1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tạp chí Khoa học – Công nghệ thủy sản: Số 4/2020

128 185 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 6,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạp chí Khoa học – Công nghệ thủy sản: Số 4/2020 được biên soạn nhằm thông tin đến các bạn một số bài viết như Ảnh hưởng của xâm nhập mặn và thời tiết cực đoan đến hoạt động ương - nuôi cá tra tại Sóc Trăng; Ảnh hưởng của độ mặn và thức ăn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của ấu trùng Ốc đĩa (Nerita balteata Reeve, 1855) giai đoạn trôi nổi; Tác động của việc bổ sung chitin vào thức ăn lên khả năng kháng lại Vibrio Parahaemolyticus của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeid Vannamei); Nghiên cứu sản xuất chả cá diêu hồng không sử dụng phụ gia...

Trang 1

NHA TRANG UNIVERSITY

NHA TRANG UNIVERSITY

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

• Tòa soạn : Trường Đại học Nha Trang, số 02 Nguyễn Đình Chiểu, TP Nha Trang - Khánh Hòa

• Điện thoại : 0258.2220767

• Fax : 0258.3831147

• E-mail : tapchidhnt@ntu.edu.vn

• Giấy phép xuất bản : 292/GP-BTTTT ngày 3/6/2016

• Chế bản tại : Phòng Khoa học và Công nghệ - Trường Đại học Nha Trang

• In tại : Công ty cổ phần In và Thương mại Khánh Hòa, số 08 Lê Thánh Tôn - Nha Trang

TỔNG BIÊN TẬP

TS TRẦN DỖN HÙNG

PHĨ TỔNG BIÊN TẬP

TS VŨ KẾ NGHIỆP BAN BIÊN TẬP

BAN THƯ KÝ ThS Trần Nhật Tân - ThS Lương Đình Duy

KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ THỦY SẢN

ISSN 1859 - 2252

PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh

Trường Đại học Nha Trang

Trường ĐH Kinh tế Luật- ĐHQG Tp HCM

PGS TS Nguyễn Văn Duy

Trường Đại học Nha Trang

PGS.TS Nơng Văn Hải

Viện Nghiên cứu hệ gen - Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam

PGS TS Lê Văn Hảo

Trường Đại học Nha Trang

TS Nguyễn Thị Hiển

Trường Đại học Nha Trang

TS Nguyễn Văn Hịa

Trường Đại học Nha Trang

GS TS Hồng Đình Hịa

Trường ĐH Bách khoa Hà Nội

GS TS Nguyễn Trọng Hồi

Trường ĐH Kinh tế Tp HCM

PGS TS Lê Minh Hồng

Trường Đại học Nha Trang

National Taiwan Ocean University, Taiwan

PGS TS Lê Phước Lượng

Trường Đại học Nha Trang

PGS TS Nguyễn Đình Mão

Trường Đại học Nha Trang

TS Mai Thị Tuyết Nga

Trường Đại học Nha Trang

PGS TS Ngơ Đăng Nghĩa

Trường Đại học Nha Trang

PGS TS Nguyễn Văn Nhận

Trường Đại học Nha Trang

PGS TS Nguyễn Hữu Ninh

Viện Nghiên cứu NTTS I - Bộ NNPTNT

PGS TS Mai Thanh Phong

Trường Đại học Nha Trang

PGS TS Nguyễn Anh Tuấn

Trường Đại học Nha Trang

Trang 3

MUÏC LUÏC

Ảnh hưởng của xâm nhập mặn và thời tiết cực đoan đến hoạt động ương - nuôi cá tra tại Sóc Trăng

Nguyễn Văn Quỳnh Bôi, Nguyễn Lâm Anh và Nguyễn Trọng Lương 2

Ảnh hưởng của dịch chiết rong Ulva reticula lên sự phát triển của rau muống (Ipomoea aquatic).

Văn Hồng Cầm, Khúc Thị An, Nguyễn Thảo Hiền, Trần Thị Phương Anh 10

Ảnh hưởng của độ mặn và thức ăn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của ấ u trù ng Ốc đĩa (Nerita balteata

Reeve, 1855) giai đoạn trôi nổ i

Vũ Trọng Đại, Phạ mThị Khanh 19

Đánh giá chất lượng giun nhiều tơ từ nguồn tự nhiên và nguồn nuôi thương phẩm trong nuôi vỗ thành

thục tôm thẻ chân trắng Litopenaeus Vannamei (Boone, 1931) bố mẹ

Nguyễn Văn Dũng, Trương Hà Phương, Lục Minh Diệp 27

Thực trạng môi trường và bệnh vùng nuôi tôm trên cát ở Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Nghi Xuân, Hà Tĩnh

Trương Thị Mỹ Hạnh, Nguyễn Thị Nguyện, Trương Thị Thành Vinh, Nguyễn Thị Là, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thị Hạnh,

Lê Thị Mây, Chu Chí Thiết, Nguyễn Hữu Nghĩa 36

Tác động của việc bổ sung chitin vào thức ăn lên khả năng kháng lại Vibrio Parahaemolyticus của

tôm thẻ chân trắng (Litopenaeid Vannamei)

Trần Vĩ Hích, Nguyễn Công Minh, Nguyễn Thị Kim Cúc,

Phạm Thị Đan Phượng, Trang Sĩ Trung 45

Nghiên cứu sản xuất chả cá diêu hồng không sử dụng phụ gia

Nguyễn Văn Hiếu 51

Ảnh hưởng thời gian kích thích hormone lên đặc tính sinh hóa của dịch tương cá chẽm mõm nhọn

Psammoperca waigiensis

Lê Minh Hoàng, Nguyễn Văn Minh, Phạm Quốc Hùng và Ngô Văn Mạnh 58

Nghiên cứu đặc điểm sinh học buồng trứng cá bè đưng (Gnathanodon speciosus)

Phạm Quốc Hùng, Hứa Thị Ngọc Dung, Nguyễn Thị Toàn Thư 67

Tối ưu hóa điều kiện chiết với sự hỗ trợ siêu âm để thu nhận polyphenol có hoạt tính chống oxy hóa

từ loài rong đỏ Gracilaria salicornia

Đỗ Trần Lâm, Phạm Hồng Ngọc Thùy, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thế Hân 75

Ảnh hưởng của chitosan lên sự sinh trưởng của lan Mokara nuôi cấy mô

Phạm Thị Minh Thu, Nguyễn Ngọc Thiên Trang, Huỳnh Kim Đỉnh 85

Ảnh hưởng của chế độ sử dụng chế phẩm sinh học đến hiệu quả nuôi tôm chân trắng (Litopenaeus

Vannamei Boone, 1931) trong ao trên cát với nguồn nước biển ven bờ

Lê Hữu Tình, Lê Hồng Duyệt, Võ Văn Nha 94

Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chiên (Bagarius rutilus) giai đoạn 70-500g

nuôi lồng tại vùng hạ lưu sông Lô, tỉnh Phú Thọ

Triệu Anh Tuấn, Thái Thanh Bình 105

Vấn đề trao đổi

Chất lượng phân ủ từ rác thải hữu cơ

Trần Thanh Thư 113

Trang 4

ẢNH HƯỞNG CỦA XÂM NHẬP MẶN VÀ THỜI TIẾT CỰC ĐOAN ĐẾN

HOẠT ĐỘNG ƯƠNG - NUÔI CÁ TRA TẠI SÓC TRĂNG

EFFECTS OF SALTWATER INTRUSION AND EXTREME WEATHER ON STRIPED CATFISH (PANGASIUS HYPOPTHALMUS) NURSING –GROWING IN SOC TRANG

Nguyễn Văn Quỳnh Bôi 1 , Nguyễn Lâm Anh 2 và Nguyễn Trọng Lương 2

1 Viện Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Nha Trang

2 Viện Khoa học và Công nghệ khai thác thủy sản, Trường Đại học Nha Trang

Tác giả liên hệ: Nguyễn Văn Quỳnh Bôi (Email: boinvq@ntu.edu.vn) Ngày nhận bài: 24/09/2020; Ngày phản biện thông qua: 16/11/2020; Ngày duyệt đăng: 24/12/2020

TÓM TẮT

Xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết cực đoan gây ra nhiều ảnh hưởng đối với hoạt động ương – nuôi

cá tra tại Sóc Trăng Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp khảo sát áp dụng công cụ phỏng vấn dựa trên bộ câu hỏi bán cấu trúc trên 97 đối tượng là những hộ ương – nuôi cá thể, các quản lý trang trại nuôi của các công ty và những người nắm thông tin tại Sóc Trăng Hầu hết các đối tượng đã nhận thức được ảnh hưởng của xâm nhập mặn và các cực đoan về thời tiết đến hoạt động này và cho rằng tương đối khó khăn trong việc khắc phục xâm nhập mặn Ngoài ra, tỷ lệ lớn nhất ở cả 3 nhóm đối tượng đều cho rằng đã có những bất thường – cực đoan về khí hậu – thời tiết xảy ra ở mức độ nào đó và xâm nhập mặn là vấn đề được quan tâm – lo ngại nhiều nhất Trong tương lai, xâm nhập mặn vẫn là vấn đề lo ngại cao nhất đối với hoạt động ương – nuôi cá tra

ở tất cả các nhóm đối tượng Tuy nhiên, biến động nhiệt độ theo thời gian, thời tiết thất thường,… được quan tâm nhiều hơn bởi những người nắm thông tin nhưng không được đánh giá cao bởi những đối tượng trực tiếp sản xuất Thay đổi kỹ thuật ương – nuôi cá tra được cả 3 nhóm xem như là biện pháp thích ứng quan trọng nhất

để ứng phó với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn.

Từ khóa: Biến đổi khí hậu – xâm nhập mặn, bộ câu hỏi khảo sát, Sóc Trăng, ương – nuôi cá tra,

Key words: Climate change – salt intrusion, survey questionnaire, Soc Trang, striped catfi sh nursing – growing,

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Tỉnh Sóc Trăng nằm ở cửa Nam sông Hậu,

cách thành phố Hồ Chí Minh 231km, cách Cần

Thơ 62 km; nằm trên tuyến Quốc lộ 1A nối liền

các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà

Mau [9] Tỉnh có diện tích đất tự nhiên 331.187

ha [1], chiếm khoảng 1% diện tích cả nước và

8,3% diện tích của khu vực đồng bằng sông Cửu

Long [9] Diện tích đất nông nghiệp là 213.114

ha (64,35% tổng diện tích đất) với 71.500 ha cho nuôi trồng thủy sản [1] Điều đó chứng tỏ Sóc Trăng là một tỉnh có tiềm năng để phát triển nông nghiệp bao gồm cả hoạt động nuôi cá nước ngọt Số liệu thống kê của tỉnh những năm gần đây cho thấy diện tích nuôi cá nước ngọt tương đối ổn định, thay đổi trong phạm vi 17.738 ha

Trang 5

(2010), 18.456 (2015) và 17.924 (2018) với chỉ

số phát triển năm 2018 là 105,01% [1]

Tuy nhiên, hoạt động nông nghiệp nói

chung và nuôi cá nước ngọt nói riêng ở đồng

bằng sông Cửu Long, bao gồm tỉnh Sóc Trăng,

đã và đang chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

và nước biển dâng

Cho đến nay, đã có nhiều công bố về ảnh

hưởng của biến đổi khí hậu đến nuôi trồng thủy

sản, cụ thể là hoạt động nuôi cá tra tại Việt Nam

Vụ Nuôi trồng thủy sản (2008) cho rằng xâm nhập

mặn sẽ gây tác hại đến nghề nuôi cá tra và nếu độ

mặn cao hơn 4‰ sẽ không phù hợp cho đối tượng

nuôi này Phan và cộng sự (2009) đã dẫn chứng

các ao nuôi gần biển có sản lượng giảm sút mà

nguyên nhân có thể từ biến động độ mặn do thủy

triều Trong năm 2011 xâm nhập mặn gia tăng ở

tỉnh Bến Tre với độ mặn cao đã làm tăng tỷ lệ chết

và giảm tốc độ sinh trưởng của cá tra so với năm

2010 [3] Tương tự như Bến Tre, với vị trí ven biển

Đông, hoạt động nuôi cá tra tại tỉnh Sóc Trăng

chắc chắn bị ảnh hưởng bởi vấn đề này Theo đó,

việc đề xuất các giải pháp thích ứng với tình hình

biến đổi khí hậu – nước biển dâng cần thiết phải

được đặt ra Trong thực tế, xâm nhập mặn do mực

nước biển dâng sẽ lan rộng về phía thượng lưu

khiến cho một phần diện tích đang dùng nuôi cá

tra không còn phù hợp nữa Bộ Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn Việt Nam (MARD) đã đề ra

chương trình hành động thích ứng với biến đổi

khí hậu của ngành giai đoạn 2008-2020 tập trung

vào đảm bảo sự an toàn của cư dân, sản xuất nông

nghiệp và an ninh lương thực bền vững, hệ thống

đê điều và cơ sở hạ tầng an toàn [6] Đối với hoạt động nuôi cá tra, các biện pháp thích ứng tự phát làm gia tăng chi phí của người nuôi và hạn chế khả năng giải quyết vấn đề một cách hệ thống [4]

Vì lý do này, người nuôi cá tra vùng ven biển sẽ giảm sút lợi nhuận vì ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Phân tích của Kam và cộng sự (2012) cũng cho thấy chi phí thích ứng tự phát của người nuôi

sẽ giảm đi nhiều nếu có các biện pháp thích ứng

kế hoạch của nhà nước [5] Bài viết này trình bày các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng xâm nhập mặn và những cực đoan về thời tiết đến hoạt động ương – nuôi cá tra tại Sóc Trăng thông qua khảo sát nhằm đánh giá khả năng thích ứng của hoạt động nuôi cá tra trong bối cảnh biến đổi khí hậu

và xâm nhập mặn

II THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 2/2020 đến tháng 6/2020 theo phương pháp khảo sát áp dụng công cụ phỏng vấn dựa trên bộ câu hỏi bán cấu trúc (semi-structured questionnaire) đối với các nhóm đối tượng là những hộ ương – nuôi

cá thể, các quản lý trang trại nuôi của các công

ty và những người nắm thông tin tại Sóc Trăng Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2018 Nguồn

số liệu sơ cấp được tổng hợp dựa trên quá trình phỏng vấn những hộ ương - nuôi cá tra, các quản

lý trại nuôi cá tra thương phẩm thuộc các công

ty và những người am hiểu tình hình nuôi cá tra tại địa phương thông qua bộ câu hỏi điều tra

Hình 1 Bản đồ khu vực nghiên cứu

(https://sites.google.com/site/k39n2ngok1431/ban-do-hanh-chinh; truy cập ngày 8/2/2020)

Trang 6

Theo số liệu khảo sát ban đầu vào tháng 2

năm 2020 về hiện trạng, trên địa bàn tỉnh Sóc

Trăng có 5 công ty đang tham gia hoạt động

nuôi cá tra (tập trung tại huyện Long Phú,

Cù Lao Dung và Kế Sách) và khoảng 50 hộ

tham gia hoạt động ương và nuôi cá tra trên

toàn tỉnh Trên cơ sở này, nghiên cứu đã khảo

sát thông qua các nhân viên quản lý của 11

trại thuộc 5 công ty này Đối với số hộ ương

– nuôi, do huyện Long Phú không còn các

hộ tham gia hoạt động này với tính chất cá

thể và những hộ tại huyện Cù Lao Dung chỉ

nuôi với quy mô đáp ứng nhu cầu địa phương

nên việc khảo sát các hộ ương - nuôi cá thể

tập trung vào huyện Kế Sách trong thời gian

từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2020 Với kích

thước tổng thể không quá lớn nên đề tài đã

khảo sát 45 hộ tham gia hoạt động ương-nuôi

(chủ yếu tại huyện Kế Sách) nhằm đảm bảo

yêu cầu về mặt kích thước mẫu (> 33) [8]

Kích thước mẫu khảo sát được trình bày qua

bảng 1

Ngoài ra, nghiên cứu cũng phỏng vấn

chuyên sâu (in-depth interview) một số cán bộ

thuộc Chi cục Thủy sản tỉnh Sóc Trăng, nhân

viên quản lý kỹ thuật các trại nuôi thuộc các

công ty và người nuôi lâu năm nhằm xác định

các thông tin chi tiết về một vài khía cạnh liên

quan đến hoạt động nuôi không thu được qua

điều tra khảo sát

Số liệu thu tập được xử lý theo các nội dung

khảo sát trên phần mềm MS Excel phiên bản

2013 Kiểm định “Khi bình phương” (Chi

square) được áp dụng để khảo sát mối liên

hệ giữa đối tượng khảo sát với ý kiến phản

hồi, thực hiện bởi phần mềm SPSS phiên bản

về hoạt động nuôi cá tra) về tần suất xảy ra và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu - xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi cá tra tại Sóc Trăng được trình bày qua bảng 2 và 3 Bảng 2 cho thấy các bên liên quan đã nhận thức được ảnh hưởng của vấn đề này Rất ít ý kiến cho rằng không có hiện tượng bất thường hay cực đoạn nào về khí hậu – thời tiết xảy ra - chỉ 11,11% nhóm hộ nuôi cá thể và 5% những người am hiểu (bảng 2) Phân tích thống kê về tần suất xảy ra những biểu hiện của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn đối với hoạt động nuôi cá tra theo ý kiến của các nhóm đối tượng khảo sát cho thấy mặc dù ý kiến phản hồi về vấn đề này không giống nhau ở các nhóm nhưng sự khác nhau này không có ý nghĩa thống

kê (p>0,05) Phần lớn ở cả 3 nhóm khảo sát đều

cho rằng đã có những bất thường – cực đoan về khí hậu – thời tiết xảy ra ở mức độ nào đó Điều này đưa đến những lo ngại trong phần lớn cộng đồng ương – nuôi cá tra

Để làm rõ mối quan tâm – lo ngại của các đối tượng, các vấn đề được nghiên cứu chi tiết hơn với kết quả được trình bày ở bảng 3 Kết quả bảng 3 chỉ ra rằng xâm nhập mặn là vấn

đề được quan tâm – lo ngại nhiều nhất ở cả 3 nhóm đối tượng khảo sát (chiếm tỷ lệ 97,78%

ở nhóm hộ ương – nuôi cá thể và 100% ở 2 nhóm còn lại) Những vấn đề được quan tâm tiếp theo lần lượt là thời tiết bất thường (chiếm

Bảng 1 Mẫu điều tra Đối tượng (am hiểu - key informant) Người nắm thông tin Quản lý trại nuôi thuộc các công ty nuôi cá thể Hộ ương - Tổng số

- Quản lý trại nuôi thuộc các công ty là những cán bộ kỹ thuật hoặc quản lý nhân sự đang làm việc tại các trại nuôi cá tra thuộc các công ty.

