Nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới sức khỏe tâm thần của học sinh trường THPT Đan Phượng, Hà Nội – năm 2018” được thực hiện với mục tiêu mô tả thực trạng sức khỏe tâm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÙI THỊ QUỲNH TRÂM
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT ĐAN PHƯỢNG, HÀ NỘI - NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÙI THỊ QUỲNH TRÂM
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT ĐAN PHƯỢNG, HÀ NỘI - NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành đề cương luận văn thuộc chương trình đào tạo Thạc sỹ Y tế Công cộng, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Nhà trường, giảng viên, cơ quan công tác, gia đình và người thân
Để đạt được kết quả hôm nay, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại Học, các thầy cô giáo Trường Đại Học Y tế công cộng đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong khóa học Đặc biệt, xin cho tôi gửi lời tri ân sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn của tôi, TS Nguyễn Trương Nam – Giám đốc Viện nghiên cứu Y – Xã hội học (ISMS) và giáo viên hỗ trợ, TS Lê Thị Hải Hà - Giảng viên trường Đại học Y tế Công cộng, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này Kiến thức về học thuật, sự tận tình trong giảng dạy, hướng dẫn của các thầy, cô đã giúp tôi có được những kiến thức, kinh nghiệm quí báu trong nghiên cứu khoa học
Tôi xin dành tình cảm đặc biệt và sự biết ơn sâu sắc tới Ban Lãnh đạo Trung tâm Bảo vệ sức khoẻ lao động và Môi trường Hà Nội (nay là Trung tâm Kiểm soát bệnh tật
Hà Nội), các chuyên gia và đồng nghiệp tại Trung tâm đã dành cho tôi những tình cảm,
sự hỗ trợ toàn diện, quí báu giúp tôi triển khai thành công nghiên cứu này Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Trung học phổ thông Đan Phượng- Hà Nội cùng các thầy cô giáo, các em học sinh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu liên quan tới luận văn
Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình
và bạn bè, những người đã chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập Mặc dù đã rất cố gắng tuy nhiên chắc chắn luận văn không tránh khỏi những mặt hạn chế, rất mong nhận được sự góp ý của các chuyên gia để tôi rút kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu sau này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2017
HỌC VIÊN
Bùi Thị Quỳnh Trâm
Trang 4MỤC LỤC
DANH SÁCH VIẾT TẮT iv
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ vi
DANH SÁCH HÌNH vi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
I Các khái niệm, định nghĩa 4
1.1 Khái niệm sức khỏe tâm thần và vấn đề sức khoẻ tâm thần 4
1.2 Phân loại sức khỏe tâm thần 5
1.3 Khái niệm về vị thành niên 6
II Công cụ đánh giá tình trạng sức khoẻ tâm thần vị thành niên 7
III Thực trạng sức khỏe tâm thần của trẻ vị thành niên trên thế giới 9
IV Thực trạng sức khỏe tâm thần của trẻ vị thành niên tại Việt Nam 12
V Một số hành vi và yếu tố liên quan đến các vấn đề sức khỏe tâm thần 14
5.1 Yếu tố cá nhân 14
5.2 Yếu tố gia đình 18
5.3 Yếu tố nhà trường 19
VI Khung lý thuyết 21
VII Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu 23
CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
1 Đối tượng nghiên cứu 24
2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
3 Thiết kế nghiên cứu 24
4 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 24
5 Phương pháp thu thập số liệu 26
7 Xử lý và phân tích số liệu 28
Trang 58 Biến số 29
9 Đạo đức nghiên cứu 29
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 31
2 Thực trạng sức khỏe tâm thần của học sinh trường THPT Đan Phượng 38
3 Mối liên hệ giữa các vấn đề SKTT ở học sinh và các yếu tố liên quan 40
3.1 Mối quan hệ giữa đặc điểm chung với thực trạng SKTT 40
3.2 Mối quan hệ giữa yếu tố cá nhân với thực trạng SKTT 41
3.3 Mối quan hệ giữa yếu tố gia đình và thực trạng SKTT của học sinh 42
3.4 Mối quan hệ giữa yếu tố trường học và thực trạng SKTT học sinh 44
3.5 Mối quan hệ giữa bắt nạt học đường và thực trạng vấn đề SKTT 45
3.6 Phân tích đa biến dự đoán những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh 45
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 49
1 Thực trạng sức khỏe tâm thần ở học sinh 49
2 Các yếu tố liên quan đến tình trạng sức khỏe tâm thần của học sinh 53
3 Hạn chế của nghiên cứu 60
KẾT LUẬN 61
KHUYẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 1: Bộ câu hỏi định lượng 68
PHỤ LỤC 2: Bảng biến số nghiên cứu định lượng 78
PHỤ LỤC 3: Một số nghiên cứu sử dụng bộ công cụ SDQ 25 tại Việt Nam 82
PHỤ LỤC 4: Một số kết quả phân tích câu hỏi trong bộ công cụ SDQ 84
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1.1: Tỷ lệ trẻ em và vị thành niên có vấn đề sức khỏe tâm thần ở một số nước 10
Bảng 1.2: Một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của vị thành niên 20
Bảng 2.1 Bảng điểm đánh giá các mức độ vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh 28
Bảng 3.1: Phân bổ thông tin nhân khẩu học 31
Bảng 3.2: Các hoạt động trong nhà của học sinh 32
Bảng 3.3 : Tỷ lệ sử dụng rượu, bia và thuốc lá/thuốc lào/thuốc lá điện tử 32
Bảng 3.4: Thông tin chung về gia đình học sinh 33
Bảng 3.5: Mức độ quan tâm của bố mẹ trong 6 tháng qua 35
Bảng 3.6 : Cảm nhận của học sinh về áp lực học tập 36
Bảng 3.7: Một số thông tin về trải nghiệm của học sinh ở trường học 37
Bảng 3.8: Bắt nạt học đường trong 6 tháng qua 38
Bảng 3.9: Điểm số của các vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh 39
Bảng 3.10: Bảng phân bố các vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh 39
Bảng 3.11: Mối quan hệ giữa đặc điểm chung với thực trạng SKTT 40
Bảng 3.12: Mối quan hệ giữa yếu tố cá nhân với thực trạng SKTT 41
Bảng 3.13: Thông tin chung về gia đình ĐTNC và một số vấn đề SKTT của đối tượng nghiên cứu 42
