Đối với các cường quốc châu Âu, đặc biệt là Anh, Hoa Kỳ cũng đã tỏ rõ được sức mạnh, nhiều vấn đề buộc Anh phải nhượng bộ… Kết quả cuối cùng của việc thi hành chính sách đối ngoại của [r]
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
-*** -
DƯƠNG QUANG HIỆP
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ
TỪ SAU NỘI CHIẾN ĐẾN KẾT THÚC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Khoa học – Đại học Huế Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Nguyễn Văn Tận
Vào hồi: ….giờ……ngày……tháng……năm………
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: ………
Trang 3Ngay sau khi vừa mới ra đời, nhà nước Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (The United States of America - USA) đã phải đương đầu với các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Nga…ở Tây bán cầu Ở khu vực châu Á và một số nơi khác, khi Mỹ đang còn bận bịu với việc giải quyết các vấn đề nội tại và bảo
vệ lợi ích Mỹ ở khu vực Mỹ Latinh, các cường quốc châu Âu đã gần như phân chia xong phạm vi ảnh hưởng ở đây Điều đó đòi hỏi chính giới Mỹ phải hành động để không chỉ bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ ở những khu vực cận kề mà còn tìm cách bành trướng ảnh hưởng, cạnh tranh địa vị, vươn đến quyền lực thế giới của Mỹ trên trường quốc tế
Để hiện thực hóa tham vọng trên, các chính phủ Hoa Kỳ nối tiếp nhau thực hiện các kế sách đối ngoại khôn khéo với các cường quốc châu Âu và Nhật Bản Nhằm ba mục tiêu cơ bản là an ninh, phát triển và phát huy ảnh hưởng của mình trên thế giới, Hoa Kỳ trước hết đã chọn khu vực Mỹ Latinh, sau đó là khu vực châu Á và một số nơi khác để thực hiện các mục tiêu đối ngoại
Ở khu vực Mỹ Latinh, sự có mặt của các cường quốc châu Âu là mối đe dọa nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ trên cả ba phương diện đã đề cập Mặt
khác, trên đà phát triển sau khi giành được độc lập, “khát vọng” của Mỹ
muốn biến Mỹ Latinh, vốn trở thành các nước độc lập vào thập niên 20 của
thế kỷ XIX, thành “sân sau” ngày càng lớn dần Việc đề ra các chính sách
ngoại giao của Hoa Kỳ đối với khu vực Mỹ Latinh tính từ thời điểm tuyên
bố Học thuyết Monroe (1823) và đặc biệt là sau Nội chiến đến kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1865 - 1918) đã từng bước biến Hoa Kỳ trở
thành một “đế quốc độc quyền” Tây bán cầu, tạo tiền đề vững chắc cho Hoa
Kỳ lũng đoạn chính trường thế giới trong thế kỷ XIX, XX và cả những năm đầu thế kỷ XXI
Đối với châu Á và châu Âu, Hoa Kỳ đã từng bước dính líu đến các khu vực này khi điều kiện trong nước cho phép, nhất là sau Nội chiến, với nền kinh tế phát triển vượt trội, Hoa Kỳ cần có một thị trường tương ứng để thỏa mãn nhu cầu kinh tế của CNTB Mỹ Do đó, Hoa Kỳ đã từng bước thâm
Trang 4nhập vào châu Á bằng cách: buộc Nhật Bản mở cửa, kết thân với Thái Lan,
gây chiến tranh với Tây Ban Nha để tranh giành thuộc địa, “Mở cửa” Trung
Quốc… Qua đó, Hoa Kỳ đã có được vị thế ngang hàng với các cường quốc, tham gia giải quyết các vấn đề của thế giới và ngay chính ở châu Âu trong
và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất
Vậy, đâu là nhân tố quyết định chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với các khu vực Mỹ Latinh, châu Á, châu Âu trong giai đoạn 1865 - 1918? Nội dung cụ thể và tác động chính sách đến chính bản thân nước Mỹ cũng như các chủ thể liên quan?
Với những vấn đề đặt ra ở trên, chính sách đối ngoại Hoa Kỳ sau Nội chiến đến kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1865-1918) trở nên hấp dẫn và lôi cuốn giới nghiên cứu lịch sử nói chung và lịch sử quan hệ quốc tế nói riêng Điều thực sự có ý nghĩa nếu có được một công trình nghiên cứu
cơ bản, có hệ thống về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong giai đoạn được đề cập
Với mục đích góp phần nhìn nhận, lý giải các vấn đề phức tạp trên,
chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ từ sau Nội chiến đến kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1865 - 1918)” làm
luận án tiến sĩ sử học, chuyên ngành Lịch sử thế giới
Đây là đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Về góc độ khoa học, bằng việc tái hiện quá trình hình thành và phát triển chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ giai đoạn 1865 – 1918, luận án sẽ chỉ ra tiền đề, thành tựu, đặc điểm của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ Đồng thời, luận án cũng cố gắng làm sáng tỏ những tác động chính sách cả về phía Hoa Kỳ cũng như các
nước ở Mỹ Latinh, châu Á và châu Âu
Về góc độ thực tiễn, hiện nay, Việt Nam đang thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế Do vậy, trong quan hệ với các nước lớn, nhất là với Hoa Kỳ, chúng ta càng phải nghiên cứu kỹ càng mọi mặt về quốc gia này, nhất là trong lĩnh vực ngoại giao Có như thế chúng ta mới có những biện pháp hữu hiệu để vừa hợp tác vừa đấu tranh trong quan hệ với Hoa Kỳ - một đối tác đầy tiềm năng và cũng lắm thách
thức, đúng như tinh thần của Paul Kennedy đã từng nói “Cách tốt nhất để
nhận thức được tương lai sắp đến là nhìn lại một chút về quá khứ”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Làm rõ mục tiêu và thực chất chính sách đối ngoại của Hoa
Kỳ từ sau Nội chiến đến kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1865 – 1918) nhằm vươn lên ngang hàng với các cường quốc và đứng đầu thế giới sau này
Nhiệm vụ:
Trang 5- Làm rõ cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, bao gồm: kinh tế, chính trị, xã hội; bối cảnh quốc tế và khu vực…
- Nghiên cứu một cách có hệ thống những nội dung, điều chỉnh chính sách đối ngoại Hoa Kỳ đối với từng chủ thể ở khu vực Mỹ Latinh, châu Á
và châu Âu giai đoạn 1865 – 1918
- Rút ra một số nhận xét đánh giá về thành tựu, đặc điểm, tác động của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ trong giai đoạn được đề cập
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ
từ sau Nội chiến đến kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1865 - 1918), cụ thể là:
- Những nhân tố tác động đến sự hình thành chính sách đối ngoại Hoa
Kỳ
- Nội dung, những điều chỉnh và quá trình thực hiện chính sách đối
ngoại của Hoa Kỳ đối với từng chủ thể cụ thể
- Thành công, hạn chế, tác động của những chính sách này
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: Luận án tập trung nghiên cứu chính sách đối ngoại
của Mỹ đối với khu vực Mỹ Latinh, châu Á và châu Âu - các chủ thể mà Hoa Kỳ quan tâm trong giai đoạn 1865 – 1918
Về mặt thời gian: Phạm vi nghiên cứu của luận án là giai đoạn 1865 –
1918 Mốc mở đầu của luận án là từ sau cuộc Nội chiến kết thúc (1865) Mốc kết thúc của luận án là năm 1918 khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, với tư cách là nước thắng trận, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ bước sang một trang mới Tuy nhiên, trong một vài trường hợp cụ thể, luận án có thể kéo lùi về trước hoặc sau thời gian được xác định để có cái nhìn logic và hợp lý hơn
Về vấn đề nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu quá trình hoạch
định, thực thi và kết quả của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ nhằm khống chế
Mỹ Latinh (Cuba, Puerto Rico, Mexico…), mở rộng ảnh hưởng ở châu Á (Nhật Bản, Philippines, Trung Quốc, Thái Lan,…) cũng như những can dự của Mỹ ở châu Âu khi giải quyết những vấn đề trong và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Tuy nhiên, chính sách đối ngoại của Mỹ trong giai đoạn 1865 – 1918 được triển khai rất rộng và phức tạp, trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu ở một số các chủ thể tiêu biểu như trên
Về tên gọi Hợp chúng quốc Mỹ hay Hoa Kỳ:
Ở Việt Nam từ trước đến nay vẫn phổ biến cách gọi Mỹ, Hoa Kỳ hay đầy đủ hơn là Hợp chúng quốc Mỹ hoặc Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Cách gọi
Trang 6sau này là dựa vào cách dịch từ nước ngoài, mà ở đây, là từ Hán Việt để phần nào thể hiện Mỹ là một đất nước đa chủng tộc Tên gọi Hoa Kỳ có
