TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Nghiên cứu mô tả cắt ngang định tính kết hợp với định lượng trên 118 cán bộ y tế CBYT tại các trạm y tế của Vĩnh Phúc có ghi nhận bệnh nhân mắc SXHD năm 2017 nhằm mô t
Trang 1NGUYỄN THỊ TUYÊN
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH GIÁM SÁT DỊCH TỄ BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE CỦA CÁN BỘ PHỤ TRÁCH CHƯƠNG TRÌNH TUYẾN XÃ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN
QUAN TẠI TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2018
Trang 2NGUYỄN THỊ TUYÊN
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH GIÁM SÁT DỊCH TỄ BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE CỦA CÁN BỘ PHỤ TRÁCH CHƯƠNG TRÌNH TUYẾN XÃ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN
QUAN TẠI TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau hai hơn hai năm học tập và nghiên cứu dưới mái trường Y tế công cộng, giờ đây cuốn luận văn thạc sỹ YTCC đang được hoàn thành, tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Đảng ủy, ban giám hiệu trường và thầy cô trong trường Đại học Y tế công cộng; Sở y tế, trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Phúc, trung tâm y
tế các huyện/thị/thành đã tạo điều kiện, hỗ trợ cho tôi trong quá trình tham gia khóa học và hoàn thành luận văn Thạc sỹ YTCC
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Tiến sỹ Vũ Trọng Dược – Viện vệ sinh dịch tễ TW, thạc sỹ Nguyễn Minh Hoàng - Trường Đại học Y tế công cộng là những người thầy đã tận tâm giúp đỡ, đồng thời đã cho tôi những kinh nghiệm quý báu trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo TTYT Thành phố Phúc Yên nơi tôi công tác, bạn bè đồng nghiệp trong khoa KSDB&HIV đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và làm luận văn Đồng thời tôi cũng gửi lời biết ơn sâu sắc tới các đồng nghiệp công tác tại khoa KSDB&HIV của các huyện/thị/thành và trạm y tế nơi tôi tiến hành nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn tới bạn bè lớp CHYTCC-20 đã cùng đồng hành với tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đặc biệt là người bạn đã cùng tôi trải qua khó khăn từ thời học đại học và trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới chồng, con và cha mẹ anh em trong gia đình đã cổ vũ động viên giúp tôi vươt qua khó khăn trong thời gian học tập và nghiên cứu
Với những phát hiện trong nghiên cứu, tôi xin chia sẻ với các đồng nghiệp, đặc biệt là những người đang công tác trong lĩnh vực Y tế dự phòng, phòng chống SXHD
Hà Nội, ngày……tháng 09 năm 2018
Trang 4DANH MỤC TÊN VIẾT TẮT
BI Chỉ số Breteau
BTN Bệnh truyền nhiễm
BYT Bộ y tế
CSDCBG Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy CSMĐ Chỉ số mật độ
ĐTV Điều tra viên
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
GSHT Giám sát hỗ trợ
KCN Khu công nghiệp
KSDB&HIV Kiểm soát dịch bệnh và HIV
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU……… v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1-TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Lịch sử và một số khái niệm liên quan bệnh sốt xuất huyết Dengue 4
1.2 Tình hình bệnh SXHD trên thế giới và Việt Nam 6
1.3 Hoạt động chương trình phòng chống SXHD tại Việt Nam 9
1.4 Một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành của CBYT về giám sát dịch trên thế giới và tại Việt Nam 14
1.5 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 20
1.6 Khung lý thuyết 22
CHƯƠNG 2- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.3 Thiết kế nghiên cứu 23
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 23
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.6 Phương pháp phân tích số liệu 26
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá và quy ước tính điểm 28
2.8 Hạn chế của nghiên cứu 29
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 29
CHƯƠNG 3- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Thông tin chung đối tượng nghiên cứu 31
3.2 Điều kiện triển khai hoạt động giám sát 32
3.3 Kiến thức giám sát dịch tễ bệnh SXHD 35
3.4 Thực hành giám sát dịch tễ bệnh SXHD 44
3.5 Các yếu tố liên quan……… 50
Trang 6CHƯƠNG 4- BÀN LUẬN 56
CHƯƠNG 5- KẾT LUẬN 65
CHƯƠNG 6- KHUYẾN NGHỊ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Phụ lục 1: Biến số trong nghiên cứu 71
Phụ lục 2: Quy ước cách tính điểm kiến thức và thực hành 77
Phụ lục 3: Bộ công cụ phỏng vấn định lượng 79
Phụ lục 4: Bảng kiểm quan sát hoạt động giám sát véc tơ 90
Phụ lục 5A: Hướng dẫn phỏng vấn sâu lãnh đạo TTYT 92
Phụ lục 5B: Hướng dẫn PVS trưởng khoa KSDB&HIV 93
Phụ lục 5C: Hướng dẫn PVS Trạm trưởng trạm y tế 95
Phụ lục 5D: Hướng dẫn TLN cán bộ phụ trách chương trình phòng SXHD tuyến xã 96
Phụ lục 6: Phiếu điều tra ca bệnh SXHD 98
Phụ lục 7: Số xã tại tỉnh Vĩnh Phúc có bệnh nhân mắc SXHD năm 2017 101
Phụ lục 8: Dự trù kinh phí 102
Phụ lục 9: Phiếu giám sát véc tơ 103
Phụ lục 10: Kế hoạch nghiên cứu cụ thể 104
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Số ca mắc SXHD/100.000 dân của Vĩnh Phúc từ năm 2011-2017 9
Bảng 3.1: Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 31
Bảng 3.2: Tổng hợp nhiệm vụ khác phải kiêm nhiệm 32
Bảng 3.3: Hỗ trợ kinh phí chương trình SXHD 33
Bảng 3.4: Công cụ phục vụ hoạt động giám sát 33
Bảng 3.5: Tham gia tập huấn 33
Bảng 3.6: Giám sát hỗ trợ của tuyến trên về giám sát dịch tễ học bệnh SXHD 34
Bảng 3.7: Kiến thức cơ bản về bệnh SXHD 35
Bảng 3.8: Kiến thức về đặc tính sinh học của véc tơ truyền bệnh 36
Bảng 3.9: Kiến thức giám sát bệnh nhân 39
Bảng 3.10: Kiến thức giám sát véc tơ 41
Bảng 3.11 Chỉ số giám sát véc tơ 43
Bảng 3.12: Thực hành giám sát bệnh nhân 44
Bảng 3.13: Thực hành bắt muỗi Aedes 47
Bảng 3.14: Thực hành ghi chép và tính các chỉ số 49
Bảng 3.15: Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân và thực hành 50
Bảng 3.16: Mối liên quan giữa điều kiện triển khai với thực hành 51
Bảng 3.17: Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành 54
Bảng 3.18: Mô hình hồi quy về các yếu tố liên quan đến thực hành giám sát dịch tễ bệnh SXHD của cán bộ phụ trách chương trình tuyến xã……….55
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 : Các nước và vùng nguy cơ mắc SXHD năm 2013………7
Biểu đồ 1.2: Số ca mắc và tử vong do SXHD từ 1980-11/2017………8
Biểu đồ 3.1: Kiêm nhiệm thêm nhiệm vụ khác………32
Biểu đồ 3.2: Kiến thức về nơi muỗi aedes đẻ trứng và chứa lăng quăng/bọ gậy ……….……….37
Biểu đồ 3.3: Nội dung giám sát dịch tễ bệnh SXHD….……… 38
Biểu đồ 3.4: Kiến thức về nguồn thu thập thông tin ca bệnh giám sát……….………40
Biểu đồ 3.5: Kiến thức về dấu hiệu lựa chọn ca bệnh giám sát……… ……41
Biểu đồ 3.6: Kiến thức về mục đích giám sát véc tơ………….……… ……42
Biểu đồ 3.7: Kiến thức về nội dung giám sát véc tơ………….……… ……42
Biểu đồ 3.8: Kiến thức chung về giám sát dịch tễ……….……… ……44
Biểu đồ 3.9: Kỹ năng thu thập thông tin khi giám sát ca bệnh……….45
Biểu đồ 3.10: Thông tin cần thu thập khi giám sát ca bệnh……….……46
Biểu đồ 3.11: Số hộ điều tra trong 1 lần giám sát véc tơ… ……….…47
Biểu đồ 3.12: Thực hành giám sát véc tơ……….… ……….48
Biểu đồ 3.13: Thực hành chung về giám sát dịch tễ bệnh SXHD……….49
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu mô tả cắt ngang định tính kết hợp với định lượng trên 118 cán
