84 PHỤC LỤC 2: BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THỰC HÀNH SỬ DỤNG THUỐC BVTV VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI DÂN TRỒNG CAM, QUÝT TẠI HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN .... Tr
Trang 2[50]r
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
VŨ HỮU TUYÊN
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRỒNG CAM, QUÝT TẠI HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô tại trường Đại học Y tế công cộng đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn đến Tiến sỹ Trần Thị Tuyết Hạnh đã tận tình, tâm huyết hỗ trợ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến lãnh đạo Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã tạo điều kiện trong công việc và động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Tôi cũng xin cảm ơn cán bộ Hội Chữ thập đỏ và lãnh đạo chính quyền 02 xã Dương Phong, Quang Thuận, cán bộ Hội Chữ thập đỏ huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Cạn, các điều tra viên đã tạo điều kiện và hỗ trợ nhiệt tình cho tôi thu thập số liệu nghiên cứu
Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên tinh thần, giúp đỡ tôi trong học tập cũng như hoàn thành luận văn này
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên Thế giới và Việt Nam 8
1.3 Một số nghiên cứu trên thế giới và trong nước về kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan tới thực hành sử dụng thuốc BVTV 9
1.4 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 18
1.5 Khung lý thuyết 18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng 20
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính 20
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.2.1 Thời gian 21
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 21
2.3 Thiết kế nghiên cứu 21
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 21
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng 21
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính 22
2.5 Phương pháp chọn mẫu 23
2.5.1 Phương pháp chọn mẫu định lượng 23
Trang 52.5.2 Phương pháp chọn mẫu định tính 23
2.6 Phương pháp thu thập thông tin 24
2.6.1 Phương pháp thu thập thông tin định lượng 24
2.6.2 Phương pháp thu thập thông tin định tính 26
2.7 Các biến số nghiên cứu: 26
2.7.1 Các biến số nghiên cứu định lượng: 26
2.7.2 Các chủ đề nghiên cứu định tính: 27
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu: 27
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 28
2.9.1 Phương pháp phân tích số liệu định lượng 28
2.9.2 Phương pháp phân tích số liệu định tính 28
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 28
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 30
3.1.1 Đặc điểm tuổi, giới, dân tộc và trình độ học vấn 30
3.1.2 Diện tích trồng cam, quýt và loại dụng cụ phun thuốc BVTV, thâm niên và số đợt phun trung bình hàng năm 31
3.2 Kiến thức về sử dụng thuốc BVTV 32
3.3 Thực hành về sử dụng thuốc BVTV 43
3.4 Tiếp cận thông tin về thuốc BVTV 54
3.5 Một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn 56
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 61
4.1 Kiến thức về sử dụng thuốc BVTV 61
4.2 Thực hành sử dụng thuốc BVTV 66
Trang 64.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành sử dụng thuốc BVTV
71
4.4 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 73
KẾT LUẬN 75
1 Kiến thức và thực hành sử dụng thuốc BVTV 75
2 Thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn 75
3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn 76
KHUYẾN NGHỊ 77
1 Đối với chính quyền địa phương 77
2 Đối với người dân 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤC LỤC 1: BẢNG BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 84
PHỤC LỤC 2: BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THỰC HÀNH SỬ DỤNG THUỐC BVTV VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI DÂN TRỒNG CAM, QUÝT TẠI HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN 92
PHỤ LỤC 3: BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH SỬ DỤNG THUỐC BVTV CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRỒNG CAM, QUÝT 116
PHỤ LỤC 4: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRỒNG CAM, QUÝT VỀ SỬ DỤNG THUỐC BVTV AN TOÀN 118
PHỤ LỤC 5: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRỒNG CAM, QUÝT VỀ SỬ DỤNG THUỐC BVTV AN TOÀN 120
PHỤ LỤC 6: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU VỚI CÁC BÊN LIÊN QUAN VỀ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ THUỐC BVTV 122
PHỤ LỤC 7: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU VỚI NGƯỜI BÁN THUỐC BVTV 124
PHỤC LỤC 8: NGUYÊN TẮC 4 ĐÚNG TRONG SỬ DỤNG AN TOÀN THUỐC BVTV 126
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Phân loại tính độc của thuốc BVTV theo WHO 5
Bảng 2: Đặc điểm tuổi và giới, dân tộc của đối tượng nghiên cứu 30
Bảng 3: Diện tích trồng cam, quýt và loại dụng cụ phun thuốc BVTV, thâm niên và số đợt phun trung bình hàng năm 31
Bảng 4: Trung bình điểm kiến thức giữa các nhóm dân tộc 32
Bảng 5: Kiến thức về tác dụng và tác hại của thuốc BVTV 33
Bảng 6: Kiến thức về đường xâm nhập, tác hại của thu hoạch sớm sau phun và đối tượng không nên đi phun 34
Bảng 7: Kiến thức về thông tin cần đọc, tìm hiểu khi mua thuốc BVTV và 36
Bảng 8: Nhóm kiến thức về thời điểm, thời tiết và hướng gió phun an toàn 37
Bảng 9: Nhóm kiến thức về sử dụng thuốc BVTV đúng cách 38
Bảng 10: Kiến thức về xử lý thuốc BVTV dư thừa và vỏ bao bì, dụng cụ sau phun 40
Bảng 11: Kiến thức về phòng ngừa phơi nhiễm thuốc BVTV 41
Bảng 12: Kiến thức về dấu hiệu bị nhiễm độc thuốc BVTV và cách xử trí 42
Bảng 13: Nhóm thực hành lựa chọn đúng thuốc khi mua và kiểm tra dụng cụ trước khi phun 44
Bảng 14: Một số loại thuốc BVTV được thu thập tại thực địa 45
Bảng 15: Nhóm thực hành lựa chọn thời điểm, thời tiết và hướng gió khi phun 46
Bảng 16: Nhóm thực hành liều lượng và cách hòa tan thuốc BVTV 48
Bảng 17: Nhóm thực hành xử lý, bảo quản thuốc và dụng cụ sau phun 49
Bảng 18: Nhóm thực hành vệ sinh cá nhân sau phun thuốc BVTV 53
Bảng 19: Nhóm thực hành xử trí khi bị nhiễm độc thuốc BVTV 53
Bảng 20: Nguồn cung cấp thông tin về thuốc BVTV 54
Bảng 21: Loại thông tin về thuốc BVTV mà ĐTNC đã được nhận 55
Bảng 22: Thông tin về thuốc BVTV mà ĐTNC mong nhận thêm 56
Bảng 23: Mối liên quan giữa nhóm dân tộc và trung bình điểm thực hành 57
Bảng 24: Trung bình điểm thực hành theo nhóm tuổi và giới 58
Bảng 25: Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn 59
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Thực hành lựa chọn địa điểm pha thuốc BVTV 47
Biểu đồ 2: Thực hành xử lý vỏ bao bì sau phun 50
Biểu đồ 3: Địa điểm rửa dụng cụ sau phun 51
Biểu đồ 4: Thực hành sử dụng bảo hộ lao động khi pha, phun thuốc BVTV 52
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Khung lý thuyết nghiên cứu 19 Hình 2: Mô hình các bước nghiên cứu 25
Trang 10ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc
(Food and Agriculture Organization of the United Nations)
GLOBALGAP Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu (Global Good
Agricultural Practices)
POPs Các hợp chất hữu cơ bền vững trong môi trường
(Persistent Organic Pollutants) THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
PTNT Phát triển nông thôn
VIETGAP Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam
(Vietnamese Good Agricultural Practices) WHO Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)
