Do vậy, để có cơ sở khoa học và thông tin giúp cho việc phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi tại địa phương hiệu quả hơn, chúng tôi thực hiện nghiên cứu cắt ngang trong khoảng thời gian từ
Trang 1LÊ THỊ NHẬT DUYÊN
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI XÃ BA CỤM BẮC,
KHÁNH SƠN, KHÁNH HÒA NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LÊ THỊ NHẬT DUYÊN
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI XÃ BA CỤM BẮC,
KHÁNH SƠN, KHÁNH HÒA NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LÊ THỊ THANH HƯƠNG TS NGUYỄN THANH HÀ
HÀ NỘI, 2018
Trang 3Trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Y tế công cộng và hoàn thành luận văn này, tôi đã được sự hướng dẫn, giúp đỡ từ các thầy cô, anh chị và các bạn Với sự kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được gửi lời cảm ơn tới:
- Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, các thầy/cô giáo, thư viện Trường Đại học Y tế công cộng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
- Giáo viên hướng dẫn Tiến sĩ Lê Thị Thanh Hương và Tiến sĩ Nguyễn Thanh
Hà đã hết sức tận tình hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm, giúp đỡ đóng góp ý kiến quý báu trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn
- Lãnh đạo, cán bộ Trung tâm Y tế huyện Khánh Sơn, Đội Y tế dự phòng và Trạm Y tế xã Ba Cụm Bắc nơi tôi tiến hành nghiên cứu, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
- Tôi xin chân thành cảm ơn các Nhà Khoa học trong Hội đồng thông qua đề cương và chấm luận văn đã cho những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn
- Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo cơ quan, đồng nghiệp, các anh chị học viên lớp Cao học Y tế công cộng Tây Nguyên niên khóa 2016 - 2018, cá nhân, gia đình đã động viên và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học này
Xin trân trọng cảm ơn!
Khánh Hòa, ngày 15 tháng 11 năm 2018
Trang 4
LỜI CẢM ƠN……….i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Bệnh tay chân miệng 4
1.1.1 Khái niệm chung về bệnh tay chân miệng 4
1.1.2 Lịch sử bệnh tay chân miệng 4
1.1.3 Tác nhân gây bệnh 4
1.2 Đặc điểm dịch tễ học bệnh tay chân miệng 5
1.2.1 Nguồn truyền và phương thức lây truyền 5
1.2.2 Các dấu hiệu, triệu chứng 5
1.2.3 Chẩn đoán và biến chứng 6
1.2.4 Tính cảm nhiễm 6
1.2.5 Đặc điểm mắc bệnh theo tuổi và tính miễn dịch của bệnh 7
1.2.6 Đặc điểm mắc bệnh theo giới tính 7
1.2.7 Phân bố bệnh theo mùa 7
1.2.8 Phòng bệnh và biện pháp xử lý dịch 7
1.3 Tình hình bệnh tay chân miệng trên thế giới và Việt Nam 9
1.3.1 Tình hình bệnh tay chân miệng trên thế giới 9
1.3.2 Tình hình bệnh tay chân miệng trên tại Việt Nam 11
1.3.3 Tình hình bệnh tay chân miệng tại tỉnh Khánh Hòa 12
1.3.4 Một số đặc điểm và tình hình bệnh tay chân miệng tại huyện Khánh Sơn 12
Trang 5bệnh tay chân miệng 13
1.4.1 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành và yếu tố liên quan đến phòng bệnh tay chân miệng trong khu vực 13
1.4.2 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành và yếu tố liên quan đến phòng bệnh tay chân miệng ở Việt Nam 15
1.5 Khung lý thuyết 33
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 34
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 34
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 34
2.2 Thiết kế nghiên cứu 34
2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 34
2.3.1 Mẫu nghiên cứu cho phần định lượng 34
2.3.2 Mẫu nghiên cứu cho phần định tính 35
2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 35
2.4.1 Công cụ thu thập số liệu 35
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 35
2.4.3 Chuẩn bị cho nghiên cứu 36
2.4.4 Các bước tiến hành thu thập số liệu 37
2.5 Điều tra viên, giám sát viên 38
2.6 Biến số và định nghĩa biến 38
2.7 Các khái niệm thước đo và tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành 39 2.7.1 Các khái niệm 39
2.7.2 Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành 39
2.8 Phương pháp nhập và phân tích số liệu 41
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 41
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
3.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 43
Trang 63.2.1 Kiến thức về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của ĐTNC 47
3.2.2 Thái độ về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của ĐTNC 54
3.2.3 Thực hành về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của ĐTNC 56
3.3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của ĐTNC 64
3.3.1 Mối liên quan giữa các đặc điểm chung của ĐTNC với thực hành phòng bệnh TCM 64
3.3.2 Mối liên quan giữa kiến thức của ĐTNC với thực hành về phòng bệnh TCM 67
3.3.3 Mối liên quan giữa thái độ của ĐTNC với thực hành về phòng bệnh TCM 68
Chương 4: BÀN LUẬN 69
4.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 69
4.2 Kiến thức về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của ĐTNC 70
4.3 Thái độ về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của ĐTNC 76
4.4 Thực hành về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của ĐTNC 77
4.5 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh TCM 84
4.5.1 Liên quan giữa các yếu tố cá nhân với thực hành phòng bệnh TCM 84
4.5.2 Liên quan giữa kiến thức với thực hành về phòng bệnh TCM 87
4.5.3 Liên quan giữa thái độ với thực hành về phòng bệnh TCM 88
4.6 Hạn chế của nghiên cứu 88
KẾT LUẬN 90
KHUYẾN NGHỊ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Phụ lục 1: Biến số và định nghĩa biến 98
Phụ lục 2: Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu 105
Phụ lục 3: Phiếu phỏng vấn người chăm sóc chính 106
Phụ lục 4: Hướng dẫn phỏng vấn sâu Lãnh đạo TTYT Khánh Sơn 118
Phụ lục 5: Hướng dẫn phỏng vấn sâu Cán bộ TYT xã Ba Cụm Bắc 119
Trang 7về phòng bệnh tay chân miệng 121
Phụ lục 8: Hướng dẫn thảo luận nhóm những người có thực hành không đạt
về phòng bệnh tay chân miệng 123
Phụ lục 9: Bảng chấm điểm 125
Trang 8Bảng 1.1 Số trường hợp mắc và tử vong do bệnh tay chân miệng ở Việt Nam giai
đoạn 2007 - 2017 11
Bảng 1.2 Bảng tóm tắt kết quả một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu lố liên quan đến phòng bệnh tay chân miệng ở Việt Nam: 27
Bảng 3.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n = 360) 43
Bảng 3.2 Một số đặc điểm chung của trẻ dưới 5 tuổi 44
Bảng 3.3 Kiến thức của ĐTNC về lứa tuổi hay mắc bệnh TCM (n = 360) 48
Bảng 3.4 Kiến thức của ĐTNC về đường lây truyền bệnh TCM (n = 360) 50
Bảng 3.5 Kiến thức của ĐTNC về khả năng phòng bệnh TCM 51
Bảng 3.6 Kiến thức của ĐTNC về chọn nơi đưa trẻ đến điều trị và khả năng tái phát bệnh TCM ở trẻ (n = 360) 52
Bảng 3.7 Thái độ của ĐTNC về phòng bệnh TCM 54
Bảng 3.8 Thực hành của ĐTNC về RTVXP và thời điểm RTVXP 56
Bảng 3.9 Thực hành của ĐTNC về lau rửa vệ sinh đồ chơi của trẻ 59
Bảng 3.10 Thực hành của ĐTNC về vệ sinh môi trường 60
Bảng 3.11 Thực hành của ĐTNC về vệ sinh ăn uống cho trẻ 62
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa các đặc điểm chung của ĐTNC với thực hành phòng bệnh TCM 64
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành phòng bệnh TCM 67
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa thái độ với thực hành phòng bệnh TCM 68
Trang 9Biểu đồ 1.1 Số ca mắc bệnh TCM tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2013 - 2017 12
Biểu đồ 3.1 Nguồn cung cấp thông tin về bệnh TCM (n = 298) 45
Biểu đồ 3.2 Nguồn thông tin mong muốn được nhận về bệnh TCM (n = 315) 46
Biểu đồ 3.3 Kiến thức của ĐTNC về tác nhân chính gây bệnh TCM (n = 360) 47
Biểu đồ 3.4 Kiến thức của ĐTNC về thời điểm xảy ra bệnh TCM (n = 360) 48
Biểu đồ 3.5 Kiến thức của ĐTNC về dấu hiệu nhận biết bệnh TCM (n = 360) 49
Biểu đồ 3.6 Kiến thức chung về phòng bệnh TCM của ĐTNC (n = 360) 53
Biểu đồ 3.7 Thái độ chung về phòng bệnh TCM của ĐTNC 55
Biểu đồ 3.8 Thực hành của ĐTNC về vệ sinh cho trẻ hàng ngày 57
Biểu đồ 3.9 Thực hành của ĐTNC về thời điểm RTVXP cho trẻ trong ngày (n = 283) 58