Bảng 3.14: Mối quan hệ giữa sự quan tâm của bố mẹ với thực trạng SKTT 43
Bảng 3.15: Mối quan hệ giữa yếu tố trường học và thực trạng SKTT 44
Bảng 3.16: Mối quan hệ giữa bắt nạt học đường và thực trạng vấn đề SKTT 45
Bảng 3.17 : Mô hình hồi quy logistic dự đoán những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề SKTT ở học sinh 46
Trang 8DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ tự đánh giá sự gắn kết với cha mẹ ở mức thấp của trẻ vị thành niên 13 –
17 tuổi tại một số nước Đông Nam Á 18 Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ mức độ hỗ trợ từ phía gia đình, bạn bè, nhà trường tới học sinh 36 Biểu đồ 3.2: Thực trạng học sinh THPT Đan Phượng gặp vấn đề sức khỏe tâm thần 38
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1.1: Khung lý thuyết 22 Hình 2.1: Sơ đồ chọn mẫu 26
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Sức khỏe tâm thần là một cấu phần không thể tách rời trong định nghĩa sức khỏe của
Tổ chức Y Tế thế giới Lứa tuổi vị thành niên với đặc trưng là giai đoạn phát triển mạnh nhất về cả thể chất lẫn tinh thần, rất nhạy cảm nên thường dễ rơi vào trạng thái lo lắng, buồn rầu, bất ổn trong suy nghĩ, cảm xúc Nếu không được phát hiện những vấn đề sức khỏe tâm thần, các em khó đối phó được với những biến cố trong cuộc sống, có thể dẫn đến tự tử
Nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới sức khỏe tâm thần của học sinh trường THPT Đan Phượng, Hà Nội – năm 2018” được thực hiện với mục tiêu mô tả
thực trạng sức khỏe tâm thần và phân tích một số yếu tố liên quan ở học sinh trường Trung học phổ thông Đan Phượng, năm 2018 Đây là nghiên cứu cắt ngang, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, phương pháp chọn mẫu cụm, tổng số 358 học sinh đang học tại trường THPT Đan Phượng được chọn vào nghiên cứu vào tháng 3/2018 Bộ công cụ SDQ – 25 được sử dụng để sàng lọc vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh; bộ công cụ MSPSS được đưa vào nhằm đánh giá sự hỗ trợ của gia đình, bạn bè và nhà trường Số liệu định lượng được nhập hai lần bằng phần mềm Epidata 3.0, xử lý và phân tích số liệu bởi phần mềm SPSS 22.0
Thực trạng sức khỏe tâm thần đánh giá theo bộ công cụ SDQ – 25 cho thấy tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần là 24,6% Tỷ lệ học sinh có vấn đề về cảm xúc là 26,6%; hành vi ứng xử là 13,1%; tăng động giảm chú ý là 17,8%; quan hệ bạn bè là 26,4%; giao tiếp xã hội là 16,0% Nghiên cứu chỉ ra có 4 yếu tố nguy cơ vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh là áp lực học tập chính khóa nhiều/rất nhiều, sự hỗ trợ của gia đình thấp, chứng kiến bố mẹ cãi nhau đánh nhau và đi bắt nạt bạn Ngoài ra, kết quả phân tích đơn biến cũng cho thấy một số yếu tố có liên quan tới tình trạng sức khỏe tâm thần của học sinh
là áp lực học thêm, bị bố mẹ đánh, mắng, chửi và thờ ơ lạnh nhạt
Từ kết quả trên, một số khuyến nghị: đối với gia đình, cha mẹ nên dành nhiều thời gian để chăm sóc con em mình sẻ chia, giúp đỡ khi trẻ gặp khó khăn, không tranh cãi gay
Trang 10gắt hay có hành vi bạo lực trước mặt con cái để tránh gây áp lực hay những tác động tâm lý tiêu cực Đối với nhà trường, cần có các biện pháp giám sát, can thiệp giảm thiểu tỷ lệ bắt nạt học đường Đối với học sinh, tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội, kĩ năng sống, tìm sự giúp đỡ khi có khó khăn trong cuộc sống
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe tâm thần được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa là một trạng thái khỏe mạnh của mỗi cá nhân để họ nhận biết được các khả năng của bản thân, có thể đương đầu với những căng thẳng thông thường trong cuộc sống, có thể học tập và làm việc một cách hiệu quả và có thể tham gia, góp phần vào các hoạt động của cộng đồng Các vấn đề tâm thần có nhiều biểu hiện khác nhau, tuy nhiên, đặc trưng của người có rối loạn tâm thần là những bất thường trong suy nghĩ, nhận thức, cảm xúc, hành vi và trong các mối quan hệ của họ [45]
Ước tính trên thế giới có khoảng 10 – 20% trẻ em và vị thành niên có vấn đề về sức khỏe tâm thần[35-37, 43] Các vấn đề về sức khỏe tâm thần ở tuổi trưởng thành thường bắt đầu xuất hiện từ năm 14 tuổi nhưng hầu hết các trường hợp không được phát hiện và điều trị kịp thời [35] Tại Việt Nam, sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên, vị thành niên đang ở mức cao: có 73,1% người từng có cảm giác buồn chán, trên 27,6% đã trải qua cảm giác buồn hoặc thấy mình là người không có ích đến nỗi không thể hoạt động như bình thường (SAVY 2, 2008) So sánh với kết quả điều tra năm 2003 thì tỷ lệ thanh thiếu niên đã trải qua cảm giác buồn chán tăng lên, đặc biệt là tỷ lệ thanh thiếu niên
có cảm giác nghĩ đến chuyện tự tử tăng lên khoảng 30% (SAVY1, 2003) [13] Một số nghiên cứu tại Hà Nội gần đây cho thấy tỷ lệ trẻ vị thành niên có vấn đề về sức khỏe tâm thần dao động ở ngưỡng 21 – 28% [1], [10], [14], [20] Như vậy, các vấn đề sức khỏe tâm thần ở vị thành niên dần phổ biến và cần có sự can thiệp sớm để tránh những hậu quả
về sau
Các phản ứng, hành vi và cảm xúc của vị thành niên thường bị bỏ qua vì những căng thẳng về học vấn hay những thay đổi tâm sinh lý và không có bất kì một can thiệp nào về sức khỏe tâm thần Các nghiên cứu tình trạng sức khỏe tâm thần thanh thiếu niên trong trường học cũng chỉ ra học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần và có liên quan chặt chẽ đến các yếu tố giới, gia đình, thành tích học tập, kinh tế hộ gia đình [1, 35] Một loạt các yếu tố liên quan tới các vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh được chỉ ra như: tuổi, giới, hoàn cảnh gia đình, kỳ vọng của bản thân, chương trình học, nghiện internet