Trang 11TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Thuốc bảo vệ thực vật là một trong những yếu tố chính trong việc phòng trừ sâu, bệnh gây hại và bảo vệ sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực trên thế giới Tuy nhiên, thuốc BVTV thường là các loại hóa chất độc hại với sức khoẻ con người và có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường sinh thái nếu không được quản lý chặt chẽ và
sử dụng đúng cách Huyện Bạch Thông được coi là vựa cam, quýt của tỉnh Bắc Kạn Những năm gần đây đời sống người dân được cải thiện nhờ phát triển kinh tế từ cây cam, quýt đem lại hiệu quả cao Cùng với việc phát triển diện tích trồng cam quýt quá mức thì thực trạng sử dụng thuốc BVTV cũng đang ở mức đáng báo động Trước tình hình thực tế đó, chúng tôi chọn 02 xã Dương Phong và Quang Thuận là 02 xã có diện tích trồng cam, quýt lớn nhất của huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn để tiến hành
nghiên cứu “Kiến thức, thực hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và một số yếu tố liên quan của người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn năm 2018” Mục tiêu nghiên cứu là mô tả kiến thức, thực hành sử dụng thuốc
BVTV của người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt và một số yếu tố liên quan Thiết
kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, với phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính Trong đó nghiên cứu định lượng tiến hành trên 385 đối tượng Nghiên cứu định tính được tiến hành để làm rõ hơn kết quả nghiên cứu định lượng
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trung bình điểm kiến thức của ĐTNC là 11,5 (điểm tối đa là 23), trong đó ĐTNC có điểm số thấp nhất là 5 và cao nhất là 20 Trung bình điểm thực hành của ĐTNC là 14,6 (điểm tối đa là 23), trong đó ĐTNC có điểm thực hành thấp nhất là 7 và cao nhất là 20 Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính, chúng tôi tìm thấy có mối liên quan giữa kiến thức, trình độ học vấn, nhóm dân tộc
và thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn (p < 0,05) Dựa trên kết quả nghiên cứu, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị cho chính quyền địa phương và người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt như: quy hoạch và xây dựng các điểm thu gom, xử lý vỏ bao
bì thuốc BVTV, tăng cường sử dụng máy cắt cỏ, thuốc trừ sâu sinh học, áp dụng các
mô hình trồng cây ăn quả và sử dụng thuốc BVTV hiệu quả, an toàn
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành nông nghiệp đã được hình thành và phát triển từ khoảng 10.000 năm trước nhưng cho đến ngày nay sâu, bệnh vẫn luôn là vấn đề chính ảnh hưởng đến sản lượng lương thực trên thế giới Sâu, bệnh gây hại là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng suy dinh dưỡng của khoảng 60% dân số thế giới [63] Do đó, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc trừ sâu, bệnh; giúp bảo vệ và tăng năng suất cây trồng thêm khoảng 20 - 30%, trong đó chủ yếu là cây lương thực, rau, hoa quả [14]; đồng thời giúp đảm bảo vấn đề an ninh lương thực cho các quốc gia [3] Việc sử dụng thuốc BVTV ở thế giới luôn luôn tăng [63] Giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới năm 2000 là 29,2 tỷ USD và năm 2010 khoảng
30 tỷ USD Tỷ lệ tăng trưởng thuốc BVTV trong những năm gần đây luôn duy trì từ
Theo ước tính, lượng thuốc BVTV có hiệu quả trực tiếp đến sâu bệnh và cỏ dại
là chỉ dưới 1%, phần còn lại (trên 99%) sẽ tác động vào môi trường sinh thái [26, 44, 68] Đặc biệt, thuốc BVTV còn ảnh hưởng rất tiêu cực đến sức khoẻ của con người Hàng năm có khoảng 3 triệu vụ ngộ độc do thuốc BVTV trên thế giới, trong đó có khoảng 220.000 ca tử vong [26] Điển hình như tại Sơn La tháng 4/2018, 78 người phải nhập viện vì bị ngộ độc thuốc BVTV do người dân pha, phun thuốc diệt cỏ có
Trang 13hoạt chất Paraquat gần nguồn nước sinh hoạt, đây là hoạt chất bị loại ra khỏi danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam từ năm 2017 [6] Việc sử dụng rộng rãi thuốc BVTV cũng đã và đang làm chết những loài động vật như các loài cá, chim, các loài ong thụ phấn và đặc biệt làm cho vấn đề kháng thuốc của các loài sâu bệnh ngày càng gia tăng, gây ra những tác hại nghiêm trọng cho môi trường sinh thái [26]
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về thực trạng sử dụng thuốc BVTV chủ yếu tập trung trên đối tượng là người dân trồng rau, trồng lúa tại các tỉnh đồng bằng nơi sông Hồng và sông Cửu Long và Tây Nguyên [10, 12, 15, 17-19, 23, 32, 34, 35] Một số nghiên cứu được tiến hành trên đối tượng người dân trồng chè tại miền núi phía Bắc
và trồng cà phê tại Tây Nguyên [13, 22, 33] Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này chưa đi sâu khai thác nghiên cứu về thực trạng sử dụng thuốc BVTV trên đối tượng
là người dân tộc thiểu số
Huyện Bạch Thông được coi là vựa cam, quýt của tỉnh Bắc Kạn với tổng diện tích khoảng 1.800 ha Trong đó, diện tích trồng tập trung chủ yếu ở 02 xã: Quang Thuận (550 ha), Dương Phong (hơn 600 ha) [8] Hàng năm, cây cam, quýt mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân Nhìn thấy lợi ích của cây cam, quýt, người dân trong huyện đã mở rộng dần diện tích đất trồng, thậm chí vào sâu trong các khu rừng Cùng với đó, lượng thuốc BVTV được người nông dân sử dụng để bảo vệ và tăng năng suất cây trồng tăng đều qua các năm Câu hỏi đặt ra là: 1) Thực trạng sử dụng thuốc BVTV của người dân tộc thiểu số tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn số trồng cam, quýt như thế nào? 2) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc BVTV của người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn? Để trả lời hai câu hỏi này chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thực hành
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và một số yếu tố liên quan của người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn năm 2018”
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức và thực hành về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn năm 2018
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn năm 2018
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là chất hoặc hỗn hợp các chất hoặc chế phẩm
vi sinh vật có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu diệt hoặc kiểm soát sinh vật gây hại thực vật; điều hòa sinh trưởng thực vật hoặc côn trùng; bảo quản thực vật; làm tăng độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng thuốc [21]
1.1.2 Phân loại
Có nhiều cách để phân loại thuốc BVTV như phân loại theo đối tượng phòng chống, theo gốc hóa học, theo con đường xâm nhập hoặc phân loại theo độ độc của thuốc BVTV [20] Tuy nhiên, trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng cách phân loại theo đối tượng phòng chống để giúp đối tượng dễ hiểu trong quá trình phỏng vấn và phù hợp với quá trình thu thập thông tin và sử dụng cách phân loại theo độ độc của thuốc BVTV để đánh giá loại thuốc được sử dụng thông qua thu thập, quan sát vỏ bao bì thuốc BVTV tại các vườn cam, quýt:
1.1.2.1 Phân loại dựa trên đối tượng phòng chống
Thuốc trừ sâu (Insecticide): bao gồm các chất hoặc hỗn hợp các chất có tác dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong môi trường Được dùng để diệt trừ hoặc ngăn ngừa tác hại của côn trùng đến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người [20]
Thuốc trừ bệnh (Fungicide): bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hóa học hoặc sinh học có tác dụng giúp ngăn ngừa hay diệt trừ các loại vi sinh vật (gồm cả nấm) gây hại cho cây trồng và nông sản Thuốc dùng để bảo vệ cây trồng trước khi
bị các loài vi sinh vật gây hại tấn công thì sẽ tốt hơn là diệt nguồn bệnh [20]
