại hình hầu như chưa có ở

các làng, vì vậy phải có quỹ đất dự kiến trong

quy hoạch để hình thành

Các không gian đường làng, không gian khu

bán hàng lưu niệm, không gian trải nghiệm

trong hộ gia đình đều phải được thiết kế tạo

lập bản sắc, phù hợp với yêu cầu của bộ sản

phẩm du lịch

n Hình thành bộ máy quản lý phù hợp, cách

thiết lập phù hợp

Có hai cách thiết lập và quản lý, vận hành

mô hình có thể lựa chọn

Mô hình dạng A: Mô hình tập trung (tham

khảo mô hình du lịch làng quê của làng

Yên Đức - Đông Triều, Quảng Ninh).

Trung tâm dịch vụ du lịch có vai trò điều

phối toàn bộ hoạt động du lịch của làng, do

một doanh nghiệp thực hiện Doanh nghiệp

quản lý tất cả các tua thăm quan, phân bố

khách đến các điểm dịch vụ, là đơn vị đầu

tư chính cho việc tổ chức các không gian du

lịch, quản lý chất lượng du lịch tại tất cả các

điểm thăm quan

Việc đầu tư ban đầu hạ tầng chung của làng

do chính quyền địa phương và Trung tâm

cùng phối hợp Mô hình này có ưu điểm là

có sự kiểm soát tốt về chất lượng, sự đầu tư

hệ thống sản phẩm, chủ động về khách do

có một doanh nghiệp du lịch lớn (Công ty du

thuyền Đông Dương) tạo lập, kết nối khách

từ Hà Nội - Hạ Long đi qua

đổi mô hình hoạt động có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của mô hình

Các nơi khác khó học tập được mô hình này

Nguồn khách chưa đa dạng, các sản phẩm

du lịch còn thiếu (đồ lưu niệm, các sản phẩm OCOP)

Mô hình dạng B: Mô hình Hợp tác xã (HTX) dịch vụ du lịch

Thiết lập HTX dịch vụ du lịch, huy động các gia đình, doanh nghiệp đầu tư, doanh nghiệp lữ hành tham gia HTX đề ra các quy định hoạt động chung, hỗ trợ đầu tư giữa các thành viên, kiểm soát chất lượng chung

q Đầu tư thiết lập các bộ sản phẩm du lịch

Đầu tư cơ sở vật chất ban đầu tại cơ sở du

q Đầu tư hạ tầng và duy trì chất lượng các không gian du lịch chung: Do chính quyền địa phương phối hợp HTX, các đơn vị dịch vụ du lịch

q Kiểm soát chất lượng dịch vụ du lịch: HTX là đầu mối kiểm soát chất lượng chung Trung tâm dịch vụ du lịch trong HTX có vai trò điều phối các tua chính Các tua khách lẻ do các điểm dịch vụ tự quản lý Các điểm dịch vụ cùng HTX xây dựng thị trường khách hàng

Mô hình này có ưu điểm huy động được nhiều thành phần cộng đồng dân cư tham

Hình 2 Sơ đồ các không gian hoạt động du lịch chủ yếu trong làng nghề

Hình 3: Minh họa cách tổ chức cảnh quan du lịch đường làng, cầu, quán

Trang 6

gia, không bị phụ thuộc vào một doanh

nghiệp Tuy nhiên, phải có đề án phát triển

rõ ràng, có sự đầu tư ban đầu của doanh

nghiệp nòng cốt và chính quyền địa phương

Mỗi một mô hình quản lý đều liên quan đến

hiệu quả khai thác không gian và vận hành

du lịch Việc lựa chọn mô hình nào cần có

sự trao đổi cụ thể với địa phương, cộng đồng

để có giải pháp phù hợp Dù là mô hình nào

cũng phải đảm bảo hình thành được nhiều

nhất các sản phẩm du lịch, khai thác được

hết các tiềm năng về di sản, làng nghề

q Kết nối vùng và liên kết trong quy hoạch

du lịch vùng, tỉnh

Trong quá trình lập đề án phát triển phải có kế hoạch, mục tiêu kết nối với các tua, tuyến