nghĩa là “cờ hoa”, do đó một số người còn gọi nước Mỹ là “xứ cờ hoa”
Trong Hiệp định Paris ký vào năm 1973 nhằm lập lại hòa bình ở Việt Nam,
từ “Hợp chúng quốc Hoa Kỳ” đã được hai quốc gia chính thức sử dụng để
đề cập đến các vấn đề, nội dung của hiệp định Do vậy, trong luận án có lúc
chúng tôi dùng “Mỹ”, có lúc dùng “Hoa Kỳ” để chỉ tên gọi chính thức của
đất nước này và cả hai tên gọi đều có giá trị như nhau
4 Nguồn tài liệu
Tài liệu chính được sử dụng trong luận án này bao gồm:
- Các tư liệu gốc cung cấp những thông tin chính thức và độ tin cậy cao như các bài phát biểu, diễn văn, thông điệp liên bang của tổng thống Hoa Kỳ; hiệp ước ký kết giữa Mỹ với các nước; các công điện, thư từ của quan chức ngoại giao
- Các công trình chuyên khảo của một số quan chức trực tiếp tham gia vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại Mỹ như G Kennan, Samuel Flagg Bemis, Jerald A.Comb…
- Các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước có giá trị tham khảo về nội dung thông tin, quan điểm đánh giá và cách tiếp cận liên quan đến chủ đề của luận án
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở quán triệt chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin Đây là nền tảng để xử
lý các nguồn tư liệu nhằm phân tích, đánh giá các vấn đề cốt yếu trong chính sách đối với các chủ thể mà Hoa Kỳ quan tâm trong giai đoạn đặt ra của luận án Theo đó, phương pháp luận này được vận dụng để xem xét, nhìn nhận sự vận động, phát triển chính sách đối ngoại Mỹ trong hơn 50 năm sau Nội chiến
5.2 Phương pháp nghiên cứu
“Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ từ sau Nội chiến đến kết thúc Chiến
tranh thế giới thứ nhất (1865 – 1918)” là một đề tài lịch sử, do vậy các
phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phương pháp logic là những phương pháp căn bản được sử dụng trong luận án Bằng phương pháp lịch sử, luận án sẽ tái hiện chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ giai đoạn 1865 – 1918 theo trình tự thời gian với những nội hàm cụ thể của
nó Với phương pháp logic, luận án sẽ hệ thống hóa những giai đoạn phát triển cũng như lý giải căn nguyên chi phối chính sách của Mỹ đối với từng chủ thể
Trang 7Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu liên ngành trong nghiên cứu quốc tế như phân tích tổng thể và toàn cục nội dung và sự kiện, phân tích so sánh, hệ thống hóa, … cũng được vận dụng trong luận án Việc kết hợp các phương pháp nêu trên cho phép xem xét quá trình định hình và thực hiện chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ giai đoạn 1865 – 1918 như một cấu trúc gồm nhiều thành tố cấu thành Điều đó giúp chúng ta nhận thức được cội nguồn, đặc điểm, tác động của chính sách đối ngoại mà Hoa Kỳ thực thi đối với các chủ thể liên quan trong giai đoạn nghiên cứu của luận án
Thứ hai, luận giải những căn nguyên, mục đích, nội dung và tác động của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ trong giai đoạn nghiên cứu Từ đó, rút ra những đặc điểm cơ bản, góp phần nhận thức một cách chân xác, sâu sắc hơn
về nền ngoại giao Hoa Kỳ trong lịch sử
Thứ ba, đóng góp vào việc tìm hiểu về lịch sử của một số nước, nhất là các nước Mỹ Latinh – khu vực vẫn còn xa lạ với giới nghiên cứu sử học ở Việt Nam
Thứ tư, góp phần vào việc nghiên cứu về lịch sử Mỹ nói chung, lịch sử quan hệ quốc tế của Mỹ nói riêng, do vậy, luận án là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cùng những ai quan tâm đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong lịch sử
6.2 Về mặt thực tiễn
Thứ nhất, trên cơ sở nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ giai đoạn 1865 – 1918, luận án nêu lên một số nhận thức cần thiết về nền ngoại giao cũng như những phương cách ngoại giao mà Hoa Kỳ đã áp dụng để vươn tới địa vị quyền lực thế giới trong giai đoạn trên
Thứ hai, từ những kinh nghiệm lịch sử trong quá trình tiếp nhận chính sách đối ngoại Mỹ của các nước, luận án sẽ là những hàm ý cần thiết cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Hoa Kỳ Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh Việt Nam và Hoa Kỳ đã xây dựng được mối quan hệ đối tác toàn diện, những kinh nghiệm lịch sử vẫn luôn cần thiết cho mối quan hệ không phải lúc nào cũng hài hòa về lợi ích giữa hai nước
7 Bố cục của luận án
Trang 8Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận án bao gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ từ sau Nội chiến đến kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1865 – 1918) Chương 3 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với một số khu vực tiêu biểu thời kỳ 1865 – 1918
Chương 4 Một số nhận xét về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ thời
kỳ 1865 - 1918
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Thực trạng nghiên cứu vấn đề khoa học ở trong nước
1.1.1 Giai đoạn trước năm 1975
Từ lâu, các nhà sử học Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu về Hoa Kỳ
Từ trước năm 1975, ở miền Bắc, việc nghiên cứu về Hoa Kỳ và chính sách đối ngoại của nước này đã phần nào được chú ý Sớm nhất có thể là công
trình “Châu Mỹ Latinh đấu tranh cho độc lập dân tộc và dân chủ” của Hà
Tá (1961) Thông qua việc mô tả cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và dân chủ của các nước Mỹ Latinh, cuốn sách đã chỉ ra sự can thiệp của Mỹ vào
Mỹ Latinh Tiếp theo là các bài báo như“Chính sách nô dịch của đế quốc
Mỹ và sự phá sản của nó ở Mỹ Latinh” (1962) của Võ Văn Nhung; “Quá trình xâm lược của Mỹ vào Cuba từ hơn một thế kỷ nay” (1963) của Văn
Lạc; “Nhìn lại con đường xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Mỹ trong thời kỳ
lịch sử cận đại” (1966), “Một trăm năm đấu tranh vì độc lập tự do của nhân dân Cuba anh hùng” (1968) của Phạm Xuân Nam; “Bước đầu xâm nhập của Mỹ vào Đông Nam Á” (1969) của Vũ Dương Ninh… Các bài viết kể
trên đã phần nào đề cập đến quá trình xâm nhập, xâm lược của Mỹ vào các khu vực trên thế giới như Đông Nam Á, Mỹ Latinh với Cuba là đối tượng đầu tiên
Ở miền Nam việc nghiên cứu về Hoa Kỳ và chính sách đối ngoại Mỹ cũng được quan tâm Nhiều công trình về Hoa Kỳ đã được tiến hành dịch
thuật như “Những tài liệu căn bản về lịch sử Mỹ” (1969) của Richard Morris; “Lịch sử Mỹ” (1972) của Franck L Schoell Hai công trình này đã
tập trung trình bày lịch sử phát triển của Hoa Kỳ từ khi C Columbus phát hiện ra châu Mỹ đến những năm 50 của thế kỷ XX Một số vấn đề về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ cũng được ít nhiều nhắc đến
Đồng thời, trong thời kỳ này cũng xuất hiện một số công trình chuyên
khảo về chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Mỹ như “Hội nghị Tê
Trang 9hê ran (28-11-1942 – 1-12-1943” (1962); “Châu Mỹ Latinh giữa gấu và diều hâu” (1969) của Đỗ Vũ; “Lịch sử chính trị và bang giao quốc tế” (2
tập, 1972) của Hoàng Ngọc Thành Công trình này điểm qua tình hình chính trị và mối bang giao giữa các cường quốc giai đoạn 1818 – 1939, nguyên nhân Chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình thế giới sau năm 1945, sự thay đổi về chính trị ở phương Tây và phương Đông và sự tranh chấp giữa hai siêu cường Hoa Kỳ, Liên Xô Tuy nhiên, những nội dung luận án cần lại nằm ở khoảng thời gian trước của công trình này
1.1.2 Giai đoạn sau năm 1975
Sau khi đất nước thống nhất, nhất là sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ (1995), việc nghiên cứu về lịch sử nói chung, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ nói riêng được chú ý nhiều hơn cả về phạm vi và vấn đề nghiên cứu Do vậy, nhiều công trình nghiên cứu và dịch thuật đã được công bố.… Tựu chung lại, có thể chia các công trình này thành ba nhóm như sau:
Trong nhóm thứ nhất, các công trình nghiên cứu mang tính tổng thể
về Mỹ hoặc giành một phần dung lượng đáng kể để bàn về Hoa Kỳ như
“Lịch sử nước Mỹ” (1994) của Lê Minh Đức - Nguyễn Nghị; “Lịch sử thế giới cận đại” (1998) của Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, “Lược sử nước Mỹ” (2000) của Vương Kính Chi; “Một số chuyên đề lịch sử thế giới (tập II)” (2006) của Vũ Dương Ninh và Nguyễn Văn Kim (cb);“Liên bang