bộ y tế (CBYT) tại các trạm y tế của Vĩnh Phúc có ghi nhận bệnh nhân mắc SXHD năm 2017 nhằm mô tả kiến thức, thực hành giám sát dịch tễ bệnh SXHD và xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành giám sát dịch tễ bệnh SXHD Kết quả nghiên cứu là căn cứ cho việc định hướng xây dựng kế hoạch hoạt động phòng chống SXHD trong thời gian tới, thông qua việc nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát dịch tễ bệnh SXHD tại cơ sở Kết quả nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ CBYT có kiến thức chung về giám sát dịch tễ bệnh SXHD đạt là 71,2% Hầu hết CBYT nắm được các đặc điểm cơ bản liên quan đến bệnh SXHD như phân nhóm bệnh, tác nhân gây bệnh, thời kỳ ủ bệnh, thời gian bệnh
có khả năng lây truyền mạnh nhất hay các đặc tính sinh học của muỗi Tỷ lệ CBYT có thực hành chung về giám sát dịch tễ bao gồm thực hành giám sát bệnh nhân, giám sát véc tơ, ghi chép và tính toán các chỉ số đạt là 65,3% Qua phân tích đơn biến chỉ ra mối liên quan giữa thực hành giám sát dịch tễ SXHD với yếu tố cá nhân (trình độ học vấn, kiến thức của đối tượng nghiên cứu) và điều kiện triển khai hoạt động giám sát (được hỗ trợ kinh phí, đã từng tham gia tập huấn, tuyến trên xuống giám sát hỗ trợ và tần xuất giám sát) Từ phân tích
đa biến cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tần xuất tuyến trên xuống giám hỗ trợ với thực hành giám sát dịch tễ bệnh SXHD của cán bộ phụ trách chương trình SXHD tuyến xã, nhóm cán bộ được tuyến trên thường xuyên giám sát hỗ trợ có thực hành đạt cao gấp 20,6 lần nhóm không được giám sát thường xuyên Từ kết quả nghiên cứu cho thấy cần tăng cường hoạt động giám sát hỗ trợ của tuyến trên đối với tuyến cơ sở trong việc giám sát sát dịch tễ bệnh SXHD
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm vi rút Dengue cấp tính
do muỗi truyền và có thể gây thành dịch lớn [2] Từ năm 2014, Tổ chức y tế thế giới cho rằng SXHD là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và phổ biến nhất lây qua trung gian truyền bệnh Trong những năm gần đây, SXHD đã trở thành vấn đề y tế công cộng rất quan trọng của hơn 128 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với khoảng 3,9 tỷ người ở trong vùng nguy cơ Ước tính, có khoảng 390 triệu người mắc SXHD mỗi năm, trong đó có khoảng 500.000 người bị SXHD nặng phải nhập viện và trong
số này có 2,5% số ca tử vong Vùng Đông Nam Á-Tây Thái Bình Dương đã trở thành khu vực có SXHD lưu hành cao nhất thế giới với hơn 70% tổng số ca mắc và
tử vong của toàn thế giới [50, 52, 54, 55]
Tại Việt Nam SXHD được coi là bệnh dịch lưu hành tại nhiều địa phương, nhất là các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc Bộ và vùng ven biển miền Trung [2]; Hiện nay, Việt Nam là một trong 5 nước có gánh nặng SXHD cao nhất ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương Trong những năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam có hàng chục ngàn đến hơn trăm ngàn ca mắc SXHD [2, 5, 21, 27] Số ca mắc trong giai đoạn 2010-2014 có dấu hiệu giảm tuy nhiên từ năm 2015 các trường hợp ghi nhận bắt đầu tăng [11] và năm 2017 số ca mắc SXHD được ghi nhận cao thứ 3 trong lịch sử SXHD của Việt Nam.Vĩnh Phúc là một tỉnh trọng điểm loại B
về SXHD, nằm tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, có hệ thống giao thông thuận lợi, tốc
độ đô thị hóa cao với mật độ dân cư đông đúc tại các khu công nghiệp và trường học đóng trên địa bàn của tỉnh Hàng năm Vĩnh Phúc vẫn ghi nhận các ca mắc SXHD rải rác trên địa bàn toàn tỉnh với số ca mắc có xu hướng tăng Số mắc SXHD/100.000 dân qua các năm 2012, 2013, 2014, 2015, 2016 lần lượt là: 1,8 ca; 2,89 ca; 3,46 ca; 6,3 ca; 2,4 ca [29]; Riêng năm 2017 ghi nhận số ca mắc SXHD tăng đột biến, gấp 27,3 lần so với năm 2016 [30]; Trong bối cảnh kinh phí trung ương cấp cho hoạt động các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế nói chung và dự
án phòng chống sốt xuất huyết Dengue nói riêng ngày càng bị cắt giảm [29], việc xã hội hóa công tác phòng chống sốt xuất huyết Dengue là điều cần thiết trong nỗ lực khống chế dịch Kiểm soát véc tơ là điểm then chốt trong việc phòng chống dịch
Trang 11SXHD Để làm được điều đó hoạt động giám sát phát hiện dịch SXHD ngay từ tuyến cơ sở là điều rất cần thiết, giám sát dịch tễ bệnh SXHD nhằm dự báo các nguy
cơ liên quan đến tình hình dịch từ đó xây dựng kế hoạch cho việc phòng chống dịch bệnh Hiện nay có một số văn bản quy định việc giám sát, phòng chống SXHD và cán bộ y tế đóng vai trò chính trong việc triển khai hoạt động giám sát dịch tễ bệnh SXHD Ngoài việc chỉ đạo, hướng dẫn đội ngũ YTTB/CTV thực hiện VSMT, tuyên truyền các nội dung về PC SXHD thì CBYT tuyến xã có nhiệm vụ giám sát véc tơ, điều tra xác minh ca bệnh và báo cáo kịp thời lên tuyến trên Tuy nhiên trong quá trình thực hiện do nhiều lý do khác nhau nên việc triển khai các hoạt động giám sát dịch tễ SXHD vẫn còn hạn chế Một số nghiên cứu trước đã chỉ ra thực trạng và một
số yếu tố liên quan đến hoạt động giám sát dịch nói chung Một trong những nguyên nhân được đề cập đến đó là kiến thức, thực hành của CBYT về giám sát phát hiện dịch bệnh SXHD còn chưa tốt Vậy câu hỏi đặt ra là kiến thức, thực hành về giám sát dịch tễ bệnh SXHD của cán bộ trực tiếp làm công tác phòng chống SXHD tuyến
xã (CBYT) như thế nào? Yếu tố nào liên quan đến thực hành giám sát dịch tễ của CBYT? Đến nay chưa có nghiên cứu nào chỉ ra kiến thức, thực hành về giám sát dịch tễ bệnh SXHD của cán bộ y tế nói chung và trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói
riêng Vì vậy học viên tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thực hành giám sát dịch
tễ bệnh SXHD của cán bộ phụ trách chương trình tuyến xã và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018”
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1- Mô tả kiến thức, thực hành giám sát dịch tễ bệnh sốt xuất huyết dengue của cán
bộ phụ trách chương trình tuyến xã tại tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018;
2- Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành giám sát dịch tễ bệnh sốt xuất huyết dengue của cán bộ phụ trách chương trình tuyến xã tại tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018;
Trang 13CHƯƠNG 1-TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Lịch sử và một số khái niệm liên quan bệnh sốt xuất huyết Dengue
1.1.1 Lịch sử về bệnh sốt xuất huyết Dengue
Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm đã được biết đến từ rất lâu Các triệu chứng đầu tiên tương thích với bệnh SXHD đã được ghi nhận trong một Bách khoa toàn thư y học Trung Quốc vào năm 992 Tuy nhiên, trước đó rất nhiều thế kỷ, ban đầu được công bố dưới thời nhà Tấn vào khoảng năm 265 – 420 sau khi
đã được chỉnh sửa nhiều lần [39] [41] Căn bệnh này được ám chỉ như một loại “độc nước” và có liên quan đến côn trùng bay Dịch bệnh với diễn tiến và lây lan giống SXHD xảy ra vào đầu năm 1635 ở Tây Ấn Độ và 1699 ở Trung Mỹ [41] Sốt dengue được Spaniards mô tả lần đầu tiên vào năm 1764 Trận dịch đầu tiên được xác định do vi-rút Dengue gây ra được Benjamin Rush mô tả vào năm 1780 ở Philadelphia, Pennsylvania [9, 31] và sau đó trở thành dịch bệnh phổ biến ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20, các ổ dịch cuối cùng xảy ra vào năm 1945 tại New Orleans [39, 41] Các nguyên nhân SXHD do vi-rút và truyền qua muỗi được xác định vào cuối thế
kỷ 20 Căn nguyên gây bệnh là các vi-rút Dengue do Ashburn và Graig phát hiện năm 1907
Ở Philipine, năm 1953 đã xẩy ra vụ dịch sốt xuất huyết Dengue, đến năm
1956 có thêm một trận dịch và đã phát hiện thêm týp D3 và D4
