hoạn diễn ra khi đang thi công tháo lắp để sửa chữa Kim đường và làm hư hỏng nặng một tác phẩm bích họa Phật giáo của thế kỷ thứ VII.. 1) Hợp nhất nội dung Luật Bảo tồn Bảo vật Quốc gia[r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phan Hải Linh Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây
Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá do tác giả luận văn thu thập và tổng hợp từ các tài liệu khác đều được ghi rõ nguồn trong phần nội dung và trong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, một số nhận xét, đánh giá, số liệu nghiên cứu của các tác giả hoặc cơ quan khác đều ghi rõ trích dẫn nguồn tài liệu tham khảo
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình Trường đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có)
Hà Nội, ngày 05 tháng 10 năm 2016
Học viên cao học
Đỗ Hà Phương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do lựa chọn đề tài 3
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Nguồn tư liệu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA NHẬT BẢN NĂM 1950 8
1.1 Bối cảnh 8
1.1.1 Tình hình bảo tồn di sản văn hóa đầu thời Minh Trị 8
1.1.2 Những văn bản pháp qui về bảo tồn di sản văn hóa được ban hành từ thời Minh Trị đến trước năm 1950 10
1.2 Quá trình xây dựng Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa năm 1950 20
1.2.1 Quá trình chuẩn bị dự thảo luật 20
1.2.2 Quá trình thảo luận, chỉnh sửa và thông qua Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa 22
1.2.3 Quá trình thực thi Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa 32
Tiểu kết: 40
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH SỬA ĐỔI BỔ SUNG LUẬT BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA NHẬT BẢN TỪ SAU NĂM 1950 ĐẾN NĂM 1996 41
2.1 Luật sửa đổi năm 1954 41
2.2 Luật sửa đổi năm 1968 45
2.3 Luật sửa đổi năm 1975 46
2.4 Luật sửa đổi năm 1996 56
Tiểu kết: 60
Trang 5CHƯƠNG 3 LUẬT BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA NHẬT BẢN HIỆN
HÀNH VÀ SO SÁNH VỚI VIỆT NAM 61
3.1 Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa Nhật Bản hiện hành 61
3.1.1 Nội dung Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa Nhật Bản hiện hành (sửa đổi năm 2004) 61
3.1.2 Chế độ bảo tồn đối với từng loại hình di sản văn hóa 64
3.1.2.1 Chế độ bảo tồn di sản văn hóa vật thể 64
3.1.2.2 Chế độ bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể 68
3.1.2.3 Chế độ bảo tồn di sản văn hóa dân gian 69
3.1.2.4 Chế độ bảo tồn di tích, danh thắng và công trình kỉ niệm thiên nhiên 71
3.1.2.5 Chế độ bảo tồn cảnh quan văn hóa 74
3.1.2.6 Chế độ bảo tồn quần thể công trình kiến trúc truyền thống 76
3.1.2.7 Chế độ bảo tồn đối với kỹ thuật bảo tồn di sản văn hóa 77
3.1.2.8 Chế độ bảo tồn di sản văn hóa trong lòng đất 77
3.2 Một số nhận xét so sánh với Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam 79
3.2.1 Khái quát về Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam 79
3.2.2 So sánh với Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa của Nhật Bản và một số bài học kinh nghiệm 82
Tiểu kết: 84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 90
Trang 6đó khiến tôi tự đặt ra câu hỏi: Những yếu tố nào giúp Bunraku gìn giữ được nguyên vẹn những giá trị cốt lõi đó? Cho dù là một môn nghệ thuật đặc sắc đến đâu, Bunraku hẳn khó tự mình tồn tại và đứng vững trong nhiều thế kỷ, đặc biệt là trong giai đoạn đầy thăng trầm của lịch sử Nhật Bản thời cận hiện đại Liệu chỉ bằng nỗ lực của các nghệ nhân và sự ủng hộ của cộng đồng có đủ giúp các bộ môn nghệ thuật truyền thống như Bunraku duy trì sức sống bền bỉ của mình? Những chính sách bảo tồn, hỗ trợ từ phía chính phủ đóng vai trò như thế nào? Đó là khởi điểm khiến tôi bắt tay vào việc tìm hiểu về chính sách của Chính phủ Nhật Bản trong việc bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật truyền thống Tôi nhận thấy quá trình xây dựng, sửa đổi bổ sung nội dung của các văn bản luật về bảo tồn di sản văn hóa
ở Nhật Bản đã được thực hiện một cách bền bỉ và công phu trong hơn nửa thế kỷ qua nhằm đưa ra những chính sách cập nhật và hiệu quả nhất đối với di sản Đây không chỉ là điều kiện tiên quyết tạo nên thành tựu bảo tồn di sản văn hóa đáng ngưỡng mộ của nước Nhật, mà có thể trở thành những bài học kinh nghiệm quý báu đối với nhiều nước, trong đó có Việt Nam, trong quá trình xây dựng cơ chế phù hợp
để gìn giữ và bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống
Chính vì vậy, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Nghiên cứu về Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa Nhật Bản” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình
1 Bunraku là một trong năm loại hình nghệ thuật truyền thống nổi tiếng của Nhật Bản bao gồm tấu nhạc
Bugaku (舞楽, Vũ nhạc), kịch No (能, Năng), tấu hài Kyōgen (狂言, Cuồng ngôn) và kịch Kabuki (歌舞伎,
Ca vũ kĩ)
Trang 72 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn này lấy đối tượng nghiên cứu là “Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa Nhật Bản”
Với đề tài luận văn này, tôi muốn làm rõ các vấn đề cơ bản như bối cảnh ra đời của luật Bảo tồn Di sản Văn hóa đầu tiên năm 1950, cùng quá trình 5 lần sửa đổi chỉnh sửa
bổ sung nhằm hoàn thiện luật, từ giai đoạn tập hợp những quy định pháp luật nhỏ lẻ liên quan đến di sản văn hóa đã được ban hành trước đó như Luật Bảo tồn di tích chùa xã cổ, Luật Bảo tồn Di tích lịch sử và Danh thắng tự nhiên, Luật Bảo tồn Bảo vật Quốc gia… đến giai đoạn chỉnh sửa nâng cao hiệu quả và tính cập nhật của các nội dung luật Từ đó đưa ra nhận xét về quá trình xây dựng văn bản luật và hiệu quả của văn bản này đối với việc bảo tồn di sản văn hóa Nhật Bản
Ngoài ra, với tư cách là người Việt Nam nghiên cứu về Nhật Bản, tôi mong muốn nghiên cứu của mình mang lại ý nghĩa thực tiễn cho đất nước Ở Việt Nam, Luật Di sản Văn hóa được ban hành lần đầu tiên vào ngày 29/6/2001, tức là 56 năm sau Cách mạng Tháng Tám với mục đích nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Ngày 18/6/2009, Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ V đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa (số 28/2001/QH10) Việc sửa đổi
bổ sung luật nhằm đưa ra những chính sách kịp thời trong bối cảnh tăng trưởng kinh
tế tốc độ cao và nhiều di sản văn hóa đang xuống cấp nhanh chóng, tuy nhiên hiệu quả thực hiện luật vẫn còn nhiều bất cập Có thể nói bài toán giữa phát triển và bảo tồn ở Việt Nam hiện nay có nhiều nét tương đồng với Nhật Bản cách đây hơn 60 năm Vì vậy, tôi
hy vọng những bài học rút ra từ nghiên cứu về Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa của Nhật Bản có thể giúp chúng ta tìm ra những bài học thiết thực trong việc giữ gìn và phát huy
di sản văn hóa truyền thống của cha ông
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu như trình bày trên, luận văn tập trung thực hiện các
Trang 81 Bối cảnh và quá trình xây dựng Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa của Nhật Bản năm 1950
2 Bối cảnh và quá trình sửa đổi bổ sung Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa từ năm 1950 đến nay
3 Nội dung cơ bản của Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa hiện hành
4 So sánh nội dung của Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa của Nhật Bản hiện hành với Luật Di sản Văn hóa Việt Nam sửa đổi và một số bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng thể chế bảo tồn di sản văn hóa cho Việt Nam
4 Nguồn tư liệu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trên, tác giả luận văn đã sử dụng các nguồn
tư liệu chủ yếu sau:
1 Tư liệu gốc: Các văn bản về Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa của Nhật Bản qua các giai đoạn được công bố trên website chính thức của chính phủ và thư viện, cơ quan lưu trữ của Nhật Bản Luật Di sản Văn hóa sửa đổi bổ sung của Việt Nam được công bố trên website chính thức của chính phủ Việt Nam
2 Tài liệu tham khảo: Do ở Việt Nam hiện nay chưa có nghiên cứu nào đề cập đến Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa của Nhật Bản nên tác giả luận văn chủ yếu tham khảo các nguồn tài liệu bằng tiếng Anh và tiếng Nhật trực tiếp liên quan đến đề tài Trong đó, tác giả đặc biệt chú trọng các nghiên cứu do cơ quan chính phủ công bố
và nghiên cứu được các học giả thực hiện độc lập Tiêu biểu là công trình “Lịch sử
50 năm Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa” (文化財保護法五十年史) (2001) của Tổng cục Văn hóa, NXB Gyosei; hay “Giải thích dễ hiểu về chế độ Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa” (わかりやすい文化財保護制度の解説) (2007) của tác giả Kenjiro Nakamura, NXB Gyosei
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp cơ bản của ngành khoa học xã hội như phương pháp thu thập tổng hợp tài liệu, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu…
Trang 9Ngoài ra, luận văn đã áp dụng phương pháp lịch đại, logic của khoa học lịch
sử khi sắp xếp và phân tích các sự kiện chính về bối cảnh và quá trình sửa đổi bổ sung luật
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc 3
chương chính như sau:
Chương 1: Bối cảnh và nội dung cơ bản của Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa Nhật Bản năm 1950 Chương này phân tích tình hình bảo tồn di sản văn hóa ở Nhật Bản và
