Đề xuất mô hình thư viện đại học hiện đại và các phân tích trên đây có thể chưa đầy đủ nhưng có một điều chắc chắn rằng thư viện thế hệ 4.0 là thư viện thông minh, dựa trên nền tảng In[r]
Trang 1Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
TRONG B́I CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Lê Bá Lâm * Nguyễn Hồng Minh **
Tóm tắt: Khái quát sự chuyển động của cuộc cách mạng công nghiệp
1.0 đến 4.0 Ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp 4.0 với xu thế vạn vật kết nối (Internet of Things - IoT), trí tuệ nhân tạo (Artiicial Intelli-gence - AI) và dữ liệu lớn (Big Data) đến ngành Thư viện Tìm hiểu sự phát triển của web cùng các “thế hệ thư viện” ở giai đoạn các “chấm” Dựa trên các yếu tố dữ liệu, công nghệ, dịch vụ thông tin và nguồn nhân lực hiện tại của các thư viện khối đại học, các tác giả đề xuất mô hình phát triển thư viện cho các thư viện đại học Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0.
Từ khoá: Thư viện đại học; Cách mạng công nghiệp; Mô hình
Giới thiệu
Trong khoảng 10 năm qua, các thư viện và nhà nghiên cứu về lĩnh vực thư viện - thông tin đã có nhiều hội thảo, bài viết về sự phát triển lên thế hệ thư viện 3.0 Tất nhiên các nghiên cứu, bài viết tập trung và xoay quanh các vấn đề như: thư viện số, công nghệ số, lưu trữ số, điện toán đám mây, dịch vụ web, tìm kiếm thông minh… và gần đây trong bối cảnh nền cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 thì chuyển sang IoT,
AI, BigData, Robot,…
* Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội.
** Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trang 2Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
Xem các giai đoạn phát triển của web tương ứng với các giai đoạn phát triển thư viện: web 1.0 là web thụ động, một phía chẳng hạn như truyền hình, web 2.0 là giai đoạn nội dung có tác động thêm bởi người
sử dụng, tức là có sự tương tác hai chiều và gọi là web xã hội, web 3.0
là web ngữ nghĩa và web 4.0 được dự đoán là web thông minh, lúc “con người và công nghệ hợp nhất” (Rohrbeck, Battistella Huizingh, 2012) [15], “kết nối Internet là liên tục”, “không gian vật lý và không gian ảo không còn giới hạn” (Farber, 2007) [6] thì có thể nói rằng cùng trong dòng chảy phát triển đi lên của nó, các “thế hệ thư viện” 1.0, 2.0, 3.0, 4.0 cũng sẽ thích nghi và phát triển tương ứng như vậy
1 Chuyển động của nền cách mạng công nghiệp 1.0 đến 4.0
Theo Gartner, (2015), CMCN 4.0 xuất phát từ khái niệm “Industrie 4.0” trong một báo cáo của chính phủ Đức năm 2013 “Industrie 4.0” kết nối các hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa công nghiệp, kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong [8] Nếu định nghĩa của Gartner còn khó hiểu, Klaus Schwab (2016) người sáng lập và chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới mang đến cái nhìn đơn giản hơn về CMCN 4.0 như sau: “Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hoá sản xuất Cuộc cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng
để sản xuất hàng loạt Cuộc cách mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hoá sản xuất Bây giờ, cuộc cách mạng công nghiệp thứ 4 đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần 3, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học” [10]
Công nghiệp 1.0: Đó là cơ giới hoá (mechanization), tức là dùng