Thuốc trừ chuột (Rodenticide hay Raticide): là những hợp chất vô cơ, hữu
cơ hoặc có nguồn gốc sinh học có hoạt tính sinh học và phương thức tác động khác nhau, dùng để diệt chuột và các loài gặm nhấm gây hại [20]
Trang 16 Thuốc trừ nhện (Acricide hay Miticide): gồm những chất được dùng chủ yếu để trừ nhện hại cây trồng và các loài thực vật khác, đặc biệt là nhện đỏ Thuốc trong nhóm có khả năng chọn lọc cao, ít gây hại cho côn trùng có ích và thiên địch,
có tác dụng tiếp xúc và diệt trừ trứng, nhện mới nở và nhện trưởng thành [20]
Thuốc trừ tuyến trùng (Nematocide): gồm các chất xông hơi và nội hấp được dùng để xử lý đất trước tiên trừ tuyến trùng rễ cây trồng, trong cây, hạt giống
và cả trong đất [20]
Thuốc trừ cỏ (Herbicide): gồm các chất được dùng để trừ các loài thực vật cản trở sự sinh trưởng của cây trồng, các loài thực vật mọc hoang dại Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất, do đó cần đặc biệt thật trọng khi sử dụng [20]
1.1.2.2 Phân loại theo độ độc của thuốc BVTV
Bảng 1: Phân loại tính độc của thuốc BVTV theo WHO
Ký
hiệu Phân loại theo WHO
Màu sắc quy ước
LD50 ở chuột (mg/kg cơ thể) Qua miệng Qua da
III Ít độc (Slightly hazardous) Xanh lá cây > 2000 > 2000
U Hiếm khi gây độc cấp tính
(Unlikely to present acute hazard)
≥ 5000 ≥ 5000
Mức độ độc của thuốc BVTV thay đổi tùy theo loại thuốc Chỉ số liều gây chết trung bình (medium lethal dose, MLD =LD50) giúp thể hiện mức độ độc của mỗi loại thuốc, đây là liều lượng chất độc gây chết cho 50% số cá thể đem thí nghiệm Chỉ số LD50 càng cao thì thuốc càng ít độc Dựa vào chỉ số LD50, Tổ chức Y tế thế giới
Trang 17chia thuốc BVTV ra thành 5 cấp độ: cấp Ia là cực độc, cấp Ib là độc cao, cấp II là độc trung bình, cấp III là ít độc và cấp U là hiếm khi gây độc cấp tính [11, 23, 25, 31, 42]
1.1.3 Các đường xâm nhập thuốc BVTV vào cơ thể
Thuốc BVTV có thể xâm nhập vào cơ thể con người theo các con đường phơi nhiễm khác nhau như ngấm qua da, qua đường hô hấp (hít thở), qua ăn uống (tiêu hóa) và thực phẩm có tồn dư thuốc BVTV Trong đó, 03 con đường xâm nhập chính
là qua đường hô hấp, tiếp xúc trực tiếp qua da và qua đường tiêu hóa
1.1.3.1 Qua đường hô hấp
Đây là con đường xâm nhập quan trọng nhất của thuốc BVTV do con người luôn phải hít thở Các loại thuốc BVTV dùng ở dạng khí nén, dạng hơi, dạng mù hoặc dạng sương phân tán, tan rất nhanh vào không khí, mắt thường có thể không nhìn thấy được Trong quá trình phun, người phun rất dễ hít phải thuốc BVTV trong môi trường không khí Chúng đi vào mũi, họng, khí quản, phổi và đi vào máu Máu tuần hoàn đưa chất độc đến các cơ quan như não, gan, thận, mật và bài tiết qua sữa mẹ, tuyến mồ hôi, sinh dục [10, 23, 29]
1.1.3.2 Tiếp xúc trực tiếp qua da
Một số loại hóa chất có áp lực lớn với lớp mỡ dưới da, đi qua lớp thượng bì
và mô bì và sau đó đi vào hệ tuần hoàn và gây nhiễm độc cho cơ thể Đặc biệt, nhiễm độc qua niêm mạc sẽ nguy hiểm hơn vì chúng có các mao mạch dày đặc như niêm mạc mắt,… làm cho niêm mạc dễ dàng hấp thu một số cất độc và nhạy cảm với một
số chất kích thích [10, 29] Khi pha hoặc phun thuốc BVTV trong điều kiện thời tiết nóng bức, các lỗ chân lông mở rộng sẽ tạo điều kiện cho các chất ngấm qua da nhanh hơn, làm gia tăng tác hại của thuốc BVTV Khi da bị tổn thương do có vết cắt, xước hoặc có bệnh ngoài da thì thuốc xâm nhập vào da sẽ nhanh hơn [10, 23, 29]
1.1.3.3 Qua đường tiêu hóa
Thuốc BVTV cũng có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua đường tiêu hóa
do những thói quen xấu của người lao động như ăn uống, hút thuốc khi làm việc hoặc
ý thức vệ sinh cá nhân kém như không rửa chân tay trước khi ăn, dùng miệng để thổi
Trang 18thông vòi phun bị tắc, ăn phải thực phẩm có chứa dư lượng thuốc BVTV hoặc do ăn uống thuốc BVTV có chủ đích hoặc không có chủ đích [10, 23, 29]
1.1.4 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sức khỏe con người và môi trường
1.1.4.1 Ảnh hưởng của thuốc đối với con người
Ngoài tác dụng diệt các loại cỏ, sâu, bệnh phá hoại mùa màng, thuốc BVTV cũng đã gây nên các vụ ngộ độc cho người tiếp xúc và sử dụng chúng Dư lượng hóa chất BVTV vượt quá giới hạn cho phép trong nông sản, thực phẩm là mối đe dọa đối với sức khỏe con người và là vấn đề nhức nhối hiện nay của xã hội về an toàn thực phẩm [31] Mức độ gây độc của thuốc BVTV phụ thuộc vào các loại hoạt chất và lượng thuốc xâm nhập vào cơ thể khác nhau [23] Ảnh hưởng của thuốc BVTV lên sức khỏe con người được chia làm 02 loại: cấp tính và mãn tính [31]
Ảnh hưởng sức khỏe cấp tính xảy ra phổ biến trong những người thường xuyên pha, phun thuốc BVTV tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển nơi người dân thường không tuân thủ các biện pháp an toàn [31] Các triệu chứng của ngộ độc cấp tính có thể biểu hiện tại chỗ hoặc toàn thân Một số triệu chứng phổ biến gồm: mệt mỏi; da bị tấy, viêm, xạm, đổ mồ hôi; mắt có cảm giác ngứa, viêm, chảy nước, mờ, đồng tử bị co giãn; miệng và họng nóng rát, chảy nước giãi, buồn nôn, nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy, nhức đầu, chóng mặt, cơ bắp co giật,
đi lảo đảo, khó thở [31] Trên thế giới, ước tính có 3 triệu ca ngộ độc cấp tính thuốc BVTV hàng năm [26, 47, 62] Trong đó, khoảng 200.000 – 300.000 ca tử vong và phần lớn xảy ra ở các nước đang phát triển [39, 62] Tỷ lệ người bị ngộ độc thuốc BVTV cấp tính tại các nước đang phát triển là 20 trên 100.000 nông dân [39] Ảnh hưởng sức khỏe mãn tính xảy ra do một số loại thuốc BVTV và các chất POPs có khả năng tồn tại lâu dài trong cơ thể Các thuốc BVTV thường được hấp thu nhanh ở ruột non, vào máu rồi đi khắp cơ thể Chúng được lưu giữ ở các mô mềm (chủ yếu ở mô mỡ) và có thể đi qua nhau thai để vào bào thai hoặc được bài tiết vào sữa mẹ [31, 41] Triệu chứng điển hình như giảm trí nhớ, rối loạn thần kinh trung ương, khó tập trung, tổn thương thần kinh ngoại biên gây tê liệt, nặng hơn nữa là tổn
Trang 19thương não bộ [25] Đặc biệt, các bệnh ung thư cũng là một vấn đề đáng quan tâm do phơi nhiễm mãn tính với thuốc BVTV [25]
Tại Việt Nam, cứ 100.000 người lao động nông thôn thì có 1.700 người bị ảnh hưởng sức khỏe do thuốc BVTV [28] Thống kê cho thấy, đa số các vụ tai nạn trong ngành nông nghiệp là do nhiễm độc thuốc BVTV, đã có 6.807 vụ nhiễm độc thuốc BVTV với 7.527 trường hợp ngộ độc được cứu sống và 137 trường hợp tử vong trong năm 2008 [23] Theo Nguyễn Minh Tuấn và cộng sự (2010) khoảng 17,5% tại nạn thương tích trong lao động sản xuất chè tại Thái Nguyên là do ngộ độc [33]
1.1.4.2 Ảnh hưởng của BVTV đến môi trường
Thuốc BVTV có chứa các kim loại nặng khó phân hủy trong môi trường như: chì, asen, thủy ngân, và chỉ có dưới 1% lượng thuốc BVTV tác động hiệu quả đến các loài sâu, bệnh, cỏ dại và côn trùng hại cây trồng, lượng thuốc BVTV còn lại (khoảng 99%) thải ra môi trường đất, nước, không khí hoặc tồn dư trong các loại cây trồng có sử dụng BVTV [26, 44, 68] Thuốc BVTV, đặc biệt là nhóm Clo khó phân hủy, dẫn đến chúng có thể tồn tại trong đất trong nhiều năm Sau một khoảng thời gian nhất định chúng sinh ra một hợp chất mới và thường có tính độc cao hơn [25] Thuốc BVTV tồn tại trong đất sẽ rò rỉ ra sông, suối do quá trình rửa trôi, xói mòn hoặc theo các mạch nước ngầm Mặt khác, đổ dư thừa từ các chai, lọ chứa thuốc BVTV, hoặc do quá trình súc rửa xuống thủy vực gây ô nhiễm cả nguồn nước bề mặt
và nguồn nước ngầm [25] Khi phun thuốc BVTV, không khí bị ô nhiễm dưới dạng bụi, hơi và có thể lan truyền trong không khí, di chuyển xa, lắng đọng vào nguồn nước mặt ở nơi khác gây ô nhiễm môi trường [25]