Mỹ, đặc điểm văn hóa xã hội” (2005) của Nguyễn Thái Yên Hương; “Hồ sơ văn hóa Mỹ” (2006) của Hữu Ngọc; “Các vấn đề nghiên cứu về Hoa Kỳ”
(2011) của Nguyễn Thái Yên Hương, Đỗ Minh Tuấn (Cb) Trong các công trình kể trên, phần nói về chính sách đối ngoại của Mỹ không nhiều và vẫn đang còn ở dạng khái quát, song đã cung cấp những kiến thức phong phú về nhiều mặt của đất nước Hoa Kỳ, qua đó trang bị cho người đọc một cái nhìn
tổng thể về vấn đề mà luận án đặt ra Đặc biệt, công trình “Các vấn đề
nghiên cứu về Hoa Kỳ” đã tập hợp 61 bài viết của nhiều tác giả khác nhau
và được phân chia theo 4 chương Riêng chương về chính sách đối ngoại
của Hoa Kỳ với 18 bài viết, đáng chú ý là nhóm bài: “Ý nghĩa của lobby đối
với chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ” (Bùi Phương Lan), “Vấn đề nhân quyền trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ” (Tạ Minh Tuấn), “Chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ sau Chiến tranh lạnh” (Nguyễn Vũ Tùng),…
Những bài viết này đã phần nào mổ xẻ những khía cạnh cũng như những chính sách cụ thể trong đối ngoại của Hoa Kỳ Tuy nhiên, đặc điểm chung của các công trình kể trên là không hoặc đề cập một cách hạn chế về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ giai đoạn 1865 – 1918, trái lại tập trung nhiều vào một thời kỳ lịch sử khác – thời kỳ sau Chiến tranh lạnh
Trang 10Trong nhóm thứ hai, gồm các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Mỹ trong tổng thể các mối quan hệ quốc tế trên thế giới Có
thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: “Lịch sử quan hệ quốc tế (1917
– 1945)” (2002) của Lê Văn Quang; “Lịch sử quan hệ quốc tế từ đầu thời Cận đại đến kết thúc Thế chiến II”, (2005) Vũ Dương Ninh (Cb); “Lịch sử quan hệ quốc tế - tập 1” (2005) Vũ Dương Ninh (Cb) và Phạm Văn Ban,
Nguyễn Văn Tận; “Can thiệp nhân đạo trong chính sách đối ngoại của Mỹ” (2005) của Nguyễn Thái Yên Hương (Cb), “Góp phần tìm hiểu lịch sử quan
hệ Việt Nam – Hoa Kỳ” (2006) của Phạm Xanh, “Giáo trình Quan hệ quốc
tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương” (2014) của Phạm Quang Minh
Nhìn chung, các công trình kể trên đã dành một phần dung lượng trong tổng thể chung để nói về chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Hoa Kỳ trong thời kỳ gần đây mà ít có những khảo cứu về giai đoạn mà luận án đề cập
Đề cập đến chính sách đối ngoại và quan hệ giữa Mỹ với các nước trên thế giới cũng là nội dung được các tác giả quan tâm trong công trình đăng
tải trên các tạp chí chuyên ngành Có thể nêu một số bài viết tiêu biểu như:
“Franklin D.Roosevelt và Chiến tranh thế giới thứ II (1939 – 1945) (1995)
của Nguyễn Quốc Hùng, đề cập đến chính sách của Mỹ dưới thời Tổng
thống F.Roosevelt trong Chiến tranh thế giới thứ hai; “Cuộc chiến tranh
Philippin – Mỹ 1899 – 1903” (1998) của Cao Minh Chơng đã điểm lại
những nét chính của cuộc chiến tranh ở Philippines cũng như những dính líu
của người Mỹ vào đất nước này Các bài viết “Các luận điểm và biểu hiện
của Học thuyết sứ mệnh bành trướng trong chính sách đối ngọai của Hoa Kỳ” (2008) của Nguyễn Lan Hương, “Những cơ sở phát triển chủ nghĩa quốc gia – dân tộc Mỹ từ sau Nội chiến đến trước Chiến tranh thế giới lần I” (2010) của Nguyễn Ngọc Dung đã chỉ ra những cơ sở, xu hướng, luận
điểm và biểu hiện của chủ nghĩa biệt lệ, chủ nghĩa bành trướng…trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ Đây là hai khuynh hướng cho sự lựa chọn chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong lịch sử
Trong nhóm thứ ba, bao gồm những công trình đề cập đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ qua các giai đoạn hoặc các chủ thể khác nhau, như “Chính sách đối ngoại của Mỹ giai đoạn 1865 - 1904” (2007)
của Trần Thiện Thanh; “Những chuyển biến trong quan hệ đối ngoại của
Hoa Kỳ giai đoạn 1870 – 1900” (2008) của Nguyễn Ngọc Dung; “Nhật Bản trong chính sách đối ngoại của Mỹ trước năm 1905” (2009) của Trần Thiện
Thanh đã khảo cứu về những chính sách cụ thể cũng như những chuyển biến của nền ngoại giao Hoa Kỳ thời kỳ sau Nội chiến cho đến những năm đầu
thế kỷ XX Trong bài “Vai trò của Mỹ ở khu vực Mỹ Latinh” (2005), tác giả
Trang 11Đỗ Minh Tuấn đã chỉ ra những vai trò nổi bật của Mỹ ở khu vực Mỹ Latinh
– nơi được xem là “sân sau” của Hoa Kỳ Đối với khu vực châu Á, tác giả
Nguyễn Văn Tận đã có những kiến giải về chính sách của Mỹ đối với Nhật
Bản, Philippines, Trung Quốc trong bài “Nhìn lại chính sách châu Á của Mỹ
từ nửa sau những năm 50 của thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX” (2007)
Ngoài ra, vấn đề chính sách đối ngoại Mỹ cũng được đề cập trong luận
văn thạc sĩ “Châu Mỹ Latinh và chính sách của Mỹ trong thời lịch sử cận
đại” (1983) của Hoàng Thị Điệp và các luận án tiến sĩ “Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Nhật Bản trong nửa đầu thế kỷ XX” (2008) của Trần
Thiện Thanh, “Chính sách của Mỹ đối với các cường quốc châu Âu trong
việc mở rộng lãnh thổ (1787 – 1861)” của Lê Thành Nam Đây là ba công
trình nghiên cứu công phu nhưng lại chỉ tập trung vào một khu vực cụ thể (Mỹ Latinh), hoặc một đối tượng cụ thể duy nhất là Nhật Bản trong nửa đầu thế kỷ XX hay nghiêng về việc nghiên cứu chính sách của Mỹ đối với các cường quốc châu Âu trong việc mở rộng lãnh thổ trước năm 1861
Như vậy, có thể nhận thấy rằng, trong thời gian gần đây ở Việt Nam đã
có khá nhiều các công trình nghiên về Hoa Kỳ nói chung và chính sách đối ngoại cũng như quan hệ quốc tế nói riêng Tuy nhiên, hầu như chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong giai đoạn từ sau Nội chiến đến kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1865 – 1918)
1.2 Thực trạng nghiên cứu vấn đề khoa học ở nước ngoài
Có thể khẳng định rằng, việc nghiên cứu về Mỹ nói chung, chính sách đối ngoại của Mỹ nói riêng từ lâu đã được giới chính trị và các học giả nước ngoài quan tâm, với cái nhìn đa diện và hệ thống Trong phạm vi những công trình và tài liệu có thể tiếp cận được, chúng ta dễ dàng nhận thấy có hai mảng đề tài được quan tâm chính yếu:
Thứ nhất – nghiên cứu các vấn đề khác nhau của lịch sử Hoa Kỳ
Đáng chú ý là các công trình nghiên cứu tổng quan, khái quát về lịch sử các mặt của Hoa Kỳ đã được dịch sang tiếng Việt và xuất bản tại Việt Nam như:
“Những tài liệu căn bản về lịch sử Mỹ” (1969) của Richard B Morris, “Lịch
sử Hoa Kỳ” (1970) của France L.Schoell ; “Khái quát về lịch sử nước Mỹ”,
của Howard Cincotta, Bản dịch (lưu tại Đại sứ quán Hoa Kỳ); ;“42 đời tổng
thống Hoa Kỳ” (1995) của W.A.Degregorio; “Văn minh Hoa Kỳ” (1998)
của Jean Prierre Fichou; “Lịch sử mới của nước Mỹ” (2003) của Eric Foner;
“Lịch sử Hoa Kỳ - Những vấn đề quá khứ” (2009) của Irwin Unger; “Lịch
sử dân tộc Mỹ” (2010) của Howard Zinn… Các công trình kể trên có đặc
điểm chung là phạm vi nghiên cứu rộng cả về không gian lẫn thời gian Nội dung nghiên cứu chủ yếu là các mặt về lịch sử Mỹ qua các thời kỳ Phần về
Trang 12chính sách đối ngoại chung lẫn chính sách của Mỹ đối với từng nước, từng khu vực cụ thể chỉ được đề cập ở một mức độ nhất định Trong số những
công trình được đề cập ở trên, đáng chú ý là cuốn “Lịch sử Hoa Kỳ - những
vấn đề quá khứ”của Irwin Unger Irwin Unger đã phục dựng lại lịch sử Hoa
Kỳ từ khởi thủy qua các thời kỳ thuộc địa, tiến tới độc lập, sự ra đời của Hiến pháp Mỹ, các đảng phái, các thành tựu kinh tế của Hoa Kỳ, Nội chiến, Tái thiết, những dính líu của Mỹ trong hai cuộc chiến tranh thế giới và nước
Mỹ thời hiện đại… Về mặt đối ngoại, cuốn sách đã dành dung lượng vừa phải để nói về chủ nghĩa bành trướng, về đế quốc Mỹ
Đối với các công trình bằng nguyên bản tiếng Anh, lịch sử Mỹ cũng được rất nhiều học giả quan tâm, nhiều công trình đã được công bố, như
“The Frontier in American History” (1953) của Federick Jackson Turner