Biểu đồ 3.10 Thực hành chung về phòng bệnh TCM của ĐTNC 64
Trang 10CA16: Coxsackievirus A16
CBCNVC: Cán bộ, công nhân, viên chức
CBYT: Cán bộ y tế
CTV: Cộng tác viên
ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu
ĐTV: Điều tra viên
RTVXP: Rửa tay với xà phòng
TCM: Tay chân miệng
Trang 11Khánh Sơn là huyện có số ca mắc bệnh TCM trong 1000 dân cao nhất tỉnh Khánh Hòa từ năm 2012 đến nay, trong đó Ba Cụm Bắc là xã thuộc huyện Khánh Sơn có số ca mắc bệnh TCM cao nhất trong các năm qua, tỷ lệ mắc tập trung ở trẻ dưới 5 tuổi và nhóm trẻ không đi học Có thể thấy đây là vấn đề y tế quan trọng của địa phương Do vậy, để có cơ sở khoa học và thông tin giúp cho việc phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi tại địa phương hiệu quả hơn, chúng tôi thực hiện nghiên cứu cắt ngang trong khoảng thời gian từ tháng 1/2018 đến tháng 6/2018 với 2 mục tiêu: (1) Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh TCM của người chăm sóc chính (NCSC) trẻ dưới 5 tuổi tại xã Ba Cụm Bắc, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa, năm 2018 và (2) Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh TCM của NCSC trẻ dưới 5 tuổi tại địa bàn Nghiên cứu kết hợp phương pháp định lượng và định tính và chọn toàn bộ những NCSC trẻ dưới 5 tuổi tại xã Ba Cụm Bắc tham gia nghiên cứu Số liệu được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp 360 đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) tại hộ gia đình theo bộ câu hỏi thiết kế sẵn Kết quả cho thấy có 20,6% NCSC trẻ dưới 5 tuổi có kiến thức chung đạt về phòng bệnh TCM; 19,2% NCSC trẻ dưới 5 tuổi có thái độ tích cực về phòng bệnh TCM; 21,4% NCSC trẻ dưới 5 tuổi có thực hành đạt về phòng bệnh TCM Nghiên cứu đã xác định được một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh TCM của ĐTNC như: NCSC trẻ
là người dân tộc Kinh; trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên; nghề nghiệp
là cán bộ, công nhân, viên chức, buôn bán/kinh doanh; thuộc hộ gia đình có kinh tế trung bình/khá/giàu; tiếp cận từ 2 nguồn thông tin về bệnh TCM trở lên; kiến thức đạt; thái độ tích cực thì có thực hành chung đạt về phòng bệnh TCM tốt hơn
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi có một số kiến nghị: Ngành y tế địa phương cần đẩy mạnh hoạt động thông tin, giáo dục truyền thông về phòng bệnh TCM trên các phương tiện thông tin đại chúng và trạm y tế xã, đảm bảo các yếu tố: dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, thiết thực, cần có hình ảnh minh họa trực quang và có tiếng Raglai Hướng dẫn chủ động phòng bệnh TCM đến tận người dân, mỗi người dân
Trang 12đồ dùng cho trẻ, vật dụng/sàn nhà có trẻ tiếp xúc; cho trẻ ăn chín, ăn liền sau nấu; dùng riêng dụng cụ ăn uống và sử dụng nước sạch cho trẻ ăn uống, sinh hoạt; cần thực hiện tốt vệ sinh môi trường và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh tại gia đình
Trang 13- màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nên cần được phát hiện sớm, điều trị kịp thời [2], [5]
Tại Việt Nam bệnh xuất hiện quanh năm ở hầu hết các địa phương, bệnh có
xu hướng tăng cao từ tháng 3 - 5 và tháng 9 - 12 hàng năm Bệnh TCM chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, hay vắc xin phòng bệnh Biện pháp phòng bệnh TCM chủ yếu hiện nay là truyền thông nâng cao kiến thức, thực hành và phát hiện sớm ca bệnh [2], [5] Tại hộ gia đình người chăm sóc chính (NCSC) trẻ là người gần gũi với trẻ, hiểu biết của NCSC trẻ về sức khỏe, bệnh tật có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ Chỉ khi NCSC trẻ có kiến thức tốt mới có biện pháp phòng bệnh hiệu quả, xử trí tốt khi trẻ mắc bệnh và tránh làm lây lan mầm bệnh ra môi trường Kiến thức, thái độ và kỹ năng thực hành của NCSC trẻ về phòng bệnh TCM được xác định là có vai trò đặc biệt quan trọng trong phòng bệnh TCM cho trẻ [16]
Tại Khánh Hòa, bệnh TCM được phát hiện từ năm 2006 và đến nay đã trở thành bệnh lưu hành tại địa phương Tính từ đầu năm đến hết 30/9/2017, toàn tỉnh ghi nhận 1.188 ca mắc, tăng 706 ca (146%) so với cùng kỳ năm 2016 (482 ca) Trong đó, huyện Khánh Sơn là địa phương có số ca mắc bệnh TCM/1.000 dân luôn cao nhất tỉnh Từ đầu năm đến hết 30/9/2017, cả huyện ghi nhận 150 ca mắc TCM, tăng 72,4% so với cùng kỳ năm 2016 (87 ca), trong đó 90% là trẻ 0 - 3 tuổi, 3 - 5 tuổi (chiếm 10%) và 84% trẻ không đi học Hàng năm đều ghi nhận các ổ dịch tại trường học và cộng đồng [32]
Trang 14Ba Cụm Bắc là xã thuộc huyện Khánh Sơn có số trẻ mắc TCM cao nhất huyện trong các năm gần đây so với các bệnh truyền nhiễm thường lưu hành khác như Sốt xuất huyết [32] Số ca mắc TCM được ghi nhận từ đầu năm đến hết 30/9/2017 (38
ca, chiếm 25,3%); số trẻ mắc tập trung ở nhóm trẻ 0 - 3 tuổi (28 ca, chiếm 74%), 3 -
5 tuổi (10 ca, chiếm 26%); hầu hết trẻ mắc bệnh không đi học (33 ca, chiếm 87%)
và đây là xã có thành phần dân tộc đa dạng với trên 70% dân số là dân tộc Raglai, 20% dân tộc Kinh, còn lại là các dân tộc khác như Tày, Chu ru, Ê đê
Đến nay chưa có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh TCM của người dân trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa cũng như huyện Khánh Sơn, đặc biệt là ở những bà mẹ và người chăm sóc chính (NCSC) trẻ dưới 5 tuổi (là nhóm tuổi mắc và tử vong TCM nhiều nhất)
Để góp phần vào công tác phòng bệnh TCM, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:
“Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính trẻ dưới 5 tuổi tại xã Ba Cụm Bắc, Khánh Sơn, Khánh Hòa năm 2018” Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp
cơ sở khoa học và thông tin giúp cho việc phòng bệnh TCM cho NCSC trẻ dưới 5 tuổi tại địa phương hiệu quả hơn
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính trẻ dưới 5 tuổi tại xã Ba Cụm Bắc, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa năm 2018
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính trẻ dưới 5 tuổi tại xã Ba Cụm Bắc, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa
Trang 16Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Bệnh tay chân miệng
1.1.1 Khái niệm chung về bệnh tay chân miệng
Bệnh tay chân miệng (TCM) là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người và
dễ gây thành dịch Bệnh do hai chủng vi rút thường gặp là Coxsackie virus A16 (CA16) và Enterovirus 71 (EV71), trong đó hầu hết các trường hợp biến chứng nặng
thường do EV71 Biểu hiện chính của bệnh là tổn thương da, niêm mạc dưới dạng phỏng nước ở các vị trí đặc biệt như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, đầu gối, mông Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não - màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nên cần được phát hiện sớm, điều trị kịp thời [2], [8] Bệnh TCM gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi [10] Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo, đến các nơi trẻ chơi tập trung
là các yếu tố nguy cơ gây bệnh, đặc biệt là trong các đợt bùng phát dịch [48]
1.1.2 Lịch sử bệnh tay chân miệng
Bệnh TCM được phát hiện từ lâu và gặp ở nhiều nước trên thế giới, năm 1969
lần đầu tiên người ta phát hiện ra bệnh TCM, tác nhân gây bệnh là EV71 trên trẻ em
bị viêm màng não ở bang California, Hoa Kỳ Sau đó, bệnh liên tục được ghi nhận ở các quốc gia như Australia (1972), Thụy Điển (1973), Nhật Bản (1975), Bun-ga-ry (1978), Hung-ga-ry (1979), Pháp (1985) Đến năm 1997 bệnh được phát hiện ở Hồng Kông, Singapore, Malaysia [49], [50] Đến nay bệnh TCM được ghi nhận ở hầu hết các nước trên thế giới, tập trung chủ yếu tại các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Theo khuyến cáo của WHO năm 2011, bệnh TCM là một trong những bệnh truyền nhiễm khẩn cấp phải được thông báo [48]
1.1.3 Tác nhân gây bệnh
Bệnh TCM do các vi rút thuộc nhóm vi rút đường ruột gây ra Các vi rút có
khả năng gây bệnh TCM trong nhóm này gồm vi rút Coxsackies và các vi rút đường ruột khác, trong đó hay gặp là vi rút đường ruột týp 71 (EV71) và Coxsackie A16