1.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Trên Thế giới
Thuốc BVTV được ghi nhận sử dụng lần đầu tiên là khoảng 2500 trước công nguyên, khi người Sumerian (thuộc Iraq ngày nay) sử dụng hợp chất lưu huỳnh để diệt côn trùng trên da [44] Trong những năm gần đây, lượng thuốc BVTV được đưa vào sử dụng trung bình hàng năm của toàn thế giới là khoảng 2,3 – 3,3 triệu tấn [36] Trong
đó, Trung Quốc, Mỹ, Pháp, Brazil, Nhật Bản là những quốc gia sản xuất và tiêu thụ
Trang 20thuốc BVTV lớn nhất trên thế giới Hầu hết lượng thuốc BVTV trên thế giới được sử dụng trong nông nghiệp để bảo vệ cây ăn quả, lương thực và rau màu [68]
1.2.2 Tại Việt Nam
Thuốc BVTV được sử dụng tại Việt Nam từ những năm 40 của thế kỷ XX Theo thống kê năm 1984, khối lượng thuốc BVTV trung bình hàng năm được đưa vào sử dụng khoảng 6.500 – 9.000 tấn Trung bình khoảng 0,3 kg thuốc BVTV trên 01 hecta [25] Tuy nhiên, trong những năm gần đây khối lượng thuốc BVTV nhập và sử dụng
đã tăng lên gấp hơn 10 lần Các loại thuốc BVTV mà Việt Nam sử dụng có độ độc còn cao, nhiều loại thuốc đã trở lên lạc hậu [25] Hiện nay, phần lớn thuốc BVTV ở Việt Nam có nguồn gốc nhập khẩu với khối lượng trên 70.000 tấn thành phẩm mỗi năm với trị giá 210 – 250 triệu USD Trên 90% thuốc BVTV được nhập từ Trung Quốc [24] Năm 2016, Việt Nam đã nhập khoảng 114.515 tấn thuốc BVTV [4]; và trong 05 tháng đầu năm 2017 nhập khẩu thuốc BVTV với trị giá khoảng 400 triệu USD, tăng 41,1% so với cùng kỳ năm 2016 [7]
Tại Việt Nam, hệ thống văn bản qui phạm pháp luật về quản lý thuốc BVTV hiện nay bao gồm: Luật hóa chất năm 2007, Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật năm 2001, Nghị định của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn [3] Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam vẫn còn tình trạng vi phạm
về vận chuyển, buôn bán, sử dụng thuốc BVTV nhập lậu, thuốc ngoài danh mục được cấp phép sử dụng tại Việt Nam Trong năm 2016, đã phát hiện hơn 50 vụ vi phạm về vận chuyển, buôn bán, sử dụng thuốc BVTV nhập lậu, ngoài danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam thu giữ trên 7 tấn thuốc BVTV ngoài danh mục [4]
1.3 Một số nghiên cứu trên thế giới và trong nước về kiến thức, thực hành và
một số yếu tố liên quan tới thực hành sử dụng thuốc BVTV
1.3.1 Kiến thức về sử dụng thuốc BVTV
Trên thế giới
Về kiến thức chung, nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy, tỷ lệ người dân có kiến thức chung về sử dụng thuốc BVTV đạt thấp [51, 56, 57, 59, 61] Nghiên cứu
Trang 21của Norkaew và cộng sự (2010) tại Thái Lan cho thấy chỉ có 22,8% người trồng ớt
có kiến thức đạt (trả lời đúng ≥ 60%) về sử dụng thuốc BVTV [61] Nghiên cứu tại
Ấn Độ năm 2013 cho thấy chỉ có 42% ĐTNC có kiến thức đạt về sử dụng thuốc BVTV an toàn [57] Theo nghiên cứu của Ngowi (2003) trên đối tượng là người nông dân trồng cà phê tại Tanzania cho thấy, 11% ĐTNC thiếu kiếu thức dẫn đến khó khăn trong việc xử lý sâu, bệnh gây hại [59] Về đường thâm nhập của thuốc BVTV vào
cơ thể, các nghiên cứu cho thấy đường hô hấp và qua da 2 con đường được ĐTNC biết đến nhiều nhất [51, 57]; trong đó, nghiên cứu của Jallow và cộng sự (2017) tại Kuwait cho thấy, có 86% ĐTNC biết con đường xâm nhập của thuốc BVTV vào cơ thể thông qua đường hô hấp, tiếp theo là qua da (54%), qua đường tiêu hóa (42%) [51]; tỷ lệ này trong nghiên cứu của Mohanty và cộng sự (2013) lần lượt là 62% ĐNTC biết qua đường hô hấp, 41% biết con đường qua da và 38% qua đường tiêu hóa [57]
Tại Việt Nam
Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về sử dụng thuốc an toàn đạt ở mức thấp và trung bình [10, 11, 23, 34] Trong đó, nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa (2016) trên đối tượng là người trồng cà phê cho thấy tỷ lệ đạt kiến thức đúng về sử dụng thuốc BVTV an toàn là 64,7% [11]; trong nghiên cứu của Quách Thị Hoa (2014) tại Thanh Hóa thì tỷ lệ này là 60% [12]; tỷ lệ này trong nghiên cứu của Đỗ Tất Thành (2015) là 71,2% [23]; trong nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa (2014) là 40,9% [10]; trong nghiên cứu của K Vởi và Đỗ Văn Dũng là 35% [35] Đặc biệt, trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân (2011) tại Bắc Ninh cho thấy, chỉ có 16,8% đối tượng có kiến thức chung về sử dụng an toàn thuốc BVTV [34]
Về đường xâm nhập, qua đường hô hấp là con đường xâm nhập được các ĐTNC biết đến nhiều nhất [11, 13] Trong đó, tỷ lệ này trong nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa (2016) là 93,4% [11], tỷ lệ này trong nghiên cứu Nguyễn Tuấn Khanh là 88,6% [13], trong nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa là 74% [10] Tỷ lệ ĐTNC biết cả
03 con đường xâm nhập của thuốc BVTV vào cơ thể đạt thấp, trong đó, tỷ lệ này trong nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa là 38,4% [11]; trong nghiên cứu của
Trang 22Nguyễn Tuấn Khanh (2010) trên đối tượng chuyên canh chè tại Thái Nguyên là 40,5% [13] Về thời gian cách ly và đối tượng không nên đi phun thuốc BVTV, trong nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa (2016) cho thấy chỉ có 64,9% biết tác hại của thu hoạch sớm hơn trước thời gian cách ly và 57,7% có kiến thức đúng về đối tượng không nên đi phun thuốc BVTV [11]
Về cách pha, thời tiết, hướng gió khi phun, nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa (2014) cho thấy, 74,9% ĐTNC có kiến thức đúng về cách pha thuốc và 57,9%
có kiến thức đúng về hướng gió khi phun thuốc BVTV [10]; nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Khanh (2010) lại cho thấy chỉ có 29,6% ĐTNC hiểu biết cách chọn thời tiết và hướng gió khi phun [13]
Về xử lý thuốc và vỏ bao bì sau phun, các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ ĐTNC có kiến thức đạt thấp [10, 11] Trong đó nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa cho thấy, chỉ có 5,7% ĐTNC có kiến thức đúng về xử lý thuốc BVTV thừa sau phun; tỷ lệ có kiến thức đúng về xử lý chai, lọ và bao bì đựa thuốc BVTV sau khi phun là 67,8% và 30,4% có kiến thức đúng về cất giữa thuốc BVTV an toàn [11] Trong khi đó, nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa (2014) cho thấy, tỷ lệ ĐTNC có kiến thức đúng về xử
lý thuốc BVTV thừa và xử lý chai, lọ sau khi phun lần lượt là 5,3% và 39,9% [10]
Về bảo hộ lao động khi pha, phun và xử lý khi có triệu chứng ngộ độc thuốc BVTV, các nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ có ĐTNC có kiến thức đạt thấp [10, 13] Trong nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa, tỷ lệ người dân kể được 04 dụng cụ bảo hộ lao động trở lên là 38,1%, có 2,8% kể được 05 triệu chứng của ngộ độc thuốc BVTV trở lên; trong khi đó 44,6% cho rằng chỉ cần xử lý các triệu chứng ngộ độc thuốc BVTV ở nhà là đủ [10] Nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Khanh (2010) cho thấy, chỉ
có 22,3% ĐTNC kể được đầy đủ các loại phương tiện bảo vệ cá nhân cần thiết; 22,6% ĐTNC hiểu biết đầy đủ các triệu chứng ngộ độc thuốc BVTV và tỷ lệ rất thấp (5,5%) ĐTNC biết cách xử trí ngộ độc [13]
Như vậy, từ các nghiên cứu trên có thể thấy người nông dân trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng vẫn còn thiếu kiến thức về sử dụng thuốc BVTV an toàn Đặc biệt là kiến thức về xử lý dụng cụ, vỏ bao bì sau phun, cất giữa dụng cụ
Trang 23phun an toàn, các đồ BHLĐ cần thiết khi phun, các triệu chứng và cách xử lý ngộ độc thuốc BVTV [10-13, 48, 56, 57, 59, 61]
1.3.2 Thực hành về sử dụng thuốc BVTV
Trên thế giới