“The American Past: Conflicting Interpretations of the Great Issues”
(1965) của Sydney Fine và Gerald S Brown; “Main Problems in American
History – Volume I” (1968) và “Main Problems in American History – Volume II” (1968) của các tác giả Howard H Quint, Dean Albertson,
Mitton Cantor; “Woodrow Wilson” (1969) của Arthur Walworth; “The
American Civil War”(1975) của Peter J Parish; “Our Country: Its Possible Future and Its Present Crisis” (1985) của Josiah Strong; “An Outline of American History” (1994); “America’s History” (2004) của James A
Henretta, David Brody, Lynn Dumenil, Susan Ware; “Battle History of The
United States Marine Corps, 1775 – 1945” (2010) của George B.Clark Các
công trình này đề cập lịch sử Mỹ trong phạm vi rộng cả về đối tượng lẫn thời gian và không gian, trong đó, phần về chính sách đối ngoại và các hoạt động đối ngoại chỉ chiếm một phần rất nhỏ và mang tính khái lược trong tổng thể chung của từng công trình
Thứ hai – nghiên cứu về chính sách đối ngoại và quan hệ giữa Hoa
Kỳ với các chủ thể liên quan cũng đã được giới học giả quan tâm Nhiều
công trình trong số đó đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam, có thể nêu
một số công trình tiêu biểu như “Chính sách đối ngoại của Mỹ”(1961) của học giả người Nga N.I.Nozemsew; “Những vấn đề trung tâm trong đường
lối đối ngoại của Mỹ” (1997) của Henry Kissinger; “Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ - Động cơ lựa chọn trong thế kỷ XXI” (2004), của Bruce
W.Jentleson Hai cuốn sách này chứa đựng nhiều tư liệu giá trị về những trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ cũng như những lựa chọn
về mặt đối ngoại trong thế kỷ mới – thế kỷ XXI Công trình của tác giả
người Trung Quốc Lý Thắng Khải “Nội tình 200 năm Nhà Trắng” (2004)
đã khảo cứu lịch sử Mỹ từ buổi bình minh cho đến đầu thế kỷ XXI với sự kiện 11/9/2001 Trong đó, nhiều vấn đề về mặt đối ngoại đã được tác giả
Trang 13nhắc đến như việc nước Mỹ bắt đầu can thiệp vào công việc thế giới thông
qua cuộc chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha (1898), chính sách “Mở cửa” ở Trung Quốc, “dụ dỗ” và “cưỡng ép” để xây dựng và độc chiếm kênh đào
Panama…
Đối với các công trình nguyên bản tiếng Anh, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đã được đề cập một cách phong phú và đa dạng hơn, xin nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Năm 1942, Samuel Flagg Bemis công bố cuốn “A Diplomacy history of
the United States” với hơn 900 trang nói về lịch sử ngoại giao Hoa Kỳ qua
ba giai đoạn: sau ngày lập quốc, thời kỳ bành trướng và trong thế kỷ XX Trong đó, tác giả đã đề cập đến những hoạt động ngoại giao của Hoa Kỳ từ khi tiến hành liên minh với Pháp (1775 – 1778), học thuyết Monroe (1823), Chiến tranh với Mexico, những hòa giải giữa Mỹ và Anh, chiến tranh với
Tây Ban Nha, chính sách “Mở cửa” Trung Quốc… Theo đó, tác giả cho
rằng, Hoa Kỳ đã không phạm phải một sai lầm nghiêm trọng nào về mặt ngoại giao trong giai đoạn 1775 – 1898 Công thức thành công của nền ngoại giao Hoa Kỳ trong thời kỳ này là dựa vào những lợi thế hoàn toàn biệt lập và xa châu Âu để cạnh tranh với các nước ở cựu lục địa trong bối cảnh các cường quốc này gặp khó khăn Nói cách khác, Hoa Kỳ không cần phải
có nhiều tính toán có chủ ý, miễn sao mục tiêu của chính sách đối ngoại phù hợp với tầm nhìn của giới tinh hoa cũng như lợi ích của người Mỹ Sau khi hiện thực hóa những mục tiêu cơ bản trong chính sách đối ngoại, nước Mỹ bước vào một giai đoạn mới với tư cách là một cường quốc thế giới Với vị thế đó, từ sau năm 1898, Hoa Kỳ đóng vai trò ngày càng lớn hơn trong nền chính trị thế giới với những can dự rộng khắp ở Philippines, Nhật Bản, Trung Quốc và trước đó là ở Mỹ Latinh
Công trình “American Diplomacy 1900 – 1950” (1951) của George
F.Kennan là một chuyên khảo riêng về nền ngoại giao của nước Mỹ trong nửa đầu thế kỷ XX, được tái bản có bổ sung, sửa chữa vào năm 1984 với tên
gọi “American Diplomacy” Dưới góc nhìn của một học giả và là quan chức
ngoại giao, G.F.Kennan đã phân tích chính sách đối ngoại của Mỹ trong cuộc chiến với Tây Ban Nha, chính sách Mở cửa (Open Door), nước Mỹ với phương Đông, nước Mỹ với các cuộc chiến tranh thế giới và nền ngoại giao của Mỹ trong thế giới hiện đại Mặc dù có những khác biệt về quan điểm và nhận định, song những thông tin trong công trình này là nguồn tư liệu quan trọng, gợi mở cho luận án nhiều vấn đề trong nghiên cứu về ngoại giao của Hoa Kỳ
Cụm công trình “The History of American Foreign Policy” (1986) của Jerald A.Comb; “Race, Federalism and Diplomacy: The Gentlemen’s
Trang 14Agreement A Century Later” (2009) của Paul Finkelman; “The Pan – American Trademark Convention of 1929: A Bold Vision of Extraterritorial Meets Current Realities” (2013) của Christine H Farley cũng ít nhiều đề
cập đến chính sách đối ngoại Hoa Kỳ qua các giai đoạn
Tập trung nghiên cứu về từng mối quan hệ cụ thể giữa Mỹ với các nước
trên thế giới là nội dung được quan tâm trong một số các công trình như: “Thai
– American Relations” (1982) của Hans H.Indorf; “The Banana war: United States Intervention in the Caribbean, 1898 – 1934” (1983) của
Lester.D.Langley; “United States – China Normalization: An Evaluation of
Foreign Policy Decision Making” (1986) của Jaw – Ling Joanne Chang; “The United States and Viet Nam 1787 – 1941” (1990) của Robert Hopkins Miller;…
1.3 Những tồn tại và vấn đề đặt ra cho luận án
Qua việc trình bày tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể nhận thấy những tồn tại và vấn đề đặt ra cho luận án, cụ thể như sau:
Thứ nhất, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ thời kỳ 1865 – 1918 đã được
giới nghiên cứu tại Mỹ và các nước khác quan tâm và đã đạt được nhiều kết quả Tuy nhiên, đa phần trong số đó thiên về việc nghiên cứu một cách khái quát, tổng thể chính sách đối ngoại qua nhiều giai đoạn lịch sử chứ chưa đề cập nhiều đến thời kỳ 1865 – 1918 với tư cách là một đối tượng riêng biệt
Thứ hai, những công trình nghiên cứu ở nước ngoài mặc dù rất phong phú,
song là ấn phẩm của nước ngoài, do đó nó phản ánh quan điểm, cách thể hiện và cách đánh giá của giới nghiên cứu ở các nước đó Vì vậy, việc kế thừa đòi hỏi phải có sự phê phán và chọn lọc nhằm đảm bảo độ tin cậy và khách quan trong nhìn nhận, đánh giá vấn đề
Thứ ba, vấn đề chính sách đối ngoại của Mỹ đã được các nhà nghiên cứu ở
Việt Nam quan tâm, chú ý trong những năm gần đây Do vậy, số lượng công trình nghiên cứu ngày càng nhiều và toàn diện hơn về mặt nội dung Tuy nhiên, vấn đề chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ thời kỳ1865 – 1918 vẫn chưa được một công trình chuyên khảo nào đề cập đến một cách đầy đủ và toàn diện
Thứ tư, phản ánh chính sách đối ngoại của Mỹ trong thời kỳ 1865 – 1918
được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm, song vẫn chưa đánh giá một cách
có hệ thống về chính sách đối ngoại của Mỹ cũng như tác động của chính sách này đến Mỹ và đến các nước chịu sự chi phối chính sách từ Mỹ Đây là một vấn
đề nữa đặt ra cho luận án và cần được nghiên cứu một cách thỏa đáng hơn
Do vậy, kế thừa có chọn lọc những thành quả nghiên cứu của các học giả đi trước, đây là nguồn tư liệu hết sức quan trọng, là sự thuận lợi lớn tạo cơ sở cho việc tái hiện chính sách đối ngoại của Mỹ thời kỳ 1865 – 1918 cũng như rút ra những nhận định, đánh giá về vấn đề đặt ra, góp phần vào việc nghiên cứu đề tài chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 2
CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA
KỲ TỪ SAU NỘI CHIẾN ĐẾN KẾT THÚC CHIẾN TRANH
THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1865 – 1918) 2.1 Khái quát quá trình hình thành Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
Hoa Kỳ hay Mỹ (tên chính thức: Hợp chúng quốc Mỹ) chính thức ra đời sau khi Đại hội thuộc địa lần II thông qua bản Tuyên ngôn độc lập ngày 4/7/1776 Sau khi tuyên bố lập quốc, nhân dân Mỹ đã phải tiến hành đấu tranh giành độc lập quyết liệt và gian khổ, cuối cùng kết thúc kết thúc thắng lợi bằng chiến thắng Yorktown(1781) Đến ngày 3/9/1783, Anh buộc phải