Vi rút EV71 có thể gây các biến chứng nặng và dẫn đến tử vong Các vi rút đường
Trang 17ruột khác thường gây bệnh nhẹ Vi rút có thể tồn tại nhiều ngày ở điều kiện bình thường và nhiều tuần ở nhiệt độ 40
C Tia cực tím, nhiệt độ cao, các chất diệt trùng như formaldehyt, các dung dịch khử trùng có chứa Clo hoạt tính có thể diệt vi rút [6]
1.2 Đặc điểm dịch tễ học bệnh tay chân miệng
1.2.1 Nguồn truyền và phương thức lây truyền
Bệnh TCM lây truyền qua đường tiêu hoá: nước uống, bàn tay của trẻ hoặc của người chăm sóc trẻ, các đồ dùng, đặc biệt là đồ chơi và vật dụng sinh hoạt hàng ngày như chén, bát, đĩa, thìa, cốc bị nhiễm vi rút từ phân hoặc dịch nốt phỏng, vết loét hoặc dịch tiết đường hô hấp, nước bọt Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây truyền do tiếp xúc trực tiếp người - người qua các dịch tiết đường hô hấp, hạt nước bọt Một
số yếu tố có thể làm gia tăng sự lây truyền và bùng phát dịch bao gồm: mật độ dân
số cao, nhà ở chật chội; điều kiện vệ sinh kém; thiếu nhà vệ sinh; thiếu hoặc không
có nước sạch phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày [6]
Vi rút gây bệnh TCM có khả năng đào thải qua phân trong vòng từ 2 đến 4 tuần, cá biệt có thể tới 12 tuần sau khi nhiễm Vi rút cũng tồn tại, nhân lên ở đường
hô hấp trên và đào thải qua dịch tiết từ hầu họng trong vòng 2 tuần Vi rút cũng có nhiều trong dịch tiết từ các nốt phỏng nước, vết loét của bệnh nhân [5] Người bệnh hay người lành không triệu chứng là những ổ chứa tác nhân gây bệnh Vi rút có mặt sớm nhất ở dịch tiết trong họng khoảng từ 5 - 7 ngày Vi rút có trong dịch tiết mụn nước từ 1 - 2 tuần và có thể tồn tại trong phân tới 1 tháng Enterovirus có thể lây truyền ngay từ khi phơi nhiễm với vi rút trong thời kỳ ủ bệnh, khả năng lây truyền cao nhất là từ 5 - 7 ngày sau khi phát bệnh [4], [6], [10], [12], [34]
1.2.2 Các dấu hiệu, triệu chứng
Bệnh thường đặc trưng bởi sốt, đau họng và nổi ban phỏng nước [6] Giai đoạn ủ bệnh của bệnh từ 3 - 7 ngày Giai đoạn khởi phát từ 1 - 2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biến ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày Giai đoạn toàn phát có thể kéo dài 3 - 10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh: loét miệng với vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2 - 3 mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi, gây đau miệng, bỏ ăn, bỏ bú, tăng tiết nước bọt; phát ban dạng phỏng nước
Trang 18ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông và tồn tại trong một thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó có thể để lại vết thâm, rất hiếm khi loét hay bội nhiễm; sốt nhẹ; nôn; nếu trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng; biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuyên xuất hiện sớm từ ngày thứ 2 - 5 của bệnh Giai đoạn lùi bệnh thường từ 3 - 5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn nếu không có biến chứng [6] [10]
1.2.3 Chẩn đoán và biến chứng
Chẩn đoán ca lâm sàng dựa vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học Dấu hiệu lâm sàng là sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày; phỏng nước điển hình ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông, kèm sốt hoặc không Yếu tố dịch tễ căn cứ vào tuổi, mùa, vùng lưu hành bệnh, số trẻ mắc bệnh trong cùng một thời gian Nếu trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng; biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuyên xuất hiện sớm từ ngày thứ 2 - 5 của bệnh [6]
Biến chứng thần kinh gồm viêm não, viêm thân não, màng não, rung giật cơ, ngủ gà, bứt rứt, chới với, đi loạng choạng, run chi, mắt nhìn ngược, yếu, liệt chi, co giật hôn mê kèm với suy hô hấp Biến chứng tim mạch, hô hấp gồm viêm cơ tim, tăng huyết áp, suy tim, khó thở, thở không đều, phù phổi cấp, tím tái [6]
1.2.4 Tính cảm nhiễm
Mọi người đều có thể cảm nhiễm với vi rút gây bệnh nhưng không phải tất cả những người nhiễm vi rút đều có biểu hiện bệnh Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt ở nhóm dưới 3 tuổi Người lớn ít bị mắc bệnh có thể do đã có kháng thể từ những lần bị nhiễm hoặc mắc bệnh trước đây
[5] EV71 là loại vi rút nguy hiểm chưa có vắc xin phòng ngừa và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu Ngoài tấn công vùng da và họng gây phỏng nước, EV71 còn có xu
hướng tấn công lên hệ thần kinh trung ương, đặc biệt là vùng thân não và hành tủy Khi vi rút tấn công vào não của trẻ sẽ ảnh hưởng đến hô hấp và tim mạch gây phù
phổi, suy tim Đa số các trường hợp TCM sẽ tự khỏi, nhưng nếu do tác nhân EV71,
một số trẻ có biến chứng rất nguy hiểm là viêm não, viêm cơ tim, viêm màng não
Trang 19Điều nguy hiểm hơn là các biến chứng này rất khó phát hiện sớm nếu thầy thuốc không có kinh nghiệm và người nhà không chú ý [6]
1.2.5 Đặc điểm mắc bệnh theo tuổi và tính miễn dịch của bệnh
Bệnh TCM có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi Người lớn ít bị mắc bệnh, có thể đã có kháng thể từ những lần bị nhiễm hoặc mắc bệnh trước đây [6], [5].Trẻ nhũ nhi, trẻ em là đối tượng dễ bị nhiễm bệnh và biểu hiện bệnh nhất do chúng chưa có đủ kháng thể
để chống lại bệnh Nhiễm bệnh có thể tạo nên kháng thể đặc hiệu chống vi rút gây bệnh, tuy nhiên bệnh vẫn có thể tái diễn tái phát bệnh do một chủng vi rút khác gây nên [4], [14]
1.2.6 Đặc điểm mắc bệnh theo giới tính
Có sự chênh lệch tỷ lệ mắc bệnh TCM giữa nam và nữ Theo báo cáo ở Sigapore từ năm 2000 - 2007 tỷ số mắc bệnh TCM nam : nữ dao động từ 1,3 - 1,7 : 1; báo cáo tại Bengal - Ấn độ (2003) với 38 ca mắc thì nam nhiều hơn nữ không đáng kể (21/17) [40] Tại Việt Nam, theo nghiên cứu Nguyễn Thị Kim Tiến (2011) tại khu vực phía Nam cho thấy bệnh TCM xảy ra ở nam nhiều hơn nữ (61,4%) [28] Tại Khánh Hòa, theo tác giả Trần Thị Tuyết Mai nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học bệnh TCM tỉnh Khánh Hòa giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2013 cũng cho thấy nam giới có tỷ lệ mắc bệnh TCM cao hơn nữ giới (59,9%) [17]
1.2.7 Phân bố bệnh theo mùa
Ở nước ta, bệnh TCM gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương trong
cả nước, số mắc thường tăng từ tháng 3 - 5 và từ tháng 9 - 12 Nghiên cứu của Phan Văn Tú năm 2005 tại các tỉnh phía Nam cho thấy: thời điểm từ tháng 3 - 5 bệnh
TCM do CA16 là chủ yếu, nhưng trong tháng 9 - 12 bệnh do EV71 gây ra chiếm tỷ
lệ cao [4], [5], [8], [34]
1.2.8 Phòng bệnh và biện pháp xử lý dịch
Phòng bệnh: Hiện nay bệnh TCM chưa có vắc xin phòng, chưa có thuốc điều
trị đặc hiệu, bệnh lây chủ yếu qua tiếp xúc với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng, phân nhiễm vi rút Do vậy, nguyên tắc phòng bệnh quan trọng là: phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh và điều trị kịp thời; cách ly các
Trang 20trường hợp mới mắc, không để bệnh lây lan ra cộng đồng; thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, nâng cao thể trạng; làm sạch bề mặt và khử trùng dụng cụ sinh hoạt, nhà vệ sinh; phòng, chống dịch theo Quyết định số 581/QĐ-BYT ngày 24/02/2012 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn Giám sát và phòng, chống bệnh TCM [5]
Biện pháp xử lý dịch: Khi xảy ra vụ dịch bệnh TCM, cần áp dụng nhiều biện
pháp tổng hợp bao gồm: tạm thời đóng cửa các lớp học tại nhà trẻ, mẫu giáo nhằm hạn chế và cắt đứt đường lây truyền của vi rút, thực hiện vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường thông qua khử trùng đồ dùng, dụng cụ bằng các chất sử dụng Cloramin
B và một số hóa chất tiệt trùng khác [5], [14]
Tại nhà trẻ, mẫu giáo: Trẻ mắc bệnh không đến lớp 10 ngày kể từ khi khởi
bệnh và chỉ đi học lại khi hết loét ở miệng và bỏng nước Khi có từ 2 trẻ trở lên trong một lớp bị mắc bệnh trong vòng 7 ngày, thì cho lớp nghỉ học 10 ngày kể từ ngày khởi bệnh của ca cuối cùng để cắt đứt đường lây truyền giữa các ca bệnh Thầy, cô giáo hoặc người hướng dẫn tại nhà trẻ phải theo dõi hàng ngày, đặc biệt khi trẻ đến lớp và các biểu hiện như sốt, loét miệng, bỏng nước để thông báo cho gia đình và cán bộ y tế xử lý kịp thời Phải đảm bảo cho tất cả các trẻ và người lớn thực hiện tốt vệ sinh cá nhân như: Rửa tay với xà phòng (RTVXP) trước khi chế biến thức ăn/đồ uống, trước khi cho trẻ ăn, trước khi bế/chăm sóc trẻ; sau khi làm