điểm du lịch trong vùng và trong tỉnh Gắn kết trong quy hoạch du lịch vùng, tỉnh Trong những giai đoạn đầu khi chưa có thương hiệu, việc kết nối tuyến điểm du lịch với các Khu du lịch lớn đô thị lớn như: Hà Nội, Ninh Bình, Hạ Long, Sa Pa rất quan trọng để đảm bảo có lượng khách thường xuyên

Việc kết nối các sản phẩm vùng trong một tổng thể quy hoạch du lịch cũng để đảm bảo các sản phẩm du lịch trong một tỉnh không

bị trùng lặp giữa các làng, mỗi làng phải phát triển theo thế mạnh, tạo bản sắc, thương hiệu du lịch riêng

Kết luận

Chuyển đổi một phương thức hoạt động kinh tế từ nghề nông, nghề thủ công đơn thuần của các làng nghề truyền thống sang kết hợp hoạt động du lịch, một phương thức hoạt động kinh tế văn hóa đòi hỏi phải có nghiên cứu, thiết lập mô hình rõ ràng, có đầu tư và quản lý vận hành bền vững

Mô hình Làng nghề - Du lịch với các nguyên tắc phát triển, khai thác được các thế mạnh của nghề, của làng, của văn hóa làng, văn hóa vùng cùng với các mô hình quản lý phù hợp sẽ là một mô hình bền vững, đủ cơ sở để có thể thiết lập đề án phát triển du lịch cho các làng cụ thể có nhiều tiềm năng

Rất cần sự quan tâm đầu tư của nhà nước, chương trình phát triển nông thôn, của các địa phương có làng nghề nhiều tiềm năng, xây dựng thí điểm theo mô hình để từ đó có thể nhân rộng trong vùng ĐBSH

NGÀY NHẬN BÀI: 02/4/2020 NGÀY GỬI PHẢN BIỆN: 03/4/2020 NGÀY DUYỆT ĐĂNG: 18/4/2020.

Ghi chú:

* Bài báo cám ơn sự hỗ trợ của đề tài:” Nghiên cứu xây dựng mô hình làng nghề - du lịch và làng di sản -

du lịch khu vực ĐBSH nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội và xây dựng nông thôn mới” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2018-2020.

1 Phạm Hùng Cường Nhận diện giá trị di sản trong công tác bảo tồn Tạp chí Kiến trúc (trang 26-30), số

282 - tháng 10/2018.

2 Phạm Hùng Cường Bảo tồn thích ứng các di sản làng xã truyền thống trong quy hoạch nông thôn mới Tạp chí Kiến trúc (trang 34-38), số 294 - tháng 10/2019.

3 Lê Quỳnh Chi (2017) Phát triển du lịch cộng đồng tại làng truyền thống ngoại thành Hà Nội - Lấy làng Cựu làm trường hợp nghiên cứu Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng, Tập 11 số 5 - tháng 09/2017.

4 Viện Nghiên cứu phát triển du lịch - Tổng cục Du lịch (2016) Đề án chiến lược phát triển sản phẩm du lịch đến năm 2025, định hướng 2030.

5 Đề án “ Chương trình Quốc gia mỗi xã một sản phẩm - OCOP” Giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2030.

6 Liên hiệp Khoa học phát triển Du lịch bền vững (STDE) Đề tài: “Nghiên cứu phát triển sản phẩm du lịch tại di tích làng cổ Đường Lâm” Đề tài NCKH cấp thành phố Hà Nội, năm 2014.

7 Vân Anh - Mỹ Linh - Đặng Ngân Làng nghề truyền thống trong cơn lốc thị trường Trang web: https:// baomoi.com/lang-nghe-truyen-thong-trong-con-loc-thi-truong/c/25824937.epi Truy cập: QĐND26/04/18 10:34 GMT+712 liên quan Gốc

8 Giang Nam Giúp làng nghề thích ứng nhu cầu mới và tiếp tục phát triển Trang web:http://www nhandan.com.vn/nation_news/item/39947902-giup- lang-nghe-thich-ung-nhu-cau-moi-va-tiep-tuc-phat-trien.html Truy cập: Thứ Ba, 23/04/2019, 01:48:52

≥ ki’n Chuy™n gia & Nhµ qu∂n l˝

Hình 4 Minh họa không gian thăm quan và trải nghiệm nghề trong hộ gia đình

Ngày đăng: 31/01/2021, 11:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w