ký Hòa ước Paris, công nhận nền độc lập của 13 bang thuộc địa Bắc Mỹ Từ đây, nước Mỹ từng bước phát triển thành một quốc gia hùng mạnh, can dự ngày một sâu rộng vào các vấn đề quốc tế trong các thế kỷ tiếp theo
2.2 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trước năm 1865
2.2.1 Giai đoạn 1776 – 1823
Trong giai đoạn này, mặc dù luôn đề cao chính sách trung lập, không liên minh với một bất cứ quốc gia nào song Hoa Kỳ luôn vận dụng tài tình tính
“trung lập” nhằm phục vụ tốt nhất cho lợi ích quốc gia Điều này được thể
hiện rõ ràng trong việc mở rộng lãnh thổ (thương vụ Louisiana vào năm 1803, Florida và Oregon vào năm 1819) và giành lấy những mối lợi lớn trong thương mại, phát triển các đội thương thuyền khi Anh và Pháp tranh giành nhau vị trí bá quyền trên lục địa và trên biển vào những năm đầu thế kỷ XIX
2.2.2 Giai đoạn 1823 – 1864
Trong giai đoạn này, bên cạnh việc mở rộng lãnh thổ (sáp nhập Texas năm 1845, gây chiến với Mexico và thu về 1,36 triệu km2
bao gồmmột phần hoặc toàn bộ các bang California, Nevada, Utah, Wyoming, Colorado, New Mexico và Arizona), điểm nhấn đặc biệt trong chính sách đối ngoại của Hoa
Kỳ chính là tuyên bố và thực thi Học thuyết Monroe vào tháng 12/1823 Lúc
đầu, nó là một học thuyết mang tính phòng vệ, với khẩu hiệu “châu Mỹ của
người châu Mỹ” nhưng dần biến thành “châu Mỹ của người Mỹ”, là công
cụ chính trị xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực
Mỹ Latinh Với học thuyết này, Hoa Kỳ đã có cơ sở để thực thi chính sách can thiệp trực tiếp ở khu vực Mỹ Latinh, thể hiện qua những sự kiện như đem quân chiếm đóng Puerto Rico (1825); buộc Colombia ký hiệp ước cho phép Mỹ được hưởng nhiều quyền lợi thương mại, quyền tự do vận chuyển
và đặt đường sắt xe lửa qua qua eo đất Panama (1846)…
2.3 Bối cảnh quốc tế nửa sau thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX
Những biến động của thế giới trong giai đoạn 1865 - 1918 đã tác động mạnh mẽ tới chính sách và chiến lược đối ngoại của Hoa Kỳ đối với các khu
Trang 16vực xung quanh mà trước hết là ở Mỹ Latinh và châu Á, đó là: sự chuyển biến của các nước tư bản chủ nghĩa sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa; sự suy giảm về nhịp độ phát triển công nghiệp của các nước Anh, Pháp; sự thống nhất và lớn mạnh của các nước Đức, Ý, Nhật; các nước Mỹ Latinh giành được độc lập nhưng phải đối mặt với muôn vàn khó khăn… Những biến động quan trọng ấy đã đưa đến thách thức cũng như cơ hội cho Hoa Kỳ
để có thể thực thi chính sách bành trướng, mở rộng ảnh hưởng ra bên ngoài
2.4 Cơ sở nội tại tác động đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ thời kỳ 1865 - 1918
2.4.1 Cơ sở kinh tế
Sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của nền kinh tế sau cuộc Nội chiến, đặc biệt là từ sau cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha (1898) cùng với một loạt hệ quả khác như sự ra đời và phát triển của các trust, các tập đoàn tài phiệt, liên hiệp độc quyền công nghiệp với nguồn vốn xuất khẩu tư bản khổng lồ đã đưa Hoa Kỳ trở thành một cường quốc quan tâm nhiều hơn tới công việc của thế giới, không chỉ bó hẹp trong phạm vi khu vực Mỹ Latinh
mà còn vươn đến khu vực châu Á Điều này đã thúc đẩy chính giới Mỹ phải tìm kiếm thị trường rộng lớn hơn cho nền sản xuất công nghiệp ngày càng tăng của Hoa Kỳ
2.4.2 Cơ sở tư tưởng xã hội
Khi lý giải cho chủ nghĩa bành trướng Hoa Kỳ trong giai đoạn cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến rất nhiều học
thuyết, tư tưởng Trước hết là thuyết “Bành trướng do định mệnh” hay
“Định mệnh hiển nhiên” (Manifest Destiny) của John O’Sullivan, được đưa
ra lần đầu tiên vào năm 1845 để ủng hộ việc sát nhập Texas vào Liên bang Hoa Kỳ Kể từ đó, học thuyết này luôn có tác động mạnh mẽ tới chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Năm 1890, cuốn “Ảnh hưởng của sức mạnh biển cả đến lịch sử” của Đô
đốc hải quân T.Mahan được xuất bản, trở thành một trong những tư tưởng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc phát triển và tăng cường sức mạnh hải quân của
Mỹ và nhiều nước trên thế giới Những tư tưởng của Mahan đã tạo ra một
quan điểm mới ở Hoa Kỳ, thường được gọi là quan điểm “thực lực” khi cho
rằng phải phát triển mạnh mẽ hải quân để làm chủ đại dương không chỉ là tấm bình phong để bảo vệ đất nước mà còn là cơ hội hết sức to lớn để bành trướng
và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình ra khắp thế giới Quan điểm này đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới giới lãnh đạo Mỹ trong giai đoạn này
Ngoài ra, Luận thuyết Darwin xã hội, Học thuyết Biên cương… đã có những thúc đẩy không nhỏ đến việc thực thi chính sách đối ngoại của Hoa
Kỳ trong giai đoạn 1865 – 1918
Trang 172.4.3 Cơ sở chính trị
Sau cuộc Nội chiến, thể chế nhà nước liên bang đã được kiện toàn và sắp đặt quyền lực lên toàn bộ lãnh thổ rộng lớn, củng cố sự thống nhất của đất nước Hoa Kỳ đã không còn nhiều lo lắng cho nội tại mà tập trung sức mạnh để mở rộng ảnh hưởng ra xung quanh Thêm vào đó, sự hợp pháp hóa quyền công dân của những nô lệ da đen đã đem lại một bầu không khí dân chủ, tạo ra những điều kiện thuận lợi để nước Mỹ phát triển kinh tế mạnh
mẽ, nhanh chóng vươn lên trở thành một trong những cường quốc hàng đầu, bước đầu thực thi chính sách bành trướng ra bên ngoài của mình
CHƯƠNG 3
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MỘT SỐ KHU VỰC TIÊU BIỂU THỜI KỲ 1865 – 1918 3.1 Khái quát chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ thời kỳ 1865 – 1918
Trên cơ sở sự phát triển kinh tế công nghiệp mạnh mẽ sau Nội chiến kết hợp với sự thúc ép của các nhân tố tư tưởng trong lòng xã hội, sự thống nhất
về chủ trương chính trị của tầng lớp lãnh đạo, Hoa Kỳ đã bắt đầu có những điều chỉnh chính sách nhằm gia tăng sự ảnh hưởng, quyền lực, vị thế ở các khu vực xung quanh Điểm nổi bật của chính sách đối ngoại Mỹ thời kỳ này chính là từng bước khống chế Mỹ Latinh trong phạm vi ảnh hưởng của Mỹ, thực thi các biện pháp nhằm tìm kiếm lợi ích thương mại lẫn lãnh thổ ở châu
Á khi có điều kiện cũng như can dự vào châu Âu nhằm phá vỡ trật tự thế giới cũ để Mỹ có thể thực hiện tham vọng lãnh đạo thế giới của mình
3.2 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với khu vực Mỹ Latinh 3.2.1 Giai đoạn 1865 – 1898
3.2.1.1 Mở rộng và khẳng định ảnh hưởng ở khu vực Mỹ Latinh
Chính sách của Hoa Kỳ đối với Mỹ Latinh trong thời kỳ này xuay quanh hai vấn đề chính: (1) ép Pháp rút quân đội ra khỏi Mexico năm 1867, ngăn chặn âm mưu của Pháp trong việc biến Mexico thành thuộc địa lâu dài của Pháp ; (2) tiến hành chiến tranh với Tây Ban Nha vào năm 1898 và giành lấy những thuộc địa cuối cùng (Cuba, Puerto Rico và cả Philippines) của nước này tại châu Mỹ Cuộc chiến này đã đưa Hoa Kỳ trở thành một những cường quốc hàng đầu thế giới và trở thành nước thực dân Hơn thế,
Hoa Kỳ đã thực sự trở thành “bá chủ” ở Mỹ Latinh
3.2.1.2 Khống chế Mỹ Latinh bằng Liên minh Pan – Mỹ
Năm 1890, tại Hội nghị Quốc tế các Quốc gia châu Mỹ kỳ I tổ chức ở Washington D.C, Liên hiệp Quốc tế các Cộng hòa châu Mỹ (gọi tắt là Liên minh Pan – Mỹ) chính thức được thành lập Ngoài yếu tố tích cực là tạo ra môi trường hợp tác giữa các nước Mỹ Latinh thì Liên minh Pan – Mỹ (thành
Trang 18lập vào năm 1910) còn là công cụ để Mỹ có thể nắm chặt khu vực mang tính sống còn này
3.2.2 Giai đoạn 1898 – 1918
3.2.2.1 Thực thi Tu chính án Platt đối với Cuba
Sau khi giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha (1898), Hoa Kỳ biến Cuba trở thành thuộc địa kiểu mới sau khi Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Tu chính án Platt (1901) gắn vào Hiến pháp Cuba Trong những
năm sau đó, mặc dù “thừa nhận” sự độc lập của Cuba song Hoa Kỳ đã
nhiều lần đem quân chiếm đóng quốc đảo này (vào các năm 1906, 1910,