những văn bản pháp qui liên quan đến bảo tồn di sản đã được ban hành từ thời Minh Trị đến trước năm 1950 Từ đó tác giả làm sáng rõ nhu cầu cấp bách cần có một văn bản luật bao quát đầy đủ các vấn đề đặt ra trong bảo tồn di sản đương thời
Chương 2: Quá trình sửa đổi bổ sung Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa Nhật Bản sau năm 1950 Trong chương này tác giả tập trung phân tích về bối cảnh và
những nội dung được sửa đổi bổ sung của Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa trải qua 5 lần sửa đổi từ năm 1950 đến năm 2004
Chương 3: Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa Nhật Bản hiện hành và bài học cho Việt Nam Đây là phần phân tích những nội dung cơ bản của Luật Di sản Văn
hóa Nhật Bản, từ đó đối chiếu với tình hình của Việt Nam để bước đầu đưa ra những gợi ý về bài học trong việc xây dựng cơ chế bảo tồn phù hợp
Nghiên cứu về Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa Nhật Bản quả thực là một đề tài mới mẻ
và khó khăn Do giới hạn về năng lực chuyên môn trong lĩnh vực bảo tồn của tác giả, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo, các anh chị và bạn bè, để có những kiến thức toàn diện và sâu sắc hơn về đề tài này
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo, PGS.TS Phan Hải Linh, người đã tận tâm hướng dẫn, chỉ dạy cho tôi trong suốt quá trình làm khóa luận Tác giả
Trang 10cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Đông Phương học, các anh chị đi trước
và bạn bè đã giúp đỡ tôi về mặt tư liệu và đóng góp cho khóa luận của tôi nhiều lời khuyên,
ý kiến quý báu
Hà Nội, ngày 05 tháng 10 năm 2016
Học viên cao học
Đỗ Hà Phương
Trang 11CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA NHẬT BẢN NĂM 1950 1.1 Bối cảnh
1.1.1 Tình hình bảo tồn di sản văn hóa đầu thời Minh Trị
Trước thời Cận đại, ở Nhật Bản, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể thường được lưu truyền, kế thừa và bảo tồn trong các dòng họ hay các cộng đồng cư dân Tiêu biểu là các bảo vật, nghi lễ của Hoàng tộc, gia sản và truyền thống của các gia đình quý tộc, võ sĩ hay thương nhân giàu có… Ngoài ra, những bảo vật và lễ hội thực hiện trong chùa chiền và thần xã cũng được lưu truyền cẩn mật Trong cộng đồng, các loại hình biểu diễn nghệ thuật, văn hóa thị dân, di sản văn hóa truyền thống, các danh lam thắng cảnh của địa phương được coi trọng và phương pháp gìn giữ được lưu truyền qua các thế hệ Nhằm quảng bá giá trị, gây quỹ và nâng cao ý thức bảo vệ đối với các di sản, nhiều dòng họ, chùa xã và địa phương định kỳ tổ chức các hình thức trưng bày, giới thiệu bảo vật văn hóa hay danh lam của mình Những hoạt động này đặc biệt phổ biến trong thời Edo Nhiều dòng họ và chùa xã còn tổ chức trao đổi và giới thiệu bảo vật lẫn nhau để quảng bá bảo vật và gây quỹ bảo tồn Sử sách có ghi lại vào năm Nguyên Lộc thứ 7 (1694) và năm Thiên Bảo thứ 13 (1842), với mục đích quảng bá tín ngưỡng và gây quỹ tu bổ chùa Horyu2 (法隆寺), tự viện Kaiko 3
(回向院) ở Edo đã tiến hành trưng bày các bảo vật của chùa Horyu
Có thể nói đặc điểm lịch sử không bị những cuộc xâm lăng từ bên ngoài là một yếu tố quan trọng giúp Nhật Bản gìn giữ các giá trị văn hóa Bên cạnh đó, tính cách nghiêm cẩn nhưng cởi mở trong tiếp thu, khả năng chuyển hóa sáng tạo nhằm liên
2 Chùa Horyu tên đầy đủ là Horyu Gakumonji (法隆学問寺) do Thánh Đức Thái Tử chủ trì xây dựng năm
607 tại tỉnh Nara Phần Chính điện và Tháp năm tầng của chùa được xem như là kiến trúc bằng gỗ thuộc loại
cổ nhất trên thế giới còn tồn tại được đến ngày nay Năm 1993, chùa là một phần của Quần thể kiến trúc Phật giáo được UNESCO công nhận là Di sản thế giới Trước đó chính phủ Nhật Bản đã công nhận đây là Quốc bảo
3
Trang 12tục hoàn thiện, tính thực tiễn và coi trọng hiệu quả cũng là những yếu tố cốt lõi giúp người Nhật không những bảo vệ được các giá trị văn hóa truyền thống mà còn thường xuyên bổ sung, nâng cao giá trị của các di sản văn hóa
Mặc dầu vậy, có thể nói đến trước thời Minh Trị (1868-1912), hoạt động bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hóa chủ yếu được thực hiện một cách tự phát mà không tồn tại một cơ chế bảo tồn và hệ thống pháp qui chính thức từ phía nhà nước Trong thời Minh Trị, cùng với quá trình xây dựng nhà nước quân chủ lập hiến theo mô hình phương Tây, hệ thống văn bản pháp qui của Nhật Bản được gấp rút hình thành
và từng bước bổ sung, hoàn thiện Trong bối cảnh đó, chế độ bảo tồn di sản văn hóa bắt đầu được xây dựng nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa đang rơi vào tình trạng nguy cấp trước trào lưu Âu hóa (欧化主義) Tuy nhiên, việc xây dựng chế độ bảo tồn này diễn ra trong cả một quá trình dưới ảnh hưởng của bối cảnh chính trị, xã hội đương thời Sau đây xin đơn cử một số chính sách mà chính phủ Minh Trị ban hành liên quan đến tự viện
Năm Minh Trị thứ nhất (1868), chính phủ muốn thực thi chính sách kết hợp tôn giáo và chính trị, nên đã ban hành lệnh Phân ly Thần Phật (神仏分離令), tách Thần Đạo (Shinto) khỏi Phật Giáo và đưa Thần Đạo lên hàng tôn giáo quốc gia Nó đã
4 https://en.wikipedia.org/wiki/Ek%C5%8D-in
5
http://www.japansmiletour.com/popup_page.php?menu=110
Trang 13tạo ra một cơn lốc bài báng Phật giáo trên toàn quốc Phong trào Phế Phật hủy Thích (廃仏毀釈), đòi dẹp bỏ chùa chiền, tượng Phật lan tràn khắp nơi
Trước tình hình đó, các giáo đoàn Phật giáo, đặc biệt là Thiền Tông, đã tức khắc liên kết với các tông phái khác thành các liên minh như Chư tông đồng đức hội minh (諸宗同徳会盟, 1868), Chư tông đồng đức hội (諸宗同徳会, 1868)… và đệ trình các kiến nghị lên Chính phủ Nhằm giải quyết vấn đề này, sau đó 2 năm, Bộ Nội Vụ (民部省) đã lập ra một cơ quan gọi là Tự Viện Liêu (寺院寮) có nhiệm vụ thống nhất việc quản lý chùa chiền Nhờ đó, các phong trào Phế Phật hủy Thích hay Bài Phật khí Thích mới tạm lắng xuống
Tuy nhiên, năm 1871, chính phủ ban hành lệnh sung công đất đai nằm ngoài khuôn viên nhà chùa làm cho tình hình kinh doanh của chùa rơi vào cảnh khó khăn Đặc biệt, các chùa thuộc phái Thiền Lâm Tế xưa nay vẫn sở hữu ruộng đất được Mạc phủ và các phiên trấn tiến cúng theo chế độ chu ấn địa (朱印地) và hắc ấn địa (黒印地)6 Nhiều tháp đầu7 (塔頭) của chùa vốn là các chi nhánh hoạt động ở ngoài khuôn viên chùa vì thế bị rời vào chùa chính hay có nguy cơ biến mất Trước nguy
cơ này, các giáo đoàn phải thay đổi lối quản lý cũ vốn lấy tháp làm trung tâm của mọi hoạt động Ngoài ra, trong chế độ hành chính mới, chính quyền chỉ cho phép giữ lại mối liên hệ của mạt tự (末寺, tức chùa chi nhánh ở địa phương) đối với bản sơn (本山, tức chùa chính), còn các tháp ngoài chùa nếu còn chỉ đóng vai trò ngang
hàng với một mạt tự
1.1.2 Những văn bản pháp qui về bảo tồn di sản văn hóa được ban hành
từ thời Minh Trị đến trước năm 1950
Trang 14Trong những năm đầu thời Minh Trị, khi một bộ phận lớn người dân say sưa với phong trào Âu hóa và chế độ Phế Phật hủy Thích, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của Nhật Bản bị xem nhẹ, dẫn đến nguy cơ thất thoát, hư hoại nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Năm Minh Trị thứ 4 (1871), chính phủ ban hành sắc lệnh về Phương pháp bảo tồn cổ vật (古器旧物保存方), đồng thời tuyên truyền rộng rãi cho người dân trên toàn quốc ý thức bảo quản cổ vật nhằm lưu truyền lại cho hậu thế Bên cạnh đó, chính phủ còn chỉ thị cho chính quyền địa phương lập danh mục báo cáo về các cổ vật và người sở hữu cổ vật trong địa phương Cũng theo sắc lệnh này, cổ vật được chia làm 31 nhóm và xếp thứ tự tùy theo mức độ quan trọng Việc phân loại này về sau trở thành tiêu chuẩn phân loại hiện vật tại các bảo tàng của Nhật Bản Như vậy đây là lần đầu tiên một sắc lệnh của chính phủ đưa ra những chỉ dẫn về việc thống kê, bảo quản, phân loại di sản và chủ sở hữu Sắc lệnh này còn có ý nghĩa tuyên truyền hướng dẫn cho địa phương và người dân về ý thức bảo tồn các di sản văn hóa
2) Chính sách Trợ cấp bảo tồn chùa xã cổ
Như đã trình bày, trong thời Edo, nhằm mục đích gây quỹ tu bổ miếu mạo, nhiều chùa xã ở Nhật Bản đã tổ chức các hoạt động trưng bày hiện vật cổ của chùa hoặc trao đổi quảng bá hiện vật lẫn nhau Trường hợp trưng bày hiện vật của chùa Horyu năm Thiên Bảo thứ 13 (1842) là một ví dụ Tuy nhiên kết quả của việc trưng bày này không đem lại đủ nguồn phụ kinh phí tu bổ cho nhà chùa như mong muốn Tháng 11 năm Minh Trị thứ 9 (1876), chùa Horyu đệ trình lên Chính phủ "Đơn cung tiến cổ vật" (古器物献備御願), và đã được Bộ Cung Nội8 (宮内省, phụ trách các vấn đề liên quan đến Hoàng tộc) chấp nhận xử lý vào tháng 2 năm Minh Trị thứ
11 (1878) Theo đó, các bảo vật của chùa vốn được trưng bày tại hội chợ triển lãm tỉnh Nara vào các năm Minh Trị thứ 8 (1875), thứ 9 (1876) từ tháng 3 năm 1878 được cung tiến cho Viện Chính thương9 (正倉院, kho lưu giữ bảo vật Hoàng gia) và
8 Bộ Cung nội là Cơ quan của Chính phủ Nhật Bản Đơn vị chuyên thực hiện các nhiệm vụ Quốc gia liên quan đến Hoàng thất, nhiệm vụ tiếp nhận thông tin của các Công sứ, các đại sứ quán nước ngoài liên quan đến các vấn đề quốc gia của Thiên hoàng, sắp xếp các công việc liên quan đến các nghi lễ Hoàng thất, là cơ quan của Phủ Nội các bảo quản Ấn triện - Quốc triện
9 Viện Chính thương là nơi lưu giữ nhiều bảo vật thủ công mỹ nghệ, chủ yếu là của thời Heian Viện được đặt tại phía Tây Bắc của Phật điện chùa Todai, thành phố Nara, tỉnh Nara