Năm 1958, một vụ dịch tương tự xảy ra ở Thái Lan, căn nguyên gây bệnh đã được xác định là vi-rút Dengue Từ đó dịch ngày càng lan rộng ra các nước Đông Nam Á, như Việt Nam năm 1958-1960, Singapore, Lào, Campuchia và các nước Tây Thái Bình Dương trong những năm sau Theo tổ chức Y tế thế giới, từ năm
1964 đã thống nhất tên gọi của bệnh là sốt Dengue, đến năm 1967 thuật ngữ SXHD
và sốc SXHD đã được dùng thống nhất cho đến nay Trong vòng 30 năm trở lại đây, bệnh SXHD đang trở nên trầm trọng Số trường hợp mắc SXHD trung bình hàng năm lên tới hàng triệu người, trong đó số người nhập viện chỉ là phần nổi của tảng băng nhưng cũng lên tới hàng triệu trường hợp Trong đó có hàng chục ngàn ca tử vong do SXHD mỗi năm [31, 40]
Trang 141.1.2 Đại cương về bệnh sốt xuất huyết Dengue
Bệnh SXHD là bệnh nhiễm vi rút Dengue (DEN) cấp tính do muỗi truyền và
có thể gây thành dịch lớn Đây là bệnh dịch lưu hành địa phương ở Việt Nam, nhất
là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc Bộ và ven biển miền Trung;
Bệnh SXHD chia làm 3 mức độ là sốt xuất huyết Dengue; sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo và Sốt xuất huyết Dengue nặng [6] Biểu hiện lâm sàng của sốt xuất huyết Dengue là sốt cao đột ngột, liên tục từ 2-7 ngày và có ít nhất
2 trong các dấu hiệu sau: biểu hiện xuất huyết, chấm xuất huyết dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam hoặc nhức đầu chán ăn, buồn nôn hoặc da xung huyết, phát ban hoặc đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt Biểu hiện của sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo bao gồm các triệu chứng lâm sàng của sốt xuất huyết Dengue kèm theo các dấu hiệu cảnh báo như: Vật vã, li bì hoặc đau bụng vùng gan, gan to hoặc nôn nhiều hoặc xuất huyết niêm mạc hoặc tiểu ít Đối với sốt xuất huyết Dengue nặng khi có một trong các biểu hiện sau: thoát huyết tương nặng dẫn đến sốc giảm thể tích, xuất huyết nặng hoặc suy đa phủ tạng
Chẩn đoán xác định trong vòng thí nghiệm bằng phân lập/phát hiện vật liệu
di truyền hoặc kháng nguyên trong máu trong vòng 5 ngày đầu kể từ khi sốt hoặc phát hiện kháng thể IgM kháng vi rút Dengue đặc hiệu trong huyết thanh kể từ ngày thứ 5
Tác nhân gây bệnh do vi rút Dengue thuộc nhóm Flavivirus, họ Flaviviridae với 4 tuýp huyết thanh DEN-1, DEN-2, DEN-3, DEN-4
Thời kỳ ủ bệnh và lây truyền: Thời kỳ ủ bệnh từ 3-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày Bệnh nhân là nguồn lây bệnh trong thời kỳ có sốt, nhất là 5 ngày đầu của sốt
là giai đoạn trong máu có nhiều vi rút Muỗi bị nhiễm vi rút thường sau 8-12 ngày sau hút máu có thể truyền bệnh và truyền bệnh suốt đời [2]
Tính cảm nhiễm và sức đề kháng: Mọi người chưa có miễn dịch đặc hiệu đều
có thể bị mắc bệnh từ trẻ sơ sinh đến người lớn Sau khi khỏi bệnh sẽ được miễn dịch suốt đời với túyp vi rút Dengue gây bệnh nhưng không được miễn dịch bảo vệ chéo với các túyp vi rút Dengue khác, bệnh nhân có thể sẽ bị bệnh nặng hơn và dễ xuất hiện sốc Dengue [50]
Trang 15Véc tơ truyền bệnh: Bệnh không lây truyền trực tiếp từ người sang người mà
do muỗi đốt người bệnh có mang vi rút sau đó truyền vi rút sang người lành qua vết
đốt Ở Việt Nam, hai loài muỗi truyền bệnh SXHD là Aedes Aegypti và Aedes
albopictus, trong đó quan trọng nhất là Aedes aegypti
1.2 Tình hình bệnh SXHD trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình mắc SXHD trên thế giới và khu vực Tây Thái Bình Dương
Trên thế giới, hiện nay SXHD được coi là bệnh truyền nhiễm tái nổi, trong vòng 50 năm qua SXHD tăng gấp 30 lần và hiện nay vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại [53, 56] SXHD hiện là một mối quan tâm của khu vực Tây Thái Bình Dương, với hơn 70% dân số thế giới phơi nhiễm SXHD chủ yếu sống ở đây [38] 1,3 tỷ người ở những khu vực này sống ở trong 10 nước có dịch SXHD lưu hành, SXHD là nguyên nhân hàng đầu của nhập viện và tử vong của trẻ em khu vực này [45, 46] Tỉ
lệ mắc SXHD được báo cáo ở mỗi nước có sự khác nhau, bao gồm cả ca xác định bởi xét nghiệm, ca có thể hoặc ca nghi ngờ Tuy nhiên, từ dữ liệu thu thập bởi WHO cho thấy rõ ràng rằng ở Đông Nam Á SXHD đã lan rộng trong thập kỷ qua [51, 55]
Theo WHO, khu vực Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á hiện chiếm 75% gánh nặng SXHD toàn cầu Số ca SXHD được báo cáo liên tục tăng lên trong thế kỷ qua Đã có 353.907 ca SXHD và trong đó có 1073 ca tử vong trong khu vực được báo cáo vào năm 2010 [47, 49] Ở các nước Đông Nam Á thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương, gánh nặng lớn nhất của SXHD đến từ Campuchia, Lào, Philippine, Singapore và Việt Nam Số ca mắc bệnh tăng lên trong mỗi quốc gia trong mười năm qua và cả bốn tuýp huyết thanh đang lưu hành trong khu vực này
Trang 16Biểu đồ 1.1: Các nước và vùng nguy cơ mắc SXHD 2013
Qua nhiều thập kỷ, hiện nay tỷ lệ mắc và sự phân bố tăng lên rõ rệt đặc biệt ở một số nước Đông Nam Á, nơi các vụ dịch năm nào cũng xảy ra [33, 35, 37, 46]; Sự lan rộng của SXHD liên quan tới các yếu tố như tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết, toàn cầu hóa, du lịch, thương mại, kinh tế xã hội, sự định cư và cả sự biến đổi của virus Không có thuốc điều trị đặc hiệu, chưa có vắc xin dự phòng cũng là những nguyên nhân SXHD gia tăng
Năm 2012, SXHD lại một lần nữa được phân loại bởi WHO như một bệnh
do virus truyền qua côn trùng quan trọng nhất trên thế giới do sự mở rộng vùng ảnh hưởng về mặt địa lý của vi-rút, của véc tơ vào những vùng trước đây chưa có và do gánh nặng mà nó mang lại [34, 38, 51] Ở hầu hết các nước trên thế giới, gánh nặng chính của tổn thất này là tỉ lệ mắc và tử vong do SXHD ở trẻ em [43, 45]
1.2.2 Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam
Tại Việt Nam
Cũng như một số nước thuộc khu vực khác của nước Đông Nam á, SXHD là trở thành vấn đề y tế công cộng trong vòng 20 năm qua với số trường hợp mắc và chết thuộc nhóm các nước cao nhất khu vực Châu á SXHD được coi là dịch bệnh lưu hành địa phương, chủ yếu ở các tỉnh miền Nam và miền Trung Trong giai đoạn
Trang 17từ 2000-2016, bệnh rải rác trong cả nước, cao nhất là khu vực miền Nam từ 75% trường hợp mắc, miền Trung chiếm 10-20%, miền Bắc chiếm 6%-12%, và thấp nhất là khu vực Tây Nguyên thường chiếm từ 6-8% Bệnh xảy ra cả khu vực thành thị và nông thôn [8] Trước những năm 2000, các ca mắc SXHD theo chu kỳ 3-5 năm, tuy nhiên trong những năm gần đây các ca mắc không thực rõ nét như trước, nguyên nhân có thể thay đổi về môi trường, tốc độ đô thị hóa lớn trong nông thôn hay những phương thức sử dụng đất và thiếu chương trình kiểm soát véc tơ có hiệu quả [19] Giai đoạn 2000-2017, trung bình mỗi năm ghi nhận từ 50.000 đến 100.000 ca mắc, một số năm ghi nhận dịch lớn như năm 1987 với hơn 350.000 ca, năm 1998 hơn 230.000 ca, gần đây nhất năm 2010 số ca mắc ghi nhận khoảng 128.000 ca Năm 2017 ghi nhận số mắc tăng đột biến với khoảng 177.000 ca và là 1
65%-trong 3 đỉnh dịch ghi nhận cao nhất 65%-trong lịch sử SXHD từ trước đến nay Tỷ lệ
chết/mắc đã giảm rõ rệt từ 1,2% năm 1984, xuống còn 0,5% năm 1992, trong những năm gần đây tỷ lệ này là 0.03%, số ca tử vong trong những năm gần đây đều dưới
Biểu đồ 2: Số ca mắc và tử vong do SXHD từ năm 1980- tháng 11/2017
(Nguồn: Chương trình phòng chống sốt xuất huyết Quốc gia)
Về phân bố các ca mắc trong năm 2016-2017, khu vực miền Nam, miền Trung dịch SXHD xảy ra quanh năm đỉnh dịch vào tháng 9 và tháng 12, khu vực miền Bắc và Tây Nguyên thường gia tăng tháng 5-6, đỉnh dịch vào tháng 10-11 và
0 1,000 2,000 3,000 4,000 5,000 6,000
Trang 18giảm mạnh đến tháng 12 Về độ tuổi dưới 15 tuổi chiếm 38,48%; giới nữ chiếm 52,38%, về phân độ lâm sàng thể SXHD chiếm phần lớn với 98,8% [8]