1917), buộc Cuba phải ký “Hiệp ước giữa Hợp chúng quốc và Cuba cho
việc thuê các đảo làm trạm tiếp than và căn cứ hải quân” vào năm 1903,
trong đó vịnh Guantanamo Ngoài ra, giới tư bản và ngân hàng Mỹ còn ồ ạt đầu tư vào những lĩnh vực chủ chốt trong nền kinh tế Cuba như mía đường, đường sắt…, làm cho Cuba ngày càng phụ thuộc chặt chẽ vào Mỹ
3.2.2.2 Chính sách “Cây gậy lớn” (Big Stick) và “Ngoại giao dollar” (Dollar Diplomacy)
Trong hai bức thông điệp hằng năm gửi Quốc hội (12/1904 và 12/1905), Tổng thống T Roosevelt khẳng định rằng, nghĩa vụ của Mỹ là
phải “chứng tỏ hiệu lực của Học thuyết Monroe và sẵn sàng can thiệp vào
bất cứ quốc gia Mỹ Latinh nào để nhằm mục đích duy trì sự ổn định” và
rằng “ở phần bán cầu Tây, sự trung thành tuyệt đối của Mỹ đối với Học
thuyết Monroe sẽ buộc Mỹ phải sử dụng đến quyền lực cảnh sát thế giới”
Đây chính là biện luận của Hoa Kỳ để đề ra chính sách “Cây gậy lớn” Trong những năm sau đó, Hoa Kỳ đã nhiều lần vung “Cây gậy lớn” để bảo
vệ những lợi ích ở Mỹ Latinh và một số khu vực khác trên thế giới trước nguy cơ các vùng đất này sẽ rơi vào tay của các cường quốc châu Âu, tiêu biểu có các sự kiện: vụ chuyển nhượng quyền xây dựng và quản lý kênh đào Panama (1903), can thiệp vào một loạt các nước ở khu vực Mỹ Latinh như Nicaragua, Cuba, Santo Domingo (Cộng hòa Dominica)…
Sau khi W.H.Taft lên làm Tổng thống, ông tiếp tục thực thi chính sách
“Cây gậy lớn” của người tiền nhiệm T.Roosevelt nhưng lại thay đổi bằng
một hình thức mềm dẻo và khôn khéo hơn, đó là chính sách “Ngoại giao
Dollar” nhằm mục đích bành trướng và mở rộng thị trường cho tư bản Mỹ
Chính sách này được Hoa Kỳ thực hiện ở nhiều quốc gia khu vực Mỹ Latinh như Honduras, Nicaragua, Haiti…
3.2.2.3 Chính sách can thiệp vào Mexico và Nicaragua
Trong hai thập niên đầu thế kỷ XX, Hoa Kỳ tiếp tục tăng cường vị thế của mình ở Mỹ Latinh bằng chính sách can thiệp thô bạo vào Mexico và
Nicaragua
Trang 19Quan hệ Mỹ - Mexico căng thẳng khi Tổng thống W.Wilson không công nhận chính phủ của Tổng thống Victoriano Hureta lên nắm quyền vào năm 1913 Mối quan hệ này trở nên xấu đi khi Mexico bắt giữ thủy thủ Mỹ đang đóng quân ở Tampico vào tháng 4/1914 Dù Mexico đã thả các thủy thủ
Mỹ ngay sau đó nhưng phía Mỹ buộc nước này phải bắn 21 phát đại bác chào quốc kỳ xem như một lời xin lỗi Chính quyền V.Hureta không chấp nhận vì điều này giống như một sự sỉ nhục Trước vụ việc này, Tổng thống Wilson đã
cử lính thủy đánh chiếm Vera Cruz Với sự can thiệp của ba nước là Brazil, Argentina và Chile, xung đột giữa hai bên đã dịu bớt xuống Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Mexico lại căng thẳng trở lại khi xảy ra sự kiện Đức gửi bức điện mật (Công hàm Zimmerman) cho Mexico nhằm lôi kéo nước này chống lại
Mỹ vào năm 1917
Tại Nicaragua, Hoa Kỳ đã giúp đỡ Đảng Bảo thủ tiến hành cuộc nổi loạn (Cuộc nổi loạn Estrada) vào tháng 12/1909 nhằm lật đổ chính phủ đương nhiệm do Đảng Tự do nắm quyền, xây dựng nên ở đây một chính phủ thân Mỹ nhằm phục vụ cho lợi ích của Hoa Kỳ, nhất là việc cho phép các công ty Mỹ được xây dựng và quản lý hệ thống đường sắt ở Nicaragua
3.3 Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ đối với một số nước ở châu Á 3.3.1 Đối với Nhật Bản
3.3.1.1 Giai đoạn 1865 – 1905
Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Nhật Bản giai đoạn này chủ yếu xoay quanh 3 cuộc chiến tranh mà Nhật Bản tiến hành với Đài Loan (1874), Trung Quốc (1894 – 1895), Nga (1904 – 1905) Mặc dù đứng bên ngoài hoặc tuyên bố trung lập nhưng thực chất Hoa Kỳ đã luôn ủng hộ và giúp đỡ Nhật Bản bằng nhiều hình thức khác nhau; sau khi các cuộc chiến tranh này kết thúc, Hoa Kỳ đã đóng vai trò trung gian hòa giải nhằm giành một số quyền lợi về thương mại, tối huệ quốc tại khu vực châu Á Đây thực
sự chẳng khác nào mối quan hệ cộng sinh, cùng có lợi giữa hai cường quốc trẻ trên thế giới đang tìm cách cân bằng quyền lực với các cường quốc khác
ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương thời bấy giờ
3.3.1.2 Giai đoạn 1905 – 1918
Trước sự lớn mạnh không ngừng của Nhật Bản sau thắng lợi từ những cuộc chiến tranh trước đó, Hoa Kỳ đã thực thi những chính sách, biện pháp nhằm kiềm chế sự bành trướng của Nhật Bản bằng việc cùng với Anh buộc
Nhật Bản phải mở cửa Mãn Châu; thông qua “Thỏa thuận giữa các quý
ông”( Gentlemen’s Agreement) vào năm 1907 nhằm hạn chế người Nhật
nhập cư vào Mỹ; thực hiện “Dự án Knox” để trung lập hóa đường sắt ở Mãn
Châu nhằm giảm bớt thế lực của Nhật Bản và Nga tại khu vực này…
3.3.2 Đối với Trung Quốc
Trang 20Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc giai đoạn 1865 –
1918 được thể hiện ở việc ép buộc Trung Quốc ký thêm Điều ước bổ sung cho
Hiệp ước Thiên Tân (1868) nhằm mở rộng thêm các cơ sở thương mại của
Hoa Kỳ ở Trung Quốc và đảm bảo các quyền tự do đi lại, sinh hoạt tôn giáo của người Mỹ sinh sống ở Trung Quốc; cùng phối hợp với Anh, Nhật Bản tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm các vùng biên giới phía Đông và Tây Nam Trung Quốc trong suốt hai thập niên 1870 và 1880 Đặc biệt, với việc
tuyên bố chính sách “Mở cửa” vào năm 1899, Hoa Kỳ đã giành được lợi ích
thương mại to lớn tại Trung Quốc trong bối cảnh đất nước này đang bị xâu xé
bởi các cường quốc thực dân châu Âu Việc thực thi chính sách “Mở cửa” đã
làm cho nhiều cường quốc có chỗ đứng ở Trung Quốc, nổi bật nhất là Anh phải có những động thái nhún nhường đối với Hoa Kỳ
3.3.3 Đối với Philippines và các nước Đông Nam Á khác
3.3.3.1 Đối với Philippines
Cuộc chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha kết thúc với việc ký kết Hiệp định Paris (10/12/1898), trong đó có điều khoản Tây Ban Nha phải nhượng lại Philippines cho Mỹ với giá 20 triệu USD Sau khi chiếm được Philippines từ tay Tây Ban Nha, Mỹ đã biến quốc đảo này thành thuộc địa kiểu mới bằng việc kiểm soát hệ thống chính quyền và quân đội của đất nước này Việc chiếm được Philippines sẽ là bàn đạp quan trọng (cùng với Hawaii và Guam) để Hoa Kỳ tiến sâu vào khu vực châu Á lục địa, đặc biệt là thị trường béo bở ở Trung Quốc
3.3.3.2 Đối với một số nước Đông Nam Á khác
* Với Thái Lan: Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Thái Lan trong
giai đoạn 1865 – 1918 khá bình lặng và êm ả, chỉ dừng lại ở việc Mỹ thiết lập quan hệ thương mại đối với Xiêm và một số hợp tác trên các lĩnh vực khác giữa hai nước, đặc biệt là về giáo dục và trao đổi văn hóa Đây cũng là
xu thế tất yếu đối với Hoa Kỳ khi vào thời điểm đầu thế kỷ XIX, thực dân Anh và Pháp đã tạo được cho mình chỗ đứng khá vững chắc ở Xiêm nói riêng và khu vực Đông Nam Á lục địa nói chung
* Với Việt Nam: Trong thời gian từ sau Nội chiến đến khi kết thúc
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1918), chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Việt Nam được thể hiện chủ yếu ở vai trò trung gian hòa giải của Mỹ đối với
sự đối đầu, căng thẳng giữa Pháp và triều đình Mãn Thanh xung quanh vấn
Trang 21bành trướng ra bên ngoài, trở thành đối thủ đáng gờm với Anh Về phía Anh, sự trỗi dậy mạnh mẽ của nước Đức và Nhật Bản vào nửa sau thế kỷ XIX đã khiến cho Anh không thể không cân nhắc những tranh chấp có liên quan tới Hoa Kỳ Kết quả là những vụ tranh chấp giữa Hoa Kỳ và Anh trong thời gian này đa phần đều được giải quyết bằng con đường hòa bình thông qua các cuộc phân xử được thiết lập bởi các tòa án quốc tế, đáng chú ý nhất vấn đề tàu lớp Alabama, giải quyết tranh chấp buôn bán lông hải cẩu ở biển Bering, phân định đường biên giới ở Venezuela và ở Alaska
3.4.2 Đối với các bên tham chiến trong Chiến tranh thế giới thứ nhất (CTTG I)
3.4.2.1 Chính sách trung lập của Hoa Kỳ trong CTTG I
Trong giai đoạn đầu của CTTG I, xuất phát từ những lợi ích kinh tế, Hoa Kỳ đã tiếp tục thực hiện chính sách ngoại giao trung lập truyền thống của mình, đứng bên ngoài cuộc chiến nhằm thu lợi từ hoạt động buôn bán của cả hai phe Tuy nhiên, khi Đức leo thang cuộc chiến tàu ngầm gây ra nhiều thiệt hại to lớn cho tàu buôn Mỹ và tạo cớ cho Hoa Kỳ lập tức nhảy vào cuộc chiến nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi và thông qua chiến tranh, tìm kiếm nhiều hơn quyền lợi của mình trên thế giới sau chiến tranh