Sử dụng bảo hộ lao động và tắm rửa sau khi pha, phun là các biện pháp hữu hiệu phòng ngừa phơi nhiễm và giảm nguy cơ ảnh hưởng của thuốc lên cơ thể, tuy nhiên một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ ĐTNC sử dụng đầy đủ đồ bảo hộ lao động khi pha, phun và tắm rửa sau khi pha, phun đạt thấp [45, 49-51, 57, 58, 62, 67] Trong
đó, nghiên cứu của Julia và cộng sự tại Mexico (2011) cho thấy chỉ có 2% ĐTNC sử dụng đầy đủ đồ BHLĐ khi pha, phun [45]; tỷ lệ này trong nghiên cứu của Jallow và cộng sự tại Kuwait (2017) là chỉ có gần 5% [51]; trong nghiên cứu của Negatu B và cộng sự tại Ethiopia (2016) cho thấy tỷ lệ này là 10% [58]; tỷ lệ này trong nghiên cứu của Lekei và cộng sự tại Tanzania năm 2014 là 33,1% [54]; trong khi đó, một nghiên cứu tại Iran (2012) lại cho thấy tỷ lệ này là 40% [50]; trong nghiên cứu của Gesesew
và cộng sự (2016) tại Ethiopia là gần 42% [49]; và tỷ lệ này trong nghiên cứu của Damalas (2006) tại Hy Lạp là 46% [46] Về vệ sinh sau khi phun thuốc, nghiên cứu của Menkanomen và cộng sự cho thấy, chỉ có 33,1% ĐTNC luôn luôn tắm ngay sau khi phun thuốc BVTV [55]; trong khi đó, nghiên cứu của Negatu B và cộng sự (2016) lại cho thấy có tới 62% ĐTNC không thường xuyên tắm rửa sau khi phun [58]
Về lựa chọn lựa chọn và pha thuốc, các nghiên cứu cho thấy các ĐTNC thường lựa chọn thuốc dựa trên kinh nghiệm hoặc theo hướng dẫn của người bán thuốc [38, 59]; trong đó, nghiên cứu tại Tanzania năm 2003 cho thấy có 51% chọn loại thuốc BVTV dựa trên kinh nghiệm chỉ có 25% sử dụng liều lượng thuốc BVTV cho cà phê theo khuyến nghị, còn lại 75% sử dụng liều lượng thuốc BVTV dựa theo kinh nghiệm [59]; trong khi đó, nghiên cứu Promwong và cộng sự (1998) trên người Hmong tại Thái Lan lại cho thấy 50,1% chọn thuốc BVTV dựa trên kinh nghiệm của bản thân [38] Trong nghiên cứu tại Trung Quốc năm 2014 có tới 85% ĐTNC cho biết đã từng
sử dụng thuốc ngoài danh mục cho phép sử dụng [65] Về lựa chọn hướng gió khi phun,nghiên cứu của Jallow và cộng sự tại Kuwait (2017) cho thấy, chỉ có 18%
Trang 24ĐTNC luôn luôn phun thuốc BVTV theo hướng gió [51]; trong khi đó, nghiên cứu của Salameh và cộng sự (2004) tại Lebanon lại chỉ ra rằng tỷ lệ người dân phun đúng theo chiều gió là 92,9% [64]
Về bảo quản, lưu trữ thuốc BVTV và dụng cụ phun, bên cạnh có ĐTNC bảo quản, lưu trữ tại kho riêng, tại ruộng, vườn thì vẫn còn tình trạng bảo quản tại nhà hoặc tại chuồng nuôi động vật, đây là một nguồn nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe của hộ gia đình [45, 54, 66] Nghiên cứu của Julia và Marina (2011) cho thấy,
có tới 42% ĐTNC bảo quản thuốc và dụng cụ phun tại nhà [45] Tỷ lệ này trong ghiên cứu của Lekei và cộng sự (2014) là 79% [54] Jallow và cộng sự (2017) cho thấy 59% bảo quản và lưu trữ thuốc BVTV tại kho riêng có khóa kín, 34% để ở kho nhưng không khóa kín, 30% để ở ngoài đồng, 15% để ở chuồng nuôi động vật, 20% để ở quanh khu vực nơi ở [54] Tại Gaza, nghiên cứu thì cho thấy 78,8% lưu trữ thuốc BVTV ở ruộng và 18% lưu trữ tại nhà [66] Trong khi đó, nghiên cứu tại Ethiopia (2002) lại cho thấy, có tới 40% để thức ăn gần nơi có thuốc BVTV và 90% vẫn sử dụng nguồn nước gần nơi phun thuốc BVTV để uống [55]
Về xử lý lượng thuốc dư thừa sau phun và xử lý vỏ bao bì thuốc BVTV, các nghiên cứu cho thấy, vẫn còn tình trạng xử lý chưa đúng cách lượng thuốc BVTV dư thừa vỏ bao bì sau phun [37, 51, 57, 63] Nghiên cứu tại Nepal của Khanal và Singh (2016) cho thấy có tới 60% vứt vỏ thuốc BVTV gần nguồn nước và 54,4% bán các
vỏ chai, lọ thuốc BVTV cho người buôn phế liệu [37] Nghiên cứu của Jallow và cộng sự (2017) lại cho thấy, có 59% ĐTNC bảo quản thuốc BVTV dư thừa tại kho riêng có khóa kín, 34% để ở kho nhưng không khóa kín, 30% để ở ngoài đồng, 15%
để ở chuồng nuôi động vật, 20% để ở quanh khu vực nơi ở [51] Một nghiên cứu tại
Ấn Độ chỉ ra rằng gần 50% xử lý thuốc BVTV dư thừa bằng cách chôn lấp [57] Nghiên cứu của David Pimentel (2009) lại cho thấy, chỉ có 45% sử dụng biện pháp chôn lấp hoặc đốt tiêu hủy vỏ thuốc BVTV [63]
Về tiền sử bị ngộ độc thuốc BVTV, nghiên cứu của Lekei và cộng sự (2014) cho thấy 93% ĐTNC đã từng bị từ 1 đến 7 lần ngộ độc thuốc BVTV [54] Trong khi
đó, nghiên cứu của Ngowi (2003) lại chỉ ra có 15% đối tượng nghiên cứu cho biết
Trang 25từng ít nhất 01 lần bị ngộ độc thuốc BVTV [59] Bên cạnh đó, trong nghiên cứu Promwong và Khamon (1998) trên người Hmong tại Thái Lan cho thấy, có tới 35,7% đối tượng nghiên cứu có nhiễm thuốc BVTV trong máu [38]
Tại Việt Nam
Về thực hành chung, các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ ĐTNC thực hành đạt về sử dụng thuốc BVTV thấp [10-13, 23, 34, 35] Trong đó, tỷ lệ này trong nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa (2016) trên đối tượng người dân trồng cà phê 40,8% [11]; trong nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa (2014) là 38,1% [10]; trong nghiên cứu của Quách Thị Hoa (2014) là 39,5 [12]; trong nghiên cứu của Đỗ Tất Thành (2015) là 56,8% [23] Tuy nhiên, tỷ lệ này trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân (2011) là 16,8% [34]; trong nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Khanh (2010) tại Thái Nguyên tỷ lệ này là 17,4% [13]; và trong nghiên cứu của K’Vởi và Đỗ Văn Dũng (2008) tại Lâm Đồng thì tỷ lệ thực hành đạt về HCBVTV là 27% [35]
Về sử dụng BHLĐ khi pha và phun, các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ lớn người dân sử dụng không đầy đủ các đồ BHLĐ (ủng, mũ/nón, kính, khẩu trang, áo mưa/áo bảo hộ, găng tay) [11, 23] Nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa (2016) cho thấy, chỉ
có 27,3% ĐTNC thực hành đúng về sử dụng đồ BHLĐ và khẩu trang là là đồ bảo hộ lao động được sử dụng nhiều nhất (97,5%) [11] Nghiên cứu của Đỗ Tất Thành (2015) lại cho thấy, găng tay và khẩu trang là 02 loại BHLĐ được đối tượng nghiên cứu sử dụng nhiều nhất với tỷ lệ lần lượt là 96% và 93,6%, tiếp theo là quần áo bảo hộ/áo mưa (18,4%), mũ, nón (14,4%), ủng (8,8%) và kính (7,2%) [23]
Về vệ sinh cá nhân sau phun, một số nghiên cứu cho thấy vẫn còn có ĐTNC không vệ sinh cá nhân bằng cách tắm bằng xà phòng và nước sạch ngay sau khi phun [11, 16], trong đó nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa tại Đắk Lắk năm 2016 chỉ ra rằng, có 84,3% ĐTNC tắm bằng xà phòng ngay sau khi phun [11]; tỷ lệ này trong nghiên cứu của Quách Thị Hoa (2014) là 98,5% [12]; trong nghiên cứu của Nguyễn Quang Mạnh và cộng sự (2011) thì tỷ lệ này chỉ là 55,2% [16] Về xử trí nhiễm độc sau khi phun, các ĐTNC xử trí tại nhà, đưa/đi đến cơ sở y tế; mặc dù vậy vẫn còn ĐTNC không áp dụng bất cứ biện pháp nào để xử trí hoặc không biết cách xử trí [10,
Trang 2611]; trong đó, kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa (2016) cho thấy, khi bị nhiễm độc thuốc BVTV thì chỉ có 17,4% ĐTNC đưa/đi đến cơ sở y tế và 24,7% tự
xử trí tại nhà [11]; nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa (2014) lại cho thấy các ĐTNC xử lý khi bị nhiễm độc thuốc BVTV chỉ có 2,8% đưa/đi đến trạm y tế, 11,8% không xử lý gì và 31,3% không biết xử trí như thế nào [10]
Về xử lý thuốc, dụng cụ và vỏ bao bì sau phun, nghiên cứu cho thấy, vẫn còn tình trạng xử lý chưa đúng cách [5, 11, 16] Nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa tại Đắk Lắk cho thấy, chỉ có 0,8% thực hành đúng xử lý thuốc BVTV sau khi phun, vẫn còn 41,7% vứt ngay tại chỗ pha, phun và 3,6% bán cho người thu mua phế liệu [11] Nguyễn Quang Mạnh và Trần Thế Hoàng (2011) cũng cho thấy 32,3% vứt bao bì, vỏ thuốc BVTV bừa bãi sau khi phun; có tới 55% rửa bình phun tại sông, suối, ao hồ và 3,5% không rửa bình phun [16] Trong khi đó, Lê Văn Cường và Ngô Thị Thuận chỉ
ra rằng có tới 88,9% xử lý thuốc pha còn thừa bằng cách phun đi phun lại cho hết, 9,1% đổ xuống mương ở đồng và 2,02% phun cho cây trồng khác; có tới 37,4% vứt
vỏ bao bì thuốc BVTV ở bãi rác trên đồng ruộng, 74,8% rửa dụng cụ phun tại đồng ruộng và 4% mang về nhà rửa [5]
Về bảo quản, cất giữ thuốc và dụng cụ phun, các ĐTNC bảo quản, cất giữ thuốc BVTV và dụng cụ phun ở nơi kín đáo nhưng vẫn còn tình trạng bảo quản, cất giữ tại chuồng gia súc, thậm chí trong nhà hoặc trong bếp [5, 11, 23] Kết quả nghiên cứu của Lê Văn Cường và Ngô Thị Thuận (2016) chỉ ra rằng, vẫn còn 13,1% cất giữ trong nhà, chuồng trại vật nuôi [5] Nghiên cứu của Đỗ Tất Thành (2015) lại cho thấy, 79,2% ĐTNC mua thuốc BVTV đủ dùng cho từng lần phun nên không cất giữ ở thuốc BVTV trong nhà và 20,8% vẫn cất giữ thuốc BVTV ở nhà nhưng được gói và cất giữ
ở nơi kín đáo; tuy nhiên, có tới 60% ĐNTC cất giữ bình phun trong nhà và 9,6% cất giữ bình phun trong bếp [23]
Về kiểm tra nhãn mác trước phun và liều lượng, vẫn còn tình trạng ĐTNC không kiểm tra nhãn mác trước khi phun và pha thuốc theo kinh nghiệm mà không theo chỉ dẫn in trên bao bì [11, 23] Nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa (2016) tại Đắk Lắk cho thấy, tỷ lệ ĐTNC kiểm tra nhãn mác trước khi phun thuốc là 87,8%; pha đúng
Trang 27liều lượng tỷ lệ pha thuốc theo đúng chỉ dẫn là 63,6%, pha đặc hơn hoặc pha theo kinh nghiệm là 29,8% [11]; theo Đỗ Tất Thành (2015) chỉ có 2,8% ĐTNC pha theo hướng dẫn trên bao bì, 72,9% ĐTNC pha đặc hơn, 5,6% pha loãng hơn hướng dẫn và 18,7% pha theo kinh nghiệm [23]
Từ các nghiên cứu trên có thể thấy, vẫn còn tỷ lệ khá lớn người nông dân thực hành sử dụng thuốc BVTV chưa an toàn Đặc biệt là thực hành sử dụng đồ BHLĐ, liều lượng khi pha, cách xử lý thuốc, dụng cụ và vỏ bao bì sau phun, bảo quản, cất giữ thuốc BVTV và dụng cụ phun, cách xử trí khi bị nhiễm độc [5, 10-13, 16, 23, 34,
và có trình độ học vấn cao hơn thì sử dụng dụng cụ BHLĐ khi pha, phun nhiều hơn
so với những người già hơn và có trình độ học vấn thấp hơn (χ2 = 9,89, p<0,05) [51] Nghiên cứu của Lekei và cộng sự (2014) cũng cho thấy, những người có trình độ học vấn cao hơn thì ít lưu trữ thuốc BVTV tại nhà hơn (PRR = 0.3; 95% CI = 0.1-0.7) và thực hành kiểm tra dụng cụ phun tốt hơn (PRR = 1.2; 95% CI = 1.03-1.4) [54] Nghiên cứu của Jallow và cộng sự (2017) lại cho thấy những người có thâm niên làm nông nghiệp lâu hơn thì lưu trữ và xử lý vỏ bao bì thuốc BVTV an toàn hơn so với những người có thâm niên làm nông nghiệp ít hơn (χ2 = 8,98, p<0,05) [51]; Tuy nhiên, nghiên cứu của Kumari và cộng sự (2013) tại Ấn Độ lại cho thấy, những người có kinh nghiệm từ 1 – 5 năm thì thực hành sử dụng thuốc BVTV tốt hơn so với nhóm người có kinh nghiệm phun dưới1 năm và trên 5 năm (F = 2,411, p<0,05) [53] Nghiên cứu của Wenyu Wang và cộng sự (2017) cho thấy, có mối liên quan giữa giới tính và thực hành sử dụng thuốc BVTV đúng, trong đó nam giới thực hành sử dụng
Trang 28thuốc BVTV và xử lý vỏ bao bì an toàn hơn so với nữ giới [40]; nghiên cứu của Kishor Atreya (2007) cũng chỉ ra rằng nam giới lựa chọn hướng gió đúng khi phun tốt hơn và sử dụng đồ BHLĐ khi pha, phun nhiều hơn so với nữ giới (p<0,05) [43]
Tại Việt Nam
Các nghiên cứu ở Việt Nam cũng cho thấy mối liên quan giữa thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn và đặc điểm dân tộc, trình độ học vấn, tuổi, thâm niên sử dụng, tiếp cận thông tin, kiến thức sử dụng thuốc BVTV [1, 10-12, 16, 23, 34, 35] Trong đó, nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa (2016) cho thấy người dân tộc kinh thực hành đạt cao hơn so với người dân tộc thiểu số (95% CI: 6,2-107,6, p<0,001) [11] Kết quả nghiên cứu của Đỗ Tất Thành (2015) lại cho thấy, những đối tượng có thâm niên sử dụng thuốc BVTV trên 10 năm có tỷ lệ thực hành đạt cao gấp 3,6 lần
so với những người sử dụng thuốc BVTV từ 1-5 năm (p<0,05, 95%CI: 1,2-10,8) và nhóm đối tượng có kiến thức đạt thì thực hành đạt cao gấp 2,376 lần so với nhóm đối tượng có kiến thức không đạt (p<0,05; 95%CI: 1,078-5,235) [23] Quách Thị Hoa (2014) cho thấy những người có trình độ học vấn cao hơn thì thực hành sử dụng BVTV an toàn tốt hơn (p<0,05; 95%CI: 1,824 – 15,359) [12]; kết quả nghiên cứu của Lương Mai Anh và Lê Thị Thanh Xuân (2014) cũng cho thấy, những người có trình
độ học vấn cao hơn thì thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn cao hơn gấp 2,16 lần (OR = 2,16, 95% CI: 1,13 – 4,12) và những đối tượng có thâm niên tiếp xúc với thuốc BVTV lâu hơn thì thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn cao hơn gấp 1,83 lần (OR
= 1,83, 95% CI: 1,02 – 3,28) [1] Nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa (2014) trên người nông dân trồng lúa lại cho thấy những người được tiếp cận thông tin tốt hơn thì thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn cao hơn (1,5<OR<4,8, p<0,05) [10] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân (2011) chỉ ra mối liên quan giữa tuổi và thực hành
sử dụng an toàn BVTV, theo đó những người trẻ tuổi hơn thì thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn hơn (p<0,05) [34] Nguyễn Quang Mạnh và Trần Thế Hoàng (2011) nghiên cứu trên đối tượng người canh tác chè tại Thái Nguyên cho thấy có mối liên quan giữa đặc điểm dân tộc, người dân tộc Kinh thực hiện hành vi dự phòng nhiễm thuốc BVTV mức độ tốt cao hơn so với người dân tộc thiểu số (p<0,05) [16]
Trang 29Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đã cho thấy mối liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học như tuổi, giới tính, đặc điểm dân tộc, trình độ học vấn, diện tích canh tác cũng như kiến thức về sử dụng thuốc BVTV an toàn, thiêm niên tiếp xúc với thuốc BVTV, tiếp cận thông tin với thực hành sử dụng thuốc BVTV
an toàn [1, 10-12, 16, 23, 34, 35, 40, 43, 51, 54]
Nhìn chung, các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về thực trạng sử dụng thuốc BVTV thì đối tượng nghiên cứu là người nông dân nói chung và chưa đi sâu khai thác về thực trạng sử dụng thuốc BVTV trên đối tượng là người dân tộc thiểu
số Đặc biệt là người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt Do đó, hướng nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào giải quyết vấn đề trên
1.4 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Huyện Bạch Thông là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Kạn, dân số trên địa bàn huyện tính đến năm 2012 là 32.612 người với 05 dân tộc chính cùng sinh sống là Tày (chiếm đa số), Nùng, Dao, Kinh và Hoa [3] Tổng diện tích trồng cam, quýt toàn huyện là khoảng 1.800 ha [8] Chúng tôi lựa chọn 02 xã có diện tích trồng cam, quýt lớn nhất huyện Bạch Thông và cũng được coi là vựa cam, quýt của tỉnh Bắc Kạn là Dương Phong và Quang Thuận Với hơn 600 hộ gia đình trồng cam, quýt, diện tích trồng cam, quýt của 02 xã chiếm khoảng hơn 60% tổng diện tích trồng cam, quýt của huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Đây cũng là 02 xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm tới hơn 80% dân số
1.5 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết nghiên cứu được xây dựng dựa trên mô hình các yếu tố quyết định sức khỏe của Dahlgren và Whitehead và các nghiên cứu đã được thực hiện về thực trạng kiến thức, thực hành sử dụng thuốc BVTV của người dân [10-12, 23, 30] Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung nghiên cứu về thực trạng kiến thức về thuốc và cách sử dụng thuốc BVTV như: cách phân loại thuốc, tác dụng và tác hại của thuốc BVTV, đường xâm nhập của thuốc BVTV vào cơ thể, các đồ BHLĐ khi pha, phun, thời gian, thời tiết và hướng gió khi phun, cách xử lý thuốc dư thừa và vỏ bao bì sau phun, cách vệ sinh cá nhân sau phun; thực hành sử dụng thuốc BVTV
Trang 30gồm: đọc hướng dẫn sử dụng, sử dụng BHLĐ khi pha, phun, liều lượng pha, lựa chọn thời gian, thời tiết và hướng gió khi phun, xử lý thuốc và vỏ bao bì thuốc sau phun,
vệ sinh cá nhân sau phun, xử lý khi bị nhiễm độc Đồng thời cũng nghiên cứu về một
số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành sử dụng thuốc BVTV của người dân gồm: kiến thức về thuốc và cách sử dụng thuốc BVTV, các yếu tố tăng cường, tạo điều kiện (thâm niên tiếp xúc, chương trình truyền thông về sử dụng thuốc BVTV tại địa phương) các yếu tố về nhân khẩu học và xã hội học (như tuổi, giới tính, trình độ học vấn và diện tích trồng cam, quýt)
Hình 1: Khung lý thuyết nghiên cứu
Các yếu tố nhân khẩu học và xã hội học:
Tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn
Diện tích trồng cam, quýt
Kiến thức
về thuốc và cách sử dụng BVTV:
Phân loại thuốc BVTV
Tác dụng của thuốc BVTV
Tác hại của thuốc BVTV
Đường xâm nhập của thuốc BVTV
vào cơ thể người
BHLĐ khi pha, phun
Đọc hướng dẫn trên bao bì
Sử dụng BHLĐ khi pha, phun
Lựa chọn thời gian, thời tiết đi phun
Lựa chọn hướng phun
Liều lượng pha chế thuốc BVTV
Xử lý thuốc còn dư thừa sau khi phun Rửa dụng cụ sau khi phun
Thu gom và xử lý vỏ bao bì thuốc BVTV sau khi phun
Vệ sinh cơ thể sau khi tiếp xúc với thuốc BVTV
Xử trí khi nhiễm độc thuốc BVTV
Các yếu tố tăng cường, tạo điều kiện:
Chương trình truyền thông sử dụng thuốc BVTV tại địa phương
Thâm niên tiếp xúc với thuốc BVTV
Tác động của người bán thuốc
Trang 31CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng
a Đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn tại hộ:
Tiêu chí lựa chọn:
+ Là người phun thuốc BVTV trong hộ gia đình dân tộc thiểu số trồng cam, quýt, có trực tiếp phun thuốc BVTV trong vòng 06 tháng (tính từ thời điểm phỏng vấn trở về trước)
+ Trên 18 tuổi và đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại trừ:
+ Không đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Không có khả năng trả lời các câu hỏi phỏng vấn (do mắc vấn đề về thần kinh hoặc say rượu, bia hoặc bị ốm)
b Đối tượng nghiên cứu được quan sát pha, phun tại nương cam, quýt:
Tiêu chí lựa chọn: là người pha, phun thuốc BVTV gặp ngẫu nhiên trên đường
đi qua các nương cam, quýt của 02 xã Mỹ Thanh và Dương Phong
Tiêu chí loại trừ: không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính
a Đối tượng tham gia thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu: người dân
Tiêu chí lựa chọn: đã tham gia vào trả lời phỏng vấn định lượng và sẵn sàng tiếp tục tham gia nghiên cứu định tính
Tiêu chí loại trừ: đối tượng từ chối tiếp tục tham gia nghiên cứu định tính
b Đối tượng tham gia phỏng vấn sâu: người bán thuốc BVTV
Tiêu chí lựa chọn:
Trang 32+ Là người bán thuốc BVTV thường xuyên trong vòng 6 tháng (tính từ thời điểm phỏng vấn trở về trước) trên địa bàn 02 xã: Dương Phong và Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
+ Trên 18 tuổi và đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại trừ: từ chối tham gia nghiên cứu
c Đối tượng tham gia phỏng vấn sâu: cán bộ nông nghiệp xã và cán bộ của Trạm Trồng trọt và BVTV huyện Bạch Thông:
Tiêu chí lựa chọn: là cán bộ có thời gian làm việc tại xã hoặc Trạm Trồng trọt
và BVTV huyện Bạch Thông và đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại trừ: từ chối tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian
Nghiên cứu được tiến hành từ ngày 01/12/2017 đến 15/6/2018
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại 02 xã Dương Phong và Quang Thuận Đây là
02 xã có diện tích trồng cam, quýt) lớn nhất của huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (chiếm khoảng hơn 60% diện tích)
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính (thiết kế nghiên cứu kết hợp giải thích) Trong đó, phần nghiên cứu định lượng được chúng tôi sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang Phần nghiên cứu định tính được thu thập thông qua thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu qua đó làm
rõ hơn kết quả nghiên cứu định lượng
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
Trang 33𝑛 = 𝑍1−∝/2
2 × 𝑝 × (1 − 𝑝)
𝑑2
Trong đó:
+ n là số đối tượng tham gia nghiên cứu
+ p là tỷ lệ ĐTNC ước tính có thực hành chung về sử dụng thuốc BVTV đạt Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng p = 0,408 (theo kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa năm 2016 trên đối tượng người nông dân trồng cà phê tại Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk cho thấy tỷ lệ người dân đạt thực hành chung về sử dụng thuốc BVTV đạt là 40,8%) [11]
+ Z là hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95% thì Z = 1,96
06 cuộc phỏng vấn sâu với người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt đã tham gia nghiên cứu định lượng (đã bão hòa thông tin)
02 cuộc phỏng vấn sâu với người bán thuốc BVTV tại 02 xã Dương Phong và Quang Thuận (01 cuộc PVS/xã)
01 cuộc PVS qua điện thoại với cán bộ Trạm Trồng trọt và BVTV huyện Bạch Thông
Trang 34 01 cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ nông nghiệp của xã Dương Phong và 01 cuộc phỏng vấn sâu qua điện thoại với cán bộ nông nghiệp xã Quang Thuận
2.5 Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Phương pháp chọn mẫu định lượng
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nghiên hệ thống để chọn ĐTNC Tại thời điểm nghiên cứu (tháng 12/2017 – 6/2018), có 600 hộ người dân tộc thiểu số có trồng cam, quýt tại 02 xã Dương Phong và Quang Thuận
Bước 1: Lập danh sách các hộ gia đình người dân tộc thiểu số có trồng cam, quýt trên địa bàn xã 02 xã Dương Phong và Quang Thuận
Bước 2: Tính khoảng cách mẫu: k = N/n(trong đó, N là toàn bộ gia đình người dân tộc thiểu số có trồng cam, quýt trong địa bàn 02 xã Dương Phong và Quang Thuận, n là cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu), từ đó tính được k = 600/385 = 2 (làm tròn)
Bước 3: Chọn ngẫu nhiên 02 hộ đầu tiên trong danh sách và được hộ số 2, sau
đó chọn các hộ có số thứ tự chẵn (4, 6, 8,…) Sau khi chọn hết 01 lựa đến hộ 600 thì xếp lại các hộ không được chọn và chọn các hộ có số thứ tự chẵn cho đến khi đủ danh sách cỡ mẫu là 385 (trong quá trình đi phỏng vấn tại hộ mà không gặp được người đi phun trong hộ gia đình hoặc từ chối tham gia phỏng vấn hoặc không đủ năng lực trả lời hoặc chỉ đi thuê phun thuốc BVTV thì điều tra viên sẽ lựa chọn hộ có trồng cam, quýt gần nhất)
2.5.2 Phương pháp chọn mẫu định tính
Các ĐTNC được chọn ra từ những đối tượng tham gia nghiên cứu định lượng
và đồng ý tiếp tục tham gia thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu Chúng tôi lựa chọn người bán thuốc BVTV tại 02 cửa hàng thuốc BVTV trên địa bàn xã Quang Thuận (xã Dương Phong không có cửa hàng bán thuốc BVTV) để tham gia phỏng vấn sâu Liên hệ và mời cán bộ đại diện Trạm Trồng trọt và BVTV huyện Bạch Thông và cán
bộ nông nghiệp của 02 xã Dương Phong và Quang Thuận tham gia phỏng vấn sâu
Trang 352.6 Phương pháp thu thập thông tin
2.6.1 Phương pháp thu thập thông tin định lượng
a Công cụ nghiên cứu
Bộ phiếu phỏng vấn có cấu trúc được xây dựng dựa trên mục tiêu nghiên cứu, các biến số nghiên cứu và tham khảo các nghiên cứu cùng chủ đề [10-12, 23, 34]
Bảng kiểm đánh giá về hành vi đối với người phun thuốc BVTV
Phương tiện ghi chép hình ảnh
b Thử nghiệm công cụ
Bộ phiếu phỏng vấn và bảng kiểm quan sát trực tiếp được nhóm nghiên cứu tiến hành thử nghiệm trên 20 đối tượng người dân tộc thiểu số có sử dụng thuốc BVTV trong vòng 06 tháng để phun cho cam, quýt tại 02 xã Dương Phong và Quang Thuận, các đối tượng này không được lựa chọn tham gia vào nghiên cứu cuối cùng
Dựa trên kết quả của cuộc thử nghiệm, chúng tôi đã điều chỉnh lại bộ công cụ cho phù hợp
c Tổ chức thu thập số liệu:
Điều tra viên: là 05 tình nguyện viên
Tổ chức tập huấn, hướng dẫn điều tra viên trước khi thu thập số liệu
Hình thức thu thập số liệu:
+ Phỏng vấn trực tiếp đối tượng được lựa chọn tham gia nghiên cứu về kiến thức, thực hành liên quan đến việc sử dụng thuốc BVTV, phỏng vấn tại hộ gia đình trong thời gian 30 phút, quan sát trực tiếp tại hộ gia đình về bảo quản thuốc BVTV
và dụng cụ phun thuốc BVTV Trong quá trình đi phỏng vấn tại hộ, một số hộ gia đình được chọn nhưng người đi phun không có ở nhà hoặc từ chối tham gia phỏng vấn hoặc không đủ năng lực trả lời hoặc chỉ đi thuê phun thuốc BVTV, điều tra viên
đã lựa chọn hộ có trồng cam, quýt gần nhất
Trang 36Hình 2: Mô hình các bước nghiên cứu
+ Bảng kiểm quan sát trực tiếp tại nương cam, quýt: khảo sát viên thực hiện quan sát khi người dân đi phun thuốc BVTV Tổng số lượng ĐTNC được quan sát là 20 ĐTNC (các quan sát được thực hiện trong quá trình đi dọc theo các con đường giữa các nương cam, quýt tại các thôn) Các quan sát được thực hiện vào các buổi sáng sớm và vào buổi chiều muộn của đợt thực địa (được thực hiện song song với các cuộc phỏng vấn tại hộ gia đình) Điều tra viên đứng quan sát ở khoảng cách xa (đề phòng
Phiên giải và giải thích các kết quả ĐL
Bàn luận, ý nghĩa và khuyến nghị
Điều tra cắt ngang: 385 người dân tộc thiểu
số trồng cam, quýt năm 2018
Quan sát 20 người đang phun thuốc BVTV cho cam, quýt
Lựa chọn đối tượng có chủ đích:
Thảo luận nhóm: 02 nhóm với người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt đã tham gia nghiên cứu
Lựa chọn đối tượng cho
ĐL và ĐT
Trang 37hít phải hơi thuốc BVTV) Đồng thời với quá trình quan sát ĐTNC pha, phun thì điều tra viên đã thu thập tên các loại thuốc đã được sử dụng
+ Phương tiện ghi chép hình ảnh: chụp lại các hình ảnh quan sát được tại hộ gia đình và trên nương cam, quýt về cách sử dụng và bảo quản thuốc BVTV của người dân
2.6.2 Phương pháp thu thập thông tin định tính
Nghiên cứu viên trực tiếp thu thập số liệu định tính thông qua thảo luận nhóm
và phỏng vấn sâu Số liệu được thu thập dựa trên phương pháp thảo luận nhóm (có
bộ công cụ hướng dẫn thảo luận nhóm) hoặc phỏng vấn sâu (có bộ công cụ hướng dẫn phỏng vấn sâu) Quá trình thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu được thu âm qua máy ghi âm (khi ĐTNC đồng ý) và ghi chép
Cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu viên thông qua cán bộ Hội Chữ thập đỏ xã và trưởng thôn để lựa chọn người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt đã tham gia nghiên cứu định lượng Sau
đó nghiên cứu viên thông qua trưởng thôn đến từng hộ gia đình để mời đối tượng nghiên cứu được lựa chọn để tiến hành thảo luận nhóm Mỗi cuộc thảo luận nhóm diễn ra trong vòng 60 phút
Thông qua cán bộ Hội Chữ thập đỏ huyện Bạch Thông, nghiên cứu viên đã liên hệ và mời cán bộ Trạm Trồng trọt và BVTV huyện tham gia phỏng vấn sâu Mỗi cuộc PVS diễn ra trong vòng 30 phút
Thông qua cán bộ Hội Chữ thập đỏ xã, nghiên cứu viên đã liên hệ và mời cán
bộ nông nghiệp và người bán thuốc BVTV tại 02 xã Dương Phong và Quang Thuận tham gia phỏng vấn sâu Mỗi cuộc PVS diễn ra trong vòng 30 phút
2.7 Các biến số nghiên cứu:
2.7.1 Các biến số nghiên cứu định lượng:
Các biến số định lượng được chia thành các nhóm biến:
Trang 38 Nhóm biến thông tin chung về nhân khẩu học: dân tộc, tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, tình độ học vấn, diện tích trồng cam, quýt, thâm niên tiếp xúc với thuốc BVTV,…
Nhóm biến kiến thức sử dụng thuốc BVTV an toàn: kiến thức cơ bản về thuốc BVTV; kiến thức sử dụng đúng thuốc BVTV; kiến thức về sử dụng thuốc đúng cách; kiến thức về xử lý dụng cụ, thuốc BVTV dư thừa, vỏ bao bì trước và sau phun; kiến thức về phòng phơi nhiễm với thuốc BVTV; kiến thức chung về sử dụng thuốc BVTV
an toàn
Nhóm biến thực hành về sử dụng thuốc BVTV: thực hành sử dụng đúng thuốc; thực hành sử dụng thuốc BVTV đúng cách; thực hành xử lý thuốc BVTV dư thừa, vỏ bao bì trước và sau phun; thực hành phòng ngừa phơi nhiễm; thực hành chung về sử dụng thuốc BVTV an toàn
Nhóm biến về tiếp cận thông tin thuốc BVTV: nguồn cung cấp thông tin, loại thông tin được nhận, loại thông tin muốn nhận, hình thức truyền thông muốn nhận (chi tiết xem Phục lục 1)
2.7.2 Các chủ đề nghiên cứu định tính:
Các chủ đề nghiên cứu định tính gồm: cách sử dụng thuốc BVTV; xử lý thuốc bao bì và thuốc BVTV dư thừa sau khi phun; sử dụng bảo hộ lao động khi pha chế, phun thuốc BVTV; ảnh hưởng của thuốc BVTV với sức khỏe con người và môi trường; sự quản lý thuốc BVTV tại địa phương; nguồn cung cấp thông tin về thuốc BVTV
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu:
Điểm kiến thức sử dụng thuốc BVTV: thang điểm tính từ câu B1 đến câu B23 với tổng điểm là 23 (mỗi câu đúng được tính 01 điểm)
Điểm thực hành sử dụng thuốc BVTV: thang điểm tính từ câu C1 đến câu C16
và câu C18, C19, C20 Trong đó, với mỗi câu đúng từ câu C1 đến câu C14 và C18 được tính 01 điểm Câu C15, C16, C19, C20 được tính 02 điểm (do đây là 04 hành
vi quan trọng và ảnh hưởng lớn tới mức độ phơi nhiễm của ĐTNC) Tổng điểm thực hành là 23
Trang 392.9 Phương pháp phân tích số liệu
2.9.1 Phương pháp phân tích số liệu định lượng
Số liệu được quản lý và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS (phiên bản 23.0)
Phân tích mô tả: sử dụng ước lượng tỷ lệ, giá trị trung bình (nếu có)
Phân tích suy luận: Sử dụng kiểm định t-test, Anova, hồi quy tuyến tính đơn biến Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tuyết đính đa biến với mục đích để xem
sự khác nhau về điểm thực hành sử dụng thuốc BVTV ở các ĐTNC có cùng một số đặc điểm Trong đó biến đầu ra là biến thực hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là biến liên tục, có phân bố xấp xỉ chuẩn và biến độc lập gồm các biến dân tộc, trình độ học vấn (tiểu học, THCS, THPT trở lên) và kiến thức về sử dụng thuốc BVTV Các biến độc lập được trong trong mô hình hồi quy đa biến được lựa chọn theo phương pháp Enter
2.9.2 Phương pháp phân tích số liệu định tính
Kiểm tra, mã hóa, sàng lọc thông tin, tìm ra các chi tiết, liên kết các vấn đề, các ý nghĩa… để khám phá ra những thông tin mới và rà soát lại bộ dữ liệu để kiểm chứng Dữ liệu được xử lý bằng cách kết hợp phần mềm Mindjet Mindmanager 14.0
và thực hiện bằng tay trên giấy
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức trường Đại học
Y tế Công cộng, và tiến hành nghiên cứu khi được Hội đồng đạo đức thông qua theo quyết định số 001/2018/YTCC-HD3 ngày 04 tháng 01 năm 2018 Bên cạnh đó, nghiên cứu với sự cho phép của lãnh đạo xã Dương Phong và Quang Thuận huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Các đối tượng tham gia nghiên cứu được quyền đặt câu hỏi và được giải thích đầy đủ về mục đích và nội dung nghiên cứu; đều được điền vào phiếu tự nguyện tham gia nghiên cứu trước khi tiến hành thu thập thông tin và có quyền từ chối, hoặc ngừng tham gia nếu không muốn hoặc nghi ngờ Kết quả nghiên cứu được đưa vào báo cáo và không làm ảnh hưởng đến ĐTNC Báo cáo kết quả
Trang 40nghiên cứu được chia sẻ cho các bên liên quan và địa phương để làm cơ sở xây dựng các chương trình can thiệp phù hợp