- Hộ ương - nuôi cá thể là những hộ đã và đang thực hiện hoạt động ương và nuôi cá tra.

Trang 7

tỷ lệ 88,89% ở nhóm hộ ương – nuôi cá thể,

95% ở nhóm những người am hiểu và 100%

ở nhóm quản lý trang trại công ty), biến động

nhiệt độ theo thời gian (chiếm tỷ lệ 91,67%

ở nhóm quản lý trang trại công ty, 93,33% ở

nhóm hộ ương nuôi cá thể và 95% ở nhóm

những người am hiểu),…Vấn đề ít được quan

tâm nhất là ảnh hưởng của lũ lụt đến hoạt động

nuôi cá tra (chiếm tỷ lệ 8,33% ở nhóm quản

lý trang trại công ty, 11,1% ở nhóm hộ ương

– nuôi cá thể và 22,5% ở nhóm những người

am hiểu) Tương tự ở bảng 2, hầu hết sự khác

biệt về ý kiến phản hồi đối với những vấn đề

cụ thể được trình bày qua bảng 3 không có ý

nghĩa thống kê giữa các nhóm đối tượng khảo

sát (p>0,05); duy nhất sự khác biệt về ý kiến

phản hồi đối với sự thay đổi lượng mưa có ý

nghĩa thống kê (p<0,05) Tỷ lệ ý kiến phản hồi

rằng biến động thời tiết đã đưa đến ảnh hưởng

của lũ đối với hoạt động sản xuất không đồng

nhất và rõ ràng, tập trung nhiều nhất vào việc

gây ảnh hưởng đến công trình nuôi Ngược với

những ý kiến phản hồi về thay đổi lượng mưa,

chế độ gió và lũ lụt; các nhận định về thời tiết

bất thường, biến động nhiệt độ theo thời gian

và đặc biệt là xâm nhập mặn khá đồng nhất

và chiếm tỷ lệ rất cao qua khảo sát Kết quả

này khẳng định biến đổi khí hậu và xâm nhập

mặn đã ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cá tra

tại Sóc Trăng Các ý kiến phản hồi chỉ ra rằng

thời tiết ngày càng cực đoan hơn và kéo dài

hơn với các hiện tượng bất thường phổ biến

xuất hiện trong khoảng thời gian 3 năm trở

lại đây và mạnh nhất vào năm 2019 – 2020

Cụ thể là nắng nóng kéo dài từ tháng 2 – 4 và

tháng 11 – 12 với nền nhiệt độ cao làm nước

bốc hơi nhanh dẫn đến làm trầm trọng hơn

tình trạng nhiễm mặn, đồng thời kết hợp gây

ảnh hưởng đến cá nuôi Ngược lại, mùa mưa

từ tháng 5 đến tháng 10 có xu hướng kéo dài

với lượng mưa lớn hơn và gió mạnh vào thời

gian này Ngày càng xuất hiện nhiều giông

hơn trong mùa mưa và nước mặn xâm nhập từ

tháng 10 – 12 là thời điểm giao mùa nên cá dễ

bị bệnh (đặc biệt đối với hoạt động ương cá)

Nếu nắng nóng kéo dài và nhiệt độ tăng cao

làm cá dễ bị xuất huyết, lở loét; nếu lạnh kéo

dài làm cá dễ bị gan thận mủ Đồng thời, từ

tháng 6 đến tháng 12 hàng năm thường có áp thấp nhiệt đới gây mưa bão, qua đó ảnh hưởng đến hoạt động ương – nuôi cá

Để làm rõ hơn nhận thức của các bên liên quan đến hoạt động ương – nuôi cá tra về những khó khăn đặt ra, đánh giá xếp hạng những vấn

đề có khả năng tác động đến hoạt động ương nuôi cá tra trong 5 – 10 năm đến đã được khảo sát với kết quả trình bày qua bảng 4 Các phân tích thống kê được xem xét dựa trên tỷ lệ ý kiến phản hồi tương ứng với bậc xếp hạng của mỗi yếu tố ảnh hưởng Kết quả phân tích cho thấy đánh giá những vấn đề ảnh hưởng đến hoạt động ương – nuôi cá tra bao gồm xâm nhập mặn

và tăng chi phí đầu tư không có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm đối tượng

(p>0,05) Ngược lại, có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê trong việc xếp hạng những vấn đề gia tăng dịch bệnh, biến động giá cả thị trường và những vấn đề khác (biến động nhiệt độ, thời tiết

thất thường,…) (p<0,05) Xét riêng biệt từng

nhóm đối tượng khảo sát, tỷ lệ ý kiến phản hồi thể hiện quan điểm rất đa dạng Tuy nhiên, kết quả bảng 4 cũng cho thấy rằng xâm nhập mặn

đã thật sự ảnh hưởng đến hoạt động ương nuôi

cá tra tại Sóc Trăng, thể hiện qua ý kiến phản hồi từ tất cả các nhóm đối tượng khảo sát đều xếp hạng tác động của vấn đề này ở mức cao nhất Với vị trí ở hạ lưu sông Cửu Long tiếp giáp với biển, dễ dàng hiểu được xâm nhập mặn ngày càng tác động đến hoạt động nuôi cá tra tại Sóc Trăng Nghiên cứu với cá có khối lượng trung bình 25g đã cho thấy độ mặn 9‰ làm tốc độ sinh trưởng của cá giảm rõ rệt [2] Điều này cũng phù hợp với khuyến cáo của Vụ Nuôi trồng thủy sản (2008) khi cho rằng xâm nhập mặn sẽ gây tác hại đến nghề nuôi cá tra và nếu độ mặn cao hơn 4‰ sẽ không thích hợp cho đối tượng nuôi này Theo đó, người nuôi trên địa bàn nghiên cứu cố gắng giữ nước ao có độ mặn dưới 7‰

Để bảo đảm chất lượng nước, trong khoảng thời gian này người nuôi phải giảm cho ăn Điều này làm giảm tốc độ sinh trưởng của cá dẫn đến làm giảm năng suất và sản lượng vụ nuôi [7] Riêng vấn đề biến động nhiệt độ theo thời gian, thời tiết thất thường,…không được đánh giá cao bởi nhóm những đối tượng trực tiếp sản xuất nhưng lại được quan tâm nhiều hơn bởi nhóm đối

Trang 8

tượng là những người am hiểu Điều này có thể

là nhờ vào những biện pháp khắc phục như đào

sâu ao, dự trữ nước ngọt để thay nước,… nên

ảnh hưởng tăng chậm của biến động nhiệt độ

theo thời gian và thời tiết thất thường,…trên địa

bàn nghiên cứu vẫn chưa đưa đến những thiệt

hại tức thời và trực quan để được những người

ương – nuôi cá tra ưu tiên quan tâm Ngược lại,

với quan điểm của nhà quản lý, những người am

hiểu lại cho rằng các vấn đề này cần được quan

tâm với tính chất có khả năng tác động đến hoạt

động ương nuôi cá tra trong 5 – 10 năm đến

2 Các biện pháp thích ứng của người nuôi

Trước những ảnh hưởng tiêu cực gây ra do

biến đổi khí hậu – xâm nhập mặn, cần phải có

những biện pháp khắc phục nhằm duy trì hoạt

động ương – nuôi cá tra Kết quả khảo sát về

khả năng khắc phục những tác động do biến

đổi khí hậu – xâm nhập mặn (bảng 3) cho thấy

ý kiến phản hồi có sự khác biệt giữa các nhóm

đối tượng khảo sát (p<0,05) Đáng lưu ý, tỷ

lệ lớn ý kiến từ những người ương nuôi cá tra

trong thực tế cho rằng rất khó khăn hoặc tương

đối khó khăn trong việc khắc phục vấn đề này

(lần lượt chiếm các tỷ lệ 35,56% và 46,67%

ở nhóm hộ ương – nuôi cá thể, và 33,33% và

66,67% ở nhóm quản lý trại nuôi của các công

ty) Trong khí đó, mặc đù đa số ý kiến đánh giá

tương đối khó khăn (82,5%), vẫn có một tỷ lệ

tương đối ở nhóm người am hiểu (12,5%) cho

rằng không gặp khó khăn trong việc khắc phục

vấn đề này Kết quả phỏng vấn sâu cũng cho

thấy hiện tượng xâm nhập mặn gây ảnh hưởng đến hoạt động ương – nuôi cá tra đã trở nên thường xuyên hơn, xuất hiện sớm hơn với mức

độ nghiêm trọng hơn tùy theo khu vực Thông thường, hiện tường này xảy ra từ ngày 7 – 14

Âm lịch hàng tháng với độ mặn nước sông ở Sóc Trăng có thể lên đến 13‰ - 16‰ Để thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu – xâm nhập mặn, người ương – nuôi cá tra phải có các biện pháp khắc phục nhằm bảo đảm hoạt động (bảng 5) Kết quả ở bảng 5 cho thấy không có nhóm đối tượng nào đồng tình với ý kiến ngừng hoạt động – chuyển đổi ngành nghề Điều này tiếp tục khẳng định ương – nuôi cá tra là một hoạt động sinh kế gắn bó với một bộ phận lớn nông dân ở Sóc Trăng Kết quả xử lý thống kê chỉ

ra hầu hết việc lựa chọn các biện pháp khắc phục những khó khăn gây ra bởi xâm nhập mặn không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa

các nhóm đối tượng (p>0,05); ngoại trừ duy

nhất trường hợp phản hồi về việc áp dụng biện

là biện pháp thích ứng quan trọng nhất (lần lượt chiếm tỷ lệ 75,56%, 83,33% và 90% ở các nhóm hộ cá thể, quản lý trang trại công ty và người am hiểu) Trong bối cảnh chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi

Bảng 2 Nhận thức về biến đổi khí hậu của các đối tượng liên quan đến hoạt động ương –

nuôi cá tra

Đối tượng

đánh giá

Hiện tượng bất thường - cực đoan xảy ra

(% ý kiến đánh giá) Quan tâm – lo ngại của những người được khảo sát (% ý kiến đánh giá) Rất thường

xuyên Ở mức nào đó Không bất thường Rất lo ngại Tương đối lo ngại Không lo ngại Người ương –

nuôi (n=45) 20,0a (9/45) 68,89a (31/45) 11,11a (5/45) 22,22a (10/45) 66,67a (30/45) 11,11a (5/45)Quản lý

Trang 9

Bảng 3 Các vấn đề gây ra bởi biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến hoạt động ương – nuôi cá tra

Thời tiết bất thường

Biến động nhiệt độ theo thời gian

Thay đổi lượng mưa

Thay đổi chế

độ gió Lũ lụt Rất khó khăn

Tương đối khó khăn

Không khó khăn Người

Ghi chú: Trong cùng một cột, những tỷ lệ có số mũ là các chữ cái giống nhau chỉ ra sự khác biệt không có ý nghĩa thống

kê (p>0,05), những tỷ lệ có số mũ là các chữ cái khác nhau chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Bảng 4 Đánh giá những vấn đề có khả năng tác động đến hoạt động ương nuôi cá tra trong

Gia tăng dịch bệnh (% ý kiến đánh giá)

Tăng chi phí đầu tư (%

ý kiến đánh giá)

Biến động giá cả - thị trường (%

ý kiến đánh giá)

Vấn đề khác (biến động nhiệt độ, thời tiết thất thường,…) (% ý kiến đánh giá)

Ghi chú:- 1 hộ nuôi và 1 người am hiểu chỉ nêu ý kiến đánh giá mà không xếp hạng các tác động đến hoạt động ương nuôi cá tra

- Chỉ có 25 hộ ương – nuôi đánh giá về mục vấn đề khác như thời thiết bất thường, cực đoan, biến động nhiệt độ

- Trong cùng một cột, những tỷ lệ có số mũ là các chữ cái giống nhau chỉ ra sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05), những tỷ lệ có số mũ là các chữ cái khác nhau chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Trang 10

Khí hậu mà cụ thể là hiện tượng xâm nhập

mặn, việc bảo đảm tỷ lệ sống, giảm dịch bệnh và

thúc đẩy tăng trưởng của cá nuôi để ổn định năng

suất bằng những biện pháp kỹ thuật thực sự là ưu

tiên hàng đầu Ngược lại, biện pháp thay đổi mùa

vụ khó khả thi với đa số người nuôi (tỷ lệ lựa chọn

thấp) do hoạt động ương - nuôi cá tra gần như tiến

hành quanh năm, đặc biệt là thời gian nuôi kéo

dài, thậm chí phải gối vụ từ năm này qua năm sau

Nhóm biện pháp củng cố công trình (nâng cao

và gia cố bờ bao, đào sâu ao đến 4 – 5 m) được

hai nhóm đối tượng là các hộ ương – nuôi cá thể

và những người am hiểu ưu tiên hơn so với biện

pháp thay đổi mùa vụ với 24,44% và 65% số ý

kiến phản hồi Riêng ở nhóm những người quản

lý trang trại của các công ty, không có ý kiến nào

lựa chọn biện pháp này Đối với nhóm những hộ

ương – nuôi cá thể, có thể do thiếu nhân lực nên

hệ thống công trình mà đặc biệt là đê bao không

kịp khắc phục khi bị ảnh hưởng bởi triều cường

và lũ Ngược lại, với đội ngũ nhân lực đông, điều

này không trở thành vấn đề đối với các trại nuôi

thuộc các công ty Liên quan đến các biện pháp

kỹ thuật, đối với hoạt động ương – nuôi cá tra,

việc bảo đảm chất lượng nước mà trước hết là

ổn định độ mặn đóng vai trò rất quan trọng Trên

cơ sở này, ưu tiên thứ hai đối với cả 3 nhóm đối tượng khảo sát là khoan giếng để chủ động nguồn cấp nước ngọt và nuôi luân phiên để dành ao dự trữ nước ngọt trước tác động của xâm nhập mặn Biện pháp thích ứng có tỷ lệ lựa chọn gần như thấp nhất so với những biện còn lại đối với cả 3 nhóm đối tượng khảo sát là nuôi những giống cá tra mới có khả năng chịu mặn cao hoặc tìm một đối tượng mới có hiệu quả kinh tế tương đương

để thay thế Có thể hiểu được điều này vì người nuôi nói chung thường xem xét vấn đề dựa trên thực tế vì hiện tại vẫn chưa thấy công bố nào về giống cá tra chịu mặn cao cho dù đã có những nghiên cứu của Đại học cần Thơ và Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II, cũng như việc thay thế loài nuôi khác sẽ phải tốn chi phí thay đổi công trình nuôi và tìm thị trường mới

V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN

Dựa trên kết quả khảo sát, có thể đưa đến những kết luận và đề xuất sau:

1 Kết luận

- Những hộ ương – nuôi cá thể, các quản

lý trang trại nuôi cá của các công ty và những người nắm thông tin (cán bộ thuộc các cơ quan – ban ngành có liên quan và cán bộ quản lý địa

Bảng 5 Biện pháp khắc phục (và dự kiến biện pháp khắc phục) các ảnh hưởng của xâm nhập

mặn đối với hoạt động ương – nuôi cá tra

Đối tượng

khảo sát

Đối với hoạt động nuôi cá tra (% ý kiến đánh giá)

Nuôi đối tượng mới (% ý kiến đánh giá)

Ngừng nuôi/ Chuyển đổi ngành nghề (%

ý kiến đánh giá)

Thay đổi kỹ thuật nuôi Thay đổi mùa vụ công trình Củng cố

Biện pháp khác (khoan giếng và dành ao trữ nước ngọt) Người ương –

Ghi chú: Trong cùng một cột, những tỷ lệ có số mũ là các chữ cái giống nhau chỉ ra sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05),

những tỷ lệ có số mũ là các chữ cái khác nhau chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Trang 11

phương) tại Sóc Trăng đã nhận thức được ảnh

hưởng của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn

đến hoạt động ương – nuôi cá tra Với tỷ lệ lớn

nhất ở cả 3 nhóm, tất cả đều cho rằng đã có

những bất thường – cực đoan về khí hậu – thời

tiết xảy ra ở mức độ nào đó và xâm nhập mặn

là vấn đề được quan tâm – lo ngại nhiều nhất

- Trong 5 đến 10 năm đến, xâm nhập mặn

được đánh giá vấn đề đưa đến mối lo ngại cao

nhất đối với hoạt động ương – nuôi cá tra ở

tất cả các nhóm đối tượng Đa số những người

được khảo sát đều cho rằng tương đối khó khăn

trong việc khắc phục vấn đề này Bên cạnh đó,

biến động nhiệt độ theo thời gian, thời tiết thất

thường,… được quan tâm nhiều hơn bởi những

người nắm thông tin nhưng không được đánh giá

cao bởi nhóm những đối tượng trực tiếp sản xuất

- Thay đổi kỹ thuật ương – nuôi cá tra (giảm

mật độ, tăng cường sức đề kháng cho cá nuôi, nuôi theo quy trình khép kín và giảm cho ăn

để hạn chế thay nước khi bị xâm nhập mặn,…) được cả 3 nhóm xem như là biện pháp thích ứng quan trọng nhất trước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn

Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được thực

hiện trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ GD&ĐT

“Nghiên cứu ảnh hưởng xâm nhập mặn đến

nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus

Sauvage, 1878) tại Sóc Trăng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Chi cục thống kê tỉnh Sóc Trăng (2018) “Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2018” Nhà Xuất bản Thống Kê

2 Nguyễn Chí Lâm, Đỗ Thị Thanh Hương, Vũ Nam Sơn và Nguyễn Thanh Phương (2011) “Ảnh hưởng của

độ mặn lên thay đổi sinh lý và tăng trưởng của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) giống” Tạp chí Khoa

học 2011, số 17a các trang 60-69, Trường Đại học Cần Thơ

3 Sở NN&PTNT Bến Tre (Ben Tre DARD) (2012) “Báo cáo tình hình nuôi cá tra năm 2011 và kế hoạch cho năm 2012”

Tiếng Anh

4 Anh Lam Nguyen, Minh Hoang Truong, Johan AJ Verreth, Rik Leemans, Roel H Bosma and Sena S De Silva (2015) “Exploring the climate change concerns of striped catfi sh producers in the Mekong Delta, Vietnam”

SpringerPlus (2015) 4:46 (DOI 10.1186/s40064-015-0822-0)

5 Kam, S.P., Badjeck, M.C., The, L., The, L., Tran, N., (2012) “Autonomous adaptation to climate change by

shrimp and catfi sh farmers in Vietnam’s Mekong River delta” WorldFish Working Paper: 2012-24.