3.4.2.2 Chương trình 14 điểm (The Fourteen Points) của W.Wilson
Ngày 8/1/1918, Tổng thống Wilson đã đưa ra Chương trình 14 điểm mà
theo ông, đó là “cơ sở duy nhất để có thể thiết lập hòa bình” cho thế giới
Với những nội dung cơ bản như ký kết hòa ước công khai, tự do hàng hải, thương mại bình đẳng, cắt giảm lực lượng vũ trang, chiếu cố đến quyền lợi của các nước nhược tiểu, thành lập Hội Quốc liên để bảo vệ hòa bình, an ninh thế giới,… Chuuwong trình 14 điểm là văn bản pháp lý đầu tiên xác nhận tham vọng bá chủ thế giới của Hoa Kỳ Tuy nhiên, nhận thấy rõ những ràng buộc do Hòa ước Versailles quy định sẽ gây ra nhiều hậu quả đối với việc bành trướng của Hoa Kỳ, tháng 3/1920, Thượng viện nước này đã không phê chuẩn việc Mỹ tham gia vào Hòa ước này Điều đó cũng đồng nghĩa với việc Chương trình 14 điểm mà bao tâm huyết của cá nhân Tổng thống W.Wilson bị đổ bể, Hoa Kỳ quay trở lại với truyền thống biệt lập
Trang 22Trải qua hơn nửa thế kỷ, chính sách đối ngoại thời kỳ 1865 – 1918 đã đưa đến cho Hoa Kỳ những thành tựu hết sức to lớn trên nhiều phương diện,
đó là: (1) Hoa Kỳ đã khẳng định được ưu thế tuyệt đối tại khu vực Mỹ Latinh, từng bước biến khu vực này thành “sân sau”; (2) Hoa Kỳ bắt đầu giành được những lợi ích quan trọng tại khu vực châu Á, nhất là vấn đề mở rộng thị trường tại đây; (3) Hoa Kỳ đã gạt dần ảnh hưởng của các cường quốc châu Âu ra khỏi khu vực Mỹ Latinh và bước đầu buộc các cường quốc này phải có những nhượng bộ tại khu vực châu Á (4) Hoa Kỳ đã từng bước vươn đến quyền lực thế giới, đuổi kịp và cùng Anh trở thành nước dẫn dắt nền chính trị thế giới
4.1.2 Hạn chế
Trong quá trình thực thi chính sách đối ngoại giai đoạn 1865-1918, Hoa Kỳ vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định như: tạo nên sự thù ghét của nhân dân các nước bị phụ thuộc vào Mỹ, nhất là các nước Mỹ Latinh; nhiều chính sách đối ngoại đã không phát huy được hiệu quả, điển hình là Chương trình 14 điểm của W.Wilson, buộc các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ phải từ bỏ những
tham vọng ở châu Âu, quay trở về “chủ nghĩa trung lập” truyền thống
3 Xuyên suốt những năm 1865 – 1918, giới lãnh đạo Mỹ luôn tạo ra
“cái cớ” hoặc khung pháp lý hợp lý khi thực thi một chính sách đối ngoại
nào đó đối với một hay nhiều thực thể chính trị
4 Chính sách đối ngoại của Mỹ thời kỳ 1865 – 1918 là một quá trình phát triển liên tục, phản ánh sự đi lên về mọi phương diện của nước Mỹ trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
5 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong thời kỳ 1865 – 1918 gắn chặt với vai trò của các tổng thống và các chính khách
6 Trên cơ sở mục tiêu xuyên suốt là thực thi chính sách bành trướng, Hoa
Kỳ đã có những chính sách và mục tiêu khác nhau đối với từng khu vực
4.3 Tác động của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ
4.3.1 Đối với Hoa Kỳ
1 Chính sách đối ngoại giai đoạn 1865 – 1918 đã đưa lại những tác động to lớn đến nền kinh tế Mỹ
Trang 232 Chính sách đối ngoại thời kỳ 1865 – 1918 đã hướng Hoa Kỳ vào việc xây dựng một lực lượng hải quân lớn mạnh, hoàn thiện bộ máy quân sự, tạo nên sức mạnh có tính răn đe của Hoa Kỳ
3 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ thời kỳ 1865 – 1918 đã tạo ra sự
tác động to lớn đến lâm lý – xã hội Hoa Kỳ, đưa đến sự hình thành “định
mệnh hiển nhiên“ rằng tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế là nhiệm vụ
của Hoa Kỳ
4.3.2 Đối với các nước chịu ảnh hưởng bởi chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ
4.3.2.1 Đối với các nước Mỹ Latinh
- Thứ nhất, chính sách đối ngoại mà Hoa Kỳ đã thực thi tại khu vực Mỹ Latinh đã tạo nên tâm lý chống Mỹ, làm nảy sinh nhiều cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ ở nhiều nước
- Thứ hai, chính sách đối ngoại Hoa Kỳ thời kỳ 1865-1918 đã biến Mỹ
Latinh thành “sân sau” song cũng đưa lại một số tác động tích cực đối với
các nước Mỹ Latinh (dù không nằm trong ý muốn của Mỹ)
4.3.2.2 Đối với các nước châu Á
- Thứ nhất, chính sách đối ngoại Hoa Kỳ trong thời kỳ 1865 – 1918 đã làm cho một số nước ở châu Á đã trở thành thuộc địa kiểu mới hoặc phụ thuộc vào Mỹ
- Thứ hai, sự lớn mạnh của Nhật Bản từ giữa thế kỷ XIX trở đi có một phần nguyên do từ sự giúp sức của Hoa Kỳ
4.3.2.3 Đối với các nước châu Âu
- Thứ nhất, sự có mặt của Hoa Kỳ với vị thế là một cường quốc đã tạo
ra những thay đổi quan trọng trong quan hệ quốc tế những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
- Thứ hai, trong quan hệ với nước Anh – đế quốc số một thế giới thời kỳ này, Hoa Kỳ đã từng bước giành được những lợi ích quan trọng tại những khu vực thuộc phạm vi ảnh hưởng của Anh, làm cho ảnh hưởng của Anh
trên nhiều khu vực dần dần giảm sút
KẾT LUẬN
Từ những điều trình bày ở trên về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ thời
kỳ 1865 – 1918, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
1 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong 53 năm (1865 – 1918) luôn nhằm mục tiêu xuyên suốt là hướng đến việc hiện thực hóa tham vọng bành trướng, mở rộng ảnh hưởng của Hoa Kỳ ra thế giới xung quanh Dưới tác động của nhiều nhân tố như thực lực bên trong và hoàn cảnh lịch sử bên
Trang 24ngoài, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đã được điều chỉnh cho phù hợp và đạt được những kết quả ở mức độ khác nhau
Trong giai đoạn 1865 – 1898, khi thực lực bên trong chưa đủ mạnh, Hoa Kỳ mới chỉ dừng lại ở việc tiếp nối, mở rộng và làm sâu sắc hơn Học thuyết Monroe được đề xướng trước đó (1823) Hoa Kỳ đã từng bước thể hiện vị thế một cách rõ ràng hơn trước các cường quốc châu Âu, phản đối sự can thiệp của họ vào khu vực Mỹ Latinh một cách thực chất hơn và không còn mang tính phòng vệ như trước, như: ép Pháp phải rút quân ra khỏi Mexico năm 1867; buộc Anh phải có sự nhượng bộ nhất định trong tranh chấp lãnh thổ giữa Venezuela và Guiana; tập hợp lực lượng, quy tụ các nước
Mỹ Latinh vào quỹ đạo chi phối của Hoa Kỳ bằng cách thành lập Liên minh Pan – Mỹ vào năm 1889 Còn tại châu Á, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với khu vực này mới chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm những lợi ích về thương mại chứ chưa có hành động nào đáng kể để có thể thiết lập phạm vi ảnh hưởng tại đây
Bước sang giai đoạn 1898 – 1918, đặc biệt là thắng lợi của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha (1898) đã tạo ra cơ sở và vị thế vô cùng quan trong cho tham vọng vươn đến quyền lực thế giới của Hoa Kỳ
Từ đây, Hoa Kỳ - một đế quốc mới xuất hiện, bắt đầu tham gia vào quá trình bành trướng, tranh đoạt thị trường thế giới vốn rất sôi động trong thời điểm này Tại khu vực Mỹ Latinh, Hoa Kỳ đã thể hiện thực lực mạnh mẽ hơn
bằng việc thực thi chính sách “Cây gậy lớn” (Big Stick) và “Ngoại giao
dollar” (Dollar Diplomacy), gắn Tu chính án Platt vào Hiến pháp Cuba và
một loạt các hành động can thiệp quân sự vào nhiều nước ở khu vực Mỹ
Latinh khác, thực sự biến khu vực Mỹ Latinh thành “sân sau” Tại châu Á,
Hoa Kỳ gia tăng sự ảnh hưởng sau khi chiếm được Philippines từ tay Tây Ban Nha, đòi hỏi quyền lợi ngang bằng trong thương mại, chính trị,…với
các cường quốc khác ở Trung Quốc thông qua chính sách “Mở cửa” (1899) Đối với Nhật Bản, Hoa Kỳ đóng vai trò không chỉ là “người hòa giải” để có
thể kiếm chác một vài lợi ích về cho mình mà còn tìm cách ngăn chặn thế lực đang lên này Đối với các cường quốc châu Âu, đặc biệt là Anh, Hoa Kỳ cũng đã tỏ rõ được sức mạnh, nhiều vấn đề buộc Anh phải nhượng bộ… Kết quả cuối cùng của việc thi hành chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1865 – 1918 đã tạo ra cho Hoa Kỳ một vị thế quốc tế mới: Hoa Kỳ thực sự trở thành một cường quốc mạnh mẽ, tham gia hoạch định các cơ chế quan hệ quốc tế và trở thành một trong những nước có ảnh hưởng lớn đến hòa bình, an ninh và ổn định của thế giới
2 Dù ở bất cứ giai đoạn nào, mục đích chiến lược của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ từ sau Nội chiến đến kết thúc Chiến tranh thế giới thứ
Trang 25nhất (1865 – 1918) là lợi ích quốc gia trên hết Đây là đích nhắm xuyên suốt, không bao giờ thay đổi cho dù sách lược ngoại giao của Hoa Kỳ luôn luôn thay đổi cho phù hợp với tình hình Thực tế phát triển của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ qua các giai đoạn 1865 – 1898 và 1898 – 1918 đã cho thấy điều này Khi điều kiện chưa cho phép, nhất là khi sức mạnh quốc gia chưa đủ mạnh và hoàn cảnh bên ngoài chưa thuận lợi, Hoa Kỳ không vội vàng trong việc mở rộng ảnh hưởng ra quá xa mà chỉ tập trung vào các khu vực có lợi ích chiến lược, phù hợp với Hoa Kỳ vào thời điểm ấy như khu vực Mỹ Latinh Sau khi giành chiến thắng trong chiến tranh vơi Tây Ban Nha (1898), Hoa Kỳ bước ra khỏi cuộc chiến này với tư cách là nước thắng trận, cộng với sức mạnh kinh tế thương mại và quân sự, Hoa Kỳ đã đẩy mạnh sự can dự một cách thực chất ra các khu vực khác xa hơn như châu Á
và châu Âu bằng các hành động cụ thể như đã phân tích ở trên Điều này cũng thể hiện một đặc điểm xuyên suốt trong lịch sử ngoại giao Hoa Kỳ: sách lược đối ngoại luôn luôn linh hoạt nhưng mục đích đối ngoại không bao giờ thay đổi – đó chính là lợi ích quốc gia, lợi ích của giai cấp tư sản Hoa Kỳ trên trên bình diện thế giới
3 Trong quá trình đề ra và thực thi chính sách đối ngoại giai đoạn 1865 – 1918, Hoa Kỳ luôn luôn chiếm ưu thế trong tương quan với các nước chịu
sự chi phối chính sách của Hoa Kỳ Điều này xuất phát từ thực tế Hoa Kỳ hầu như là nước có sức mạnh lớn hơn các nước khác khi xét về các phương diện như tiềm lực kinh tế thương mại, tiềm lực quân sự, diện tích lãnh thổ, dân số, tài nguyên thiên nhiên, vị trí chiến lược và vị thế của Hoa Kỳ trong quan hệ quốc tế Do vậy, các chính sách đối ngoại Hoa Kỳ đưa ra đều có thiên hướng áp đặt, ép buộc các nước phải chấp nhận dù không mong muốn,
như trường hợp Cuba, các nước Mỹ Latinh, “mở cửa” Trung Quốc,… Tuy
nhiên, trong một vài trường hợp, Hoa Kỳ không phải lúc nào cũng sử dụng sức mạnh của mình để áp chế các nước khác mà phải tôn trọng và thừa nhận
vị thế của Anh hoặc phần nào đó là Nhật Bản trong giải quyết các vấn đề tranh chấp lẫn nhau
4 Về mặt cấp độ, trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ thời kỳ 1865 – 1918, Mỹ Latinh được chính giới Hoa Kỳ xác định là khu vực mang lợi ích cốt lõi Hoa Kỳ luôn quan tâm và tìm mọi biện pháp để đảm bảo cho Mỹ
Latinh luôn là “sân sau” của họ Khi thực lực ngày càng tăng, Hoa Kỳ tìm
cách gia tăng phạm vi ảnh hưởng đến các khu vực khác mà trước hết là ở châu Á, nơi chứa đựng nhiều nguồn lợi về thị trường cho nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ của Hoa Kỳ sau Nội chiến Trên cơ sở khẳng định sức mạnh ở các khu vực cận biên, Hoa Kỳ đẩy mạnh sự can dự vào khu vực châu Âu, tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế lớn ở châu lục này sau
Trang 26Chiến tranh thế giới thứ nhất Tuy nhiên, đến thời điểm sau 1918, Hoa Kỳ vẫn chưa đủ sức để khuynh loát các nước tại đây
5 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ từ sau Nội chiến đến kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1865 – 1918) mang đậm dấu ấn của các vị tổng thống cũng như các cá nhân phụ trách hoạt động ngoại giao – những người có tác động sâu sắc đến việc định hình chính sách đối ngoại Trong giai đoạn 1865 – 1918, hầu hết các tổng thống lên cầm quyền đều đã đề ra những chính sách đối ngoại phù hợp với xu thế phát triển và những lợi ích quốc gia - dân tộc cần đạt đến, như Tổng thống T.Roosevelt đề ra chính sách
“Cây gậy lớn”, W Taft đưa ra chính sách “Ngoại giao Dollar”, W.Wilson
với Chương trình 14 điểm,…
Nếu ở Mỹ Latinh, các tổng thống Mỹ là những người có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với các chiến lược và chính sách đối ngoại thì ở châu Á lại có một điểm đặc biệt, đó là sự đóng góp của các nhà ngoại giao và cố vấn Mỹ Trong cuộc chiến tranh xâm lược Đài Loan vào năm 1874, Tướng Charles Legendre – Cố vấn Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã có những đóng góp trong việc vạch ra kế hoạch tác chiến cho quân đội Nhật Sau khi cuộc chiến này kết thúc, Đại biện lâm thời Mỹ tại Bắc Kinh S.W.William chính là người làm trung gian hòa bình để Nhật và Trung Quốc ký kết Hiệp ước Bắc Kinh (tháng 10/1874) với nhiều điều khoản có lợi cho Nhật Còn trong cuộc xung đột Pháp – Thanh liên quan đến Việt Nam, mặc dù Mỹ đã không thành công trong vai trò nghị hòa nhưng Đại biện lâm thời Mỹ tại Bắc Kinh John Rusell Young chính là người góp công lớn cho những nỗ lực này của Mỹ Còn tại Xiêm, Cố vấn Mỹ Edward H.Strobel cũng đã đóng vai trò quan trọng, dẫn đến việc ký kết Hiệp ước Pháp – Xiêm vào năm 1907…
6 Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, những thực tế lịch sử từ chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong giai đoạn được đề cập vẫn luôn là những bài học lịch sử có ý nghĩa đối với các nước trong quan hệ với siêu cường này Đối với Hoa Kỳ, để đảm bảo lợi ích quốc gia, người Mỹ luôn thay đổi phương cách đạt đến và không từ một biện pháp nào (linh hoạt, hai mặt,…) nhằm đảo bảo lợi ích lớn nhất – điều không bao giờ thay đổi cho dù nền chính trị Hoa Kỳ được lãnh đạo bởi bất cứ đảng phái nào Vì vậy, trong bối cảnh quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ hiện tại, bên cạnh việc tận dụng những thế mạnh, vị thế mà Hoa Kỳ đưa lại, Việt Nam cũng cần hết sức tỉnh táo để không bị lệ thuộc một chiều vào Hoa Kỳ nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định trên cơ sở độc lập, tự chủ, cùng tôn trọng lẫn nhau
Trang 27DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
1 Dương Quang Hiệp (2009), “Chính sách của Mỹ trong quan hệ với Pháp thời
kỳ 1789 – 1815”, Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 10(139), ISSN 0868-3654
2 Dương Quang Hiệp (2010), “Nền tảng của việc bành trướng ra thế giới của
nước Mỹ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”, Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 07(148), ISSN 0868-3654
3 Dương Quang Hiệp (2011), “Nền tảng của việc bành trướng ra thế giới của
Hoa Kỳ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”, Các vấn đề nghiên cứu về Hoa Kỳ, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
4 Dương Quang Hiệp (2014), “Từ chính sách mở cửa Trung Quốc hiểu thêm về tính thực dụng trong chính sách đối ngoại của Mỹ những năm cuối thế kỷ XIX”,
Những khía cạnh lịch sử - văn hóa Việt Nam và thế giới, (tái bản lần thứ ba)
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
5 Dương Quang Hiệp (2014), “Chính sách của Mỹ đối với Cuba qua Tu chính
án Platt (1901-1934)”, Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 04(193), ISSN 0868-3654
6 Dương Quang Hiệp (2014), “Vị trí chiến lược của Philippines trong chính
sách đối ngoại của Mỹ giai đoạn 1898 - 1991”, Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và châu Á, số 10(23), ISSN 0866-7314
7 Dương Quang Hiệp (2014), “Chính sách can thiệp của Mỹ đối với khu vực
Mỹ Latinh trong ba thập niên đầu thế kỷ XX”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ,
Trường Đại học Khoa học Huế, số 2(2014), ISSN 2354-0850
8 Dương Quang Hiệp (2015), “Chính sách can thiệp của Mỹ đối với khu vực
Mỹ Latinh trong ba thập niên đầu thế kỷ XX”, Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số
06(207), ISSN 2354-0745
9 Dương Quang Hiệp (2016), “Các cuộc phân xử bằng phương thức trọng tài
trong quan hệ Hoa Kỳ - Anh những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”, Tạp chí Khoa học Đại học Huế (Giấy xác nhận đăng trong chuyên san Khoa học Xã
hội Nhân văn năm 2016, ngày 8/6/2016 của Tạp chí Khoa học – Đại học Huế)