máy móc cơ khí thay thế một số công việc của con người Nền công nghiệp này được đánh dấu bằng sự ra đời của động cơ hơi nước Tính cách mạng ở đây là chuyển từ sản xuất thủ công sang sản xuất công nghiệp bằng máy móc
Công nghiệp 2.0: Đó là điện khí hoá (electriication) và sản xuất
hàng loạt (mass production) Điểm đặc trưng là một nền sản xuất quy
Trang 3Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
mô lớn, cho ra đời những đại công xưởng ngày nay (các nhà máy sản xuất điện thoại, ô tô, máy bay )
Hình 1 Lịch sử 4 cuộc cách mạng công nghệ của nhân loại
(Nguồn Internet)
Công nghiệp 3.0: Đó là số hoá (digitalization) và tự động hoá
(automation) Điểm đặc trưng là việc máy móc có thể vận hành tự động dưới sự điều khiển của máy tính với chương trình viết sẵn (lập trình) Vai trò của con người nằm ở việc quản lý những máy móc tự động đó và kết nối chúng với nhau Tính cách mạng ở đây là tính tự động hoá trong sản xuất Nền tảng công nghệ của cuộc cách mạng nằm ở việc phát minh và sử dụng máy tính trong sản xuất và kỹ thuật điều khiển tự động
Công nghiệp 4.0: Đó là tính kết nối (connection) và tính thông
minh (smart/ intelligence) của một hệ thống sản xuất Người ta dùng
từ cyber-physical system chính là để chỉ những hệ thống mà các (cụm) thiết bị vật lý được kết nối thông tin với nhau Tính cách mạng ở đây, trong thực tế, chưa thực sự rõ ràng Nền tảng khoa học và công nghệ cho nền sản xuất này vẫn còn non trẻ, chưa chín muồi (khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo ) Nền công nghiệp này mới manh nha, chưa thành hiện thực rõ nét CMCN 4.0 đang ảnh hưởng sâu sắc tới tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội Ảnh hưởng của CMCN 4.0 với các nội dung trên dự báo sẽ thay đổi toàn bộ quy trình sản xuất, quản lý, vận hành của các ngành kinh tế, từ công nghiệp, dịch vụ cho đến nông nghiệp
Trang 4Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
2 Sự phát triển của các thế hệ web
Theo Berners Lee (2006), Web 1.0, là thế hệ đầu tiên của Internet, chỉ cho đọc nội dung và người dùng bắt buộc công nhận thông tin một chiều đó Web 1.0 bắt đầu như một loại không gian thông tin để thông báo dữ liệu cho mọi người với các tương tác rất hạn chế giữa người dùng và nhà cung cấp thông tin [3]
Web 2.0 với các đặc trưng là phương tiện truyền thông xã hội, chẳng hạn như Wikipedia, Facebook và Twitter
Hassanzadeh và Keyvanpour (2011) cho rằng, Web 3.0 hoặc web ngữ nghĩa đã làm giảm thời gian chờ đợi các yêu cầu của người dùng
và rút ngắn thời gian cho việc ra quyết định Web 3.0 còn có thể hiểu
là web của công nghệ ngữ nghĩa Web ngữ nghĩa đại diện cho các tiêu chuẩn mở và mạng xã hội cho phép hợp tác giữa người dùng và máy móc hiệu quả hơn [9]
Web 4.0 sẽ là “web đọc, viết, triển khai và đồng bộ hoá”, là web thông minh và luôn ở trạng thái sẵn sàng Web 4.0 là một mạng cộng sinh các trang web với nhau, nơi con người và máy móc tương tác gần như “phẳng”
Fowler và Rodd (2013) nói rằng “điện tử siêu thông minh là tác nhân chính”, sẽ là định nghĩa và tính năng của Web 4.0, chúng cũng tổng hợp các đặc tính của Web 1.0, Web 2.0 và khẳng định rằng giữa các thế hệ web đó phát triển nhanh hơn, mỗi thế hệ web có thời gian sống ngắn hơn [7]
Aghaei, Nematbakhsh và Farsanim (2012) đã thảo luận về sự phát
triển của Web 1.0 đến Web 4.0 và họ đã định nghĩa chúng như sau: Web
1.0 là một trang web kết nối thông tin, Web 2.0 là một trang web kết nối mọi người, Web 3.0 là web kết nối tri thức và Web 4.0 là một trang web kết nối thông minh [1].