Tại tỉnh Vĩnh Phúc
Trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đều ghi nhận các trường hợp mắc SXHD rải rác tại các huyện/thị/thành trong tỉnh Số ca mắc có xu hướng tăng qua các năm từ 2011-2016 và tăng đột biến trong năm 2017 với 709 ca tăng 27,3 lần so với năm 2016 Số liệu cụ thể như sau:
2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017
số ca mắc/100.000 dân 5,3 1,8 2,89 3,46 6,3 2,4 66,5 Bảng 1.1: Số ca mắc SXHD/100.000 dân của Vĩnh Phúc từ năm 2011-2017
Qua số liệu năm 2016 cho thấy các ca mắc/nghi mắc SXHD theo các tháng không có sự đồng đều với nhau do các ca mắc đều đi từ nơi khác về, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có một số ca mắc tại chỗ [29]
Sự phân bố theo nhóm tuổi: Nhóm trên 15 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất có 23 ca chiếm 88,5 %, nhóm tuổi dưới 15 tuổi có 03 ca chiếm 11,5 % Trong đó người mắc/nghi mắc có độ tuổi cao nhất 58 tuổi và người mắc có độ tuổi nhỏ nhất là 1 tuổi [29]
Phạm vi mắc: Số ca mắc/nghi mắc SXH diễn ra tại 9/9 huyện/TX/TP địa phương có số mắc cao: trong đó có 2 huyện chiếm 38,5% toàn tỉnh (Vĩnh Tường 05
ca, Yên Lạc 05 ca), đây là những địa phương có ổ dịch SXHD cũ và có nhiều các yếu tố nguy cơ cao Huyện có số ca mắc ít nhất chiếm 7,7% là: Tam Đảo 01 ca; Vĩnh Yên 01 ca [29]
1.3 Hoạt động chương trình phòng chống SXHD tại Việt Nam
1.3.1 Một số khái niệm
- Giám sát dịch tễ học: Là quá trình thu thập thông tin liên tục để đánh giá bản chất của bệnh cùng với nguyên nhân xuất hiện, lưu hành và lan truyền của bệnh đó nhằm tìm ra những biện pháp ngăn chặn, khống chế có hiệu quả đối với bệnh đó [1]
- Véc tơ là những côn trùng hay động vật mang tác nhân truyền nhiễm từ người này sang người khác
- Dụng cụ chứa nước (DCCN): Là tất cả các dụng cụ không phân biệt kích thước, giá trị sử dụng, có chứa nước, bao gồm cả các dụng cụ phế thải đọng nước
Trang 19- DCCN có nắp: Là những DCCN có nắp kín để muỗi không chui vào đẻ trứng
1.3.2 Giám sát dịch tễ bệnh SXHD
1.3.2.1 Giám sát dịch tễ bệnh truyền nhiễm
Giám sát dịch tễ bệnh truyền nhiễm là hình thức thu thập thông tin một cách liên tục, có hệ thống về tình hình, chiều hướng của bệnh truyền nhiễm nhằm cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch, triển khai và đánh giá các hiệu quả các biện pháp phòng chống bệnh truyền nhiễm [1]
1.3.2.2 Giám sát dịch tễ học bệnh SXHD
Giám sát dịch tễ bệnh SXHD bao gồm giám sát bệnh nhân, giám sát huyết thanh và vi rút, giám sát véc tơ (muỗi, lăng quăng/bọ gậy) và giám sát tính nhậy cảm của véc tơ với các hóa chất diệt côn trùng, đồng thời theo dõi diễn biến thời tiết, môi trường và kết quả các biện pháp phòng chống chủ động
Tại tuyến cơ sở CBYT phải nắm vững kỹ thuật và quy trình giám sát bệnh nhân, giám sát véc tơ và thực hiện thống kê báo cáo, các nội dung giám sát vi rút và huyết thanh học, giám sát tính nhậy cảm của véc tơ với các hóa chất diệt côn trùng được thực hiện ở tuyến tỉnh hoặc trung ương nơi có điều kiện tốt hơn [2]
Hiện nay, hoạt động giám sát bệnh truyền nhiễm nói chung được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 54/2015/TT-BYT ngày 28/12/2015 Thông tư này quy định nội dung, trình tự, nguyên tắc…và trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức đối với việc phát hiện bệnh truyền nhiễm [4] Đối với chương trình phòng chống SXHD ngoài việc thực hiện theo quy định chung, hoạt động giám sát phòng chống SXHD được thực hiện dựa trên hướng dẫn tại các văn bản: Quyết định 3711/QĐ-BYT ngày 19/09/2014, Quyết định 3091/QĐ-BYT ngày 03/07/2017 về việc ban hành “Hướng dẫn giám sát trọng điểm lồng ghép bệnh sốt xuất huyết Dengue, bệnh
do vi rút Zika và Chikunguya”; Quyết định 4607/QĐ-BYT ngày 11/10/2017 về việc ban hành “Kế hoạch giám sát trọng điểm lồng ghép bệnh sốt xuất huyết Dengue, bệnh do vi rút Zika và Chikungunya giai đoạn 2017-2010” Giám sát dịch tễ bao gồm giám sát bệnh nhân, giám sát huyết thanh và vi rút, giám sát véc tơ (muỗi, lăng quăng/bọ gậy) và giám sát tính nhậy cảm của véc tơ với các hóa chất diệt côn trùng,
Trang 20đồng thời theo dõi diễn biến thời tiết, môi trường và kết quả biện pháp phòng chống chủ động
Theo tài liệu của tổ chức y tế thế giới, giám sát SXHD bao gồm các cấu phần chính là giám sát bệnh nhân, giám sát véc tơ và giám sát những rủi ro cho môi trường và xã hội Việc giám sát cũng được phân cấp cho các đơn vị theo hệ thống y
tế, với các mục tiêu phát hiện dịch bệnh một cách nhanh chóng để can thiệp; Đo lường gánh nặng bệnh tật và cung cấp dữ liệu cho việc đánh giá tác động đối với kinh tế, xã hội của bệnh SXHD vào cộng đồng bị ảnh hưởng; Theo dõi xu hướng phân bố và lây lan bệnh SXHD theo thời gian và địa lý; Đánh giá hiệu quả của các chương trình phòng chống sốt xuất huyết Tạo điều kiện thuận lợi cho việc lập kế hoạch và phân bổ nguồn lực dựa trên các bài học kinh nghiệm từ đánh giá chương trình Có hai hình thức giám sát là giám sát chủ động và giám sát thụ động, giám sát chủ động được thực hiện bởi chỉnh hệ thống y tế và hệ thống báo cáo thụ động được thực hiện từ hệ thống cơ sở y tế Có 3 chỉ số chính để giám sát véc tơ gồm: HI (Chỉ
số nhà có muỗi); CI (chỉ số DCCN có muỗi), BI (Chỉ số DCCN có muỗi/100 DCCN được điều tra) [50]
Đối chiếu với mô hình giám sát bệnh SXHD của Việt Nam đang áp dụng cũng có khá nhiều điểm tương đồng như về cách thức, nội dung thực hiện Về nội dung đánh giá tác động của SXHD đối với kinh tế xã hội theo mô hình chung của WHO đề cập tới vấn đề bao quát hơn, mô hình giám sát của chúng ta áp dụng là toàn diện và chi tiết hơn
1.3.3 Nội dung giám sát
Trang 21cộng đồng và những bệnh nhân được tiếp nhận khám, điều trị tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập và tư nhân Nguồn thông tin có thể thông qua mạng lưới YTTB và cộng đồng báo lên, phần mền quản lý bệnh truyền nhiễm [2]
- Phân loại ca bệnh [6]
Bệnh sốt xuất huyết Dengue được chia làm 3 mức độ:
Sốt xuất huyết Dengue với các biểu hiện lâm sàng sốt cao đột ngột, liên tục
từ 2-7 ngày và có ít nhất 2 trong các dấu hiệu sau: biểu hiện xuất huyết ở các mức
độ khác nhau hoặc đau cơ, khớp, nhức hai hố mắt hoặc nhức đầu, chán ăn buồn nôn hoặc da xung huyết hoặc phát ban
Sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo với các triệu chứng lâm sàng của sốt xuất huyết Dengue kèm theo các dấu hiệu cảnh báo sau: vật vã, lừ đừ, li bì, đau bụng vùng gan hoặc ấn đau vùng gan, gan to, nôn nhiều, xuất huyết niêm mạc, tiểu ít
Sốt xuất huyết Dengue nặng khi người bệnh có một trong các biểu hiện sau: thoát huyết thương nặng dẫn đến sốc giảm thể tích, ứ dịch ở khoang màng bụng và
ổ bụng, xuất huyết nặng và suy tạng
1.3.3.2 Giám sát véc tơ
Các hoạt động giám sát véc tơ bao gồm giám sát muỗi trưởng thành, giám sát lăng quăng/bọ gậy do CBYT xã thực hiện hàng tháng Hoạt động giám sát ổ bọ gậy nguồn thực hiện năm 2 lần và xác định tính nhậy cảm của véc tơ với các hóa chất diệt côn trùng được thực hiện tại tuyến tỉnh hoặc tuyến trung ương
- Giám sát muỗi trưởng thành: Giám sát muỗi trưởng thành bằng phương pháp soi bắt muỗi trong nhà bằng ống tuýp hoặc máy hút cầm tay Soi bắt muỗi cái đậu nghỉ trong nhà vào ban ngày Mỗi nhà soi bắt trong 15 phút, số nhà điều tra cho mỗi điểm là 30 nhà, điều tra 1 lần/tháng Sử dụng chỉ số mật độ (CSMĐ) muỗi và
chỉ số nhà có muỗi (CSNCM) để giám sát muỗi Ae aegypti, Ae albopictus (tính
theo từng loài)
Chỉ số mật độ (CSMĐ) muỗi là số muỗi cái Aedes trung bình bắt được trong
một gia đình điều tra, tính bằng công thức
Số muỗi cái Aedes bắt được
Trang 22của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus (tính theo từng loài) đó là
Chỉ số nhà có lăng quăng/bọ gậy (CSNBG) là tỷ lệ phần trăm nhà có bọ gậy
Aedes tính bằng công thức:
Số nhà có lăng quăng/bọ gậy Aedes
CSNBG (%) = x 100
Số nhà điều tra Chỉ số dụng cụ chứa nước có lăng quăng/bọ gậy (CSDCBG) là tỷ lệ phần
trăm dụng cụ chứa nước có lăng quăng/bọ gậy Aedes tính bằng công thức:
Số DCCN có lăng quăng/bọ gậy Aedes
CSDCBG (%) = x 100
Số DCCN điều tra
Chỉ số Breteau (BI) là số DCCN có lăng quăng/bọ gậy Aedes trong 100 nhà
điều tra Tối thiểu điều tra 30 nhà, được tính như sau:
Số DCCN có lăng quăng/bọ gậy Aedes
Số nhà điều tra
Trang 23Chỉ số mật độ lăng quăng/bọ gậy (CSMĐBG) là số lượng lăng quăng/bọ gậy trung bình cho 1 nhà điều tra Chỉ số CSMĐBG chỉ sử dụng khi điều tra ổ lăng quăng/bọ gậy nguồn, được tính bằng công thức:
Số lăng quăng/bọ gậy Aedes thu được
CSMĐBG =
Số nhà điều tra Trong quá trình giám sát véc tơ, nếu chỉ số mật độ muỗi cao (>=0,5 con/nhà) hoặc chỉ số Breteau (BI) >= 30 là yếu tố nguy cơ cao Riêng khu vực miền Bắc chỉ
số mật độ muỗi cao (>= 0,5 con/nhà) hoặc BI>=20 là yếu tố nguy cơ cao
1.4 Một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành của CBYT về giám sát dịch trên thế giới và tại Việt Nam
Trên thế giới và tại Việt Nam có rất ít tài liệu nghiên cứu về kiến thức, thực hành giám sát dịch tễ bệnh SXHD của CBYT xã Hiện nay có một số nghiên cứu tìm hiểu kiến thức, thực hành về giám sát dịch bệnh nói chung trên các đối tượng khác nhau
1.4.1 Nghiên cứu liên quan đến kiến thức, thực hành của CBYT về giám sát dịch trên thế giới
Một nghiên cứu cắt ngang mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về đáp ứng với đại dịch cúm của 240 bác sĩ từ một bệnh viện giảng dạy đại học ở Benin City, Nigeria từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2011 Kết quả cho thấy, có 15,4% người được hỏi có kiến thức kém, 60,4% người được hỏi có kiến thức trung bình và 24,2% người được hỏi có kiến thức tốt về đáp ứng với đại dịch cúm ở người Về thái độ có 46,2% bác sỹ có thái độ không tích cực và chỉ có 10% có thái độ tốt về việc đáp ứng trong trường hợp có đại dịch cúm ở người [32]
Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh SXHD tập trung vào các nội dung các biện pháp kiểm soát, thông báo và thực hành lâm sàng của nhóm chuyên gia chăm sóc sức khỏe năm 2012 tại miền Nam Đài Loan, kết quả cho thấy 42,5% bác sỹ có kinh nghiệm trong việc báo cáo các trường hợp mắc SXHD, trong khi tỷ lệ này ở y tá là 13,1% 57,2% ĐTNC không trả lời đúng thời gian phát ban
Trang 24điển hình ở da trên bệnh nhân SXHD, hơn một nửa ĐTNC coi SXHD là bệnh dịch lưu hành tại Đài Loan [48]
1.4.2 Nghiên cứu về kiến thức, thực hành của CBYT về giám sát dịch tại Việt Nam
Nghiên cứu kiến thức, thực hành về giám sát bệnh truyền nhiễm của nhân viên giám sát dịch tễ tại Hà Nội năm 2012 của tác giả Nguyễn Thành Đông [18] đã chỉ ra tỷ lệ cán bộ y tế xã/phường có điểm kiến thức về giám sát bệnh truyền nhiễm dưới trung bình và trung bình là tương đối cao lần lượt là 38,5% và 32, 5%, tỷ lệ cán bộ có điểm kiến thức tốt tương đối thấp chỉ đạt 3% Đối với một số bệnh truyền nhiễm thường gặp chỉ có 53% cán bộ giám sát dịch tễ xã/phường xác định đủ dấu hiệu lâm sàng bệnh SXHD Nghiên cứu cũng chỉ ra tỷ lệ cán bộ giám sát tuyến xã
có thực hành giám sát bệnh truyền nhiễm loại tốt, loại khá rất thấp lần lượt là 0,5%; 10,5%, trong khi tỷ lệ nhân viên tuyến xã/phường thực hành dưới trung bình rất cao
là 63,5%, cao nhất trong các đối tượng của nghiên cứu Tuy nhiên nghiên cứu lấy đối tượng cán bộ xã/phường bao gồm cả trạm trưởng trạm y tế, trong khi đối tượng này thường không trực tiếp tham gia hoạt động giám sát bệnh truyền nhiễm
Tác giả Nguyễn Ngọc San và Lê Quang Bách năm 2010 tại Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu cắt ngang có can thiệp về các biện pháp phòng muỗi truyền bệnh SXHD của cộng đồng và cán bộ y tế đã chỉ ra tỷ lệ cán bộ y tế nắm được nội dung giám sát thấp chỉ là 25,5%; tiêu chuẩn xác định xảy dịch chỉ là 14,5%; xác định đúng chỉ số bọ gậy quan trọng (BI) là 34,5% [17]
Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về giám sát dịch dựa vào cộng đồng của tác giả Hoàng Văn Thắng năm 2012 tại Hưng Yên[26] đã chỉ ra tỷ lệ cộng tác viên y tế có kiến thức chung về giám sát dịch dựa vào cộng đồng khá cao đạt 87,8%, tỷ lệ này ở nhóm cộng tác viên thú y là 59,8% Nghiên cứu cũng chỉ ra, tỷ lệ cộng tác viên có thực hành giám sát dịch đạt là 76,8%, tỷ lệ này ở đối tượng cộng tác viên y tế và cộng tác viên thú y lần lượt là 79,7% và 72,6%
Tác giả Nguyễn Thị Thương Diễm nghiên cứu kiến thức, thực hành của nhân viên y tế xã về giám sát bọ gậy và các yếu tố liên quan tại huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng năm 2017 chỉ ra có 59,4% NVYT có kiến thức chung về giám sát bọ gậy
Trang 25đạt, trong đó 61,5% NVYT biết môi trường muỗi hay đẻ trứng là nước sạch, 66,7% NVYT biết thời điểm tiến hành điều tra bọ gậy Thực hành chung về giám sát bọ gậy đạt là 43,7%, trong đó NVYT tính đúng chỉ số BI, CI, HI lần lượt là 66,7%, 49,0 % và 39,6% [10]
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phúc và cộng sự (2015) tại Lâm Đồng về đánh giá hiệu quả hoạt động của y tế cơ sở thông qua hoạt động giám sát bọ gậy chỉ ra tỷ
lệ cán bộ có kiến thức giám sát bọ gậy đúng là 75%, thực hành giám sát bọ gậy đúng chỉ đạt 65% [25]
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Lộc (2015) tại Lâm Đồng về đánh giá kiến thức, thực hành của cộng tác viên và hộ gia đình tại huyện trọng điểm của tỉnh Lâm Đồng cho thấy tỷ lệ cộng tác viên biết được nơi sinh sống của bọ gậy là 79%, trong khi thực hành đúng về giám sát bọ gậy chiếm 74,2% [16]
Nghiên cứu của Đỗ Kiến Quốc và cộng sự (2012) tại 4 tỉnh phía Nam trên đối tượng cộng tác viên và hộ gia đình cho thấy tỷ lệ cộng tác viên có kiến thức đúng về nơi sinh sống của véc tơ truyền bệnh là 79,5%, tính đúng hai chỉ số giám sát quan trọng (HI, BI) lần lượt là 39,7% và 87% [23]
1.4.3 Yếu tố liên quan đến thực hành giám sát dịch bệnh SXHD của cán bộ y tế
Qua tìm hiểu kết quả nghiên cứu liên quan đến hoạt động giám sát dịch học viên đã nhận thấy có mối liên quan giữa kiến thức, thực hành về giám sát dịch với các yếu tố sau: Yếu tố cá nhân, yếu tố tạo điều kiện cho hoạt động giám sát
1.4.3.1 Yếu tố cá nhân
Các yếu tố cá nhân liên quan đến thực hành giám sát dịch tễ bệnh SXHD của cán bộ y tế bao gồm: Tuổi, giới, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, đơn vị hành chính nơi cán bộ công tác, thâm niên công tác cụ thể như sau:
Liên quan với yếu tố tuổi, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Đông năm
2012 tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ nhóm NVYT tuyến xã tuổi dưới 30 có điểm thực hành cao hơn 2 lần so với nhóm dưới 30 tuổi [12]
Về giới tính, nghiên cứu về các yếu tố quyết định trong thực hành chuẩn
đoán bệnh SXHD của chuyên gia y tế làm việc tại các bệnh viện công ở Abidjan,
Bờ Biển Ngà năm 2015 đã chỉ ra rằng: CBYT nam giới có thực hành chuẩn đoán
Trang 26SXHD cao hơn nữ giới 1,88 lần (p=0,036) [36] Tại Việt Nam, tác giả Hoàng Văn Thắng đã chỉ ra CTV thú y là nam có kiến thức đạt cao gấp 3,2 lần CTV là nữ [26] Tác giả Nguyễn Thị Thương Diễm đã chỉ ra nam giới có kiến thức về giám sát bọ gậy thấp hơn 2,8 lần so với nữ giới CI 95% (1,2-6,6) [10].