vệ sinh/thay tã lót/quần áo có dính chất thải của trẻ, sau khi đi vệ sinh cá nhân, sau khi ho/hắt hơi/xì mũi và khi tay bẩn cùng với nước sạch Làm sạch vật dụng, dụng
cụ thường xuyên sử dụng, đồ chơi… bằng nước và xà phòng Thực hiện một số biện pháp hạn chế lây truyền theo đường “phân - miệng” khác như ăn chín, uống sôi Lau sạch các dụng cụ, vật dụng thường xuyên sử dụng, đồ chơi…bằng nước và xà phòng, sau đó lau bằng dung dịch Cloramin B 2% hàng ngày Dụng cụ ăn uống như chén bát, đũa, ly cốc ngâm, tráng qua nước sôi trước khi ăn và sử dụng Thường xuyên làm thông thoáng lớp học [5]
Tại gia đình bệnh nhân: Bệnh nhân phải được cách ly Khi có các biểu hiện
biến chứng thần kinh hoặc tim mạch như rung giật cơ, đi loạng choạng, ngủ gà, yếu liệt chi, mạch nhanh sốt cao ≥ 39,50C, thì cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế để được
Trang 21khám và điều trị kịp thời Bệnh nhân đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người khác, che miệng khi ho, hắt hơi và giữ khoảng cách khi nói chuyện [5] Phân và chất thải của bệnh nhân phải được khử trùng bằng Cloramin B 2% Quần áo, chăn màn, dụng
cụ của bệnh nhân cần phải khử trùng bằng cách đun sôi, ngâm dung dịch Cloramin
B 2% Với người chăm sóc bệnh nhân: hướng dẫn thực hành vệ sinh cá nhân, nhất
là rửa tay ngay khi thay tã cho trẻ; hạn chế tối đa việc tiếp xúc trực tiếp như hôn, dùng chung dụng cụ với trẻ bệnh Khi trẻ còn triệu chứng TCM, không cho phép tham gia các hoạt động, gặp gỡ đông trẻ em khác như đến lớp, đi bơi…theo dõi các biểu hiện sốt, loét miệng, bỏng nước đối với các thành viên gia đình, đặc biệt là trẻ
em để có thông báo cho cơ quan y tế xử lý, điều trị kịp thời [5]
Đối với cộng đồng: Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân, phụ
huynh học sinh và thầy, cô giáo kiến thức về đường lây truyền, các yếu tố nguy cơ
và những biện pháp phòng bệnh…Thực hiện tốt vệ sinh cá nhân như: RTVXP trước khi chế biến thức ăn/đồ uống, trước khi cho trẻ ăn, trước khi bế/chăm sóc trẻ; sau khi làm vệ sinh/thay tã lót/quần áo có dính chất thải của trẻ, sau khi đi vệ sinh cá nhân, sau khi ho/hắt hơi/xì mũi và khi tay bẩn cùng với nước sạch Làm sạch vật dụng, dụng cụ thường xuyên sử dụng, đồ chơi… bằng nước và xà phòng
Che miệng khi ho, hắt hơi và giữ khoảng cách khi nói chuyện, không để vi rút lây lan…Khi có các biểu hiện sốt, loét miệng, nổi phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, vùng mông, vùng gối đặc biệt kèm theo biến chứng thần kinh hoặc tim mạch như rung giật cơ, đi loạng choạng, ngủ gà, yếu liệt chi, mạch nhanh sốt cao ≥ 39,50C, thì cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời [5]
1.3 Tình hình bệnh tay chân miệng trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình bệnh tay chân miệng trên thế giới
Năm 1969 tại California - Hoa kỳ đã phát hiện ca bệnh đầu tiên nhiễm EV71
có biến chứng viêm màng não Đến nay, bệnh TCM đã lây lan ở hầu hết các nước trên thế giới Tại Châu Âu, vào những năm 1970 của thế kỷ trước, dịch đã xuất hiện
ở Bulgari và Hungari, chỉ riêng Hungari đã có 1.505 ca mắc và 45 ca chết Bunlgari
có 750 ca mắc bệnh, 149 ca bị liệt và 44 ca chết [48]
Trang 22Tại Nhật Bản là nước có lịch sử bệnh TCM xuất hiện sớm với một số vụ dịch
do EV71 vào năm 1973 và 1978 với 3.196 và 36.301 ca mắc và một số ca tử vong
[18], [44] Vụ dịch TCM năm 2000 và 2003 tại Nhật Bản ghi nhận lần lượt 205.365
và 172.659 ca mắc, khoảng 90% trẻ dưới 5 tuổi, EV71 được xác định là căn nguyên
chính gây bệnh TCM trong cả hai vụ dịch và có 272 trường hợp biến chứng được báo cáo trong giai đoạn 2000 - 2002 Trong đó, 226 trường hợp xuất hiện trong năm 2000; 32 trong năm 2001 và 14 trong năm 2002 [48] Năm 2015 Nhật Bản có 381.581 trường hợp mắc bệnh TCM và năm 2016 có 69.121 trường hợp mắc, kết
quả xét nghiệm cho thấy tác nhân chính gây bệnh là CA16 [51] Trong tuần lễ 50
năm 2017 số trường hợp mắc TCM được báo cáo là 2.545 Tính đến ngày 17/12/2017, ở đó đã có 355.500 trường hợp mắc bệnh TCM được báo cáo vào năm
2017 và theo xu hướng theo mùa của cùng một thời kỳ quan sát được giữa năm
2010 và năm 2016 [52]
Tại Trung Quốc, trường hợp nhiễm bệnh TCM được phát hiện đầu tiên vào năm 1981 tại Thượng Hải Sau đó dịch đã lan sang các tỉnh, thành khác như Bắc Kinh, Quảng Đông Theo báo cáo tại nước này, từ tháng 05/2008 đến tháng 4/2009
đã ghi nhận 765.220 ca mắc, trong đó 89,1% là trẻ em dưới 5 tuổi, 4.067 ca nặng và
205 ca tử vong Năm 2011, Trung Quốc ghi nhận 1.217.768 trường hợp mắc (bằng 70% so với năm 2010 là 1.567.254 trường hợp) trong đó 399 trường hợp tử vong; năm 2012 (1.774.581) và năm 2013 (1.517.9827) [53] Năm 2015, Trung Quốc ghi nhận 2.014.999 trường hợp mắc TCM; 124 trường hợp tử vong Theo báo cáo mới nhất của Uỷ ban quốc gia về Y tế và Kế hoạch hóa gia đình Trung Quốc tính đến ngày 31/12/2016 có tổng số 2.468.174 trường hợp mắc TCM trong đó có 220 trường hợp tử vong [51] Từ ngày 1 đến ngày 30/11/2017, có 130.280 trường hợp mắc bệnh TCM và không tử vong [52]
Tại Singapore, xảy ra vụ dịch lớn vào năm 2000 với 3.790 ca được báo cáo, 78,8% là trẻ dưới 4 tuổi Một nghiên cứu tiến hành phân lập vi rút từ 104 bệnh nhân
cho kết quả 73,1% dương tính với EV71 [16] Báo cáo về TCM trở thành bắt buộc
kể từ tháng 10/2000 Trong vòng 7 năm từ năm 2001 đến 2007, các vụ dịch TCM xuất hiện vào các năm 2002 (16.228 ca), năm 2005 (15.256 ca), năm 2006 (15.282
Trang 23ca) và năm 2007 (20.003 ca) Tỷ lệ mắc hàng năm cao nhất ở trẻ dưới 4 tuổi, chiếm 62,2% đến 74,5% các trường hợp được báo cáo [48] Năm 2015, nước này ghi nhận 28.216 trường hợp mắc bệnh TCM và trong tuần 52 đã có 519 trường hợp mắc cao hơn so với các quan sát khác cùng kỳ các năm gần đây [51] Trong tuần lễ thứ 50 năm 2017, có 460 trường hợp mắc bệnh TCM tương đương với các năm trước [52]
1.3.2 Tình hình bệnh tay chân miệng tại Việt Nam
Tại Việt Nam bệnh TCM xuất hiện quanh năm ở hầu hết các địa phương trong
cả nước, thường gây ra dịch tại các tỉnh phía Nam và miền Trung Tại miền Nam dịch trầm trọng hơn so với miền Trung do số ca tử vong cao Theo báo cáo của Bệnh viện Nhi Đồng 1 thành phố Hồ Chí Minh, bệnh TCM bắt đầu xuất hiện vào năm 2002 và năm 2003 vụ dịch TCM lần đầu được báo cáo tại Miền Nam, Việt Nam [13] Những năm gần đây, bệnh có xu hướng tăng và trở thành mối lo ngại đối với sức khỏe cộng đồng Trong năm 2006 - 2007, 305 ca nhập viện tại Bệnh viện Nhi đồng I có biểu hiện bệnh lý thần kinh, trong số đó có 36 ca (11%) và 3 ca tử
vong (0,01%) được xác định do EV71
Bảng 1.1 Số trường hợp mắc và tử vong do bệnh tay chân miệng ở Việt
Nam giai đoạn 2007 - 2017 (Nguồn: Bộ Y tế)
Trang 24Qua bảng số liệu cho thấy bệnh TCM lưu hành tại Việt Nam trong những năm gần đây Đỉnh điểm là vụ dịch năm 2012 với số ca mắc trên 150.000 người Bệnh TCM vẫn tiếp diễn với số lượng mắc cao và diễn biến thất thường về bệnh, cho thấy tính cấp thiết để có biện pháp kịp thời, hiệu quả trong công tác phòng bệnh TCM
1.3.3 Tình hình bệnh tay chân miệng tại tỉnh Khánh Hòa
Biểu đồ 1.1 Số ca mắc bệnh TCM tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2013 - 2017
Tại Khánh Hòa, bệnh TCM được phát hiện từ năm 2006 Cho đến nay bệnh thường xuyên lưu hành tại địa phương Qua biểu đồ 1.1 cho thấy tổng số ca mắc bệnh TCM từ 2013 - 2016 dao động từ 956 - 1.855 ca và tính đến 9 tháng đầu năm
2017 (1.188 ca); không có trường hợp tử vong [29], [30], [31], [32]
1.3.4 Một số đặc điểm và tình hình bệnh tay chân miệng tại huyện Khánh Sơn