6 MARD (Ministry of Agriculture and rural Development), (2008) “Action plan framework for adaptation and mitigation of climate change of the agriculture and rural development sector period 2008-2020” MARD,

Ha Noi, Vietnam

7 Phan, Lam T., Bui, Tam M., Nguyen, Thuy T.T., Gooley, G.J., Ingram, B.A., Nguyen Hao V., Nguyen

Phuong T De Silva Sena S., (2009) “Current status of farming practices of striped catfi sh, Pangasianodon

hypophthalmus in the Mekong Delta, Vietnam” Aquaculture, 296, 227-236.

8 Ram C Bhujel, (2008) “Statistics for aquaculture” Asian Institute of Technology (AIT) Wiley-Blackwell

Trang web

9 dia-ly; truy cập ngày 10-2-2020

Trang 12

https://soctrang.gov.vn/Default.aspx?sname=ubnd-stg&sid=4&pageid=467&catid=54254&catname=vi-tri-ẢNH HƯỞNG CỦA DỊCH CHIẾT RONG Ulva reticulata LÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA RAU MUỐNG (Ipomoea aquatic)

Văn Hồng Cầm 1 , Khúc Thị An 1 , Nguyễn Thảo Hiền 2 , Trần Thị Phương Anh 3

1 Viện Công nghệ sinh học và môi trường, Trường Đại học Nha Trang

2 Sinh viên K56 – Công nghệ sinh học, Trường Đại học Nha Trang

Tác giả liên hệ: Văn Hồng Cầm (Email: camvh@ntu.edu.vn) Ngày nhận bài: 23/12/2019; Ngày phản biện thông qua: 06/11/2020; Ngày duyệt đăng: 24/12/2020

TÓM TẮT

Rong biển đã và đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó ngành nông nghiệp có thể

sử dụng rong biển như một loại phân bón hữu cơ Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích khảo sát điều kiện thích hợp để thu dịch chiết rong Ulva reticulata, và khảo sát ảnh hưởng dịch chiết rong lên tỷ lệ nảy mầm, năng suất, chiều dài thân, chiều dài rễ của rau muống (Ipomoea aquatica)

Kết quả khảo sát điều kiện pH và nhiệt độ thích hợp để thu dịch chiết rong biển U reticulata cho thấy: dịch chiết thu được tốt nhất là ở điều kiện nhiệt độ 120ºC/1atm (20 phút), pH = 3 hoặc 11 Không có

sự khác biệt giữa các nghiệm thức có bổ sung rong biển và nghiệm thức đối chứng trong ảnh hưởng của dịch chiết U reticulata lên tỉ lệ nảy mầm và phát triển rễ ở rau muống Dịch rong chiết ở pH11 với nồng

độ 0,5 % cho chiều dài thân tốt nhất (34,80 ± 4,69 cm) và có khác biệt với nghiệm thức đối chứng nước máy (22,00 ± 2,34 cm) Năng suất rau cao nhất thu được ở các chậu rau được bón lá bằng dịch rong chiết trong môi trường pH7 và pH11 (115,33 ± 21,94 – 137,67 ± 25,42 g/chậu), khác biệt rõ rệt so với đối chứng nước máy (52,33 ± 30,27 g/chậu) và 2 sản phẩm phân bón rong biển thương mại được thử nghiệm song song (65,7±9,7 g/chậu)

Từ khóa: Ulva reticulata, phân bón dạng lỏng, phân bón rong biển

ABSTRACT

Seaweeds have been used in many applications including organic fertilizers The aim of our research was to evaluate the method to extract Ulva reticulata and the effect of those extracts on the growth (germination rate, shoot length, root length) and productivity of water spinach (Ipomoea aquatica) The results showed that the optimal conditions to get extracts were 121ºC/1atm for 20 minutes at pH3 and pH11 There was no difference between seaweed-extract-added treatments and tap-water control in germination rate and root length On the other hand, the shoot length was highest when the plants were sprayed with 0.5 % of pH11-extracted liquid (34.80 ± 4.69 cm) that was signifi cantly different from other treatments The highest productivity was achieved in seaweed solutions extracted in pH7 and pH11 (average over 100 g/pot), which were much higher than other controls including tap water (52.3 ± 30.2 g/pot) and commercial liquid seaweed fertilizer controls (65.7 ± 9.7 g/pot).

Key words: Ulva reticulata, liquid fertilizer, seaweed fertilizer

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Rong lục võng hay còn được gọi là rong

giấy hoặc rong xanh nhớt Ulva reticulata,

thuộc chi rong xà lách Ulva, thường phát triển

bám trên các bãi đá trong vùng bãi triều Khi

hàm lượng dinh dưỡng trong nước cao, các

loài thuộc chi Ulva sẽ phát triển mạnh mẽ,

còn được gọi là “thủy triều xanh” – “green

tides” [6] Hiện tượng thủy triều xanh đã

được ghi nhận và mô tả ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới Vào đầu những năm 2000, các

bờ biển trong các khu resort ở đảo Boracay

(trung tâm Philippines) đã xuất hiện ồ ạt Ulva

reticulata – nguyên nhân do việc xử lý nước

thải không triệt để [8] Đảo Mactan (Cebu, Philippines), cũng đã chi trả một khoảng tiền

lớn cho việc dọn dẹp Ulva reticulata và Ulva

lactuca trong các đợt thủy triều xanh vào năm

Trang 13

2003-2004 [8] Vào thế vận hội Olympics

lần thứ 29 diễn ra tại Qingdao (Thanh Đảo),

Trung Quốc, thủy triều xanh đã gây nhiều

rắc rối cho môn thể thao thuyền buồm Hơn

10.000 người và 1.400 thuyền được điều

động để dọn dẹp Ulva reticulata chỉ trong

thời gian ngắn trước khi thế vận hội bắt đầu

[9] Tháng 8 năm 2011, Viscusi cũng đã công

bố trên website Bloomberg.com về việc thủy

triều xanh đã làm khách du lịch rời khỏi vùng

biển Brittany, Pháp [16]

Ulva reticulata phân bố chủ yếu ở miền

Trung và Nam Trung bộ Việt Nam [1] Trước

đây, U reticulata xuất hiện tại khu vực bờ

biển Hòn Chồng-Nha Trang với mật độ thấp,

sự có mặt của chúng không đáng kể và vai

trò của chúng cũng không được nhắc đến Tuy

nhiên trong khoảng thời gian trở lại đây, sau

khi đường Phạm Văn Đồng được xây dựng, số

hộ dân trong khu vực tăng lên, các hoạt động

du lịch tăng mạnh, nguồn nước thải ra biển

xử lý không đầy đủ dẫn đến sự bùng phát của

thủy triều xanh Ulva reticulata (Hình 1) Sự

xuất hiện của U reticulata trong thời gian qua

đã gây “phiền hà” đến người dân sống trong

khu vực cũng như ảnh hưởng đến hoạt động

du lịch địa phương Khi rong phân hủy, sẽ gây

mùi khó chịu

Trước tình hình “thủy triều xanh” xuất

hiện, nhiều nhà khoa học đã bắt đầu các

nghiên cứu hướng đến việc sử dụng U

reticulata Selvam và Sivakumar (2013) đã

thử nghiệm dịch chiết Ulva reticulata lên sự phát triển của đậu mười Vigna mungo Kết

quả cho thấy, với nồng độ thấp dịch chiết

rong biển U reticulata có khả năng thúc đẩy

nhanh sự nẩy mầm, sự phát triển, cho năng suất cũng như chất lượng hạt đậu cao [14] Magnusson (2016) đã đề xuất mô hình gồm nhiều cách thức sử dụng khác nhau trong việc

xử lý chi tảo Ulva nở hoa (Hình 2) [10].

Nhóm nghiên cứu của Selvam đã sử dụng

dịch chiết từ rong U reticulata tác động lên

sự nảy mầm, tăng trưởng của hạt đậu đen

đã cho kết quả tốt, hạt được ngâm với nồng

độ dịch chiết thấp cho tỷ lệ nảy mầm cao hơn bình thường, lần lượt là 100% (nồng độ 2,5%), 95% ± 2,1 (nồng độ 1%) [13], [14] Một nghiên cứu khác thuộc nhóm nghiên cứu Muthezhilan về việc phát triển phân bón dạng lỏng từ 3 loại rong biển khác nhau

bao gồm Ulva fasciata, Sargassum wightii

và Padina boergesenii nhằm nâng cao năng

suất các loài thực vật bao gồm đậu xanh

(Vigna radiate), đậu mười (Vigna mungo), cải bẹ xanh (Brassica juncea) và lúa (Oryza

sativa) Kết quả của nghiên cứu này đã

chứng minh rõ ràng công dụng thúc đẩy tăng trưởng của các nhóm thực vật thử nghiệm, nhóm nghiên cứu cũng đã đề xuất việc sử dụng hỗn hợp dịch chiết rong biển (chiết bằng nước) trong nông nghiệp nhằm nâng cao mùa vụ sản xuất theo phương thức thân thiện với môi trường [11]

Hình 1: Rong Ulva spp dạt lên b ờ biển Phạm Văn Đồng, Nha Trang

Trang 14

Hình 2: Mô hình được đề xuất trong việc xử lý tảo chi Ulva nở hoa [10]

(1) chi Ulva thu hoạch từ tảo nở hoa do phú dưỡng hóa

(2) tảo nuôi trồng.

(3) rửa sinh khối trong nước ngọt,

(4) bốc hơi nước rửa trong các ao bằng năng lượng mặt trời

(5) muối rong biển với tỷ lệ Na: K thấp và hàm lượng Ca và Mg cao và một loạt các nguyên tố vi lượng, và các chất có hoạt tính sinh học từ các chất xơ hòa tan (ulvan), có thể được kết hợp vào các sản phẩm thực phẩm chế biến.

(6) phân bón hữu cơ, (7) thức ăn gia súc (8) và nhiên liệu sinh học.

Năm 2014, John và Mahadevi đã tiến hành

thí nghiệm nghiên cứu tác động của phân bón

lỏng chiết từ rong Caulerpa peltata lên hạt

đậu xanh, kết quả cho thấy dịch chiết rong

Caulerpa peltata ảnh hưởng tích cực đến sự

nảy chồi và chiều dài rễ của hạt đậu xanh, các

chất sinh hóa (diệp lục, carotenoid,…) tăng

lên và hàm lượng sắc tố tối đa ở mức 10%

SLF, nghiên cứu đưa ra kết luận dịch chiết

rong Caulerpa peltata có thể được sử dụng

như phân bón sinh học cho sự phát triển của

hạt đậu xanh Vigna radiata [12].

Việc sử dụng các chất chiết xuất thu được từ

rong biển nhằm thúc đẩy tăng trưởng ở thực vật

đã được nghiên cứu rộng rãi kể từ lần đầu tiên

sản phẩm được tung ra thị trường vào những

năm 1940 [5] Những sản phẩm này giúp tăng

cường sự tăng trưởng và năng suất của nhiều

cây trồng thông qua việc cải thiện sự phát triển

của rễ, tăng hàm lượng chất diệp lục và diện

tích lá [2], [4], [5], [7], [15]

Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào thử

nghiệm dịch chiết rong U reticulata trên đối

tượng rau muống (Ipomoea aquatica) - một

loại rau có trong bữa ăn hàng ngày của các gia

đình Việt Nam- nhằm đánh giá tính khả thi của

việc xử lý rong Ulva trong các đợt “thủy triều xanh” trở thành dịch phân bón cho rau xanh

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thu mẫu và xử lý mẫu:

Rong lục võng (còn gọi là rong giấy, rong

xanh nhớt) Ulva reticulata được thu từ vùng

nước cạn khu vực bãi đá Hòn Chồng, phía Bắc Thành phố Nha Trang vào mùa rong phát triển ồ ạt Mẫu rong thu vào tháng 5-7/2016 tháng 5-7/2018 (mùa khô), tháng 10-11/2016

và tháng 10-11/2017 (mùa mưa) Mẫu rong thu

về được rửa sạch để loại bỏ muối, cát và các tạp chất khác Mẫu rong được định danh khoa học dựa theo tài liệu của Phạm Hoàng Hộ (1969) và

cơ sở dữ liệu online Algaebase (https://www.algaebase.org/search/species/detail/?species_id=3671) Mẫu rong sau khi thu được rửa sạch nhiều lần bằng nước ngọt, các mẫu rong, sau đó được phơi khô dưới mái che trong 1 – 2 ngày) Sau khi sấy, mẫu rong đuợc xay nhỏ 2mm, giữ trong các túi PET và hút chân không Mẫu đuợc bảo quản ở nhiệt độ phòng, trong điều kiện tối Một phần được sử dụng trong nghiên cứu thủy phân rong bằng để thu dịch rong biển và thử nghiệm trên cây trồng

Trang 15

2.2 Ảnh hưởng của pH và nhiệt độ đến sự

phân cắt Ulva reticulata

Dịch chiết rong đuợc chuẩn bị theo phương

pháp của Briceño-Domínguez [3], có cải tiến,

cách thực hiện như sau: mẫu rong xay nhỏ

đuợc trộn với nuớc theo tỉ lệ 1:20 (rong:nuớc

cất), sử dụng H3PO4, KOH để điều chỉnh đến

các giá trị pH = 3, 5, 7, 9, 11, 13 Tiến hành

thủy phân các mẫu rong ở các nhiệt độ khác

nhau bao gồm: nhiệt độ phòng (đối chứng),

60ºC, 80ºC, 121ºC (20 phút, 1atm) Tất cả các

phản ứng được thực hiện trong bình kín Sau

đó, mẫu đuợc đánh giá cảm quan về màu, mùi,

độ nát của rong Khi pH tự về lại trung tính

(hoặc điều chỉnh về trung tính bằng acid HCl

hoặc NaOH) mẫu được ly tâm 1000rpm trong

5 phút và thu dịch nổi Dịch ly tâm được sử

dụng để đo hàm lượng các chất hòa tan ∆Brix

(Atago, Nhật) nhằm đánh giá lượng đường hòa

tan được tạo ra Mỗi nghiệm thức được lặp lại

3 lần

(∆Brix = Ðộ hòa tan sau khi gia nhiệt (Bt) –

Ðộ hòa tan ban dầu (Bi))

Ngoài ra, các đánh giá về mặt cảm quan bao

gồm màu sắc rong, mùi của dịch chiết và độ nát

của bã rong sau khi chiết đều được ghi nhận

2.3 Khảo sát ảnh hưởng của dịch chiế t rong

lên sự sinh trưởng của Ipomoea aquatica

2.3.1 Ảnh hưởng của dịch chiết rong đến sự

nảy mầm của hạt Ipomoea aquatica

Hạt giống rau muống (Ipomoea aquatica)

do công ty TNHH Hạt giống Thuận Điền sản

xuất được sử dụng để đánh giá dịch chiết rong

biển U reticulata Cách trồng và thu hoạch dựa

vào thông tin được in trên bao bì

Thí nghiệm khảo sát tỷ lệ nảy mầm của hạt

giống được thực hiện như sau: chuẩn bị dịch

chiết rong được chiết bằng: nước cất, KOH

(pH =11), H3PO4 (pH = 3) với các nồng độ

0,5% và 1%,; hạt giống mỗi loại được gieo

trên hộp nhựa thực phẩm có lót giấy lọc thấm

sẵn dịch chiết rong đã chuẩn bị (20ml/đĩa),

lựa chọn hạt giống có kích thước, màu sắc

và trọng lượng đồng nhất, tiến hành gieo hạt

gieo 50 hạt/đĩa và lặp lại 3 lần, sau đó tính

kết quả trung bình, trong đó, nghiệm thức

đối chứng bao gồm nước máy, hai loại phân

bón từ rong biển thương mại là Phân bón A

có dạng bột được hòa tan (PB_A) và Phân bón B dạng dịch lỏng (PB_B) theo công thức của nhà sản xuất Hạt được đặt trong phòng

ở nhiệt độ 25ºC ± 2ºC, Sau 4 ngày, tiến hành đếm và tính toán tỷ lệ nảy mầm của hạt giống Một hạt được xem là nẩy mầm khi rễ mầm xuất hiện

Tỉ lệ nảy mầm (%) (Germination rate – GR): được xác định bằng công thức:

Lựa chọn hạt giống có kích thước, màu sắc

và trọng lượng đồng nhất, tiến hành gieo hạt lên các chậu được chuẩn bị sẵn đất sạch (môi trường đất có dinh dưỡng của nhà sản xuất Tribat - Công ty CNSH Sài Gòn Xanh) với mật độ 32 hạt/chậu Định kỳ tưới nước 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều mát Dịch phân bón rong biển được pha loãng ở các nồng độ khác nhau (0,5%, 1%), phun dịch vào các châu cây các nghiệm thức theo tỷ lệ 20ml/lần; cách 7 ngày phun 1 lần Nghiệm thức đối chứng bao gồm nước máy, phân bón rong biển thương mại PB_A và PB_B pha theo hướng dẫn của nhà sản xuất), nghiệm thức kiểm

chứng bao gồm các dịch chiết từ rong biển

Ulva reticulata bằng KOH (pH = 11), H3PO4 (pH = 3), nước cất (pH = 7) ở các nồng độ khác nhau (0,5%; 1%) Sau 53 ngày sau khi gieo hạt, tiến hành thu hoạch, nhổ cả gốc Các chậu được sử dụng trong thí nghiệm đồng nhất về kích thước (12x14cm), hình dáng Thí nghiệm được lặp lại 3 lần

Đánh giá sự phát triển của cây theo các chỉ tiêu: chiều cao thân cây, chiều dài rễ, tỷ lệ sống của cây và năng suất cây trồng (=khối lượng cây/chậu)

Số liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm thống kê Statgraphics centurion XV.I

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Ảnh hưởng của pH và nhiệt độ đến sự phân cắt Ulva reticulata

Kết quả khảo sát điều kiện pH và nhiệt độ

Trang 16

để thu dịch chiết rong U reticulata cho thấy:

nhiệt độ và pH có ảnh hưởng đến khả năng

phân cắt của rong ΔBrix tuy phân bố rời rạc

nhưng ở 121ºC/1atm và pH13 hoặc pH3 đem

lại kết quả khác biệt so với các nghiệm thức

khác (Hình 3)

Về mặt cảm quan, mức pH11 và pH13,

dịch rong có màu xanh lục thẫm, khả năng

phân cắt rong nhanh hơn so với nhóm pH

thấp, tuy nhiên, khi xử lý ở pH13, sản phẩm

chiết có mùi sộc (mùi của KOH nồng độ cao),

gây độc hại Khi chiết bằng pH = 9 ta nhận

thấy được khả năng phân cắt rong chậm (rong nát ít), dịch rong có màu xanh lục đậm và vẫn giữ được mùi tanh của rong biển Đối với pH

= 3, 5, dịch rong ngả màu vàng xanh, ngoài mùi tanh của rong còn nhận thấy mùi chua của acid (Bảng 3.1)

Với các kết quả như trên, chúng tôi sử dụng pH = 3, pH = 11 và pH = 7 (đối chứng) trong điều kiện nhiệt độ hấp 121ºC/1atm, thời gian hấp 20 phút để chiết lấy dịch rong, tiến hành thực hiện các thí nghiệm thử nghiệm trên thực vật

Hình 3: Ảnh hưởng của pH và nhiệt độ đến sự phân cắt U reticulata

Giá trị P_value < 0.001

Bảng 3.1: Đánh giá cảm quan dịch rong chiết trong các điều kiện pH khác nhau.

Trang 17

3.2 Ảnh hưởng của dịch chiết rong biển lên

sự phát triển của Ipomoea aquatica

3.2.1 Tỷ lệ nảy mầm của Ipomoea aquatica

Kết quả khảo sát dịch chiết rong U reticulata

đối với tỷ lệ nảy mầm giữa hạt rau muống sau

4 ngày tính từ ngày ủ với dịch rong cho thấy:

tỷ lệ nảy mầm giữa các nghiệm thức dịch chiết

rong U reticulata và nhóm đối chứng phân bón

rong thương mại (PB_A và PB_B) không thể

hiện sự khác biệt so với mẫu đối chứng nước máy Trong các nghiệm thức, tỷ lệ nảy mầm của hạt rau muống đạt tỷ lệ trung bình từ 40-66% với độ lệch chuẩn khá lớn 3-11% Dịch rong chiết ở pH11, nồng độ dịch 0,5% cho tỷ lệ nảy mầm ổn định hơn so với các nghiệm thức khác (độ lệch 3%), và dịch chiết rong ở pH3, nồng độ dịch chiết 1% cho độ lệch lớn nhất (11%) (Hình 4)

Hình 4: Ảnh hưởng của các dịch chiết rong U reticulata lên sự nảy mầm của hạt Ipomoea aquatica

a,b,c: là giá trị phân hạng biểu diễn sự khác biệt của mẫu (với P<0,05) 3.2.2 Ảnh hưởng của dịch chiết rong lên các

chỉ số phát triển khác của Ipomoea aquatica

Đối với sự phát triển chiều dài rễ và kéo

dài thân rau muống, các kết quả ghi nhận rằng

không có sự khác biệt về chiều dài rễ nhưng

có sự khác biệt về sự phát triển chiều dài thân

Nghiệm thức đối chứng nước máy có độ biến

động thấp hơn so với các nghiệm thức bón dịch

rong biển Ngoài ra, dịch rong Ulva reticulata

chiết trong môi trường pH11 với nồng độ dịch rong 0,5% cho kết quả khác biệt về chiều dài thân (34,8 ± 4,69cm) so với mẫu đối chứng nước máy (22,00 ± 2,34 cm) Tuy vậy, tất cả các nghiệm thức đều không khác biệt với 2 mẫu phân bón rong thương mại mua trên thị trường được dùng làm đối chứng (Hình 5)

Hình 5: Ảnh hưởng của các dịch chiết rong U reticulata lên sự phát triển thân và rễ Ipomoea aquatica

a,b,c: là giá trị phân hạng biểu diễn sự khác biệt của mẫu (với P<0,05)

Trang 18

Các số liệu ở cuối đợt thu hoạch cho thấy

năng suất rau và tỷ lệ sống tỷ lệ thuận với

nhau Dịch chiết rong Ulva reticulata trong

điều kiện pH3, nồng độ dịch 1% cho tỷ lệ rau

sống (31,25±3,13%) và năng suất thấp nhất

(43,67±26,40%) so với các nghiệm thức rong

U reticulata còn lại Về mặt năng suất rau, dịch rong thu nhận ở điều kiện chiết kiềm (pH11) và chiết nước (pH7) cho kết quả tốt nhất (100g/chậu) so với tất cả các nghiệm thức còn lại, và khác biệt rõ rệt so với đối chứng (52,33±30,27%) (Hình 6)

Hình 6: Ảnh hưởng của các dịch chiết rong U reticulata lên tỷ lệ sống và năng suất Ipomoea aquatica

a - f: là giá trị phân hạng biểu diễn sự khác biệt của mẫu (với P<0,05)

Như vậy có thể thấy, sự phát triển chiều dài

rễ không có sự khác biệt Tuy vậy, tỷ lệ sống

và năng suất rau thu được (gấp đôi so với đối

chứng rau chỉ được tưới bằng nước máy) thể

hiện các dịch chiết rong ở pH kiềm hoặc pH

trung tính có thể sử dụng như một phân bón

cho rau xanh Ngoài ra, 2 loại phân bón rong

biển thương mại được sử dụng làm đối chứng

có năng suất không vượt trội so với nhóm

nghiệm thức pH7 và pH11

Nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với

các nghiên cứu về sử dụng dịch rong biển

trong kích thích phát triển và năng suất cây

trồng Kết quả của chúng tôi, so với nghiên

cứu của Selvam và Sivakumar, (2013);

Selvam và Balamurugan (2013) có khác biệt

lớn về tỷ lệ nảy mầm của hạt: trong đó nhóm

tác giả này đã công bố dịch U reticulata cho

tỷ lệ nảy mầm đậu mười đạt 100% (nồng độ

2,5%), 95% ± 2,1 (nồng độ 1%) Điều này có

thể do bản chất sinh học của các loại hạt giống

khác nhau và nồng độ và cách thức chiết rong khác nhau Ngoài ra, nồng độ dịch chiết rong thấp (0.5%) so với nồng độ dịch chiết cao (1%) cho kết quả thử nghiệm tốt hơn trên thực vật là một thông tin tương đồng với các kết quả khảo sát của các nhóm nghiên cứu khác [7], [11] [13], [14]

4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Dựa trên các kết quả khảo sát, chúng tôi đề xuất có thể sử dụng phương pháp chiết rong bằng pH11 (năng suất vượt trội và chiều dài thân rau tốt hơn so với đối chứng) với nồng

độ dịch rong 0,5% như một dịch bổ sung trong trồng rau xanh Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện quy trình chiết dịch rong, và cần có những nghiên cứu phối trộn sản phẩm dịch rong với các chất dinh dưỡng khác, nghiên cứu phương pháp bảo quản dịch rong để có thể tiến đến thương mại hóa và sản xuất đối phó với hiện tượng thủy triều xanh trên bờ biển thành phố Nha Trang

Trang 19

Hình 7: Thử nghiệm dịch rong biển lên sự phát triển và năng suất Ipomoea aquatic

Từ trái sang phải: Đối chứng nước máy, Đối chứng PB_A và PB_B, pH7 1,0%, pH11 1,0%, pH3 0,5%, pH11 0,5%

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Tiếng Việt:

1 Phạm Hoàng Hộ, 1969 Rong biển Việt Nam Trung tâm học liệu Sài gòn

Tiếng Anh:

2 Blunden G., Jenkins T and Liu, Y.W (1996), "Enhanced leaf chlorophyll levels in plants treated with

seaweed extract", Journal of Applied Phycology, 8, pp 535–543 doi: 10.1007/BF02186333.

3 Briceño-Domínguez D., Hernández-Carmona G., Moyo M., Stirk W., Staden J (2014), "Plant growth

promoting activity of seaweed liquid extracts produced from Macrocystis pyrifera under different pH and temperature conditions" J Appl Phycol, 26, pp 2203–2210 https://doi.org/10.1007/s10811-014-0237-2

4 Craigie J.S., Norrie J., Prithiviraj B (2009), ‘Seaweed Extracts as Biostimulants of Plant Growth and

Development’, Journal of Plant Growth Regulation, 28, pp 386–399 doi: 10.1007/s00344-009-9103-x.

5 Craigie, J.S (2011), "Seaweed extract stimuli in plant science and agriculture", Journal of Applied Phycology,

23, pp 371–393 doi: 10.1007/s10811-010-9560-4

6 Fort A., Mannion C., Fariñas-Franco J.M., & Sulpice, R (2019), "Green tides select for fast expanding Ulva

strains" The Science of the total environment, 698, 134337

7 Khan W., Rayirath U.P, Subramanian U., Jithesh M.N, Rayorath P., Hodges D.M., Critchley A.T,

8 Largo D.B., Sembrano J., Hiraoka M., Ohno M (2004), "Taxonomic and ecological profi le of `green tide'

Trang 20

species of Ulva (Ulvales, Chlorophyta) in central Philippines" Hydrobiologia 512, 247–253 (2004).

9 Leliaert F., Zhang X., Ye N., Malta E., Engelen A.H, Mineur F., Verbruggen H., Clerck O.D (2009)

‘Research note: Identity of the Qingdao algal bloom’, Phycological Research, 57, pp 147–151 doi: 10.1111/

j.1440-1835.2009.00532

10 Magnusson M., Carl C., Mata L., De-Nys R., Paul N.A (2016), "Seaweed salt from Ulva: A novel fi rst step in a cascading biorefi nery model", Algal Research Elsevier, 16, pp 308–316 doi: 10.1016/J.ALGAL.2016.03.018.

11 Muthezhilan R., Ravikumar V., Karthik R., Hussain A J (2014), "Development of Seaweed Liquid

Fertilizer (SLF) Consortium for the Enhancement of Agriculturally Important Crop Plants", Biosciences

Biotechnology Research Asia, 11, pp 253–261 doi: 10.13005/bbra/1418.

12 Paul J P and Mahadevi B (2014), "Effects of Seaweed liquid fertilizer of Caulerpa peltata Lamour (green seaweed) on Vigna radiata (L.) R Wilczek., In Idinthakarai, Tamil Nadu, India ", World Journal of Pharmacy

and Pharmaceutical Sciences, 3(2), pp 422–438.

13 Selvam, G and Balamurugan, M (2013), "Developmental Changes in the Germination, Growth and

Chlorophyllase Activity of Vigna Mungo L Using Seaweed Extract of Ulva reticulata Forsskal", International

Research Journal of Pharmacy, 4(1), pp 252–254.

14 Selvam, G and Sivakumar, K (2013), "Effect of foliar spray from seaweed liquid fertilizer of Ulva reticulata

(Forsk.) on Vigna mungo L and their elemental composition using SEM - energy dispersive spectroscopic

analysis", Asian Pacifi c Journal of Reproduction 2(2), pp 119–125 doi: 10.1016/S2305-0500(13)60131-1.

15 Turan, M and Köse, C (2004), "Seaweed extracts improve copper uptake of grapevine", Acta

Agriculturae Scandinavica, Section B — Soil & Plant Science Taylor & Francis, 54(4), pp 213–220 doi:

10.1080/09064710410030311

16 Viscusi G, (2011), "Green Tides drive away Brittany tourists., USA: Bloomberg" http://www.bloomberg.com/news/2011-08-03/brittany-green-tides-drive-away-tourists-from-french-beaches.html

Trang 21

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN VÀ THỨC ĂN ĐẾN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA Ấ U TRÙ NG ỐC ĐĨA

(Nerita balteata Reeve, 1855) GIAI ĐOẠN TRÔI NỔ IEFFECTS OF SALINITY AND FOOD ON GROWTH, SURVIVAL RATE OF MANGROVE

SNAIL (Nerita balteata Reeve, 1885) AT THE VELIGER LARVAE STAGE

Vũ Trọng Đại 1* và Phạ mThị Khanh 1

1 Viện Nuôi Trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang

Tác giả liên hệ: Vũ Trọng Đại (Email: daivt@ntu.edu.vn)

Ngày nhận bài: 16/11/2020; Ngày phản biện thông qua: 28/12/2020; Ngày duyệt đăng: 31/12/2020

cứ u cho thấy, độ mặn thích hợp nhất cho sinh trưởng của ấu trùng ốc đĩa giai đoạ n trôi nổ i là 25 ppt vớ i sinh trưởng tuyệt đối đạt cao nhấ t 8,99 ± 0,4 µm/ngày và tỷ lệ sống đạt 54,11 ± 2,37 % Khẩu phần thức ăn là tảo tươi kết hợp thức ăn tổng hợp là thích hợp nhất cho sinh trưởng của ấu trùng ốc đĩa, tăng trưởng tuyệt đối đạt 10,35 ± 0,51 µm/ngày, tỷ lệ sống đạt 58,50 ± 3,04 % Vì thế, nghiên cứu này cho thấy ấu trùng ốc đĩa ở giai đoạn trôi nổi có thể nuôi ở điều kiện độ mặn 25 ppt và thức ăn là tảo tươi kết hợp thức ăn tổng hợp cho sinh trưởng và tỷ lệ sống cao nhất.

Từ khóa: ấ u trù ng trôi nổ i, độ mặn, ốc đĩa, thức ăn, sinh trưởng

ABSTRACT

Mangrove snail N balteata is a potential aquaculture species with high nutritional and economic value Although the artifi cial seeds production of this species have been successful but still having problems as low survival rate in the process by veliger larvae are transformed into spat larvae Experiments were conducted to determine the effects of salinity and food on growth rate and survival rate of this snail in the stage of veliger larvae in Quang Ninh provice The results showed that the optimal salinity for growth of veliger larvae was

25 ppt, that resulted in a absoluted growth rate of 8.99 ± 0.4 µm/day and survival rate of 54.11 ± 2.37% The diet of algae combined with commercial feed was most suitable for the growth of mangrove snail at the veliger larvae stage with absoluted growth rate and the survival rate reached 10.35 ± 0.51 µm/day and 58.50 ± 3.04 %, respectively These results could contribute technical knowledge of rearing veliger larvae of N balteata with optimal salinity of 25 ppt and diet of algae combined commercial feed

Key words: veliger larvae; salinity, mangrove snail, feed, growth, survival rate

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Ốc đĩa (Nerita balteata) là loài động vật

chân bụng có phân bố chính ở các vùng biển

khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới (Frey và

Vermeij, 2008) và được xem là món ăn đặc

sản do có thịt thơm ngon, giàu dinh dưỡng

và giá trị kinh tế cao (Đặng Khánh Hùng và ctv, 2012) Tuy nhiên, ốc đĩa là đối tượng mới nên sản lượng ốc đĩa cung cấp cho thị trường hoàn toàn là khai thác từ tự nhiên từ đó làm cho nguồn lợi ốc đĩa ngoài tự nhiên đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt (Vũ Trọ ng Đạ i và ctv,

Trang 22

2014) Hiệ n nay, trên thế giớ i chỉ có mộ t số

công trình nghiên cứu về phân loại, phân bố và

một số đặc điểm sinh học củ a ố c đĩ a (Siong và

Reuben, 1998; Hurtado và ctv., 2007; Frey và

Vermeij, 2008) Ở nướ c ta, nhóm nghiên cứu

củ a Trường Đại học Nha Trang đã thự c hiệ n

cá c nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản

và lầ n đầ u tiên thà nh công trong sả n xuấ t giố ng

đố i tượ ng nà y tại Quảng Ninh (Ngô Anh Tuấn

và ctv, 2013)

Mặ c dù đã thà nh công trong quá trì nh sả n

xuấ t giố ng nhân tạ o nhưng ố c đĩ a là đố i tượ ng

có thờ i gian phá t triể n phôi ké o dà i (Phù ng

Thế Trung và ctv, 2014) và đặ c biệ t tỷ lệ số ng

củ a ấ u trù ng khi chuyể n giai đoạ n từ trôi nổ i

sang giai đoạ n số ng đá y thấ p (Ngô Anh Tuấn

và ctv, 2013) là m cho hiệ u quả sả n xuấ t giố ng

đố i tượ ng nà y ở quy mô đạ i trà cò n gặ p nhiề u

khó khăn Do đó, việc nghiên cứu ảnh hưởng

của độ mặn và thức ăn đến sinh trưởng và tỷ

lệ sống của ấu trùng ốc đĩa giai đoạ n trôi nổ i

nhằ m tì m ra đượ c khoả ng độ mặ n và loạ i thứ c

ăn phù hợ p là rất cần thiết, gó p phầ n nâng cao

tỷ lệ số ng củ a ấ u trù ng khi chuyể n sang giai

đoạ n số ng bá m, từ đó bổ sung cơ sở khoa họ c

quan trọ ng tiế n tớ i xây dự ng hoà n thiệ n quy

trì nh sả n xuấ t giố ng đố i tượ ng nà y ở quy mô

đạ i trà

II ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên

cứu

Đố i tượ ng nghiên cứ u: Ốc đĩ a, tên khoa họ c

Nerita balteata Reeve, 1855, tên địa phương

2.1 Ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng và

tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa giai đoạn veliger

Thí nghiệm được bố trí gồ m 3 nghiệ m thứ c (NT) độ mặn: NT1 độ mặn 20 ppt, NT2 độ mặn

25 ppt và NT3 độ mặn 30 ppt, mỗi NT được lặp lại 4 lần, thời gian thí nghiệm ké o dà i 40 ngày, dùng tỷ lệ pha độ mặn giữa nước ngọt và nước biển để có độ mặn theo nghiệm thức thí nghiệm Nguồn nước máy được chứa trong bể composite và sục khí 24h trước khi sử dụng để

và 14h, sử dụng thức ăn là các loài tảo đơn bào

(Nannochloropsis oculata, Isochrysis galbana),

tỷ lệ phối trộn 1:1, mật độ tảo cho ăn 15.000 – 30.000 tb/mL Trước khi cho ăn, tảo được lọc qua lưới lọc tảo để loại bỏ chất vẩn, xác tảo Tiế n hà nh thay nướ c 2 ngày/lần, lượ ng nướ c thay 50% và theo dõi các điều kiện môi trường và quan sá t khả năng vận động, bắt mồi củ a ấ u trù ng

2.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và

tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa giai đoạn veliger

Thí nghiệ m được bố trí với 3 nghiệm thức

(NT) thức ăn: NT1 - Tảo tươi – TT (N oculata,

Các thí nghiệm được bố trí trong các xô nhựa thể tích 18 lí t, nước biể n trước khi sử

Hình 1: Ấ u trù ng ố c đĩa N balteata giai đoạ n

trôi nổ i.