Về trình độ học vấn, Một nghiên cứu năm 2011 về kiến thức, thái độ, thực
hành với bệnh Lao và một số yếu tố liên quan được tiến hành trên nhân viên y tế ở Kingston và Andrew, Jamaica Kết quả cho thấy <40% đối tượng được hỏi có kiến thức tốt về bệnh Lao, và có sự ảnh hưởng của trình độ học vấn và số năm công tác đối với kiến thức về bệnh Lao [57] Nghiên cứu của Nguyễn Thành Đông năm 2012
về kiến thức, thực hành giám sát bệnh truyền nhiễm của nhân viên giám sát dịch tễ tại Hà Nội đã chỉ ra có sự khác biệt giữa điểm trung bình giữa nhóm có trình độ đại học trở lên và nhóm có trình độ dưới đại học, tỷ lệ người có bằng đại học có điểm kiến thức cao gấp 1,78 lần so với nhóm có trình độ dưới đại học [12] Tỷ lệ CTV y
tế có trình độ từ cấp 3 trở lên có kiến thức đạt cao gấp 8 lần CTV y tế có trình độ dưới cấp 3 [26]
Tác giả Nguyễn Thị Thương Diễm chỉ ra có mối liên quan giữa cán bộ thuộc
xã nằm trong vùng nguy cơ dịch có thực hành giám sát bọ gậy cao gấp 2,8 lần cán
bộ xã không nằm trong vùng có nguy cơ, cán bộ trực tiếp phụ trách chương trình có thực hành giám sát bọ gậy cao gấp 5,9 lần cán bộ không trực tiếp phụ trách [10]
Liên quan đến kiến thức, Năm 2009, Yonathan Yap và các cộng sự đã thực
hiện một nghiên cứu cắt ngang về kiến thức, thái độ, thực hành đối phó với đại dịch cúm A H1N1 tại Singapore Kết quả cho thấy có sự liên quan giữa điểm kiến thức
và điểm thực hành (OR= 0,27; p<0,01) [42] Nghiên cứu cũng chỉ ra, nhân viên có kiến thức tốt có kỹ năng thực hành cao hơn nhân viên có kiến thức kém (OR= 2,75; p= 0,04) Tác giả Hoàng Văn Thắng (2012) chỉ ra CTV có kiến thức đạt có thực hành đạt cao gấp 1,6 lần các CTV có kiến thức không đạt [26]
Một số yếu tố khác liên quan đến thực hành như trình độ học vấn hay thâm niên phụ trách chương trình sẽ được tìm hiểu tiếp trong nghiên cứu này
Trang 271.4.3.2 Yếu tố từ quy định của chương trình SXHD và địa phương triển khai
Một số nghiên cứu đã chỉ ra có mối liên quan giữa các yếu tố như các công việc được phụ trách thêm, đã từng tham gia tập huấn, tuyến trên xuống giám sát hỗ trợ hoặc trang thiết bị hỗ trợ quá trình cán bộ thực hiện nhiệm vụ với kiến thức, thực hành của họ
Liên quan tới yếu tố kiêm nhiệm thêm công tác khác và hỗ trợ kinh phí, tác
giả Hoàng Văn Thắng đã chỉ ra có mối quan hệ giữa điều kiện công việc với thực hành giám sát dịch cụ thể là tỷ lệ CTV thú y phụ trách từ 300 hộ trở xuống có kiến thức cao gấp 2,6 lần CTV phụ trách 300 hộ trở lên [26] Cộng tác viên y tế được hỗ trợ kinh phí hoàn toàn có thực hành giám sát dịch cao gấp 1,5 lần CTV được hỗ trợ một phần [26]
Về việc tham gia tập huấn, năm 2014 tác giả Hoàng Ngọc Diệp tại Hà Nội
qua nghiên cứu mô tả cắt ngang đã chỉ ra có mối liên quan giữa kiến thức với việc tham gia tập huấn, cán bộ y tế đã từng tham gia tập huấn có kiến thức cao gấp 2,6 lần cán bộ chưa từng tham gia [14] Có mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành của cán bộ ở những xã có cán bộ tuyến trên xuống giám sát hỗ trợ với những
xã không có cán bộ xuống giám sát hỗ trợ Cán bộ xã được tuyến trên xuống giám sát có thực hành đạt cao gấp 2 lần cán bộ ở xã không có cán bộ tuyến trên xuống
giám sát Tương tự như vậy cán bộ y tế của xã có đầy đủ trang thiết bị có thực hành
đạt cao gấp 2,6 lần các xã không có đầy đủ trang thiết bị hỗ trợ Tác giả cũng chỉ ra
có mối liên quan giữa kiến thức với thái độ và thực hành, thái độ với kiến thức (p<0,05) [14]
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Lộc và cộng sự (2015) chỉ ra có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành giám sát bọ gậy của cộng viên với việc tổ chức tập huấn hàng năm (p<0.05), mối liên quan giữa kiến thức với thực hành giám sát của cộng tác viên với OR= 3,1, p<0,05 [16]
Liên quan đến việc kiểm tra, giám sát của tuyến trên với thực hành, tác giả Nguyễn Thị Thương Diễm cho thấy có mối liên quan giữa việc kiểm tra đột xuất của tuyến trên với thực hành giám sát bọ gậy (p<0,05) [10]
Trang 28Tác giả Hoàng Đức Hạnh và Đào Hữu Thân năm 2015 tại Hà Nội đã tiến hành so sánh kiến thức, thực hành trong phát hiện và đáp ứng với bệnh SXHD của cán bộ y tế tại các phường trọng điểm và phường không trọng điểm thuộc quận Đống Đa Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về kiến thức, thực hành trong phát hiện và đáp ứng với bệnh SXHD của CBYT ở phường điểm và các phường còn lại Trừ các kết quả tỷ lệ CBYT tại các phường điểm biết vòng đời trung bình của muỗi cao hơn tỷ lệ này ở các phường còn lại (37,9% so với 19,1%, p=0,01) Tuy nhiên, tỷ lệ CBYT tại phường trọng điểm phân loại SXHD thuộc nhóm nào trong phân loại BTN lại thấp hơn ở các phường còn lại (27,6% so với 51,4%, p=0,006) [13] Điều này có thể lý giải mặc dù trên lý thuyết phường trọng điểm được ưu tiên
về các hoạt động phòng chống SXHD trong chương trình MTYTQG nhưng tại các phường còn lại của quận Đống Đa, SXHD là vấn đề y tế quan trọng nên các hoạt động tại đó vẫn được triển khai
1.4.4 Phương pháp đánh giá kiến thức, thực hành trong các nghiên cứu về kiến thức, thực hành giám sát dịch
Để đánh giá kiến thức về giám sát một bệnh dịch cụ thể, các nghiên cứu hiện nay tại Việt Nam thường sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn hoặc phát vấn đến đối tượng nghiên cứu Kết quả sau khi thu thập được mã hóa thông qua điểm và phân loại theo các mức độ khác nhau
Đối với đánh giá thực hành giám sát một bệnh dịch hoặc hoạt động cụ thể, việc quan sát trực tiếp các hoạt động thực tế diễn ra để đánh giá thực hành là biện pháp tối ưu nhất Ví dụ trong nghiên cứu của tác giả Hoong Văn Nhật về “thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành đối với việc ứng phó với lũ lụt, lụt bão của người dân huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh năm 2013” [20] tác giả sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp hành vi chuẩn bị đối phó với lụt bão thông qua việc gia cố nhà cửa… Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi tại thời điểm thu thập số liệu không ghi nhận
ca bệnh để quan sát nên các nghiên cứu thường đánh giá thông qua các tình huống giả định Việc sử dụng tình huống giả định sẽ mang lại sự thuận tiện cho nhà nghiên cứu, nhưng thông qua tình huống giả định chỉ biết được kỹ năng thực hành mà không thấy được toàn bộ quá trình thực hành diễn ra trên thực tế Ví dụ như trong
Trang 29nghiên cứu “kiến thức, thái độ, thực hành về giám sát dịch dựa vào cộng đồng của cộng tác viên y tế và cộng tác viên thú y của 24 xã triển khai dự án thuộc 5 huyện triển khai dự án của tỉnh Hưng Yên năm 2012” của tác giả Hoàng Văn Thắng (2012) tại Hưng Yên, tác giả đánh giá thực hành thông qua tình huống giả định và phát vấn tự điền đến đối tượng nghiên cứu [26]; Trong nghiên cứu “kiến thức, thực hành về giám sát bệnh truyền nhiễm của nhân viên giám sát dịch tễ tại Hà Nội năm tác giả Nguyễn Thành Đông dùng câu hỏi tình huống để đánh giá kỹ năng thực hành giám sát dịch của đối tượng phỏng vấn với một số bệnh truyền nhiễm [12]
1.5 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Vĩnh Phúc nằm ở phía bắc châu thổ Sông Hồng, có diện tích 1370,7 Km2
, dân số 1.065.000 người, mật độ dân số 854 người/ Km2, gồm ba vùng sinh thái: đồng bằng, trung du, miền núi Vĩnh phúc nằm trong vùng khí hậu gió mùa thuận lợi cho véc tơ truyền bệnh phát triển
Tỉnh Vĩnh Phúc tiếp giáp với một số huyện của Hà Nội, tiếp giáp với các Tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang có trục Quốc lộ 2, Đường cao tốc Nội Bài-Lào Cai xuyên qua tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán Bên cạnh đó, Vĩnh Phúc có nhiều trường học, khu công nghiệp đóng trên địa bàn như trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, Trung tâm giáo dục quốc phòng, Trường cao đẳng công nghiệp 3 (Thuộc thị xã Phúc Yên); trường Đại Học Hùng Vương (Huyện Tam Dương); một số khu công nghiệp như KCN Khai Quang (Thành phố Vĩnh Yên); KCN Bá Thiện (Huyện Bình Xuyên); KCN Phúc Yên (Thị xã Phúc Yên) với mật độ dân cư tại khu vực này rất đông đúc và cũng là điều kiện thuận lợi cho việc lây truyền bệnh truyền nhiễm từ nơi khác về