Khánh Sơn là một huyện miền núi cao của tỉnh Khánh Hòa, phía Bắc giáp với huyện Khánh Vĩnh, phía Đông Bắc giáp huyện Diên Khánh, phía Đông giáp thành phố Cam Ranh, phía Nam và Tây giáp tỉnh Ninh Thuận, có 8 xã/thị trấn: Thành Sơn, Sơn Lâm, Sơn Hiệp, Sơn Trung, Sơn Bình, Ba Cụm Bắc, Ba Cụm Nam và thị trấn Tô Hạp, gồm 31 thôn/tổ dân phố Diện tích 337 km2 và dân số khoảng 24.721 người, trẻ dưới 5 tuổi là 2.899 trẻ, trên 70% là đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBDTTS); người dân chủ yếu sống bằng nghề nông, rẫy [7], [36] Trong những năm gần đây, Khánh Sơn là địa phương có số ca mắc bệnh TCM/1.000 dân luôn cao nhất tỉnh năm 2012 (259 ca, 12 ca/1.000 dân), năm 2013 (66 ca, 3 ca/1.000 dân),
Trang 25năm 2014 (442 ca, 11 ca/1.000 dân), năm 2015 (142 ca, 6 ca/1.000 dân) và năm
2016 (86 ca, 4 ca/1.000 dân) [29], [30], [31] Tính từ đầu năm đến hết 30/9/2017, cả
huyện ghi nhận 150 ca mắc TCM, tăng 72,4% so với cùng kỳ năm 2016 (87ca) Có 100% xã, thị trấn có bệnh nhân; tập trung chủ yếu ở Ba Cụm Bắc (25,3%), Tô Hạp (20,7%), Sơn Trung (13,3%), Thành Sơn (13,3%), Sơn Hiệp (11,3%), Sơn Lâm (7,3%), Sơn Bình (6,0%) và Ba Cụm Nam (2,7%); 27/31 (87,1%) thôn/tổ dân phố thuộc huyện Khánh Sơn có bệnh nhân Trong 150 bệnh nhân, trẻ từ 0 - 3 tuổi (chiếm 90%), 3 - 5 tuổi (chiếm 10%), không có trường hợp tử vong, 82% các ca mắc TCM là trẻ dân tộc thiểu số Nam mắc nhiều hơn nữ chiếm 64% và trẻ mắc không đi học chiếm 84% [33]
1.3.5 Một số đặc điểm và tình hình bệnh TCM tại xã Ba Cụm Bắc
Xã Ba Cụm Bắc là xã thuộc huyện Khánh Sơn, diện tích 38,82 km2 và dân số 5.176 người, trẻ dưới 5 tuổi là 531 trẻ, thành phần dân tộc đa dạng với trên 70% dân
số là dân tộc Raglai, 20% dân tộc Kinh, còn lại là các dân tộc khác như Tày, Chu ru,
Ê đê [7], [36] Đây là xã có số ca mắc bệnh TCM cao nhất huyện trong các năm gần đây, năm 2013 (26 ca, chiếm 39,4%), năm 2014 (112 ca, chiếm 25,3%), năm 2015 (44 ca, chiếm 25,1%), năm 2016 (24 ca, chiếm 27%) và từ đầu năm đến hết 30/9/2017 (38 ca, chiếm 25,3%) [32] Qua đó cho thấy bệnh TCM là một trong những bệnh lưu hành, phổ biến ở trẻ em tại xã Ba Cụm Bắc cần phải tăng cường các biện pháp phòng chống kịp thời, hiệu quả hơn
1.4 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành và yếu tố liên quan đến phòng bệnh tay chân miệng
1.4.1 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành và yếu tố liên quan đến phòng bệnh tay chân miệng trong khu vực
Nghiên cứu cắt ngang đánh giá về kiến thức và hành vi phòng ngừa bệnh TCM của người chăm sóc trẻ trong khu vực cho thấy, kiến thức và hành vi của người chăm sóc chưa cao Nghiên cứu đánh giá kiến thức phòng bệnh TCM của cha, mẹ trẻ dưới 5 tuổi được thực hiện tại huyện Dingtao, Tứ Xuyên, Trung Quốc (2010) là nghiên cứu đánh giá sự tác động của bài giảng giáo dục sức khỏe về bệnh TCM cho cha mẹ của trẻ dưới 5 tuổi, thông qua sự hiểu biết của họ về bệnh TCM
Trang 26Kết quả cho thấy có sự khác biệt về kiến thức của ĐTNC trước và sau khi nhận được bài giảng sức khỏe Tỷ lệ phụ huynh có kiến thức đạt về bệnh TCM trước và sau khi tiếp nhận giáo dục sức khỏe tương ứng là 57,8% và 84,3% Điều này đã chứng minh bài giảng sức khỏe là một phương pháp hữu hiệu trong việc giáo dục truyền thông về bệnh TCM Kết quả cũng cho thấy, nguồn cung cấp thông tin chủ yếu cho ĐTNC là truyền hình 79,7%, gia đình và bạn bè 59,1%, loa đài 49,6%, truyền thông trực tiếp 49,1%, cuốn sách nhỏ 44,2% và bác sĩ 41,7% Tuy nhiên, các nguồn họ thích hơn là truyền hình 64,9%, bác sĩ 43,9%, bài giảng 42,9% và cuốn sách nhỏ 36,3% [45] Nghiên cứu của Naw Ku Ku (2007), nghiên cứu trên 124 người chăm sóc từ trường mẫu giáo, trung tâm giữ trẻ và trường tiểu học cho thấy: hầu hết những người chăm sóc có kinh nghiệm làm việc hơn 6 năm nhưng chưa bao giờ có kinh nghiệm về phòng dịch bệnh TCM Có 1/3 người được hỏi có hành vi phòng ngừa tốt và 31,5% có hành vi chưa tốt Đối với kiến thức chung về bệnh TCM, những người được hỏi có kiến thức rất thấp về bệnh này: có 13,7% có nhận thức tốt về bệnh TCM và phần còn lại cần phải nâng cao kiến thức [43] Nghiên cứu của Li Chao-ying, PEI Xiao-di và cộng sự (2010) về kiến thức, thái độ hành của phụ huynh học sinh ở 2 trường tiểu học ở Cheng du, Trung Quốc về phòng chống TCM cho thấy điểm trung bình kiến thức của phụ huynh về bệnh TCM là 41,8%, trong đó
có 93,8% cha mẹ cho rằng các báo cáo về bệnh TCM trên phương tiện thông tin đại chúng đã thuyết phục được họ, 92,2% trong số họ tin rằng những thông tin đó đáng tin cậy và 96,2% trong số họ tin rằng họ có thể tìm hiểu về bệnh TCM từ những thông tin đó [42]
Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra kiến thức và hành vi phòng ngừa của người chăm sóc về bệnh TCM được cải thiện thông qua các kênh truyền thông Nghiên cứu của Naw Ku Ku (2007), cho thấy có 80% nhận được thông tin về bệnh TCM từ truyền hình, có 61,6% từ báo chí, có 50,5% từ phát thanh [43] Nghiên cứu của Li Chao-ying, PEI Xiao-di và cộng sự (2010) cho thấy có 93,8% cha mẹ cho rằng các báo cáo về TCM trên phương tiện thông tin đại chúng đã thuyết phục được họ, 92,2% trong số họ tin rằng những thông tin đó đáng tin cậy và 96,2% trong số họ tin rằng họ có thể tìm hiểu về bệnh TCM từ những thông tin đó [42] Nghiên cứu đánh
Trang 27giá kiến thức phòng bệnh TCM của cha, mẹ trẻ dưới 5 tuổi được thực hiện tại huyện Dingtao, Tứ Xuyên, Trung Quốc (2010) cũng cho thấy nguồn cung cấp thông tin chủ yếu cho ĐTNC là truyền hình (79,7%), gia đình và bạn bè (59,1%), loa đài (49,6%), tuyền thông trực tiếp (49,1%), cuốn sách nhỏ (44,2%) và bác sĩ (41,7%) [45]
Một nghiên cứu khác tại Thái Lan, tìm hiểu các yếu tố dự đoán hành vi phòng bệnh TCM giữa hai nhóm người chăm sóc trẻ ở mẫu giáo và nhóm bố mẹ được triển khai tại Pathum Thaini, năm 2015 Kết quả cho thấy kiến thức, kinh nghiệm chăm sóc trẻ bị bệnh TCM và biết các dấu hiệu bị bệnh TCM được xác định là yếu tố dự đoán mắc bệnh TCM chiếm 14,0% trong tổng số người chăm sóc trẻ; trong khi kiến thức về bệnh TCM và trình độ học vấn (TĐHV) được xác định là yếu tố nguy cơ chiếm 9,8% trong tổng số hành vi phòng bệnh của nhóm bố mẹ [47]
Về các yếu tố liên quan đến biện pháp phòng bệnh TCM, tác giả Ruan F và cộng sự tại Đài Loan năm 2011 đã ghi nhận 3 yếu tố nguy cơ chính là trẻ có chơi với trẻ hàng xóm, trẻ có đi khám bệnh, trẻ có đi tới chỗ tụ tập đông người Cụ thể: trẻ có chơi với trẻ hàng xóm có nguy cơ mắc TCM cao gấp 11 lần so với trẻ không chơi với trẻ hàng xóm (OR = 11; 95%CI = [6,2 - 17]); trẻ có đi khám bệnh có nguy
cơ mắc TCM cao gấp 20 lần so với trẻ không đi khám bệnh ở phòng khám vì một bệnh khác trong vòng 1 tuần trước khi bệnh (OR = 20; 95%CI = [5,0 - 88]); trẻ có
đi tới chỗ tụ tập đông người có nguy cơ mắc TCM cao gấp 7,3 lần so với trẻ không
có đi tới chỗ đông người (OR = 7,3; 95%CI = [4,1 - 13]) [46] Việc tìm ra các yếu
tố liên quan là một việc rất quan trọng trong phòng ngừa bệnh, giúp cải thiện môi trường xung quanh trẻ, ngăn ngừa việc lây truyền và phát triển bệnh TCM ở trẻ em
1.4.2 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành và yếu tố liên quan đến phòng bệnh tay chân miệng ở Việt Nam
Nghiên cứu về kiến thức phòng bệnh TCM cho trẻ: Các nghiên cứu gần
đây về phòng bệnh TCM tại Việt Nam cho thấy, kiến thức chung đúng về phòng bệnh TCM chưa cao Năm 2012, Cao Thị Thúy Ngân đã mô tả kiến thức về phòng chống bệnh TCM của 292 bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội, năm 2012 Đánh giá kiến thức phòng chống bệnh TCM gồm 9
Trang 28câu hỏi, ĐTNC trả lời đúng 2/3 số câu hỏi là đạt yêu cầu Kết quả nghiên cứu cho thấy: bà mẹ có kiến thức đạt là 41,5% [20] Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào bà mẹ có con dưới 3 tuổi, trong khi đó trẻ mắc TCM có thể từ 0 - 5 tuổi, như vậy vẫn còn khuyết nhóm chăm sóc 4 - 5 tuổi Nguyễn Thanh Liêm cũng thực hiện một nghiên cứu tương tự đối với 272 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại 3 xã, huyện Mỹ