Trang 12Học sinh bị cha/mẹ phạt khi bị điểm kém có nguy cơ mắc vấn đề về sức khỏe tâm thần cao gấp 2,12 lần so với học sinh không bị cha/mẹ phạt Tuy nhiên các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của học sinh tại Hà Nội mới chỉ tập trung ở các trường trong nội thành, còn ít các nghiên cứu tại ngoại thành nên chưa có một bức tranh tổng thể cho toàn thành phố[1, 14, 31] Kết quả này đã gợi mở những hướng đi cho các giải pháp can thiệp giảm
áp lực từ chương trình học, cha mẹ phạt, tăng cường các hoạt động ngoại khóa nhằm nâng cao sức khoẻ tâm thần cho các em học sinh… [5, 13, 16, 26, 31]
Trường THPT Đan Phượng thuộc huyện Đan Phượng, nằm ở phía Tây thành phố
Hà Nội Trường có bề dày lịch sử hơn 55 năm, có nhiều thành tích trong công tác dạy và học Đây là trường có điểm đầu vào cao của huyện, hầu hết gia đình học sinh của trường
có kinh tế trung bình [18] Trong những năm vừa qua, do điều kiện kinh tế được cải thiện
rõ rệt, nếp sống và sinh hoạt của người dân nói chung và học sinh nói riêng cũng có nhiều thay đổi Các em học sinh đi học nhiều hơn, áp lực học tập thi cử cao hơn, các mối quan
hệ bạn bè hay xã hội cũng đa dạng hơn Với mong muốn tìm hiểu tỷ lệ học sinh có dấu hiệu bất thường về vấn đề sức khỏe tâm thần và các yếu tố nào có liên quan đến tình trạng sức khỏe tâm thần của các em tại ngoại thành Hà Nội, từ đó làm cơ sở cho các hoạt
động nghiên cứu và can thiệp tiếp theo, tôi đề xuất thực hiện nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới sức khỏe tâm thần của học sinh trường THPT Đan Phượng,
Hà Nội – năm 2018”
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh trường THPT Đan Phượng, Hà Nội, năm 2018 bằng bộ công cụ SDQ 25
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến sức khoẻ tâm thần của học sinh trường THPT Đan Phượng, Hà Nội năm 2018
Trang 14CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I Các khái niệm, định nghĩa
1.1 Khái niệm sức khỏe tâm thần và vấn đề sức khoẻ tâm thần
Kể từ khi thành lập, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa trạng thái tâm thần
tốt vào trong định nghĩa nổi tiếng về sức khỏe: là một trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ là tình trạng không có bệnh hay tàn tật Ba ý
tưởng chính nhằm cải thiện sức khỏe dựa trên định nghĩa trong đó sức khỏe tâm thần là một phần không thể tách rời của sức khỏe, các vấn đề sức khỏe tâm thần có mặt nhiều hơn các bệnh tâm thần và sức khỏe tâm thần liên quan chặt chẽ đến sức khỏe thể chất và hành vi[46]
Xác định sức khỏe tâm thần là rất quan trọng, tuy nhiên không phải dễ dàng định nghĩa được nó Sự khác nhau quá lớn giữa các quốc gia về văn hóa, giai cấp, giới tính…để đưa ra một khái niệm thống nhất Tuy nhiên, cũng giống như tuổi hay sự giàu
có, có rất nhiều cách diễn đạt trên toàn thế giới nhưng vẫn có ý nghĩa cốt lõi phổ quát chung, vì vậy cũng có thể hiểu về khái niệm sức khỏe tâm thần mà không bị giới hạn bởi
sự khác nhau giữa các nền văn hóa Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đề xuất khái niệm
sức khỏe tâm thần là một trạng thái sức khỏe mà mỗi cá nhân nhận thức rõ khả năng của mình, có thể đối phó với những căng thẳng bình thường trong cuộc sống, làm việc hiệu quả và thành công, có thể đóng góp cho cộng đồng Trong ngành Tâm lý học lại đưa ra định nghĩa khác về sức khỏe tâm thần: là một trạng thái thoải mái, dễ chịu về tinh thần, không có các biểu hiện rối loạn về tâm thần, một trạng thái bảo đảm cho sự điều khiển hành vi, hoạt động phù hợp với môi trường [46]
Sức khỏe tâm thần là nền tảng của sự khỏe mạnh và hoạt động hiệu quả cho mỗi cá nhân và cộng đồng Các vấn đề của sức khỏe tâm thần cũng có xuất hiện nhiều hơn chứ không chỉ là bệnh tâm thần Mặc dù vậy, sức khỏe tâm thần vẫn được miêu tả như một số bệnh lý trầm trọng, gây ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày Hiện nay, những quan niệm sai lầm như vậy đã được làm sáng tỏ hơn, một người có thể gặp một hoặc nhiều các vấn đề sức khỏe tâm thần nhưng chưa chắc đã bị rối loạn tâm thần nếu khong ảnh hưởng đến cuộc sống và các mối quan hệ (gia đình, bạn bè, làm việc, xã
Trang 15hội…) của người đó WHO và các tổ chức quốc tế khác đã nhận định cải thiện sức khỏe tâm thần chính là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia thu nhập thấp và trung bình cũng như các quốc gia giàu có, những người giàu có[33, 45]
Vấn đề sức khỏe tâm thần (Mental health problem) là những vấn đề gây trở
ngại đến nhận thức, cảm xúc và chức năng xã hội nhưng nhẹ hơn rối loạn tâm thần Vấn
đề sức khỏe tâm thần là những phàn nàn khó chịu thường xuyên hơn bình thường, nó bao gồm các rối loạn nhất thời như phản ứng của cơ thể với các sang chấn tâm lý Vấn
đề SKTT thường nhẹ hơn và ngắn hơn so với rối loạn tâm thần nhưng nó có thể dễ dàng phát triển thành các rối loạn tâm thần Việc phân biệt giữa rối loạn tâm thần và vấn đề sức khỏe tâm thần đôi khi không rõ ràng và chủ yếu dựa vào mức độ và thời gian kéo dài của các triệu chứng
1.2 Phân loại sức khỏe tâm thần
Có 2 bảng phân loại sức khỏe tâm thần được sử dụng phổ biến hiện nay gồm: (1) Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) và (2) Bảng hướng dẫn chuẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (DSM)
Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) của Tổ chức Y tế thế giới phát hành từ năm 1992 và đã được Bộ Y tế dịch sang tiếng Việt Bảng phân loại cung cấp mã hóa các bệnh thành những mã ngắn gọn, làm chuẩn hóa cho công tác nghiên cứu
và thực hành y học cũng như thống nhất tên gọi bệnh khi chuyển bệnh nhân từ nước này sang nước khác hay hiểu sai do cách dùng từ khác nhau giữa nhân viên y tế Nhóm sức khỏe tâm thần được chia thành 10 mục lớn, được đánh mã từ F00 – F98 gồm:
1) F00-F09: Các rối loạn tâm thần thực tổn bao gồm rối loạn tâm thần triệu chứng