Vĩnh Phúc có 9 huyện, thị xã, thành phố; 137 xã, phường có 40 xã miền núi Đến nay Vĩnh Phúc thuộc tỉnh nhóm B về sốt xuất huyết (Số ca mắc sốt xuất huyết trong giai đoạn 5 năm từ 2-100 ca/100.000 dân Đến ngày 15/12/2017, có 125/137
xã trên địa bàn tỉnh ghi nhận các trường hợp mắc SXH, cao nhất là xã Lý Nhân (Vĩnh Tường) với 29 ca mắc Giám sát dịch tễ SXHD là hoạt động thường xuyên tại trạm được phân cho một cán bộ phụ trách công tác giám sát dịch tễ đồng thời phụ trách các hoạt động của chương trình SXHD của trạm Hàng tháng, cán bộ giám sát
Trang 30dịch tễ tuyến xã có nhiệm vụ điều tra xác minh các ca mắc SXHD tại cộng đồng, tại
cơ sở KCB trên địa bàn, triển khai hoạt động điều tra véc tơ tại cộng đồng và báo cáo lên tuyến trên
Trang 311.6 Khung lý thuyết
Sau khi nghiên cứu tổng quan tài liệu và dựa trên các văn bản hướng dẫn
giám sát SXHD hiện nay, học viên xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu này
như sau:
Yếu tố tạo điều kiện
- Kiểm tra/giám sát hỗ trợ của cấp trên (*);
- Hỗ trợ kinh phí cho người giám sát (*);
- Có thuộc xã/ phường trọng điểm SXH (*);
- Sự phối hợp của YTTB và người dân;
Yếu tố tạo điều kiện
- Kiểm tra/giám sát hỗ trợ của cấp trên (*);
- Hỗ trợ kinh phí cho người giám sát (*);
- Có thuộc xã/ phường trọng điểm SXH (*);
- Sự phối hợp của YTTB và người dân;
Yếu tố tạo điều kiện
- Kiểm tra/giám sát hỗ trợ của cấp trên (*);
- Hỗ trợ kinh phí cho người giám sát (*);
- Có thuộc xã/ phường trọng điểm SXH (*);
- Sự phối hợp của YTTB và người dân;
Kiến thức về giám sát dịch tễ bệnh SXHD:
- Phân nhóm bệnh SXHD;
- Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân giám sát
- Đặc điểm chung của bệnh;
- Đặc tính sinh học của véc tơ truyền bệnh;
- Nội dung giám sát dịch tễ;
- Nguồn thu thập thông tin ca bệnh giám sát
- Phân nhóm ca bệnh giám sát
- Mục đích giám sát véc tơ
- Chỉ số giám sát muỗi trưởng thành;
- Chỉ số giám sát lăng quăng/bọ gậy;
- Ngưỡng cảnh báo nguy cơ
Thực hành giám sát dịch tễ bệnh SXHD:
- Sử dụng dụng cụ trong giám sát véc tơ;
- Khai thác thông tin trong giám sát bệnh nhân;
- Bắt muỗi trưởng thành;
- Phân biệt muỗi Aedes;
- Tìm lăng quăng/bọ gậy;
- Phân biệt lăng quăng/bọ gậy Aedes;
- Tính các chỉ số giám sát;
- Tổng hợp phân tích các chỉ số giám sát véc tơ;
Điều kiện triển khai: Yếu tố
xuất phát từ quy định chương
- Kiêm nhiệm thêm nhiệm
vụ khác;
- Kiểm tra/giám sát hỗ trợ của cấp trên
- Hỗ trợ kinh phí;
Trang 32CHƯƠNG 2- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu định lượng: Cán bộ trạm y tế phụ trách chương trình
SXHD trên địa bàn 125/137 xã có bệnh nhân mắc SXHD của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017;
Đối tượng nghiên cứu định tính: Lãnh đạo, trưởng khoa KSDB&HIV,
trưởng trạm y tế xã, cán bộ phụ trách chương trình phòng chống SXHD tuyến xã;
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu định lượng:
Là cán bộ trạm y tế phụ trách chương trình SXHD (CBYT) từ 1 tháng trở lên tính tới thời điểm thu thập số liệu chính thức, đồng ý tham gia nghiên cứu;
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Là CBYT đang nghỉ thai sản hoặc đang đi học dài hạn
CBYT không tham gia giám sát dịch tễ bệnh SXHD liên lục trong vòng 6 tháng tính tới thời điểm thu thập số liệu chính thức;
Không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc sau 3 lần đến không phỏng vấn được
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 1/2018 đến tháng 8/2018;
Địa điểm nghiên cứu: Tại 125/137 xã thuộc tỉnh Vĩnh Phúc (125 xã ghi nhận bệnh
nhân mắc SXHD năm 2017- phụ lục 7)
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng;
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Mẫu định lượng: áp dụng công thức tính cỡ mẫu
- Trong đó:
n: Cỡ mẫu tối thiểu
Trang 33 Z: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95%, Z = 1,96
P: Tỷ lệ ĐTNC ước tính có thực hành chung về giám sát dịch tễ bệnh SXHD đạt Do chưa có nghiên cứu nào chỉ ra tỷ lệ cán bộ y tế có thực hành chung
về giám sát dịch tễ bệnh SXHD đạt nên chọn P= 0,5 để cỡ mẫu đạt được là tối đa
d = 0,09 (sai số mong muốn)
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho 1 tỷ lệ ta tính được n =119 người, do cỡ mẫu tính toán được xấp xỉ số lượng xã của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017 ghi nhận bệnh nhân SXHD, trong nghiên cứu này cỡ mẫu là 118 đối tượng thuộc xã có bệnh nhân mắc SXHD và đồng ý tham gia nghiên cứu
2.4.2 Mẫu định tính
Chọn mẫu có chủ đích các đối tượng lãnh đạo TTYT, trưởng khoa KSDB&HIV, trạm trưởng trạm y tế xã; cán bộ phụ trách chương trình SXHD xã cụ thể như sau:
Trưởng khoa
KSDB&HIV
02 người TTYT H.Yên Lạc (Huyện ghi nhận ca mắc
SXHD thuộc nhóm cao nhất tỉnh) TTYT H.Tam Dương (Huyện thuộc nhóm có
ca mắc thấp nhất tỉnh) Trạm trưởng
trạm y tế xã
03 người Chia các xã theo số lượng ca mắc, chọn có chủ
đích xã có ca mắc cao nhất, xã có ca mắc thấp nhất, xã có ca mắc trung bình Các xã được chọn là Lý Nhân (Huyện Vĩnh Tường); Phường Hùng Vương (thị xã Phúc Yên), xã Đạo Đức (Huyện Bình Xuyên)
TLN Cán bộ trạm 10 người Cán bộ phụ trách chương trình SXHD của trạm
Trang 34y tế xã (2 cuộc) y tế tại Thị xã Phúc Yên và huyện Lập Thạch
Tổng số
PVS: 6 người (6 cuộc);
TLN: 10 người (2 cuộc)
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Phương pháp thu thập thông tin định lượng:
2.5.1.1 Công cụ thu thập số liệu:
- Sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc (Phụ lục 3) đối với toàn bộ ĐTNC để tìm hiểu kiến thức, thực hành giám sát dịch tễ SXHD được thiết kế dựa trên một số hướng dẫn giám sát phòng chống SXHD hiện nay đang áp dụng
Cấu trúc gồm 4 phần: Thông tin chung ĐTNC (Từ câu C1- câu C5); Yếu tố xuất phát từ các điều kiện triển khai (từ câu C6- câu C10); Kiến thức ĐTNC (từ câu C11-C28), Kỹ năng thực hành ĐTNC từ câu 29 đến câu 31
- Sử dụng bảng kiểm quan sát để đánh giá thực hành giám sát véc tơ (Phụ lục 2);
- Tổ chức tập huấn kỹ (2 lần) cho các điều tra viên trước khi thu thập số liệu, trong quá trình tập huấn điều tra viên trước và sau khi tập huấn để chắc chắn các điều tra viên có trình độ và các tiếp cận ĐTNC là tương đương nhau
- Phỏng vấn trực tiếp ĐTNC về kiến thức liên quan đến giám sát dịch tễ bệnh SXHD và kỹ năng thực hành giám sát bệnh nhân tại trạm y tế thông qua tình huống giả định có bệnh nhân nghi mắc SXHD Việc sử dụng tình huống giả định do tại thời điểm thu thập số liệu không nghi nhận bệnh nhân mắc SXHD nên tình huống
Trang 35đặt ra cho đối tượng nghiên cứu là: có trường hợp nghi mắc SXHD thì đối tượng nghiên cứu thu thập thông tin gì về bệnh nhân, thu thập các thông tin đó ở đâu
- Bảng kiểm quan sát giám sát véc tơ: ĐTNC được điều tra viên yêu cầu tiến hành hoạt động bắt muỗi và điều tra lăng quăng bọ gậy tại 5 hộ gia đình bất kỳ Điều tra viên quan sát quá trình giám sát véc tơ thông qua hoạt động bắt muỗi và phân biệt
muỗi Aedes cái, tìm kiếm lăng quăng/bọ gậy, ghi chép thông tin và tính các chỉ số
Các ĐTNC được phát các phiếu điều tra thô, kết quả giám sát ghi chép trong phiếu điều tra được ĐTNC điều tra viên so sánh kết quả điều tra viên ghi lại Các mẫu muỗi và lăng quăng/bọ gậy được điều tra viên chuẩn bị từ trước để ĐTNC phân biệt, thực hành tính chỉ số giám sát dựa trên kết quả giám sát được ghi sẵn trên phiếu do nhà nghiên cứu chuẩn bị
2.5.2 Phương pháp thu thập thông tin định tính
Nghiên cứu viên trực tiếp thu thập số liệu định tính thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