Tú, tỉnh Sóc Trăng, năm 2015 Việc đánh giá kiến thức phòng bệnh TCM gồm các nội dung: nguyên nhân gây bệnh, lứa tuổi hay mắc, thời điểm xuất hiện bệnh, dấu hiệu nhận biết, vắc xin phòng bệnh, biến chứng, đường lây, nguy cơ mắc bệnh, các biện pháp phòng bệnh, cách chăm sóc trẻ khi mắc bệnh, yếu tố nguy cơ Tác giả đánh giá từng nội dung kiến thức đạt hay không đạt với điểm cắt là 2/3 Kết quả cho thấy có 84,6% bà mẹ biết về dấu hiệu nổi phỏng nước; 6,6% bà mẹ biết tác nhân gây bệnh là vi rút; 6,3% biết bệnh xảy ra quanh năm; 80,5% biết lứa tuổi dễ mắc bệnh TCM nhất là dưới 5 tuổi; 64,0% biết bệnh TCM có khả năng tái phát ở trẻ; 85,3% bà mẹ biết bệnh TCM có thể phòng được…[16] Dù vậy, nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở đánh giá từng nội dung kiến thức chứ chưa đánh giá kiến thức chung Kết quả ghi nhận được từ các nghiên cứu khác cho thấy kiến thức của bà mẹ hoặc NCSC trẻ dao động tùy từng địa phương và thời điểm Dường như các bà mẹ ở khu vực phía bắc và khu vực thuộc đồng bằng Sông Cửu Long có kiến thức về bệnh TCM tốt hơn so với khu vực khác trên cả nước Chẳng hạn nghiên cứu mô tả cắt ngang của Phan Trọng Lân, Lê Thị Thanh Hương và cộng sự về kiến thức, thực hành phòng, chống bệnh TCM của 250 NCSC trẻ dưới 5 tuổi tại xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, Hà Nội, năm 2013 Đánh giá kiến thức phòng chống bệnh TCM bằng 9 câu hỏi, ĐTNC trả lời đúng 2/3 số câu hỏi là đạt yêu cầu Kết quả cho thấy có 62,8% ĐTNC có kiến thức chung đạt về phòng, chống bệnh TCM [15] Bên cạnh
đó, nghiên cứu mô tả cắt ngang của Mai Văn Phước về kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của 420 bà mẹ tại 02 xã thuộc huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, năm 2015 Đánh giá kiến thức về phòng bệnh TCM bằng 12 câu hỏi, sử dụng điểm cắt 50% Kết quả cho thấy có 79,1% bà mẹ có kiến thức chung đạt về phòng bệnh TCM, trong đó có 97,4% bà mẹ biết triệu chứng bệnh TCM; 66,3% biết về tác nhân gây bệnh; 98,1% biết bệnh có thể lây lan; 92,2% biết rằng
Trang 29bệnh nguy hiểm; 86,1% biết bệnh lây qua đường tiêu hóa; 67,8% biết cách xử lý phân; 99,3% đưa trẻ đến cơ sở y tế khám ngay khi trẻ có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh [24] Trong khi đó ở khu vực miền Trung tỷ lệ ĐTNC có kiến thức đạt thấp hơn nhiều (17,6%) [1] Trong nghiên cứu mô tả cắt ngang của Đỗ Quốc Tuyên về kiến thức, thực hành về phòng bệnh TCM của 270 bà mẹ có con dưới 5 tuổi người đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, năm
2016 Tác giả đánh giá kiến thức về phòng bệnh TCM theo 10 câu hỏi, sử dụng điểm cắt 50% để phân loại thì thấy chỉ có 20,4% ĐTNC có kiến thức đạt về phòng bệnh TCM Trong đó có 85,6% bà mẹ biết triệu chứng của bệnh TCM là sốt; 42,2% biết được tác nhân gây bệnh; 70,0% biết bệnh có thể dẫn đến tử vong; 87,0% biết trẻ dưới 5 tuổi hay mắc bệnh; 95,6% biết việc phải đưa trẻ đi khám bệnh tại cơ sở y
tế khi nghi ngờ trẻ bị bệnh; 87,4% cho biết bệnh TCM có thể phòng được; 94,1% cho rằng dung dịch xà phòng có thể giúp phòng bệnh TCM [35] Tuy nhiên, những
so sánh này chỉ mang tính tương đối vì các nghiên cứu được thực hiện trên quy mô khá nhỏ, phương pháp tiến hành nghiên cứu cũng như tiêu chuẩn đánh giá kiến thức đạt là không đồng nhất
Nghiên cứu về thái độ phòng bệnh TCM cho trẻ: Hiện nay các nghiên cứu
thường bỏ qua phần thái độ, mà chủ yếu tập trung đánh giá kiến thức và thực hành nên việc tham khảo tài liệu còn hạn chế Qua một số nghiên cứu đã tham khảo được dường như những bà mẹ và người chăm sóc trẻ có thái độ tương đối tốt, tỷ lệ người chăm sóc trẻ có thái độ chung đúng về phòng bệnh TCM khá cao Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Vy Uyên (2012), tỷ lệ bà mẹ có thái độ đúng trong phòng bệnh TCM khá cao (91,3%) và đa số bà mẹ có thái độ quan tâm đến việc rửa tay phòng bệnh và vệ sinh khử khuẩn [37] Một số khảo sát về bệnh TCM tại 5 tỉnh/thành phố năm 2011 (trên 450 bà mẹ có con dưới 6 tuổi và 390 người trông trẻ) ghi nhận có 60,9% có thái độ đúng về phòng bệnh TCM [11] Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Mai Văn Phước về kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của 420 bà mẹ tại tỉnh Hậu Giang, năm 2015 đã đánh giá thái độ phòng chống bệnh TCM theo 7 câu hỏi, dựa trên thang đo Likert 5 mức độ cho thấy, có 59,1%
bà mẹ có thái độ chung tích cực về phòng bệnh TCM, trong đó, tỷ lệ bà mẹ có thái
Trang 30độ đồng ý, rất đồng ý với quan điểm ủng hộ các hoạt động phòng bệnh của địa phương là rất cao (98,6%); kế đến là quan điểm phải thường xuyên rửa tay cho trẻ bằng xà phòng khi tay bẩn, trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh (96,2%); người chăm sóc trẻ RTVXP khi tay bẩn, trước khi chế biến thức ăn cho trẻ, trước khi cho ăn và chơi đùa với trẻ (91,6%); bệnh TCM có thể phòng tránh được (89,9%); mức độ nguy hiểm của bệnh (81,4%); lau rửa những bề mặt hay đồ chơi mà trẻ thường xuyên chơi hay tiếp xúc (57,5%); lau rửa chỗ trẻ hay chơi bằng xà phòng hay dung dịch sát khuẩn (39,2%) [24]
Tương tự, nghiên cứu của Cao Thị Thúy Ngân (2012) đánh giá về thái độ phòng chống bệnh TCM của 292 bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội cũng đưa ra những tỷ lệ tương đồng với hai nghiên cứu vừa trình bày Bằng việc sử dụng 12 câu hỏi để đánh giá thái độ với điểm cắt là 2/3, kết quả nghiên cứu cho thấy có 71,3% bà mẹ có thái độ đúng về phòng, chống bệnh TCM Các bà mẹ có thái độ chưa tích cực trong vấn đề RTVXP trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và trước khi chế biến thực phẩm lần lượt chỉ là 15,5%; 4,4% và 17,5% [20]
Nghiên cứu về thực hành phòng bệnh TCM cho trẻ: Nhìn chung việc thực
hành phòng chống bệnh TCM của các bà mẹ và người chăm sóc trẻ được đánh giá qua các nghiên cứu có tỷ lệ đạt còn thấp Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Phan Trọng Lân, Lê Thị Thanh Hương và cộng sự (2013), đánh giá thực hành về phòng chống bệnh TCM theo 16 câu hỏi với điểm cắt 2/3 cho thấy chỉ có 45,2% ĐTNC thực hành đạt trong phòng chống bệnh TCM [15] Tương tự là nghiên cứu mô tả cắt ngang của Trần Hữu Quang về thực hành phòng, chống bệnh TCM của 250 NCSC cho trẻ dưới 5 tuổi tại xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, Hà Nội, năm 2013 Nghiên cứu
sử dụng 16 câu hỏi và chọn điểm cắt là 2/3 số câu hỏi Kết quả cho thấy chỉ có 45,2% thực hành đạt trong phòng chống bệnh TCM; trong đó có 55,2% RTVXP sau khi thay quần áo, tã lót có dính phân, nước tiểu của trẻ; 66,8% RTVXP sau khi đi vệ sinh; 58,8% không sử dụng riêng dụng cụ chế biến thức ăn; 66,0% có thói quen dùng chung dụng cụ dựng thức ăn cho trẻ; 45,2% lau sàn nhà bằng dung dịch sát
Trang 31khuẩn; 67,6% lau rửa đồ chơi, vật dụng thường xuyên tiếp xúc với trẻ và 26,0% xử
lý phân, chất thải của trẻ không đúng cách [25]
Nghiên cứu cắt ngang của Nguyễn Thanh Liêm (2015) về thực hành phòng bệnh TCM của 272 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại tỉnh Sóc Trăng, sử dụng điểm cắt là 2/3 để tính điểm đạt về thực hành Kết quả cho thấy có 87,5% bà mẹ có RTVXP cho mẹ khi chăm sóc trẻ; 90,0% bà mẹ có RTVXP cho trẻ; 21,0% bà mẹ dùng xà phòng lau rửa đồ chơi, đồ dùng của trẻ hàng ngày; 29,8% bà mẹ dùng xà phòng lau chùi đồ dùng, sàn nhà có trẻ tiếp xúc hàng ngày; 67,6% bà mẹ đổ rửa chất thải, dịch tiết của trẻ xả xuống sông/ao/mương; 16,2% bà mẹ dùng nước sông/ao/mương cho sinh hoạt hàng ngày và cho ăn uống là 5,9% [16] Nghiên cứu của Đỗ Quốc Tuyên (2016) về thực hành phòng bệnh TCM của 270 bà mẹ có con dưới 5 tuổi người đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Lâm Đồng, sử dụng điểm cắt là 50% để tính điểm đạt về thực hành Kết quả cho thấy chỉ có 19,6% thực hành đạt trong phòng chống bệnh TCM; trong đó có 18,1% bà mẹ RTVXP trước khi chế biến thực phẩm cho trẻ; 18,2% bà mẹ RTVXP sau khi đi vệ sinh; 10,0% bà mẹ RTVXP trước khi cho con bú; 11,5% bà mẹ RTVXP sau khi thay quần áo, tã lót cho trẻ; 9,6% bà mẹ RTVXP cho trẻ trước khi cho trẻ ăn; 4,1% bà mẹ vệ sinh đồ chơi cho trẻ bằng xà phòng, chất sát khuẩn; 27,8% bà mẹ vệ sinh nhà ở, nền nhà, bàn ghế, tay nắm cửa với xà phòng [35] Thực hành đúng là nhân tố quyết định trong công tác phòng, chống bệnh truyền nhiễm nói chung và bệnh TCM nói riêng Rõ ràng, nếu so với tỷ lệ kiến thức hoặc thái độ đúng thì tỷ lệ thực hành đúng về phòng, chống bệnh TCM của NCSC trong các nghiên cứu còn thấp Ngoài ra, tỷ lệ thực hành đúng trong từng hoạt động chăm sóc, vệ sinh cũng rất khác biệt nhau Chính vì vậy trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi tập trung đánh giá thực hành của NCSC để có thể đề xuất những biện pháp cần thiết nhằm cải thiện phù hợp và hiệu quả
Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh tay chân miệng
Trong khảo sát các yếu tố liên quan đến phòng bệnh TCM, nhiều tác giả đã ghi nhận được một số yếu tố liên quan đến việc phòng bệnh TCM như: trình độ học
Trang 32vấn, nghề nghiệp, tuổi, dân tộc, con đã từng mắc, kinh tế gia đình, số lượng nguồn thông tin mà ĐTNC tiếp cận với kiến thức, thái độ, thực hành của ĐTNC
Nhóm trình độ học vấn: TĐHV được xem xét đến như một yếu tố có liên
quan tới kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM Thông thường, những nhóm NCSC trẻ có TĐHV cao hơn sẽ có kiến thức, thực hành tốt hơn so với những nhóm có TĐHV thấp Trong nghiên cứu của Phan Trọng Lân, Lê Thị Thanh Hương và cộng
sự (2013) đã chỉ ra được có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa TĐHV với kiến thức, thực hành về phòng, chống bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi ĐTNC có TĐHV
từ trung học phổ thông trở lên có kiến thức phòng, chống bệnh TCM đạt cao gấp 2,5 lần các ĐTNC có TĐHV dưới trung học phổ thông (p = 0,001) ĐTNC có TĐHV từ trung học phổ thông trở lên có thực hành phòng, chống bệnh TCM đạt cao gấp 3,2 lần các ĐTNC có TĐHV dưới trung học phổ thông (p < 0,001) [15] Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích của Cao Thị Thúy Ngân (2012) cũng đã chỉ ra được có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa TĐHV với kiến thức, thực hành phòng chống bệnh TCM của bà mẹ Những bà mẹ có TĐHV trên trung học phổ thông có kiến thức phòng bệnh TCM đạt cao gấp 2,4 lần (p = 0,001), thái độ phòng bệnh TCM đạt cao gấp 2,9 lần (p = 0,001) và thực hành phòng bệnh TCM đạt cao gấp 4,7 lần (p < 0,001) bà mẹ có TĐHV từ trung học phổ thông trở xuống [20] Nghiên cứu của Mai Văn Phước về kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ tại 2 xã, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, năm
2015 cũng cho thấy có mối liên quan giữa TĐHV của bà mẹ với kiến thức phòng bệnh TCM, những bà mẹ có TĐHV từ cấp III trở lên dường như có kiến thức đạt cao gấp 3,5 lần bà mẹ có TĐHV là mù chữ (OR = 3,3; 95%CI = [1,9 - 6,3]; p < 0,001) [24] Nghiên cứu của Đỗ Quốc Tuyên về kiến thức, thực hànhvề phòng bệnh tay chân miệng và một số yếu tố liên quan của bà mẹ có con dưới 5 tuổi người đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, năm 2016 cũng cho thấy những bà mẹ có TĐHV từ trung học phổ thông trở lên có thực hành cao gấp 7,6 lần những bà mẹ có TĐHV dưới trung học phổ thông (OR = 7,6; 95%CI = [3,7 - 15,7]; p < 0,001) [35]
Trang 33Nhóm nghề nghiệp: Nghề nghiệp của NCSC trẻ được coi là một yếu tố có
liên quan tới kiến thức, thái độ và thực hành về phòng bệnh TCM Chẳng hạn, nghiên cứu của Cao Thị Thúy Ngân (2012) đã chỉ ra được có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nghề nghiệp với kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh TCM Những bà mẹ là CBCNV có kiến thức phòng bệnh TCM đạt cao gấp 6,2 lần (p < 0,001); thái độ phòng bệnh TCM đạt cao gấp 2,9 lần (p = 0,001) và thực hành phòng bệnh TCM đạt cao gấp 4,5 lần (p < 0,001) các bà mẹ khác [20] Nghiên cứu của Phan Trọng Lân, Lê Thị Thanh Hương và cộng sự (2013) cũng đã chỉ ra được
có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nghề nghiệp với kiến thức, thực hành về phòng, chống bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi Đối tượng là CBCNVC có kiến thức phòng, chống bệnh TCM đạt cao gấp 2,4 lần các ĐTNC có nghề khác (p = 0,001) ĐTNC là CBCNVC có thực hành về phòng, chống bệnh TCM đạt cao gấp 3,9 lần ĐTNC làm nghề khác (p < 0,001) [15] Nghiên cứu cắt ngang tại 15 tỉnh khu vực phía Nam về thực hành phòng bệnh TCM tại cộng đồng của Hồ Thị Thiên Ngân và cộng sự (2014), cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nghề nghiệp với thực hành phòng bệnh TCM: người chăm sóc trẻ là cán bộ công chức thực hành đúng gấp 8 lần công nhân (p < 0,001); gấp 4,5 lần nông dân (p < 0,001) và gấp 8 lần nội trợ (p = 0,005) [21] Tương tự, nghiên cứu của Mai Văn Phước về kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ tại 2 xã, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, năm 2015 cũng cho thấy có mối liên quan nghề nghiệp của bà mẹ và kiến thức phòng bệnh TCM, những bà mẹ có nghề nghiệp là CBCNVC có kiến thức đạt cao gấp 9,3 lần bà mẹ làm nghề nghiệp khác (OR = 9,3; 95%CI = [2,2 - 38,8]; p < 0,001) và đồng thời cũng chỉ ra mối liên quan giữa nghề nghiệp với thái độ phòng bệnh TCM, những bà mẹ có nghề nghiệp là CBCNVC có thái độ tích cực cao gấp 2,4 lần bà mẹ làm nghề nghiệp khác (OR = 2,4; 95%CI
=[1,3 - 4,4]; p = 0,005) [24] Nghiên cứu Đỗ Quốc Tuyên về kiến thức, thực hành
về phòng bệnh tay chân miệng và một số yếu tố liên quan của bà mẹ có con dưới 5 tuổi người đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, năm 2016 cũng cho thấy có mối liên quan nghề nghiệp của bà mẹ với kiến thức phòng bệnh TCM, ở những bà mẹ là CBCNVC, buôn bán kiến thức về phòng
Trang 34bệnh TCM đạt cao gấp 3,8 lần những bà mẹ có nghề nghiệp là làm nông (OR = 3,8; 95%CI = [1,0 - 12,0]; p = 0,035) và những bà mẹ là CBCNVC, buôn bán thực hành
về phòng bệnh TCM đạt cao gấp 3,7 lần những bà mẹ có nghề nghiệp là làm nông (OR = 3,7; 95%CI = [1,1 - 12,7]; p = 0,028) [35]
Nhóm tuổi: Các nghiên cứu chỉ ra rằng NCSC của trẻ có liên quan với kiến
thức, thực hành phòng chống bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi Tuổi của NCSC tăng lên tỷ lệ thuận với kiến thức, thực hành đạt về phòng bệnh TCM cho trẻ [20], [26] Nghiên cứu của Phạm Văn Thanh về kiến thức, thực hànhphòng bệnh TCM của bà
mẹ có con dưới 5 tuổi tại huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk, năm 2012 cho thấy có yếu
tố liên quan giữa nhóm tuổi với thực hành phòng chống bệnh TCM của bà mẹ, những bà mẹ tuổi càng cao thì có thực hành về phòng bệnh TCM càng tốt hơn (p < 0,05) [26] Nghiên cứu của Cao Thị Thúy Ngân về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội, năm 2012 cũng cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi với thái độ về phòng bệnh TCM của bà mẹ, những bà mẹ trên 30 tuổi có thái độ phòng chống bệnh TCM đúng cao gấp 2,7 lần các bà mẹ dưới
30 tuổi (p = 0,001) [20]
Nhóm dân tộc: Dân tộc của ĐTNC cũng là một trong những yếu tố liên quan
đến kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM Nghiên cứu của Trần Thị Anh Đào và cộng sự (2012) đã chỉ ra được có yếu tố liên quan giữa dân tộc của bà mẹ với kiến thức về phòng bệnh TCM Bà mẹ là người Kinh có kiến thức phòng, chống bệnh TCM tốt hơn bà mẹ là người dân tộc Chơ Ro (p < 0,05), đồng thời trong nghiên cứu cũng chỉ ra được có mối liên quan giữa dân tộc của bà mẹ với thực hành về phòng bệnh TCM Bà mẹ là người Kinh có thực hành phòng bệnh TCM tốt hơn bà mẹ là người dân tộc Chơ Ro (p < 0,05) [9] Nghiên cứu của Phạm Văn Thanh về kiến thức, thực hànhphòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk, năm 2012 cũng đã chỉ ra được có yếu tố liên quan giữa kiến thức với thực hành phòng, chống bệnh TCM của bà mẹ Những bà mẹ người Kinh có kiến thức, thực hành tốt hơn những bà mẹ là người ĐBDTTS (p < 0,001) [26]
Trang 35Có con đã từng mắc bệnh TCM: Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Liêm về
kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng chống bệnh TCM của bà