Trang 15trở thành bảo vật Hoàng gia Sau đó, tháng 3 năm Minh Trị thứ 15 (1882) các bảo vật này được chuyển đến lưu giữ tại bảo tàng trong công viên Ueno tại Tokyo Việc cung tiến bảo vật của chùa Horyu đem lại cho nhà chùa số tiền thưởng một vạn yên
từ chính phủ, giúp chùa đạt được mục đích phòng trừ việc thất thoát bảo vật văn hóa, đồng thời có thêm kinh phí cho chùa [18, tr.15]
Trường hợp chùa Horyu phản ánh tình trạng suy giảm nguồn thu dẫn đến sự xuống cấp của các cơ sở tôn giáo thời Minh Trị do những thay đổi về chính sách tôn giáo, kinh tế, xã hội Đứng trước nguy cơ đó, từ năm Minh Trị thứ 13 (1880) đến năm Minh Trị thứ 27 (1894), trong khoảng 15 năm, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện chính sách
Trợ cấp bảo tồn chùa xã cổ (古社寺保存金の交付) Trong thời gian này có 539 chùa
trên toàn quốc được nhận trợ cấp với tổng số tiền là 121.000 Yên [18, tr.15] Số tiền này chủ yếu được sử dụng vào việc duy trì tu sửa kiến trúc tự viện và thần xã cổ
3) Cục Điều tra lâm thời về bảo vật trong toàn quốc và hệ thống Bảo tàng Đế quốc
Năm Minh Trị thứ 11 (1878), Ernest Francisco Fenollosa (1853-1908), một học giả người Mỹ được mời sang giảng dạy tại Đại học Tokyo về triết học, chính trị, kinh tế Trong thời gian làm việc tại Nhật Bản, ông đặc biệt hứng thú với các tác phẩm mỹ thuật truyền thống và đã bắt tay nghiên cứu về lĩnh vực này Năm Minh Trị thứ 15 (1882) ông chính thức tham gia hội đồng thẩm định cổ vật tổ chức ở Nhật Bản Những nghiên cứu của ông có vai trò soi sáng trong việc đánh giá các tác phẩm mỹ thuật cổ ở Nhật Bản, cảnh tỉnh người Nhật bước ra khỏi giai đoạn sùng bái thái quá các giá trị phương Tây Năm Minh Trị thứ 17 (1884), ông cùng người trợ giảng của mình là Okakura Tenshinra (岡倉天心ら, 1863-1913) được Bộ Giáo dục giao nhiệm vụ điều tra hiện trạng các ngôi chùa cổ trong khu vực Kyoto và Osaka Trong suốt quá trình điều tra, hai ông luôn chủ trương coi trọng bảo tồn mỹ thuật truyền thống Nhật Bản
Song song với hoạt động trên, năm Minh Trị thứ 21 (1888), Bộ Cung Nội đã thành lập Cục Điều tra lâm thời về bảo vật trong toàn quốc (臨時全国物取調局), do Kuki Ryuichi (九鬼隆一, 1852-1931) đứng đầu và Okakura Tenshin là người chịu
Trang 16vật, đặc biệt là bảo vật của các ngôi chùa cổ trên toàn quốc Cuộc điều tra đã thống
kê số lượng các bảo vật theo 5 nhóm chính gồm:
- Tư liệu cổ: Hơn 17.000 bản
- Tác phẩm hội họa: Hơn 74.000 bức
- Tác phẩm điêu khắc: Hơn 46.000 hiện vật
- Hàng thủ công mỹ nghệ: Hơn 57.000 hiện vật
- Thư tịch cổ: Hơn 18.000 bản
Tổng các bảo vật được điều tra lên đến con số hơn 215.000 bảo vật, trong số đó
có khoảng hơn 15.000 bảo vật được đánh giá là bảo vật đặc biệt, được đăng ký trong Danh mục bảo vật [18, tr.16]
Kết quả cuộc điều tra là danh sách những bảo vật quý hiếm được lưu giữ, tập trung chủ yếu trong những ngôi chùa cổ ở Kyoto và Osaka, đồng thời chỉ ra được những địa phương có tỉ lệ xuống cấp hay nguy cơ thất thoát bảo vật cao, từ đó kêu gọi nâng cao ý thức bảo tồn
Năm Minh Trị thứ 22 (1889), nhờ hiệu ứng của cuộc điều tra trên, Bộ Cung Nội
đã ban hành quyết định cải tạo bảo tàng thuộc Thư viện Tokyo thành Bảo tàng Đế quốc10 (帝国博物館) Tiếp đó, Bộ ra quyết định xây dựng mới Bảo tàng Đế quốc tại Nara và Kyoto vào các năm Minh Trị thứ 28 (1895) và Minh Trị thứ 30 (1897) Đây là hệ thống bảo tàng quốc lập đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập, lưu giữ và bảo tồn di sản văn hóa của Nhật Bản
4) Luật Bảo tồn chùa xã cổ
Sau cuộc chiến tranh Nhật - Thanh trong các năm Minh Trị 27-28 (1894-1895), bối cảnh ý thức dân tộc dâng cao trên cả nước đã thúc đẩy việc ban hành thêm các chính sách bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống Năm Minh Trị thứ 30 (1897), chính phủ Nhật Bản ban hành Luật Bảo tồn chùa xã cổ (古社寺保存法) Theo qui định của luật, những ngôi chùa và đền thờ thần đạo (thần xã) cổ không có khả năng
tự duy tu, sửa chữa các bảo vật và công trình kiến trúc có thể nộp đơn xin nhà nước
10 Bảo tàng Đế quốc là tên gọi bảo tàng quốc gia được sử dụng từ thời Minh Trị đến hến Thế chiến II Các bảo tang này đương thời do Bộ Cung nội quản lý
Trang 17hỗ trợ kinh phí Quyền chỉ đạo giám sát việc thực hiện được giao cho người đứng đầu chính quyền địa phương11 (地方長官) Một số công trình kiến trúc và bảo vật
có giá trị tiêu biểu phản ánh những dấu mốc lịch sử hay những phương pháp sáng tác đặc thù về mỹ thuật sẽ được Bộ trưởng Bộ Nội vụ xem xét và chỉ định là công trình kiến trúc hay bảo vật quốc gia được bảo vệ đặc biệt
Nhóm công trình kiến trúc và bảo vật được bảo vệ đặc biệt được quản lý nghiêm cẩn, cấm mọi hành vi phá bỏ, chiếm hữu Những người trực tiếp quản lý các công trình và bảo vật này gồm trụ trì của chùa (住職) và thần xã (神職) có nghĩa vụ và trách nhiệm trước nhà nước trong việc trông nom, bảo vệ những di sản này Ngoài ra, luật cũng đưa
ra những quy định về hình phạt đối với những hành vi cất giấu, làm tổn hại di sản như tượng Phật, hay quy định về nghĩa vụ gửi bảo vật quốc gia đến các viện bảo tàng cấp quốc gia để lưu giữ
Nội dung của Luật Bảo tồn chùa xã cổ, mặc dù chỉ giới hạn đối tượng thuộc là chùa chiền và thần xã cổ, nhưng được coi là văn bản luật đầu tiên do chính phủ ban hành nhằm xác lập danh sách và thể chế bảo tồn đối với các di sản văn hóa trọng yếu Đây là tiền thân của chế độ bảo tồn di sản văn hóa của Nhật Bản sau chiến tranh
Theo luật, cơ quan chịu trách nhiệm chính về quản lý di sản là Bộ Nội vụ Bộ Nội vụ kết hợp với Bộ Cung Nội, Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (sau đây gọi tắt là Bộ Giáo dục) trong việc thực hiện chính sách quản lý đối với di sản của Hoàng gia hay di sản liên quan đến tôn giáo
Từ năm Đại Chính thứ 2 (1913), Bộ Giáo dục trở thành cơ quan chủ quản về quản lý di sản theo qui định của luật Năm Chiêu Hòa thứ 4 (1929), Luật Bảo tồn Bảo vật Quốc gia được ban hành trên cơ sở phát triển nội dung của Luật Bảo tồn chùa xã cổ Nhờ đó, Nhật Bản đã thống kê được 845 công trình kiến trúc và 3.705 bảo vật quốc gia cấp đặc biệt [18, tr.17]
11 Trong giai đoạn từ thời Minh Trị đến hết Thế chiến thứ II, người đứng đầu chính quyền địa phương là người đứng đầu 4 đơn vị hành chính địa phương gồm đô (都), đạo (道), phủ (府) và huyện (県)
Trang 185) Luật Bảo tồn Di tích lịch sử và Danh thắng tự nhiên
Năm Minh Trị thứ 7(1874), nhằm xúc tiến việc thống kê và bảo tồn mộ cổ (古墳)12, chính phủ Nhật Bản ban hành văn bản hướng dẫn về Cách thức thông báo khi phát hiện thấy mộ cổ (古墳発見の節届出方) Tiếp đó, năm Minh Trị thứ 13 (1880),
Bộ Cung nội ban hành hướng dẫn về Cách thức thông báo việc phát hiện mộ cổ trong phần đất tư hữu của người dân (人民私有地内古墳等発見の節届出方), với nội dung hướng dẫn việc kiểm tra thẩm định mộ cổ trong đất tư hữu hay khai hoang của người dân
Trong giai đoạn này đã xuất hiện một nghiên cứu có ảnh hưởng lớn đến bảo tồn
di sản ở Nhật Bản Đó là cuộc khai quật gò sò điệp Omori (大森貝塚) 13 của học giả người Mỹ về động vật học tên là Edward Sylvester Morse (1838-1925) vào năm Minh Trị thứ 10 (1877) Với cuộc điều tra khai quật này, Morse đã đưa ra những phát hiện quan trọng về đặc điểm môi trường sinh vật và đời sống sinh hoạt của cư dân Nhật Bản thời Jomon Năm Minh Trị thứ 12 (1879), Đại học Tokyo đã xuất bản công trình “Biên tập về các cổ vật tại gò sò điệp Omori” (大森介墟古物編)14
Từ đây đánh dấu bước phát triển đầu tiên của ngành khảo cổ học Nhật Bản
Sau hai cuộc chiến tranh Nhật – Thanh và Nhật - Nga, nước Nhật cận đại tự tin trỗi dậy và phát triển nhanh chóng Tuy nhiên, mặt trái của quá trình khai thác đất đai, xây mở đường bộ, đường sắt, xây dựng nhà máy… diễn ra ồ ạt lúc này là nhiều di tích lịch sử, danh thắng tự nhiên rơi vào tình trạng bị xâm phạm và hư hại Ngoài ra, nhiều tác phẩm thủ công mỹ nghệ cổ mặc dù là đối tượng được bảo vệ theo Luật Bảo tồn di tích chùa xã cổ ban hành trước đó nhưng cũng rơi vào trình trạng bị thất thoát hoặc hư hỏng Điều này đã khiến chính phủ Nhật Bản quyết định đẩy mạnh phương sách bảo tồn Năm
14 Đây là bản báo cáo kết quả khai quật khảo cổ tại gò sò điệp Omori của Morse Báo cáo có chất lượng khoa học cao, bao gồm nhiều hình ảnh và mô tả chính xác di vật, ghi chép lịch sử của di vật thông qua quá trình quan sát tỉ mỉ, và trong quan hệ so sánh đối chiếu với di vật của các nước khác Tài liệu này đã trở thành văn bản mẫu cho các báo cáo khảo cổ học sau này của Nhật Bản
Trang 19Đại chính thứ 8 (1919), Luật Bảo tồn Di tích lịch sử và Danh thắng tự nhiên (史跡名勝天然記念物保存法) được chính thức ban hành Luật gồm 6 điều ngắn gọn nhưng khái quát khá đầy đủ các nội dung bảo tồn với đối tượng là di tích lịch sử và danh thắng tự nhiên Có thể điểm qua một số điều luật chính như dưới đây:
- Điều 1: Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định, chỉ định thiết lập các biện pháp cần thiết nhằm cấm, hạn chế các hành vi ảnh hưởng đến khu vực bảo tồn của di tích lịch
sử, danh thắng tự nhiên và các công trình kỉ niệm thiên nhiên
- Điều 2: Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định các cấp địa phương tiến hành quản lý
di tích lịch sử, danh thắng tự nhiên và các công trình kỉ niệm thiên nhiên
- Điều 3: Quy tắc bảo toàn môi trường và hạn chế việc thay đổi hiện trạng
- Điều 5: Quy định xử phạt đối với các trường hợp vi phạm.15
