1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục của cán bộ trạm y tế xã, huyện mê linh, thành phố hà nội, giai đoạn 2016 2017

110 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 5,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khuyến nghị Sở Y tế Hà Nội, Trung tâm Y tế huyện Mê Linh tăng cường năng lực để Trung tâm Y tế huyện Mê Linh được phép cấp chứng chỉ cho các khóa đào tạo l

Trang 1

LÊ THỊ HỒNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CỦA CÁN BỘ TRẠM Y TẾ XÃ,

HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI,

GIAI ĐOẠN 2016 - 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LÊ THỊ HỒNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CỦA CÁN BỘ TRẠM Y TẾ XÃ,

HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI,

GIAI ĐOẠN 2016 - 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS ĐỖ MAI HOA

HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cám ơn thầy cô

giáo Trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình hướg dẫn cho tôi, tạo điều kiện tốt

nhất để tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin gửi lời cám ơn đến Ban giám hiệu,

Phòng quản lý đào tạo sau Đại học Trường Đại học Y tế công cộng đã tạo mọi điều

kiện thông báo và hướng dẫn cho tôi thực hiện đúng qui định của Trường Tôi xin

chân thành cám ơn PGS.TS Đỗ Mai Hoa đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn cho tôi

trong thời gian làm luận văn Tôi xin cảm ơn Chi ủy, Ban giám đốc, tập thể phòng

Hành chính Tổ chức Tài vụ - Trung tâm Y tế huyện Mê Linh đã tận tình giúp đỡ

cùng tham gia thu thập số liệu, tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành nghiên

cứu Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ trạm y tế xã, thị trấn đã đồng ý tham gia

nghiên cứu và tạo mọi điều kiện tốt nhất có thể để tôi hoàn thành nghiên cứu Sau

cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, những

người bạn thân thiết đã tận tình chia sẻ giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất có thể để

tôi hoàn thành luận văn này

Học viên

Lê Thị Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.2 Nhiệm vụ và nhân lực của Trạm Y tế xã 5

1.2.1 Nhiệm vụ của trạm y tế xã: 5

1.2.2 Nhân lực Trạm y tế xã 6

1.3 Công tác đào tạo liên tục của cán bộ y tế trên thế giới và Việt Nam 7

1.3.1 Công tác đào tạo liên tục trên thế giới 7

1.3.2 Công tác đào tạo liên tục tại Việt Nam 9

1.4 Khung lý thuyết 13

1.5 Giới thiệu về huyện Mê Linh, các trạm y tế xã thuộc huyện Mê Linh 13

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu: 16

2.1.1 Nghiên cứu định lượng: 16

2.1.2 Nghiên cứu định tính: 16

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 16

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 16

2.3 Thiết kế nghiên cứu: 16

2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 17

2.4.1 Nghiên cứu định lượng: 17

2.4.2 Nghiên cứu định tính: 17

2.5 Phương pháp thu thập số liệu: 17

2.5.1 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu định lượng: 17

2.5.2 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu định tính: 18

2.6 Các biến số nghiên cứu: 19

2.7 Một số khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá 19

Trang 5

2.8 Phương pháp phân tích số liệu: 20

2.8.1 Xử lý số liệu nghiên cứu định lượng 20

2.8.2 Xử lý thông tin nghiên cứu định tính 20

2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 20

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 21

3.2 Thực trạng đào tạo liên tục của cán bộ trạm y tế xã giai đoạn 2016-2017 (N=111) 23

3.2.1 Tình hình các khoá đào tạo liên tục mà cán bộ TYT xã tham gia giai đoạn 2016 – 2017 23

3.2.2 Hiểu biết của cán bộ trạm y tế xã về Thông tư 22/2013/TT-BYT 26

3.2.3 Tỷ lệ cán bộ trạm y tế xã đáp ứng yêu cầu Thông tư 22/2013/TT-BYT về đào tạo liên tục 28

3.2.4 Khó khăn trong việc thực hiện công việc và nhu cầu của cán bộ TYT xã về đào tạo liện tục 29

3.3 Yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cán bộ trạm y tế 32

3.3.1 Yếu tố thuộc về cá nhân 32

3.3.2 Yếu tố thuộc về đơn vị chủ quản (TTYT, TYT) 35

3.3.3 Yếu tố thuộc về chính sách quản lý và văn bản pháp quy 42

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 47

4.1 Thông tin về đối tượng nghiên cứu 47

4.2 Thực trạng công tác ĐTLT cho cán bộ trạm y tế năm 2016-2017 49

4.3 Các yếu tố ảnh hướng đến ĐTLTcho cán bộ trạm y tế xã, thị trấn 53

4.4 Hạn chế của nghiên cứu 57

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 59

5.1 Thực trạng công tác ĐTLT cho cán bộ trạm y tế năm 2016-2017 59

5.2 Các yếu tố ảnh hướng đến ĐTLT cho cán bộ trạm y tế xã, thị trấn 59

KHUYẾN NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LỤC 65

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Thông tin chung về cán bộ y tế tại Trạm y tế xã (N=111) 21

Bảng 3.2 Thời gian công tác tại Trạm Y tế xã, thị trấn của cán bộ y tế (N=111) 21

Bảng 3.3: Phân loại trình độ chuyên môn cán bộ trạm Y tế xã (N=111) 22

Bảng 3.4: Đối tượng tham gia đào tạo liên tục trong 2 năm (1/2016-12/2017) 23

Bảng 3.5 Số lượt hoạt động đào tạo liên tục trung bình mà cán bộ trạm đã tham gia trong 2 năm 2016-2017 theo chức danh (N=111) 23

Bảng 3.6 Hình thức tổ chức khóa ĐTLT trong 2 năm 2016-2017 (N=111) 24

Bảng 3.7: Địa điểm tổ chức các lớp đào tạo liên tục 2 năm 2016-2017 24

Bảng 3.8 Cách thức tổ chức các khóa học được đào tạo 25

Bảng 3.9 Phương pháp ĐTLT cho cán bộ trạm 25

Bảng 3.10 Nhận xét về chất lượng khóa học theo số lượt đào tạo 25

Bảng 3.11 Kiến thức biết về yêu cầu cần tham gia đào tạo liên tục theo thông tư 22/2013/TT-BYT (N = 111) 26

Bảng 3.12 Nguồn thông tin mà cán bộ trạm được biết về yêu cầu cần tham gia ĐTLT theo Thông tư 22/2013/TT-BYT (N = 89) 26

Bảng 3.13 Kiến thức về thời gian tối thiểu dành cho ĐTLT trong 2 năm

(N = 93) 27

Bảng 3.14 Kiến thức về việc không thực hiện nghĩa vụ ĐTLT trong 2 năm và việc thu hồi chứng chỉ hành nghề của cán bộ có chứng chỉ hành nghề KCB 27

(N = 93) 27

Bảng 3.15 Thực trạng đào tạo liên tục phân theo thời lượng trong 2 năm

(N=111) 28

Bảng 3.16 Thực trạng đào tạo liên tục được cấp chứng chỉ, chứng nhận phân theo thời lượng trong 2 năm (N=111) 28

Bảng 3.17 Thực trạng đào tạo liên tục của cán bộ có chứng chỉ hành nghề KCB đáp ứng thông tư 22/2013/TT-BYT (N=93) 29

Bảng 3.18 Những khó khăn của cán bộ y tế trong công tác hàng ngày (N=111) 29

Bảng 3.19 Khó khăn do thiếu kiến thức giữa các nhóm chức danh nghề nghiệp 30

Trang 7

Bảng 3.20 Khó khăn do thiếu kỹ năng giữa các nhóm chức danh nghề nghiệp 30 Bảng 3.21 Nhu cầu đào tạo của cán bộ y tế trong thời gian tới (N = 111) 32 Bảng 3.23 Mối liên quan giữa tình trạng cán bộ y tế được đào tạo liên tục đáp ứng Thông tư 22/2013/TT-BYT với nhóm tuổi (N=93) 32 Bảng 3.24 Mối liên quan giữa tình trạng cán bộ y tế được đào tạo liên tục đáp ứng Thông tư 22/2013/TT-BYT với giới tính (N=93) 33 Bảng 3.25 Mối liên quan giữa tình trạng cán bộ y tế được đào tạo liên tục đáp ứng Thông tư 22/2013/TT-BYT với trình độ chuyên môn (N=93) 33 Bảng 3.26 Mối liên quan giữa tình trạng cán bộ y tế được đào tạo liên tục đáp ứng Thông tư 22/2013/TT-BYT với thâm niên công tác tại trạm y tế (N=93) 34 Bảng 3.27 Số lượng cán bộ y tế được đào tạo liên tục đáp ứng Thông tư 22/2013/TT-BYT phân theo chức danh nghề nghiệp (N=93) 34 Bảng 3.28 Kinh phí cho đào tạo liên tục 35 Bảng 3.29 Số lượng cán bộ chuyên môn hiện có so với số lượng biên chế được giao 36

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ cán bộ được cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh chữa bệnh (N=111) 22 Biểu đồ 3.2 Số Cơ sở y tế trực thuộc Sở Y tế Hà Nội được cấp mã số ĐTLT 43

Trang 10

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đào tạo liên tục, học tập suốt đời không chỉ là nhiệm vụ bắt buộc của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh mà còn là giải pháp sống còn của ngành Y tế Trạm Y tế xã được coi là “Người gác cổng” trong hệ thống y tế Để Trạm y tế xã hoạt động thực sự hiệu quả cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo liên

tục cập nhật kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp Vì vậy, nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục của cán bộ trạm y tế xã, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, giai đoạn 2016-2017” được thực hiện với 2

mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng công tác đào tạo liên tục của cán bộ trạm y tế xã, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 - 2017 (2) Phân tích một số yếu

tố ảnh hưởng đến đào tào liên tục của cán bộ trạm y tế xã, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính thông qua phát vấn 111 cán bộ trạm y tế xã, phỏng vấn sâu các bên liên quan thuộc Trung tâm y tế huyện Mê Linh

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 2 năm 2016-2017 có 111/111 (100%) cán

bộ trạm y tế trong nghiên cứu đã từng được tham gia đào tạo liên tục /bổ sung kiến thức Trong đó có 91/111 (82%) được đào tạo liên tục trên 48 giờ và chỉ có 48/111 (43,2%) người đào tạo liên tục trên 48 giờ trong 2 năm được cấp chứng chỉ/chứng nhận; có 93 (83,8%) người có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh Trong

đó, có 66/93 (71%) người được đào tạo liên tục đáp ứng theo Thông tư liên tục 22/2013/TT-BYT; Đa số các khóa đào tạo được tổ chức tại đơn vị (88,9%), hầu hết với hình thức: tập huấn/đào tạo (99,1%), chủ yếu đào tạo về lý thuyết (89,9%) và tổ chức trong thời gian ngắn (dưới 2 ngày, 84,8%) Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục bao gồm: Các yếu tố cá nhân, các yếu tố thuộc về cơ quan chủ quản

và yếu tố thuộc về chính sách quản lý và văn bản pháp quy Trong đó các yếu tố ảnh hưởng tích cực đến công tác đào tạo liên tục: Quy định bắt buộc phải tham gia đào tạo liên tục theo Luật khám bệnh, chữa bệnh, Thông tư 22/2013/TT-BYT, Quy định

về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp (chuẩn hóa trình độ cao đẳng đối với điều

Trang 11

dưỡng hạng IV, hộ sinh hạng IV); Yếu tố ảnh hưởng không tốt đến công tác đào tạo liên tục: Các đơn vị được cấp mã số đào tạo liên tục đa số là bệnh viện chuyên khoa

có nội dung, chương trình đào tạo chưa thực sự phù hợp với trạm y tế xã, chưa có chương trình đào tạo liên tục cho đối tượng y sỹ tại trạm y tế xã Đơn vị chưa được cấp mã số đào tạo liên tục, chưa có giảng viên được cấp chứng chỉ về phương pháp

sư phạm y học cơ bản, chưa có chế tài xử lý, những quy định, chính sách cụ thể cho công tác đào tạo liên tục Cán bộ trạm y tế xã phải kiêm nhiệm nhiều công việc và thiếu sự kiểm tra, giám sát của các cấp có thẩm quyền về công tác đào tạo liên tục Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khuyến nghị Sở Y tế Hà Nội, Trung tâm Y tế huyện Mê Linh tăng cường năng lực để Trung tâm Y tế huyện Mê Linh được phép cấp chứng chỉ cho các khóa đào tạo liên tục phù hợp thông qua các hoạt động giám sát, đánh giá, đào tạo giảng viên về phương pháp sư phạm y học cơ bản và xây dựng

kế hoạch đào tạo 5 năm, hàng năm phù hợp với từng đối tượng người hành nghề tại trạm y tế xã trên cơ sở xác định nhu cầu đào tạo, theo nguyên lý Y học gia đình

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghề Y là một nghề đặc biệt, nhiệm vụ của y, bác sỹ gắn liền với sức khỏe, tính mạng con người Việc cập nhật liên tục những kiến thức, kỹ thuật mới, hạn chế tối thiểu những sai sót chuyên môn là nhiệm vụ bắt buộc với mọi người hành nghề Cán bộ y tế không những phải đáp ứng yêu cầu chuyên môn mà còn phải đáp ứng tiêu chuẩn về y đức [1]

Đào tạo Y khoa liên tục là quá trình không ngừng học tập của người cán bộ y

tế hay còn được gọi là Phát triển nghề nghiệp liên tục (CPD) Đào tạo Y khoa liên tục là một vấn đề được đề cập nhiều, trên thế giới đào tạo y khoa liên tục luôn gắn liền với lịch sử ra đời và phát triển và của ngành Y

Luật khám bệnh, chữa bệnh, có hiệu lực kế từ ngày 01/01/2018 đã quy định về quyền được nâng cao năng lực chuyên môn tại điều 33 và nghĩa vụ đối với nghề nghiệp tại điều 37 Như vậy, Đào tạo liên tục, cập nhật kiến thức y khoa liên tục vừa

là quyền vừa là nghĩa vụ của người hành nghề Y

Trạm y tế xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là trạm y tế xã) là đơn vị chuyên môn thuộc Trung tâm Y tế huyện Các trạm Y tế xã phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của chăm sóc sức khỏe ban đầu; thực hiện việc quản lý sức khỏe toàn diện, liên tục cho từng người dân trên địa bàn, tập trung vào việc theo dõi, tư vấn về sức khỏe, chăm sóc giảm nhẹ, phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, bà mẹ, trẻ em; phòng chống các bệnh lây nhiễm, không lây nhiễm, quản lý các bệnh mạn tính; khám chữa bệnh theo chức năng, nhiệm vụ và kết nối, chuyển người bệnh lên các cơ sở y tế tuyến trên [26] Cán bộ trạm Y tế xã vừa thực hiện nhiệm vụ chuyên môn khám chữa bệnh cho người dân, vừa thực hiện các nhiệm vụ về y tế dự phòng, phòng chống dịch bệnh, bệnh mạn tính và truyền thông giáo dục sức khỏe cộng đồng Tuy nhiên các nhiệm vụ ở mức độ cơ bản, không yêu cầu chuyên môn sâu nhưng rộng

Hiện nay cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, mô hình bệnh tật có nhiều thay đổi, các bệnh mạn tính ngày càng gia tăng, một số bệnh truyền nhiễm có

xu hướng quay trở lại, các dịch bệnh mới, bệnh lạ diễn biến khó lường Đây là

Trang 13

những thách thức không nhỏ đối với Ngành Y tế nói chung và trạm y tế xã nói riêng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân Điều này đòi hỏi cán bộ y tế, đặc biệt là cán bộ trạm y tế xã cần được thường xuyên đào tạo, cập nhật kiến thức y khoa liên tục để đáp ứng với nhu cầu chăm sóc sức khoẻ người dân trong tình hình mới

Luật hành nghề khám bệnh, chữa bệnh quy định người hành nghề y không cập nhật kiến thức y khoa trong 02 năm liên tiếp sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề; Thông tư số 22/2013/TT-BYT quy định nhân viên y tế ở các cấp bắt buộc phải được đào tạo liên tục ít nhất 48 tiết/2 năm để bổ sung kiến thức, kỹ năng Hàng năm, cán

bộ trạm y tế xã được tập huấn thường xuyên, tuy nhiên chưa có tổng hợp, đánh giá

về đào tạo liên tục có hay không đáp ứng các quy định, điều kiện về đào tạo liên tục

để tiếp tục hành nghề sau khi đã được cấp chứng chỉ hành nghề không?

Câu hỏi đặt ra là thực trạng đào tạo liên tục của cán bộ trạm y tế xã như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến đào tạo liên tục của cán bộ trạm y tế xã? Cho đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn huyện Mê Linh chưa có nghiên cứu tìm hiểu về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục của cán bộ trạm

y tế xã Xuất phát từ yêu cầu thực tế nói trên, học viên tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục của cán bộ trạm

y tế xã, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, giai đoạn 2016-2017”

Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học giúp Sở Y tế, Trung tâm Y tế tuyến huyện xây dựng kế hoạch đào tạo liên tục cho cán bộ y tế nói chung và cán bộ trạm

y tế xã nói riêng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ y tế đáp ứng được yêu cầu về đào tạo liên tục theo Thông tư 22/2013/TT-BYT, đáp ứng điều kiện cập nhật kiến thức khi hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, trong việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân trong tình hình mới

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng công tác đào tạo liên tục của cán bộ trạm y tế xã, huyện

Mê Linh, thành phố Hà Nội, giai đoạn 2016 - 2017

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục của cán bộ trạm y tế

xã, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm

Đào tạo liên tục bao gồm các hoạt động giáo dục được cung cấp để duy trì,

phát triển, hoặc nâng cao kiến thức, kỹ năng, hiệu suất làm việc và tác nghiệp của nhân viên y tế để cung cấp dịch vụ y tế cho người bệnh, cộng đồng, hoặc nhằm tăng cường sự chuyên nghiệp Nội dung của ĐTLT là tổng thể của kiến thức và kỹ năng được công nhận về y học, những tiêu chuẩn về thực hành lâm sàng và cung cấp sức khỏe cho cộng đồng Nghĩa rộng hơn của ĐTLT là bao gồm tất cả các hoạt động giáo dục thường xuyên nhằm hỗ trợ nhân viên y tế để hành nghề một cách có hiệu quả hơn [7]

Đào tạo liên tục là các khoá đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng

kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục (Continuing Medical Education - CME); phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development - CPD); đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho cán bộ

y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân [8]

Phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development -

CPD) là quá trình mà cán bộ y tế thường xuyên cập nhật để đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân, các dịch vụ y tế, và phát triển chuyên môn của mình Nó bao gồm việc cập nhật lại liên tục những kiến thức, kỹ năng, thái độ và thực hành để được cấp phép hành nghề Không có sự phân chia rõ ràng giữa đào tạo liên tục và phát triển nghề nghiệp liên tục, như trong thời gian vừa qua đào tạo liên tục y tế đã bao gồm các kỹ năng quản lý, xã hội, kỹ năng cá nhân và các chủ đề ngoài các vấn đề, lâm sàng truyền thống [7]

Đào tạo y khoa liên tục (Continuing Medical Education - CME) là quá trình

cán bộ y tế không ngừng cập nhật những kiến thức, tiến bộ mới nhất trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Đào tạo y khoa liên tục được định nghĩa là “Một hoạt động được xác định rõ ràng để phát triển chuyên môn của cán bộ y tế và dẫn tới viêc cải thiện chăm sóc cho bệnh nhân CME bao gồm tất cả các hoạt động học tập mà cán

Trang 16

bộ y tế mong muốn thực hiện để có thể thường xuyên liên tục nâng cao năng lực chuyên môn của mình” [7]

Trạm y tế xã là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên tiếp xúc với nhân dân, nằm trong

hệ thống Y tế Nhà nước, có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ kỹ thuật CSSKBĐ, phát hiện dịch sớm và phòng chống dịch bệnh, cấp cứu và đỡ đẻ thông thường, cung ứng thuốc thiết yếu, vận động nhân dân thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, tăng cường sức khỏe” [12]

1.2 Nhiệm vụ và nhân lực của Trạm Y tế xã

- Hướng dẫn về chuyên môn và hoạt động đối với đội ngũ nhân viên y tế thôn, bản

- Phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình; thực hiện cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình theo phân tuyến kỹ thuật và theo quy định của pháp luật

- Tham gia kiểm tra các hoạt động hành nghề y, dược tư nhân và các dịch vụ

có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân

- Thường trực Ban Chăm sóc sức khỏe cấp xã về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trên địa bàn

- Thực hiện kết hợp quân - dân y theo tình hình thực tế ở địa phương

- Chịu trách nhiệm quản lý nhân lực, tài chính, tài sản của đơn vị theo phân công, phân cấp và theo quy định của pháp luật

- Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo quy định của pháp luật

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Trung tâm Y tế huyện và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao

Trang 17

1.2.2 Nhân lực Trạm y tế xã

Theo Nghị định 117/2014/NĐ-CP do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 08 tháng 12 năm 2014 quy định [16]: “Người làm việc tại TYT là viên chức; Số lượng người làm việc tại TYT nằm trong tổng số người làm việc của TTYT huyện được xác định theo vị trí việc làm trên cơ sở khối lượng công việc phù hợp với nhu cầu

và điều kiện thực tế ở địa phương theo vùng miền”

“Cơ cấu chức danh nghề nghiệp và số lượng của từng chức danh nghề nghiệp làm việc tại Trạm y tế xã xác định trên cơ sở nhu cầu thực tế, khối lượng công việc

và đặc điểm, điều kiện kinh tế xã hội của đơn vị hành chính cấp xã nơi có Trạm Y tế” [11]

Số lượng cán bộ Trạm Y tế xã thực hiện theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 05/6/2007 hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước: “Căn cứ vào nhiệm vụ và nhu cầu về chăm sóc sức khỏe nhân dân, định mức biên chế của Trạm Y tế xã, phường, thị trấn được xác định theo đặc điểm địa lý, kinh tế-xã hội” [3], quy mô dân số như sau: “Biên chế tối thiểu: 05 biên chế cho 1 trạm y tế xã, phường, thị trấn Đối với xã miền núi, hải đảo trên 5.000 dân: Tăng 1.000 dân thì tăng thêm 01 biên chế cho trạm; tối đa không quá 10 biên chế/1 trạm Đối với trạm Y tế phường, thị trấn trên 8.000 dân: Tăng 2.000 đến 3.000 dân thì tăng thêm 01 biên chế cho trạm; tối đa không quá 10 biên chế/1 trạm Các phường, thị trấn và những xã có các cơ sở khám chữa bệnh đóng trên địa bàn: bố trí tối đa 5 biên chế/trạm” Thông tư số 08/2007 của Liên Bộ cũng

đã quy định hệ số điều chỉnh theo vùng địa lý đối với định mức biên chế của Trạm

Y tế thuộc tỉnh miền núi là 1,2 như vậy mỗi Trạm Y tế xã tối thiểu phải có 6 cán bộ

y tế [3]

Cơ cấu nhân lực theo quy định cần có đủ 5 nhóm chức danh chuyên môn: Bác

sỹ, Y sỹ; Hộ sinh trung học, Điều dưỡng trung học và dược sỹ trung học (đối với miền núi có thể là dược sỹ sơ học, có thể chuyên trách hoặc kiêm nhiệm) [12] Nhiệm vụ của Bác sỹ được quy định tại Điều 6 thông tư liên tịch số 10/2015/TTLT-BYT-BNV của Bộ Nội vụ-Bộ Y tế về Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sĩ, bác sĩ y học dự phòng, y sĩ [4] (Chi tiết tại phụ lục)

Trang 18

Nhiệm vụ của Y sỹ được quy định tại Điều 10 thông tư liên tịch số 10/2015/TTLT-BYT-BNV của Bộ Nội vụ-Bộ Y tế về Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sĩ, bác sĩ y học dự phòng, y sĩ [4] (Chi tiết tại phụ lục 3)

Nhiệm vụ của Điều dưỡng (hạng IV) được quy định tại Điều 6 thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV của Bộ Nội vụ-Bộ Y tế về Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y [5] (Chi tiết tại phụ lục 3)

Nhiệm vụ của Hộ sinh (hạng IV) được quy định tại Điều 9 thông tư liên tịch

số 26/2015/TTLT-BYT-BNV của Bộ Nội vụ-Bộ Y tế về Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y [5] (Chi tiết tại phụ lục 3)

1.3 Công tác đào tạo liên tục của cán bộ y tế trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Công tác đào tạo liên tục trên thế giới

Tại các nước Châu Âu, nơi có nền y học phát triển, một cuộc khảo sát trên 18 quốc gia đã minh họa sự đa dạng của các hệ thống CME Không có quốc gia Châu

Âu nào theo mô hình của Mỹ về việc tái cấp chứng nhận hành nghề Hà Lan có một

hệ thống tái chứng nhận theo luật định, nhưng một số quốc gia khác bao gồm cả Anh và Ireland, CBYT được phân loại và xem xét để giới thiệu đào tạo lại bắt buộc hoặc tái cấp chứng nhận hành nghề Một số quốc gia có ưu đãi đặc biệt cho các cam kết CPD Một nửa các nước được khảo sát sử dụng một hệ thống tín chỉ để định lượng các hoạt động giáo dục, trong đó mỗi hoạt động giáo dục tương đương với một tín chỉ Các nước khác nhau có cách tính chu kỳ đào tạo khác nhau, cứ hai năm,

ba năm hoặc năm năm, và số tín chỉ yêu cầu dao động từ 50 đến 1000 Các nước khác đang xem xét giới thiệu một hệ thống dựa trên giờ, nhưng vẫn còn nhiều tranh luận về việc hệ thống tích lũy giờ hoạt động giáo dục là thước đo giá trị của hoạt động đó Có sự công nhận lẫn nhau về CME và CPD giữ các nước thuộc liên minh Châu Âu và các nước Bắc mỹ trong đó có Hoa Kỳ [7]

Hoa kỳ là quốc gia có nền y học tiên tiến vào bậc nhất thế giới, tại đây CME

và CPD lại có liên quan chặt chẽ để tái cấp chứng nhận hành nghề Không phải tất

Trang 19

cả các hội đồng chuyên môn y tế đều yêu cầu tái cấp chứng nhận hành nghề thường xuyên, nhưng tái cấp chứng nhận có thể được yêu cầu Ví dụ: các Hôi Y tế và các hiệp hội các tổ chức bảo vệ sức khỏe, bảo hiểm và cá đối tác trong các hoạt động y

tế Có một chương trình nghiêm ngặt đảm bảo chất lượng của các nhà cung cấp CME và CPD được quản lý bởi Hội đồng Kiểm định Giáo ục thường xuyên y tế, trong đó kiểm định chất lượng của hơn 600 tổ chức [7]

Một số quốc gia phát triển khác thuộc Châu Á Thái Bình Dương, một kết quả nghiên cứu năm 2000, cho thấy: tại New Zealand, tham gia chương trình CME và CPD đã trở thành bắt buộc để giữ nghề (chuyên ngành) đăng ký Các CBYT được đánh giá không đạt yêu cầu về CME và CPD có thể dẫn đến bị đình chỉ hành nghề, trong trường hợp này CBYT được đăng ký quản lý bởi một tổ chức chung và do đó

sẽ được yêu cầu làm việc dưới sự giám sát của tổ chức này để được tái cấp chứng chỉ hành nghề Tại Úc, pháp luật không yêu cầu các bác sỹ tham gia trong chương trình CME hoặc CPD chính thức Tuy nhiên, trong những năm gần đây việc gia hạn hợp đồng lao động trong các bệnh viện công, đặc biệt ở Tây Australia, đã yêu cầu các chứng chỉ tham gia vào các hoạt động CME, CPD và đảm bảo chất lượng Hầu hết các học viên phải tự túc kinh phí cho việc tham gia các chương trình CME và CPD [7]

Hai tác giả Martin Luchtefekl và Therese G.Kerwel sau khi xem xét 105 nghiên cứu về CME đã chỉ ra phần lớn các nghiên cứu cho CME có hiệu quả tích cực cho việc cải thiện kiến thức, thực hành, kỹ năng tâm lý và CME là hình thức đào tạo thực hành tốt nhất Liên quan đến đối tượng học nghiên cứu chỉ ra rằng việc học tập của các đối tượng tham gia CME là chủ động học tập và thực hành có chú ý Theo nghiên cứu CME trong tương lai cần đánh giá nhu cầu người học, thiết kế chương trình để đáp ứng nhu cầu người học và thực hiện đánh giá kết quả đào tạo [31]

Nghiên cứu của Kirk J.Amstrong và ThomasG.weidner chỉ ra rằng hoạt động đào tạo liên tục chính thức hay không chính thức đều mang lại sự cải thiện về kiến thức và kết quả chăm sóc sức khỏe người bệnh Các đối tượng nghiên cứu hoàn

Trang 20

thành việc đào tạo liên tục không chính thức nhiều hơn Điều đó cho thấy hoạt động đào tạo liên tục là hiệu quả và mang lại lợi ích [30]

Nghiên cứu của Ronald M.Cerero và Julie K.Gaines, thuộc Hội đồng kiểm định đào tạo liên tục y khoa Hoa kỳ, đánh giá tổng quan 31 công trình nghiên cứu

về hiệu quả của CME (giai đoạn 1977-2002) đưa ra các kết luận sau: (1) CME cải thiện hiệu suất của bác sỹ và kết quả chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân; (2) CME có một tác động đáng tin cậy tích cực hơn về hiệu suất của bác sỹ so với kết quả cải thiện sức khỏe người bệnh; (3) CME dẫn đến cải tiến lớn hơn trong hoạt động của bác sỹ và bệnh nhân [32]

1.3.2 Công tác đào tạo liên tục tại Việt Nam

1.3.2.1 Các quy định về đào tạo liên tục

*Quyền và nghĩa vụ đào tạo của cán bộ y tế theo Luật khám bệnh, chữa bệnh:

- Quyền được nâng cao năng lực chuyên môn (Điều 33): Được đào tạo, đào tạo lại và cập nhật kiến thức y khoa liên tục phù hợp với trình độ chuyên môn hành nghề; Được tham gia bồi dưỡng, trao đổi thông tin về chuyên môn, kiến thức pháp luật về y tế

- Nghĩa vụ đối với nghề nghiệp (Điều 37): Thường xuyên học tập, cập nhật kiến thức y khoa liên tục để nâng cao trình độ chuyên môn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế

* Quy định về đào tạo liên tục theo Thông tư:

Năm 1990, Bộ Y tế đã đưa khái niệm đào tạo liên tục vào sử dụng, với sự giúp

đỡ của Dự án hỗ trợ hệ thống đào tào nhân lực y tế (còn gọi là 03/SIDA-Thụy Điển)

Bộ Y tế đã hướng dẫn các tỉnh triển khai mạnh mẽ công tác đào tạo lại, đào tạo liên tục Năm 2008, Thông tư số 07/2008/TT-BYT ngày 28/5/2008 hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế được ban hành và thực hiện Sau khi Luật khám bệnh, chữa bệnh có hiệu lực, năm 2013, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 22/2013/TT-BYT về hướng dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế, thay thế Thông tư số

07/2008/TT-BYT Thông tư số 22/2013/TT-BYT quy định: “Tất cả cán bộ đang

hoạt động trong lĩnh vực y tế phải được đào tạo cập nhật về kiến thức, kỹ năng, thái

độ trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ của mình Trừ một số trường hợp cán bộ

Trang 21

cao cấp thì việc học tập được quy đổi khi tham dự các hội thảo, hội nghị quốc tế hoặc tham gia tổ chức giảng dạy, nghiên cứu, còn yêu cầu chung cho tất cả cán bộ

y tế có thời gian đào tạo tối thiều là 24 giờ thực học Những người hành nghề trong lĩnh vực khám chữa bệnh nếu 2 năm không cập nhật kiến thức y khoa liên tục sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề (Theo quy định tại điều 29 Luật khám bệnh, chữa bệnh) Thủ trưởng các cơ sở y tế có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, tổ chức cho cán bộ của mình được học tập” [8]

Điểm khác biệt của Thông tư số 22/2013/TT-BYT so với Thông tư số 07/2008/TT-BYT là yêu cầu cao hơn với những người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, ủy quyền, phân quyền rộng hơn các các cơ sở đào tạo liên tục và quy định chặt chẽ hơn để đảm bảo chất lượng đào tạo đặc biệt là công tác kiểm định chất lượng cơ sở đào tạo liên tục và quy định chặt chẽ hơn để đảm bảo chất lượng đào tạo đặc biệt là công tác kiểm định chất lượng cơ sở đào tạo liên tục

Một số nội dung cơ bản của Thông tư số 22/2013/TT-BYT hướng dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế về thời gian và hình thức đào tạo [8]:

Quy định về Thời gian đào tạo liên tục: Cán bộ y tế đã được cấp chứng chỉ

hành nghề và đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 48 tiết học trong 2 năm liên tiếp

Quy định các hình thức ĐTLT và nguyên tắc quy đổi: Tập huấn, đào tạo,

chuyển giao kỹ thuật, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn trong và ngoài nước theo hình thức tập trung hoặc trực tuyến (E-learning) được cấp chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận: thời gian tham gia đào tạo liên tục được tính theo thực tế chương trình đào tạo; Hội thảo, hội nghị, tọa đàm khoa học trong và ngoài nước về lĩnh vực chuyên môn y tế có xác nhận của đơn vị chủ trì tổ chức căn cứ vào chương trình của hội thảo, hội nghị, tọa đàm: thời gian tham gia đào tạo được tính cho người chủ trì hoặc có bài trình bày tối đa 8 tiết học và người tham dự tối đa 4 tiết học cho mỗi hội thảo/hội nghị/tọa đàm; Thực hiện nghiên cứu khoa học; hướng dẫn luận án, luận văn; viết bài báo khoa học đã được công bố theo quy định: được tính tối đa 12 tiết học cho người hướng dẫn luận án, chủ trì/thư ký đề tài cấp Nhà nước hoặc cấp Bộ; 8 tiết học cho hướng dẫn luận văn hoặc chủ trì/thư ký đề tài cấp cơ sở

Trang 22

(tính tại thời điểm luận văn được bảo vệ thành công hoặc đề tài được nghiệm thu đạt); Biên soạn giáo trình chuyên môn được tính tối đa không quá 8 tiết đối với 1 tài liệu do người đứng đầu đơn vị xem xét (tính vào thời điểm xuất bản); cán bộ y tế không phải là giảng viên của cơ sở giáo dục tham gia giảng dạy liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ được tính theo thời gian thực tế

Quy định về Quản lý công tác đào tạo liên tục: Thông tư số 22/2013/TT-BYT

là đã nêu rõ quy định mã cơ sở đào tạo liên tục bao gồm: Mã A: Các trường y tế tổ

chức các khóa đào tạo liên tục tương ứng với chương trình chính quy mà trường

đang đào tạo; Mã B: Các bệnh viện, các viện nghiên cứu, các cơ sở y tế được giao nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, tổ chức đào tạo theo nhiệm vụ; Mã C: Các sở Y tế tổ chức

đào tạo cho đội ngũ cán bộ y tế mà Sở Y tế đang quản lý hành nghề trên địa bàn

1.3.2.2 Một số nghiên cứu về đào tạo liên tục tại Việt Nam

Nghiên cứu của Nguyễn Việt Cường (2010) đối với điều dưỡng tại 14 trạm y

tế phường thuộc quận Ba Đình, Hà Nội cho thấy quy định về chức năng, nhiệm vụ của điều dưỡng bệnh viện và tuyến y tế cơ sở là như nhau nhưng thực tế công việc hàng ngày là khác nhau; Điều dưỡng tại tuyến y tế cơ sở phải thực hiện nhiệm vụ cộng đồng nhiều hơn, họ muốn ưu tiên đào tạo nhiều về công tác cộng đồng, truyền thông, công tác quản lý TYT, một số đề xuất mang tính chủ quan, nhiệm vụ chuyên môn vẫn được họ ưu tiên đào tạo khá cao; thời gian đào tạo từ 2-5 ngày, địa điểm gần nơi công tác [17]

Nghiên cứu của Triệu Văn Tuyến (2015) thực hiện nghiên cứu cắt ngang “Mô

tả thực trạng đào tạo liên tục cán bộ trạm y tế tại tỉnh Vĩnh phúc giai đoạn 2014”, đã chỉ ra công tác ĐTLT cho cán bộ Trạm Y tế xã tại tình Vĩnh Phúc giai đoạn 2013-2014 đã được thực hiện có hiệu quả phù hợp với nhu cầu đào tạo tại địa phương Tuy vậy để thực hiện tốt hơn công tác đào tạo liên tục cho cán bộ trạm y tế

2013-xã trong thời gian tới thì Sở Y tế cần lấy ý kiến cán bộ cán bộ trạm y tế khi xác định nhu cầu và xây dựng kế hoạch ĐTLT cho cán bộ TYT [25]

Nghiên cứu của Nguyễn Đức Trường (2016) về thực trạng thực hiện nhiệm vụ

và nhu cầu đào tạo liên tục cán bộ trạm y tế xã thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2016-2020 đã chỉ ra rằng 4/4 nhiệm vụ về quản lý y tế cơ sở được

Trang 23

nhận định mức độ thực hiện thường xuyên và tự tin <50%; có 6 nội dung được trạm trưởng TYT mong muốn được đào tạo từ 58% đến 77% Đội ngũ Bác sỹ, Y sỹ nhận định 6/12 nhiệm vụ thực hiện thường xuyên và mức độ tự tin cao >68%, 4/12 nhiệm

vụ thực hiện thường xuyên và mức độ tự tin thấp <50%; Nhu cầu đào tạo là 10 nội dung với tỷ lệ yêu cầu từ 55%-80%, ưu tiên đào tạo 4 nội dung: Khám, phát hiện, điều trị một số bệnh: Răng hàm mặt, Mắt, phụ khoa, sản khoa Đối với điều dưỡng, KTV, có 7/11 nhiệm vụ nhận định mức độ thực hiện thường xuyên và mức độ tự tin thấp <39%; Chỉ có 3/11 nhiệm vụ thực hiện thường xuyên và mức độ tự tin >50%; Các Hộ sinh nhận định cả 10/10 nhiệm vụ đều có mức độ thực hiện thường xuyên

và mức độ tự tin cao trên 80% Nhu cầu đào tạo giai đoạn 2016-2020 sẽ là: Đào tạo

về chuyên môn cho từng nhóm trình độ và vị trí công việc, đối với trạm trưởng TYT xã cần đào tạo về quản lý Mỗi đối tượng được đào tạo 01 lần/năm; thời gian của mỗi khóa học 5-7 ngày, được tổ chức vào quý I hàng năm; địa điểm đào tạo tại TTYT huyện, bệnh viện đa khoa huyện [29]

Nghiên cứu của Lưu Thị Nguyệt Minh, Võ Thanh Quang, Chu Huyền Xiêm (2017) về thực trạng công tác đào tạo liên tục cho điều dưỡng tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương từ năm 2014 – 2016 đã chỉ ra từ năm 2014 - 2016, điều dưỡng tham gia 21 khóa đào tạo với nhiều chủ đề, trung bình một điều dưỡng được đào tạo 1,5 lượt/năm; 14,6 tiết/năm là chưa đủ theo quy định và có 25% điều dưỡng chưa tham gia đầy đủ một lớp học nào Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức đào tạo liên tục gồm quá tải công việc, chưa có cán bộ chuyên trách về đào tạo, hình thức giảng chủ yếu là lý thuyết và giảng viên chưa thực sự phù hợp với định hướng chuyên môn điều dưỡng [22]

Nghiên cứu của Trần Thanh Son (2016) về thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cán bộ y tế tại các bệnh viện đa khoa trong tỉnh Hậu Giang năm 2015 đã chỉ ra: Công tác ĐTLT tại các bệnh viện thuộc tỉnh Hậu Giang còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ, tính trung bình mỗi cán bộ y tế được đào tạo 3,3 lượt/năm, chủ yếu là các khóa đào tạo về chuyên môn, đào tạo về quản lý và kỹ năng mềm còn chiếm tỷ lệ nhỏ Thời gian trung bình mỗi cán bộ y tế được đào tạo ≥

24 giờ/năm là 19,1%, 61,5% có thời gian đào tạo trung bình < 24 giờ/năm và 19,4%

Trang 24

cán bộ chưa được đào tạo Có 55,6% lượt cán bộ được đào tạo về chuyên môn, 0,7% lượt cán bộ được đào tạo về quản lý và 43,7% được đào tạo về kỹ năng mềm Chức danh chuyên môn được đào tạo liên tục: BS 13%, ĐD 63,3%, NHS 9,5%, KTV 7,8%, DS 5,9% Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục tại các bệnh viện bao gồm 03 nhóm yếu tố: nhóm yếu tố cá nhân, nhóm yếu tố về phía bệnh viện, nhóm yếu tố tổ chức đào tạo [24]

Muốn xây dựng kế hoạch, chiến lược đào tạo cán bộ y tế hiệu quả thì cần phải khảo sát rõ thực trạng đáp ứng yêu cầu công việc hiện tại, nhu cầu ĐTLT, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo để xây dựng kế hoạch phù hợp, từ đó xây dựng chương trình và tài liệu đào tạo ưu việt; lựa chọn và bồi dưỡng giáo viên ĐTLT; đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị đáp ứng đầy đủ các điều kiện đảm bảo chất lượng; có hình thức tổ chức ĐTLT phù hợp, tổ chức đánh giá được hiệu quả đào tạo liên tục

Khung lý thuyết được xây dựng trên cơ sở: Nghị định 117/2014/NĐ-CP quy định về Y tế xã, phường, thị trấn; Thông tư số 33/2015/TT-BYT quy định về chức năng, nhiệm vụ trạm y tế xã; Thông tư 22/2013/TT-BYT về đào tạo liên tục; Luật khám bệnh, chữa bệnh; các nghiên cứu tại Việt Nam về đào tạo liên tục và tình hình thực tế tại đơn vị (Chi tiết tại Phụ lục 1)

1.5 Giới thiệu về huyện Mê Linh, các trạm y tế xã thuộc huyện Mê Linh

Huyện Mê Linh được thành lập ngày 05/7/1977 trên cơ sở hợp nhất 2 huyện Bình Xuyên và Yên Lãng Khi mới thành lập, huyện Mê Linh có 38 đơn vị hành chính, thuộc tỉnh Vĩnh Phú Một năm sau, ngày 29 tháng 12 năm 1978, Mê Linh (gồm thị trấn Phúc Yên và 18 xã) được sáp nhập vào Hà Nội Đến ngày 12/8/1991,

Trang 25

Mê Linh tách khỏi Hà Nội và trở về tỉnh Vĩnh Phú (nay là Vĩnh Phúc) Ngày 9/12/2004, thị xã Phúc Yên tách khỏi huyện Mê Linh, thị trấn Xuân Hòa trở thành một phường của thị xã Phúc Yên Huyện Mê Linh còn lại 17 xã Ngày 04/4/2008, chia xã Quang Minh thành 02 thị trấn: Quang Minh và Chi Đông Từ đó, huyện Mê Linh gồm 02 thị trấn: Chi Đông, Quang Minh và 16 xã: Chu Phan, Đại Thịnh, Hoàng Kim, Kim Hoa, Liên Mạc, Mê Linh, Tam Đồng, Thạch Đà, Thanh Lâm, Tiền Phong, Tiến Thắng, Tiến Thịnh, Tự Lập, Tráng Việt, Văn Khê và Vạn Yên Đến tháng 8/2008 thực hiện theo Nghị quyết 15/QH12 của Quốc hội về việc mở rộng định giới thủ đô, huyện Mê Linh được sáp nhập về thành phố Hà Nội

Huyện Mê Linh là một huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội, nằm phía bắc của thủ đô Hà Nội, diện tích tự nhiên 141,6km2, dân số: 205.181 người, số hộ gia đình là: 50.876 hộ gồm 18 xã, thị trấn (16 xã, 02 thị trấn), 94 thôn (19 tổ dân phố, 75 thôn) Phía nam giáp với Đông Anh, Phía đông giáp với huyện Sóc Sơn, có cửa ngõ giáp với sân bay Nội Bài Phía Tây gồm 7 xã nằm giáp với dòng chảy sông Hồng, Phía Bắc giáp với thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc

Trung tâm y tế Mê Linh được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 5 năm

2008 theo quyết định số 32/QĐ-SYT ngày 17/4/2008 của Sở Y tế Vĩnh Phúc về việc thành lập TTYT dự phòng huyện Mê Linh Đến tháng 8/2008 thực hiện theo Nghị quyết 15/QH12 của Quốc hội về việc mở rộng định giới thủ đô, huyện Mê Linh được sáp nhập về thành phố Hà Nội Tháng 10 năm 2008 đến nay, TTYT huyện Mê Linh hoạt động theo Quyết định số 12/2008/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội ngày 19/9/2008 về việc đổi tên Trung tâm y tế dự phòng tuyến quận, huyện và tương đương thành Trung tâm y tế tuyến quận, huyện và tương đương; tiếp nhận, quản lý và điều hành hoạt động 02 phòng khám đa khoa Thạch

Đà và 18 trạm y tế các xã, thị trấn

Trang 26

Trung tâm Y tế huyện Mê Linh có 08 khoa/phòng chức năng nghiệp vụ, 02 phòng khám đa khoa khu vực và 18 trạm y tế xã, thị trấn trực thuộc

18 Trạm Y tế xã, thị trấn huyện Mê Linh nằm rải rác trên địa bàn huyện, với khoảng 114 viên chức, người lao động Trung bình mỗi trạm y tế có 6,3 người bao gồm các chức danh nghề nghiệp: Bác sỹ, Điều dưỡng, Hộ sinh, Y sỹ (Y sỹ sản nhi,

Y sỹ Y học cổ truyền, Y sỹ đa khoa) và cán bộ khác [27], [28]

Với sự phát triển của y học hiện đại, mô hình hoạt động khám sức khỏe toàn dân, phòng khám, trạm y tế hoạt động theo nguyên lý Y học gia đình, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân Trong thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân của cán bộ y tế làm việc tại trạm có đáp ứng được yêu cầu hay không

về quy định đào tạo liên tục Mặt khác, để đáp ứng với việc luân chuyển cán bộ giữa các khoa, phòng trung tâm, phòng khám, trạm y tế xã, thị trấn thì việc điều động nhân lực tăng cường khi cần thiết, thì việc học tập, cập nhật kiến thức và rèn luyện

kỹ năng của cán bộ y tế cơ sở là rất cần thiết Chính vì vậy mà việc xác định thực trạng đào tạo và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo của cán bộ y tế cơ sở là rất có ý nghĩa để đưa ra kế hoạch đào tạo hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng nhân lực y tế cơ sở

Trang 27

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:

2.1.1 Nghiên cứu định lượng:

Đối tượng là cán bộ y tế của 18/18 Trạm Y tế xã, thị trấn thuộc huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội Bao gồm tất cả các bác sỹ, y sỹ, điều dưỡng và hộ sinh đang làm việc tại các Trạm y tế xã, thị trấn được tối thiểu 02 năm tính đến tháng 12/2017

2.1.2 Nghiên cứu định tính:

Đối tượng là Lãnh đạo Trung tâm Y tế và đại diện của các phòng chức năng

có liên quan của Trung tâm Y tế huyện Mê Linh, Lãnh đạo Trạm Y tế xã và nhân viên các Trạm y tế xã, thị trấn trực thuộc Trung tâm Y tế huyện Mê Linh

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

- Đối tượng là cán bộ chuyên môn dược, hành nghề theo Luật Dược

- Đối tượng bị ốm đau, bệnh tật, nghỉ thai sản, đi học trong thời gian nghiên cứu

- Đối tượng không tự nguyện tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

- Thời gian: Từ tháng 02/2018 đến tháng 09/2018

- Địa điểm: Tại 16 xã và 02 thị trấn trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố

Hà Nội

2.3 Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính

* Nghiên cứu định lượng:

- Thu thập các số liệu qua phiếu điều tra về thực trạng đào tạo liên tục của tất

cả cán bộ y tế làm việc tại Trạm Y tế xã huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, giai đoạn 2016 - 2017 và phân tích các yếu tố ảnh hướng đến đào tạo liên tục của cán bộ Trạm Y tế xã huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

- Thu thập số liệu thứ cấp thông qua báo cáo công tác đào tạo liên tục giai đoạn 2016 - 2017 của đơn vị

Trang 28

* Nghiên cứu định tính: Thực hiện sau khi tiến hành nghiên cứu định lượng

để làm rõ và bổ sung cho các thông tin của nghiên cứu định lượng

2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

2.4.1 Nghiên cứu định lượng:

Chọn mẫu toàn bộ tất cả cán bộ y tế bao gồm Bác sỹ, Y sỹ, Điều dưỡng và Hộ sinh đang làm việc tại các Trạm Y tế xã, thị trấn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

Số lượng tham gia nghiên cứu: 111 người

2.4.2 Nghiên cứu định tính:

Chọn mẫu có chủ đích các đối tượng Phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN)

a) Phỏng vấn sâu:

+ Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện Mê Linh

+ Lãnh đạo phòng Kế hoạch nghiệp vụ TTYT Mê Linh

+ Lãnh đạo phòng Hành chính Tổ chức Tài vụ

b) Thảo luận nhóm:

+ Lãnh đạo các trạm y tế xã, thị trấn (8 người)

+ Các nhân viên trạm y tế (8 người)

- Cách chọn mẫu thảo luận nhóm lãnh đạo trạm: Một cuộc thảo luận nhóm với

08 trạm trưởng trạm y tế xã, thị trấn: chọn 08 trạm trưởng trong số 18 trạm trưởng

để có đại diện cho các tiêu chí: về trình độ chuyên môn (bác sỹ, y sỹ), vị trí xã trong huyện (xã ven đê sông hồng, xã trong đê), khu vực kinh tế (xã và thị trấn)

- Cách chọn mẫu thảo luận nhóm nhân viên trạm: Tiêu chí lựa chọn 08 nhân viên trạm y tế: theo chức danh nghề nghiệp Nhóm bao gồm: 01 Bác sỹ (không phải cán bộ trạm trưởng), 01 hộ sinh, 03 y sỹ và 03 điều dưỡng trong danh sách đã lập, đồng ý tham gia nghiên cứu

2.5 Phương pháp thu thập số liệu:

2.5.1 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu định lượng:

* Công cụ thu thập số liệu:

Bộ câu hỏi được xây dựng để thu thập thông tin từ cán bộ Trạm Y tế xã, thị trấn Bộ câu hỏi được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu Thông tư 22/2013/TT-BYT

Trang 29

ngày 09/8/2013 của Bộ Y tế về hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế; Thông tư số 33/2015/TT-BYT ngày 27/10/2015 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ của Trạm Y tế xã, phường, thị trấn và tham khảo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sỹ, y sỹ, điều dưỡng, hộ sinh tại Thông tư liên tịch số 10/2015/TLT-BYT-BNV ngày 27/5/2015 của liên Bộ Y tế - Bộ Nội vụ quy định mã

số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sỹ, bác sỹ y học dự phòng, y sỹ; Thông tư liên tịch số 26/2015/TLT-BYT-BNV ngày 07/10/2015 của liên bộ Bộ Y tế

- Bộ Nội vụ quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của điều dưỡng,

hộ sinh kỹ thuật Y Tuy nhiên trên thực tế tại các Trạm Y tế xã, thị trấn tại huyện

Mê Linh, thành phố Hà Nội hiện nay thực hiện nhiệm vụ chưa được rõ ràng như quy định do đặc thù về số lượng, cơ cấu, tổ chức của từng địa phương Khi xây dựng bộ công cụ, chúng tôi đã lấy ý kiến của Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện Mê Linh về chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm và là bộ công cụ dùng chung cho các chức danh cán bộ Trạm Y tế

* Phương pháp thu thập số liệu định lượng:

- Số liệu thu thập trực tiếp từ cán bộ/nhân viên y tế làm việc tại trạm

Nghiên cứu viên liên hệ với Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện Mê Linh, lên lịch

cụ thể và mời cán bộ/nhân viên Trạm Y tế xã, thị trấn tham gia phát vấn bằng cách điền vào bộ câu hỏi được thiết kế sẵn, thông báo mục đích của nghiên cứu, hướng dẫn cách trả lời phiếu Sau đó, tập hợp phiếu tự điền, kiểm tra phiếu về số lượng, chất lượng

- Số liệu thứ cấp từ báo cáo công tác đào tạo liên tục của Trung tâm Y tế huyện Mê Linh

Nghiên cứu viên thu thập, tổng hợp báo cáo công tác đào tạo liên tục của Trung tâm Y tế huyện Mê Linh

2.5.2 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu định tính:

* Phỏng vấn sâu:

- Bộ công cụ thu thập số liệu: Phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu để phỏng vấn Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện, Lãnh đạo phòng Kế hoạch nghiệp vụ, Lãnh đạo phòng Hành chính Tổ chức Tài vụ

Trang 30

- Đặt lịch hẹn người được phỏng vấn, dựa vào hướng dẫn phỏng vấn sâu để phỏng vấn, có tiến hành ghi âm Trung bình 30 phút/cuộc Nguồn số liệu này do học viên trực tiếp phỏng vấn, thư ký ghi biên bản phỏng vấn và ghi âm cuộc PVS

- Nghiên cứu viên là người chủ trì, một cán bộ của phòng HCTCTV làm thư

ký để ghi chép lại diễn biến cuộc thảo luận và ghi âm cuộc thảo luận

2.6 Các biến số nghiên cứu:

- Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu : Tuổi, giới, chức danh nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác

- Các biến về thực trạng ĐTLT giai đoạn 2016-2017: Tỷ lệ cán bộ trạm y tế xã đào tạo liên tục đáp ứng Thông tư 22; Tỷ lệ cán bộ được đào tạo liên tục, tỷ lệ cán

bộ được đào tạo liên tục đủ 48 giờ trong 2 năm liên tiếp, Số lượng khóa ĐTLT, hình thức đào tạo, thời gian đào tạo, phương pháp đào tạo, địa điểm đào tạo; số chứng chỉ/chứng nhận được cấp, chủ đề khóa ĐTLT, nhận xét khóa học, kiến thức về Thông tư 22/2013/TT-BYT

- Các biến về yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục: Nhóm yếu tố thuộc về cá nhân đối tượng đào tạo; Nhóm yếu tố cơ quan chủ quản (TTYT, TYT); Nhóm yếu tố về chính sách quản lý và văn bản pháp quy về đào tạo liên tục

2.7 Một số khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá

- Đáp ứng đào tạo liên tục theo Thông tư 22/2013/TT-BYT: Cán bộ y tế có chứng chỉ và đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh được đào tạo liên tục có cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ, đủ từ 48 giờ trở lên trong 2 năm 2016 – 2017 hoặc cán

bộ y tế đang đi học liên thông trình độ cao đẳng, đại học giai đoạn 2016 - 2017

- Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh: là chứng chỉ được cấp có thẩm quyền (Sở Y tế Hà Nội) cấp theo bằng cấp chuyên môn

Trang 31

- Kỹ năng mềm bao gồm giao tiếp ứng xử, ngoại ngữ và tin học

2.8 Phương pháp phân tích số liệu:

2.8.1 Xử lý số liệu nghiên cứu định lượng

Số liệu phát vấn sau khi thu thập được làm sạch, nhập vào máy tính và được

xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0

Số liệu thứ cấp được rà soát, chọn lọc, nhập vào máy tính và thống kê bằng phần mềm excel

2.8.2 Xử lý thông tin nghiên cứu định tính

Thông tin định tính được gỡ băng và mã hóa, phân tích dữ liệu theo từng chủ

đề Các nội dung phù hợp cũng sẽ được trích dẫn theo mục tiêu nghiên cứu

2.9 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua theo Quyết định số 020/2018/YTCC-HD3 ngày 29/01/2018

Đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ ràng về mục đích nghiên cứu trước khi trả lời phát vấn và chỉ tiến hành khi được sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu

Để đảm bảo tính trung thực của thông tin thu thập, đối tượng nghiên cứu không ký tên vào phiếu điều tra Các ĐTNC được cung cấp 1 mã số để ghi vào phiếu điều tra Các thông tin thu thập được chỉ dùng cho mục đích nghiên cứu và được giữ bí mật, chỉ nghiên cứu viên mới được phép tiếp cận

Nghiên cứu này giúp cho việc xây dựng kế hoạch ĐTLT cho Trung tâm Y tế huyện Mê Linh, Trạm Y tế xã, thị trấn trong thời gian tới Nội dung phù hợp và được sự đồng ý, ủng hộ của Lãnh đạo Trung tâm

Trang 32

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1: Thông tin chung về cán bộ y tế tại Trạm y tế xã (N=111)

Nhận xét: Tổng số cán bộ y tế các trạm y tế xã, thị trấn tham gia nghiên cứu là

111 người Kết quả thông tin chung của 111 cán bộ trạm y tế xã, thị trấn cho thấy: Tuổi trung bình là 37,85 ± 8,7, độ tuổi từ 31-40 chiếm tỷ lệ cao nhất (55,9%), độ tuổi nhỏ nhất là 24 tuổi và lớn nhất là 59 tuổi Chủ yếu là nữ giới chiếm tỷ lệ 80,2%, nam giới 19,8%, nữ giới cao gấp 4 lần so với nam giới Phân theo chức danh nghề nghiệp: 17,1% bác sĩ, 42,3% y sĩ, 28,8% điều dưỡng và 11,7% hộ sinh, Y sỹ chiếm

tỷ lệ cao nhất (42,3%)

Bảng 3.2 Thời gian công tác tại Trạm Y tế xã, thị trấn của cán bộ y tế (N=111)

Thời gian làm việc trung bình

Nhận xét: Thời gian làm việc trung bình tại trạm của nam giới là 19,91 ± 12,21 năm; nữ giới là 11,6 ± 6,1 năm Thời gian làm việc trung bình chung của cán

Trang 33

bộ ở trạm y tế xã, thị trấn là 13,25 ± 8,3 năm Số năm công tác nhỏ nhất là 2 năm,

số năm công tác lớn nhất là 35 năm

Bảng 3.3: Phân loại trình độ chuyên môn cán bộ trạm Y tế xã (N=111) Trình độ chuyên môn Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Kết quả cho thấy tỷ lệ phân loại trình độ chuyên môn là: Trình độ

đại học 18%, trung cấp 79,3% Như vậy trình độ chuyên môn chủ yếu là trung cấp 79,3% và vẫn còn viên chức có trình độ sơ cấp làm việc tại trạm

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ cán bộ đƣợc cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh chữa bệnh

(N=111) Nhận xét: Trong số 111 người làm việc tại trạm tham gia nghiên cứu thì có 93

(83,8%) người đã có chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh và đang hành nghề khám chữa bệnh

Trang 34

3.2 Thực trạng đào tạo liên tục của cán bộ trạm y tế xã giai đoạn

Nhận xét: Trong số 111 cán bộ trạm y tế xã, thị trấn tham gia nghiên cứu có

111 (100%) người đã từng được đào tạo liên tục/ bổ sung kiến thức trong 2 năm

2016 – 2017

Tỷ lệ này giống với nhận định của đồng chí lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện

Mê Linh: "Tất cả cán bộ trạm Y tế xã, thị trấn đều được tham gia đào tạo liên tục,

bổ sung kiến thức chuyên môn hàng năm."

Bảng 3.5 Số lƣợt hoạt động đào tạo liên tục trung bình mà cán bộ trạm đã

tham gia trong 2 năm 2016-2017 theo chức danh (N=111)

Nhận xét: Trong 2 năm liên tục 2016 – 2017, trung bình bác sỹ tham gia

13,58 khóa đào tạo, nhiều nhất là 20 khóa; trung bình Y sỹ tham gia 10,58 khóa đào tạo, nhiều nhất là 24 khóa; trung bình điều dưỡng tham gia 9,41 khóa đào tạo, nhiều nhất là 18 khóa; trung bình hộ sinh tham gia 14 khóa đào tạo, nhiều nhất là 19 khóa

Trang 35

Bảng 3.6 Hình thức tổ chức khóa ĐTLT trong 2 năm 2016-2017 (N=111)

Nhận xét: Trong 2 năm 2016 – 2017, 110 (99,1%) người được đào tạo liên tục

bằng hình thức Tập huấn, đào tạo Như vậy, hầu hết cán bộ trạm y tế xã, thị trấn được đào tạo liên tục, bổ sung kiến thức bằng hình thức tập huấn và đào tạo

Bảng 3.7: Địa điểm tổ chức các lớp đào tạo liên tục 2 năm 2016-2017

(Số liệu thu thập từ khoa, phòng chức năng)

Học tại Trung tâm, Bệnh viện tuyến

Nhận xét: Trong 2 năm 2016 – 2017, 88 lớp (88,9%) lớp tập huấn được tổ

chức tại Trung tâm y tế (TTYT); có 06 lớp (6,1%) lớp tập huấn học viên được cử đi đào tạo tại các Trung tâm chuyên khoa, bệnh viện tuyến thành phố Như vậy, đa số các lớp tập huấn (88,9%) được tổ chức tập huấn tại TTYT, thuận tiện cho viên chức, người lao động tham gia tập huấn

Nội dung này phù hợp với nghiên cứu định tính, phỏng vấn sâu của lãnh đạo đơn vị và mong muốn của viên chức, người lao động làm việc qua thảo luận nhóm

“ Đào tạo tại chỗ được thực hiện thường xuyên, đơn vị chủ động tổ chức, thuận lợi cho học viên tham gia, dễ làm, đáp ứng được đòi hỏi trước mắt để thực hiện nhiệm vụ” (PVS lãnh đạo đơn vị)

Trong thảo luận nhóm, các nhân viên y tế tại các TYT xã cũng cho biết:

Trang 36

“…Chúng tôi mong muốn đơn vị tổ chức đào tạo tại chỗ, nếu cần thiết mời giảng viên tuyến thành phố, tuyến trung ương về giảng Làm như vậy rất thuận lợi cho chúng tôi đi học, tiết kiệm chi phí đi lại mà cũng rất hiệu quả” (TLN)

Bảng 3.8 Cách thức tổ chức các khóa học được đào tạo Thời lượng đào tạo Số khóa đào tạo (n) Tỉ lệ %

Nhận xét: Trong 2 năm 2016 – 2017, 84 lớp (84,8%) lớp tập huấn được tổ

chức tập huấn dưới 2 ngày; có 09 lớp (9,1%) lớp tập huấn tổ chức từ 2-5 ngày và có

06 lớp (6,1%) tập huấn trên 5 ngày (thường 3 tháng) Như vậy, đa số các lớp tập huấn với thời gian ngắn để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thường xuyên tại đơn vị

Bảng 3.9 Phương pháp ĐTLT cho cán bộ trạm Phương pháp Số lượng khóa đào tạo

Nhận xét: Trong 2 năm 2016-2017, hầu hết các lớp tập huấn đào tạo lý thuyết

89 (89,9%) khóa đào tạo, chỉ có 04 (4%) khóa đào tạo là thực hành/cầm tay chỉ việc

và 06 (6,1%) khóa đào tạo vừa lý thuyết vừa thực hành/cầm tay chỉ việc

Bảng 3.10 Nhận xét về chất lượng khóa học theo số lượt đào tạo

Nhận xét: Trong 2 năm 2016 – 2017, cán bộ trạm y tế được đào tạo là 1257

lượt, trong đó số lượt cán bộ đánh giá chất lượng khóa học đạt chất lượng tốt là

Trang 37

1020 lượt (81,15%), đạt chất lượng trung bình là 237 lượt (18,85%), không có đánh giá chất lượng kém

Tỷ lệ nhận xét chất lượng tốt các khóa học tương đối cao, cao hơn so với nhận định của Lãnh đạo phòng Kế hoạch nghiệp vụ trong nghiên cứu định tính

“… Sau các khóa đào tạo, có một số khóa đào tạo có test đầu vào và test đầu

ra, nhận xét về chất lượng khóa học nhưng không có tổng hợp đánh giá chung tất

cả các khóa học Theo nhận định đánh giá của cá nhân tôi, chất lượng các khóa đào tạo được tổ chức, được đánh giá chất lượng tốt (bao gồm chất lượng chuyên môn, chất lượng công tác phục vụ, hậu cần) thì khoảng 70% đánh giá chất lượng tốt, còn một số khóa đào tạo nội dung tập huấn còn chưa phong phú, chưa đổi mới, chưa thực sự hấp dẫn, cuốn hút người nghe”

3.2.2 Hiểu biết của cán bộ trạm y tế xã về Thông tư 22/2013/TT-BYT

Bảng 3.11 Kiến thức biết về yêu cầu cần tham gia đào tạo liên tục theo thông

tƣ 22/2013/TT-BYT (N = 111) Kiến thức biết về yêu cầu cần tham gia

đào tạo liên tục theo thông tƣ

Nhận xét: Khảo sát về kiến thức biết về yêu cầu cần tham gia đào tạo liên tục

theo Thông tư 22/2013/TT-BYT của 111 viên chức, người lao động làm việc tại Trạm y tế xã thì có 89 người (80,2%) có kiến thức biết về yêu cầu phải tham gia đào tạo theo Thông tư

Bảng 3.12 Nguồn thông tin mà cán bộ trạm đƣợc biết về yêu cầu cần tham gia

ĐTLT theo Thông tƣ 22/2013/TT-BYT (N = 89)

Trang 38

Nhận xét: Khảo sát về nguồn thông tin được biết về Thông tư

22/2013/TT-BYT của 89 viên chức, người lao động làm việc tại Trạm thì có 62 người (69,7%) được biết về quy định đào tạo liên tục cho cán bộ y tế tại Thông tư 22/2013/TT-BYT là do đơn vị (Trung tâm Y tế) phổ biến

Bảng 3.13 Kiến thức về thời gian tối thiểu dành cho ĐTLT trong 2 năm

(N = 93) Thời gian đào tạo tối thiểu Số lƣợng (n) Tỷ lệ %

Nhận xét: Khảo sát về kiến thức biết về thời gian tối thiểu tham gia đào tạo

liên tục theo Thông tư 22/2013/TT-BYT trong 2 năm của 93 viên chức, người lao động có chứng chỉ hành nghề đang làm việc tại Trạm y tế xã thì có 52 người (55,9%) có kiến thức trả lời đúng về quy định thời gian tối thiểu tham gia đào tạo theo Thông tư là 48h trong 2 năm liên tiếp

Bảng 3.14 Kiến thức về việc không thực hiện nghĩa vụ ĐTLT trong 2 năm và việc thu hồi chứng chỉ hành nghề của cán bộ có chứng chỉ hành nghề KCB

(N = 93) Không thực hiện nghĩa vụ ĐTLT

trong 2 năm

Số lƣợng (n) Tỷ lệ %

Trang 39

3.2.3 Tỷ lệ cán bộ trạm y tế xã đáp ứng yêu cầu Thông tư 22/2013/TT-BYT

về đào tạo liên tục

Bảng 3.15 Thực trạng đào tạo liên tục phân theo thời lƣợng trong 2 năm

(N=111)

Chứng chỉ hành nghề KCB

Thời gian CBYT tham gia đào

Nhận xét: Trong tổng số 111 người tham gia nghiên cứu, thì có 91 (82%)

người được đào tạo liên tục trên 48 giờ trong 2 năm liên tiếp 2016 - 2017, còn 20 (18%) người đã được đào tạo liên tục nhưng chưa đủ 48 giờ trong 2 năm liên tiếp

2016 – 2017

Bảng 3.16 Thực trạng đào tạo liên tục đƣợc cấp chứng chỉ, chứng nhận phân

theo thời lƣợng trong 2 năm (N=111)

Chứng chỉ hành nghề KCB

Thời gian CBYT tham gia đào tạo trong 2 năm đƣợc cấp chứng chỉ, chứng nhận

Nhận xét: Trong tổng số 111 người tham gia nghiên cứu thì có 93 (83,8%)

người có chứng chỉ hành nghề Trong số 93 người có chứng chỉ hành nghề thì có 43 (46,2%) người được tham gia đào tạo liên tục trên 48h được cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ sau khi hoàn thành khóa học

Trang 40

Bảng 3.17 Thực trạng đào tạo liên tục của cán bộ có chứng chỉ hành nghề

Nhận xét: Trong số 93 người có chứng chỉ hành nghề và đang hành nghề

khám bệnh, chữa bệnh thì có 66 (71%) người đáp ứng đào tạo liên tục theo Thông

tư 22/2013/TT-BYT

3.2.4 Khó khăn trong việc thực hiện công việc và nhu cầu của cán bộ TYT

xã về đào tạo liện tục

Bảng 3.18 Những khó khăn của cán bộ y tế trong công tác hàng ngày (N=111)

Nhận xét: Khảo sát về những khó khăn mà cán bộ trạm gặp khó khăn trong

công tác hàng ngày thì có 44 người (39,6%) cho rằng còn thiếu kiến thức; 57 người (51,4%) cho rằng còn thiếu kỹ năng; 75 người (67,6%) cho rằng thiếu trang thiết bị;

46 người (41,4%) cho rằng thiếu thuốc; 43 người (38,7%) cho rằng thiếu tài liệu chuyên môn và 7 người (6,3%) cho rằng thiếu thời gian

Ngày đăng: 31/01/2021, 10:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
30. Kirk J.Armstrong và Thomas G.Weidner (2010), “Tornal anh Informal Continning Education Actites anh Athletic Training Profession Practice”, Journal of athletic training, 45 (3), pp 279-286 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tornal anh Informal Continning Education Actites anh Athletic Training Profession Practice
Tác giả: Kirk J.Armstrong và Thomas G.Weidner
Năm: 2010
31. M.D Martin Luchtefeld and M.D Therese G. Kerwel (2012), “Continuing Medical Education, Maintenance of Certification, and Physician Reentry”, Clinnics in Colon anh Rectal Surgery 25 (25), pp. 171-176 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Continuing Medical Education, Maintenance of Certification, and Physician Reentry
Tác giả: M.D Martin Luchtefeld and M.D Therese G. Kerwel
Năm: 2012
33. World Federation for Medical Education (2003), Continuing Professional Development (CPD) of Medical Doctors WFME Global Standards for Quality Improvement, University of Copenhagen - Denmark, pp 6, tại trang web http://wfme.org/standards/cpd/16-continuing-professional-development-cpd-of-medical-doctors-english/file Link
1. Ban chấp hành Trung ương (25/10/2017), Nghị quyết của Ban chấp hành số 20- NQ/TW ngày 25/10/2017 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, chủ biên, Hà Nội Khác
2. Bộ Tài Chính (2010), Thông tư quy định về việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, Thông tư số 139/2010/TT-BTC ngày 21/9/2010, chủ biên, Hà Nội Khác
3. Bộ Y tế - Bộ Nội vụ (2007), Thông tư hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước, Thông tư 08/2007/TT-BYT-BNV ngày 05/6/2007, Hà Nội Khác
4. Bộ Y tế - Bộ Nội vụ (27/5/2015), Thông tư liên tịch quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sỹ, bác sỹ dự phòng, y sỹ, 10/2015/TLT-BYT-BNV, chủ biên, Hà Nội Khác
5. Bộ Y tế - Bộ Nội vụ (7/10/2015), Thông tư liên tịch quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật Y, 26/2015/TLT-BYT- BNV, chủ biên, Hà Nội Khác
6. Bộ Y tế - nhóm đối tác y tế (2015), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2014, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Khác
7. Bộ Y tế - WHO (2014), Quản lý công tác đào tạo liên tục cán bộ Y tế, NXB Y học, Hà Nội Khác
8. Bộ Y tế (2013), Hướng dẫn đào tạo liên tục cho cán bộ y tế, 22/2013/TT-BYT, Bộ Y tế, chủ biên, Hà Nội Khác
9. Bộ Y tế (2008), Hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế, 07/2008/TT- BYT, Bộ Y tế, chủ biên, Hà Nội Khác
10. Bộ Y tế (30/10/2013), Thông tư quy định về thu hồi chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động và đình chỉ hoạt động chuyên môn của người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, 35/2013//TT-BYT, chủ biên, Hà Nội Khác
11. Bộ Y tế (27/10/2015), Thông tư hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ của Trạm Y tế xã, phường, thị trấn, 33/2015/TT-BYT, chủ biên, Hà Nội Khác
12. Bộ Y tế (07/11/2014), Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn đến năm 2020, Quyết định số 4667/QĐ-BYT, chủ biên, Hà Nội Khác
13. Bộ Y tế (14/8/2017), Phê duyệt chương trình đào tạo, bồi dưỡng quản lý y tế cho trưởng trạm y tế xã, phường, thị trấn, Quyết định số 3667/QĐ-BYT, chủ biên, Hà Nội Khác
14. Bộ Y tế (17/02/2012), Quy định về tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng đơn vị đào tạo liên tục cán bộ y tế, Quyết định số 493/QĐ-BYT, chủ biên, Hà Nội Khác
15. Cục Khoa học công nghệ và đào tạo – Bộ Y tế (2017), công nhận các cơ sở đủ điều kiện đào tạo liên tục ngành Y tế, Chủ biên, Hà Nội Khác
16. Cục Khoa học công nghệ và đào tạo – Bộ Y tế (28/7/2016), hướng dẫn xây dựng chương trình và tài liệu đào tạo y khoa liên tục, Chủ biên, Hà Nội Khác
17. Nguyễn Việt Cường (2010), Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục cán bộ điều dưỡng tại 14 trạm y tế phường quận Ba Đình, Hà Nội, năm 2010, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng, Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w