- Số liệu được thu thập trong nghiên cứu dựa trên hướng dẫn PVS và hướng dẫn TLN Qúa trình PVS và TLN được thu âm qua máy ghi âm và ghi chép
+ Phỏng vấn sâu: Lãnh đạo Trung tâm y tế (Phụ lục 5A); Trưởng khoa KSDB&HIV (Phụ lục 5B); Trạm trưởng trạm y tế (Phụ lục 5C)
+ Thảo luận nhóm: Cán bộ phụ trách chương trình SXHD trạm y tế xã (Hướng dẫn TLN tại phụ lục 5D)
2.6 Phương pháp phân tích số liệu
2.6.1 Phương pháp phân tích số liệu định lượng
Nhập và làm sạch số liệu: Số liệu thu thập bằng phiếu phỏng vấn được nhập bằng phần mền Epidata 3.1 Trong quá trình nhập liệu, nhóm nghiên cứu tiến hành nhập lại 10% số phiếu khảo sát để đánh giá chất lượng nhập liệu
Phân tích số liệu: Sau khi được xử lý làm sạch được phân tích bằng phần mền phân tích số liệu SPSS Trong đó
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả kiến thức, thực hành giám sát dịch
tễ bệnh SXHD của cán bộ phụ trách chương trình phòng chống SXHD tuyến xã
Trang 36- Sử dụng phương pháp thống kê suy luận để tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới thực hành giám sát dịch tễ bệnh SXHD của cán bộ phụ trách chương trình SXHD tuyến
xã
- Phần mô tả: Sử dụng thông số như tần số, tỷ lệ %
- Phần phân tích: Đưa ra những nhận định về một số yếu tố liên quan đến thực hành
về giám sát dịch tễ bệnh SXHD thông qua các kiểm định χ2 và phân tích hồi quy đa biến
Dựa trên mục tiêu nghiên cứu và tham khảo các nghiên cứu liên quan được tiến hành trước đó, học viên đánh giá điểm kiến thức và thực hành chung Cụ thể
- Điểm kiến thức giám sát dịch tễ gồm 18 câu với 18 điểm,
- Điểm thực hành giám sát dịch tễ gồm 12 câu với 12 điểm trong đó 3 câu tìm hiểu
kỹ năng thực hành giám sát bệnh nhân bằng bộ câu hỏi và 9 câu tìm hiểu thực hành giám sát véc tơ bằng bảng quan sát thực hành
2.6.2 Biến số nghiên cứu
2.6.2.1 Biến định lượng (Chi tiết tại phụ lục 1)
- Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: Tuổi, giới, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, thâm niên phụ trách chương trình SXHD
- Điều kiện triển khai (Điều kiện xuất phát từ quy định của chương trình và điều kiện triển khai tại địa phương): Kiêm nhiệm thêm nhiệm vụ khác; Hỗ trợ kinh phí; giám sát hỗ trợ kỹ thuật của tuyến trên, tần xuất giám sát, đã từng tham gia tập huấn (Nội dung tập huấn, tần xuất tập huấn)
- Kiến thức: Phân nhóm bệnh SXHD; Đặc điểm chung của bệnh; Đặc tính sinh học của véc tơ truyền bệnh; Nội dung giám sát dịch tễ; Phân loại ca bệnh; Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân giám sát; Mục đích giám sát véc tơ, Các chỉ số giám sát muỗi trưởng thành; Các chỉ số giám sát lăng quăng/bọ gậy; Ngưỡng cảnh báo nguy cơ
- Thực hành: Kỹ năng thu thập thông tin ca bệnh giám sát, Khai thác thông tin trong
giám sát ca bệnh; Bắt muỗi trưởng thành; Phân biệt muỗi Aedes cái; Tìm lăng quăng/bọ gậy; Phân biệt lăng quăng/bọ gậy Aedes; Tính các chỉ số giám sát; Tổng
hợp phân tích các chỉ số giám sát véc tơ;
Trang 37- Thông tin từ các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được lấy từ biên bản gỡ băng và ghi chép thêm sau đó phân tích vào từng mục tiêu nghiên cứu và tổng hợp vào báo cáo
2.6.2.2 Các chủ đề nghiên cứu định tính
Các thông tin làm rõ trong nghiên cứu định tính bao gồm:
- Thông tin của đối tượng nghiên cứu;
- Kiến thức về giám sát dịch tễ bệnh SXHD: Hiểu biết về bệnh SXHD; Nội dung, mục đích giám sát dịch tễ
- Thực hành giám sát dịch tễ bệnh truyền nhiễm: Kỹ năng điều tra giám sát bệnh
nhân, Hoạt động bắt muỗi và phân biệt muỗi Aedes với các loài muỗi khác; tìm lăng quăng/bọ gậy và phân biệt lăng quăng/bọ gậy Aedes; Tính các chỉ số giám sát; và tổng
hợp phân tích các chỉ số giám sát véc tơ;
- Một số yếu tố liên quan đến thực hành giám sát dịch tễ bệnh SXHD của cán bộ phụ trách chương trình SXHD
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá và quy ước tính điểm
2.7.1 Quy ước tính điểm (chi tiết tại phụ lục 2)
Sử dụng bộ câu hỏi tìm hiểu kiến thức, thực hành của cán bộ y tế về giám sát dịch tễ bệnh SXHD dựa trên nội dung hướng dẫn giám sát phòng, chống SXHD quy định Gồm 30 câu trong đó kiến thức 18 câu từ câu C11 đến C28, thực hành gồm 3
từ câu 29 đến câu 31 Với mỗi ý trả lời đúng và đầy đủ được 1 điểm, trả lời sai hoặc không đầy đủ được 0 điểm
2.7.2 Tiêu chuẩn đánh giá
Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức về giám sát dịch tễ bệnh: kiến thức gồm 18 câu, trả lời đúng và đủ ý mỗi câu được 1 điểm tương ứng với 18 điểm kiến thức Điểm 9 tương đương với khoảng phân vị 50% được coi là điểm đánh giá kiến thức đạt hay không đạt của đối tượng nghiên cứu Điểm kiến thức >=9 điểm là kiến thức đạt, dưới 9 điểm là kiến thức không đạt
Tiêu chuẩn đánh giá thực hành đối với việc giám sát dịch tễ bệnh SXHD gồm 12 ý, nội dung từ câu 29 đến câu 31 của bộ câu hỏi và 9 ý thông qua bảng
Trang 38kiểm Mỗi câu thực hành trả lời đúng được 1 điểm, điểm thực hành>= 6 điểm là thực hành đạt, < 6 điểm là thực hành không đạt
Do chưa có tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thực hành của cán bộ y tế về giám sát dịch chuẩn nên tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thực hành giám sát dịch của nghiên cứu này được nhóm nghiên cứu đưa ra sau khi tham khảo các tiêu chuẩn đánh giá của các nghiên cứu có nội dung tương tự [15, 26]
2.8 Hạn chế của nghiên cứu
Phương pháp thiết kế cắt ngang tìm hiểu về kiến thức, thực hành giám sát dịch tễ bệnh SXHD của đối tượng có các câu hỏi như nội dung, thời gian tập huấn hoặc tần suất giám sát Do vậy, có tiềm tàng các sai số nhớ lại, đặc biệt với các câu hỏi liên quan tới việc ước lượng
Trong quá trình thu thập số liệu không ghi nhận ca bệnh mắc SXHD nên đánh giá thực hành giám sát ca bệnh thông qua phỏng vấn có thể những gì ĐTNC trả lời không phản ánh đúng với những gì xảy ra trên thực tế điều tra
Việc quan sát thực hành bắt muỗi hoặc điều tra lăng quăng/bọ gậy có thể làm ĐTNC mất tự nhiên và có xu hướng thể hiện tốt hơn so với thực tế diễn ra Việc chuẩn bị các mẫu muỗi, bọ gậy để ĐTNC phân biệt chưa đầy đủ các loài khiến việc phân biệt có thể do suy đoán Quan sát quá trình giám sát véc tơ tại thực địa được ít
hộ mỗi đối tượng nghiên cứu chỉ quan sát được 5 hộ trong khi yêu cầu mỗi lượt giám sát véc tơ phải điều tra tối thiểu 30 hộ, việc điều tra ít hộ có thể gặp sai số khi những hộ đầu tiên điều tra họ thường điều tra cẩn thận và kỹ lưỡng hơn./
Một số khía cạnh còn chưa đề cập đến trong quá trình phân tích như việc CBYT
có thuộc xã trọng điểm về SXHD hay không? Địa bàn nghiên cứu thuộc thành thị hay nông thôn? Hoặc xã có triển khai khám chữa bệnh bảo hiểm hay không…điều này cũng ít nhiều cũng ảnh hưởng đến quá trình thực hành giám sát dịch của cán bộ
y tế
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học trường Đại học YTCC chấp thuận tại văn bản số 028/2018/YTCC-HD3 ngày 29/01/2018
Trang 39Quá trình thu thập số liệu đƣợc sự đồng ý của cơ quan nơi cán bộ công tác và
sự đồng ý của đối tƣợng nghiên cứu
Các thông tin thu thập trong nghiên cứu không có vấn đề gì tế nhị, các thông tin đƣợc đảm bảo bí mật và không sử dụng với mục đích khác ngoài mục đích nghiên cứu
Trang 40CHƯƠNG 3- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu Tần số
nữ giới chiếm 73,7%, nam giới là 31 người chiếm 26,3% Độ tuổi dưới 40 tuổi chiếm phần lớn 60,2%, lớn hơn hoặc bằng 40 tuổi là 47 người chiếm 39,8% Tỷ lệ cán bộ có trình độ trung cấp cao nhất là 81,4%, tỷ lệ cán bộ trình độ đại học và cao đẳng là 22 người chiếm 18,6% Tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn là y sỹ và bác
sỹ là 73 người chiếm 61,9%, các cán bộ có trình độ khác là 38,1% (trình độ điều dưỡng trung học, CNYTCC, nữ hộ sinh, Dược, kế toán….)
Về thâm niên phụ trách chương trình phòng chống SXHD có 67 ĐTNC trả lời có thâm niên công tác trên 3 năm chiếm 56,8% so với 43,4% ĐTNC trả lời có thâm niên công tác từ 1 đến 3 năm