Trang 23

dụ ng đượ c lọc qua lõ i lọ c bông kích thước

0,5 µm Kiểm tra và điều chỉnh các thông số

môi trường nước: pH = 7,5 – 8,5, nhiệt độ 28

± 2ºC, độ mặn 25 ± 1 ‰ Định lượng ấu trùng

giai đoạn trôi nổi một ngày tuổi vào các xô thí

nghiệm, mật độ ương 100 con/lí t Bố trí sục

khí, điều chỉnh chế độ sục khí vừa phải, thờ i

gian sục khí 24/24

Hàng ngày cho ấu trùng ăn hai lần vào 8h

và 14h, trước khi cho ăn các loại tảo được lọc

qua lưới lọc để loại bỏ xác tảo, cặn vẩn Thức

ăn tổ ng hợ p ở NT2 và NT3, trước khi cho ấu

trùng ăn phải cà qua vợt nhằm đảm bảo kích cỡ

thức ăn phù hợp với phương thứ c ăn lọc của ấu

trùng Tiế n hà nh thay nướ c 2 ngày/lần, lượ ng

nướ c thay 50% và theo dõi các điều kiện môi

trường và quan sá t khả năng vận động, bắt mồi

củ a ấ u trù ng

Định kỳ 10 ngày/lần, lấy mẫu để xác định

các chỉ tiêu: tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (DLG

µm/ngày) và tỷ lệ sống (%) của ấu trùng

3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Kích thước chiều cao vỏ ấu trùng: là khoảng

cách lớn nhất kéo dài từ đỉ nh vỏ phí a trướ c

miệ ng vỏ , được đo bằng kính hiển vi có gắn

thước đo trên trắc vi thị kính, số lượng mẫu đo

30 ấu trùng/lần

Số lượng ấu trùng trong bể được xác định

bằng phương pháp định lượng thể tích, bằng

cách sử dụng cốc thủy tinh 200 mL lấy mẫu ở 5

vị trí khác nhau bất kì trong thể tí ch thí nghiệ m

để xác định mật độ ấu trùng trong từng thời

điểm thu mẫu, từ đó xác định được tỷ lệ sống

của ấu trùng

Công thứ c tí nh tốc độ tăng trưởng tuyệt đối

về chiều cao (DLG):

(Trong đó: L1, L2 lần lượt là chiều cao vỏ của ấu trùng ở thời điểm kiểm tra t1, t2)

Tố c độ tăng trưở ng tuyệ t đố i về chiề u cao

vỏ củ a ấ u trù ng đượ c tí nh theo toà n thờ i gian ương ấ u trù ng (40 ngà y) và trong từ ng thờ i gian thí nghiệ m, sau mỗ i 10 ngà y ương

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1 Ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưở ng

và tỷ lệ số ng của ấu trùng

Ấu trùng trôi nổ i mới nở được bố trí thí nghiệm với mật độ ban đầu 100 con/lít, điều kiện môi trường được duy trì trong khoảng thích hợp cho ốc đĩa: nhiệt độ: 26 – 30ºC, pH: 7,5 – 8,5

Bảng 1: Sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa giai đoạ n trôi nổ i ở các độ mặn khác nhau sau 40

L đầu : Chiều cao vỏ ấu trùng ban đầ u; L cuối : Chiều cao vỏ ấu trùng khi kết thúc thí nghiệm; DLG: tốc độ tăng trưởng tuyệ t đố i chiều cao

vỏ ấ u trù ng theo ngày; Các chữ cái khác nhau trong cùng cột thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê, p < 0,05).

Trang 24

Bảng 1 cho thấy, có sự sai khác có ý nghĩa

về chiều cao vỏ của ấu trùng ốc đĩa ở các độ

mặn khác nhau khi kết thúc thí nghiệm, trong

đó, ở độ mặn 25 ppt, chiều cao của ấ u trù ng đạt

giá trị lớ n nhất (704,1 ± 1,5 µm) (p<0,05) Ở độ

mặn 20 ppt và 30 ppt, chiều cao của ấu trùng

không có sự sai khác có ý nghĩa, dao động từ

647,2 ± 6,2 µm tới 660,7 ± 6,1 µm) (p>0,05)

Tương tự, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều

cao của ấu trùng ốc đĩa đạt cao nhất là 9,9 ±

1,5 µm/ngày ở nghiệ m thứ c độ mặ n 25 ppt, cao

hơn có ý nghĩa so với các nghiệm thức khác

(p<0,05) Không có sự sai khác có ý nghĩa về

tốc độ sinh trưởng của ấu trùng giữ a nghiệ m

thứ c độ mặn 20 ppt và 30 ppt

Tăng trưởng tuyệt đối về chiều cao của ấu

trùng trong thờ i gian ương là khá đều nhau ở 20

ngày đầu thí nghiệm, dao động trong khoảng 5,55 – 7,55 µm/ngày và không có sự sai khá c

có ý nghĩ a giữ a cá c nghiệ m thứ c (p>0,05) Tuy nhiên, từ ngày ương thứ 30 trở đi, có sự sai khác có ý nghĩa thông kê về tố c độ tăng trưởng của ấu trùng giữ a cá c nghiệm thức Ấu trùng có mức tăng trưởng tuyệt đối cao nhất

có ý nghĩ a ở độ mặn 25 ppt tương ứ ng là 9,28 µm/ngày và 11,13 µm/ngày sau 30 và 40 ngà y ương so vớ i hai nghiệ m thứ c cò n lạ i (p<0,05)

Tố c tăng trưở ng tuyệ t đố i củ a ấ u trù ng thấp nhất ở nghiệ m thứ c 20 ppt, nhưng không có sự sai khá c có ý nghĩ a so vớ i nghiệ m thứ c 30 ppt (p>0,05) Kết quả nghiên cứu này tương tự với nghiên cứu của Ngô Anh Tuấn và ctv (2013)

vớ i tốc độ tăng trưởng tuyệt đối củ a ấ u trù ng đạt giá trị cao nhất ở độ mặn 25‰

(Các chữ cái khác nhau trong cùng ngà y ương thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê, p < 0,05).

Hì nh 2: Tăng trưở ng tuyệ t đố i củ a ấ u trù ng ố c đĩ a giai đoạ n trôi nổ i ở cá c độ mặ n khá c nhau

theo thờ i gian thí nghiệ m.

Tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa giảm dần theo

thời gian thí nghiệm và có sự sai khá c giữ a cá c

nghiệ m thứ c thí nghiệ m, trong đó tỷ lệ số ng củ a

ấ u trù ng ở nghiệ m thứ c 25 ppt luôn cao hơn so

vớ i cá c nghiệ m thứ c cò n lạ i nhưng sự sai khá c

chỉ ghi nhậ n đượ c ở ngà y ương thứ 20 (78,17 ±

1,26%) và 40 (54,17 ± 2,36%) (p<0,05) Tỷ lệ

số ng củ a ấ u trù ng ở nghiệ m thứ c 20‰ và 30‰

khá đề u nhau và không có sự sai khá c (p>0,05)

Sau 40 ngà y ương, tỷ lệ số ng củ a ấ u trù ng giao

độ ng từ 43,67 – 45,83% Như vậy, độ mặn 25

ppt là ngưỡng độ mặn thích hợp nhất cho sinh

trưởng và phát triển của ấu trùng ốc đĩa giai đoạn trôi nổ i

Kế t quả nà y phù hợ p vớ i nghiên cứu củ a Ngô Anh Tuấn và ctv (2013), vớ i tỷ lệ số ng ấ u trù ng ố c đĩ a đạ t cao nhấ t là 74,9% ở độ mặ n 25‰ So sánh với kết quả nghiên cứu trên đối tượng động vật chân bụng khác như ốc nhảy, thì tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của ốc đĩa trong nghiên cứu này thấp hơn Sinh trưởng và

tỷ lệ sống của ấu trùng ốc nhảy giai đoạ n trôi

nổ i đạt giá trị cao nhất là 29,03 µm/ngày và 86,38% ở độ mặn 30‰ (Dương Văn Hiệp và

Trang 25

ctv, 2010), tỷ lệ sống của ấu trùng veliger ốc

hương đạt giá trị cao nhất là 73% sau 11 ngày

ương ở độ mặn 35‰ (Nguyễn Thị Xuân Thu

và ctv, 2000) Trong khi đó , kế t quả nghiên cứ u

củ a Vũ Trọ ng Đạ i và ctv (2018) cho thấ y độ

mặn 30‰ là tố t nhấ t cho sinh trưở ng (39,1 ±

4,74 µm/ngày) và tỷ lệ số ng (70,4 ± 2,52%)

củ a ấu trù ng ố c nhả y giai đoạ n trôi nổ i

2 Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưở ng

và tỷ lệ số ng của ấu trùng

Thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng của ấu trùng ốc đĩa giai đoạ n trôi nổ i đượ c bố trí trong điều kiện môi trường: nhiệt độ: 26 – 30ºC, độ mặn: 25 ± 1‰, pH: 7,5 – 8,5 Kết quả nghiên cứu đượ c trì nh bà y ở bả ng sau:Chiề u cao vỏ củ a ấ u trù ng có sự sai khác có

(Các chữ cái khác nhau trong cùng ngà y ương thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê, p < 0,05).

Hình 3: Tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa giai đoạ n trôi nổ i theo thờ i gian thí nghiệ m.

Bảng 2: Sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa giai đoạ n trôi nổ i sử dụ ng các loạ i thứ c ăn khác

nhau sau 40 ngày ương nuôi

ý nghĩa giữ a cá c nghiệ m thứ c (p<0,05) Sinh

trưởng về chiều cao vỏ của ấu trùng ốc đĩa đạt

giá trị lớn nhất (777,4 ± 3,2 µm) ở nghiệm thức

sử dụng thức ăn là tảo tươi kết hợp với thức

ăn tổng hợp và thấp nhất (672,1 ± 7,6 µm) ở

nghiệm thức sử dụng thức ăn tổng hợp sau 40

ngày ương nuôi Trong khi đó, không có sự sai

khác có ý nghĩa về kích thước chiều cao của ấu

trùng giữa hai nghiệm thức sử dụng thức ăn là

tảo tươi và thức ăn tổng hợp (p>0,05) Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng đạt giá trị cao nhất là 10,35 ± 0,51 µm/ngày ở nghiệm thức sử dụng tảo tươi kết hợp với thức ăn tổng hợp, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với hai nghiệm thức còn lại và có giá trị thấp nhất ở nghiệm thức cho ăn bằng thức ăn tổng hợp (7,85 ± 0,56 µm/ngày) nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức cho ăn bằng tảo

Trang 26

tươi (8,73 ± 0,48 µm/ngày) (p>0,05)

Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng

trong thờ i gian thí nghiệ m có sự sai khá c có

ý nghĩ a giữ a cá c nghiệ m thứ c (p<0,05) Ở

nghiệm thức sử dụ ng thứ c ăn là tảo tươi kết

hợp thức ăn tổng hợp, tố c độ tăng trưở ng tuyệ t

đố i củ a ấ u trù ng là cao nhấ t ở ngà y ương thứ

20 (11,44 ± 0,33 µm/ngày) Ở nghiệm thức

sử dụng thức ăn là tảo tươi thì tốc độ tăng

trưởng của ấu trùng có xu hướng tăng lên

theo thời gian thí nghiệm, từ 8,61 µm/ngày

ở ngày ương thứ 10 tới 9,52 µm/ngày ở ngày

ương 40 Sau 30 và 40 ngà y ương, tố c độ tăng

trưở ng củ a ấ u trù ng ở nghiệ m thứ c tả o tươi

và tả o tươi kế t hợ p thứ c ăn tổ ng hợ p không

có sự sai khá c có ý nghĩ a, nhưng cao hơn có

ý nghĩ a so vớ i nghiệ m thứ c sử dụ ng thứ c ăn

tổ ng hợ p Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng

của ấu trùng ở nghiệm thức cho ăn bằng thức

ăn tổng hợp cho thấy xu hướng trái ngược hẳn

với tốc độ tăng trưởng giảm dần theo thời gian

thí nghiệm, cao nhất là 8,85 µm/ngày ở ngày

ương thứ 20 và thấp nhất là 6,46 µm/ngày khi

kế t thú c thí nghiệ m Kế t quả so sá nh thố ng kê

cũ ng cho thấ y tăng trưở ng tuyệ t đố i củ a ấ u

20 ngày ương Tuy nhiên, từ ngà y ương thứ

30 thì tỷ lệ số ng củ a ấ u trù ng giảm mạnh, thấ p nhấ t là 63,50 ± 1,32% ở nghiệ m thứ c cho ăn

bằ ng thứ c ăn tổ ng hợ p (p<0,05) Đế n ngà y ương thứ 40, tỷ lệ sống của ấu trùng ở nghiệ m thứ c cho ăn bằ ng tả o tươi và tả o tươi kế t hợ p thứ c ăn tổ ng hợ p dao độ ng từ 58,50 – 60,33% cao hơn có ý nghĩ a so vớ i nghiệm thức chỉ

sử dụng thức ăn tổ ng hợ p (51,67 ± 2,08%) Không có sự sai khác có ý nghĩa về tỷ lệ sống của ấu trùng giữa nghiệm thức cho ăn bằng tảo tươi so với nghiệm thức cho ăn bằng tảo tươi kết hợp với thức ăn tổng hợp (p>0,05) Như vậy, thức ăn có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa ở giai

TATH: thức ăn tổng hợp; TT+TĂTH: Tảo tươi + Thức ăn tổng hợp

Các chữ cái khác nhau trong cùng ngà y ương thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê, p < 0,05

Hình 4: Tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng ố c đĩ a giai đoạ n trôi nổ i sử dụng các loại thức ăn

khác nhau theo thờ i gian thí nghiệ m.

Trang 27

TATH: thức ăn tổng hợp; TT+TĂTH: Tảo tươi + Thức ăn tổng hợp

Các chữ cái khác nhau trong cùng ngà y ương thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê, p < 0,05

Hình 5: Tỷ lệ sống của ấu trùng ố c đĩ a giai đoạn trôi nổ i sử dụng các loại thức ăn khác nhau

theo thờ i gian thí nghiệ m.