Luật qui định Bộ trưởng Bộ Nội vụ xem xét quyết định các di tích lịch sử và danh thắng tự nhiên được bảo vệ Trước đó người đứng đầu chính quyền địa phương có thể ban hành quyết định tạm thời đối với trường hợp cần bảo tồn Bộ trưởng Bộ Nội vụ qui định cơ chế bảo tồn các di tích lịch sử, danh thắng tự nhiên như yêu cầu trang bị các thiết
bị cần thiết, cấm hoặc hạn chế một số hành vi nhất định làm ảnh hưởng đến bảo tồn, xác định phạm vi khu vực bảo tồn, yêu cầu các đoàn thể, cộng đồng địa phương thực hiện công tác quản lý di tích lịch sử, danh thắng tự nhiên… Luật cũng qui định về xử phạt đối với những hành vi vi phạm luật hay làm thay đổi hiện trạng của di tích và danh thắng Cho đến khi ban hành Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa, trong thời gian 30 năm áp dụng Luật Bảo tồn Di tích lịch sử và Danh thắng tự nhiên (1920-1950), cả nước Nhật
đã có 1.580 di tích và danh thắng được xếp vào danh sách là đối tượng bảo vệ của luật [18, tr.18] Từ tháng 12 năm Chiêu Hòa thứ 3 (1928), công tác quản lý hành chính liên quan đến Bộ luật được chuyển giao cho Bộ Văn hóa
15
史蹟名勝天然紀念物保存法(大正八年四月十日法律第四十四号), Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology’s website,
Trang 206) Luật Bảo tồn Bảo vật Quốc gia
Vào giữa thập niên 1920, Nhật Bản rơi vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng, dẫn đến tình trạng thất thoát một lượng không nhỏ các bảo vật được lưu giữ trong những gia đình danh giá xưa Ngoài ra, sau sự sụp đổ của chế độ Mạc phủ, nhiều công trình kiến trúc như thành quách, cung điện ở trong tình trạng xuống cấp cần được sửa chữa gấp Công tác bảo tồn di sản văn hóa, đặc biệt là di sản không phải là đối tượng của Luật Bảo tồn di tích chùa xã cổ, càng trở nên cấp bách
Năm Chiêu Hòa thứ 4 (1929), Luật Bảo tồn Bảo vật Quốc gia được ban hành thay thế cho Luật Bảo tồn di tích chùa xã cổ Trong Luật Bảo tồn Bảo vật Quốc gia,
Bộ trưởng Bộ Văn hóa đảm nhận việc xem xét và quyết định xếp hạng đối với công trình kiến trúc, bảo vật có giá trị lịch sử hoặc mỹ thuật Nếu trong Luật Bảo tồn di tích chùa xã cổ, các công trình kiến trúc hoặc bảo vật được bảo vệ đặc biệt thì trong Luật Bảo tồn Bảo vật Quốc gia, những công trình và bảo vật sau khi có quyết định
sẽ được chính phủ công nhận cấp quốc gia và được gọi là quốc bảo (国宝)
Khi luật này bắt đầu được thi hành từ tháng 7 năm Chiêu Hòa thứ 4 (1929), các công trình kiến trúc thành quách cổ như thành Himeji16 (姫路城) hay Nagoya17 (名古屋城) đều được chính phủ công nhận Bên cạnh đó, nhiều bức họa bích, thư tịch nằm ngoài sở hữu của chùa chiền cũng được chính phủ công nhận
16
Thành Himeji được xây dựng vào năm 1346 bởi Akamatsu Sadanori, một samurai thời kỳ đầu Muromachi Đây là một trong những kiến trúc thành cổ nhất còn lại ở Nhật Bản và là kiến trúc tiêu biểu cho các thành quách thời cận đại của Nhật Bản Himeji đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới (văn hóa) vào năm
1993 và di tích lịch sử đặc biệt của Nhật Bản Nhiều phần kiến trúc khác nhau của thành Himeji đã được công nhận là quốc bảo hoặc di sản văn hóa quan trọng của quốc gia Thành Himeji cùng với thành Matsumoto và thành Kumamoto hợp thành cái gọi là “Tam đại quốc bào thành” (三大国宝城) Trong đó, thành Himeji nổi tiếng nhất
17
Danh cổ ốc thành – Tòa thành cổ Nagoya được xây dựng vào năm 1612 tại Nagoya Tòa thành được phục hồi vào năm 1959, do đã bị phá huỷ phần lớn trong Thế chiến thứ hai, và nhiều phần kiến trúc mới được xây dựng, bao gồm có một bảo tàng hiện đại với các cuộc triển lãm về lịch sử của lâu đài Các công viên xung quanh lâu đài được giữ gìn bằng hai đường bao hào phòng vệ và tường kiên cố với góc tháp Nơi đây đã trở thành một điểm ngắm hoa hấp dẫn trong suốt mùa hoa anh đào nở tại Nhật Bản
Trang 21Hình 1.3: Thành Himeji 18 Hình 1.4: Thành cổ Nagoya 19
Luật Bảo tồn Bảo vật Quốc gia qui định cấm xuất khẩu hay vận chuyển quốc bảo đi nơi khác Trường hợp đặc biệt phải có sự cho phép của Bộ trưởng chuyên trách Ngoài ra, việc thay đổi hiện trạng của quốc bảo cũng nhất định phải được Bộ trưởng chuyên trách cho phép Việc thẩm định, công nhận, cấp phép… đối với quốc bảo được một hội đồng tư vấn chuyên môn thực hiện, gọi là Hội Bảo tồn Quốc bảo Nhật Bản (国宝保存会) Ngoài ra, theo luật, khi có quyết định của Bộ trưởng chuyên trách, cơ quan hay người sở hữu quốc bảo, trong vòng một năm, phải gửi quốc bảo đến triển lãm tại bảo tàng quốc gia (Bảo tàng Đế quốc) hay các bảo tàng
mỹ thuật Nếu trước đó, Luật Bảo tồn di tích chùa xã cổ đã không nhắc đến các nghĩa vụ như gửi bảo vật được công nhận đến triển lãm công khai hay yêu cầu
cơ chế bảo tồn đặc biệt đối với công trình kiến trúc, bảo vật, thì Luật Bảo tồn mới đã qui định lại các nghĩa vụ này Ngoài ra, Luật Bảo tồn Bảo vật Quốc gia còn cấm tự ý loại bỏ quốc bảo thuộc sở hữu của chùa chiền hoặc thần xã, cấm
tự ý chào giá thế chấp hay tịch thu các quốc bảo này Trường hợp đặc biệt cần được Bộ trưởng bộ chuyên trách ban hành quyết định cho phép chuyển nhượng
18 http://www.japan-guide.com/e/e3501.html (ngày cập nhật 20/10/2016)
19 http://www.nagoyajo.city.nagoya.jp/13_english/ (ngày cập nhật 20/10/2016)
Trang 22thế chấp Trong khi đó, các bảo vật thuộc dạng sở hữu khác, chỉ cần nộp đơn xin thay đổi người sở hữu là được
Về việc tu bổ quốc bảo trong chùa chiền thần xã, luật qui định chùa xã có thể xin trợ cấp từ chính phủ, ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, quốc bảo thuộc sở hữu ngoài chùa xã cũng có thể xin được nguồn trợ cấp này Kinh phí trợ cấp tu bổ được qui định từ 15 vạn yên đến 20 vạn yên Nếu cần thiết, chính phủ có thể xem xét bổ sung thêm tiền trợ cấp
Đối với các trường hợp như xuất khẩu hay vận chuyển bảo vật mà không xin phép, trường hợp phá hoại hay cất giấu bảo vật, nếu bị phát hiện sẽ bị chịu hình phạt tù cải tạo dưới 5 năm hoặc bị phạt tiền Trường hợp tự ý thay đổi hiện trạng hay thay đổi tên người sở hữu trái luật, sẽ bị phạt cảnh cáo và yêu cầu sửa chữa lại đúng nguyên trạng ban đầu
7) Luật về Bảo tồn các tác phẩm mỹ thuật mỹ nghệ
Như đã trình bày, Luật Bảo tồn Bảo vật Quốc gia áp dụng từ năm 1929 quy định quốc bảo không được phép xuất khẩu để đề phòng việc thất thoát quốc bảo ra nước ngoài Tuy nhiên, theo điều tra của Bộ Văn hóa đương thời vẫn diễn ra tình trạng các bảo vật chưa kịp được thẩm định và xếp hạng đã bị tuồn ra nước ngoài Năm Chiêu Hòa thứ 7 (1932), bức tranh cuốn (絵巻) mang tên Bandainagon ekotoba20 (伴大納言絵詞) bị đưa ra nước ngoài đã khiến chính phủ nâng cao các biện pháp đề phòng việc tẩu tán di sản chưa kịp thẩm định ra nước ngoài Bên cạnh
đó, bối cảnh ý thức dân tộc gia tăng tại Nhật Bản đầu thập niên 1930 cũng góp phần không nhỏ ảnh hưởng đến việc ban hành qui định đối với các tác phẩm mỹ thuật mỹ nghệ Kết quả là năm Chiêu Hòa thứ 8 (1933), Nhật Bản ban hành Luật về Bảo tồn các tác phẩm mỹ thuật (重要美術品等ノ保存二関スル法律), gồm 5 điều Những tác phẩm mới sáng tác trong thời gian dưới 50 năm hoặc được mang từ nước ngoài vào Nhật Bản trong thời gian dưới 1 năm nằm ngoài đối tượng qui định của luật Luật qui định việc xuất khẩu hoặc vận chuyển những tác phẩm đã được thẩm định
20 Bức tranh cuốn được vẽ cuối thời Heian, lấy đề tài về cuộc chính biến năm 866 ở cổng điện Ứng Thiên Đây là 1 trong số 4 bức tranh cuốn được công nhận là quốc bảo của Nhật Bản
Trang 23về giá trị lịch sử hoặc mỹ thuật nhưng chưa có quyết định công nhận phải được Bộ trưởng có thẩm quyền cấp phép Bên cạnh đó thông tin này về việc xuất khẩu hay vận chuyển còn phải được thông báo đến cơ quan hải quan và chủ sở hữu tác phẩm Ngay trong năm đầu áp dụng luật (1933) đã có 1.022 tác phẩm được công nhận Tính ra đến trước khi Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa ra đời (1950) có tổng cộng 8.282 tác phẩm được công nhận, gồm 7.983 tác phẩm mỹ thuật mỹ nghệ và
299 tác phẩm kiến trúc [18, tr.20]
Nhìn lại quá trình xây dựng chế độ bảo tồn di sản văn hóa từ đầu thời Minh Trị đến trước năm 1950, có thể thấy đây là một quá trình từng bước xây dựng và chỉnh sửa nhằm đưa ra các văn bản pháp qui phù hợp với thực tế Tuy nhiên, cũng chính được xây dựng trên cơ sở yêu cầu cấp thiết của thực tế xuống cấp của di sản văn hóa, nên nội dung các văn bản còn sơ khai, dẫn đến chế độ bảo tồn chưa bao quát một cách toàn diện các lĩnh vực và cấp độ của di sản Hơn nữa tình trạng luật ban hành tập trung vào một đối tượng riêng, với biện pháp bảo tồn và cơ quan quản lý riêng rẽ làm phát sinh mâu thuẫn về nội dung và sự chồng chéo trong quá trình thực hiện Đặc biệt, trong bối cảnh nước Nhật bị tàn phá sau chiến tranh, các di sản văn hóa
bị phá hủy hoặc rơi vào tình trạng nguy cấp, việc ban hành luật bảo tồn hoàn chỉnh, tập hợp các loại hình di sản văn hóa, thống nhất về biện pháp bảo tồn và cơ quan quản lý nhằm tạo cơ sở cho một chế độ bảo tồn thống nhất và đẩy đủ đem lại hiệu quả cao là một nhu cầu đặt ra cấp bách
1.2 Quá trình xây dựng Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa năm 1950
1.2.1 Quá trình chuẩn bị dự thảo luật
Sau khi Thế chiến thứ II kết thúc, chính phủ Nhật Bản dưới sự chỉ đạo của Bộ tổng tư lệnh Liên hợp quốc (連合国総司令部, tức GHQ)21 đứng trước nhiệm vụ giải quyết các vấn đề kinh tế chính trị xã hội bộn bề thời hậu chiến Chiến tranh đã hủy hoại nền móng cơ bản của nền kinh tế vốn có cơ cấu không cân bằng do chính sách dốc toàn lực cho chiến tranh, tình trạng lạm phát gia tăng trong khi nhu yếu
21 Cơ quan Tư lệnh tối cao của GHQ được đặt tại Yokohama từ tháng 8 năm 1945 GHQ ở Nhật Bản sau Thế chiến II do Mỹ đại diện lực lượng đồng minh chỉ đạo có nhiệm vụ giám sát Nhật Bản thực hiện các điều
Trang 24phẩm khan hiếm Bên cạnh việc tái cơ cấu nền kinh tế, giải thể các tập đoàn tài phiệt, tái thiết lập quy trình sản xuất nông nghiệp tự chủ , việc giải quyết các vấn
đề văn hóa xã hội cũng được đặt ra cấp bách, trong đó có tình trạng hủy hoại, xuống cấp và thất thoát di sản, cổ vật Nhiều chủ sở hữu bảo vật rơi vào tình trạng kiệt quệ phải bán nhượng lại các tài sản được để lại Tình trạng trộm cắp, mua bán bảo vật tại chợ đen và tuồn ra nước ngoài diễn ra nhức nhối Các công trình kiến trúc, lịch
sử, danh thắng bị tàn phá hoặc xuống cấp do bị trưng dụng cho mục đích sản xuất,
cư trú trong và sau chiến tranh khiến địa phương và chủ sở hữu tư nhân khó có thể phục hồi và quản lý
Bên cạnh đó, bản thân nguồn ngân sách của quốc gia đã cạn kiện không thể cung cấp tài lực và vật lực cho việc bảo quản di sản Việc quản lý và thống kê di sản mặc dù bị đình trệ trong chiến tranh nhưng số lượng quốc bảo, tác phẩm mỹ thuật
mỹ nghệ, công trình tôn giáo lịch sử kiến trúc được công nhận… đã vượt quá số lượng mà ngân sách phục vụ bảo tồn cho phép Điều này dẫn đến tình trạng chính sách bảo tồn trở nên lỏng lẻo, hình thức ở cả cấp trung ương và địa phương Đặc biệt, chế độ đảm bảo quyền lợi cho người sở hữu và cộng đồng không được quan tâm đúng mức càng khiến tình trạng mua bán xâm phạm gia tăng
Nhằm giải quyết các vấn đề nêu trên, từ cuối thập niên 1940, Bộ Văn hóa Nhật Bản bắt tay vào điều tra hiện trạng di sản, đồng thời tranh thủ kinh nghiệm và ý kiến
tư vấn của các học giả trong nước và nước ngoài làm cơ sở để xây dựng dự thảo luật bảo tồn mới đối với di sản văn hóa Năm Chiêu Hòa thứ 23 (1948) chính phủ công
bố kết luận về việc chuẩn bị đệ trình dự thảo Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa với nội dung bao quát, thay thế cho các luật riêng rẽ đã được ban hành Đúng vào thời gian này vụ cháy tại Kim đường chùa Horyu22 đã gây nên cú sốc lớn trong dư luận, khiến chính phủ và quốc hội Nhật Bản ưu tiên việc nhanh chóng xem xét dự thảo luật Tháng 3 năm Chiêu Hòa thứ 24 (1949), Bộ Văn hóa thông qua Phòng Mỹ thuật thuộc Cục Giáo dục Thông tin Nhân dân kết hợp với GHQ tổ chức buổi công bố và giải thích về dự thảo luật với các điểm nhấn sau
22 Sự việc xảy ra ngày 26 tháng 1 năm 1949 tại Kim đường có tuổi đời ngàn năm của chùa Horyu Vụ hỏa hoạn diễn ra khi đang thi công tháo lắp để sửa chữa Kim đường và làm hư hỏng nặng một tác phẩm bích họa Phật giáo của thế kỷ thứ VII
Trang 251) Hợp nhất nội dung Luật Bảo tồn Bảo vật Quốc gia và Luật về Bảo tồn các tác phẩm mỹ thuật
2) Tăng cường qui định biện pháp ngăn chặn việc chảy máu cổ vật ra nước ngoài
3) Thiết lập chế độ thống nhất về thẩm định và chỉ định bảo vật quốc gia
4) Tăng cường vai trò cộng đồng như quyền điều tra, quyền hạn quản lý quốc bảo, vai trò của các đoàn thể và chính quyền địa phương đối với việc quản lý, kiểm tra và duy trì môi trường của quốc bảo và các công trình kiến trúc, tôn giáo, lịch sử 5) Làm rõ chính sách đối với cá nhân và tổ chức sở hữu quốc bảo, hỗ trợ kinh phí nhà nước cho những hoạt động bảo tồn quốc bảo cần thiết, hỗ trợ ngân sách nhà nước cho việc tu sửa các công trình kiến trúc xếp hạng cao, qui định rõ về mua bán quốc bảo
6) Hợp pháp hóa khoản ngân sách định kỳ cho bảo tồn quốc bảo
7) Miễn thuế tài sản đối với quốc bảo
8) Tăng cường các biện pháp xử phạt đối với hành vi vi phạm
Việc sửa đổi không chỉ liên quan đến các nội dung cơ bản về chế độ mà còn các tiêu chí đánh giá phân loại phục vụ xếp hạng hợp lý hơn đối với quốc bảo, tác phẩm
mỹ thuật trọng yếu do số lượng các hiện vật được thống kê quá nhiều
1.2.2 Quá trình thảo luận, chỉnh sửa và thông qua Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa
Ngày 30 tháng 5 năm Chiêu Hòa thứ 25 (1950), ông Yamamoto Yuzo, ủy viên
Ủy ban Pháp chế của Thượng nghị viện, được sự đồng thuận của 17 vị ủy viên còn lại, đã đọc tuyên bố ban hành Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa Luật bắt đầu có hiệu lực từ ngày 29 tháng 8 cùng năm
Để có được công bố này sau khoảng 1 năm, dự thảo luật đã trải qua một quá trình xem xét và thảo luận khẩn trương nhưng gay cấn tại quốc hội Tổng số 130 điều của dự thảo luật nhận được ý kiến đóng góp và thảo luận từ nhiều góc độ của các nghị sĩ Thượng viện và Hạ nghị viện Những thăng trầm trong quá trình thảo
Trang 26luận nội dung dự thảo luật được ghi chép lại trong các biên bản họp quốc hội Dưới đây tác giả luận văn xin tóm tắt những sự kiện chính của quá trình này
Như đã trình bày, ngày 26 tháng 1 năm 1949, tại Kim đường chùa Horyu xảy ra hỏa hoạn nghiêm trọng Tuy nhiên không được một cơ quan quản lý nào nhận được báo cáo kịp thời Khi tin tức được thông báo lên thủ đô, chính phủ và quốc hội đã
cử các tổ điều tra và chuyên gia đến hiện trường làm việc với các sư tại Kim đường
để tìm hiểu tình hình, thảo luận về phương pháp khắc phục và bảo tồn Vấn đề lỗ hổng trong cơ chế bảo tồn thông qua vụ hỏa hoạn khu Kim đường chùa Horyu đã bị chỉ trích tại cuộc họp của Ủy ban Văn hóa của Thượng nghị viện Trong cuộc họp, Cục Giáo dục Xã hội thuộc Bộ Văn hóa đã báo cáo kết quả điều tra về sự cố tại chùa Horyu Cuộc họp đã nêu lên tính cấp bách và bàn về những vấn đề cần sửa đổi trong dự thảo luật
Tháng 4 năm 1949, Ủy ban Văn hóa thuộc Hạ nghị viện cũng tổ chức họp để nghe và thảo luận về báo cáo điều tra độc lập liên quan đến dự thảo luật về chế độ bảo tồn quốc bảo từ trường hợp hỏa hoạn Kim đường Như vậy, mặc dù tiến hành nghiên cứu độc lập nhưng cả hai viện cùng xác định sự cần thiết phải xây dựng chế
độ bảo tồn quốc bảo mới
Ngày 19 tháng 4, Tiểu ban Nghiên cứu về dự thảo luật sửa đổi của Ủy ban văn hóa Thượng nghị viện họp về báo cáo trung kỳ liên quan đến dự thảo luật về chế độ bảo tồn quốc bảo Báo cáo được soạn trên cơ sở kết quả nghiên cứu về dự thảo Luật Bảo tồn Quốc bảo và kết quả điều tra tham khảo ý kiến chuyên gia các lĩnh vực liên quan, người sở hữu quốc bảo, tác phẩm mỹ thuật Bản báo cáo đề xuất việc xem xét mở rộng phạm vi đối tượng và cơ chế quản lý khi chuyển thành Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa Cuộc họp của Tiểu ban đã nhất trí các kết luận cơ bản sau
1) Hợp nhất Luật Bảo tồn Quốc bảo và Luật Bảo tồn tác phẩm mỹ thuật
2) Thống nhất cơ quan chính phủ chuyên trách vấn đề bảo tồn nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo và nâng cao hiệu quả quản lý
3) Xem xét, thẩm định lại nhằm đưa ra danh mục chính xác về di sản từ danh sách quốc bảo và tác phẩm mỹ thuật đã được lựa chọn theo hai luật trước đó Xếp hạng thành quốc bảo và quốc bảo đặc biệt, từ đó có “biện pháp bảo tồn trọng điểm”
Trang 274) Kiểm tra nhóm quốc bảo thuộc sở hữu của chùa xã và làm rõ trách nhiệm quản l ý các tác phẩm này
5) Thiết lập chế độ cấp phép đối với việc giao dịch mua bán quốc bảo theo đề nghị của người sở hữu
6) Xác định ngân sách nhà nước chi cho việc bảo tồn quốc bảo
7) Xác định khoản hỗ trợ phí duy tu sửa chữa
8) Xác định quyền chỉ đạo xây dựng kế hoạch phòng cháy chữa cháy đối với công trình kiến trúc được công nhận là quốc bảo
9) Lên kế hoạch quản lý bảo vệ môi trường đối với công trình kiến trúc được công nhận là quốc bảo
10) Thiết lập chế độ miễn thuế và giảm thuế đối với quốc bảo để khuyến khích người sở hữu bảo vệ và công khai quốc bảo
11) Sửa đổi lại các điều khoản xử phạt
Đối với di sản văn hóa phi vật thể như ca kịch, âm nhạc, kỹ thuật thủ công truyền thống…, Ủy ban đề xuất việc nhanh chóng tiến hành nghiên cứu nhằm đưa
ra các biện pháp bảo tồn kịp thời và phù hợp
Tiếp đó, ngày 22 tháng 4, tại cuộc họp chung của Ủy ban Văn hóa Thượng nghị viện, trên cơ sở xem xét báo cáo trên của Tiểu ban Nghiên cứu về dự thảo luật sửa đổi, Ủy ban đã thống nhất về hướng sửa đổi qui định về đối tượng và cơ quan quản lý quốc bảo như sau:
1) Hợp nhất nội dung Luật Bảo tồn Quốc bảo và Luật về Bảo tồn các tác phẩm
mỹ thuật, sửa đổi bổ sung để xây dựng thành Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa”
2) Thống nhất cơ quan chính phủ chuyên việc bảo tồn di sản Thành lập Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa với các phòng ban nghiên cứu chuyên môn và liên kết với hệ thống bảo tàng Việc đặt Ủy ban trực thuộc Nội các hay trong Bộ Văn hóa sẽ tiếp tục được thảo luận
3) Phạm vi đối tượng bảo tồn của luật được mở rộng, bao gồm “các công trình
Trang 28ca kịch, âm nhạc, và những tác phẩm mang tính văn hóa hoặc được sử dụng kỹ thuật cao” [14, tr.21]
4) Xem xét lại danh mục quốc bảo, các tác phẩm mỹ thuật trọng yếu, lựa chọn các di sản có giá trị và xếp hạng thành hai nhóm là “quốc bảo” và “quốc bảo đặc biệt”, Nhà nước chịu trách nhiệm bảo tồn quốc bảo đặc biệt
5) Đối với những di sản văn hóa phi vật thể như ca kịch, âm nhạc, kỹ thuật thủ công truyền thống…, tiếp tục nghiên cứu các biện pháp bảo tồn
Ngoài ra, cơ chế quản lý và bảo tồn được qui định như sau:
1) Qui định nghĩa vụ công khai về quốc bảo đối với tổ chức cá nhân sở hữu và trách nhiệm chi ngân sách cho bảo tồn quốc bảo của nhà nước