2) F10-F19: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần
3) F20-F29: Bệnh tâm thần phân liệt, các rối loạn phân liệt và các rối loạn hoang tưởng
4) F30-F39: Rối loạn khí sắc (cảm xúc)
5) F40-F48: Các rối loạn bệnh tâm thần có liên quan đến Stress và dạng cơ thể
Trang 166) F50-F59: Các hội chứng hành vi kết hợp với các rối loạn sinh lý và các nhân
tố cơ thể
7) F60-F69: Các rối loạn nhân cách và hành vi ở người thành niên
8) F70-F79: Chậm phát triển tâm thần
9) F80-F89: Các rối loạn về phát triển tâm lý
10) F90-F98: Các rối loạn hành vi và cảm xúc khởi phát ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên[22]
Bảng hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần được thiết kế bởi Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (DSM) đã được xuất bản lần thứ 5 (DSM – V) vào tháng 5/2013, thay thế bản DSM – IV – TR được xuất bản từ năm 2000 và hiện bản cập nhật, sửa chữa bổ sung mới nhất của bản thứ 5 này là bản tháng 8/2015 DSM – V được sử dụng tại Hoa Kỳ và hầu hết các bác sĩ lâm sàng, các nhà nghiên cứu trên thế giới, các hãng dược phẩm, các nhà hoạch định chính sách đều đánh giá cao tính giá trị của bảng phân loại này Bảng phân loại DSM giúp chẩn đoán và tiếp cận điều trị thuận tiện hơn và khuyến khích nghiên cứu thông qua các tiêu chuẩn chẩn đoán Bảng phân loại gồm 3 mục và sử dụng số La Mã để đánh số thứ tự từng mục Mục I để giới thiệu những thay đổi trong tái bản thứ 5; mục II gồm những tiêu chuẩn chẩn đoán, phân loại rối loạn và bệnh tâm thần (như rối loạn phổ tự kỷ, rối loạn ăn uống, chẩn đoán nghiện ma tuý…), mục III giới thiệu các biện pháp và mô hình mới để hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng đánh giá bệnh nhân của họ [34]
1.3 Khái niệm về vị thành niên
Vị thành niên thường được định nghĩa là nhóm trẻ từ 10 – 19 tuổi, là giai đoạn chuyển tiếp từ “trẻ con” sang “người lớn” Đây cũng là giai đoạn nhạy cảm, dễ bị ảnh hưởng khi có sự thay đổi nhanh chóng về thể chất, tâm lý và hành vi Vị thành niên đóng vai trò là một nhóm xã hội và nhân khẩu học quan trọng trong khu vực Đông Nam Á với một phần năm, tương ứng khoảng 18,8% (362,2 triệu người) trong tổng số dân trong khu
vực (Triển vọng dân số Liên Hiệp Quốc, 2016) Trong đó, nhóm 13 – 17 tuổi có khoảng
181 triệu người hay tương đương một phần mười (9,4%) tổng dân số trong khu vực Dự
Trang 17báo trong những năm tới, nhóm này có thể chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng số dân do
tỷ suất sinh giảm đi [45]
Tại Việt Nam, vị thành niên được chia làm ba nhóm: nhóm vị thành niên sớm từ
10 – 14 tuổi, nhóm vị thành niên giữa từ 15 – 17 tuổi, nhóm vị thành niên muộn từ 18 –
19 tuổi [24] Theo điều tra biến động dân số của Tổng cục Thống kê, tính tại thời điểm 1/4/2016, vị thành niên chiếm 14,6% tỷ trọng dân số cả nước, trong đó nhóm 15 – 17 tuổi chiếm khoảng 4,3% [24] Trong nghiên cứu này, độ tuổi được quan tâm đến là nhóm vị thành niên từ 15 – 18 tuổi và là nhóm vị thành niên đang theo học cấp trung học phổ thông (từ lớp 10 đến lớp 12)
II Công cụ đánh giá tình trạng sức khoẻ tâm thần vị thành niên
Hiện nay, có nhiều bộ công cụ được sử dụng trong nghiên cứu sức khỏe tâm thần vị thành niên, trong đó có ba bộ công cụ là bảng tự thuật dành cho thanh thiếu niên YSR (The youth – self report) , CLCB (The child behavior checklist) và SQD (The strengths and difficulties questionnaire) [9, 15, 25, 41]
Bảng tự thuật dành cho trẻ (YSR), do tác giả Achenbach phát triển, được
Việt hóa và chuẩn hóa ở Việt Nam bởi nhóm tác giả Đặng Hoàng Minh và cộng sự trong khuôn khổ dự án Dịch tễ học các vấn đề sức khỏe tinh thần trẻ em Việt Nam năm 2008 [15] Bảng hỏi yêu cầu trẻ cho điểm phù hợp cho 112 biểu hiện được liệt kê dựa trên mốc thời gian trong vòng 6 tháng qua đến nay Trong bảng hỏi YSR, mỗi câu hỏi (item) được đánh giá theo 3 mức độ: 0 = không đúng, 1 = đúng một phần hay thỉnh thoảng có
và 2 = rất đúng hay thường xuyên diễn ra Có tám nhóm triệu chứng được phân loại qua bảng hỏi là: Lo âu/trầm cảm (12 câu hỏi), thu mình/trầm cảm (8 câu hỏi), vấn đề chú ý (9 câu hỏi), hành vi hung tính (18 câu hỏi), phá bỏ quy tắc (15 câu) Bảng hỏi YSR được
xử lý theo hai cách: (1) tính tổng điểm của thang đo, (2) tính điểm theo 8 hội chứng của thang đo Bộ câu hỏi này được Đặng Hoàng Minh và cộng sự chuẩn hóa và sử dụng vào năm 2008 Đến nay, bộ công cụ này đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu tại Việt Nam, mặt hạn chế trong tiếp cận bộ công cụ này là việc nghiên cứu viên phải mua bản quyền từ tác giả Achenbach [15]
Trang 18Bảng kiểm hành vi trẻ em (CBCL) là một trong những công cụ đánh giá
các vấn đề sức khỏe tâm thần được biết đến nhiều trên thế giới Bảng hỏi do Achenbach nghiên cứu và phát triển từ những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ 20 và được báo cáo lần đầu tiên trong một đánh giá về sự phát triển của trẻ em năm 1965 [9] Bảng kiểm CBCL có hai phiên bản để áp dụng cho nhóm trẻ 6 – 18 tuổi và cha mẹ của các em Bảng kiểm này bao gồm 113 câu hỏi, đánh giá trên 3 mức độ cho các vấn đề trong 6 tháng trở lại đây : 0 = không đúng, 1 = đúng một phần, 2 = hoàn toàn đúng Có 8 thang
đo trong bảng kiểm CBCL là lo âu/trầm cảm, thu mình, than phiền cơ thể, vấn đề xã hội, vấn đề tư duy, vi phạm luật lệ và tính công kích Giống như bộ câu hỏi YSR, bảng kiểm CBCL cũng phải mua bản quyền từ tác giả mới được áp dụng trong nghiên cứu khoa học [9],[15]
Bảng hỏi những điểm mạnh và khó khăn (SDQ hay SDQ – 25) là bảng
hỏi sàng lọc được thiết kế bởi tác giả Robert Goodman - Viện tâm thần London và được Trung tâm nghiên cứu và phát triển cộng đồng (RTCCD) nghiên cứu chuẩn hóa bộ công