đoạn trôi nổ i, khẩu phần thức ăn là tảo tươi và

tảo tươi kết hợp thức ăn tổng hợp sẽ cho kết quả

tốt nhất về sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Ngô

Anh Tuấn và ctv (2013), nhóm tác giả đã khẳng

đinh rằng, khẩu phần thức ăn là tảo tươi kết hợp

thức ăn tổng hợp là tốt nhất cho sinh trưởng và

phát triển của ấu trùng ốc đĩa giai đoạn trôi nổ i

vớ i tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình 9,74

µm/ngày và tỷ lệ sống trung bình 67,1%

Theo Quayle and Newkirk (1989), khi ương

nuôi ấ u trù ng cá c loà i độ ng vậ t thân mề m thì

việ c cung cấp đầy đủ số lượng và chất lượng

của thức ăn là điề u kiệ n quan trọ ng để duy trì

sinh trưởng, tỷ lệ sống của ấu trùng cao và ổn

định Theo đó, nếu nguồn thức ăn cung cấp cho

ấu trùng không đủ về số lượng cũng như chất

lượng thì ấ u trù ng có thể ngừng sinh trưởng

hoặc có thể có tốc độ sinh trưởng âm và tỷ lệ

sống rất thấp Do đó, ở hai nghiệm thức sử

dụng thức ăn là các loại tảo tươi hoặc tả o tươi

kế t hợ p vớ i thứ c ăn tổ ng hợ p thì sinh trưởng và

tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa là tốt nhất

Mặ t khá c, việc sử dụng kế t hợ p tả o tươi với

thức ăn tổng hợp để ương nuôi ấu trùng ố c đĩ a

cho tố c độ sinh trưở ng và tỷ lệ số ng cao như

trên là một lợi thế lớn, mang lại nhiều ưu điểm

trong quá trì nh ương nuôi ấ u trù ng, do thao

tác kỹ thuật đơn giản và đặc biệt là giảm sự phụ thuộc vào nguồn tảo tươi nuôi sinh khối

Vì vậy, kết quả nghiên cứu này có thể mở ra một hướng đi mới trong sản xuất giống các loài động vật thân mềm nó i chung và ố c đĩ a nó i riêng nhờ đơn giản hóa được kỹ thuật cho ăn, chủ động trong sản xuất và kiểm soát được sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng

IV KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1 Kết luận

Độ mặn 25‰ là thích hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển của ấu trùng ốc đĩa giai đoạn

ấu trùng trôi nổ i, tăng trưởng tuyệt đối đạt 8,99

± 0,4 µm/ngày và tỷ lệ sống đạt 54,11 ± 2,37 %

Thứ c ăn là tảo tươi (N oculata và I galbana)

hoặc tả o tươi kế t hợ p thức ăn tổng hợp (APo

và Frippark) là cá c loạ i thức ăn thích hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển của ấu trùng ốc đĩa giai đoạn ấ u trù ng trôi nổ i vớ i tố c độ tăng trưởng tuyệt đối củ a ấ u trù ng đạt 10,35 ± 0,51 µm/ngày và tỷ lệ sống đạt 58,50 ± 3,04 %

2 Khuyến nghị

Cần tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của

độ mặn và thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa ở các giai đoạn phát triển khác nhau và ương nuôi trong các thể tích lớn hơn

Trang 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Vũ Trọng Đại, Phùng Thế Trung và Ngô Anh Tuấn (2014) Đặc điểm phân bố và hiện trạng khai thác ốc đĩa

(Nerita balteata Reeve, 1855) tại Quảng Ninh Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ Số chuyên đề thủy

sản 2014-tập 2, 215-219

2 Vũ Trọng Đại, Ngô Văn Mạnh và Lại Văn Hùng, 2018 Ảnh hưởng của thức ăn và độ mặn lên sinh trưởng và

tỷ lệ sống của ấu trùng ốc nhảy Strombus canarium (Linnaeus, 1758) tại Khánh Hòa Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ 54 (Số chuyên đề: Thủy sản) (1): 45-50

3 Đặng Khánh Hùng, Vũ Trọng Đại, Ngô Anh Tuấn, Nguyễn Đình Huy (2014) Nghiên cứu một số đặc điểm

sinh học sinh sản của ốc đĩa (Nerita balteata Reeve, 1855) ở Quảng Ninh Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy

sản, số 1/2014, 114-119

4 Dương Văn Hiệ p, 2010 Nghiên cứ u mộ t số đặ c điể m sinh họ c và khả năng sả n suấ t giố ng ố c nhả y Strombus

canaium Bá o cá o tổ ng kế t đề tà i trung tâm KHKT và SX giố ng thủ y sả n Quả ng Ninh.

5 Lê Thị Ngọc Hòa, Dương Văn Hiệp, Phan Thị Thương Huyền, Lê Thị Thu Hương, Nguyễn Văn Hà, Kiều Tiến Yên, 2009 Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm ốc nhảy

(Strombus canarium linneaus, 1758) Báo cáo tổng kết đề khoa học, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

9 Frey M A and Vermeij G J., 2008 Molecular phylogenies and historical biogeography of a circumtropical group of gastropos (Genus: Nerita): Implications for regional diversity patterns in the marine tropics Molecular Phylogenetics and evolution 48: 1067-1086

10 Hurtado L A., Frey M., Gaube P and Pfeiler E., 2007 Geographical subdivision, demographic history

and gene fl ow in two sympatric species of intertidal snails, Nerita scabricosta and Nerita funiculata, from the

tropical eastern Pacifi c Mar Biol 151: 1863-1873

11 Siong K T and Reuben C., 1998 Taxonomy and Distribution of the Neritidae (Mollusca: Gastropoda) in Singapore: 481-494

Trang 29

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG GIUN NHIỀU TƠ TỪ NGUỒN TỰ NHIÊN VÀ NGUỒN NUÔI THƯƠNG PHẨM TRONG NUÔI VỖ THÀNH THỤC TÔM THẺ

CHÂN TRẮNG Litopenaeus vannamei (Boone, 1931) BỐ MẸ

EVALUATE THE QUALITY OF THE POLYCHEATE FROM WILD AND FARM SOURCES ON MATURATION WHITE LEG SHRIMP Litopenaeus vannamei (Boone, 1931)

BROODSTOCK

Nguyễn Văn Dũng 1* , Trương Hà Phương 1 , Lục Minh Diệp 2

1 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III

2 Trường Đại học Nha Trang

Tác giả liên hệ: Nguyễn Văn Dũng (Email: ngvandungria3@gmail.com) Ngày nhận bài: 19/09/2020; Ngày phản biện thông qua: 14/10/2020; Ngày duyệt đăng: 15/11/2020

TÓM TẮT

Nghiên cứu nhằm đánh giá chất lượng của giun nhiều tơ từ nguồn tự nhiên và nuôi thương phẩm trong nuôi vỗ thành thục tôm thẻ chân trắng bố mẹ Kết quả cho thấy giun nhiều tơ nuôi thương phẩm có hàm lượng dinh dưỡng và axít chưa bão hòa cao đáp ứng tốt cho tôm bố mẹ thành thục sinh dục Tôm thẻ chân trắng cái sử dụng thức ăn giun từ nguồn nuôi thương phẩm có sức sinh sản tuyệt đối cao hơn 2% (28,34 ×

104 so với 27,79 × 104), sức sinh sản thực tế tăng 2% (16,67 × 104 so với 15,93 × 104), tỷ lệ thụ tinh tăng 1,5% (85,87% so với 84,53%) và tỷ lệ nở tăng 2% (88,94% so với 87,22%) so với nhóm tôm sử dụng thức ăn giun thu ngoài tự nhiên Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ chuyển giai đoạn từ Nauplii sang Zoea

1 giữa nghiệm thức sử dụng thức ăn giun nhiều tơ từ nguồn nuôi thương phẩm và giun tự nhiên (p<0,05) Ngoài ra chất lượng của tinh trùng tôm thẻ chân trắng đực tốt hơn khi cho tôm ăn thức ăn là giun nhiều tơ

từ nguồn nuôi thương phẩm.

Từ khóa: Giun nhiều tơ, tôm thẻ chân trắng bố mẹ, Litopenaeus vannamei.

ABSTRACT

The study was evaluate the quality of the polycheate from farm and wild source on maturation white leg shrimp broodstock Results suggest that worms from farmed aquaculture, high nutritional composition and unsaturated fatty acid content used marine shrimp broodstock maturation The female white leg shrimps fed worms from farmed aquaculture showed absolute fecundity 2% higher (28.34 × 104 compared to 27.79 × 104), actual fecundity higher 2% (16.67 × 104 so với 15.93 × 104), fertization rate higher 1.5% (85.87% so với 84.53%) and hatching rate higher 2% (88.94% so với 87.22%) compared to broodstock fed worms from wild Metamorphorsis rate form Nauplii to Zoea 1 was higher (p<0.05) Sperm quality of male white leg shrimps showed better as they were fed worms from farmed aquaculture

Keywords: Polychaete, white leg shrimp, Litopenaeus vannamei.

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Nuôi trồng thủy sản đã và đang phát triển

góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu cho nền

kinh tế Việt Nam Trong đó ngành nuôi tôm,

bao gồm tôm sú và tôm thẻ chân trắng đã

mang lại lợi nhuận lớn cho nghề nuôi trồng

thủy sản Hiện nay, cả nước có 2.457 cơ sở

sản xuất giống tôm nước lợ, trong đó có 1.855

cơ sở sản xuất giống tôm sú và 602 cơ sở sản

xuất giống tôm thẻ chân trắng [26] Trong

năm 2018, số lượng tôm thẻ chân trắng bố

mẹ nhập khẩu khoảng 200.000 con chưa tính lượng tôm bố mẹ sản xuất trong nước tăng 10,9% so với năm 2017 [27] Điều này cho thấy, nhu cầu về nguồn thức ăn có chất lượng cao sử dụng trong nuôi vỗ thành thục tôm bố

mẹ là rất lớn

Hiện nay, các trại sản xuất giống tôm biển đặc biệt là tôm thẻ chân trắng trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều sử dụng giun

Trang 30

nhiều tơ làm thức ăn nuôi vỗ thành thục tôm

bố mẹ [1; 4; 15] Tôm bố mẹ sử dụng chế

độ cho ăn bằng giun nhiều tơ cho chất lượng

tốt hơn khi so sánh với một số loại thứ ăn

thương mại khác về các chỉ tiêu sinh sản

và chất lượng ấu trùng vì trong giun nhiều

tơ có chứa hàm lượng PUFA cao [12], thích

hợp cho sự phát triển buồng trứng của tôm

mẹ [17; 22] Trong giun nhiều tơ còn có

hàm lượng các axít béo HUFA, DHA, EPA

và các phospholipid (phosphatidylcholine

và phosphatidylethanolamine), chúng đóng

vai trò quan trọng trong quá trình thành thục

của giáp xác và cần được bổ sung tối thiểu

2% vào thức ăn nuôi tôm phát dục [9;21;

24] Một số nghiên cứu cho thấy hàm lượng

axít arachidonic chiếm tỷ lệ cao trong buồng

trứng tôm mẹ, cũng có trong giun nhiều tơ

[13; 25], thức ăn sử dụng trong nuôi thành

thục thiếu n-3 HUFA có tác dụng xấu đến quá

trình phát triển phôi, chất lượng trứng và ấu

trùng trên hầu hết các loài giáp xác [23] Tôm

sú bố mẹ sử dụng thức ăn giun nhiều tơ có

bổ sung 2% DHA có tác dụng tích cực đến

sức sinh sản, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, thời gian

và tỷ lệ chuyển giai đoạn của ấu trùng tôm

Ngoài ra, chất lượng tinh trùng của tôm đực

cũng tốt hơn khi cho tôm đực sử dụng thức

ăn đã được làm giàu bằng DHA [2] Tương tự

như tôm sú bố mẹ, khi bổ sung 2% DHA vào

thức ăn giun nhiều tơ nuôi vỗ thành thục tôm

thẻ chân trắng cũng cho kết quả tốt hơn về

sức sinh sản, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, thời gian

giữa hai lần đẻ, thời gian và tỷ lệ chuyển giai

đoạn của ấu trùng cũng như chất lượng tinh

trùng của tôm đực [2] Mục đích của nghiên

cứu này để đánh giá thức ăn giun nhiều tơ từ

nguồn nuôi thương phẩm và nguồn tự nhiên

trong nuôi vỗ thành thục tôm thẻ chân trắng

bố mẹ

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Vật liệu nghiên cứu

Giun nhiều tơ: Perinereis nuntia var

brevicirris tự nhiên có khối lượng trung bình

1,02 g/con khai thác tự nhiên tại vùng biển Vạn

Ninh, Khánh Hòa

Giun nhiều tơ: P nuntia var brevicirris nuôi

thương phẩm có khối lượng trung bình 0,92 g/con được thu tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nha Trang

Tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei

(Boone, 1931) bố mẹ: tôm cái có khối lượng >

40 g/con; tôm đực có khối lượng > 30 g/con, tôm đưa vào thí nghiệm có sức khỏe tốt, buồng trứng chưa phát triển

2 Bố trí thí nghiệm

Tôm thẻ chân trắng khỏe mạnh, buồng trứng chưa phát triển và không có dấu hiệu bệnh lý được bố trí ngẫu nhiên sang các bể xi măng, thể tích 4 m3/bể

Nghiệm thức 1 (NT1): cho ăn bằng giun nhiều tơ từ nguồn khai thác tự nhiên; Nghiệm thức 2 (NT2) cho ăn bằng giun nhiều tơ từ nguồn nuôi thương phẩm Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần

Số lượng cá thể theo dõi 30 con/bể 4 m3 Thời gian tiến hành thí nghiệm 60 ngày.Cho ăn 20 - 30% khối lượng thân/ngày, hàng ngày cho tôm bố mẹ ăn 3 lần (7h, 15h và 23h), hàng ngày thay nước 100%, chế độ chăm sóc quản lý như nhau giữa các nghiệm thức.Các chỉ tiêu theo dõi:

Tôm cái: Tỷ lệ thành thục, sức sinh sản, tỷ

lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lệ chuyển từ Nauplii sang Zoea1

Tôm đực: Khối lượng túi tinh, số lượng

tinh, tỷ lệ tinh bình thường, tỷ lệ tinh chết, tỷ lệ tinh bất thường, thời gian tái phát dục

3 Phương xác định các chỉ tiêu

3.1 Xác định chất lượng giun nhiều tơ

Hàm lượng protein trong các mẫu giun nhiều tơ được xác định theo phương pháp Kjeldalh hàm lượng lipid theo tiêu chuẩn ISO 6492: 1999, hàm lượng chất xơ theo phương pháp AOCS Ba-6a-05 và độ ẩm theo phương pháp EC 152/2009

Hàm lượng axít béo của giun nhiều tơ được xác định theo tiêu chuẩn ISO 5508/5509:2000

3.2 Xác định các thông số môi trường

Nhiệt độ nước đo ngày 2 lần (8h, 14h) bằng nhiệt kế thuỷ ngân, độ chính xác 1%

Độ mặn của nước được đo 1 lần/ngày bằng khúc xạ kế, độ chính xác 1‰

Trang 31

pH nước xác định bằng máy đo Handy

Gamma – Đan Mạch, độ chính xác 0,01 đơn

vị Hàng ngày đo 2 lần (8h, 14h)

Oxy hoà tan xác định bằng máy đo oxy cầm

tay (Handy Gamma – Đan Mạch), độ chính xác

sau 6 giờ đế m số trứ ng thụ tinh; nhữ ng trứ ng

trong, nhì n thấ y phôi là nhữ ng trứ ng thụ tinh;

Tỷ lệ sống của ấu trùng: Xác định số lượng

ấu trùng trong bể từng ngày tuổi theo phương

pháp thể tích rồi áp dụng công thức:

Đối với tôm đực:

Tôm đực được đánh giá thông qua số lượng tinh trùng, số tinh trùng hoạt động và có hình dạng bình thường

Tinh trùng được xác định theo phương pháp của Leung- Trujillo và Lawence (1987) [16] Sử dụng buồng đếm Neubauer, túi tinh được làm đồng nhất trong dung dịch calcium-free saline (thành phần: 21,63 g NaCl; 1,12 g KCl; 0,53 g

H3BO3; 0,19 g NaOH; 4,93 g MgSO4.7H2O và điều chỉnh pH đến 7,4 với acid HCl 1N)

Để xác định số lượng tinh trùng chết, dung dịch tinh trùng (đã được làm đồng nhất trong dung dịch calcium-free saline) được nhuộm màu bằng dung dịch trypan blue (Sigma, USA) với tỷ lệ 1:10 Sau khi nhuộm màu 10-15 phút, số tinh trùng chết (có màu xanh) được đếm dưới kính hiển vi điện tử Các tinh trùng có hình cầu, có đuôi và không dị hình được xem là tinh trùng tốt, các tinh trùng dị hình, không có đuôi, v.v, được xem là không thể thụ tinh được

4 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Thu thập và lưu trữ số liệu trên phần mềm Microsoft Excel Tất cả các số liệu được thống kê và xử lý trên phần mềm thống kê sinh học So sánh sự khác nhau giữa các trung bình sau phân tích t-test với

độ tin cậy 95% Các thí nghiệm được bố trí lặp lại 3 lần

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1 Phân tích thành phần sinh hóa trong giun nhiều tơ từ nguồn tự nhiên và nguồn nuôi thương phẩm sử dụng trong nuôi vỗ thành thục tôm bố mẹ

1.1 Thành phần dinh dưỡng trong giun nhiều tơ

Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của các nguồn giun nhiều tơ đang được sử dụng làm thức ăn nuôi phát dục tôm bố mẹ thể hiện trong Bảng 1

Kết quả phân tích cho thấy, hàm lượng protein

Trang 32

của hai nguồn giun khác nhau là khác nhau

(p<0,05) Hàm lượng protein có trong nguồn

giun nuôi thương phẩm đạt cao hơn (13,19%)

nguồn giun thu ngoài tự nhiên (12,01%) Tổng

lượng chất béo trong nguồn giun thương phẩm

và tự nhiên không có sự khác nhau (p>0,05)

Tuy nhiên, qua số liệu phân tích thấy rằng hàm

lượng chất béo trong mẫu giun nuôi thương

phẩm (3,64%) cao hơn mẫu thu ngoài tự nhiên

(3,53%) Kết quả này cũng tương tự như nghiên

cứu của Limsuwatthanathamrong và cộng sự

(2012) [17] cũng so sánh tổng lượng chất béo

của loài giun cát (P nuntia) từ nguồn giun thu

ngoài tự nhiên thấp hơn so với trong điều kiện

nuôi Hàm lượng chất xơ không phát hiện trong

hai nguồn giun

Kết quả phân tích độ ẩm ở các nguồn giun

tự nhiên và nuôi thương phẩm lần lượt là 76,40% và 77,48%, khác nhau không có ý nghĩa

(p>0,05) So sánh kết quả phân tích mẫu cho

thấy, nguồn giun nuôi thương phẩm có thành phần dinh dưỡng cao hơn so với nguồn giun thu ngoài tự nhiên Có thể nhận định giun thương phẩm là nguồn thức ăn tươi sống an toàn trong nuôi thành thục, phát dục tôm bố mẹ

1.2 Thành phần axít béo trong giun nhiều tơ

Thành phần axít béo trong các mẫu giun nhiều tơ được trình bày cụ thể trong Bảng 2