2) Trường hợp chuyển nhượng quốc bảo phải thực hiện theo qui định của nhà nước 3) Hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đối với quản lý, tu sửa quốc bảo
4) Xây dựng kế hoạch và biện pháp bảo vệ môi trường và phòng chống hỏa hoạn cho quốc bảo
5) Thiết lập chế độ miễn giảm thuế
Như vậy, bên cạnh việc hệ thống hóa và bổ sung nội dung trên cơ sở hợp nhất hai bộ luật Luật Bảo tồn Quốc bảo và Luật về Bảo tồn các tác phẩm mỹ thuật, dự thảo Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa giai đoạn này đã phát triển thêm chính sách bảo tồn đối với di sản văn hóa phi vật thể và được xây dựng song song việc duy trì Luật Bảo tồn các di tích lịch
sử và danh thắng tự nhiên Tại thời điểm này, khái niệm “di sản văn hóa” còn chưa được
sử dụng phổ biến như các thuật ngữ “di tích” hay “thắng cảnh”, “động thực vật”…
Ủy ban Văn hóa Thượng nghị viện tiếp tục thảo luận nhằm chỉnh sửa dự thảo luật đến tháng 5 năm 1949 và thống nhất đệ trình lên Thượng nghị viện dự thảo toàn văn Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa gồm 75 điều với những nội dung cơ bản sau: 1) Đối tượng của luật là “các công trình xây dựng, họa bích, điêu khắc, đồ thủ công mỹ nghệ, bút tích, tài liệu sử sách, kịch nghệ, âm nhạc, kỹ thuật thủ công và các tài sản văn hóa của quốc dân có giá trị trọng yếu thuộc nhóm văn hóa vật thể
Trang 29hoặc phi vật thể” [14, tr.22] Các di sản này được chính phủ tiến hành nghiên cứu khảo sát, thẩm định, công nhận và chỉ đạo việc bảo tồn
2) Tổ chức Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa với các cơ quan phụ thuộc như bảo tàng quốc lập, viện nghiên cứu, ủy ban thẩm định chuyên môn đối với di sản văn hóa… nhằm đảm bảo việc thực thi luật Hội đồng có nhiệm kỳ 5 năm và gồm 5
ủy viên
3) Đối với di sản văn hóa vật thể, các “di sản văn hóa trọng yếu” được công nhận sẽ được sự bảo hộ của chính phủ Các di sản thuộc sở hữu tư nhân nhưng có giá trị cao mang tầm văn hóa thế giới cũng được nhà nước bảo hộ Các di sản đặc biệt được xếp hạng “quốc bảo” được sự bảo hộ đặc biệt của Nhà nước
4) Quốc bảo và di sản văn hóa trọng yếu được bảo vệ đặc biệt với các qui định sau:
- Cấm xuất khẩu ra nước ngoài, xin phép khi có thay đổi, chuyển nhượng, khai báo khi xảy ra mất mát, hư hại
- Xác định người hay tổ chức chịu trách nhiệm quản lý, sở hữu
- Di sản được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước có nghĩa vụ tham gia các hoạt động quảng bá công khai hay triển lãm theo yêu cầu
- Quyền quản lý và ủy nhiệm quản lý đối với di sản Vai trò của Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa
- Báo cáo và tuân theo qui định liên quan đến tu sửa, quản lý như tuyển chọn người quản lý, cải tiến phương pháp quản lý, thiết bị phòng cháy và các thiết bị bảo tồn khác…
- Chế độ hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước đối với việc sửa chữa, quản lý, công khai, đưa sản phẩm đi triển lãm theo chỉ thị, khuyến cáo
- Chế độ ủy nhiệm quyền chỉ đạo việc quản lý, tu sửa… và vai trò của Hội Văn hóa Giáo dục cấp địa phương
- Qui định về bảo vệ môi trường
5) Đối với di sản văn hóa phi vật thể, “những di sản có giá trị đặc biệt nếu nhà nước không có biện pháp bảo tồn kịp thời sẽ có nguy cơ sẽ bị mất mát” được nhà nước hỗ trợ ngân sách bảo tồn [14, tr.23] Quá trình bảo tồn tu sửa phải tham khảo
tư liệu cổ
Trang 306) Thiết lập chế độ đãi ngộ về thuế
Có thể nói nội dung của văn bản dự thảo luật lúc này đã vượt qua khung của hai
bộ luật tiền thân, đặc biệt là các vấn đề về cơ quan quản lý hành chính, đối tượng bảo tồn, biện pháp và cơ chế bảo tồn Thời điểm này, Ủy ban Văn hóa Thượng nghị viện theo quan điểm giữ nguyên Luật Bảo tồn các di tích lịch sử và danh thắng tự nhiên Tuy nhiên, một điểm hạn chế của dự thảo luật này là chưa đưa ra khái niệm
rõ ràng về các đối tượng của luật, nên chưa làm rõ các tài liệu dân gian, tài liệu khảo
cổ có thể trở thành di sản văn hóa hay không
Ngày 22 tháng 5 năm 1949, Thượng nghị viện đã phê chuẩn dự thảo luật và gửi
dự thảo sang Hạ nghị viện Tại Hạ nghị viện, việc xem xét dự thảo luật được giao cho Ủy ban Văn hóa Hạ nghị viện Trong cuộc họp của Ủy ban Văn hóa Hạ nghị viện, thượng nghị sĩ Tanaka Kotaro, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Thượng nghị viện
đã thay mặt Thượng nghị giải trình và trả lời các câu hỏi liên quan đến dự thảo luật Các câu hỏi được Hạ nghị viện đặt ra liên quan đến việc có coi các di tích lịch sử và danh thắng tự nhiên là di sản văn hóa không; có nên thêm quy định xử phạt liên quan đến việc công khai các di sản văn hóa phi vật thể không; lương bổng của ủy viên Hội đồng Bản tồn Di sản Văn hóa nên tính thế nào, nếu tính tương đương Bộ trưởng Quốc vụ khanh thì có cao quá hay không… Đặc biệt thảo luận về vấn đề hợp nhất hay không với Luật Bảo tồn Di tích lịch sử và Danh thắng tự nhiên diễn ra sôi nổi Về việc này, đại diện của Thượng nghị viện giải thích các di tích danh thắng này không thuộc khái niệm của di sản văn hóa, nếu bổ sung vào luật di sản mới sẽ mất đi tính “nhất quán của văn hóa”, các công trình lịch sử có nét độc đáo riêng còn danh thắng là một thể loại tồn tại mang tính tự nhiên, không phải tồn tại mang tính văn hóa theo ý nghĩa hẹp Do chưa đi đến thống nhất ý kiến nên ngày 23 tháng 4,
Ủy ban Văn hóa của Hạ nghị viện đã quyết định “bảo lưu đề xuất” đối với dự thảo luật, và tuyên bố chưa thể đưa ra xem xét cuối cùng cho bản dự thảo
Ngày 26 tháng 9 năm 1949, cuộc họp giữa Ủy ban Giáo dục Hạ nghị viện và Cục Pháp chế của quốc hội đã đưa ra quan điểm về đề cương dự thảo Luật Bảo tồn
Di sản Văn hóa của Thượng viện Cuộc họp một mặt thể hiện sự tôn trọng nhất định
Trang 31với bản dự thảo của Thượng nghị viện, mặt khác đề xuất bổ sung thêm một số điểm khác với dự thảo luật như sau:
1) Tên của luật là “Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa Trọng yếu”
2) Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa Trọng yếu có nhiệm kỳ 2 năm, ủy viên chỉ hạn chế trong các cơ quan của chính đảng và không được trả lương thêm
3) Bổ sung quy định về các cơ quan chuyên môn, nội dung tư vấn…
4) Bổ sung “tập tục truyền thống” vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể 5) Bổ sung “di tích lịch sử”, “danh lam thắng cảnh” vào đối tượng của luật 6) Xác định rõ người chịu trách nhiệm quản lý di sản văn hóa trọng yếu và nghĩa vụ đối với công tác bảo tồn
7) Yêu cầu công khai các di sản văn hóa trọng yếu, đưa các di sản văn hóa ra nước ngoài cần được áp dụng với mọi di sản trọng yếu, không liên quan đến việc có được ngân sách hỗ trợ cho công tác quản lý, tu sửa hay không
8) Mở rộng chế độ hỗ trợ ngân sách cho công tác tu sửa bảo tồn di sản văn hóa trọng yếu
9) Xây dựng chế độ trưng cầu dân ý, chế độ tu bổ thiệt hại nhằm điều chỉnh quyền lợi cá nhân
10) Quy định về dự toán độc lập của Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa trọng yếu đối với Bộ trưởng Bộ Văn hóa
11) Thiết lập chế độ kế toán đặc biệt cho ngân quỹ bảo tồn
Ngày 13 tháng 10 năm 1949, Ủy ban Văn hóa Thượng viện, Văn phòng Thượng nghị viện và Cục pháp chế đã thống nhất về nội dung chỉnh sửa dự thảo Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa Bản chỉnh sửa này dựa trên bản đệ trình dự thảo luật của Thượng nghị viện
đã trình bày tại Hạ nghị viện, có cân nhắc những yêu cầu chỉnh sửa của Hạ nghị viện, đồng thời lồng ghép kết quả trưng cầu dân ý, ý kiến của các cơ quan về bảo tồn, của Cục Giáo dục Xã hội Bộ Giáo dục, các Ban Giáo dục địa phương như tỉnh Kyoto, Nara, góp
ý của giới học giả, ý kiến đóng góp trên báo chí… Những nội dung chỉnh sửa cơ bản của Bản dự thảo này có thể khái quát như sau:
Trang 321) Bổ sung thêm “đình viên, thư tịch, điển tích, tài liệu dân gian, tài liệu khảo cổ” vào danh mục di sản văn hóa
2) Bổ sung việc Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa có thể đặt cơ quan đại diện tại địa phương và quyền của Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa trong việc nghiên cứu điều tra tại địa phương nhằm thẩm định di sản văn hóa trọng yếu
3) Bổ sung việc công bố “Sách về di sản văn hóa trọng yếu được nhà nước công nhận”
4) Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa thiết lập quyền hạn khảo sát thực địa nhằm xác định di sản văn hóa trọng yếu
5) Bổ sung nội dung cho phép công khai di sản văn hóa trọng yếu đối với người không phải chủ sở hữu
6) Chỉnh sửa về trách nhiệm quản lý của chủ sở hữu di sản và quyền kiểm tra giám sát đối với việc quản lý của Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa
7) Xây dựng chế độ hỗ trợ kinh phí đối với các cấp địa phương
8) Bổ sung nội dung quyền hạn của Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa trong việc nghiên cứu thẩm định “di sản văn hóa dưới lòng đất”, việc cấp phép đối với thay đổi hiện trạng của “di sản văn hóa dưới lòng đất” (bao gồm từ giai đoạn điều tra khai quật đến thẩm định giá trị), và việc xác định mức độ trợ cấp tiền đối với trường hợp phát hiện ra “di sản văn hóa dưới lòng đất”
9) Thiết lập chế độ trợ cấp, bồi hoàn bằng tiền ngân sách cho người sở hữu đối với “di sản văn hóa dưới lòng đất”
10) Tiếp tục quy định quyền hạn của Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa đối với việc thực thi Luật Bảo tồn Di tích lịch sử và Danh thắng tự nhiên
Điểm đáng chú ý trong bản chỉnh sửa dự thảo luật này là giữ nguyên hiện trạng độc lập của Luật Bảo tồn Di tích lịch sử và Danh thắng tự nhiên; bổ sung “đình viên” vốn là đối tượng trong Luật Bảo tồn Di tích lịch sử và Danh thắng tự nhiên vào trong danh mục đối tượng của Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa; bổ sung chính sách bảo tồn đối với “di sản văn hóa dưới lòng đất”
Trang 33Bản dự thảo chỉnh sửa này đã được đại diện Ủy ban Giáo dục Thượng nghị viện báo cáo và giải trình trước quốc hội ngày 24 tháng 10 năm 1949 Trong cuộc họp này Ủy ban giáo dục hai viện đã thể hiện mong muốn cùng hợp tác để tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật Tiếp đó, từ tháng 10 năm 1949 đến tháng 3 năm 1950 hai viện của quốc hội đã tổ chức họp góp ý cho 10 bản dự thảo luật Ngày 25 tháng 4 năm
1950, Thượng nghị viện nhất trí tán thành bản dự thảo Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa cuối cùng, tức là bản dự thảo thứ 10 Bản dự thảo Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa này
đã gia tăng thành 131 điều (cả phần phụ lục) với một số nội dung mới sau:
1) Qui định về Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa là nhiệm kỳ 3 năm và ủy viên Hội đồng được hưởng lương
2) Bổ sung quy định liên quan đến các nội dung và hạng mục thẩm định, tư vấn, qui định về các ban chuyên môn…
3) Phạm vi đối tượng của luật, tức di sản văn hóa cần được bảo tồn gồm di sản văn hóa vật thể có giá trị lịch sử hay giá trị nghệ thuật cao (như công trình kiến trúc, hội họa, điêu khắc, đồ thủ công, thư tịch, bút tích, điển tích, sách cổ, tài liệu dân gian và các tài liệu khảo cổ), di sản văn hóa phi vật thể có giá trị lịch sử hoặc giá trị nghệ thuật cao (gồm kịch nghệ, âm nhạc, kỹ thuật thủ công mỹ nghệ và các di sản khác) và các di tích lịch sử, thắng cảnh tự nhiên Như vậy đến dự thảo luật này di tích lịch sử và danh thắng tự nhiên đã được đưa vào hạng mục của di sản văn hóa 4) Bổ sung hoàn thiện về chế độ bảo tồn đối với di sản văn hóa dưới lòng đất (qui định về điều tra khai quật, quy định về thay đổi hiện trạng…)
5) Thiết lập chế độ trưng cầu dân ý nhằm điều chỉnh quyền lợi của người sở hữu
6) Bổ sung qui định về quyền hạn của các đoàn thể cộng đồng địa phương và chế độ ủy nhiệm quyền hạn về bảo tồn cho Ban Giáo dục trong chính quyền địa phương các cấp
7) Củng cố chế độ hỗ trợ bằng ngân sách nhà nước cho việc quản lý, tu sửa các
di sản văn hóa
8) Thiết lập chế độ đặc biệt đối với di sản văn hóa cấp nhà nước
Trang 349) Chấm dứt hiệu lực của Luật Bảo tồn Quốc bảo, Luật về Bảo tồn các tác phẩm
mỹ thuật và Luật Bảo tồn Di tích lịch sử và Danh thắng tự nhiên Việc xác định di sản văn hóa trọng yếu trong dự thảo luật mới kế thừa qui định về quốc bảo, tác phẩm mỹ thuật và di tích lịch sử, danh thắng tự nhiên trong các luật trước
Có một vấn đề lớn được đề cập ngay từ những bản dự thảo đầu là chế độ miễn giảm thuế đối với di sản văn hóa nhưng do nội dung này chưa nhận được sự chấp thuận của GHQ nên trong dự thảo luật này chỉ đặt qui định về hạn mức miễn thuế
cố định đối với khoản thuế tài sản ròng và thuế tài sản cố định (theo luật thuế địa phương)
Điểm đặc trưng lớn nhất của dự thảo luật lần này là đã mở rộng phạm vi qui định về di sản văn hóa là đối tượng của một bộ luật trên cơ sở thống nhất và bổ sung nội dung của các bộ luật trước đó Có thể nói dự thảo luật này đã xây dựng tiền đề pháp lý cho một chế độ bảo tồn di sản mang tính thống nhất và được coi là dự thảo luật độc đáo và triệt để so với các luật tương tự ở các nước trên thế giới lúc bấy giờ Ngày 26 tháng 4, bản dự thảo thứ 10 sau khi được thông qua tại Thượng nghị viện đã được gửi đến Hạ nghị viện Ngày 30 tháng 4, Ủy ban Giáo dục Hạ nghị viện
đã họp bàn về bản dự thảo ngày 30 tháng 4 Trong cuộc họp, một mặt Ủy ban thảo luận về nội dung của dự thảo do Thượng viện gửi đến, một mặt đối chiếu với đề xuất trong dự thảo mà phía Hạ nghị viện chuẩn bị độc lập, đặc biệt tập trung vào các vấn đề chưa thống nhất giữa hai dự thảo như có trả lương cho ủy viên Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa không; quy định về cơ sở xác định quốc bảo; vấn đề liên quan đến luật thuế địa phương… Cuối ngày, dự thảo luật được Ủy ban chính thức thông qua và gửi lại một số nội dung yêu cầu chỉnh sửa bổ sung sang Thượng nghị viện Ngày 1 tháng 5 cuộc họp toàn thể của Thượng nghị viện đã đồng ý với nội dung dự thảo bao gồm cả yêu cầu chỉnh sửa
Vậy là ngày 30 tháng 5 năm 1950, sau hơn 1 năm tính từ vụ hỏa hoạn tại chùa Horyu, với nỗ lực không mệt mỏi của hai viện thuộc quốc hội, Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa đã được công bố trong quyết nghị số 276 năm 1950 của quốc hội, là bộ luật số 214 và thời gian có hiệu lực tính từ ngày 29 tháng 8 cùng năm
Trang 351.2.3 Quá trình thực thi Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa
1) Thành lập Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa
Ngay sau khi công bố bộ Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa, Phòng Bảo tồn Di sản Văn hóa thuộc Cục Giáo dục Xã hội của Bộ Giáo dục đã xúc tiến việc thi hành luật, trước hết là thành lập Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa (sau đây gọi tắt là Hội đồng Bảo tồn) – cơ quan hành chính trực tiếp thi hành hoạt động bảo tồn Theo quy định tại chương 2 của Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa, việc thành lập Hội đồng Bảo tồn gồm 5 ủy viên Các uỷ viên được mời tham gia Hội đồng Bảo tồn nhiệm kỳ đầu đều
là những học giả nổi tiếng (Takahashi Seichiro, Hosokawa Moritatsu, Ichimata Hisato, Arimitsu Jiro, Sendai Yukio) Giúp việc cho Hội đồng có Văn phòng và Ban Bảo tồn Văn phòng gồm Ban Thư ký, Ban hành chính với Phòng Quản trị tổng hợp, Phòng Kế toán, Phòng Quản lý Ban Bảo tồn có Phòng Sản phẩm thủ công mỹ nghệ, Phòng Di tích, Phòng Công trình kiến trúc Ngoài ra, cơ quan trực thuộc của Hội là Bảo tàng quốc lập Tokyo, Nara, Kyoto, các viện nghiên cứu và các cơ quan tư vấn
hỗ trợ các hoạt động liên quan đến bảo tồn di sản văn hóa
2) Thống nhất quản lý hành chính và quản lý chuyên môn
Trước khi Luật Bản tồn Di sản Văn hóa có hiệu lực, mỗi đối tượng bảo tồn lại
do một cơ quan nhà nước như Bộ Giáo dục, Bộ Nội vụ, Bộ Cung nội… quản lý Một số trường hợp như công trình kiến trúc, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, di tích lịch sử do Phòng Bảo tồn Di sản Văn hóa thuộc Cục Giáo dục Xã hội của Bộ Giáo dục quản lý nhưng công tác chuyên môn như khảo sát điều tra thẩm định giá, tu bổ… đối với các di sản này lại do các bảo tàng đế quốc thực hiện Hệ thống quản lý hành chính tách rời với hoạt động chuyên môn này bị chỉ trích là không hiệu quả Sau khi Luật Bản tồn Di sản Văn hóa có hiệu lực, Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa trở thành cơ quan quản lý và thực hiện các hoạt động chuyên môn về bảo tồn Tùy theo mức độ và qui mô của hoạt động bảo tồn, Hội đồng có thể đề nghị các cơ quan nhà nước như bộ ngành liên quan cùng hỗ trợ thực hiện hoặc ủy nhiệm cho cơ quan hành chính địa phương trực tiếp thực hiện
Trang 363) Tuyên truyền về mục đích và triết lý bảo tồn
Mục đích của Luật Bản tồn Di sản Văn hóa được xác định là “nhằm hiểu biết chính xác về lịch sử, văn hóa nước Nhật, không để xảy ra thiếu sót, đồng thời tạo cơ
sở để phát triển văn hóa tương lai” (Điều 3 Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa 1950 [14,
tr 29]) và “thực hiện bảo tồn di sản văn hóa đồng thời xây dựng kế hoạch phát huy giá trị, đóng góp vào sự phát triển mang tính văn hóa của nhân dân và cống hiến cho
sự tiến bộ của văn hóa nhân loại” (Điều 1 Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa 1950 [14, tr 29]) Như vậy mục đích bảo tồn di sản văn hóa không chỉ nhằm kế thừa giá trị văn hóa truyền thống mà còn nhằm hướng đến tương lai và khẳng định bản sắc của nước Nhật hay người dân Nhật, đóng góp cho văn hóa nhân loại Tham gia vào công tác bảo tồn di sản văn hóa không chỉ có cơ quan chuyên trách nhà nước, chủ thể sở hữu di sản văn hóa mà còn các đoàn thể cộng đồng địa phương và toàn thể người dân với tư cách là chủ thể của văn hóa Nhật Bản Đây là một nội dung mới chưa được qui định trong các văn bản quy phạm trước đó và lần đầu tiên được khẳng định rõ ràng trong luật Đây là tiền đề quan trọng cho các hoạt động tuyên truyền khuyến khích người dân tham gia bảo tồn di sản và quảng bá di sản
4) Phân loại đối tượng bảo tồn
Trong ba luật liên quan đến bảo tồn trước đó, do đối tượng bảo tồn được xác định một cách riêng rẽ nên tiêu chí xác định và biện pháp bảo tồn cũng rất khác nhau, cơ quan quản lý chuyên trách khác nhau dẫn đến tình trạng chồng chéo Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa mới đã cải thiện tình trạng này, quy định thống nhất và tổng thể đối tượng bảo tồn, tiêu chí xác định, phương pháp bảo tồn và hệ thống cơ quan chuyên trách Ngoài ra, việc bổ sung các đối tượng vốn chưa được đề cập trong các luật trước đó như di sản văn hóa phi vật thể, di sản dưới lòng đất… đã giúp xây dựng cơ chế bảo tồn nhất quán và đầy đủ hơn so với các giai đoạn trước Theo đó, di sản văn hóa là đối tượng được bảo tồn được chia làm ba loại:
a) Công trình kiến trúc, hội họa, điêu khắc, sản phẩm thủ công, thư tịch, bút tích, điển tích, sách cổ, tư liệu văn hóa dân gian, những tài sản văn hóa vật thể có giá trị lịch sử hay nghệ thuật cao, các tài liệu khảo cổ học
