Xuất phát từ thực tế đó tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “Nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh điều trị nội trú và một số yếu tố liên quan tại khoa Tim mạch, Đái tháo đường B
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN NGỌC YẾN
NHU CẦU HỖ TRỢ CÔNG TÁC XÃ HỘI CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHOA TIM MẠCH, ĐÁI THÁO ĐƯỜNG BỆNH VIỆN ĐA
KHOA TRUNG TÂM TIỀN GIANG NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
Hà Nội- 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN NGỌC YẾN
NHU CẦU HỖ TRỢ CÔNG TÁC XÃ HỘI CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHOA TIM MẠCH, ĐÁI THÁO ĐƯỜNG BỆNH VIỆN ĐA
KHOA TRUNG TÂM TIỀN GIANG NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN VĂN DƯƠNG
TS PHẠM TIẾN NAM
Hà Nội -2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong hai năm học tập và hoàn thành luận văn thạc sĩ YTCC, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn quý báu của quý thầy cô và sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp cùng bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang
Trước hết em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Dương và TS Phạm Tiến Nam là những người thầy đã dành thời gian công sức tận tâm truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học và hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn
Em chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng đào tạo sau đại học, các thầy cô tại Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội, Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang, Sở Y
tế Tiền Giang, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang đã tạo điều kiện cho em tham
dự khóa học cũng như đã tận tình giảng dạy, hỗ trợ em hoàn thành chương trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ em trong những năm tháng học tập và hoàn thành luận văn này
Sau cùng, em xin chia sẻ kết quả nghiên cứu với quý đồng nghiệp và những người quan tâm Hy vọng nghiên cứu này sẽ cung cấp một số thông tin hữu ích về Công tác xã hội trong Bệnh viện
Tiền Giang, ngày 08 tháng 8 năm 2018 Người viết
Trần Ngọc Yến
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC I DANH MỤC BẢNG BIỂU IV
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Lịch sử phát triển Công tác xã hội trong Bệnh viện trên thế giới 4
1.1.2 Lịch sử phát triển Công tác xã hội trong Bệnh viện ở Việt Nam 7
1.2 Khái niệm nghiên cứu 9
1.2.1 Khái niệm về Công tác xã hội 9
1.2.2 Khái niệm Công tác xã hội trong Bệnh viện 9
1.2.3 Khái niệm nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh nội trú 10
1.3 Chức năng, nhiệm vụ phòng Công tác xã hội ở Việt Nam và tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang 11
1.4 Một số nghiên cứu Công tác xã hội trong Bệnh viện trên thế giới và tại Việt Nam 13
1.4.1 Một số nghiên cứu Công tác xã hội trên thế giới 13
1.4.2 Một số nghiên cứu Công tác xã hội tại Việt Nam 15
1.5 Khung lý thuyết 19
CHƯƠNG 2 22
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 22
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 23
2.3 Thiết kế: 23
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 24
Trang 52.4.1 Cỡ mẫu 24
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 25
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 25
2.5.2 Quy trình thu thập số liệu: 26
2.6 Các biến số nghiên cứu nghiên cứu 27
2.7 Các thước đo tiêu chuẩn đánh giá nhu cầu của người bệnh 28
2.8 Phương pháp phân tích số liệu: 29
2.9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 29
CHƯƠNG 3 30
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1.Thông tin chung của người bệnh nội trú về Công tác xã hội tại Bệnh viện 30
3.2 Nhu cầu hỗ trợ công tác xã hội của người bệnh nội trú 34
3.3 Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu hỗ trợ công tác xã hội của người bệnh điều trị nội trú 41
BÀN LUẬN 55
KẾT LUẬN 65
KHUYẾN NGHỊ 68
PHỤ LỤC 1: XÁC ĐỊNH CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 78
PHỤ LỤC 2: SƠ ĐỒ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM TIỀN GIANG 83
PHỤ LỤC 3: Mẫu số 1 – Quyết định số 29/2014-UBND 84
PHỤ LỤC 4: BỘ CÔNG CỤ KHẢO SÁT ĐỊNH LƯỢNG 86
PHỤ LỤC 5: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU VÀ THẢO LUẬN NHÓM 92
PHỤ LỤC 6: DỰ TRÙ KINH PHÍ NGHIÊN CỨU 99
Trang 6CTXHBV Công tác xã hội bệnh viện
NVCTXH Nhân viên công tác xã hội
PVS
TLN
THA
Phỏng vấn sâu Thảo luận nhóm Tăng huyết áp
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Thông tin chung của người bệnh nội trú 30
Bảng 3.2 Thông tin về điều trị của đối tượng nghiên cứu 34
Bảng 3.3 Nhu cầu cung cấp dịch vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin về khám chữa bệnh 34
Bảng 3.4 Nhu cầu hỗ trợ tâm lý – xã hội trong quá trình khám chữa bệnh 36
Bảng 3.5 Nhu cầu kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện 38
Bảng 3.6 Nhu cầu hướng dẫn dịch vụ y tế sau khi người bệnh xuất viện 40
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa thông tin chung và nhu cầu cung cấp dịch vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin trong KCB của người bệnh nội trú 41
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa thông tin điều trị và nhu cầu cung cấp dịch vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin trong KCB của người bệnh nội trú 43
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa thông tin chung và nhu cầu hỗ trợ tâm lý- xã hội trong KCB của người bệnh nội trú 44
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa thông tin điều trị và nhu cầu hỗ trợ tâm lý- xã hội trong KCB của người bệnh nội trú 46
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa thông tin chung và nhu cầu kết nối nguồn lực và hỗ trợ từ thiện 48
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa thông tin điều trị và nhu cầu kết nối nguồn lực và hỗ trợ từ thiện 50
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa thông tin chung và nhu cầu hướng dẫn dịch vụ y tế sau khi người bệnh xuất viện 51
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa thông tin điều trị và nhu cầu hướng dẫn dịch vụ y tế sau khi người bệnh xuất viện 53
Trang 8Từ năm 2011 Bộ Y tế đã quan tâm đến Công tác xã hội (CTXH) tại Bệnh viện và mong muốn triển khai mạnh mẽ CTXH tại Bệnh viện Trước mắt là các Bệnh viện công,
sẽ giúp đỡ được nhiều người bệnh nghèo có hoàn cảnh khó khăn có thêm kinh phí điều trị, hướng dẫn thủ tục hành chánh để giảm phiền hà cho người bệnh, xây dựng mối quan
hệ tốt đẹp hơn giữa nhân viên y tế và người bệnh
Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang là Bệnh viện hạng I, là tuyến cuối trong
hệ thống khám chữa bệnh tại tỉnh Tiền Giang Phòng CTXH Bệnh viện được thành lập vào tháng 3 năm 2016 Việc tìm hiểu nhu cầu hỗ trợ CTXH của người bệnh nội trú có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động CTXH tại Bệnh viện
Xuất phát từ thực tế đó tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “Nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh điều trị nội trú và một số yếu tố liên quan tại khoa Tim mạch, Đái tháo đường Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018” Với mục tiêu: Mô
tả nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh điều trị nội trú tại khoa Tim mạch, Đái tháo đường và xác định một số yếu tố liên quan đến nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh điều trị nội trú tại khoa Tim mạch, Đái tháo đường Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2018 Số liệu định lượng được thu thập từ bộ câu hỏi phỏng vấn từ phía người bệnh nội trú Số liệu định tính thu được từ phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm từ nhân viên y tế và người bệnh nội trú
Nghiên cứu chúng tôi ghi nhận một số kết quả chính sau:
Nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh điều trị nội trú tại khoa Tim mạch
và Đái tháo đường
- Nhu cầu được cung cấp dịch vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin về khám chữa bệnh được cấu
thành từ 4 nhu cầu cụ thể: nhu cầu hướng dẫn, hỗ trợ thủ tục/ qui trình khám bệnh đạt tỷ
lệ cao nhất 99,5%
Trang 9người bệnh nhu cầu tư vấn- tham vấn tâm lý đạt tỷ lệ cao nhất 100%
- Nhu cầu kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện có 5 nhu cầu cụ thể: nhu cầu về kết nối
nguồn lực và hỗ trợ từ thiện đạt tỷ lệ cao nhất 88%
- Nhu cầu hướng dẫn các dịch vụ y tế sau khi người bệnh xuất viện có 2 nhu cầu cụ thể:
nhu cầu hỗ trợ thủ tục chuyển viện/xuất viện đạt tỷ lệ cao nhất 98%
Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu hỗ trợ công tác xã hội của người bệnh điều trị nội
trú tại khoa tim mạch và đái tháo đường
- Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu cung cấp dịch vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin về khám
chữa bệnh: kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện kinh tế, loại bệnh điều trị, số lần nhập
viện/năm là có mối liên quan
- Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu hỗ trợ tâm lý- xã hội trong KCB của người bệnh nội trú: kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện kinh tế, loại bệnh điều trị, số lần nhập
viện/năm là có mối liên quan
- Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu kết nối nguồn lực và hỗ trợ từ thiện: kết quả nghiên
cứu cho thấy nơi ở, điều kiện kinh tế, số lần nhập viện/năm là có mối liên quan
- Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu hướng dẫn dịch vụ y tế sau khi người bệnh xuất viện: kết quả nghiên cứu cho thấy: giới tính, nhóm tuổi, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế,
loại bệnh điều trị, số lần nhập viện/năm là có mối liên quan
Từ kết quả nghiên cứu tác giả đưa ra 1 số khuyến nghị:
- Phòng CTXH
+ Cung cấp các dịch vụ công tác xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân nội trú khoa Tim mạch và Đái tháo đường
- Bệnh viện
+ Tiếp tục phát huy công tác vận động tài trợ kinh phí cho người bệnh có hoàn cảnh khó
khăn tại khoa Tim mạch và Đái tháo đường
Trang 10xã hội giữa người bệnh với người thân trong gia đình, người bệnh với đội ngũ y bác sỹ
và cơ sở khám chữa bệnh Họ chính là đối tượng yếu thế phụ thuộc vào sự chữa trị, chăm sóc của Bệnh viện, nhân viên y tế, gia đình và nhân viên Công tác xã hội (CTXH) [4]
Đến nay trên cả nước, đã có nhiều Bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh thành lập phòng/tổ Công tác xã hội, cung cấp dịch vụ CTXH trong Bệnh viện, góp phần đổi mới phong cách, thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng chính sách còn nhiều khó khăn, và bất cập
Tại Việt Nam các đề tài nghiên cứu về CTXH tại Bệnh viện còn rất hạn chế Tiêu biểu có: nghiên cứu của tác giả Phạm Tiến Nam và nhóm cộng sự (2017) mô tả nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội của 418 bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện K [18] Nghiên cứu nghiên cứu tác giả Trần Thị Vân Ngọc (2015) mô tả thực trạng nhu cầu và hoạt động công tác xã hội tại Bệnh viện Nhi Trung ương [19]
Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang là Bệnh viện hạng I, là tuyến cuối trong hệ thống khám chữa bệnh tại tỉnh Tiền Giang Hiện tại Bệnh viện có 8 phòng chức năng và 26 khoa: lâm sàng và cận lâm sàng Tổng số cán bộ viên chức 832 người Với quy mô 780 giường kế hoạch, 1.265 giường thực kê, hằng ngày trung bình tại phòng khám Tim mạch có trên 300 lượt bệnh đến khám và điều trị ngoại trú và trên
100 bệnh nội trú.Tại phòng khám Đái tháo đường trung bình trên 200 lượt bệnh đến khám và điều trị ngoại trú và hơn 40 bệnh nội trú[8] Vì vậy có khá nhiều người bệnh
Trang 11có hoàn cảnh khó khăn, thiếu chi phí điều trị Xuất phát từ thực tế trên, ngày 02/3/2016 Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang thành lập phòng Công tác xã hội theo quyết định số 233/QĐ-SYT Chức năng hoạt động của phòng bao gồm cung cấp dịch vụ về CTXH cho NB, NNNB và NVYT và các tổ chức cá nhân liên quan [7] Tuy nhiên do mới được thành lập vài năm gần đây, thiếu hụt nhân sự và nguồn lực cần thiết, phòng Công tác xã hội chỉ mới tập trung hỗ trợ bệnh nhân ở khoa khám bệnh và một số hỗ trợ
từ thiện mà chưa đủ các điều kiện và căn cứ thực tiễn để triển khai tốt các hoạt động hỗ trợ tâm lý – xã hội và kết nối các nguồn lực hỗ trợ từ thiện cho người bệnh nội trú tại các khoa Đặc biệt là khoa: Tim mạch và Đái tháo đường
Cho đến nay tại tỉnh Tiền Giang chưa có công trình nghiên cứu nào về Công tác
xã hội tại Bệnh viện Nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh nội trú ra sao? Các yếu tố nào liên quan đến nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh nội trú?
Để trả lời câu hỏi trên, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “Nhu cầu hỗ trợ Công tác
xã hội của người bệnh điều trị nội trú và một số yếu tố liên quan tại khoa Tim mạch, Đái tháo đường Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018”
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh điều trị nội trú tại khoa Tim mạch, Đái tháo đường Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh điều trị nội trú tại khoa Tim mạch, Đái tháo đường, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Lịch sử phát triển Công tác xã hội trong Bệnh viện trên thế giới
Ngay từ cuối thế kỷ XVII, với cuộc cách mạng công nghiệp; xã hội phương Tây
đã bắt đầu phải chứng kiến nhiều vấn đề phức tạp với quy mô rộng lớn Trước những vấn đề này, đã có nhiều hoạt động từ thiện của các cá nhân, các tổ chức được thực hiện nhằm hỗ trợ nạn nhân vượt qua khó khăn Song, không những không thay đổi được tình hình mà còn tạo ra thói quen ỷ lại trong các nhóm đối tượng yếu thế Các hoạt động từ thiện chỉ có tác dụng xoa dịu nỗi đau tức thời, không tìm ra căn nguyên của vấn đề mà đối tượng đang gặp phải cũng như không giúp đối tượng tìm ra cách tháo
gỡ Vào giữa những năm 20 của thế kỷ trước, những nhà hoạt động xã hội ở Anh, Mỹ
từ chỗ thấu hiểu sâu sắc những tác hại của cách làm từ thiện theo kiểu ban phát đã bắt đầu mở các khóa đào tạo ngắn hạn đầu tiên về công tác xã hội và vận dụng các môn Tâm lý, Xã hội học, Kinh tế học,… vào chương trình đào tạo Cho đến giữa thế kỷ XX, công tác xã hội đã trở thành một ngành học được đào tạo chính quy ở hầu hết các nước trên thế giới, có cả ở châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ,…cả ở các nước tư bản cũng như nước xã hội chủ nghĩa Ngày nay, trên thế giới đã hình thành mạng lưới quốc tế về công tác xã hội với nhiều tổ chức như: Hiệp hội các trường CTXH, Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội, Các tổ chức và bảo vệ an sinh nhi đồng, dịch vụ gia đình, Nhiều tổ chức Liên hiệp quốc như UNDP, UNICEP,,…đã đặc biệt đề cao CTXH như một cách tiếp cận khoa học và thích hợp nhằm thúc đẩy quá trình phát triển xã hội ở những nước chậm phát triển CTXH vì vậy mà trở thành một ngành nghề được xã hội trọng dụng tại nhiều nước trên thế giới [29]
Đầu thế kỷ XIX, dạng CTXH sơ khai được thực hiện bởi các nhà truyền giáo và các tình nguyện viên (ở Mỹ) Những tình nguyện viên thường xuyên được tuyển chọn
và phân công giúp đỡ những người nghèo đói, ốm yếu, bệnh tật, trẻ em mồ côi, người già không nơi nương tựa,…Họ được gọi là “Những vị khách thân thiện” Các nhà tình
Trang 14nguyện còn thông qua các “Ủy ban cải thiện hình thức vệ sinh” và “Vụ giải phóng nô lệ” giúp đỡ chăm sóc những nô lệ vừa được giải phóng nhanh chóng hòa nhập vào cộng đồng xã hội [14]
Năm 1877, “Tổ chức từ thiện xã hội” được thành lập ở Mỹ đã chú ý tới việc tổ chức các tình nguyện viên Cũng từ đó, các tình nguyện viên của những năm 1880-
1890 đã trở thành những nhân viên công tác xã hội Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, CTXH với mục đích thực hiện sự điều chỉnh xã hội giúp thân chủ vượt qua hoàn cảnh
để hòa nhập và phát triển Do vậy, CTXH có một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sức khỏe cho mỗi người Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe bao gồm: hoàn cảnh và điều kiện sống (mức sống, vệ sinh, môi trường, ); trình độ học vấn và văn hóa; bùng
nổ dân số - gia tăng nhu cầu chăm sóc sức khỏe; trình độ phát triển khoa học kỹ thuật,…Các giải pháp nhằm chăm sóc sức khỏe gồm có: nâng cao nhận thức của người dân về chăm sóc sức khỏe; tôn trọng sự tự quyết và tự lực của cộng đồng đối với các hoạt động chăm sóc sức khỏe; phổ cập các kỹ thuật thích hợp, thích ứng với khả năng chi trả của người dân để tăng khả năng tiếp cận cho tất cả mọi người Các giải pháp này đều cần có sự ứng dụng của công tác xã hội [6]
Do đó, CTXH có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng mối quan hệ hài hòa giữa tinh thần và thể chất của người bệnh, giữa người bệnh với người thân, giữa người bệnh với những người xung quanh, giữa người bệnh với cơ sở y tế,…Để làm được điều này, người làm CTXH phải tìm hiểu đặc điểm tâm lý xã hội của bệnh nhân, hoàn cảnh thực tế mà họ đang phải đối mặt cùng những mong muốn của họ Từ
đó tìm ra sự hỗ trợ thích hợp cho thân chủ Vì lẽ đó, trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, bệnh viện là nơi cần có sự xuất hiện của công tác xã hội nhất Ở Mỹ, công tác xã hội lần đầu tiên được đưa vào bệnh viện năm 1905 tại Boston và đến nay hầu hết các bệnh viện đều có phòng công tác xã hội và đây là một trong các điều kiện để bệnh viện được công nhận là hội viên của Hội các bệnh viện Mỹ [24]
Tại châu Á, hoạt động CTXH được công nhận đầu tiên tại Trung Quốc là hoạt động xã hội về y tế tại khoa CTXH Bệnh viện ở Bắc Kinh, thành lập năm 1921 bởi một
Trang 15nhân viên làm CTXH Hoa Kỳ, Ida Pruitt Bộ phận này cung cấp các dịch vụ nghiên cứu xã hội, công tác thích ứng, tái định cư; bên cạnh đó, đào tạo dịch vụ được tổ chức cho các nhân viên xã hội – có thể nói đây là công việc đào tạo đầu tiên tại Trung Quốc Tại Bệnh viện, nhân viên CTXH là một thành phần trong ê kíp trị liệu Nhân viên phòng CTXH có nhiệm vụ tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, phương pháp chữa trị thích hợp trên cơ sở thu thập thông tin vể điều kiện sống, thói quen, cá tính, đặc điểm tâm lý của bệnh nhân Nhân viên CTXH còn thực hiện các trợ giúp về tâm lý đối với người bệnh như: trấn an, giảm áp lực, tránh xấu hổ, tư vấn về điều trị,…Nhân viên CTXH còn có thể tham mưu về kế hoạch xuất viện của bệnh nhân và theo dõi bệnh nhân sau khi ra viện Chăm sóc sức khỏe tại gia đình và cộng đồng cũng rất cần sự tham gia của nhân viên CTXH Họ có thể tham dự vào các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng như: truyền thông, giáo dục sức khỏe, giúp các nhóm đặc thù phục hồi, phát triển thể chất và tinh thần,…Ngoài ra, sau khi điều trị bệnh, nhân viên công tác xã hội còn giúp bệnh nhân hồi phục và tái hòa nhập đời sống bình thường của gia đình và cộng đồng [24]
Sự xuất hiện của nhân viên CTXH trong chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng là phương thức để mở rộng mạng lưới chăm sóc sức khỏe đến với người dân ở mọi lúc mọi nơi, nhằm khuyến khích họ tích cực tham gia giải quyết những vấn đề sức khỏe bằng chính khả năng của mình và với các phương pháp thích hợp Đồng thời, CTXH còn cần thiết phải được ứng dụng ở cấp hoạch định chính sách về chăm sóc sức khỏe
Ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, chăm sóc sức khỏe được xác định
là một trong những lĩnh vực của an ninh xã hội Do đó, khi hoạch định những chính sách về chăm sóc sức khỏe, cần phải ứng dụng những tri thức của CTXH sao cho mọi người dân đều có cơ hội hưởng lợi,… [28]
Trang 161.1.2 Lịch sử phát triển Công tác xã hội trong Bệnh viện ở Việt Nam
Nghề Công tác xã hội ở Việt Nam có thể được coi là chính thức được công nhận
từ năm 2010 sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 CTXH trong ngành y tế cũng đã được hình thành ngay sau đó khi mà
Bộ Y Tế ban hành đề án “ Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành y tế giai đoạn 2011-2020” Trong những năm gần đây, tại một số bệnh viện tuyến Trung ương cũng
đã triển khai hoạt động công tác xã hội với sự tham gia của đội ngũ nhân viên y tế kiêm nhiệm và tình nguyện viên nhằm hỗ trợ thầy thuốc trong phân loại bệnh nhân, tư vấn, giới thiệu dịch vụ chuyển tiếp, hỗ trợ chăm sóc người bệnh,…góp phần làm giảm bớt khó khăn trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh Một số mô hình
tổ chức hoạt động công tác xã hôi trong bệnh viện và tại cộng đồng cũng đã được hình thành trong thực tiễn như: phòng công tác xã hội, phòng chăm sóc khách hàng, tổ Từ thiện xã hội,…thuộc bệnh viện hay nhóm công tác xã hội tham gia hỗ trợ người có HIV/AIDS, bệnh nhân tâm thần, giúp phục hồi chức năng tại xã/phường,…[20]
Tuy nhiên, hoạt động CTXH trong ngành hiện chỉ mới mang tính tự phát, chưa được điều chỉnh bởi các văn bản mang tính pháp lý Đội ngũ cán bộ tham gia hoạt động chỉ mới có nhiệt huyết và kinh nghiệm, chưa được đào tạo bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng nên thường thiếu tính chuyên nghiệp, hiệu quả hoạt động chưa được như mong muốn Hiện nay, ở cả 3 cấp độ hoạt động của ngành Y tế đều chưa có sự tham gia của CTXH Trước hết, tại các Bệnh viện ở tất cả các tuyến của khu vực công lập cũng như ngoài công lập, hoạt động khám chữa bệnh mới chỉ được thực hiện bởi các nhân viên có trình độ chuyên môn về y, dược Các biện pháp trị liệu về xã hội chưa được quan tâm Do vậy, chưa có văn bản quy định chức danh chuyên môn về CTXH trong cơ cấu nhân sự cũng như chưa có phòng Công tác xã hội trong tổ chức bộ máy của Bệnh viện Hiện một số Bệnh viện, đặc biệt là ở các tỉnh phía Nam có duy trì hoạt động xã hội mang tính từ thiện để trợ giúp bệnh nhân song vẫn chỉ là những việc làm
tự phát do một số cá nhân hoặc tổ chức tự nguyện tham gia Các hoạt động này còn thiếu tính chuyên nghiệp, mang nặng tính ban phát, chỉ giúp bệnh nhân giải quyết một
Trang 17số nhu cầu cấp thiết như: bếp ăn từ thiện, gây quỹ từ thiện,…Trong khi đó tại hầu hết các bệnh viện trong cả nước, nhất là các bệnh viện tuyến trên, thường xuyên ở trong tình trạng quá tải Nhân viên y tế không có đủ thời gian và khả năng để giải quyết nhiều nhu cầu bức xúc của bệnh nhân như: khai thác thông tin về đặc điểm nhân khẩu
xã hội của người bệnh, cung cấp thông tin về giá cả, chất lượng, địa điểm của các loại dịch vụ, tư vấn về phác đồ điều trị, tư vấn cách phòng ngừa, trấn an tinh thần cho người bệnh,…Do vậy, hiện đang có nhiều vấn đề nảy sinh tại các bệnh viện như: “cò bệnh viện”, sự thiếu hụt thông tin khi tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh, sự không hài lòng của bệnh nhân đối với các cơ sở y tế, sự căng thẳng trong mối quan hệ giữa người bệnh và thầy thuốc,… [2]
Theo niên giám thống kê năm 2013, cả nước có khoảng 1.125 bệnh viện với 215.640 giường bệnh Trong số này có 46 bệnh viện Trung ương với 26.756 giường bệnh, 447 bệnh viện tuyến tỉnh với 110.549 giường bệnh, 1.214 bệnh viện tuyến huyện với 77.134 giường bệnh và 155 bệnh viện ngoài công lập với 9.501 giường bệnh Nếu hình thành một mạng lưới hoạt động Công tác xã hội tại hàng trăm Bệnh viện nêu trên thì cũng có nghĩa là sẽ cần đến hàng nghìn nhân viên Công tác xã hội Hoạt động CTXH ở Bệnh viện sẽ không chỉ ở vai trò hỗ trợ bệnh nhân mà còn có tác dụng lớn trong việc hỗ trợ thầy thuốc giảm bớt áp lực công việc cũng như nâng cao hiệu quả điều trị Tại cộng đồng, nhiều chương trình mục tiêu y tế quốc gia đang triển khai và rất cần có sự tham dự của nhân viên CTXH, đặc biệt là các chương trình liên quan đến những nhóm xã hội đặc thù như: quản lý, chăm sóc, tư vấn cho người nhiễm HIV tại cộng đồng, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, phòng chống lao, chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng, quản lý sức khỏe hộ gia đình, sức khỏe sinh sản, dân số kế hoạch hóa gia đình, phòng chống tai nạn thương tích,…Tại tuyến xã/phường, các chương trình này từ trước đến nay thường do nhân viên y tế thôn bản và các cán bộ đoàn thể đảm nhận trên tinh thần tự nguyện, chưa được đào tạo một cách chuyên nghiệp Nếu hình thành mạng lưới CTXH trong chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng thì
Trang 18cũng có nghĩa là cần phải có đến hàng nghìn nhân viên được đào tạo qua trường lớp về lĩnh vực này [15].
Tại cấp hoạch định chính sách chăm sóc sức khỏe hiện nay cũng còn bỏ ngõ chưa quan tâm đến sự tham gia của công tác xã hội Từ đó, có thể thấy nhu cầu sử dụng đội ngũ nhân viên CTXH của ngành y tế hiện nay là rất lớn và rất cần thiết ở mọi cấp
độ song cần phải căn cứ vào nhu cầu thực tế và khả năng đáp ứng về nguồn lực để xác định lĩnh vực ưu tiên, lộ trình phát triển sao cho phù hợp [22]
1.2 Khái niệm nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm về Công tác xã hội
Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống [17]
Theo Zastrow (1996): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp
họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ [30]
Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [23]
1.2.2 Khái niệm Công tác xã hội trong Bệnh viện
“Công tác xã hội trong Bệnh viện hay còn gọi là Công tác xã hội y tế là một chuyên ngành của CTXH Nhân viên CTXH y tế làm việc tại Bệnh viện, cơ sở điều dưỡng hay
cơ sở chăm sóc Họ được đào tạo và có bằng cấp chuyên môn Thực hành nghề nghiệp
Trang 19là giúp đỡ bệnh nhân và gia đình khi cần hỗ trợ về tâm lý xã hội, có khả năng đánh giá chức năng tâm lý xã hội để can thiệp” [17]
1.2.3 Khái niệm nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh nội trú Khái niệm nhu cầu
Có nhiều khái niệm khác nhau về nhu cầu Từ điển Tâm lý học (2002) cho rằng
“Nhu cầu được hiểu là những đòi hỏi tất yếu, để cá nhân tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định” Dưới góc độ tâm lý học xã hội, tác giả Trần Hiệp cho rằng: “Nhu cầu là một trong những nguồn gốc nội tại nảy sinh ra tính tích cực của con người Đó là trạng thái tâm lý xuất hiện khi cá nhân mình cần phải có những điều kiện nhất định để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình Trạng thái tâm lý đó kích thích con người hoạt động nhằm đạt được những gì mình mong muốn” [10] Trong đề tài, nhóm nghiên cứu sử dụng khái niệm nhu cầu theo như từ điển tâm lý học
Khái niệm nhu cầu Công tác xã hội của người bệnh nội trú
Từ những khái niệm nêu trên cho thấy: “Nhu cầu công tác xã hội của bệnh nhân nội trú là những đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng về cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp nghề công tác xã hội trong bệnh viện nhằm giúp họ giảm bớt gánh nặng bệnh tật, xây dựng mối quan hệ hài hoà giữa thể chất và tinh thần, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Nhu cầu cung cấp dịch vụ của các nhóm bệnh nhân nội trú với đặc điểm bệnh lý và tâm lý khác nhau sẽ có sự khác nhau”
Trong nghiên cứu này, nhu cầu Công tác xã hội của bệnh nhân nội trú được căn
cứ theo thông tư hướng dẫn của Bộ Y tế về nhiệm vụ CTXH trong Bệnh viện, và bổ sung dựa trên thực tiễn hoạt động nghề CTXH trong Bệnh viện tại Việt Nam và trên thế giới, được chi tiết hóa ở 4 nhóm nhu cầu mà bệnh nhân nội trú cần: (1) Nhu cầu cung cấp thông tin, tư vấn khám, chữa bệnh; (2) Nhu cầu hỗ trợ các vấn đề tâm lý- xã hội trong khám chữa bệnh; (3) Nhu cầu kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện; (4) Nhu cầu hướng dẫn các dịch vụ y tế sau khi người bệnh xuất viện [17]
Trang 201.3 Chức năng, nhiệm vụ phòng Công tác xã hội ở Việt Nam
Phòng Công tác xã hội tại Việt Nam hiện nay, thực hiện chức năng và nhiệm
vụ theo Thông tư 43/2015/TT-BYT ngày 26/11/2016, có 7 nhiệm vụ chính:
1 Hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về công tác xã hội cho người bệnh và người nhà người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh bao gồm: tiếp đón, hướng dẫn, hỗ trợ, thăm hỏi…
Đón tiếp, chỉ dẫn, cung cấp thông tin, giới thiệu về dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện cho người bệnh ngay từ khi người bệnh vào khoa khám bệnh hoặc phòng khám bệnh;
Tổ chức hỏi thăm người bệnh và người nhà người bệnh để năm bắt thông tin về tình hình sức khỏe, hoàn cảnh khó khăn của người bệnh, xác định mức độ và có phương án hỗ trợ về tâm lý, xã hội và tổ chức thực hiện;
Hỗ trợ khẩn cấp các hoạt động công tác xã hội cho người bệnh là nạn nhân của bạo hành, bạo lực gia đình, bạo lực giới, tai nạn, thảm họa nhằm bảo đảm an toàn cho người bệnh: hỗ trợ về tâm lý, xã hội, tư vấn về pháp lý, giám định pháp y, pháp y tâm thần và các dịch vụ phù hợp khác;
Hỗ trợ, tư vấn cho người bệnh về quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của người bệnh, các chương trình, chính sách xã hội về bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội trong khám bệnh, chữa bệnh;
Cung cấp thông tin, tư vấn cho người bệnh có chỉ định chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc xuất viện; Hỗ trợ thủ tục xuất viện và giới thiệu người bệnh đến các địa điểm hỗ trợ tại cộng đồng (nếu có);
Phối hợp, hướng dẫn các tổ chức, tình nguyện viên có nhu cầu thực hiện, hỗ trợ về công tác xã hội của bệnh viện;
2 Thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật
Thực hiện công tác phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí
Xây dựng kế hoạch truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh và tổ chức thực hiện kế hoạch sau khi được phê duyệt
Trang 21Xây dựng nội dung, tài liệu để giới thiệu, quảng bá hình ảnh, các dịch vụ và hoạt động của bệnh viện đến người bệnh và cộng đồng thông qua tổ chức các hoạt động, chương trình, sự kiện, hội nghị, hội thảo
Cập nhật và tổ chức phổ biến các chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến công tác khám bệnh, chữa bệnh, hoạt động của bệnh viện cho nhân viên y tế, người bệnh và người nhà người bệnh
Tổ chức thực hiện quy tắc ứng xử, hòm thư góp ý của bệnh viện
Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phù hợp cho nhân viên y tế và người bệnh
5 Đào tạo, bồi dưỡng
Tham gia hướng dẫn thực hành nghề công tác xã hội cho học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo nghề công tác xã hội;
Bồi dưỡng, tập huấn kiến thức về công tác xã hội cho nhân viên y tế và nhân viên bệnh viện; phối hợp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về y tế cho người làm việc về công tác xã hội
6 Tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm công tác xã hội của Bệnh viện
7 Tổ chức các hoạt động từ thiện, công tác xã hội của bệnh viện tại cộng đồng [21]
Trang 22Ngoài ra phòng CTXH Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang còn thực hiện một số chức năng và nhiệm vụ theo đề án thành lập phòng Công tác xã hội tại Bệnh viện
1.4 Một số nghiên cứu Công tác xã hội trong Bệnh viện trên thế giới và tại Việt Nam
1.4.1 Một số nghiên cứu Công tác xã hội trên thế giới
Nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh nội trú và một số yếu tố liên quan
Các công trình nghiên cứu trên thế giới về nhu cầu hỗ trợ CTXH của người bệnh nội trú và một số yếu tố liên quan còn rất hạn chế Sau đây là một số công trình nghiên
cứu tiêu biểu
Theo Chandwani, Kavita D và các cộng sự (2012), tỷ lệ hiện mắc các rối loạn tâm thần nói chung ở bệnh nhân ung thư dao động từ 24% đến 59%, tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm dao động từ 0 đến 46%, đối với rối loạn lo âu là từ 1% đến 49% Tính trung bình, khoảng 1/3 bệnh nhân ung thư có các biểu hiện lo âu, căng thẳng và đau khổ về tâm lý Tỷ lệ mắc các rối loạn tâm lý thay đổi theo từng loại bệnh ung thư và có khác biệt giữa các quốc gia; tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân ung thư vú trung bình là 50% trong khi ở bệnh nhân mắc ung thư phổi là 67% [26] Trầm cảm ở bệnh nhân ung thư có mối liên hệ với một số đặc điểm nhân khẩu học, xã hội, và các yếu tố liên quan đến điều trị bệnh, các yếu tố về tâm lý, lối sống, sự hỗ trợ xã hội và chất lượng cuộc sống [25]
Dịch vụ được nhấn mạnh mà bệnh nhân ung thư cần cung cấp là trị liệu tâm lý cho các rối loạn tâm thần, rối loạn lo âu và trầm cảm và hỗ trợ xã hội Hầu hết bệnh nhân sau chuẩn đoán ung thư vú đều có nhu cầu hỗ trợ tâm lý xã hội và cung cấp thông tin càng sớm càng tốt Tâm lý lành mạnh, hạnh phúc của bệnh nhân là yếu tố quan trọng góp phần điều trị bệnh ung thư vú hiệu quả Hỗ trợ xã hội cũng là yếu tố quan trọng để chất lượng cuộc sống tốt hơn và giảm mức độ các sang chấn tâm lý mà bệnh nhân ung thư vú gặp phải [27]
Trang 23Báo cáo “Thực tiển Công tác xã hội thành công trong lĩnh vực y tế ” năm 2009 của Julie M Schirmer, Giám đốc Trung tâm y tế gia đình, Y tế hành vi, thuộc Trung tâm y tế Maine (Hoa Kỳ) năm 2009 đã cung cấp những chuẩn mực cụ thể cho thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế của Hiệp hội CTXH quốc gia Hoa Kỳ Cơ sở kiến thức CTXH cụ thể cho lĩnh vực y tế bao gồm: nhu cầu tâm sinh lý xã hội của NB và người nhà NB, yếu tố tâm lý bệnh và tác động của nó đến chức năng tâm lý, nhu cầu tâm lý
và tinh thần của NB và người nhà NB; sự phân biệt trong lĩnh vực y tế giữa các nhóm
có nền văn hóa và kinh tế khác biệt, các vấn đề về luật pháp và đạo đức, quy định và chính sách; các chuẩn mực quy định lĩnh vực chăm sóc y tế, thực hành dựa trên thực tiển và nghiên cứu CTXH trong CSSK và nhu cầu các nhóm dân cư đặc biệt Báo cáo đưa ra khuyến nghị cho Việt Nam như sau: Đào tạo CTXH có thể cải thiện đang kể năng lực của hệ thống y tế tại Việt Nam về chăm sóc sức khỏe cho người bệnh và gia đình để cái thiện tình hình sức khỏe chung của quốc gia Các nhân viên chăm sóc y tế
và các nhà quản lý của các cấp trong hệ thống y tế có thể hưởng lợi từ các kỹ năng khai thác thông tin và hỗ trợ tâm lý cho người bệnh cũng như huy động sự hỗ trợ của cộng đồng Đây là những kỉ năng không thể thiếu của CTXH Tại Bệnh viện hay các trung tâm y tế, nhân viên CTXH xác định những nhu cầu ưu tiên, phát triển chương trình đáp ứng nhu cầu người bệnh, đánh giá kết quả cái thiện công tác chăm sóc sức khỏe Nhân viên CTXH trong ngành y tế có thể kết nối người bệnh với các dịch vụ cộng đồng Các trường đào tạo CTXH phải phối hợp với các trường y khoa và Y tế Công cộng để xác định vai trò CTXH và trách nhiệm của nhân viên CTXH trong lĩnh vực y tế [3]
Báo cáo “Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế Việt Nam và bối cảnh quốc tế” của Richard Hugman, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Công tác xã hội, Đại học New South Wales (Úc), chuyên gia tư vấn UNICEF Việt nam năm 2009 đã cung cấp thông tin về CTXH trong môi trường Bệnh viện Theo báo cáo, các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng khi NB nhận được sự hỗ trợ về mặt cá nhân, hay là về tâm lý, xã hội thì người bệnh sẽ có kết quả điều trị tốt hơn Chính từ kết quả này, nghề CTXH trong Bệnh viện đã xác định và phát triển vai trò chính là giúp đỡ NB và người nhà NB trong
Trang 24việc giải quyết những vấn đề tâm lý, xã hội khi mắc bệnh Cũng theo báo cáo, từ hai yếu tố chính đó, Vai trò CTXH tronh lĩnh vực y tế đã phát triển và bao gồm 2 nội dung sau: (1) Hỗ trợ phương tiện vất chất và cơ cấu cho những người thiếu nguồn lực tâm lý,
xã hội đã giúp họ đạt được trạng thái sức khỏe tốt hơn; (2) Cung cấp hỗ trợ tâm lý, xã hội cho NB và gia đình NB để họ có thể giải quyết các vấn đề của cuộc sống do bệnh tất hoặc khuyết tật đưa ra [12]
1.4.2 Một số nghiên cứu Công tác xã hội tại Việt Nam
1.4.2.1 Nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội cho người bệnh:
Tại Việt Nam cũng có rất ít đề tài nghiên cứu về nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội tại Bệnh viện Các nghiên cứu chủ yếu là về nhu cầu chăm sóc của người bệnh nội trú
+ Nhu cầu cung cấp dịch vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin về khám chữa bệnh
Nghiên cứu của tác giả Phạm Tiến Nam và nhóm cộng sự về “Nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện K năm 2017’’ đã tiến hành nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu 418 người, nghiên cứu định tính
đã tiến hành 8 cuộc phỏng vấn sâu và 3 cuộc thảo luận nhóm Nghiên cứu tiến hành tại Bệnh viện K – Bệnh viện Quốc gia về điều trị ung thư của Việt Nam Kết quả: người bệnh có nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội ở các mức tỷ lệ khác nhau Nhu cầu chỉ dẫn tư vấn thông tin về khám chữa bệnh cần nhất là được: hướng dẫn, hỗ trợ thủ tục/qui trình khám bệnh (86,1%); tư vấn chi phí điều trị (83,9%); tư vấn chính sách bảo hiểm y tế (78%) [18] Qua kết quả trên ta thấy được nhu cầu cung cấp dịch vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin về khám chữa bệnh của người bệnh nội trú là rất cao Kết quả này có nhiều tương đồng với kết quả nghiên cứu của chúng tôi
+ Nhu cầu hỗ trợ tâm lý – xã hội trong quá trình khám chữa bệnh:
Các nghiên cứu ghi nhận rằng, tại nhiều cơ sở y tế trên toàn quốc: hầu hết các bệnh nhân bệnh mạn tính gặp các vấn đề về tâm lý họ có nhu cầu được tư vấn tâm lý, giảm căng thẳng (> 80%), tư vấn chăm sóc bản thân và tư vấn giao tiếp (khoảng 50%) Ngoài ra, họ cũng mong muốn được tư vấn trực tiếp bởi bác sỹ điều trị tại phòng tư vấn riêng sau khi đã có chẩn đoán xác định và trước khi ra viện Họ cũng có các nhu cầu
Trang 25được thăm hỏi, động viên về tình trạng sức khỏe và hoàn cảnh khó khăn của gia đình [18]
Nghiên cứu của tác giả Bùi Ngọc Dũng “Đánh giá nhu cầu chăm sóc hỗ trợ của người bệnh điều trị nội trú bệnh máu ác tính tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương, năm 2011” đã nghiên cứu trên 403 người bệnh điều trị nội trú tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương tham gia trả lời bộ câu hỏi phát vấn có cấu trúc và 8 người tham gia phỏng vấn sâu Nội dung nghiên cứu mô tả các mức độ các yếu tố nhu cầu chăm sóc hỗ trợ của người bệnh và mối liên quan giữa các yếu tố nhu cầu với các đặc trưng của người bệnh Kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu chăm sóc hỗ trợ của người bệnh điều trị nội trú bệnh máu ác tính tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương là khá cao Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu hỗ trợ tâm lý đạt 91,1% ; nhu cầu thông tin y tế đạt 97,3% ; nhu cầu dịch vụ chăm sóc đạt 95% ; nhu cầu hỗ trợ thể chất sinh hoạt đạt 84,6% ; nhu cầu giai tiếp quan hệ đạt 67,5% [5] Nghiên cứu của Bùi Ngọc Dũng mô tả nhu cầu chăm sóc hỗ trợ của người bệnh nội trú về cơ bản có nhiều nét tương đồng so với nghiên cứu của chúng tôi Kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu hỗ trợ tâm lý – xã hội của người bệnh nội trú là rất cao nhất là đối người bệnh mạn tính
+ Nhu cầu kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện( vật chất- tài chính):
Nhu cầu hỗ trợ CTXH của người bệnh nội trú trong các Bệnh viện ở Việt Nam
là khá lớn, tuy nhiên nhu cầu kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện có những đặc thù riêng cho từng Bệnh viện Theo nghiên cứu tác giả Lê Minh Hiền (2014) về “Thực trạng của hoạt động giúp đỡ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn tại BV Chợ Rẫy giai đoạn 2009- 2013”, cho thấy: hoạt động hỗ trợ kinh phí cho người bệnh giai đọan 2009-
2013, đơn vị Y Xã hội đã triển khai nhiều chương trình, hoạt động đáp ứng nhu cầu chính đáng của người bệnh có hoàn cảnh khó khăn Từ 2009- 2013 tại BV Chợ Rẫy đã giúp 4.412 lượt người bệnh số tiền 18,6 tỷ đồng; tặng 5306 phần quà; tư vấn bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho 58 lượt; giúp phương tiện ra viện 69 lượt; giúp dinh dưỡng đặc hiệu 11 lượt; giúp áo quan 04 lượt; phát 4500 suất ăn miễn phí/ ngày Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đưa ra một số khó khăn làm ảnh hưởng đến hoạt động của đơn vị Y
Trang 26Xã hội như: thiếu văn bản pháp lý hướng dẫn về CTXH trong BV; phòng làm việc chật chội thiếu trang thiết bị, chưa có chế độ phụ cấp, bồi dưỡng cho nhân vên Y xã hội và mạng lưới Ngoài những khó khăn trên hoạt động CTXH của BV Chợ Rẫy đã được sự chỉ đạo theo dõi và định hướng kịp thời của Ban Giám đốc Những chương trình hoạt động đã được triển khai tại đơn vị đáp ứng nhu cầu của NB, khoa lâm sàng và niềm tin cho các nhà hảo tâm đến hoạt động tại BV [11] Qua kết quả nghiên cứu trên ta thấy được Bệnh viện Chợ Rẫy đã có những hoạt động giúp đỡ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn phần nào đáp ứng nhu cầu kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện( vật chất- tài chính) của người bệnh
+ Nhu cầu hướng dẫn dịch vụ y tế sau khi người bệnh xuất viện:
Nghiên cứu của tác giả Đoàn Thị Thùy Loan về “Thực trạng triển khai các hoạt động công tác xã hội tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm 2014-2015”, đã tìm hiểu và đưa ra một số kết luận: về hoạt động cung cấp thông tin, tư vấn khám chữa bệnh cho NB và NNNB Phòng CTXH đã triển khai được 3/4 hoạt động theo hướng dẫn Bộ Y tế Tuy nhiên chưa giải thích cho NB/NNNB trong trường hợp NB có chỉ định chuyển tuyến hoặc ra viện [16] Kết quả nghiên cứu này cũng có nét tương đồng với nghiên cứu chúng tôi
Đến nay chưa có nghiên cứu về: nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh điều trị nội trú và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang
1.4.2.2.Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội
Tại Việt Nam đề tài nghiên cứu về yếu tố liên quan đến nhu cầu hỗ trợ Công tác
xã hội của người bệnh nội trú tại Bệnh viện còn rất hạn chế Tiêu biểu ở Việt Nam có chỉ có nghiên cứu “Nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện K năm 2017’’ của tác giả Phạm Tiến Nam và nhóm cộng
sự (2017) đã đưa ra và tìm hiểu: Số lần nhập viện điều trị là một trong những yếu tố liên quan mật thiết đến nhu cầu kết nối nguồn lực và hỗ trợ từ thiện cho bệnh nhân ung thư tại bệnh viện K Phần lớn bệnh nhân đều đến bệnh viện K điều trị lần đầu họ đa số
Trang 27đến từ vùng nông thôn và phần đông có mức sống trung bình, điều này không tránh khỏi họ có tâm lý lo lắng về kinh tế trong thời gian nhập viện điều trị vì cũng không biết phải nằm viện đến bao giờ và căn bệnh cũa họ có thật sự hồi phục Đây cũng là nguyên nhân chính khiến cho họ cần được hướng dẫn hỗ trợ thủ tục/quy trình khám bệnh; tư vấn cách chăm sóc sức khỏe thể chất và chế độ dinh dưỡng; hỗ trợ tiền mặt
chi dùng cho sinh hoạt phí
Giới tính là một trong những yếu tố chính liên quan đến nhu cầu hỗ trợ tâm lý –
xã hội Điều này không chỉ xuất phát từ sự khác biệt về sinh lý giữa bệnh nhân nam và bệnh nhân nữ mà còn xuất phát từ tâm lý của họ Xét về tâm lý, nam giới thường có khuynh hướng mạnh mẽ, cũng như ổn định về mặt tâm lý, tự mình vượt qua khó khăn ngay cả khi họ gặp phải bệnh hiểm nghèo trong khi nữ giới lại thường tỏ ra nhạy cảm, hay lo lắng, suy nghĩ về tình trạng bệnh, chi phí điều trị, các thông tin liên quan trong việc phòng chống điều trị bệnh
Ngoài ra, người bệnh điều trị lần đầu có nhu cầu hỗ trợ tâm lý xã hội (đặc biệt
là nhu cầu thăm hỏi tình trạng sức khỏe và hoàn cảnh khó khăn của gia đình) cao hơn
so với người bệnh nhập viện điều trị từ lần thứ hai trở đi Bởi lẽ, với lần đầu tiên điều trị tại Bệnh viện, người bệnh phải thích nghi với môi trường Bệnh viện Họ phải hoàn thiện rất nhiều quy trình và thủ tục để được nhập viện điều trị Một số người bệnh tỏ ra sốc và lo lắng khi ngay trong lần đầu tiên nhập viện điều trị Do họ không biết phải điều trị đến bao giờ và căn bệnh của họ có thực sự hồi phục hay không
Như vậy, yếu tố cá nhân và thông tin về điều trị được chứng minh có mối liên quan đến nhu cầu hỗ trợ CTXH của người bệnh nội trú trong đó bao gồm các yếu tố: giới tính, số lần điều trị Một số yếu tố chưa ghi nhận đến nhu cầu hỗ trợ CTXH như: nghề nghiệp, yếu tố tham gia bảo hiểm y tế chưa được đề cặp ở đề tài trên
Trang 281.5 Khung lý thuyết
NHU CẦU HỖ TRỢ CTXH CỦA NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ
CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Thông tin về điều trị bệnh: bảo hiểm y tế chi trả, số lần điều trị/năm, số ngày nằm viện, khả năng chi trả
Nhu cầu hỗ trợ tâm lý- xã hội cho người bệnh trong khám chữa bệnh
hướng dẫn các dịch vụ y tế sau khi người bệnh xuất viện
Nhu cầu kết nối các nguồn lực và hỗ trợ
Trang 291.6 Tóm tắt địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang là bệnh viện hạng I, là tuyến cuối trong hệ thống khám chữa bệnh tại tỉnh Tiền Giang Bệnh viện đã thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Bộ Y tế bao gồm: Khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng; Phòng chống các dịch bệnh; Nghiên cứu khoa học; Đào tạo cán bộ; Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn và kỹ thuật; Hợp tác quốc tế; Quản lý đơn vị Hiện tại bệnh viện có 8 phòng chức năng và 26 khoa: lâm sàng và cận lâm sàng Tổng số cán bộ viên chức 832 người Với quy mô 780 giường kế hoạch, 1.265 giường thực kê, hằng ngày trung bình tại phòng khám tim mạch có hơn 300 lượt bệnh đến khám và điều trị ngoại trú và hơn
100 bệnh nhân điều trị nội trú Tại phòng khám Đái tháo đường trung bình có hơn 200 lượt khám và điều trị ngoại trú và hơn 40 bệnh nhân nội trú Vì vậy áp lực công việc dành cho nhân viên y tế là không nhỏ Số lượng bệnh nhân đông nên nhân viên y tế không đủ thời gian, đủ khả năng hướng dẫn, hỗ trợ, giải quyết thấu đáo nhu cầu khám, chữa bệnh cho bệnh nhân và người thân bên cạnh đó cũng có nhiều người bệnh có hoàn cảnh khó khăn mắc bệnh hiểm nghèo, thiếu chi phí điều trị Có những người bệnh khi vào viện điều trị không người thân chăm sóc [13]
Phòng CTXH Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang thành lập ngày 02/3/2016 theo quyết định 233/QĐ-SYT Phòng CTXH là phòng chức năng Phòng gồm 06 cán bộ, viên chức Trong đó có 01 trưởng phòng; 01 phó trưởng phòng và 04 nhân viên TS.BS Nguyễn Văn Dương, Phó giám đốc BV là lãnh đạo BV phụ trách phòng Các thành viên trong phòng được phân công theo lĩnh vực đào tạo như sau:
Trưởng phòng, phụ trách chung: Cử nhân điều dưỡng
Phó trưởng phòng: Cử nhân điều dưỡng
Tổ chăm sóc khách hàng: Kỹ thuật viên Y
Tổ hỗ trợ người bệnh và nhân viên y tế: Cử nhân CTXH, Cao đẳng Điều dưỡng
Tổ hỗ trợ tâm lý: Cử nhân Tâm lý [8]
Ngày 26/11/2015, Bộ Y tế ban hành Thông tư 43/2015/TT-BYT quy định về nhiệm vụ và các hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ CTXH của BV Theo đó phòng
Trang 30CTXH của Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang đã triển khai một số hoạt động như: hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về CTXH; Công tác tiếp nhận và hỗ trợ trực tiếp người bệnh; Hỗ trợ vấn đề tâm lý cho nhân viên y tế và người bệnh, Phối hợp đoàn thanh niên, công đoàn bệnh viện Tuy nhiên vẫn còn một số hoạt động chưa triển khai được như thực hiện công tác phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh, đào tạo Để nâng cao hiệu quả hoạt động của phòng CTXH, nâng cao chất lượng phục vụ và chăm sóc NB, phòng CTXH đang từng bước triển khai hoạt động theo thông tư trên [21]
Trang 31CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu định lượng:
Người bệnh đang điều trị nội trú tại khoa Tim mạch và Đái tháo đường, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang
Nghiên cứu định tính:
Đại diện Ban Giám đốc bệnh viện
Trưởng phòng Công tác xã hội Bệnh viện
Điều dưỡng trưởng khoa Tim mạch, Đái tháo đường
Nhân viên Công tác xã hội Bệnh viện
Đại diện người bệnh nội trú
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Đối với nghiên cứu định lượng
Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
Người bệnh đang điều trị nội trú tại khoa Tim mạch và Đái tháo đường, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang trên 18 tuổi (ở độ tuổi trên 18 người bệnh sẽ có nhận thức tốt hơn về nhu cầu hỗ trợ CTXH mà họ cần, hơn nữa họ sẽ có trách nhiệm pháp lý cho câu trả lời)
Số ngày nằm viện ít nhất 2 ngày (do người bệnh đã tham gia vào các giai đoạn khám bệnh, xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh, nhập viện và đã trải qua các thủ tục tại khoa khám bệnh, khoa lâm sàng, khoa cận lâm sàng và còn nằm lại viện 2 ngày nên họ hiểu rõ về BVĐKTTTG)
Biết đọc, biết viết; có đủ sức khỏe tham gia phỏng vấn; không bị khuyết tật như điếc, mù, câm hoặc các bệnh rối loạn tâm thần kinh như động kinh, trầm cảm
Trang 32Đối với nghiên cứu định tính:
Những người này được biết về nội dung, mục đích nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên cứu Thành phần:
Đại diện Ban Giám đốc bệnh viện
Trưởng phòng Công tác xã hội Bệnh viện
Đại diện điều dưỡng trưởng khoa: 01 điều dưỡng trưởng khoa Tim mạch và 01 điều dưỡng trưởng khoa Đái tháo đường
Nhân viên Công tác xã hội: toàn bộ 04 nhân viên phòng CTXH
Đối với nhân viên y tế trong Bệnh viện: làm việc theo biên chế chính thức, trực tiếp thực hiện các hoạt động khám chữa bệnh
Đại diện người bệnh nội trú : 02 bệnh nhân khoa Tim mạch và 02 bệnh nhân Đái tháo đường đang điều trị nội trú tại BV (tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân như tiêu chuẩn định lượng)
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
Những đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu, không có mặt tại bệnh viện vào thời gian nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Thời gian: Tháng 3 đến tháng 10 năm 2018
Địa điểm: Khoa Tim mạch và Đái tháo đường, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm
Tiền Giang, số 02, đường Hùng Vương, Phường 1, Thành phố Mỹ Tho, Tỉnh Tiền
Giang
2.3 Thiết kế:
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, định lượng kết hợp định tính Việc thu thập số liệu định tính và định lượng được thực hiện đồng thời để so sánh, đối chiếu kết quả
Phương pháp nghiên cứu định lượng: nhằm làm rõ thông tin chung; thông tin điều trị của người bệnh nội trú; nhu cầu hỗ trợ công tác xã hội của người bệnh nội trú tại khoa Tim mạch, Đái tháo đường, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang và một
Trang 33số yếu tố liên quan gồm: (1) Cung cấp dịch vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin về khám chữa bệnh; (2) Hỗ trợ tâm lý- xã hội trong khám chữa bệnh; (3) Kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện; (4) Hướng dẫn các dịch vụ y tế sau khi người bệnh xuất viện
Phương pháp nghiên cứu định tính: nhằm làm rõ hơn nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh nội trú tại khoa Tim mạch, Đái tháo đường Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang và một số yếu tố liên quan
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
n: cỡ mẫu tối thiểu cần thiết
α: độ tin cậy Tương ứng với độ tin cậy 95% , ta có tương ứng là 1,96 d: Độ chính xác tương đối mong muốn: d = 0,07
p: ước lượng tỷ lệ NBNT có nhu cầu CTXH trong BV Cỡ mẫu được chọn lớn nhất với p = 0,5 Thay vào công thức ta có 196 đối tượng
Dự phòng 10% người bệnh bỏ cuộc, cỡ mẫu cần cho nghiên cứu 216
Thực tế cỡ mẫu thu được 196 phiếu Trong đó có 98 phiếu khoa Tim mạch và
98 phiếu khoa Đái thái đường
Khảo sát định tính:
Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng để thu thập thêm thông tin từ: cán bộ y tế, nhân viên Công tác xã hội và người bệnh nội trú tại bệnh viện để làm rõ hơn nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội trong việc hỗ trợ người bệnh nội trú tại khoa Tim
Trang 34mạch, Đái tháo đường Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang Nghiên cứu đã tiến
hành 08 cuộc phỏng vấn sâu (PVS) và 01 thảo luận nhóm (TLN) bao gồm: 01 PVS đại
diện Ban Giám đốc bệnh viện; 01 PVS Trưởng phòng Công tác xã hội; 02 PVS đại
diện điều dưỡng trưởng khoa gồm: (khoa Tim mạch, Đái tháo đường); 04 PVS đại diện
người bệnh nội trú gồm: (02 người bệnh nội trú khoa Tim mạch và 02 người bệnh nội
trú khoa Đái tháo đường đang điều trị tại BVĐKTTTG); 01 TLN 04 nhân viên phòng
CTXH
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu
Số liệu định lượng: Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện
Trong quá trình thu thập và loại bỏ phiếu không đạt, nghiên cứu viên thu được
196 phiếu từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2018 Trong đó có 98 phiếu ở khoa Tim mạch và
98 phiếu ở khoa Đái tháo đường đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu và trong thời gian
nghiên cứu
Số liệu định tính: Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích
01 PVS đại diện Ban Giám đốc BV (người trực tiếp phụ trách phòng CTXH)
01 PVS trưởng phòng CTXH BV (người hiểu rõ nhất về hoạt động Công tác xã
hội tại phòng)
02 PVS đại diện điều dưỡng trưởng gồm: 01 điều dưỡng trưởng khoa Tim mạch
và 01 điều dưỡng trưởng khoa Đái tháo đường (bởi họ tham gia vào hoạt động Công
tác xã hội Bệnh viện)
04 PVS đại diện người bệnh nội trú: 02 bệnh nhân khoa Tim mạch và 02 bệnh
nhân khoa Đái tháo đường đang điều trị nội trú tại BV
01 TLN 04 nhân viên phòng Công tác xã hội (trực tiếp thực hiện hoạt động
CTXH tại BV)
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Số liệu định lượng: Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn
Trang 35Áp dụng công cụ thu thập số liệu bộ câu hỏi phỏng vấn dựa trên sự tham khảo
bộ câu hỏi của TS.Phạm Tiến Nam & nhóm cộng sự Bộ câu hỏi phỏng vấn gồm 02 phần:
Phần A: Thông tin chung, thông tin về điều trị của người bệnh nội trú
Phần B: Nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh điều trị nội trú tại khoa Tim mạch và Đái tháo đường (Phụ lục 4)
Số liệu định tính: Sử dụng bộ câu hỏi PVS và TLN
Phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) là hai phương pháp được áp dụng trong nghiên cứu này, nhằm bổ sung thông tin về: nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh nội trú tại khoa Tim mạch, Đái tháo đường, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang và một số yếu tố liên quan Sử dụng bộ công cụ PVS và TLN dưới sự
hỗ trợ TS Phạm Tiến Nam Quá trình PVS và TLN do nghiên cứu viên trực tiếp thực hiện, thời gian có thể kéo dài từ 15-30 phút, được ghi chép, ghi âm nếu đối tượng đồng
ý (Phụ lục 5)
2.5.2 Quy trình thu thập số liệu:
2.5.2.1 Thử nghiệm bộ công cụ định lượng:
Nghiên cứu viên phỏng vấn ngẫu nhiên 10 người bệnh nội trú tại khoa Tim mạch và Đái tháo đường Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang (10 bệnh nhân thử nghiệm này không tham gia điều tra chính thức) với bộ câu hỏi được thiết kế sẵn, bộ công cụ không chỉnh sửa gì sau thử nghiệm
2.5.2.2 Điều tra viên
Là 3 nhân viên y tế trong Bệnh viện (1 nghiên cứu viên, 1 điều dưỡng khoa Tim mạch, 1 điều dưỡng khoa Đái tháo đường) Nghiên cứu viên trực tiếp giám sát các điều tra viên còn lại
2.5.2.3 Tập huấn điều tra viên
Nghiên cứu viên trực tiếp tập huấn điều tra viên Nội dung tập huấn điều tra viên bao gồm:
Trang 36Đạo đức trong phỏng vấn: ĐTV giải thích mục tiêu nghiên cứu và xin sự đồng ý tham gia của đối tượng nghiên cứu là người bệnh nội trú
Kỹ năng và phương pháp phỏng vấn theo nội dung bộ câu hỏi
2.5.2.4 Tổ chức thu thập số liệu: chọn mẫu thuận tiện
Đại diện nhóm nghiên cứu tiến hành xin ý kiến Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang để tiến hành thu thập số liệu từ tháng 4/2018 đến tháng 6/2018 Tại khoa nghiên cứu viên gặp trực tiếp lãnh đạo, điều dưỡng trưởng khoa để thông báo về thời gian, nội dung và mục đích nghiên cứu
Tại khoa Tim mạch và Đái tháo đường, buổi sáng bệnh nhân sẽ được bác sĩ khám bệnh, sau đó điều dưỡng sẽ thực hiện theo y lệnh bác sĩ Vì vậy, tác giả thấy thời điểm thích hợp để phỏng vấn các đối tượng là đầu giờ chiều Điều tra viên (ĐTV) xuống khoa Tim mạch và Đái tháo đường tiếp cận người bệnh giới thiệu về mục đích,
ý nghĩa của nghiên cứu và cách trả lời phiếu theo qui định cho đối tượng nghiên cứu ĐTV gửi cho người bệnh một phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu Nếu đối tượng đồng
ý tham gia nghiên cứu sẽ ký vào giấy đồng ý tham gia nghiên cứu và tiến hành trả lời các câu hỏi trong phiếu phỏng vấn Thời gian 10-15 phút
2.5.2.5 Giám sát thu thập số liệu
Giám sát viên (nghiên cứu viên) đi cùng ĐTV để quan sát phỏng vấn và kịp thời rút kinh nghiệm, đồng thời thu thập các phiếu điều tra từ các ĐTV Giám sát viên
có nhiệm vụ kiểm tra, quản lý số lượng và chất lượng phiếu điều tra Nếu có thiếu sót
gì yêu cầu điều tra viên đó bổ sung và hoàn chỉnh lại
2.6 Các biến số nghiên cứu nghiên cứu.
Trang 37Nhóm biến nhu cầu hỗ trợ Công tác xã hội của người bệnh nội trú tại Bệnh viện, gồm có 4 biến:
+ Nhu cầu cung cấp dịch vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin về khám chữa bệnh + Nhu cầu hỗ trợ tâm lý – xã hội trong quá trình khám chữa bệnh
+ Nhu cầu kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện( vật chất- tài chính)
+ Nhu cầu hướng dẫn dịch vụ y tế sau khi người bệnh xuất viện
Biến số định tính: gồm có 4 chủ đề
+ Nhu cầu cung cấp dịch vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin về khám chữa bệnh + Nhu cầu hỗ trợ tâm lý – xã hội trong quá trình khám chữa bệnh
+ Nhu cầu kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện( vật chất- tài chính)
+ Nhu cầu hướng dẫn dịch vụ y tế sau khi người bệnh xuất viện
Xem phụ lục 1 Bảng danh mục biến số
2.7 Các thước đo tiêu chuẩn đánh giá nhu cầu của người bệnh
Để đánh giá nhu cầu hỗ trợ CTXH của người bệnh điều trị nội trú, với mỗi câu
đánh giá, chúng tôi sử dụng thang đo likert với 5 mức độ:
“Hoàn toàn không cần thiết”
Bộ câu hỏi đã được tác giả Phạm Tiến Nam chuẩn hóa trong đề tài nghiên cứu
“Nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện K năm 2017’’
Trang 38Nhu cầu hỗ trợ CTXH của người bệnh điều trị nội trú về được chia thành 4 nhóm:
Mỗi nhóm nhu cầu hỗ trợ CTXH được đánh giá bằng một hoặc nhiều câu hỏi Nhu cầu cung cấp dịch vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin về khám chữa bệnh: đánh giá bằng
2.8 Phương pháp phân tích số liệu:
Số liệu định lượng: toàn bộ số phiếu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và
phân tích bằng phần mềm SPSS18 Sau đó làm sạch, kiểm tra giá trị bất thường, lỗi do
mã hóa và tiến hành phân tích
Số liệu định tính: thông tin ghi âm và TLN được gỡ băng và phân tích theo
phương pháp mã hóa theo chủ đề để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu
2.9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm đánh giá nhu cầu hỗ trợ công tác xã hội của người bệnh nội trú điều trị tại khoa Tim mạch và Đái tháo đường BVĐKTTTG Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật đúng nguyên tắc Các số liệu, thông tin thu thập được lưu trữ
Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng xét duyệt và thông qua theo quyết định số 294/2018/YTCC- HD3, ngày 26/4/2018
Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi lại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang Kết quả nghiên cứu và những khuyến nghị được sử dụng vào mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ Công tác xã hội cho người bệnh nội trú tại Bệnh viện
Trang 39CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1.Thông tin chung của người bệnh nội trú về Công tác xã hội tại Bệnh viện
Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tương nghiên cứu
(N=196)
Tỷ lệ (%)
Trang 40STT Thông tin chung Tần số
(N=196)
Tỷ lệ (%)
Kết quả bảng 3.1 Cung cấp thông tin chung của đối tượng nghiên cứu Trong tổng
số 196 đối tượng tham gia nghiên cứu: phần lớn nữ giới đạt tỷ lệ cao hơn nam giới, theo
tỷ lệ tương ứng là 63,3% và 36,7% Về nhóm tuổi: chủ yếu tập trung ở nhóm > 56 tuổi đạt
tỷ lệ cao nhất 75,5%, đối tượng có nhóm tuổi 18 tuổi – 26 tuổi đạt tỷ lệ thấp nhất 0,5% Nơi ở: nông thôn đạt tỷ lệ cao hơn thành thị, theo tỷ lệ tương ứng 71,9% và 28,1% phù hợp với nghề nghiệp nông dân là chủ yếu 36,2% Trình độ học vấn: cấp 2 đạt tỷ lệ cao nhất là 40,3%, thấp nhất trên cấp 3 chiếm 5,1% Tình trạng hôn nhân: đa số đối tượng nghiên cứu