Số liệu cho thấy, axit béo C20:4n-6 (AA) trong mẫu giun tự nhiên đạt cao hơn (135,50 mg) so với mẫu giun nuôi thương phẩm (119,00

Bảng 1 Hàm lượng protein, chất béo, chất xơ và độ ẩm trong giun nhiều tơ (%/100 g ướt)

Bảng 2 Thành phần axít béo trong giun nhiều tơ (mg/100 g ướt)

Trang 33

mg) (Bảng 2) Ngược lại, C20:5n-3 (EPA)

trong mẫu giun thu ngoài tự nhiên thấp (91,80

mg) hơn so với mẫu giun nuôi nuôi thương

phẩm (158,00 mg)

Hàm lượng C22:6n-3 (DHA) ở mẫu giun

nuôi nuôi thương phẩm đạt (86,00 mg) cao

hơn có ý nghĩa (p<0,05) so với nguồn giun thu

ngoài tự nhiên (35,00 mg)

Hàm lượng PUFA có trong mẫu giun nuôi

thương phẩm đạt cao hơn (1.143,70 mg) nguồn

giun thu ngoài tự nhiên (972,60 mg) Kết quả

phân tích này cũng tương tự nghiên cứu của

Costa và cộng sự (2000) [10] về các thành phần

các axít béo của giun nhiều tơ N diversicolor,

cũng có sự khác nhau về thành phần AA, DHA,

EPA và PUFA Để khẳng định tầm quan trọng

về vai trò của các axit béo AA, DHA, EPA trong

nhu cầu dinh dưỡng của tôm bố mẹ, Meunpol

và cộng sự (2005) [15] đã chứng minh khi

sử dụng khẩu phần ăn trên tôm sú (Penaeus

monodon) đực có giun nhiều tơ được tính toán

tỷ lệ AA:EPA:DHA 5:1:1, kết quả cho thấy chất

lượng tinh trùng không giảm trong vòng một

tháng thí nghiệm và điều này cho thấy có thể

thay thế sự phụ thuộc nguồn giun ngoài tự nhiên

Tổng n-3 (omega-3) và trong mẫu giun nuôi

thương phẩm cao hơn (496,00 mg) so với mẫu

giun thu ngoài tự nhiên (325,90 mg) Trong khi

đó tổng n-6 (omega-6) lại không có sự khác biệt

giữa hai nguồn giun nuôi thương phẩm và tự

nhiên (lần lượt 501,80 mg và 500,60 mg) Kết

quả này cũng được Lytle và cộng sự (1990) [19]

nhận định hàm lượng PUFA trong giun nhiều

tơ có thể giúp kích thích sự thành thục của tôm

thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei chủ yếu

là: omega-6 (n-6) và omega-3 (n-3), mặc dù

trong thức ăn tổng hợp người ta sử dụng hàm

lượng omega-3 cao nhưng tỷ lệ giữa omega-3

và omega-6 không cân bằng được như trong

giun nhiều tơ và sự cân bằng giữa omega-3 và

omega-6 có thể là một yếu tố quan trọng cho nhu

cầu khẩu phần ăn trong nuôi vỗ thành thục tôm

thẻ chân trắng Một nghiên cứu khác trên loài tôm

Penaeus kerathurus được Luis và Ponte (1993)

[18] sử dụng giun nhiều tơ N diversicolor làm

thức ăn cho tôm trong nuôi điều kiện nuôi nhốt,

ông đã nhận định vai trò của các axit béo có tầm

quan trọng đối với sinh sản tôm, khả năng kéo

dài chu kỳ sinh sản của tôm được cho thức ăn giun nhiều tơ là yếu tố thích hợp trong nuôi phát dục loài này Giá trị dinh dưỡng của giun nhiều

tơ được sử dụng làm thức ăn cho tôm được đánh giá làm tăng số lượng trứng trên 1 lần đẻ, tăng tỷ

lệ thụ tinh và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm [7] Bên cạnh đó, khẩu phần ăn có giun nhiều tơ (chiếm 16%) được tính toán theo chế độ ăn giống với

tỷ lệ của ARA/EPA, DHA/EPA và n-3/n-6 của buồng trứng của tôm ngoài tự nhiên được Hoa

và cộng sự (2009) [14] thí nghiệm trên tôm sú

bố mẹ, kết quả cho thấy số lần tham gia sinh sản

và sức sinh sản, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở của tôm

sú ảnh hưởng bởi tỷ lệ ARA/EPA, DHA/EPA

và n-3/n-6 trong thức ăn Tổng hàm lượng SFA

trong 2 nguồn giun có sự khác nhau (p<0,05)

Tuy nhiên không có sự khác biệt về tổng hàm lượng MUFA và PUFA trong mẫu giun thu ngoài

tự nhiên và nuôi thương phẩm (p>0,05).

Tuy nhiên, sự khác biệt về các thành phần dinh dưỡng trong các nguồn giun khác nhau còn phụ thuộc vào mùa vụ [11], môi trường sống và chế độ dinh dưỡng của giun [8; 15]

Số liệu thu được cho thấy, thành phần dinh dưỡng trong giun thương phẩm nuôi cao hơn so nguồn giun thu ngoài tự nhiên Có thể so sánh với kết quả nghiên cứu của Techaprempreecha

và cộng sự (2011) [22] Ông đã kết luận giá trị

dinh dưỡng của giun nhiều tơ loài Perinereis

nuntia trong điều kiện nuôi cao hơn so với giun

thu ngoài tự nhiên và ông cho rằng đây là nguồn thức ăn tươi thích hợp và an toàn trong nuôi vỗ thành thục tôm bố mẹ

Như vậy qua kết quả phân tích hai mẫu giun cho thấy, thành phần dinh dưỡng có trong mẫu giun nhiều tơ nuôi thương phẩm cao hơn

so với mẫu giun thu ngoài tự nhiên Kết quả này có thể nhận định nguồn giun nuôi thương phẩm là nguồn thức ăn tươi thích hợp và an toàn trong nuôi vỗ thành thục tôm bố mẹ

2 Đánh giá chất lượng giun nhiều tơ từ nguồn tự nhiên và nguồn nuôi thương phẩm trong nuôi vỗ thành thục tôm thẻ chân trắng

Trang 34

nước trong suốt quá trình nuôi vỗ thành thục

tôm thẻ chân trắng bố mẹ được trình bày trong

Bảng 3

Nhiệt độ, pH, độ mặn và hàm lượng oxy hòa tan trung bình của các nghiệm thức trong suốt quá trình thí nghiệm không có sự khác nhau và tương

Bảng 3 Diễn biến một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm

đối ổn định Theo Boyd (1998) [5], nhiệt độ thích

hợp cho những loài sống trong vùng nước ấm là

từ 25-32ºC và pH thích hợp dao động từ 6,5-9,0

Độ mặn thích hợp trong nuôi vỗ thành thục của

tôm thẻ chân trắng thấp nhất la 28‰ [20] Như

vậy, các yếu tố môi trường trong suốt quá trình thí

nghiệm đều nằm trong khoảng thích hợp

2.2 Chất lượng tôm thẻ chân trắng cái sử

dụ ng thức ăn giun nhiều tơ từ nguồn tự

nhiên và nuôi thương phẩm

Kết quả Bảng 4 cho thấy thức ăn là giun nhiều

tơ có tác động lớn đến việc sinh sản của tôm thẻ

chân trắng (khẩu phần thức ăn cho tôm thẻ chân

trắng chiếm chủ yếu là giun nhiều tơ (60%) Sau

thời gian theo dõi 60 ngày, khối lượng tôm thẻ

chân trắng cái có sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê (p<0,05) Khối lượng nhóm tôm cái sử dụng

giun nuôi thương phẩm cao hơn có ý nghĩa thống

kê so với nhóm tôm sử dụng thức ăn là giun tự nhiên Không có sự khác biệt lớn về thời gian

từ khi lột xác đến đẻ lần đầu, sức sinh sản tuyệt đối và thực tế giữa nhóm tôm sử dụng giun nuôi

thương phẩm và giun tự nhiên (p>0,05) Tuy

nhiên, sức sinh sản tuyệt đối ở nhóm tôm sử dụng thức ăn giun thương phẩm (28,34 × 104 trứng/lần đẻ) cao hơn nhóm tôm sử dụng giun tự nhiên làm thức ăn (27,79 × 104 trứng/lần đẻ), tỷ

lệ thụ tinh cao hơn 2% (85,87% so với 84,53%),

tỷ lệ nở cao hơn 2% (88,94% so với 87,22%)

và tỷ lệ chuyển từ Nauplii sang Zoea1 cao hơn

1,5% (90,86% so với 88,53%) (p<0,05).

Nghiên cứu của Trương Hà Phương và cộng

sự (2016) [2] về ảnh hưởng của hàm lượng DHA đến chất lượng tôm bố mẹ thấy rằng, tôm

Bảng 4 Chất lượng tôm thẻ chân trắng cái sử dụng giun tự nhiên và nuôi thương phẩm làm thức ăn

(TB ± SD; n=15)

Giun tự nhiên Giun thương phẩm

KL trung bình kết thúc thí nghiệm (g) 49,15 ±2,23a 51,07 ±3,70b

Thời gian khi cắt mắt đến đẻ lần đầu (ngày) 6,22 ± 1,09b 5,81 ± 1,01a

Thời gian chuyển từ Nauplii sang Zoea 1 (giờ) 40,66 ± 1,15a 39,67 ± 0,57a

Tỷ lệ chuyển từ Nauplii sang Zoea 1 (%) 88,53 ± 2,87a 90,86 ± 2,70b

Các giá trị thể hiện trên bảng là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn Các giá trị trong cùng một hàng có ký tự giống nhau thì khác biệt không có

ý nghĩa thống kê (p>0,05).

Trang 35

thẻ chân trắng cái có khuynh hướng ảnh hưởng

bởi thức ăn từ giun làm giàu bằng DHA Tôm

thẻ chân trắng mẹ được làm giàu DHA có sức

sinh sản tuyệt đối tăng 22,6%, sức sinh sản

thực tế tăng 17,2%; tỷ lệ nở tăng 4,2%; tỷ lệ thụ

tinh tăng 17,2% so với nhóm tôm đối chứng

Nghiên cứu về nhu cầu lipid của tôm thẻ

chân trắng nuôi tái phát dục được công bố bởi

một số tác giả, Bray và cộng sự (1990) [6]

nghiên cứu nhu cầu lipid cho tôm chân trắng bố

mẹ nuôi tái phát dục là 11% Wounter và cộng

sự (2001) [25] khuyến cáo thức ăn có mức lipid

thấp hơn 9% sẽ làm chậm quá trình phát triển

buồng trứng và sự thành thục của tôm mẹ Nhìn

chung, nhóm axít béo chiếm ưu thế trong buồng

tơ có tác động tích cực đến chất lượng ấu trùng

và rút ngắn thời gian biến thái từ Nauplii sang giai đoạn Zoea 1

2.3 Chất lượng tôm thẻ chân trắng đực sử

dụ ng thức ăn giun nhiều tơ từ nguồn tự nhiên và nuôi thương phẩm

Khối lượng tôm thẻ chân trắng đực và khối lượng túi tinh không có sự khác biệt sau hai tháng theo dõi khi sử dụng thức ăn giun nhiều

tơ tự nhiên và nuôi thương phẩm (p>0,05) Số

lượng tinh trùng bất thường ở nghiệm thức sử dụng thức ăn giun tự nhiên (15,87%) cao hơn nghiệm thức sử dụng thức ăn giun nhiều tơ

nuôi thương phẩm (11,67%) (p<0,05)

Nhìn chung các chỉ tiêu số tinh trùng chết, thời gian tái phát dục cũng theo xu hướng tương

tự Tôm đực sử dụng thức ăn giun nuôi thương

Bảng 5 Chất lượng tôm thẻ chân trắng đực qua các nghiệm thức sử dụng giun tự nhiên và nuôi

thương phẩm (TB ± SD; n=15)

Giun tự nhiên Giun thương phẩm

KL trung bình kết thúc thí nghiệm (g) 39,31 ±1,69a 40,29 ±1,36b

phẩm đều cho kết quả tốt hơn so với tôm đực

sử dụng thức ăn giun tự nhiên (p<0,05) Tuy

nhiên, chỉ tiêu về tỷ lệ giao vĩ tự nhiên trong thí

nghiệm này không có sự khác nhau (p>0,05)

Kết quả nghiên cứu cho thấy cho tôm đực

sử dụng thức ăn là giun nhiều tơ nuôi thương

phẩm cải thiện đáng kể chất lượng tinh trùng

qua các chỉ tiêu như: số lượng tinh bình thường,

số lượng tinh bất thường, số lượng tinh chết và

thời gian tái phát dục

IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 Kết luận

Hàm lượng protein, chất béo và các axít béo trong mẫu giun nhiều tơ nuôi thương phẩm cao hơn mẫu thu ngoài tự nhiên

Tôm thẻ chân trắng bố mẹ sử dụng thức

ăn giun nhiều tơ nuôi thương phẩm cho chất lượng tốt hơn so với giun nhiều tơ tự nhiên

Trang 36

2 Kiến nghị

Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật bảo

quản giun nhiều tơ sau thu hoạch phục vụ nuôi

vỗ thành thục tôm bố mẹ

Nghiên cứu vai trò kích thích sinh sản của giun nhiều tơ lên tôm bố mẹ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt

1 Đào Văn Trí, Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Thành Vũ, Nguyễn Thị Thanh Hoa, Lê Thị

Châu (2005), Nghiên cứu áp dụng quy trình sản xuất giống và cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch vùng nuôi

tôm he chân trắng (Litopenaeus vannamei boone, 1931), Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công

nghệ cấp Bộ, tr 1–150

2 Trương Hà Phương, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Khắc Đạt (2016), “Đánh giá chất lượng tôm chân trắng bố

mẹ (Litopenaeus vannamei) qua thức ăn giun nhiều tơ (Perinereis nuntia) được làm giàu bằng DHA”, Tạp chí

Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Số 6, tr 97-103.

Tài liệu tiếng Anh

3 Alava, V.R., Kanazawa, A., Teshima, S., Koshio, S (1993), “Effect of dietary phospholipids and n-3

highly unsaturated fatty acids on ovarian development of Kuruma prawn”, Nippon Suisan Gakkaishi, 59 (7),

pp 345–351

4 Bessie, O (1996), “Reproductive cycle of Perinereis nuntia var brevicirris Grube, 1857 (Polychaeta:

Nereidae)”, The raffl es bulletin of Zoology, 44 (1), pp 263 – 273.

5 Boyd, C E (1998) “Water quanlity in ponds aquaculture”, Research and Development, 43, pp 1-11.

6 Bray, W.A., Lawrence, A.L., Lester, L.J (1990), “Reproduction of eyestalk-ablated Penaeus stylirostris fed various levels of total dietary lipid”, J World Aquacult Soc, 21, pp 41–52.

7 Briggs, M.R.B., Brown, J.H., Fox, C.J (1994), “The effects of dietarylipid and lecithin levels on the growth,

survival, feeding effi ciency, production and carcass competition of postlarval Penaeus monodon (Fabricius)”,

Aquacult Fish Manag, 25, pp 279–294.

8 Brown, N., Eddy, S., Plaud, S (2011) “Utilization of waste from a marine recirculating fi sh culture system

as a feed source for the polychaete worm, Nereis virens”, Aquaculure, 322-323, pp 177-183.

9 Cahu, C.L., Guillaume, J.C, Ste´phan, G., Chim, L (1994), “Infl uence of phospholipid and highly

unsaturated fatty acids on spawning rate and egg tissue composition in Penaeus vannamei fed semi-purifi ed diets”, Aquaculture, 126, pp 159–170.

10 Costa, P.F, Narciso, L Fonseca, C (2000), “Growth, survival and fatty acid profi le of Nereis diversicolor

(O.F Muller, 1776) fed on six different diets”, B Mar Sci, 67 (2000), pp 337–343

11 Garcia-Alonso, J., Muller, C.T., Hardege, J.D (2008), “Infl uence of food regimes and seaonality on fatto

acid composition in the ragworm”, Aquatic Biology, 4, pp 7-13.

12 Harrison, K E (1991), “Crustacean reproduction nutrition”, Crustac Nutr Newsl, 7, pp 62 - 70.

13 Harrison, K.E (1997), Broodstock nutrition and maturation diets In: Advances in World Aquaculture vol

6: Crustacean Nutrition (L.R D'Abramo, D.E Conklin and D M Akiyama) World Aquaculture Society,

Baton Rouge, Louisiana, USA, pp 390-408

Trang 37

14 Hoa, N D., Wouters, R., Wille, R., Thanh,V., Dong, T K., Hao, N V., and Sorgeloos, P (2009), “A food maturation diet with an adequate HUFA composition for broodstock nutrition studies in black tiger shrimp

fresh-Penaeusmonodon (Fabricius, 1798)”, Aquaculture, 297, pp 116-121.

15 Meunpol, O., Meejing, P., & Piyatiratitivorakul, S (2005), “Maturation diet based on fatty acid content for

male Penaeus monodon (Fabricius) broodstock”, Aquaculture Research, 36(12), pp 1216–1225.

16 Leung-Trujillo, J R and Lawrence, A L (1987) “Observations on the decline in sperm quality of Penaeus

setiferus under laboratory conditions” Aquaculture, 65, pp 363-370.

17 Limsuwatthanathamrong, M., Sooksai, S., Chunhabundit, S., Noitung, S., Ngamrojanavanich, N., and Petsom, M (2012), “Fatty Acid Profi le and Lipid Composition of Farm-raised and Wild-caught Sandworms,

Perinereis nuntia, the Diet for Marine Shrimp Broodstock”, Asian Journal of Animal Sciences, 6 (2), pp 65–75.

18 Luis, O J., and Ponte, A C (1993), “Control of reproduction of the shrimp Penaeus kerathurus held in captivity”, J.World Aquacult Soc, 24, pp 31-39.