Trang 5Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
Hình 2 Sự phát triển của web theo thời gian
(Nguồn: http://www.scribd.com/doc/99678417/Web2-0-Web3-0-Web4-0)
Tim Berners Lee Tim O'Reilly Sir Tim Berners Lee
Chỉ đọc Đọc v̀ phản hồi Đọc, phản hồi v̀ thi h̀nh Chia sẻ thông tin Tương t́c Ảo, Nhúng
Triệu người dùng Tỷ người dùng Nghìn tỷ người dùng Kết nối thông tin Kết nối con người Kết nối tri thức
Não v̀ mắt (= Thông
tin)
Não, mắt, tai, giọng nói v̀ tŕi tim (= Nìm đam mê)
Não, mắt, tai, giọng nói, tŕi tim, tay v̀
chân (= Tự do) Văn bản, đồ hoạ dựa
trên lash Wiki, Video, 2D, xút bản ć nhân 3D, avatar, biểu cảm, ảo hó
Bảng 1 Một số tính năng chính của web [16]
3 Sự phát triển của các “thế hệ thư viện” tương ứng
Các “thế hệ thư viện” gắn liền với sự phát triển của các thế hệ web Thư viện 1.0 được hiểu tương ứng với Web 1.0 và Thư viện 2.0, 3.0 và
Trang 6Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
4.0 cũng như vậy Thuật ngữ “Thư viện 1.0” bắt đầu được sử dụng và so sánh với thuật ngữ “Thư viện 2.0” được giới thiệu bởi Casey Michel [5] Thư viện 2.0 đề cập đến việc áp dụng các công cụ của Web 2.0 cho các dịch vụ thư viện Thư viện 2.0 thường được coi là ứng dụng của các công nghệ dựa trên web tương tác, cộng tác và đa phương tiện cho các dịch vụ thư viện và các bộ sưu tập [12]
Belling et al (2011) giải thích rằng thuật ngữ “Thư viện 3.0” đề cập đến việc sử dụng các công nghệ mới nổi như web ngữ nghĩa, điện toán đám mây, thiết bị di động và các công cụ được thiết lập như hệ thống tìm kiếm được liên kết, tạo thuận lợi cho sự phát triển, tổ chức
và chia sẻ của người dùng tạo ra nội dung thông qua sự cộng tác liền mạch giữa người dùng, chuyên gia và thư viện [2] Kwanya, Stilwell và Underwood (2013) đã định nghĩa “Thư viện 3.0” là thế hệ thông minh,
có tổ chức, một mạng lưới đường dẫn, thông tin liên kết [11]
THƯ VIỆN 1.0 THƯ VIỆN 2.0 THƯ VIỆN 3.0
Giai đoạn 1990-2005 2006-2010 2010-2020
Sự tương t́c Đơn giản Đ̣nh hướng, công cộng Ć nhân hó, tuỳ biến Công nghệ MARC, HTML RSS, WIKI, blog, Bookmark Ngữ nghĩa, bản thể học, thiết ḅ di
động, đ́m mây.
Từ khó Bộ từ khó Cộng t́c, chia sẻ v̀ mở Web ngữ nghĩa, siêu dữ liệu Cung ćp
thông tin Thư viện Người dùng cùng tham gia Sự tham gia c̉a ḿy móc
Sử dụng
thông tin Chỉ đọc Đọc, ghi Đọc, ghi v̀ thực thi
Thiết ḅ sử
Ću trúc MARC, Meta-data MARCXML, DOI đ̣nh danh FRBR, Hướng đối tượng
Bảng 2 Các phiên bản thư viện [16]
Trang 7Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
Dữ liệu tăng nhanh, đặc biệt là dữ liệu số cũng là vấn đề đặt ra đối với các thư viện trong tương lai Thuật ngữ “Big Data”, “dịch vụ đám mây”, nguồn mở… cũng xuất hiện Dữ liệu lớn là tập dữ liệu có kích thước khổng lồ, được lưu trữ, quản lý hoặc phân tích bởi các thiết bị phần mềm, cơ sở dữ liệu (Manyika et al., 2011) [13]
Hình 3 Sự phát triển của các thế hệ thư viện [16]
* Dự đoán về Thư viện 4.0
Công nghệ không những dựa trên các phần mềm và phương pháp tiếp cận mà còn dựa trên ngữ cảnh Nguồn dữ liệu to lớn, truy vấn nhiều
và lặp lại dẫn tới các hệ thống dịch vụ thông tin của thư viện có thể phân tích, “nói chuyện”, “trao đổi” và “thảo luận” với các học giả như một đồng nghiệp
100% tài liệu có chíp RFID, sử dụng, truy cập thư viện qua mobile, các thiết bị di động, cầm tay là chủ yếu Tìm kiếm thông tin tài liệu thông qua giọng nói ra lệnh cho các phần mềm hỗ trợ Các tính năng web 4.0 cũng được Thư viện 4.0 áp dụng triệt để
Trang 8Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
Tài nguyên thông tin của thư viện chủ yếu là thông tin số và xu thế thư viện kết nối với Twitter, LinkedIn, Facebook, Zalo, là phổ biến Các thư viện cùng nhóm/lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu và đối tượng phục
vụ sẽ liên kết với nhau để phát huy hiệu quả tối đa tài nguyên thông tin
và dịch vụ Xác nhận bạn đọc qua nhận dạng khuôn mặt, giọng nói, vân tay được ứng dụng rộng rãi Người dùng tin tự do đến các thư viện không còn phân biệt đối tượng, trình độ học vấn
Thư viện vật lý chấp nhận các tính năng của Thư viện 4.0 để thay đổi các không gian lưu trữ và học thuật thành không gian giao lưu, hợp tác và sáng tạo
Các từ khóa cho Thư viện 4.0 sẽ là thư viện thông minh, dữ liệu to lớn, môi trường nghiên cứu song song với thực hành, nguồn mở, điện toán đám mây,…
4 Đề xuất mô hình phát triển thư viện cho các thư viện đại học Việt Nam
Dựa trên kết quả tìm hiểu, nghiên cứu về các giai đoạn phát triển web và các “thế hệ thư viện” trên đây, tác giả mạnh dạn đề xuất mô hình phát triển cho các thư viện đại học tại Việt Nam trong kỷ nguyên
số, CMCN 4.0 Mô hình được thiết kế vẫn xoay quanh các yếu tố Công nghệ - Dữ liệu - Dịch vụ - Con người và tất nhiên có sự ảnh hưởng, tác động chính của Internet vạn vật kết nối, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, robot, môi trường điện toán đám mây và các công cụ tương tác, giao tiếp cầm tay hiện đại như điện thoại thông minh, Ipad
Về công nghệ: Chắc chắn rằng cổng thông tin/ trang web vẫn là
công cụ giao tiếp chính giữa người dùng với thư viện, nhưng đã và sẽ phát triển đến thế hệ cao là Web4.0 (dữ liệu lớn, tích hợp, liên kết nhiều trang web với nhau, cộng sinh, thông minh) và các phần mềm tìm kiếm tập trung/ thông minh (One Search - Smart Search) của các công ty chuyên về sản phẩm, dịch vụ thư viện đang phát triển mạnh mẽ hiện nay vẫn giữ vai trò chủ đạo trong các ứng dụng khám phá tài nguyên thông tin trong các thư viện Sản phẩm thương mại như WORLDCAT
Trang 9Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
(OCLC), SUMMON (EXLIBRIS), EDS (EBSCO), ENCORE (III-IN-NOVATIVE), PRIMO (EXLIBRIS) Sản phẩm mã nguồn mở cho ứng dụng này đang được sử dụng nhiều là VuFind (Villanova University)
Hình 4 Mô hình đề xuất cho các thư viện đại học Việt Nam
trong bối cảnh CMCN 4.0
Tìm kiếm một lệnh hay tìm kiếm thông minh cung cấp khả năng một lệnh tìm nhưng truy cập tới không chỉ các bộ sưu tập in (tài liệu dưới dạng vật lý) mà còn bao gồm nhiều xuất bản điện tử, cơ sở dữ liệu điện tử từ các nhà xuất bản hay những bộ sưu tập số nội sinh, tài liệu truy cập mở
Có hai xu hướng công nghệ với công cụ này là gom dữ liệu từ trước và khi nào có lệnh tìm thì mới truy vấn (Realtime) Mỗi công nghệ có một điểm mạnh riêng, ví dụ tích hợp dữ liệu từ trước sẽ cho kết quả nhanh hơn, còn realtime chậm nhưng kết quả cập nhật hơn
Hiện nay các thư viện có thể mua sản phẩm tìm kiếm một lần/thông minh về cài đặt trên máy chủ của đơn vị hoặc sử dụng dịch vụ điện toán đám mây từ các nhà cung cấp Nếu sử dụng dịch vụ điện toán đám mây, các thư viện không cần hạ tầng công nghệ như máy chủ, bộ lưu trữ, cán
bộ tin học mà chỉ cần duy trì kết nối đến hệ thống để sử dụng
Trang 10Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
Cho đến khi các thư viện vẫn còn các bộ sưu tập tài liệu in thì việc
sử dụng một phần mềm quản trị thư viện tích hợp (Integrated Library System) để quản lý chúng là tất yếu Có đầy đủ các sản phẩm thương mại và mã nguồn mở trong và ngoài nước cho công việc này Các sản phẩm cũ như Virtua, Aleph, Voyager, Millennium, Symphony, Sabinet, Libol, Ilib, Verbrary cho đến Sierra, Alma, Kipos, Koha để các thư viện lựa chọn
Các sản phẩm quản trị tài nguyên số cũng rất đa dạng và phong phú OCLC có sản phẩm ContentDM, ExLibris có Digital Preservation Rosetta, Innovative có Digital Asset Management Vital hoặc có thể sử dụng phần mềm mã nguồn mở Dspace (DuraSpace), Eprints (Đại học Southampton) là những gợi ý cho các thư viện
Một giải pháp truy cập cơ sở dữ liệu điện tử từ xa giúp cho người dùng tìm kiếm, khai thác các tài liệu điện tử từ các nhà xuất bản đang được các thư viện sử dụng rộng rãi đó là EZPROXY của OCLC Thông thường các nhà xuất bản chuyển giao các cơ sở dữ liệu điện tử cho các thư viện thông qua dải IP truy cập Internet của đơn vị đó Giải pháp này giúp cho người dùng của các thư viện có thể truy cập thư viện từ bất cứ đâu (nhà riêng, cafe ) nhưng vẫn đảm bảo yếu tố kỹ thuật như đang
sử dụng dịch vụ thư viện từ đơn vị Đã có những sản phẩm tương tự từ các công ty của Ấn Độ, tuy nhiên mức độ sử dụng chưa được rộng rãi như Ezproxy
Để giúp người dùng/sinh viên thuận tiện trong sử dụng các dịch vụ của thư viện, cũng như các ứng dụng khác trong trường đại học như: đăng ký môn học, sử dụng phòng thí nghiệm, truy cập Internet thì các trường đại học đã phát triển các ứng dụng đăng nhập 1 lần (Single Sign On) Người dùng trong cơ sở dữ liệu LDAP chỉ dùng một tài khoản và mật khẩu duy nhất để đăng nhập tất cả các dịch vụ, giúp cho người dùng không phải nhớ nhiều tài khoản và mật khẩu
Hỗ trợ phát triển các sản phẩm và dịch vụ thư viện - thông tin hiện đại hiện nay chính là sản phẩm LibApps của Springshare Theo số liệu công
bố trên trang web https://www.springshare.com/ (tính đến tháng 8/2018)