mẹ có con dưới 5 tuổi tại 3 xã huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, năm 2015 đã chỉ ra được có mối liên quan giữa việc có con đã từng mắc bệnh với kiến thức về bệnh TCM của bà mẹ Những bà mẹ có con đã từng mắc bệnh TCM dường như có kiến thức đạt cao gấp 2,5 lần những bà mẹ có con chưa mắc bệnh (p < 0,001) [16] Nghiên cứu của Phạm Văn Thanh về kiến thức, thực hànhphòng bệnh TCM của bà
mẹ có con dưới 5 tuổi tại huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk, năm 2012 cũng đã chỉ ra được có mối liên quan giữa mẹ có con đã từng mắc bệnh TCM với kiến thức về bệnh TCM của mẹ, mẹ có con đã từng mắc TCM thì có điểm kiến thức trung bình
về TCM cao hơn mẹ có con không mắc TCM khoảng 2,5 điểm (p < 0,001) [26] Nghiên cứu của Đỗ Quốc Tuyên về kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của bà
mẹ có con dưới 5 tuổi người đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, năm 2016 cho thấy có yếu tố liên quan có ý nghĩa thống
kê giữa tiền sử mắc bệnh TCM của con với thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ Những bà mẹ có con đã mắc bệnh TCM có kiến thức đạt cao gấp 22,6 lần những bà
mẹ có con chưa mắc bệnh (OR = 22,6; 95%CI = [10,2 - 69,9]; p < 0,001) và thực hành đạt gấp 5,2 lần những bà mẹ có con chưa mắc bệnh (OR = 5,2; 95%CI = [2,6 - 10,0]; p = 0,035) [35]
Kinh tế hộ gia đình: Nghiên cứu của Phạm Văn Thanh về kiến thức, thực
hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk, năm 2012 đã chỉ ra được có yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức, thực hành với tình trạng kinh tế của bà mẹ Những bà mẹ thuộc gia đình khá, giàu thì có kiến thức, thực hành tốt hơn so với những bà mẹ thuộc hộ gia đình nghèo (p < 0,05) [26] Nghiên cứu của Mai Văn Phước về kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ tại 2 xã, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, năm 2015 cũng đã chỉ ra được có yếu tố liên quan giữa thu nhập gia đình hàng tháng của gia đình với kiến thức phòng bệnh TCM, những gia đình thu nhập hàng tháng ≥ 4 triệu có kiến thức phòng bệnh TCM đạt cao gấp 3,6 lần bà
mẹ có thu nhập thấp hơn (OR = 3,6; 95%CI = [2,0 - 6,2]; p < 0,001) và có thái độ
Trang 36tích cực cao gấp 2 lần bà mẹ có thu nhập thấp hơn ( OR = 2,0; 95%CI = [1,3 - 3,0];
có tiếp cận thông tin về bệnh TCM thì có kiến thức đạt cao gấp 4,7 lần những bà mẹ không được hoặc không nhớ đã nghe thông tin về bệnh TCM (p < 0,05) [26] Nghiên cứu của Mai Văn Phước về kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ tại 2 xã, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, năm
2015 cũng đã chỉ ra được có mối liên quan giữa kiến thức về phòng bệnh TCM của
bà mẹ với tiếp cận thông tin về phòng bệnh TCM, những bà mẹ có tiếp cận thông tin về bệnh TCM có kiến thức đạt cao gấp 4,1 lần những bà mẹ không tiếp cận thông tin (OR = 4,1; 95%CI = [2,2 - 7,8]; p < 0,001) [24] Nghiên cứu của Đỗ Quốc Tuyên về kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi người đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, năm 2016 chỉ ra được có mối liên quan giữa nguồn thông tin về bệnh TCM mà ĐTNC được tiếp cận với kiến thức về phòng bệnh TCM, những bà mẹ tiếp cận từ 2 nguồn thông tin trở lên có kiến thức đạt cao gấp 5,8 lần những bà mẹ chỉ nghe được
từ 1 nguồn (OR = 5,8; 95%CI = [2,6 - 12,8], p < 0,001) và những bà mẹ tiếp cận từ
2 nguồn thông tin trở lên có thực hành đạt cao gấp 3,2 lần những bà mẹ chỉ nghe được từ 1 nguồn (OR = 3,2; 95%CI = [1,6 - 6,4], p = 0,0006) [35]
Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành phòng bệnh TCM: Nghiên
cứu của Cao Thị Thúy Ngân về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội, năm 2012 đã chỉ ra được có yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức với thực hành phòng, chống bệnh TCM ĐTNC có kiến thức đạt thì có khả năng thực hành phòng, chống bệnh TCM đạt cao gấp 7,5 lần các ĐTNC có kiến thức không
Trang 37đạt (p < 0,001) [20]; theo nghiên cứu của Phan Trọng Lân, Lê Thị Thanh Hương và cộng sự (2013) cũng đã chỉ ra được có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức với thực hành phòng bệnh TCM ĐTNC có kiến thức phòng bệnh TCM đạt có khả năng thực hành phòng bệnh TCM đạt cao gấp 5,8 lần các ĐTNC có kiến thức phòng bệnh TCM không đạt (p < 0,001) [15]; nghiên cứu của Mai Văn Phước về kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ tại
2 xã, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, năm 2015 cũng cho thấy có mối liên quan giữa kiến thức với thực hành phòng bệnh TCM; những bà mẹ có kiến thức đạt về phòng bệnh TCM thì có khả năng thực hành đạt cao gấp 3,7 lần những bà mẹ có kiến thức không đạt (OR = 3,7; 95%CI = [2,1 - 6,5]; p < 0,001) [24]; nghiên cứu của Đỗ Quốc Tuyên về kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi người đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, năm 2016 cũng chỉ ra được có mối liên quan giữa kiến thức với thực hành về phòng bệnh TCM của bà mẹ Những bà mẹ có kiến thức đạt thì có khả năng thực hành đạt cao gấp 5,6 lần những bà mẹ có kiến thức không đạt (OR = 5,6; 95%CI = [2,8 - 11,2], p < 0,001) [35]
Mối liên quan giữa thái độ với thực hành phòng bệnh TCM: Nghiên cứu
của Cao Thị Thúy Ngân về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội, năm 2012 đã chỉ ra được có mối liên quan giữa thái độ với thực hành phòng bệnh TCM; những bà mẹ có thái độ đúng có khả năng thực hành cao gấp 8 lần những bà
mẹ có thái độ không đúng (p < 0,001) [20] Nghiên cứu của Mai Văn Phước về kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ tại 2 xã, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, năm 2015 cũng đã chỉ ra được có mối liên quan giữa thái độ với thực hành phòng bệnh TCM; những bà mẹ có thái độ tích cực thì có khả năng thực hành đạt cao gấp 7,7 lần những bà mẹ có thái độ không tích cực (OR
= 7,7; 95%CI = [4,1 - 11,5], p < 0,001) [24]
Các nghiên cứu chưa tìm thấy được mối liên quan giữa giới tính, số trẻ dưới 5 tuổi của hộ gia đình với kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh TCM của ĐTNC, đây là những vấn đề mà chúng ta cần đặc biệt quan tâm và thực hiện nghiên cứu
Trang 38tiếp theo trong thời gian tới, tìm ra mối liên quan giữa chúng để có các biện pháp cải thiện kịp thời và can thiệp hiệu quả trong công tác phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi tại các hộ gia đình
Trang 39Bảng 1.2 Bảng tóm tắt kết quả một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu lố liên quan đến phòng bệnh tay chân miệng ở Việt Nam:
Cách đánh giá KAP (điểm cắt:
bao nhiêu
% là đạt)
Yếu tố liên quan tới KAP phòng bệnh TCM
ĐTNC trả lời đúng 2/3 số câu hỏi của mỗi phần:
kiến thức, thái độ, thực hành là đánh giá đạt
- TĐHV với kiến thức
- TĐHV với thái
độ
- TĐHV với thực hành
OR = 2,4; p = 0,001
OR = 2,9, p = 0,001
OR = 4,7; p < 0,001
-Nghề nghiệp với kiến thức
- Nghề nghiệp với thái độ
- Nghề nghiệp với thực hành
OR = 6,2; p < 0,001
OR = 2,9; p = 0,001
OR = 4,5; p < 0,001
- Nhóm tuổi với thái độ
OR = 2,7; p = 0,001
- Kiến thức với thái độ
OR = 7,8; p<0,0001
- Kiến thức với thực hành
OR = 7,5; p<0,0001
- Thái độ với thực hành
OR = 8,0; p<0,0001
Trang 40Cách đánh giá KAP (điểm cắt:
bao nhiêu
% là đạt)
Yếu tố liên quan tới KAP phòng bệnh TCM
ĐTNC trả lời đúng 2/3 số câu hỏi của mỗi phần:
kiến thức, thực hành là đánh giá đạt
- TĐHV với kiến thức
- TĐHV với thực hành
OR = 2,5; p = 0,001
OR = 3,2; p < 0,001
- Nghề nghiệp với kiến thức
- Nghề nghiệp với thực hành
OR = 2,4; p = 0,001
OR = 3,9; p < 0,001
- Kiến thức với thực hành
OR = 5,8; 95%CI = [3,2-10,6]; p<0,001
3 Trần Hữu
Quang
(2013)
Hà Nội, Nghiên cứu cắt ngang
ĐTNC trả lời đúng 2/3 số câu hỏi của mỗi phần:
kiến thức, thực hành là đánh giá đạt
- Nghề nghiệp với kiến thức
- Nghề nghiệp với thực hành
OR = 2,4; 95%CI = [1,4-4,1]; p = 0,001
OR = 3,9; 95%CI = [2,3-6,7]; p < 0,001
- TĐHV với kiến thức
- TĐHV với thực hành
OR = 2,5; 95%CI = [1,5-4,1]; p = 0,001
OR = 3,2; 95%CI = [1,9-5,3]; p < 0,001
- Kiến thức với thực hành
OR = 5,8; 95%CI = [13,2-10,5];
P<0,001