19 Lytle, J S., Lytle, T F., Ogle, J T (1990), “Polyunsaturated fatty acid profi les as a comparative tool in

assessing maturation diets of Penaeus vannamei), Aquaculture, 89, pp 287–299.

20 Parnes, S., Mills, E., Segall, C., Raviva, S., Davis, C., Sagi, A (2004), “Reproductive readiness of the

shrimp Litopenaeus vannamei grown in a brackish water system” Aquaculture, 236, pp 593-606.

21 Ravid, T., Tietz, A., Khayat, M., Boehm, E., Michelis, R., Lubzens, E (1999), “Lipid accumulation in the

ovaries of a marine shrimp Penaeus semisulcatus (De Haan.)”, J Exp Biol, 202(13), pp 1819–1829.

22 Techaprempreecha, S., Khongchareonporn, N., Chaicharoenpong, C., Aranyakananda, P., Chunhabundit,

S., Petsom, A (2011), “Nutritional composition of farmed and wild sandworms, Perinereis nuntia”, Animal

Feed Science and Technology, 169 (3-4), pp 265–269

23 Wouters, R., Gomez, L., Lavens, P., Calderon, J (1999a), “Feeding enriched Artemia biomassa to Penaeus

vannamei broodstock: its effect on reproductive performance and larval quality”, J Shellfi sh Res, 18(2), pp

651–656

24 Wouters, R., Molina, C., Lavens, P., Calderon, J (1999b), Contenido de l´ıpidos y vitaminas en reproductores

silvestres durante la maduracio´n ova´rica y en nauplios de Penaeus vannamei Proceedings of the Fifth

Ecuadorian Aquaculture Conference, Guayaquil, Ecuador, Fundacio´n CENAIM-ESPOL, CDRom

25 Wouters, R., Lavens, P., Nieto, J., and Sorgeloos, P (2001), “Penaeid shrimp broodstock nutrition: an

updated review on research and development”, Aquaculture, 202 (1-2), pp 1–21.

26 Xu, X L., Ji, W L., Castell, J D., O’Dor, R K (1994), “Infl uence of dietary lipid sources on fecundity,

egg hatchability and fatty acid composition of Chinese prawn (Penaeus chinensis) broodstock”, Aquaculture,

119, pp 359–370

Tài liệu trang web

27 https://tongcucthuysan.gov.vn/Aquaculture/Aquaculture/doc-tin/013579/2019-09-27/Banner007

28 http://nguoinuoitom.vn/nganh-san-xuat-tom-giong-2018-nhap-khau-khoang-200-000-tom-chan-trang-bo

Trang 38

THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ DỊCH BỆNH TẠI VÙNG NUÔI TÔM TRÊN

CÁT Ở THẠCH HÀ, CẨM XUYÊN VÀ NGHI XUÂN, HÀ TĨNH

ENVIRONMENTAL SITUATION AND DISEASE AT THE ON-SAND FARMING SHRIMP AREA

IN THACH HA, CAM XUYEN AND NGHI XUAN, HA TINH

Trương Thị Mỹ Hạnh 1 , Nguyễn Thị Nguyện 1 , Trương Thị Thành Vinh 2 , Nguyễn Thị Là 1 , Nguyễn Thị Minh Nguyệt 1 , Nguyễn Thị Hạnh 1 ,

Lê Thị Mây 1 , Chu Chí Thiết 1 , Nguyễn Hữu Nghĩa 1

1 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I

2 Đại học Vinh

Tác giả liên hệ: Chu Chi Thiết (Emai:chithiet@ria1.org) Ngày nhận bài: 24/07/2020; Ngày phản biện thông qua: 20/10/2020; Ngày duyệt đăng: 15/11/2020

TÓM TẮT

Điều tra được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng một số yếu tố thủy lý, thủy hóa trong nước ao

và một số bệnh ở tôm tại vùng nuôi tôm trên cát thuộc 3 huyện Thạch Hà, Nghi Xuân và Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố thủy lý trong nước bao gồm nhiệt độ, độ mặn và tổng chất rắn lơ lửng tại vùng nuôi có giá trị thích hợp để nuôi tôm chân trắng Bên cạnh đó hầu hết yếu tố thủy hóa trong nước (DO, pH, một số muối dinh dưỡng và oxy tiêu hao) cũng có giá trị nằm trong khoảng an toàn đối với tôm nuôi, ngoại trừ hàm lượng H2S cao dao động trong khoảng 0,25-0,43mg/L Kết quả phân tích 3 bệnh chính phổ biến ở tôm thẻ chân trắng bao gồm bệnh do vi rút đốm trắng (WSSV), bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) và bệnh vi bào tử trùng (EHP) cho thấy: bệnh EHP bắt gặp nhiều nhất ở tôm chân trắng nuôi tại Nghi Xuân, Thạch Hà và Cẩm Xuyên ở cả 03 tháng nghiên cứu từ tháng 8 đến tháng 10, tiếp đến là bệnh AHPND xuất hiện vào tháng 9-10 Trong khi đó bệnh WSSV chỉ xuất hiện vào tháng 9 tại Nghi Xuân với tỷ

Key world: sand farming shrimp area, environment, diseases, Thach Ha, Cam Xuyen, Nghi Xuan

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, diện tích cát hoang hóa ven

biển ở nhiều tỉnh được sử dụng nuôi tôm tạo

nên mô hình nuôi tôm trên cát Hà Tĩnh là

một trong số 13 tỉnh miền Trung đã và đang

phát triển mô hình nuôi tôm trên cát, trong

đó Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Nghi Xuân là 3 huyện thuộc Hà Tĩnh có diện tích hoạt động nuôi tôm trên cát phát triển lớn nhất của địa phương với diện tích tương ứng 370 ha, 320

ha và 180 ha Mô hình nuôi tôm trên cát tại mỗi huyện ban đầu đều mang lại hiệu quả

Trang 39

kinh tế cao, đã và đang góp phần quan trọng

vào đời sống kinh tế - xã hội, đem lại việc

làm, thu nhập cho một bộ phận lớn người

dân ven biển Hà Tĩnh Tuy nhiên, để mô hình

nuôi tôm trên cát phát triển bền vững cần có

điều tra đánh giá thực trạng vùng nuôi hàng

năm, nhằm sớm đưa ra các giải pháp kịp thời

trong trường hợp cần thiết

Xuất phát từ nhận thức trên, nghiên cứu

được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng một

số yếu tố chính về môi trường nước, bệnh

tôm Kết quả là cơ sở khoa học để từ đó đề

xuất giải pháp phù hợp, đảm bảo phát triển

nghề nuôi tôm trên cát ở Hà Tĩnh theo hướng

bền vững

II THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU

Thời gian thực hiện: tháng 8 đến tháng 10

năm 2019, tần suất thu mẫu 2 tuần/lần

Địa điểm thu mẫu: tại vùng nuôi tôm trên

cát tập trung tại 3 huyện với tổng số 60 ao, cụ

thể tại Thạch Hà (15 ao), Cẩm Xuyên (33 ao)

và Nghi Xuân (12 ao) Tổng số mẫu thu phân

tích là 360 cho mỗi thông số

Địa điểm phân tích mẫu: Phòng nghiên cứu

môi trường, Trung tâm Quan trắc môi trường

và bệnh thủy sản miền Bắc (CEDMA) Viện

Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I

Phương pháp chọn hộ nuôi thu mẫu đại diện

cho vùng nuôi: Chọn ngẫu nhiên

Phương pháp thu mẫu: Các chỉ tiêu TAN

(N-NH4+/N-NH3), TSS, N-NO2, N-NO3, H2S,

BOD5, COD thu trong chai nhựa, mẫu được

thu tại 3 vị trí theo đường chéo của ao Tất cả

các mẫu đều được ghi chú cẩn thận và được giữ

lạnh (4-8ºC) trong suốt quá trình vận chuyển

đến khi phân tích Tại phòng thí nghiệm các

thông số nêu trên được phân tích theo phương

pháp chuẩn, đảm bảo hoạt động thử nghiệm và

công nhận ISO/IEC 17025: 2017 Bên cạnh đó,

chỉ tiêu, DO, pH, độ mặn, nhiệt độ được đo tại

hiện trường

Mẫu tôm được cố định trong cồn với tỷ

lệ mẫu:cồn = 1:10, mẫu được giữ ở nhiệt độ

thường chuyển về phòng thí nghiệm phân tích

Kỹ thuật PCR được áp dụng phân tích 3 chỉ tiêu

bệnh chính bao gồm: vi rút gây bệnh đốm trắng

(WSSV), bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND), bệnh ký sinh trùng EHP

Phân tích số liệu: Phân tích số liệu thống kê

mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel 2010

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1 Môi trường trong vùng nuôi tôm trên cát tại Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Nghi Xuân

1.1 Yếu tố thủy lý trong nước (nhiệt độ, độ mặn và tổng chất rắn lơ lửng)

Nhiệt độ trung bình nước thay đổi theo thời gian từ tháng 8 đến tháng 10, tuy nhiên

sự thay đổi này không lớn giữa các lần thu và vùng thu (Hình 1a) Nhiệt độ thích hợp nhất cho tôm chân trắng phát triển là từ 27-300C [31], nhiệt độ lớn hơn 33°C hay thấp hơn 25°C thì khả năng bắt mồi của tôm giảm 30-50%, tốc độ sinh trưởng chậm, hệ số chuyển đổi thức

ăn cao và sức ăn sẽ giảm, tôm giảm hoạt động tạo điều kiện cho mầm bệnh tấn công [11] [31] Như vậy vào thời điểm nghiên cứu kết quả cho thấy nhiệt độ môi trường nước hoàn toàn phù hợp cho tôm thẻ chân trắng phát triển

Độ mặn trung bình có xu hướng giảm dần

từ tháng 8 đến tháng 10, độ mặn thấp nhất vào tháng 10 (17-19‰), tiếp đến tháng 9 (17-22‰)

và cao nhất vào tháng 8 (30-32‰) (Hình 1b) Trong thời gian này tại Bắc Trung Bộ (đặc biệt Nghệ An và Hà Tĩnh) thường xuyên xuất hiện các đợt mưa lớn kéo dài 3-5 ngày, vì vậy lượng mưa đã ảnh hưởng đến sự thay đổi của độ mặn Tôm thẻ chân trắng có thể sống trong khoảng

độ mặn dao động lớn từ 0-36‰, tối ưu ở 19‰ [20] Kết quả nghiên cứu cho thấy độ mặn ở các ao tôm đạt 17-32‰ là phù hợp cho tôm nuôi phát triển

10-Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) trung bình

ở vùng nuôi tôm trên cát ở Cẩm Xuyên có

xu hướng giảm dần từ tháng 8 đến tháng 10 (120-59,5mg/L), trong khi đó Nghi Xuân và Thạch Hà có xu hướng cao ở tháng 8 (109-123mg/L), tiếp đến tháng 10 (75-105mg/L) và thấp nhất vào tháng 9 (69-81mg/L) (Hình 1c) Nhìn chung, với giá trị TSS đã ghi nhận được tại vùng nghiên cứu không lớn hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và Võ Thành Toàn., 2008 [3]; Phạm Thị Tuyết Ngân

Trang 40

và Trương Quốc Phú., 2010 [5] với TSS trong

ao lần lượt đạt 746,6 và 171,7mg/l TSS có giá

trị cao và biến động có thể bị ảnh hưởng bởi

các yếu tố: mật độ tảo, xác chết của tảo, thức

ăn dư thừa bị thối rữa, phân thải của tôm nuôi, xác chết vi sinh vật, keo đất (huyền phù) có sẵn trong nguồn cấp, các vật chất bị rửa trôi từ xung quanh ao khi gặp mưa lớn

Hình 1: Giá trị trung bình và sai số chuẩn của thông số nhiệt độ (a), độ mặn (b) và tổng chất rắn lơ lửng - TSS (c) trong nước ao nuôi tôm trên cát từ tháng 8 đến tháng 10 tại Cẩm Xuyên, Nghi Xuân và Thạch Hà

1.2 Yếu tố thủy hóa trong nước (DO, pH, H 2 S,

một số muối dinh dưỡng và oxy tiêu hao)

DO trung bình có giá trị khác nhau giữa các

thời gian điều tra với DO trung bình thấp nhất

đo được ở Thạch Hà vào tháng 8 (4,57mg/L)

nhưng cao nhất vào tháng 10 (6,78mg/L) (Hình

2a) Về cuối vụ nuôi, tôm lớn hơn nhu cầu oxy

tăng vì vậy hoạt động kỹ thuật nhằm tăng oxy

(quạt khí) được vận hành nhiều hơn, phù hợp

với kết quả DO ở cuối vụ nuôi (tháng 10) cao

hơn tháng đầu vụ nuôi (tháng 8) Tôm thẻ chân

trắng ở giai đoạn nhỏ (postlarvae) phát triển và

tăng trọng khối lượng tốt trong điều kiện DO đạt

3,4-4,2mg/L [18], ở giai đoạn tôm nuôi thương phẩm DO lý tưởng là >5ppm và không vượt quá 15ppm [30] Oxy hòa tan đóng một vai trò quan trọng trong tăng trưởng của tôm thông qua ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu thụ thức ăn và lột xác,

DO thấp có thể gây ảnh hưởng đến quá trình oxy hóa các chất từ dạng oxy hóa đến dạng khử, gây hại trực tiếp cho tôm giảm khả năng trao đổi chất ở tôm đồng thời giảm sự tăng trưởng, lột xác và gây tử vong cho tôm [29]

Giá trị pH trung bình trong ao nuôi tôm có sự dao động lớn nhất được ghi nhận ở Nghi Xuân với mức 0,5 đơn vị từ 7,3-7,8 trong khi đó 2 vùng

Ngày đăng: 31/01/2021, 11:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Thanh Lâm, Nguyễn Văn Phụng, Đoàn Văn Bảy, Đỗ Văn Hoàng, Thới Ngọc Bảo (2019), Hiện trạng sử dụng giống, thức ăn, hóa chất, kháng sinh và các giải pháp kỹ thuật đang áp dụng trong nuôi thâm canh tôm sú, tôm thẻ chân trắng ở Đồng bằng sông Cửu Long, Báo cáo tại Hội nghị “Nâng cao giá trị tôm Việt Nam thông qua đổi mới công nghệ sản xuất”, tháng 11/2019, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao giá trị tôm Việt Nam thông qua đổi mới công nghệ sản xuất
Tác giả: Phan Thanh Lâm, Nguyễn Văn Phụng, Đoàn Văn Bảy, Đỗ Văn Hoàng, Thới Ngọc Bảo
Năm: 2019
6. Khuất Hữu Thanh, Nguyễn Đăng Phúc Hải, Bùi Văn Đạt, Võ Văn Nha (2009), Phân lập và tuyển chọn một số chủng vi khuẩn có đặc tính Probiotic trong tạo chế phẩm nuôi tôm sú. Tạp chí KH&amp;CN các trường Đại học Kỹ thuật, số 74-2009. ISSN 0868-3980, Hà Nội, trang 113-116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí KH&CN các trường Đại học Kỹ thuật, số 74-2009
Tác giả: Khuất Hữu Thanh, Nguyễn Đăng Phúc Hải, Bùi Văn Đạt, Võ Văn Nha
Năm: 2009
7. Balcazar J. L. and Tyrone R. L. (2007), Inhibitory activity of probiotic Bacillus subtilis UTM 126 against Vibrio species confersprotection against Vibriosis in juvenile shrimp (Litopenaeus vannamei). Curr.Microbiol.,55: 409-412 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bacillus subtilis" UTM 126 against Vibrio species confersprotection against Vibriosis in juvenile shrimp ("Litopenaeus vannamei
Tác giả: Balcazar J. L. and Tyrone R. L
Năm: 2007
8. Taylor D., Stevens A., Choi M., Drahos D., D'Imperio S., Smith S., Heffron J., &amp; Kuhn D. (2017), Direct-Fed Probiotics Improve Survival in Shrimp, Litopenaeus vannamei, Under AHPND/EMS Challenge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Litopenaeus vannamei
Tác giả: Taylor D., Stevens A., Choi M., Drahos D., D'Imperio S., Smith S., Heffron J., &amp; Kuhn D
Năm: 2017
9. Wang H., Wang C., Tang Y., Sun B., Huang J., &amp; Song X. (2018), Pseudoalteromonas probiotics as potential biocontrol agents improve the survival of Penaeus vannamei challenged with acute hepatopancreatic necrosis disease (AHPND)-causing V.parahaemolyticus. Aquaculture, 494, p.30-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pseudoalteromonas" probiotics as potential biocontrol agents improve the survival of "Penaeus vannamei" challenged with acute hepatopancreatic necrosis disease (AHPND)-causing "V.parahaemolyticus
Tác giả: Wang H., Wang C., Tang Y., Sun B., Huang J., &amp; Song X
Năm: 2018
2. Lê Hồng Phước, Nguyễn Diễm Thư, Hứa Ngọc Phúc, Phạm Thị Yến (2018), Kỷ yếu hội nghị Khoa học và Công nghệ chuyên ngành Thủy sản giai đoạn 2013-2018, Bộ NN&amp;PTNT. Nhà xuất bản Thanh niên, ISBN Khác
3. QCVN 02-19:2014/BNNPTNT - Qui chuẩn kỹ thuật Quốc gia về cơ sở nuôi tôm nước lợ - Điều kiện đảm bảo vệ sinh thú y, bảo vệ môi trường và an toàn thực phẩm Khác
4. TCVN 5994:1995 (ISO 5667/4: 1987) –Tiêu chuẩn Việt Nam về chất lượng nước – lấy mẫu - hướng dẫn lấy mẫu ở hồ ao tự nhiên và nhân tạo Khác
5. TCVN 6663-3:2016 (ISO 5667-3:2012) - Tiêu chuẩn quốc gia về Chất lượng nước - Lấy mẫu - Phần 3: Bảo quản và xử lý mẫu nước Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm