1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của cán bộ y tế xã trong giám sát véc tơ sốt xuất huyết dengue huyện gia lâm, hà nội năm 2018

115 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 5,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biện pháp phòng chống bệnh chủ yếu dựa và có hiệu quả là dựa vào kiểm soát véc- tơ truyền bệnh.Việc đánh giá kiến thức, thực hành của CBYT xã đối với việc giám sát véc-tơ SXHD cần được t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

-*** -

NGUYỄN THỊ MAI PHƯƠNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA CÁN BỘ Y TẾ XÃ TRONG

GIÁM SÁT VÉC-TƠ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE,

HUYỆN GIA LÂM, HÀ NỘI NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

-*** -

NGUYỄN THỊ MAI PHƯƠNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA CÁN BỘ Y TẾ XÃ TRONG GIÁM SÁT VÉC-TƠ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE, HUYỆN

GIA LÂM, HÀ NỘI NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS LÃ NGỌC QUANG PGS.TS NGUYỄN XUÂN BÁI

HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cám ơn thầy cô giáo Trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình hướng dẫn cho tôi, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin gửi lời cám ơn đến Ban giám hiệu, Phòng quản lý đào tạo sau Đại học Trường Đại học Y tế công cộng đã tạo mọi điều kiện thông báo và hướng dẫn cho tôi thực hiện đúng qui định của Trường

Tôi xin chân thành cám ơn PGS.TS Lã Ngọc Quang và PGS.TS Nguyễn Xuân Bái đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn cho tôi trong thời gian làm luận văn

Tôi xin cảm ơn Đảng ủy, Ban giám đốc, Trưởng khoa và tập thể cán bộ khoa KSBT, HIV/AIDS - Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm đã tận tình giúp đỡ cùng tham gia thu thập số liệu, tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ trạm y tế xã, thị trấn đã đồng ý tham gia nghiên cứu và tạo mọi điều kiện tốt nhất có thể để tôi hoàn thành nghiên cứu

Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, những người bạn thân thiết đã tận tình chia sẻ giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất có thể để tôi hoàn thành luận văn này

Học viên Nguyễn Thị Mai Phương

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Đại cương bệnh sốt xuất huyết Dengue 4

1.2 Giám sát và phòng chống 13

1.3 Một số nghiên cứu về sốt xuất huyết Dengue 16

1.4 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 21

1.5 Khung lý thuyết 26

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng nghiên cứu 28

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 28

2.3 Thiết kế nghiên cứu 28

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 28

2.5 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu 29

2.8 Xử lý và phân tích số liệu 36

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 37

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

3.1 Thông tin chung 38

3.2 Kiến thức và thực hành giám sát véc-tơ 39

3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành giám sát véc-tơ 48

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 54

4.1 Kiến thức và thực hành về giám sát véc-tơ phòng chống sốt xuất huyết của cán bộ y tế tuyến xã, huyện Gia Lâm 54

Trang 5

4.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về giám sát véc-tơ phòng

chống sốt xuất huyết của cán bộ y tế tuyến xã, huyện Gia Lâm 58

4.3 Bàn luận về hạn chế của nghiên cứu 62

KẾT LUẬN 64

KHUYẾN NGHỊ 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 70

Phụ lục 1: Bảng biến số nghiên cứu 70

Phụ lục 2: Phiếu điều tra kiến thức về công tác giám sát véc-tơ 76

Phụ lục 5: Bảng kiểm đánh giá thực hành 87

Phụ lục 8: Phiếu đồng ý tham gia phỏng vấn nghiên cứu 96

Trang 6

GSHT : Giám sát huyết thanh

HI : Nhà có bọ gậy (House index)

HGĐ : Hộ gia đình

SXHD : SXHD Dengue

TTYTDP : Trung tâm Y tế dự phòng

TTYT : Trung tâm Y tế

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 38

Bảng 3.2 Kiến thức của các CBYT về nơi sống của bọ gậy 40

Bảng 3.3 Kiến thức của các CBYT về điều tra véc-tơ 41

Bảng 3.4 Kết quả đánh giá thực hành giám sát muỗi trưởng thành của CBYT 43

Bảng 3.5 Kết quả đánh giá khả năng giám sát bọ gậy đạt của CBYT 44

Bảng 3.6 Kết quả đánh giá khả năng ghi chép thông tin 45

Bảng 3.7 Kết quả đánh giá khả năng tính chỉ số đạt của CBYT 46

Bảng 3.8 Phân tích đơn biến các yếu tố liên quan đến kiến thức 48

Bảng 3.9 Phân tích hồi quy logistic đa biến yếu tố liên quan đến kiến thức chung 49 Bảng 3.10 Phân tích đơn biến các yếu tố liên quan đến kỹ năng thực hành 50

Bảng 3.11 Phân tích hồi quy logistic đa biến số yếu tố với thực hành chung 52

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Hình 1.2 Số mắc, tử vong do sốt xuất huyết toàn quốc, 1980-2017……….07

Hình 1.2 Số mắc, tử vong do sốt xuất huyết toàn quốc, 1980-2017 7

Biểu đồ 3.1 Kiến thức về sinh học, sinh thái muỗi 39

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ phần trăm kiến thức đạt về sinh học, sinh thái muỗi 40

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ phần trăm kiến thức đạt về nơi sống của bọ gậy 41

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ phần trăm kiến thức đạt về thời điểm và dụng cụ điều tra 42

Biểu đồ 3.5 Kiến thức về biểu mẫu và đánh giá các chỉ số 42

Biểu đồ 3.6 Kiến thức về giám sát véc-tơ 43

Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ phần trăm thực hành đúng về giám sát muỗi trưởng thành 44

Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ phần trăm thực hành đạt về giám sát bọ gậy 45

Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ phần trăm thực hành đúng ghi chép khi giám sát 46

Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ phần trăm thực hành đạt về tính chỉ số 47

Biểu đồ 3.11 Đánh giá chung về thực hành giám sát véc-tơ 47

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Bản đồ phân bố nguy cơ mắc SXHD trên toàn thế giới……….………04 Hình 1.2 Số mắc, tử vong do sốt xuất huyết toàn quốc, 1980-2017………07 Hình 1.3 Cấu tạo của bọ gậy muỗi Aedes aegypti 10

Trang 9

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh gây nên bởi nhiễm vi rút Dengue cấp tính do muỗi truyền và có thể gây thành dịch lớn Bệnh lan truyền với tốc độ rất nhanh, ước tính mỗi năm trên thế giới có 50 – 100 triệu người mắc và 22.000 trường hợp tử vong Việt Nam là một quốc gia lưu hành dịch SXHD, xảy ra dịch theo chu kỳ Có 2 vụ dịch lớn xảy ra năm 2009 và 2017 Công tác phòng chống bệnh SXHD còn gặp nhiều khó khăn do hiểu biết và thực hành giám sát véc-tơ của cán bộ y tế các tuyến, đặc biệt là tuyến cơ sở còn nhiều hạn chế

Hiện nay việc phòng chống SXHD trên thế giới nói chung và tại Hà Nội nói riêng là vô cùng khó khăn vì chưa có vắc xin phòng bệnh cũng như thuốc đặc trị Biện pháp phòng chống bệnh chủ yếu dựa và có hiệu quả là dựa vào kiểm soát véc-

tơ truyền bệnh.Việc đánh giá kiến thức, thực hành của CBYT xã đối với việc giám sát véc-tơ SXHD cần được thực hiện, từ đó triển khai những chương trình tập huấn nâng cao kiến thức, thực hành cho CBYT Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đánh giá: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực

hành của CBYT xã trong giám sát véc-tơ SXHD huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2018”, nhằm mô tả thực trạng giám sát véc-tơ SXHD của CBYTtại huyện Gia Lâm

hiện nay, cũng như xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của CBYT trong việc giám sát véc-tơ SXHD

Nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang Đối tượng nghiên cứu là 132 CBYT làm việc tại các trạm y tế xã, có tham gia công tác phòng chống SXHD ít nhất 1 năm, được tập huấn về điều tra, giám sát véc-tơ truyền SXHD Thời gian nghiên cứu từ tháng 02 tới tháng 07 năm 2018 tại 22 trạm y tế xã thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội Sử dụng phương pháp phỏng vấn để đánh giá kiến thức, thực hành qua 16 câu hỏi về các kiến thức giám sát vec-tơ SXH cơ bản nhất, quan sát trực tiếp để đánh giá kỹ năng thực hành Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS18.0 Nghiên cứu được Hội đồng Y đức trường Đại học YTCC thông qua (mã số 027/2018/YTCC – HD3)

Đặc điểm của ĐTNC có tuổi đời từ 25 tuổi trở lên, nhóm từ 25-35 tuổi chiếm 59,1%, nữ giới chiếm 73,5%, thâm niên công tác dưới 10 năm chiếm 62,1% Tỷ lệ hiểu biết chung về giám sát véc-tơ SXH thấp, chỉ đạt 28,8% Tương tự, tỷ lệ thực

Trang 10

hành đạt yêu cầu nói chung chỉ chiếm 18,9% Yếu tố được tập huấn nâng cao trình

độ liên quan tới kiến thức chung về giám sát véc-tơ có ý nghĩa thống kê (OR = 2,68, p<0,05), các yếu tố như nữ giới, CBYT được tham gia tập huấn về giám sát SXH thì

có tỷ lệ đạt về kiến thức, thực hành cao hơn, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Xuất phát từ các kết quả nghiên cứu, chúng tôi đề xuất một số khuyến nghị tới TTYT Gia Lâm như sau: (1) Tăng cường công tác đào tạo liên tục và nâng cao, chú trọng thực hành về giám sát vector phòng chống SXH; (2) Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra của tuyến huyện trong triển khai chương trình phòng chống SXH tại các xã, thị trấn của huyện Gia Lâm

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh gây nên bởi nhiễm vi rút Dengue (DEN) cấp tính do muỗi truyền và có thể gây thành dịch lớn Bệnh SXHD là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm lưu ở nhiều quốc gia có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới Vùng Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, châu Mỹ, châu Phi có xấp xỉ 3,5 tỷ người sống trong vùng nguy cơ.Đặc điểm của bệnh này là sốt, xuấthuyết và thoát huyết tương, có thể gây nên sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạnđông máu, suy tạngvà nếu không được xử trí kịp thời sẽ có thể dẫn tới tử vong [41] Đây là bệnh lan truyền với tốc độ rất nhanh, ước tính tỷ lệ mắc SXHD đã tăng lên hơn 30 lần trên toàn cầu trong 50 năm qua Mỗi năm trên thế giới có 50 – 100 triệu người mắc sốt xuất huyêt Dengue với 500.000 trường hợp nhập viện và 22.000 trường hợp tử vong chủ yếu ở trẻ em Chi phí ước tính cho một trường hợp cấp cứu và nhập viện khoảng 514 – 1394 USD [43]

Tại Việt Nam,trong 10 năm gần đây đã xảy ra 2 vụ dịch lớn vào năm 2009 và gần đây nhất là vào năm 2017, số ca mắc tăng cao hàng năm gây nhiều khó khăn cho cho công tác phòng chống bệnh SXHD ở Việt Nam [21]

Hà Nội là thành phố có dân số lớn thứ 2 của Việt Nam, đồng thời cũng là thành phố trọng điểm nhất về SXHD tại khu vực Miền Bắc với trên11.000 ca năm

2016, năm 2017 số ca mắc là 37.651trong đó có 7 trường hợp tử vong, tăng gấp 3,4 lần ca mắc so với năm 2016 [19] Năm 2017, trước tình hình bùng phát dịch SXH trên địa bàn, UBND Thành phố, Sở Y tế, TTYTDP Thành phố đã chỉ đạo các đơn vị thành lập các đội xung kích và tổ giám sát để phòng chống dịch SXH Trong đó tổ giám sát gồm có 01 cán bộ y tế cơ sở và 01 lãnh đạo thôn có nhiệm vụ giám sát hoạt động của 5 – 10 đội xung kích, đánh giá kết quả thực hiện của các đội xung kích bằng cách điều tra, giám sát vector ngẫu nhiên từ 5 – 10% hộ gia đình

Huyện Gia Lâm là huyện ngoại thành Hà Nội, năm 2017 có số ca mắc SXHD

là 251 ca chiếm 0,7% so với toàn thành phố (251/37.651); không có trường hợp nào

tử vong; dịch diễn ra ở 22/22 xã, thị trấn Trên địa bàn huyện đã triển khai các hoạt động diệt véc-tơ phòng chống dịch SXHD theo hướng dẫn của Bộ Y tế, Sở Y tế và

Trang 12

TTYTDP Hà Nội Hàng năm, TTYT tổ chức các lớp tập huấn cho các CBYT về công tác phòng chống SXH, từ đó các CBYT cơ sở tập huấn lại cho các công tác viên cũng như tuyên truyền cho người dân về các biện pháp phòng chống dịch SXH Nhưng qua giám sát chỉ số véc-tơ truyền bệnh luôn ở mức cao, có những thời điểm BI lên đến 30 (kết quả giám sát của Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội ngày

20/9/2017 tại ổ dịch xã Đa Tốn) [22]

Hiện nay việc phòng chống SXHD trên thế giới nói chung và tại Hà Nội nói riêng là vô cùng khó khăn vì chưa có vắc xin phòng bệnh cũng như thuốc đặc trị Biện pháp phòng chống bệnh chủ yếu dựa và có hiệu quả là dựa vào kiểm soát véc-

tơ truyền bệnh Để triển khai các biện pháp phòng chống dịch SXHD hiệu quả, các CBYT cần có đủ năng lực và thực hiện tốt công tác giám sát véc-tơ truyền bệnh

(muỗi Aedes aegypti và muỗi Aedes albopictus) để có thể đánh giá, dự báo tình hình

SXHD tại địa phương, nhằm phòng chống bệnh chủ động Vì vậy, việc đánh giá kiến thức, thực hành của CBYT xã đối với việc giám sát véc-tơSXHDcần được thực hiện, từ đó triển khai những chương trình tập huấn nâng cao kiến thức, thực hành cho CBYT Bên cạnh đó cũng cần tìm hiểu những yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành giám sát véc-tơSXHDcủa cán bộ tuyến xã, thị trấn

Vì những lý do trên, chúng tôitiến hành nghiên cứu đánh giá “Thực trạng và

một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của cán bộ y tế xã trong giám sát véc-tơ sốt xuất huyết Dengue huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2018”, nhằm mô tả

thực trạng công tác giám sát véc – tơ SXHD của CBYT xã, thị trấn tại huyện Gia Lâm hiện nay, cũng như xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của CBYTtrong việc giám sát véc-tơ SXHD để có thể đưa ra những giải pháp cho đẩy mạnh giám sát véc-tơtại tuyến xã, thị trấn trong công tác phòng chống bệnh SXHD trên địa bàn huyện

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức, thực hành giám sát véc-tơ phòng chống sốt xuất huyết của cán bộ y tế tuyến xã tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội năm 2018

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành giám sát véc-tơ phòng chống sốt xuất huyết của cán bộ y tế tuyến xã tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội năm 2018

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương bệnh sốt xuất huyết Dengue

1.1.1 Tình hình sốt xuất huyết Dengue trên Thế giới và tại Việt Nam

 Tình hình SXHD trên Thế giới

Hình 1.1: Bản đồ phân bố nguy cơ mắc SXHD trên toàn thế giới[42, 46]

Hiện nay, SXHD Dengue (SXHD) là một trong những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây được sự quan tâm hàng đầu thế giới do có tốc độ lan truyền

nhanh với véc-tơ truyền bệnh là do muỗi Aedes, phân bố rộng rãi ở tất cả các vùng

địa lý và các khoảng thời gian Sau những ghi nhận đầu tiên về các ca bệnh SXHD, cho tới năm 1970, chỉ có 9 quốc gia có lưu hành dịch Nhưng sau đó số ca đã tăng lên gấp 4 lần và lưu hành rộng rãi thêm tại các quốc gia khác [39] Các khu vực báo cáo về dịch tễ học của SXHD trong suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 bao gồm: Châu

Mỹ, Nam Âu, Bắc Phi, Đông Địa Trung Hải, Châu Á, Châu Úc và một số lượng lớn các đảo ở Ấn Độ Dương, phía nam và trung tâm Thái Bình Dương cũng như ở vùng biển Caribean Trong vòng hơn 40 năm, SXHD tăng cả về tỷ lệ và vùng phân bố Đến năm 1996, tại các khu vực này đã có 2.500 – 3.000 triệu người sống trong vùng lưu hành vi-rút gây bệnh, trong đó có khoảng 20 triệu ca mắc, dẫn tới 24.000 ca tử vong [28]

Bệnh SXHD là bệnh lây lan do muỗi lây lan nhanh nhất trên thế giới Trong

50 năm qua, tỷ lệ mắc bệnh đã tăng gấp 30 lần với sự gia tăng địa lý ngày càng tăng

Trang 15

lên các quốc gia mới và, trong thập kỷ nay, từ thành thị đến nông thôn Ước tính có khoảng 50 triệu trường hợp nhiễm SXHD xảy ra hàng năm và khoảng 2,5 tỷ người sống ở các quốc gia có dịch SXHD [41] Nghị quyết của Hội đồng Y tế Thế giới năm 2002 WHA55.17 [40] đã thúc đẩy cam kết về bệnh SXHD của WHO và các quốc gia thành viên Ý nghĩa đặc biệt là Hội nghị Y tế Thế giới năm 2005 giải quyết WHA58.3 về sửa đổi Quy định Y tế Quốc tế (IHR) [45], bao gồm SXHD như một

ví dụ về bệnh có thể tạo thành một trường hợp khẩn cấp y tế công cộng, an ninh sức khỏe do sự gián đoạn và dịch nhanh chóng lan ra ngoài biên giới quốc gia

Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc bệnh SXHD đã tăng đáng kể ở nhiều quốc gia trên thế giới Hơn 40% dân số thế giới đang sống trong vùng có nguy cơ

bị SXHD Hiện nay có khoảng 390 triệu ca mắc SXHD trên toàn thế giới, trong đó

96 triệu ca có biểu hiện triệu chứng lâm sàng hàng nămTheo ước tính của tổ chức Y

tế thế giới (WHO) [44, 47]

Năm 2006, tại châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương đối với ca bệnh thể xuất huyết (DHF) thì ước tính có khoảng 500.000ca, trong đó có đến

25000 ca tử vong Con số hơn1,7 triệu ca SXHD đã được báo cáo ở châu Mỹ năm

2010, trong đó số tử vong là 1185 [7] Đối với các nước Châu Phi, tính từ năm 1960 đến năm 2010, có khoảng 20 đợt dịch xảy ra ở 15 quốc gia của châu lục này, chủ

yếu ở các nước Đông Phi [30]

Năm 2017 tại Philippines ghi nhận trên 52 nghìn trường hợp, tăng 41% so với cùng kỳ 2015, trong đó có 207 trường hợp tử vong, tỷ lệ mắc là 51/100.000 dân, tỷ lệ chết/mắc là 0,4%; Singapore ghi nhận 7.891 trường hợp mắc, không có tử vong, tỷ lệ mắc là 155/100.000 dân Các quốc gia khác trong khu vực như Lào, Cam-Pu-Chia, Trung Quốc, Úc số mắc có xu hướng tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2015 [30]

Tại Indonesia, nơi có hơn 35% dân số của đất nước này đang sống ở các khu vực đô thị, 150 nghìn trường hợp đã được báo cáo trong năm 2007, cao kỷ lục với hơn

25 nghìn trường hợp được ghi nhận từ cả Jakarta và khu vực Tây Java [35]

Tại Thái Lan các ổ dịch được ghi nhận từ các tỉnh như Trat, Bangkok, Chiangrai, Phetchabun, Phitsanulok, Khamkaeng Phet, Nakhon Sawan và Phit Chit

Trang 16

Tổng cộng có gần 59.000 trường hợp được báo cáo trong năm 2007 Tỷ lệ tử vong ở Thái Lan khá thấp ở mức dưới 0,2% [36]

Tình hình SXHD tại Việt Nam

Tại Việt Nam, khu vực chịu ảnh hưởng của dịch bệnh này là các tỉnh hành phố thuộc khu vực miền Nam và miền Trung Chu kỳ bùng phát là từ 4 – 5 năm/lần, dịch thường gia tăng vào mùa mưa, miền Bắc vào khoảng tháng 4 đến tháng 11, miền Nam vào khoảng tháng 4 đến tháng 11 [8, 9]

Vụ dịch đầu tiên được ghi nhận tại Việt Nam là ở miền Bắc năm 1958 Trước năm 1990, bệnh SXHD xuất hiện có tính chất chu kỳ một cách tương đối rõ ràng, với mỗi chu kỳ từ 3 – 5 năm Nhưng chỉ đến khi vào năm 1998, dịch đã xuất hiện và lưu hành tại 56/61 tỉnh thành trong cả nước với khoảng 234 nghìn trường hợp mắc

và 377 trường hợp tử vong,tỷ lệ mắc là khoảng 306 trường hợp/100.000 dân, tỷ lệ chết/mắc là 0,19% gây ra những thiệt hại lớn về người, kinh tế cho người dân Tổn thất này đã gây ra sự quan tâm, do đó bệnh dịch này đã được đưa vào chương trình mục tiêu Quốc gia và duy trì cho đến ngày nay [11]

Giai đoạn từ những năm 80, 90 của thế kỷ trước, trung bình mỗi năm ghi nhận xấp xỉ 100.000 trường hợp mắc, 300 - 400 trường hợp tử vong Tuy nhiên, năm 1987 dịch bùng phát dịch diện rộng với số mắc trên 350 nghìn trường hợp và trên 1.500 trường hợp tử vong [13]

Giai đoạn từ 2000 – 2017, trung bình hàng năm ghi nhận khoảng 50.000 đến 100.000 trường hợp mắc, khoảng 100 trường hợp tử vong Trong đó, năm 2010 có số mắc cao nhất với 128.710, trong đó 109 tử vong [13] Từ đó, số mắc giảm dần qua các năm, năm 2014 ghi nhận thấp nhất với khoảng 32 nghìn trường, 20 trường hợp tử vong

Trang 17

Hình 1.2 Số mắc, tử vong do sốt xuất huyết toàn quốc, 1980-2017

Năm 2017 do rơi vào chu kỳ dịch vì vậy số mắc cả nước tăng lên 183.287 ca mắc, 32 trường hợp tử vong Số mắc vẫn tập trung chủ yếu tại khu vực miền Nam ghi nhận gần 89.000 nghìn trường hợp mắcchiếm 48.4% số mắc cả nước tỷ lệ mắc/100.000 dân là 164, miền bắc chiếm 33.5 % so với tỷ lệ mắc/100.000 dân là 126; miền trung chiếm 14.7% so với số mắc/100.000 dân là 210; Tây nguyên chiếm

3.4 % so với số mắc/100.000 dân là 133 [23, 24]

1.1.2 Một số khái niệm về SXHD Dengue

Vi rút SXHD là một loại vi rút RNA đơn mạch nhỏ bao gồm bốn kiểu huyết thanh riêng biệt (DEN-1 đến -4) Các kiểu huyết thanh có liên quan chặt chẽ này của vi rút SXHD thuộc giống Flavivirus, họ Flaviviridae[38]

Bệnh SXHD là bệnh truyền nhiễm cấp tính, có thể gây thành dịch do vi-rút Dengue gây ra Bệnh lây qua đường máu và có trung gian truyền bệnh là muỗi

Aedes aegypti và muỗi Aedes albopictus Bệnh có biểu hiện lâm sàng chủ yếu là sốt

cấp diễn và xuất huyết với nhiều dạng khác, nhưng thể nặng có sốc do giảm khối lượng máu lưu thông [38]

Theo hướng dẫn giám sát và phòng chống SXHD, một nơi ví như tổ, khu phố/xóm/ấp, cụm dân cư hoặc tương đương, được xác định là ổ dịch SXHD khi có

,0 1,000 2,000 3,000 4,000 5,000 6,000

Trang 18

các ca bệnh lâm sàng xảy ra trong vòng 7 ngày hoặc một ca bệnh SXHD được chẩn đoán xác định phòng xét nghiệm, đồng thời phát hiện có lăng quăng/ bọ gậy hoặc

muỗi truyền bệnh trong phạm vi bán kính 200 mét [1]

Thời kỳ ủ bệnh và lây truyền từ 3 – 14 ngày, trung bình 5 đến 7 ngày Bệnh nhân là nguồn lây bệnh trong thời kỳ có sốt, nhất là 5 ngày đầu của sốt vì trong máu

có nhiều vi-rút ở thời kỳ này Muỗi bị nhiễm vi-rút thường khoảng từ 8 – 12 ngày sau khi hút máu, sau đó có thể lây truyền bệnh cho người lành khác

1.1.4 Nguồn bệnh và tác nhân truyền bệnh

Hai loài muỗi truyền bệnh SXHD ở Việt Nam chủ yếu là Aedes aegypti và Aedes albopictus, đóng vai trò quan trọng nhất là loài muỗi Aedes aegypti

Muỗi Aedes là một loài muỗi có kích thước từ nhỏ Muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus có màu đen, thân và chân của chúng có những đốm trắng nên

thường được gọi là muỗi vằn

Hai loài muỗi này chủ yếu hoạt động hút máu và truyền bệnh vào ban ngày, thời điểm hoạt động mạnh nhất là lúc sáng sớm và chiều tối Chỉ có giống muỗi cái

mới đốt người và truyềnbệnh được Khi muỗi cái Aedes hút máu bệnh nhân nhiễm

vi-rút dengue, vi-rút này sẽ phát triển trong cơ thể muỗi khoảng 8 đến 11 ngày Sau

đó muỗi có nguy cơ truyền bệnh cho người Khi vi-rút vào cơ thể người,chúng theo máu tuần hoàn trong cơ thể từ 2 đến 7 ngày Trong khoảng thời gian này nếu có muỗi Aedes hút máuthì vi-rút sẽ được truyền lại cho muỗi.Người là ổchứa vi rút

Trang 19

chính Sự xuất hiện và lan truyền dịch xảy ra ở những vùng có nhiềumuỗi Aedes, vệ sinh môi trường kém, đông dân cư [1]

1.1.5 Đặc điểm sinh học và hình thái của tác nhân truyền bệnh SXHD

Véc-tơ (muỗi mang mầm bệnh) của SXHD là muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus, những loài muỗi nhỏ màu đen xen kẽ những đám vẩy màu trắng khắp cơ thể gọi là muỗi vằn Muỗi vằn Aedes aegypti là véc-tơ truyền bệnh hiệu quả nhất vì

đặc tính sống gần người của chúng

1.1.5.1 Vòng đời

Giống như các loài muỗi khác, chu kỳ phát triển của Aedes aegypti gồm 4

giai đoạn: Trứng, bọ gậy, nhộng và muỗi trưởng thành, trong đó chỉ có giai đoạn trưởng thành liên quan trực tiếp đến truyền bệnh (Hình 1.1) Để phòng chống bệnh

SXHD có hiệu quả cũng như các bệnh khác do muỗi Aedes aegypti truyền, những

hiểu biết về các đặc điểm sinh học cơ bản, sinh thái và nhận diện của loài muỗi này đóng vai trò quan trọng

1.1.5.2 Trứng

Từ 6 đến 7 ngày sau khi nở hay 3 – 4 ngày sau khi hút máu, muỗi đẻ trứng ở

bề mặt ẩm của đồ vật chứa nước (sát ngay gần mặt nước) Aedes aegypti và Aedes albopictus ưa thích đẻ trứng vào nơi có nền tối như màu đỏ, màu đen hơn là các

màu sáng Trứng muỗi có màu đen, sắp xếp riêng rẽ từng quả một và dính vào thành

lu vại hoặc chìm xuống đáy nước, nên mỗi lần thay nước trong lu vại phải chú ý cọ rửa sạch sẽ quanh thành vại, đỗ hết cặn ở lu vại để diệt bọ gậy Mỗi lần muỗi đẻ từ

10 – 100 trứng và được lặp lại sau 4 đến 5 ngày Cả đời muỗi có thể đẻ 300 – 750

trứng [31]

Trứng Aedes aegypti có sức chịu đựng khá cao đối với khô hạn, 67% ấu

trùng có thể nở ra từ trứng đã ở trong điều kiện khô hạn 3 tháng [1] Trứng có phôi phát triển hoàn thiện trong vòng 48h trong điều kiện môi trường ấm và ẩm thì có thể sống sót trong điều kiện khô hạn khoảng 1 năm Trứng sẽ nở sau ít phút khi bị ngập nước tự nhiên hoặc nhân tạo ví dụ như do người đổ nước vào để dự trữ và không phải tất cả các trứng sẽ nở ở lần ngập nước đầu tiên, một số chỉ nở sau vài lần bị ngập nước Cùng với khả năng chịu hạn, trứng có thể sống sót ở các nhiệt độ mà các giai đoạn phát triển khác không chịu đựng được Một số nghiên cứu cho thấy trứng

Trang 20

có thể sống sót 5phút ở 490C, 25h ở -110C và 1h ở -170C Tuy nhiên, khả năng nở trứng còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác như: sự khô hạn xảy ra đột ngột, thay đổi hàm lượng oxy trong nước và các yếu tố biến đổi nhiệt độ đột ngột của nước hoặc tùy thuộc vào các chủng muỗi có nguồn gốc khác nhau [31]

1.1.5.3 Bọ gậy (ấu trùng)

Ấu trùng muỗi có 4 giai đoạn hình dạng giống nhau, chỉ khác về kích thước

Ấu trùng được chia làm 3 phần rõ rệt: đầu, ngực và bụng (Hình 1.1)

Hình 1.3 Cấu tạo của bọ gậy muỗi Aedes aegypti

Toàn thân bên ngoài được bao phủ bởi một tầng kytin không thấm nước, trên thân có nhiều lông và gai có chức năng cảm giác, vận động, giữ tư thế cân bằng và giữ cho bọ gậy bám Đầu bọ gậy hình cầu, hơi dẹt, trên đầu có những lông tơ khác nhau tùy theo từng loài Phần ngực của bọ gậy gồm ba đốt nhưng không phân chia

rõ Bụng có 9 đốt, những đốt gần ngực thì lớn, những đốt cách xa ngực càng nhỏ,

đốt thứ 8 và thứ 9 tạo thành một phức hợp đốt chứa ống thở (Culicinae) và mái

chèo Bọ gậy phát triển phụ thuộc vào các yếu tố môi trường khác nhau, nhiệt độ của nước, lượng thức ăn, mật độ quần thể…Nhiệt độ từ 25-300C khoảng thời gian phát triển là 5-7 ngày, nhiệt độ của nước 5-90C BG chỉ sống được 1 thời gian ngắn

BG chủ yếu sống trong nước sạch Bọ gậy của muỗi Aedes aegypti ưa nước có độ

pH hơi a xít, nhất là nước mưa, rồi đến nước máy, nước giếng Bọ gậy rất nhạy cảm

Trang 21

với tiếng động và ánh sáng, chúng có thể lặn sâu xuống đáy vật chứa nước khi mặt

nước bị khuấy động hoặc chỉ cần 1 bóng râm lướt qua [31]

1.1.5.4 Nhộng (Quăng)

Nhộng có hình dạng dấu hỏi Ở phía đầu có 2 ống thở Phần bụng gồm 9 đốt trên một số đốt có lông Hình thể nhộng phức tạp nên ít được dùng để định loại Giai đoạn nhộng kéo dài từ 1-5 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ của nước Ở nhiệt độ 27-320C con đực cần trung bình 1,9 ngày, con cái cần 2,5 ngày Khả năng chịu đựng của nhộng khá cao, chúng có thể sống sót 5 phút ở 470C và 82-100% nhộng sống sót ở 4,50C trong 24h Sau khi nở, muỗi trưởng thành đậu nghỉ trên xác nhộng và mặt nước khoảng 1h để cho cánh giãn nở và bộ khung ngoài cứng cáp [33]

1.1.6 Nơi ở của bọ gậy (BG) muỗi

Cả hai loài muỗi đều đẻ trứng ở các dụng cụ chứa nước trong và xung quanh nhà và có mối liên hệ mật thiết với nơi ở của con người

Aedes aegypti đẻ trứng trong các dụng cụ chứa nước (DCCN) ở trong và

xung quanh nhà, Aedes albppictus đẻ trứng ở những DCCN xung quanh nhà và

ngoài vườn Có khoảng 17 loại DCCN khác nhau có thể là nơi đẻ trứng của Aedes aegypti, trong đó lu (bình cảnh) chiếm tỷ lệ cao nhất (23%), tiếp theo là khạp (vại

sành) (21,3%), thùng phuy (12,5%) và chân chén (11,2%) Muỗi đẻ trứng ở những nơi nước sạch chứa trong lu vại, bể, các mảnh chai lọ, bát vở, lốp ô tô cũ, võ dừa, máng chứa nước mưa ứ đọng lâu ngày, ở trong nhà và quanh nhà những nơi râm mát [1]

Các ổ chứa bọ gậy thông thường là:

+ Ổ chứa thiên nhiên hốc cây, thân tre, vỏ óc, kẽ bẹ lá (dứa, chuối, khoai môn, khoai sọ,…) ít khi gặp trên hốc đá

+ Ổ chứa nhân tạo: xô, thùng nước, vật chứa, chai lọ, chén bát vỡ, mảnh sảnh sứ, vỏ

xe vứt bừa bãi ngoài vườn, máng nước, lọ hoa trong nhà, hòn non bộ, thùng xe + Qua nhiều năm nghiên cứu tại các tỉnh miền bắc, các kết quả cho thấy ổ chứa bọ gậy chủ yếu là bể cây cảnh, bể nước mưa, thùng nước, những vật chứa nước do con

người tạo ra Rất ít gặp bọ gậy Aedes aegypti ở các loại ổ chứa khác [14]

Trang 22

Ổ bọ gậy chủ yếu của Aedes ở trong

bị xuất huyết nộitạng)

- Đau bụng, buồn nôn, chân tay lạnh, người vật vã, hốt hoảng (hội chứng choáng do xuất huyết nội tạng gây mất máu, tụt huyết áp), nếu không được cấp cứu và điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong [1]

Trang 23

1.2 Giám sát và phòng chống

1.2.1 Giám sát

Giám sát dịch tễ bao gồm giám sát bệnh nhân, giám sát huyết thanh và vi-rút, giám sát véc-tơ (muỗi, lăng quăng/bọ gậy) và giám sát tính nhạy cảm của véc-tơ với các hóa chất diệt côn trùng, đồng thời theo dõi diễn biến thời tiết, môi trường và kết quả biện pháp phòng chống chủ động [1]

1.2.1.1 Giám sát véc-tơ

Giám sát véc-tơ nhằm xác định nguồn sinh sản chủ yếu của muỗi truyền bệnh, sự biến động của véc-tơ, tính nhạy cảm của véc-tơ với các hóa chất diệt côn trùng và đánh giá hoạt động phòng chống véc-tơ tại cộng đồng Điểm giám sát véc-

tơ được lựa chọn tại các xã, phường trọng điểm.Giám sát bao gồm giám sát muỗi

trưởng thành và giám sát bọ gậy của muỗi truyền SXH là Aedes aegypti vàAedes

albopictus [1]

 Giám sát muỗi trưởng thành

Giám sát muỗi trưởng thành bằng phương pháp soi bắt muỗi đậu nghỉ trong nhà bằng ống tuýp hoặc máy hút cầm tay Soi bắt muỗi cái đậu nghỉ trên quần áo, chăn màn, các đồ vật trong nhà vào ban ngày, mỗi nhà soi bắt muỗi trong 15 phút

Số nhà điều tra cho mỗi điểm là 30 nhà, điều tra 1 lần/tháng [1]

Sử dụng 2 chỉ số dưới đây để giám sát muỗi Aedes aegypti, Aedes albopictus

Trang 24

Có 4 chỉ số được sử dụng để theo dõi bọ gậy của muỗi Aedes aegypti vàAedes albopictus (tính theo từng loài):

a) Chỉ số nhà có bọ gậy (CSNBG) là tỷ lệ phần trăm nhà có bọ gậy Aedes:

CSNBG (%) = Số nhà có bọ gậy Aedes

x 100

Số nhà điều tra b) Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy (CSDCBG) là tỷ lệ phần trăm dụng cụ chứa

nước có lăng quăng/bọ gậy Aedes:

CSDCBG (%) = Số DCCN có bọ gậy Aedes

x 100

Số DCCN điều tra

c) Chỉ số Breteau (BI) là số DCCN có bọ gậy Aedes trong 100 nhà điều tra Tối

thiểu điều tra 30 nhà, vì vậy BI được tính như sau:

BI = Số DCCN có bọ gậy Aedes

x 100

Số nhà điều tra d) Chỉ số mật độ bọ gậy (CSMĐBG) là số lượng bọ gậy trung bình cho 1 nhà điều tra Chỉ số CSMĐBG chỉ sử dụng khi điều tra ổ bọ gậy nguồn

CSMĐBG (con/nhà) = Số bọ gậy Aedes thu được

Số nhà điều tra + Trong quá trình giám sát véc-tơ (muỗi, lăng quăng/bọ gậy), nếu chỉ số mật độ muỗi cao (≥0,5 con/nhà) hoặc chỉ số Breteau (BI) ≥ 30 là yếu tố nguy cơ cao) + Riêng khu vực miền Bắc chỉ số mật độ muỗi cao (≥ 0,5 con/nhà) hoặc chỉ số

BI ≥ 20 là yếu tố nguy cơ cao [9]

1.2.2 Phòng, chống véc-tơ chủ động

1.2.2.1 Hoạt động diệt lăng quăng/bọ gậy

 Giảm nguồn sinh sản của véc-tơ

- Lăng quăng/bọ gậy Aedes có thể phát triển ở các dụng cụ chứa nước trong nhà và

xung quanh nhà, vì vậy xử lý dụng cụ chứa nước để làm giảm nguồn sinh sản là biện pháp đơn giản và rất hiệu quả trong phòng chống véc-tơ [1]

- Xử lý dụng cụ chứa nước:

Trang 25

 Dụng cụ chứa nước sinh hoạt bao gồm các dụng cụ như các loại bể nước mưa chum vại, giá đựng cây cảnh, nên sử dụng các biện pháp ngăn ngừa muỗi sinh

đẻ như các vật dụng phải có nắp đậy thật kín, thả cá, hoặc lật úp các dụng này nếu không cần thiết

 Loại trừ ổ bọ gậy:

o Đối với các dụng cụ như lọ hoa, chậu cây cảnh, khay nước tủ lạnh hoặc điều hòa nhiệt độ, dùng dầu hoặc cho muối vào, thay nước 1 lần/tuần, cọ rửa sạch thành dụng cụ chứa nước để diệt trứng muỗi

o Thu dọn, phá hủy các ổ chứa nước tự nhiên hoặc nhân tạo như chai,

lọ, chum vại, lốp xe hỏng, vỏ dừa, vò vỡ, vỏ đồ hộp, cho vào túi rồi chuyển tới nơi thu gom phế thải, hoặc có thể hủy bỏ bằng chôn, đốt

o Sử dụng hóa chất diệt ấu trùng muỗi tại các ổ đọng nước

 Tuyên truyền, hướng dẫn cộng đồng

- Tuyến tỉnh, huyện: Phối hợp với các cơ quan thông tin như đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí và các phương tiện thông tin khác

- Tuyến xã, phường: phổ biến kiến thức phòng chống SXHD trong các trường học, các buổi họp dân, khẩu hiệu, tờ tranh, áp phích, thăm hỏi của cộng tác viên

y tế, truyền thanh các thông tin đơn giản, dễ hiểu, có minh họa rõ ràng

 Huy động cộng đồng

Đối với cá nhân thì nên vận động các thành viên trong gia đình thực hiện các

biện pháp phòng chống SXHD, xua diệt muỗi hoặc phòng muỗi đốt

Đối với cộng đồng nên tổ chức hoạt động diệt lăng quăng, bọ gậy hàng tuần tại khu vực có ổ dịch, tuyên truyền rộng rãi các biện pháp loại trừ nơi sinh sản của véc-tơ ở nhà cũng như ở trường học

Vận động nhà tài trợ tham gia vào việc nâng cao cảnh quan và cải thiện môi sinh trong cộng đồng, kết hợp hoạt động phòng chống SXHD

Cung cấp nước sinh hoạt nhằm làm giảm nơi sinh sản của muỗi

1.2.2.2 Phun hóa chất diệt muỗi chủ động diện rộng

Phun hóa chất diệt muỗi được chỉ định thực hiện tại khu vực có nguy cơ cao

và nơi có ca bệnh và có chỉ số mật độ muỗi cao (0,5 con/nhà) hoặc chỉ số lăng

Trang 26

quăng/bọ gậy cao (Breteau -BI 30) Triển khai phun hóa chất diệt muỗi kết hợp với chiến dịch diệt lăng quăng/bọ gậy ngay từ khi có nguy cơ là một trong những biện

pháp ưu tiên cho phòng chống dịch xảy ra

1.3 Một số nghiên cứu về sốt xuất huyết Dengue

Năm 2010, khoa Côn trùng của trung tâm kiểm dịch Brazil đã thực hiện

nghiên cứu để đánh giá về sự sinh sản của nhộng Aedes aegypti trong chiến dịch

kiểm soát véc-tơ SXHD tại Sao Paolo Nghiên cứu được thực hiện tại vùng nông thôn bang Rio de Janeiro thực hiện trên 532 hộ gia đình thu thập chỉ số bọ gậy được thực hiện vào 2 mùa nắng và mùa mưa (từ tháng 11 tới tháng 4 và từ tháng 4 đến tháng 11 năm sau), số liệu được thu thập hàng tháng Kết quả của nghiên cứu cho thấy có đến 82,7% những nơi có bọ gậy là hộ gia đình, 1162 dụng cụ chứa nước có

bọ gậy chiếm 11,7% Bọ gậy muỗi Aedes aegypti chủ yếu tập trung ở ngoài nhà và

những dụng cụ tại tầng 1 của hộ gia đình đồng thời sự gia tăng SXHD có mối liên

hệ chặt chẽ với chỉ số côn trùng (CI, BI, HI) [34]

Tháng 7 năm 2016, Anil ShamRao Mane cùng cộng sự đã thực hiện nghiên cứu về kiến thức thái độ thực hành trên đối tượng là 189 người dân và 72 CBYT tại

Ấn Độ, nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi bao gồm 18 câu hỏi dựa trên nền bộ câu hỏi của trung tâm CDC ban hành, kết quả cho thấy sự khác biệt giữa người dân và CBYT về kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống SXHD Nghiên cứu cũng chỉ

ra cần có sự hướng dẫn về thực hành phòng chống SXHD cho người dân một cách đầy

đủ và truyền thông về SXHD rộng rãi hơn nữa [37]

Trong nghiên cứu mối liên quan giữa chỉ số côn trùng và dịch SXHD cũng chỉ ra rằng những dụng cụ chứa nước có bọ gậy cao nhất là lốp xe (90,32%), chai nhựa (74,34%), dụng cụ chưa nước nhỏ trong nhà (68,09%), đồng thời cũng nhấn

Trang 27

mạnh vai trò quan trọng của việc kiểm soát véc-tơ trong việc phòng chống dịch SXHD [29]

Nghiên cứu tại Việt Nam:

Tại Việt Nam, SXHD đã được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau, như thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành trong phòng chống, đánh giá hiệu quả các giải pháp kiểm soát véc-tơ, điều tra ổ bọ gậy nguồn, đánh giá hiệu quả hoạt động cộng tác viên, phân tích đặc điểm dịch tễ học của muỗi truyền bệnh, Tuy nhiên, hiện nay có rất ít nghiên cứu đánh giá kiến thức, thực hành của CBYT trong công tác giám sát véc-tơ CBYT đóng vai trò rất quan trọng trong việc phòng chống dịch SXHD, không chỉ là người làm công tác tuyên truyền, hướng dẫn, phối hợp với người dân thực hiện các biện pháp phòng chống dịch SXHD mà còn là người giám sát, điều tra dịch SXHD để đưa ra dự báo tình hình dịch Vì vậy, việc đánh giá kiến thức, thực hành của CBYT trong việc giám sát véc-tơ là nghiên cứu cần phải thực hiện để từ đó nâng cao hiệu quả phòng chống dịch SXHD

Trong nghiên cứu của Đặng Thị Kim Hạnh thực hiện tại 2 phường thuộc quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội năm 2007 cho biết trong hầu hết các chủng loại

dụng cụ chứa nước ở phường Thịnh Liệt đều có thể là ổ bọ gậy Aedes, có tới 10

trong 12 chủng loại DCCN nhiễm bọ gậy Aedes, chiếm 83,3% Đối với bọ gậy

Aedes aegypti tỷ lệ tập trung cao nhất ở bể trên 500 lít (44,82%), tiếp theo là bể dưới 500 lít (43%) Trong khi đó mật độ bọ gậy Aedes albopictus lại tập trung chủ

yếu ở bể chậu cảnh (73,81%), xô thùng (24,40%) Nghiên cứu ở phường Trần Phú

lại cho thấy các loại DCCN chỉ thấy nhiễm Aedes albopictus, có 9 trong 13 chủng loại DCCN (69,2%), không có DCCN nào nhiễm Aedes aegypti Những DCCN có

tỷ lệ nhiễm Aedes albopictus cao là phế liệu phế thải(75%), bát kê chân chạn (50%),

bể chậu cảnh (40%) Trong khi đó, tỷ lệ tập trung bọ gậy Aedes aegypti chủ yếu lại

là bể trên 500 lít (55,2%) và bể chậu cảnh (20,7%) Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, chỉ số bọ gậy và chỉ số muỗi cả 2 phường đều cao và có nguy cơ bùng phát dịch với mật độ muỗi cao [10]

Kết quả đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của cộng tác viên phòng chống SXHD tại phường Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội đầu năm 2009 cho thấy tỷ lệ hộ

Trang 28

gia đình thực tế được cộng tác viên kiểm tra thấp hơn nhiều so với báo cáo, số lần được kiểm tra trung bình mỗi tháng cũng thấp hơn so với báo cáo và tỷ lệ đạt chỉ tiêu theo báo cáo thì cao hơn nhiều so với thực tế hoạt động (khoảng 3 lần) Tại 133

hộ gia đình được cộng tác viên kiểm tra trong số 310 hộ, 100% đều được tuyên truyền kiến thức phòng và diệt muỗi, tuy nhiên cung cấp thông tin về nguyên nhân

và triệu chứng SXHD thì chỉ đạt khoảng 60% hộ đã điều tra Đa số cộng tác viên có tìm kiếm, phát hiện ổ bọ gậy (thực hiện tại 91,7% số hộ được kiểm tra), 53,3% hộ gia đình phát hiện được ổ bọ gậy trong nhà và xử lý ổ bọ gậy Tỷ lệ hộ gia đình được hướng dẫn phát hiện ổ bọ gậy và hướng dẫn xử lý ổ bọ gậy đều chiếm khoảng 85% [14, 16]

Điều tra ổ bọ gậy nguồn tại phường Lý Thái Tổ cho biết phần lớn là bọ gậy

Aedes aegypti (86,9%) trong khi ở Hàng Bài là bọ gậy Aedes albopictus (87,04%)

Loại bể, téc trên và dưới 500 lít đều không nhiễm bọ gậy (bể, téc inox hoặc tôn) có 7/9 loại DCCN ở phường Lý Thái Tổ có nhiễm bọ gậy, chiếm 36,9% Tỷ lệ nhiễm

bọ gậy Aedes aegypti của các DCCN cao nhất là bể cầu 57,1% và thấp nhất là lọ

hoa 9,4% Tỷ lệ nhiễm chủ yếu ở 4 loại DCCN là bể cầu, chum, vại, dụng cụ phế

thải và phuy Mật độ bọ gậy Aedesaegypti tập trung cao ở bể cảnh (21,6%), bể dội

cầu (18,2%), phuy (17%) và xô, thùng (16,3%) Chỉ có 1/3 số loại DCCN nhiễm bọ

gậy Aedesalbopictus (3,1%) DCCN nhiễm bọ gậy Aedesalbopictus chiếm tỷ lệ cao

nhất là bể cầu (14,3%), sau đó là DCPT (10%) và thấp nhất là bể cảnh (3,3%) Mật

độ bọ gậy Aedesalbopictus tập trung chủ yếu là bể cầu (50%) và dụng cụ phế thải (37,5%) Ổ bọ gậy nguồn Aedes aegypti ở phường Lý Thái Tổ là bể cảnh, bể dội cầu, phuy và xô, thùng, còn ổ bọ gậy nguồn Aedesalbopictus là bể dội cầu và dụng

cụ phế thải [14, 16]

Cũng trong nghiên cứu điều tra ổ bọ gậy tại thành phố Hà Nội, kết quả tại phường Hàng Bài cho thấy 2 loại bể téc trên và dưới 500 lít đều không nhiễm bọ gậy (bể, téc inox hoặc tôn) chỉ có 7/9 loại DCCN ở đây có nhiễm bọ gậy Trong 5/9

loại DCCN có nhiễm bọ gậy Aedes aegypti, chiếm 7,4% Tỷ lệ nhiễm bọ gậy Aedes aegypti của các DCCN từ cao xuống thấp: bể cảnh 11,1%, bể cầu 10%, xô thùng 6,5%, phuy 5,9%, dụng cụ phế thải 2,8% Số loại DCCN nhiễm Aedesalbopictus là

Trang 29

7/9 loại, chiếm 19,5% và tỷ lệ DCCN nhiễm Aedesalbopictus cao hơn 12,1% DCCN nhiễm bọ gậy albopictus chiếm tỷ lệ cao và chủ yếu ở 3 loại dụng cụ: chum

vại, bể dội cầu, phuy, bể cảnh, còn các loại DCCN còn lại tỷ lệ nhiễm thấp chỉ từ

4,4 – 9,7% Mật độ bọ gậy Aedesalbopictus thì lại tập trung chủ yếu ở bể cảnh

(42,7%), bể dội cầu (12,6%), dụng cụ phế thải (11,1%) [10, 26]

Từ kết quả trên cho thấy, ổ bọ gậy nguồn Aedes aegypti ở phường Hàng Bài

là dụng cụ phê thải và xô thùng, còn ổ bọ gậy nguồn Aedesalbopictus là bể cảnh, bể

dội cầu và dụng cụ phế thải [21]

Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phúc và cộng sự (2015) về đánh giá hiệu quả hoạt động của CB tuyến cơ sở dựa trên kiến thức và thực hành về giám sát côn trùng hàng tháng tại huyện Đạ Huoai được thực hiện dựa trên kiến thức về điều tra

bọ gậy của CBYT tuyến xã, đồng thời đánh giá khả năng của CBYT về điều tra bọ gậy Nghiên cứu dựa trên hướng dẫn 3711 của Bộ Y tế về phòng chống SXHD, số CBYT tham gia nghiên cứu là 30, với số hộ được giám sát là 900 hộ gia đình trong vòng 3 tháng, trong thời điểm cao điểm của dịch SXHD trên địa bàn từ tháng 8 đến tháng 10 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ CBYT có kiến thức đúng là 75%, bên cạnh đó chỉ có 65% cán bộ có thực hành đúng khi đi điều tra bọ gậy nằm ở nhóm tuổi trên 35 tuổi Mặt khác, nghiên cứu cũng thể hiện tỷ lệ nhà có chỉ số bọ gậy vượt ngưỡng lên tới 67% (trong đó có 45% số hộ có chỉ số BI gấp 3 lần ngưỡng cho phép của BYT) [3]

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Lộc và Cộng sự (2015) về đánh giá kiến thực và thực hành của cộng tác viên và hộ gia đình tại huyện trọng điểm của tỉnh Lâm Đồng được thực hiện dựa trên kiến thức về phòng, chống bệnh SXHD của 124 Cộng tác viên

và 620 hộ gia đình, đồng thời đánh khả năng của cộng tác viên về công tác vãng gia tại

hộ gia đình Nghiên cứu dựa trên hướng dẫn 3711 của Bộ Y tế về phòng chống SXHD Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cộng tác viên có kiến thức đúng 87,9% trong đó kiến thức đúng về biện pháp diệt bọ gậy là cao nhất, chiếm 96,8% tuy nhiên thực hành đúng

về giám sát bọ gậy chỉ chiếm 74,2%, chủ yếu tìm kiếm các vật chứa nước lớn (95,2%),

vật phế thải (81,4%), phát hiện và đổ bỏ là 87% [17]

Trang 30

Theo nghiên cứu của Lê Đăng (2014) về đặc điểm ổ bọ gậy nguồn của muỗi Aedes truyền bệnh SXHD tại tỉnh Tiền Giang cho thấy tại các điểm giám sát bọ gậy

nguồn chỉ có bọ gậy Aedes aegypti không tìm thấy bọ gậy của Aedes albopictus trong các DCCN Ổ bọ gậy nguồn Aedes aegypti tập trung chủ yếu ở DCCN là lu

(87,3%), phi và xô thùng (6,5%) Tỷ lệ tập trung bọ gậy vào mùa mưa là 62,8% cao hơn mùa nắng là 31,8% [2]

Nghiên cứu khác được thực hiện tại các điểm công cộng của Hà Nội của Vũ

Trọng Dược và cộng sự về muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus véc-tơ truyền bệnh SXHD Dengue tại đình (chùa) và trường học ghi nhận bọ gậy Aedesaegypti

chiếm tỷ lệ lớn Ổ bọ gậy nguồn tại đình (chùa) là bể cảnh (60,3%), chum vại (17,6%); trong khi ở trường học là bể cầu (44,8%), phế thải (33,5%) Tại công viên

và chợ, bọ gậy Aedesalbopictus chiếm ưu thế hơn Ổ bọ gậy nguồn tại công viên là

phế thải (60,9%), bể cầu (33%) và tại chợ là bể cầu (49,3%), bể chứa nước (23,2%)

[26]

Tại tỉnh Bến Tre, theo nghiên cứu của Lê Ngọc Diệp, Lê Việt Anh và Đặng Ngọc Chánh và Cs năm 2011 đã chỉ ra mối liên hệ của véc-tơ SXHD cụ thể là chỉ

số BI, CI, HI có sự khác biệt rõ rệt giữa 2 mùa mưa nắng Trong mùa mưa chỉ số BI

lên đến 85, trong khi mùa nắng chỉ số này chỉ ở mức 48,25% [25]

Báo cáo về tình hình dịch bệnh SXHDcủa Trung tâm Y tế dự phòng thành phố Hà Nội cho biết để kiểm soát dịch bệnh, hoạt động giám sát thường xuyên muỗi

truyền bệnh, giám sát vi-rút Dengue trên muỗi Aedes aegypti, giám sát ổ bọ gậy

nguồn tại các quận huyện trọng điểm, giám sát tính kháng của muỗi được thực hiện đều đặn và theo đúng kế hoạch Các chiến dịch diệt bọ gậy và phun hóa chất chủ động phòng chống SXHD cũng được thực hiện từ 1 – 2 chiến dịch trong 1 xã/phường vùng có dịch lưu hành nặng hoặc có nguy cơ bùng phát dịch Kết quả dụ báo tình hình dịch SXHD cho thấy, có 18% xã phường thuộc vùng lưu hành dịch SXHD nặng, 10,6% thuộc vùng lưu hành trung bình, 63,9% thuộc vùng có lưu hành dịch SXHD, và 7,5% còn lại chưa xuất hiện bệnh nhân SXHD trong 4 năm trở lại đây[20]

Trang 31

1.4 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu

1.4.1 Thông tin chung

Huyện Gia Lâm là một huyện thuộc thành phố Hà Nội, nằm ở phía Đông Bắc của Thủ đô Phía Đông Bắc và Đông giáp với các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Thuận Thành của tỉnh Bắc Ninh Phía Tây Nam có địa giới là dòng sông Hồng, phía Nam giáp với huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, phía Bắc của Huyện là quận Long Biên

Huyện có diện tích khoảng 115 km2

với dân số khoảng 272 nghìn người (tính theo điều tra dân số năm 2017) Hiện tại, huyện Gia Lâm gồm 20 xã, 2 thị trấn Đó

là các xã: Bát Tràng, Cổ Bi, Dương Hà, Dương Quang, Dương Xá, Đặng Xá, Đa Tốn, Đình Xuyên, Đông Dư, Kiêu Kỵ, Kim Lan, Kim Sơn, Lệ Chi, Ninh Hiệp, Phù Đổng, Phú Thị, Trung Màu, Yên Viên, Yên Thường, Văn Đức và 2 thị trấn: Thị trấn Yên Viên và Thị trấn Trâu Quỳ

Gia Lâm được xác định là vùng kinh tế trọng điểm, là địa bàn quân sự chiến lược ở phía Đông của Thủ đô Hà Nội Trên địa bàn huyện có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng; Quốc lộ 1B; Quốc lộ 3 mới Hà Nội - Thái Nguyên; Quốc lộ 5; Đường ôtô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng Địa bàn còn có nhiều khu đô thị, khu công nghiệp và các trung tâm thương mại được hình thành Đây chính là nền tảng thuận lợi để phát triển kinh tế cho huyện Gia Lâm Tuy nhiên, môi trường ô nhiễm, vệ sinh kém ở một số khu vực đã có tác động tiêu cực đến sức khỏe người dân, đặc biệt là các bênh truyến nhiễm như SXHD, tả…trên địa bàn huyện Gia Lâm[22]

1.4.2 Tình hình sốt xuất huyết trên địa bàn nghiên cứu

Hàng năm, huyện Gia Lâm vẫn ghi nhận các trường hợp mắc SXHD trên địa bàn, theo báo cáo số liệu của TTYT Gia Lâm qua các năm, tình hình mắc SXHDdiễn biến thời tiết phức tạp, mưa bão xuất hiện nhiều và mùa mưa ngâu tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi sinh sản và phát triển; số bệnh nhân mắc SXHD ngày càng gia tăng và nằm rải rác toàn địa bàn huyện; giám sát côn trùng tại các xã, thị trấn có mật độ ổ bọ gậy rất cao và đặc biệt SXHD là dịch lưu hành do vậy nhận định trong thời gian tới số bệnh nhân mắc SXHD tiếp tục gia tăng, đặc biệt những

xã thị trấn trọng điểm như TT Trâu Quỳ, Cổ Bi, Bát Tràng, Kim Lan, Đông Dư,…

Trang 32

Tại huyện Gia Lâm năm 2017 đã ghi nhận 251 trường hợp mắc SXHD tăng gấp 5 lần so với năm 2016, dịch xảy ra 22/22 xã, thị trấn, không có trường hợp nào tử vong[22]

Nhằm thực hiện nhiệm vụ của chương trình phòng chống SXHD cũng như

có cơ sở nhận định, đánh giá các yếu tố nguy cơ bùng phát dịch CBYT xã đảm nhận vai trò giám sát véc-tơ sẽ chọn điểm giám sát hàng tháng và thực hiện công tác giám sát, kết quả được tổng hợp và gửi lên tuyến trên theo quy định của chương trình Dựa trên những dữ liệu mà TTYT tổng hợp được, chỉ số véc-tơ tại một số điểm trên địa bàn còn chưa tương quan với tình hình ca bệnh tại địa phương Một số chỉ số chưa ứng dụng để dự báo và xử lý dịch đó là điều học viên quan tâm [22]

Năm 2017, UBND thành phố Hà Nội đã có các văn bản chỉ đạo cấp ủy Đảng, chính quyền và các ngành đoàn thể tập trung phòng chống dịch SXH Ví dụ chỉ thị

số 13/CT-UBND ngày 11/7/2017 về tăng cường công tác phòng chống SXH trên địa bàn Hà Nội, Công văn 698/CV-TU ngày 31/7/2017 của Thành ủy và nhiều văn bản chỉ đạo khác [6], [5] Trung tâm Y tế dự phòng đã thành lập các Tổ giám sát, Đội xung kích diệt bọ gậy triển khai tại 100% xã/phường/thị trấn của Hà Nội Nhân lực chủ đạo là cán bộ y tế xã/phường/thị trấn và phối hợp với các ban ngành, đoàn thể, chính quyền để tiến hành giám sát, đồng thời chủ động diệt bọ gậy Ngoài ra, sự quan tâm chỉ đạo từ tuyến trên đối với tuyến xã/phường/thị trấn cũng được thực hiện thường xuyên hơn Tuyến tỉnh, huyện cũng thực hiện các đợt kiểm tra giám sát, hỗ trợ kỹ thuật cho cán bộ tuyến xã trong năm 2017 khi dịch SXH bùng phát trên diện rộng ở Hà Nội

Tổng số văn bản chỉ đạo năm 2017 liên quan đến SXH là 91, trong đó 33 văn bản chỉ đạo từ chính quyền, 58 văn bản chỉ đạo từ ngành y tế Như vậy, các văn bản này đều đề cập đến tất cả các khia cạnh của phòng chống dịch SXH, trong đó có vai trò quan trọng của y tế tuyến xã/phương nơi mà công tác phòng chống SXH được triển khai trực tiếp Có đến 584 xã/phương thành lập 35.538 đội xung kích diệt bọ gậy và 5.050 tổ giám sát véc-tơ SXH Như vậy, cán bộ Y tế xã/phường đóng vai trò nòng cốt về chuyên môn để hướng dẫn, tập huấn cho các đội giám sát đồng thời

Trang 33

cung cấp các dụng cụ giám sát cần thiết như đèn pin, xô cá, sổ ghi chép, vợt… để có thể thực hiện nhiệm vụ [21]

Quyết định 3711 của Bộ Y tế ngày 19/9/2014 về việc ban hành “hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh sốt xuất huyết dengue” cũng nêu rõ nhiệm vụ và vai trò của các tuyến trong công tác phòng chống sốt xuất huyết Ví dụ, tuyến huyện: tập huấn, chỉ đạo và thực hiện giám sát, phòng chống véc-tơ ở các xã trong huyện Tuyến xã, phường: ít nhất 1 lần/1 tháng thực hiện việc giám sát, hướng dẫn thành viên hộ gia đình biết cách phát hiện và xử lý ngay ổ bọ gậy tại nhà thông qua hoạt động của mạng lưới y tế cơ sở, cộng tác viên, học sinh Như vậy, về cơ sở pháp lý

đã được quy định rõ trong quyết định này và các văn bản của thành phố Hà Nội khi

mà có dịch SXH bùng phát năm 2017 [1]

1.4.3 Tồn tại và thách thức trong phòng chống SXHD hiện nay

Sự gia tăng nhanh các trường hợp mắc SXHD tại Thành Phố Hà Nội trong những tháng gần đây là do một số nguyên nhân sau:

Năm 2017, Việt Nam xuất hiện hiện tượng El nino làm tăng nhiệt độ trung bình góp phần cho muỗi phát sinh phát triển Do thời tiết hạn hán nên người dân tăng tích trữ nước sạch tại các dụng cụ chứa nước phục vụ đời sống, sinh hoạt tạo điều kiện thuận lợi cho bọ gậy phát triển Nhiều hộ gia đình sử dụng bồn nước, bể chứa nước sinh hoạt không đậy nắp hoặc đậy không kín, ngoài ra còn có các vật liệu phế thải (chai lọ, chum vại) chứa nước đọng không được xử lý là điều kiện thuận lợi cho muỗi đẻ trứng và bọ gậy/bọ gậy phát triển mạnh, nhất là trong mùa mưa [9]

Trang 34

1.4.3.2 Khó khăn chủ quan

Hà Nội là địa phương trọng điểm về SXHD, hoạt động phòng chống SXHD hàng năm được quan tâm chú ý tuy nhiên cuối năm 2017 vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn cụ thể:

Tại Hà Nội sau nhiều năm không có dịch nên hệ thống miễn dịch tại cộng đồng bị suy giảm, thời tiết năm nay mùa hè đến sớm năm 2017 là năm nhuận có 2 tháng 6, khu vực miền Bắc có nắng nóng kéo dài, nhiệt độ trung bình cao, nắng mưa thất thường, thuận lợi cho véc- tơ truyền bệnh sốt xuất huyết phát triển mạnh [20]

Đồng thời, các ổ bọ gậy nguồn tại các hộ gia đình vẫn chưa được giải quyết triệt để, nhận thức của người dân về phòng chống sốt xuất huyết còn hạn chế Người dân chưa đánh giá đúng mức ảnh hưởng của bệnh SXHD, chưa tích cực, chủ động thực hiện các biện pháp phòng chống bệnh dịch như không thực hiện việc diệt muỗi, diệt bọ gậy; không đậy nắp hoặc đậy không kín dụng cụ chứa nước; chưa được thực hiện một cách triệt để việc nằm màn chống muỗi đốt và đặc biệt tỷ lệ người dân tự điều trị tại nhà còn khá cao [20]

Tại Hà Nội vào khoảng tháng 6, 7, 8, 9, 10 hàng năm có một số lượng lớn sinh viên, học sinh các tỉnh đến nhập cư để học tập, cùng với số người lao động ngoại tỉnh đến Hà Nội kiếm việc làm chưa bị mắc SXHD đã làm tăng số đối tượng mới có thể cảm nhiễm, tăng nguy cơ lây lan, bùng phát dịch SXHD tại Hà Nội Đây cũng là đối tượng mới hàng năm mà chương trình cần tác động tuyên truyền Do cuộc sống tạm bợ, không tiện nghi, khó khăn nên việc ý thức phòng bệnh nói chung

và SXHD nói riêng thường hạn chế [20]

Sự tham gia vào công tác phòng chống SXHD của chính quyền, các ban ngành đoàn thể và người dân còn hạn chế: Một số địa phương chính quyền không thực sự quyết liệt trong việc huy động ban ngành đoàn thể, người dân còn chủ quan trong công tác diệt bọ gậy tại hộ gia đình hoặc không phối hợp khi y tế phun hoá chất diệt muỗi chống dịch Tỷ lệ hộ gia đình không đồng ý cho phun hoá chất và đi vắng khi địa phương triển khai phun hoá chất diệt muỗi để xử lí ổ dịch cao (khoảng

Trang 35

từ 30-40%) Người dân mặc dù có hiểu biết về bệnh SXHD và cách phòng chống nhưng không thực hành hoặc thực hành không thường xuyên đều đặn việc diệt bọ gậy nên còn nhiều gia đình có ổ bọ gậy trong và xung quanh nhà Và đặc biệt khi mắc bệnh SXHD, người dân thường tự điều trị tại nhà hoặc nặng mới vào bệnh viện

mà không khai báo cho y tế địa phương [20], [21]

Lực lượng CBYT quận huyện, xã phường mỏng, mới, ít kinh nghiệm nên việc tham mưu cho chính quyền địa phương trong công tác phòng chống SXHD tại địa phương còn hạn chế, việc điều tra, khoanh vùng, xử lý ổ dịch tại một số xã phường còn chưa đạt yêu cầu như diện tích hẹp, xử lý không bao hết vùng nguy cơ, còn để sót ổ bọ gậy

Mạng lưới y tế còn mỏng, chưa nhiều kinh nghiệm trong phòng chống SXHD; hoạt động của các cộng tác viên còn yếu, chưa thực hiện tốt việc thăm từng

hộ gia đình để thực hiện tuyên truyền, hướng dẫn, nhắc nhở người dân thực hiện các biện pháp diệt muỗi, loại bỏ vật dụng, phế thải, loại bỏ ổ bọ gậy nguồn Mặc dù nhiều hộ gia đình đã ký cam kết thực hiện các biện pháp phòng chống SXHD, nhưng việc theo dõi, kiểm tra thực hiện còn lỏng lẻo

Tại một số địa phương chính quyền các cấp và các tổ chức chính trị và chính trị xã hội chưa coi trọng công tác chủ động phòng chống dịch bệnh SXHD, không tích cực triển khai các hoạt động phòng chống dịch bệnh SXHD

Trong quá trình phòng chống dịch SXH thực hiện sự chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội về việc thành lập đội xung kích diệt bọ gậy chống dịch SXH và tổ giám sát phòng, chống dịch bệnh SXH [4] Mỗi đội xung kích có 1 cán bộ y tế cơ

sở làm nòng cốt, khó khăn cho CBYT cở sở phải thực hiện tập huấn và hướng dẫn thực hành, ghi chép báo cáo, tuyên truyền diệt bọ gậy cho đội xung kích theo chỉ đạo chuyên môn thực hiện theo quyết định 3711 của Bộ Y tế trong hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh SXHD [1]

Trang 36

1.5 Khung lý thuyết

Khung lý thuyết xây dựng dựa theo QĐ 3711 ngày 19/9/2014 của Bộ Y tế về việc ban hành và hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh SXHD dengue và các văn bản chỉ đạo của Sở Y tế Hà Nội trong năm 2017 khi có dịch SXH bùng phát [1], [4], [6]

Yếu tố cá nhân

Giới, tuổi, thâm niên,

trình độ chuyên môn

Kiến thức về giám sát Véc-tơ SXHD Dengue của CBYT tuyến xã:

- Sinh học, sinh thái muỗi

- Nơi sống của véc-tơ

- Thời gian điều tra

véc-tơ, dụng cụ khi điều tra véc-tơ

- Giám sát véc-tơ

Thực hành về giám sát Véc-tơ SXHD Dengue của CBYT tuyến xã, thị trấn:

Điều kiện làm việc

- Khối lượng công việc

Tập huấn giám sát Véc-tơ

CT SXHD theo các yêu cầu

của BYT, Sở Y tế Hà Nội:

- Tập huấn lại, tập huấn

Trang 37

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá kiến thức của CBYT tuyến xã, thị trấn và quan sát hành vi thực hành, cách tính các chỉ số: CSMĐ (DI), tỉ

lệ DCCN có BG (CI), tỉ lệ nhà có BG (HI), chỉ số Breteau (BI)

Trang 38

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

CBYT xã, thị trấn đang công tác trên địa bàn, triển khai các hoạt động của

chương trình phòng chống SXHD

Tiêu chuẩn lựa chọn: Các CBYT tuyến xã, thị trấn đang công tác trên địa

bàn, có thời gian triển khai hoạt động của chương trình phòng chống SXHD ít nhất

1 năm và đã được tập huấn về điều tra côn trùng SXHD bao gồm cả nam và nữ

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Loại trừ các cán bộ tại xã/ thị trấn đang học dài hạn và nghỉ thai sản

- Cán bộ hợp đồng dưới một năm

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 02/2018 đến tháng 7/2018

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Tại 22 trạm y tế xã, thị trấn huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng

- Theo công thức tính cỡ mẫu cho xác định một tỷ lệ

n = Trong đó:

n: Cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu

p: Chọn p = 0,5 tuy có nhiều nghiên cứu về kiến thức thực hành của người dân nhưng do chưa tìm thấy tài liệu công bố của nghiên cứu về kiến thức thực hành giám sát véc-tơ của CBYT, nên trong nghiên cứu này chúng tôi chọn p=0,5 để có cỡ mẫu lớn nhất

d: Chọn d = 0,1 sai số tuyệt đối (10%)

2

2 ) 2 / 1

d

p p

Z  

Trang 39

Z: Hệ số tin cậy, với  = 0,05, Z(1 - /2) = 1,96

- Theo công thức trên thì cỡ mẫu tối thiểu cần thiết của nghiên cứu là 97người, áp dụng tỷ lệ 10% mẫu dự phòng về việc không gặp đối tượng nghiên cứu hoặc từ chối tham gia nghiên cứu, cỡ mẫu cuối cùng là: 116 CYT

- Số cán bộ hiện đang công tác tại 22xã/ thị trấn là 132 cán bộ Cỡ mẫu cần cho nghiên cứu là 116 người, do đó chúng tôi tiến hành chọn mẫu toàn bộ 132 CBYT tại các trạm y tế xã, thị trấn

2.4.2 Cỡ mẫu cho quan sát đánh giá thực hành của CBYT tuyến xã, thị trấn:

Là số lượt thực hành tại hộ gia đình về giám sát véc-tơcủa CBYT, chọn theo phương pháp sau:

- Bước 1: Lập danh sách toàn bộ những hộ gia đình CBYT sẽ đi giám sát, điều tra bọ gậy

- Bước 2: Với mỗi CBYT, quan sát (quan sát không tham dự) 03 hộ ngẫu nhiên trong một thôn (tương đương với 3 lần giám sát véc-tơ SXH của một cán bộ), vậy số hộ cần để quan sát hành vi của CBYT về thực hành giám sát véc-tơlà 3 hộ gia đình/thôn x 132 cán bộ = 369 hộ gia đình

2.5 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu

2.5.1- Cơ sở xây dựng công cụ thu thập số liệu:

Bộ công cụ được xây dựng dựa trên:

- QĐ 3711 ngày 19/9/2014 của BYT về việc ban hành hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh SXHD

- Quy trình giám sát véc-tơ thường xuyên: QTCT – CTĐV 05-13 của Viện Pasteur TPHCM

2.5.2- Công cụ thu thập số liệu:

2.5.2.1.Bộ công cụ đánh giá kiến thức về giám sát véc-tơ của CBYT tuyến xã, thị trấn:

Để đánh giá kiến thức giám sát véc-tơ của đối tượng, nghiên cứu viên sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn và thu thập thông qua phỏng vấn ĐTNC Phiếu phỏng vấn kiến thức của CBYT tuyến xã, thị trấn gồm các nội dung:

Trang 40

- Thông tin chung về ĐTNC gồm 4 câu hỏi từ A1 đến A4 (tuổi, giới tính, trình

độ chuyên môn, thâm niên công tác)

- Điều kiện làm việc gồm 4 câu hỏi từ B1 đến B4 (Khối lượng công việc mà cán bộ đảm nhiệm, công việc chính mà ĐTNC đảm nhiệm, Sự quan tâm của lãnh đạo, dụng cụ, trang thiết bị phục vụ chuyên môn)

- Công tác tập huấn, giám sát của CT PCSXHD gồm 4 câu hỏi từ câu C1 đến câu C4 (tập huấn nhắc lại, tập huấn nâng cao, giám sát thường quy, giám sát đột xuất)

- Công tác khác đã triển khai tại địa phương gồn 3 câu từ câu D1 đế câu D3 (Dập dịch diện rộng, phun hóa chất chủ động vùng nguy cơ cao)

- Kiến thức của CBYT tuyến xã trong công tác giám sát véc-tơ gồm 16 câu hỏi

từ E1 đến E16 bao gồm 4 nhóm biến sau:

- Nhóm biến sinh học, sinh thái muỗi gồm 6 biến từ câu E1 đến E6 (nơi trú nghỉ của muỗi, thời gian muỗi hoạt động, loại muỗi truyền bệnh, nơi đẻ trứng của muỗi, thời gian trứng nở thành bọ gậy, môi trường thuận lợi cho muỗi đẻ trứng)

- Nhóm biến về nơi sống của bọ gây gồm 2 biến từ câu E7, E8 (DCCN ở trong nhà hay có bọ gậy Aedes, DCCN ở ngoài nhà hay có bọ gậy Aedes)

- Nhóm biến về điều tra véc-tơ gồm 2 câu E9, E10 (Thời điểm điều tra véc-tơ, dụng cụ tối thiểu cần thiết khi đi điều tra véc-tơ)

- Nhóm biến về giám sát véc-tơ gồm 6 câu từ E11 đến E16, E10 (biểu mẫu điều tra véc-tơ, cách tính các chỉ số điều tra)

(Chi tiết trong phụ lục 2)

2.5.2.2 Bộ công cụ đánh giá thực hành giám sát véc-tơcủa CBYT tuyến xã, thị trấn:

- Để đánh giá thực hành giám sát véc-tơ, nghiên cứu viên sử dụng bảng kiểm thực hành giám sát và thu thập số liệu thông qua quan sát

- Bảng kiểm thực hành giám sát véc-tơ của CBYT tuyến xã, thị trấn gồm 20 câu từ câu F1 đến F20 bao gồm 3 nhóm biến sau:

Ngày đăng: 31/01/2021, 10:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Đăng Ngạn (2014), "Đặc điểm ổ bọ gậy nguồn của muỗi Aedes truyền bệnh sốt xuất huyết tại tỉnh Tiền Giang", Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(5), tr. 19-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ổ bọ gậy nguồn của muỗi Aedes truyền bệnh sốt xuất huyết tại tỉnh Tiền Giang
Tác giả: Lê Đăng Ngạn
Năm: 2014
8. Cục Y tế dự phòng (2014), Báo cáo dự án phòng chống SD/SXHD quốc gia, Dự án phòng chống SD/SXHD quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dự án phòng chống SD/SXHD quốc gia
Tác giả: Cục Y tế dự phòng
Năm: 2014
9. Cục Y tế dự phòng (2017), Báo cáo dự án phòng chống SD/SXHD quốc gia, Dự án phòng chống SD/SXHD quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dự án phòng chống SD/SXHD quốc gia
Tác giả: Cục Y tế dự phòng
Năm: 2017
10. Đặng Thị Kim Hạnh, Nguyễn Nhật Cảm và Vũ Sinh Nam (2008), "Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quần thể muỗi truyền bệnh sốt dengue/sốt xuất huyết dengue tại hai phường Thịnh Liệt và Trần Phú. Quận Hoàng Mai, Tp. Hà Nội, năm 2007", Tạp chí Y học Thực Hành, 8, tr. 45-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quần thể muỗi truyền bệnh sốt dengue/ sốt xuất huyết dengue tại hai phường Thịnh Liệt và Trần Phú. Quận Hoàng Mai, Tp. Hà Nội, năm 2007
Tác giả: Đặng Thị Kim Hạnh, Nguyễn Nhật Cảm và Vũ Sinh Nam
Năm: 2008
11. Đinh Thị Vân Anh và các cộng sự. (2011), "Đặc điểm dịch tễ học của vụ dịch sốt xuất huyết tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tình, 2010", Tạp chí Y học dự phòng 2 (120)(XXI), tr. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ học của vụ dịch sốt xuất huyết tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tình, 2010
Tác giả: Đinh Thị Vân Anh và các cộng sự
Năm: 2011
13. Vũ Trọng Dƣợc (2011), Xu hướng và tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết, truy cập ngày-18/01/2016, tại trang web http://suckhoedoisong.vn/xu-huong-va-tinh-hinh-dich-benh-sot-xuat-huyet-n41306.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng và tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết
Tác giả: Vũ Trọng Dƣợc
Năm: 2011
15. Nguyễn Thị Thương Diễm (2017), "Đánh giá kiến thức, thực hành của cán bộ y tế xã về giám sát bọ gậy và các yếu tố liên quan tại huyện bảo lâm, tỉnh lâm đồng năm 2017", Luận văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kiến thức, thực hành của cán bộ y tế xã về giám sát bọ gậy và các yếu tố liên quan tại huyện bảo lâm, tỉnh lâm đồng năm 2017
Tác giả: Nguyễn Thị Thương Diễm
Năm: 2017
16. Nguyễn Văn Hải (2009), Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của cộng tác viên phòng chống sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue phường Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội 6 tháng đầu năm 2009, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Y tế Công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của cộng tác viên phòng chống sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue phường Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội 6 tháng đầu năm 2009
Tác giả: Nguyễn Văn Hải
Năm: 2009
18. Phạm Thị Thúy Ngọc và các cộng sự. (2017), "Khảo sát phân bố muỗi Aedes nhà cao tầng ổ dịch Zika tại Bình Dương năm 2016", Y học dự phòng Việt Nam, 27(11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát phân bố muỗi Aedes nhà cao tầng ổ dịch Zika tại Bình Dương năm 2016
Tác giả: Phạm Thị Thúy Ngọc và các cộng sự
Năm: 2017
19. Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội (2015), Báo cáo bệnh sốt xuất huyết Dengue, Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo bệnh sốt xuất huyết Dengue
Tác giả: Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội
Năm: 2015
20. Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội (2017), Báo cáo chương trình sốt xuất huyết năm 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chương trình sốt xuất huyết năm 2017
Tác giả: Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội
Năm: 2017
21. Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội (2017), Báo cáo giao ban tình hình sốt xuất huyết của Sở Y tế Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo giao ban tình hình sốt xuất huyết của Sở Y tế Hà Nội
Tác giả: Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội
Năm: 2017
22. Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm (2017), Báo cáo tình hình sốt xuất huyết huyện Gia Lâm năm 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình sốt xuất huyết huyện Gia Lâm năm 2017
Tác giả: Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm
Năm: 2017
24. Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ƣơng (2015), Báo cáo sốt xuất huyết Dengue năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sốt xuất huyết Dengue năm 2015
Tác giả: Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ƣơng
Năm: 2015
25. Viện Y tế công cộng Thành phố Hồ Chí Minh (2011), Mối liên quan giữa vector sốt xuất huyết và biến đổi khí hậu tại 4 xã ven biển tỉnh Bến Tre, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối liên quan giữa vector sốt xuất huyết và biến đổi khí hậu tại 4 xã ven biển tỉnh Bến Tre
Tác giả: Viện Y tế công cộng Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011
26. Vũ Trọng Dƣợc (2012), "Phân bố quần thể hai loài muỗi Aedes aegypti và Aedes albopitus tại một số khu vực sinh thái khác nhau ở Hà Nội, 2011", Tạp chí Y học dự phòng, 23(6).TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân bố quần thể hai loài muỗi Aedes aegypti và Aedes albopitus tại một số khu vực sinh thái khác nhau ở Hà Nội, 2011
Tác giả: Vũ Trọng Dƣợc
Năm: 2012
1. Bộ Y tế (2014), Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh sốt xuất huyết Dengue (Ban hành kèm theo Quyết định số 3711/QĐ-BYT Ngày 19/9/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế) Khác
3. Nguyễn Hữu Phúc (2015), Đánh giá hiệu quả hoạt động của CB tuyến cơ sở dựa trên kiến thực và thực hành về giám sát bọ gậy phòng chống bệnh sốt xuất huyết tại huyện Đạ Huoai, tinh Lâm Đồng Khác
4. Sở Y tế Hà Nội (2017), Công văn 158/SYT - NVY ngày 01/08/2017 của Sở Y tế Hà nội về việc thành lập Đội xung kích diệt bọ gậy chống dịch sốt xuất huyết và Tổ giám sát phòng, chống dịch sốt xuất huyết, Sở Y tế Hà Nội, Hà Nội Khác
5. Thành ủy Hà Nội (2017), Công văn 698/CV-TU ngày 31/07/2017 của Thành ủy Hà Nội, Thành ủy Hà Nội, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w