Trang 37b) Kịch nghệ, âm nhạc, kỹ thuật thủ công và những tài sản văn hóa phi vật thể
có giá trị lịch sử hay có nghệ thuật cao
c) Di tích lịch sử và danh thắng tự nhiên
Một điều đáng lưu ý là ở giai đoạn này tư liệu văn hóa dân gian đang được xếp vào nhóm di sản văn hóa vật thể và không được chỉ định trong nhóm di sản văn hóa trọng yếu23 Ngoài ra, di tích lịch sử và danh thắng tự nhiên được xếp riêng biệt so với di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Trong quá trình thực thi luật, xuất hiện nhiều ý kiến băn khoăn về việc một số danh thắng có giá trị về mặt nghiên cứu học thuật được gọi là công trình kỷ niệm thiên nhiên (天然記念物) có là di sản văn hóa không? Nên đánh giá giá trị văn hóa phi vật thể hay vật thể; hay những công trình nhân tạo có giá trị lịch sử văn hóa thì cũng là văn hóa vật thể chăng… Năm Chiêu Hòa thứ 26 (1951) Hội động Bảo tồn Di sản Văn hóa đã ra quyết định về “tiêu chí chỉ định di tích lịch sử và danh thắng tự nhiên đặc biệt”, trong đó nêu rõ những danh thắng có ý nghĩa học thuật là một loại hình di sản văn hóa
Cùng với nội dung tranh luận trên, một số người đề xuất mở rộng đối tượng của Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa, bổ sung thêm việc bảo tồn các tài liệu có giá trị học thuật khác Tuy nhiên, kết quả của cuộc tranh luật là Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa chỉ tập trung vào đối tượng là những tài sản học thuật có giá trị cao về lịch sử hoặc nghệ thuật, còn các tài liệu học thuật thông thường hay các lĩnh vực khác được xem xét làm đối tượng cho những văn bản pháp quy riêng
5) Bảo tồn một cách trọng điểm
Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa đưa ra qui định về di sản với hai cấp độ là di sản văn hóa và di sản văn hóa trọng yếu Cả hai đều là đối tượng bảo tồn nhưng chính sách đối với từng cấp độ có khác nhau Chính sách hỗ trợ ngân sách được tập trung đối với di sản văn hóa trọng yếu, bao gồm phần lớn quốc bảo trong danh mục của
23
Tư liệu văn hóa dân gian được tách biệt với di sản văn hóa vật thể, trở thành một đối tượng bảo tồn độc lập và những tư liệu có giá trị được chỉ định trong nhóm di sản trọng yếu từ luật sửa đổi năm Chiêu Hòa thứ 29 (1954) Sau đó tư liệu văn hóa dân gian được đổi tên thành di sản văn hóa dân gian trong luật sửa đổi năm Chiêu Hòa thứ
50 (1975)
Trang 38Luật Bảo tồn Quốc bảo cũ và quốc bảo mới được phát hiện, một bộ phận của danh mục tác phẩm mỹ thuật thuộc nhóm trọng yếu theo Luật Bảo tồn tác phẩm mỹ thuật
Để xác định danh mục di sản trọng yếu mới, một cuộc tổng điều tra toàn quốc đã được gấp rút tiến hành ngay sau khi Luật được ban hành Cuộc điều tra này cũng bổ sung thêm danh mục các di sản văn hóa phi vật thể và di sản trong lòng đất là những nội dung mới so với các luật định cũ
Đối với di tích lịch sử và danh thắng tự nhiên, việc lựa chọn trong danh mục các
di tích và danh thắng vốn được công nhận theo Luật Bảo tồn Di tích lịch sử và Danh thắng tự nhiên để xác định nhóm di tích và danh thắng đặc biệt cũng được tiến hành một cách tổng thể và thận trọng Kết quả là cả nước có 76 di sản loại này được đưa vào danh mục trọng yếu, trong đó có 2 di tích lịch sử, 25 danh thắng và 47 công trình kỷ niệm thiên nhiên [14, tr.31] Tuy nhiên chính sách đối với nhóm di tích lịch
sử và danh thắng trọng yếu chưa được cụ thể hóa trong giai đoạn đầu thực hiện Luật Bản tồn Di sản Văn hóa và phải sau khi Luật được chỉnh sửa lần thứ nhất các chính sách này mới được qui định và thực thi
6) Chính sách đối với chủ sở hữu và vai trò của cộng đồng
Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa đã xác lập những tiền đề cơ bản để xây dựng chính sách cụ thể đối với chủ sở hữu di sản văn hóa, nhất là trong bối cảnh trước đó quyền lợi này bị coi nhẹ và chưa công bằng giữa các chủ thể Lấy ví dụ như chính sách bảo tồn đối với di sản văn hóa thuộc sở hữu của các cơ quan pháp nhân tôn giáo như chùa xã Nếu trước kia có những chính sách riêng biệt cho đối tượng chùa
xã từ đặc quyền trong quản lý sở hữu đến chính sách hỗ trợ kinh phí riêng, và việc kiểm soát tình trạng chùa xã tự ý loại bỏ quốc bảo còn lỏng lẻo, thì Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa đã chấm dứt chế độ đãi ngộ đặc biệt này, tạo tính công bằng đối với tất
cả chủ sở hữu di sản
Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa làm rõ quyền lợi và trách nhiệm của chủ sở hữu, bổ sung các chế độ trưng cầu dân ý đối với di sản như khi loại bỏ di sản khỏi danh sách bảo tồn, chế độ nhà nước bồi thường thiệt hại cho chủ thể hoặc cộng đồng địa phương trong trường hợp ra lệnh hay khuyến cáo liên quan đến quản lý, vận chuyển, tu sửa di sản
Trang 39mà ảnh hưởng đến chủ thể hoặc cộng đồng Bên cạnh đó mức độ hỗ trợ ngân sách để tu sửa, bảo tồn di sản văn hóa trọng yếu cũng được cụ thể hóa đối với từng đối tượng Một vấn đề nữa là vai trò của cộng đồng cư dân Trong các luật định trước đó vai trò này chưa được làm sáng tỏ Duy có Luật Bảo tồn Di tích lịch sử và Danh thắng tự nhiên đưa ra qui định người đứng đầu địa phương có quyền tạm thời chỉ định di tích, cho phép thay đổi hiện trạng di tích và cho phép đoàn thể hay cộng đồng địa phương quản lý di tích Tình trạng thiếu sự tham gia của cộng đồng địa phương dẫn đến lỗ hổng trong quản lý và giám sát tình hình di sản Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa năm 1950 qui định: “di sản văn hóa tự nó là tài sản quý giá của toàn dân, việc bảo tồn di sản nhằm phục vụ cộng đồng, việc công khai di sản là cần thiết” (Mục
2 điều 4 Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa 1950 [14, tr.33]) Như vậy, bảo tồn di sản văn hóa phục vụ đối tượng là toàn dân, và chủ thể thực hiện cũng chính là người dân Dựa trên qui định của Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa, Ban Giáo dục các địa phương là đơn vị được ủy nhiệm quyền quản lý Ban Giáo dục không chỉ báo cáo về tình trạng bảo tồn di sản mà còn chủ động điều tra và đề xuất lên Hội đồng những tư liệu mới về di sản hay danh mục các di sản cần điều tra thẩm định, thực hiện chế độ
hỗ trợ đối với chủ sở hữu di sản và tổ chức thực hiện các hoạt động duy tu bảo tồn
di sản Để thực hiện nhiệm vụ này, Ban Giáo dục cần hợp tác chặt chẽ với cộng đồng trong việc thu thập thông tin, lấy ý kiến, sáng kiến đối với di sản và huy động người dân tham gia các hoạt động quảng bá và bảo vệ di sản Đối với di tích lịch sử
và danh thắng tự nhiên, vốn vai trò quản lý của cộng đồng được qui định trong Luật Bảo tồn Di tích lịch sử và Danh thắng tự nhiên, nên trong Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa các nội dung này được tiếp tục kế thừa
Mặc dù có những nỗ lực nhất định nhưng việc phát huy hiệu quả vai trò chủ động của cộng đồng trên thực tế chỉ được thực hiện sau khi Luật sửa đổi được ban hành lần thứ nhất năm Chiêu Hòa thứ 29 (1954)
7) Cụ thể hóa chế độ chính sách bảo tồn
Các chính sách bảo tồn được qui định trong ba luật trước đây khá sơ sài, chủ
Trang 40hoạn, tu bổ thụ động Điều này là lý do cơ bản dẫn đến những sự cố như tại chùa Horyu Sau khi Luật Bản tồn Di sản Văn hóa được ban hành năm 1950 có hiệu lực, việc tổ chức bảo tồn được thống nhất theo chiều dọc giữa Hội đồng Bảo tồn Di sản với các chi nhánh và Ban Giáo dục địa phương và theo chiều ngang giữa các cơ quan liên quan đồng cấp Dựa trên danh mục các di sản thiết yếu được công nhận,
kế hoạch chủ động quản lý, sửa chữa, trùng tu đối với di sản văn hóa được xác lập ở từng cấp độ với sự phân vai của các cơ quan và các khoản ngân sách hỗ trợ rõ ràng hơn Các chính sách mới như phòng tránh thất thoát di sản văn hóa ra nước ngoài, tránh lạm dụng việc khai quật di sản dưới lòng đất, chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể… được Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa qui định và được cơ quan chức năng các cấp cụ thể hóa thành nhiệm vụ và hành động
Sau đây xin trình bày chính sách đối với di sản văn hóa trọng yếu theo từng loại hình di sản
a) Di sản văn hóa vật thể
- Lựa chọn: Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa tiến hành thẩm định và công bố
di sản văn hóa vật thể trọng yếu tức quốc bảo trong số các di sản văn hóa vật thể
- Quản lý: Trách nhiệm quản lý di sản văn hóa vật thể trọng yếu trước hết giao cho chủ sở hữu di sản Chủ sở hữu có trách nhiệm quản lý, thông báo hay xin phép về việc thay đổi người sở hữu, báo cáo việc di sản văn hóa trọng yếu bị mất mát, hư hại hay thay đổi môi trường Việc quản lý này nhận được sự hỗ trợ của địa phương và tuân theo qui định của Luật và chỉ thị, khuyến cáo của Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa
- Sửa chữa, tu bổ: Việc tu bổ sửa chữa phải được cấp phép Phương thức tu bổ sửa chữa tuân theo qui định và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn
- Phí quản lý và hỗ trợ tu sửa: Trường hợp chủ sở hữu không đủ khả năng trang trải kinh phí quản lý và tu sửa di sản văn hóa vật thể trọng yếu thì cần đệ đơn xin hỗ trợ từ ngân sách nhà nước Kinh phí hỗ trợ sẽ được xét theo qui định có cân nhắc tính đặc thù của di sản
- Thay đổi hiện trạng, vận chuyển ra nước ngoài: Các hoạt động này phải được Hội đồng Bảo tồn Di sản Văn hóa cho phép Trong các trường hợp cần thiết, Hội