cụ để sàng lọc trẻ vị thành niên gặp vấn đề sức khỏe tâm thần tại Việt Nam và công bố vào tháng 2/2005 [25], [26] Có 3 phiên bản bảng hỏi sàng lọc các vấn đề sức khỏe tâm thần của trẻ cho 3 đối tượng trả lời gồm trẻ từ 11 – 17 tuổi, cha mẹ và giáo viên của trẻ
từ 3 – 17 tuổi nhằm đánh giá các biểu hiện của trẻ trên góc nhìn của trẻ, người chăm sóc
và giáo viên Khả năng chẩn đoán của bộ câu hỏi SDQ 25 phiên bản tiếng Việt đạt từ 0,7 đến 0,79 tùy theo đối tượng [25] Năm 2016, tác giả Đặng Thùy Linh một lần nữa đánh giá khả năng sử dụng bộ công cụ này cho đối tượng vị thành niên từ 16 – 18 tuổi với hệ
số Cronbach’s Alpha là 0,747 [14] Khả năng chẩn đoán của bộ công cụ này không khác nhau giữa phương thức tự điền và phỏng vấn Bảng hỏi bao gồm 25 câu với 5 nhóm vấn
đề chính là: Vấn đề cảm xúc; Vấn đề hành vi ứng xử (tức giận, mất tự chủ, thích bạo lực, thích gây hấn);Vấn đề tăng động giảm chú ý; Vấn đề quan hệ nhóm bạn; Vấn đề kĩ năng tiền xã hội [25]
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu tại Việt Nam áp dụng bảng hỏi này để sàng lọc trẻ vị thành niên có vấn đề về sức khỏe tâm thần, trên nhóm học sinh THCS có tác giả Ngô Thanh Hồi (2007), Đàm Thị Bảo Thoa và cộng sự (2013) với điểm cắt 14; Đào Thị Tuyết (2014), Nguyễn Việt Quang (2016), Vũ Xuân Thịnh (2016), Đỗ Xuân
Trang 19Hưng (2016) v.v cũng sử dụng điểm cắt 15 trong nghiên cứu của mình Trên đối tượng học sinh THPT, có nhiều tác giả cùng áp dụng thang đo SDQ với điểm cắt 15 như Nguyễn Thị Thúy Anh (2010), Trần Quỳnh Anh và cộng sự (2013), Lê Thu Phương
(2014), Đào Thanh Thủy (2014), Đặng Thùy Linh (2016) (chi tiết Phụ lục 3)
Ưu điểm của bảng hỏi SDQ 25 là sự ngắn gọn, mang tính sàng lọc ban đầu, có thể áp dụng trong nhiều nghiên cứu với các quy mô khác nhau, phù hợp với đối tượng nghiên cứu trong khuôn khổ đề tài này và được cung cấp miễn phí từ phía nắm bản quyền [25] Chính vì vậy, trong nghiên cứu này tôi quyết định sử dụng bộ công cụ SDQ
25 để sàng lọc vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông Đan Phượng
Công cụ dùng để đánh giá một số yếu tố liên quan đã được sử dụng tại Việt
Nam có bộ công cụ Multidimensional Scale of Perceived Social Support (MSPSS) được công bố vào năm 1988 Đây là công cụ được thiết kế để đánh giá sự hỗ trợ của 3 nhóm đối tượng tới vị thành niên gồm gia đình, bạn bè và nhóm người khác Thang đo gồm 12 câu hỏi, 4 câu hỏi cho mỗi nhóm đối tượng Qua nhiều kết quả nghiên cứu, MSPSS đã được chứng minh độ tin cậy và có tính hiệu lực tốt Bộ công cụ này đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ như Pháp, Ý, Hàn Quốc, Lithuania, Nauy, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Thái Lan… Tại Việt Nam, MSPSS đã được dịch và áp dụng bởi tác giả Lê Thị Hải Hà (2016) trên học sinh THCS và THPT với hệ số Cronbach’ alpha từ 0,88 – 0,93 [38]
III Thực trạng sức khỏe tâm thần của trẻ vị thành niên trên thế giới
Thời thơ ấu và tuổi vị thành niên của con người kéo dài gần 20 năm Đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhất về mọi mặt và được đánh dấu bởi những thay đổi đáng kể
về thể chất, nhận thức, tình cảm, kĩ năng xã hội và nhiều năng lực khác Sức khỏe tâm thần của vị thành niên được xác định bởi kết quả của các quá trình phát triển nhận thức,
xã hội, nền móng cảm xúc, khả năng đáp ứng các mối quan hệ xã hội và các kĩ năng đối phó, thích nghi hiệu quả [45]
Các vấn đề sức khỏe tâm thần ước tính ảnh hưởng từ 10 – 20% trẻ em và vị thành niên trên toàn thế giới Bảng sau tổng hợp một số nghiên cứu tại các nước thuộc
Nam Mỹ, Nam Á, Đông Á và Châu Âu (Bảng 1.2) Nhiều rối loạn về sức khỏe tâm thần
lần đầu tiên xuất hiện trong giai đoạn thơ ấu và vị thành niên có thể tiếp tục vào giai
Trang 20đoạn trưởng thành Tuy nhiên, một số rối loạn sức khỏe tâm thần như lo lắng hay trầm cảm ở trẻ vị thành niên thường không được phát hiện và điều trị, đặc biệt ở các nước đang phát triển do hạn chế trong tiếp cận dịch vụ tâm lý và tâm thần, sự kỳ thị xã hội gắn liền với các vấn đề về tâm thần kinh[45]
Bảng 1.1: Tỷ lệ trẻ em và vị thành niên có vấn đề sức khỏe tâm thần ở một số nước
Brazil 7 – 14 12,7 Fleitlich-Bilyk & Goodman, 2004
Ấn Độ 1 – 16 12,8 Indian Council of Medical Research
là 4,5 trên 100 000 vị thành niên trong năm 2010 và khoảng 8% vị thành niên trên 14 tuổi báo cáo có vấn đề về tâm thần trong tháng vừa qua [36]
Theo kết quả điều tra thực trạng vị thành niên tại Úc mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần bằng phương pháp phát vấn qua máy tính bảng trên 2.967 trẻ vị thành niên 11- – 17 cho thấy có khoảng 10,2% trẻ 11 – 17 tuổi có số điểm trong ngưỡng bất thường về mặt tâm thần [35] Tỷ lệ này ở nữ cao hơn nam giới (12,1% so với 8,3%) và có sự tăng lên ở nhóm tuổi lớn hơn (12,4% ở nhóm 16 – 17 tuổi so với 9,2% ở nhóm 11 – 15 tuổi)
Tỷ lệ vị thành niên có số điểm bất thường cao nhất ở nhóm tăng động giảm chú ý, tiếp theo sau là nhóm có vấn đề về cảm xúc (13,8% so với 10,9%) Các vấn đề về cảm xúc
Trang 21xuất hiện nhiều ở nhóm trẻ nữ hơn là trẻ nam (16,3% so với 5,8%) trong khi nhóm vấn
đề hành vi ứng xử lại phổ biến ở trẻ nam hơn là trẻ nữ (10% so với 7,5%) Các vấn đề về cảm xúc phổ biến nhiều hơn ở nhóm vị thành niên lớn tuổi hơn so với nhóm nhỏ tuổi (16% ở trẻ 16 – 17 tuổi so với 8,8% ở trẻ 11 – 15 tuổi) Ngoài ra, khoảng một phần ba (30%) số trẻ em và vị thành niên từ 4 – 17 tuổi được báo cáo gặp phải một hoặc hai hoặc nhiều hơn vấn đề về rối loạn tâm thần trong 12 tháng gần đây[35]
Kleintjes S và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu tại Nam Phi đã chỉ ra tỷ lệ trẻ
em và thanh thiếu niên gặp các vấn đề sức khoẻ tâm thần và hành vi là khoảng 17% Asma A Al – Jawadi và cộng sự nhận thấy 37,4% trẻ em tại Mosul, Irap có các vấn đề sức khỏe tâm thần Các rối loạn thường gặp nhất là rối loạn stress sau sang chấn (10,5%), đái dầm (6%), lo sợ bị chia cắt (4,3%), ám ảnh (3,3%), nói lắp và từ chối đi học (3,2%), rối loạn học tập và hành vi (2,5%), chuyển động rập khuôn (2,3%) và rối loạn ăn trong giai đoạn trẻ nhỏ (2%)[33]
Theo báo cáo về sức khỏe tâm thần gần đây ở khu vực Đông - Nam Á của WHO (2017) cũng chỉ ra vấn đề sức khoẻ tâm thần ở vị thành niên là khá phổ biến [45] Phần trăm học sinh báo cáo có cảm thấy cô đơn thường xuyên hoặc thỉnh thoảng trong
12 tháng vừa qua dao động từ 6,7% ở Indonesia và Nepal đến 15,5% ở Maldives Tỷ lệ
nữ học sinh cảm thấy cô đơn là cao hơn so với nam học sinh trong 10 quốc gia điều tra
số liệu, trừ Bangladesh, Thái Lan và Đông Timor Tỷ lệ phần trăm học sinh cảm giác lo lắng về điều khiến họ không thể ngủ vào ban đêm thay đổi từ 3,9% ở Myanma đến 15,1% ở Maldives Tính trung bình, tỷ lệ trẻ vị thành niên cảm thấy lo âu tại 10 quốc gia
là 6,9% Bên cạnh đó, một tỷ lệ đáng kể học sinh báo cáo không có bạn thân, từ 3% ở Indonesia đến 10,1% ở Ấn Độ[45]
Kết quả nghiên cứu dịch tễ học các vấn đề sức khỏe tâm thần ở vị thành niên tại các khu vực, quốc gia chênh lệch đáng kể được các tác giả phân tích do các yếu tố: tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau trong từng nghiên cứu (dựa theo bảng phân loại ICD hoặc DSM); Bộ công cụ nghiên cứu khác nhau; Đối tượng nghiên cứu khác nhau (các nhóm tuổi trẻ vị thành niên khác nhau); Thời điểm, phương pháp nghiên cứu khác nhau (nghiên cứu dọc, nghiên cứu cắt ngang… tại các thời điểm khác nhau)[35, 45]
Trang 22Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một nửa các vấn đề sức khoẻ tâm thần xuất hiện trước năm 14 tuổi và khoảng 10 – 20% trẻ em dưới 17 tuổi bị ảnh hưởng bởi các rối tăng động giảm chú ý, rối loạn cảm xúc v.v [37] [43] [46] Các em mắc rối loạn sức khỏe tâm thần không nhận được sự chăm sóc và điều trị bởi các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần do: không được phát hiện ngay khi các rối loạn đã trở lên nghiêm trọng; rào cản nhận thức do sợ bị xa lánh, không nhận thức được tính nghiêm trọng của vấn đề; không có khả năng tiếp cận dịch vụ do hạn chế tài chính, thời gian; và do dịch
vụ chưa phát triển[37]
IV Thực trạng sức khỏe tâm thần của trẻ vị thành niên tại Việt Nam
Ở Việt Nam, khoảng 20 năm trở lại đây đã có tác giả đề cập đến vấn đề sức khỏe tâm thần ở trẻ vị thành niên nhưng trong khoảng 10 năm trở lại đây mới có nhiều nghiên cứu về vấn đề này[6] Các nghiên cứu học đường ở Việt Nam cho thấy có khoảng 10 – dưới 28% học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần Các rối loạn thường gặp như trầm cảm, lo âu, rối loạn tăng động, rối loạn liên quan đến học tập, rối loạn ứng xử… [1, 5, 6,
16, 23]
Vị thành niên tuổi trung học cơ sở
Khảo sát sức khỏe học đường (Global School – based student health survey) của WHO năm 2013 tại Việt Nam trên 3331 học sinh từ lớp 8 – 12, tương đương độ tuổi 13 – 17, đo lường việc sử dụng rượu, thói quen ăn uống, sử dụng ma túy, vệ sinh, sức khỏe tâm thần, hoạt động thể chất, các yếu tố bảo vệ, hành vi tình dục, sử dụng thuốc lá, bạo lực và thương tích không chủ ý Các em học sinh được tự trả lời trên máy tính bảng Kết quả cho thấy, tỷ lệ học sinh từng thử tự tử trong 12 tháng vừa qua cao nhất ở nhóm 16 –
17 tuổi, tỷ lệ nữ sinh từng thử tự tử cao hơn nam sinh (25,1% so với 13,9%) Tính chung học sinh từ 13 – 17 tuổi, có 16,9% học sinh từng thử tự tử trong 12 tháng vừa qua Đây
là một kết quả đáng chú ý để các nhà giáo dục, phụ huynh học sinh cần lưu tâm để giúp các em bước qua tuổi dậy thì dễ dàng hơn, tránh tác động tiêu cực tới kết quả học tập cũng như sức khỏe tâm thần khi lớn lên[44]
Tác giả Bahr Weiss nghiên cứu trên 591 vị thành niên từ 12 – 16 tuổi tại 10 tỉnh tại Việt Nam sử dụng 2 loại bảng hỏi là bảng hỏi những điểm mạnh và khó khăn (SDQ) gồm 25 câu hỏi và bảng tự báo cáo của thanh thiếu niên (YSR) để đánh giá thực trạng và
Trang 23so sánh vấn đề sức khỏe tâm thần Kết quả chỉ ra có 10,7% trẻ có vấn đề sức khỏe tâm thần khi sử dụng bảng hỏi SDQ và 12,4% khi dùng YSR [42] Tác giả Chu Văn Toàn (2008) nghiên cứu tại Thanh Hóa cũng cho biết tỷ lệ mắc chung các rối loạn hành vi ở trẻ em 11 – 18 tuổi ở các xã Hải Lộc: 7,1%; Cẩm Sơn: 6,64%; Đông Cương: 8,71%; Hà Vân: 6,22%[23] Kết quả khảo sát sức khỏe tâm thần của trẻ em 10 – 16 tuổi tại Hà Nội,
sử dụng bảng hỏi SDQ trên 1202 trẻ cho thấy tỷ lệ trẻ có các vấn đề sức khỏe tâm thần
và hành vi chiếm 19,46% Trong đó, rối loạn cảm xúc chiếm 11,48%; rối loạn ứng xử chiếm 9,23%; rối loạn tăng động giảm chú ý là 14,1%; các vấn đề nhóm bạn là 9,23%; các vấn đề kĩ năng tiền xã hội là 7,57% [3] Nghiên cứu trên học sinh THCS tại Hà Nội cho thấy, số học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần chiếm 25%, trong đó 50% có biểu hiện bất thường bệnh lý cần hỗ trợ thuộc các vấn đề hướng nội, biểu hiện dưới dạng rối loạn cảm xúc lo âu, buồn chán (trầm cảm) và hướng ngoại như có hành vi hung bạo, công kích hoặc làm sai quy tắc xã hội [15]
Theo điều tra tại tỉnh Lâm Đồng của tác giả Nguyễn Đình Chất (2015) trên 809 học sinh trung học cơ sở bằng bảng hỏi SQD 25 để sàng lọc học sinh gặp các vấn đề sức khoẻ tâm thần chỉ ra rằng tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT là 28,2%, tương ứng 228 trường hợp, nhóm nguy cơ cao có vấn đề SKTT chiếm 17,3% Đáng chú ý là số học sinh gặp phải 2 – 3 vấn đề tâm thần chiếm tới 202/228, tương ứng 88,6% trường hợp Về phân bổ tỷ lệ các loại vấn đề tâm thần: tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT trong quan hệ bạn
bè chiếm tỷ trọng cao nhất (59,7%), tiếp theo là tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT hành vi (47,3%), thấp nhất là tỷ lệ học sinh tăng động giảm chú ý (16,2%) [5]
Vị thành niên tuổi trung học phổ thông
Các nghiên cứu thực trạng sức khỏe tâm thần ở học sinh THPT cho thấy tỷ lệ học sinh mắc các vấn đề tâm thần dao động từ 22,5 – 27,0% Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành năm 2013 trên 361 học sinh của trường trung học phổ thông Việt Đức-
Hà Nội Các học sinh tham gia điền phiếu câu hỏi theo thang đo SDQ 25 Kết quả chỉ ra:
Tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT là 26,9% Hình thái biểu hiện của trung học phổ thông học sinh về nhóm quan hệ xã hội và bạn bè là cao nhất (29,6% và 28,9%), thấp nhất ở nhóm hiếu động và biểu hiện cảm xúc (8,9% và 11,4%) Học sinh bị cha/mẹ phạt khi bị
Trang 24điểm kém có nguy cơ mắc vấn đề trung học phổ thông cao gấp 2,12 lần so với học sinh không bị cha/mẹ phạt, có ý nghĩa thống kê [31]
Tác giả Hoàng Cẩm Tú và Đặng Hoàng Minh nghiên cứu trên học sinh ở 2 trường THPT Nguyễn Trãi và Vân Tảo tại Hà Nội cho biết có khoảng 22,5% học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần [15] Kết quả này cũng tương đồng với kết quả của Nguyễn Thị Thúy Anh tại trường THPT Cầu Giấy – Hà Nội rằng 22,9% học sinh có vấn đề sức khỏe tâm thần, trong đó có 16,5% học sinh ở mức độ nhẹ và 6,4% ở mức độ nặng [1] Nghiên cứu trên 809 học sinh tại Lâm Đồng của tác giả Nguyễn Đình Chất cho thấy tỷ
lệ học sinh bị rối nhiễu tâm lý chiếm khoảng 28,2%[5]
Đào Thanh Thủy (2014) nghiên cứu chỉ ra, trong 492 học sinh của 2 trường dân lập huyện Ba Vì và quận Thanh Xuân - Hà Nội, có 15,2% học sinh có vấn đề về SKTT, 20,7% ở thể nghi ngờ [29] Nghiên cứu sau của Đặng Thùy Linh (2016) trên đối tượng học sinh THPT dân lập Hồng Hà – Nguyễn Khuyến cho thấy, trong 342 học sinh trung học phổ thông đang theo học tại trường, có 27,0% học sinh có vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần, trong đó có tỷ lệ học sinh có vấn đề về cảm xúc cao nhất (chiếm 19,7%), thấp nhất là tỷ lệ học sinh có vấn đề tăng động giảm chú ý (chiếm 14,3%)[14] Nghiên cứu trên 639 vị thành niên Đà Nẵng cho thấy, có 6,7% em có biểu hiện rối loạn trầm cảm, trong đó có 2,7% được chẩn đoán có rối loạn trầm cảm [32]
V Một số hành vi và yếu tố liên quan đến các vấn đề sức khỏe tâm thần
Các vấn đề sức khỏe tâm thần đóng góp khoảng 15 – 30% số năm sống điều chỉnh bởi tàn tật trong ba thập kỷ đầu tiên của cuộc đời [45] Tự tử hay tự cắt mình đóng góp khoảng 6% số ca tử vong ở nhóm 15 – 29 tuổi và là nguyên nhân gây tử vong thứ hai trong nhóm tuổi này, chỉ sau tai nạn giao thông [45] Tuổi vị thành niên là giai đoạn quan trọng trong cuộc đời, đánh dấu nhiều sự thay đổi về cả thể chất lẫn tâm lý Vậy những yếu tố nào, hành vi nào được xem là nguy cơ gây ra các vấn đề sức khỏe tâm thần
ở học sinh?
5.1 Yếu tố cá nhân
Cũng như các vấn đề sức khỏe tâm thần gặp ở người trưởng thành, cho đến nay, các tiến bộ về khoa học thần kinh và nghiên cứu về hành vi đã tìm ra một số căn
Trang 25nguyên của một số rối loạn, song vẫn còn một số rối loạn chưa được làm sáng tỏ, cần tiếp tục nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau như yếu tố gen, miễn dịch, sinh hóa não…Thêm vào đó, vị thành niên đang là lứa tuổi phát triển và sự phát triển này chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố như bẩm sinh, tính cách, bạn bè, gia đình, môi trường sống… Trong đó, nếu các em có nhân cách mạnh, bền vững thì khả năng chịu đựng áp lực, ý chí chống đỡ bệnh tật tốt hơn và khả năng phục hồi sau bệnh cũng nhanh hơn so với người
có nhân cách yếu hoặc không thăng bằng [39]
Giới
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra có sự khác nhau giữa tỷ lệ có vấn đề sức khỏe tâm thần ở nhóm nam và nữ học sinh, tuy nhiên không có sự thống nhất giữa các nghiên cứu Tác giả Nguyễn Thị Thúy Anh dùng bộ công cụ SDQ ở học sinh THPT tại Hà Nội cho thấy tỉ lệ học sinh nữ có vấn đề sức khỏe tâm thần cao hơn nam học sinh gấp 2 lần [1] Tác giả Đặng Thùy Linh (2016) cũng cho kết quả tương tự khi tỷ lệ nữ sinh gặp các vấn
đề sức khỏe tâm thần thấp hơn nam sinh (39% so với 52%) [14] Nghiên cứu của Đặng Cao Minh sử dụng bảng hỏi YSR trên học sinh miền Bắc lại chỉ ra nữ sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần thấp hơn so với nam sinh (45,2% so với 54,8%) [17] Tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương và Lê Khanh sử dụng thang lượng giá trầm cảm – lo âu – stress DASS
42 và thang lượng giá lo âu Zung trên học sinh THPT tại Hà Nội chỉ ra rằng tỷ lệ nam sinh có rối loạn lo âu cao hơn nữ sinh (7,72% và 5,45%) [4]
Hút thuốc
Tỷ lệ trẻ em có hút thuốc cao hơn ở nhóm mắc rối loạn trầm cảm và cao hơn ở nhóm trẻ có những vấn đề sức khoẻ tâm thần khác so với nhóm không bị Tại Úc, có khoảng một phần mười (9,9%) trẻ em từ 13 – 17 tuổi có hút thuốc ít nhất một lần một tuần trong vài thời điểm trong cuộc đời các em và khoảng 7,2% cho biết có hút thuốc trong vòng 30 ngày gần đây Có khoảng 29,9% vị thành niên được phát hiện rối loạn trầm cảm tự báo cáo có hút thuốc và 24,4% người có hút trong vong 30 ngày gần đây Phụ huynh hoặc người chăm sóc chính của học sinh bị các những vấn đề sức khoẻ tâm thần khác cũng cho biết con cái họ hút thuốc trong 30 ngày qua với tỷ lệ lần lượt 29,9%
và 24,1% Ở những học sinh không mắc những vấn đề sức khoẻ tâm thần chỉ 5,9% đã từng hút và 4,1% có hút trong 30 ngày qua [35]
Trang 26Sử dụng rượu bia, cần sa và các chất gây nghiện khác
Tỷ lệ vị thành niên bị rối loạn trầm cảm có sử dụng rượu bia cao hơn hẳn so với vị thành niên bình thường Nghiên cứu của chính phủ Úc, có 34,3% vị thành niên Úc được đánh giá là rối loạn trầm cảm dựa vào bảng tự trả lời báo cáo mình có uống rượu trong 30 ngày vừa qua, cao gấp hai lần (15,4%) vị thành niên không bị rối loạn [35] Khoảng một phần tư (27,6%) thanh niên rối loạn trầm cảm đã uống nhiều hơn 4 ly rượu trong 30 ngày qua so với một phần mười (10,1%) vị thành niên không bị rối loạn trầm cảm Tỷ lệ tiêu thụ rượu cao hơn cũng được phát hiện ra ở những vị thành niên có những vấn đề sức khỏe tâm thần khác nhưng tỷ lệ này nhỏ hơn so với tỷ lệ vị thành niên rối loạn trầm cảm[35]
Một số trên thế giới đã chỉ ra sự khác biệt giữa tỷ lệ nhóm học sinh có vấn đề sức khỏe tâm thần với tình trạng sử dụng các chất kích thích, chất gây nghiện hay hút thuốc lá [13, 35, 44] Tại Úc, có khoảng 11,6% trẻ từ 11 – 17 tuổi đã từng dùng cần sa
và 5% cho biết họ đã dùng cần sa trong 30 ngày vừa qua Tỷ lệ sử dụng chất gây nghiện
ở nam và nữ sinh gần tương đương với nhau Tỷ lệ sử dụng chất gây nghiện ở nhóm vị thành niên rối loạn trầm cảm cao hơn so với nhóm bình thường.Trong nhóm có rối loạn trầm cảm, 28,8% đã từng sử dụng cần sa, 13,1% có sử dụng cần sa trong 30 ngày gần đây, 16,1% đã từng sử dụng chất gây nghiện khác và 6,1% sử dụng chất gây nghiện khác trong vòng 30 ngày gần đây [35] Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu SAVY 2 (2009) cũng chỉ ra một số hành vi nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của vị thành niên
là uống rượu, bia, dùng chất gây nghiện, hút thuốc [13] Theo khảo sát Global school – based student health survey tại Việt Nam (2013) cho thấy, tỷ lệ học sinh 16 – 17 tuổi uống ít nhất một lần đồ uống có cồn trong 30 ngày gần đây là 31,8%; từng sử dụng chất gây nghiện là 1%; tỷ lệ học sinh có hút thuốc trong vòng 30 ngày gần đây là 5,9%; trong
số những học sinh đã từng hút thuốc, có 52,7% học sinh hút lần đầu là trước 14 tuổi [44]
Sử dụng Internet và trò chơi điện tử
Hầu hết trẻ vị thành niên sử dụng vài giờ đồng hồ mỗi ngày để lên mạng hoặc chơi trò chơi điện tử, nhưng có một số nhỏ vị thành niên dùng nhiều thời gian hơn mức trung bình để lên mạng hay chơi trò chơi Tính trung bình, thời gian chơi trò chơi điện tử
Trang 27của trẻ nam nhiều hơn trẻ nữ, còn trung bình thời gian dùng internet là đồng đều ở cả nam và nữ Theo kết quả tự trẻ vị thành niên trả lời tại Úc cho thấy, có khoảng 13% trẻ
có rối loạn trầm cảm nghiện internet hoặc trò chơi điện tử, trong khi chỉ có 3,1 % trẻ bình thường bị nghiện [35] Nghiên cứu tại Việt Nam của Đặng Hoàng Minh và Nguyễn Thị Phương cũng cho thấy mối tương quan thuận có ý nghĩa giữa mức độ sử dụng Internet và các vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung (r = 3,91), trong đó mức độ sử dụng Internet có mối tương quan chặt chữ nhất với hành vi hung tính (r = 0,43), tiếp theo là lo âu/trầm cảm (r = 0,332), vấn đề tư duy (r = 0,32) Nói cách khác, nếu trẻ vị thành niên
sử dụng Internet ở mức độ càng cao thì càng có nguy cơ gặp những vấn đề sức khỏe tâm thần [16]
Áp lực học tập
Áp lực học tập cũng là một yếu tố tăng cường nguy cơ gặp phải các vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh Lê Thị Thanh Thủy nghiên cứu trên đối tượng học sinh lớp 12 cho thấy các em đang cảm thấy căng thẳng vì thời gian học quá nhiều, khối lượng kiến thức phải tích lũy là quá lớn, kỳ vọng của cá nhân vào kỳ thi tốt nghiệp và đại học Stress trong học tập ở mức độ nhẹ khiến 30,8% học sinh cho rằng mình không có hứng thú với việc học, mức độ trung bình là 50% và mức độ nặng là 64,7% [30] Hồ Hữu Tính và Nguyễn Doãn Thành cũng đưa ra kết quả tương tự rằng trẻ vị thành niên bị áp lực học tập, thi cử và điểm số thua kém bạn bè Có 33% trong tổng số học sinh thường hay có stress, lo âu vì áp lực học tập ở trường, 29% trong tổng số học sinh thường hay bị stress lo âu vì áp lực thi cử [11]
Bị bắt nạt
Bắt nạt bao gồm trêu chọc trước mặt, đe dọa, truyền tin đồn và làm tổn thương thể chất người khác và bắt nạt trên mạng internet (qua email, tin nhắn, đăng nhận xét, hình ảnh…) nhằm gây tổn thương hoặc đe dọa người khác Một phần tư (24,3%) vị thành niên từ 11 – 17 tuổi đã bị bắt nạt vài tháng một lần hoặc ít hơn trong một năm vừa qua và khoảng 10% đã bị bắt nạt vài tuần một lần hoặc thường xuyên hơn Dường như vị thành niên trẻ tuổi bị bắt nạt nhiều hơn vị thành niên lớn tuổi, với 11,2% nhóm 11 – 15 tuổi và 7,1% ở nhóm 16 – 17 tuổi[35]
Trang 28Ba phần năm số vị thành niên bị rối loạn trầm cảm nặng đã bị bắt nạt trong một năm gần đây Tỷ lệ này gấp đôi so với những người không bị rối loạn (30,2%) Sự khác biệt lớn nhất ở nhóm thường xuyên bị bắt nạt với bị rối loạn trầm cảm hay không: 28,3% trẻ 11 – 17 tuổi có rối loạn trầm cảm bị bắt nạt vài tuần một lần hoặc thường xuyên hơn, gấp 3 lần tỷ lệ trẻ bình thường (7,6%)[35]
5.2 Yếu tố gia đình
Gia đình đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ vị thành niên, cả về thể chất lẫn tinh thần Sự gắn kết của trẻ và gia đình, cha mẹ là yếu tố bảo vệ khỏi nguy cơ những vấn đề sức khoẻ tâm thần hay các vấn đề về sức khỏe tâm thần[13, 45] Khi trẻ em cảm nhận sự gắn kết này yếu ớt, hay không cảm nhận cha mẹ có quan tâm đến mình thì đây là yếu tố làm tăng nguy cơ cố gắng tử tử ở trẻ, trẻ có cảm giác cô đơn, lo lắng cũng như tăng nguy cơ sử dụng chất gây nghiện Nói cách khác, mức độ quan tâm, thăm hỏi của cha mẹ ở mức cao dường như là yếu tố bảo vệ trẻ khỏi các vấn
đề về sức khỏe tâm thần và sử dụng chất gây nghiện Mối quan hệ này đúng ở cả trẻ nam
và trẻ nữ Tuy nhiên, kết quả khảo sát tại một số nước Đông Nam Á lại chỉ ra tỷ lệ lớn vị
thành niên cảm thấy sự gắn kết giữa họ và cha mẹ, gia đình ở mức thấp (Biểu đồ 2) [45]
Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ tự đánh giá sự gắn kết với cha mẹ ở mức thấp của trẻ vị thành
niên 13 – 17 tuổi tại một số nước Đông Nam Á
Nghiên cứu của Ngô Thanh Hồi - Bệnh viện Tâm thần Ban ngày Mai Hương còn cho thấy định kiến về giới, phân biệt giới tính hay sự phân biệt đối xử của ông bà,
Trang 29cha mẹ cũng có tác động tiêu cực đến ứng xử của vị thành niên [3] Nghiên cứu về rối nhiễu tâm lý ở trẻ em sống trong bạo lực gia đình, sử dụng bảng tự đánh giá YSR cho thấy, trong 141 trẻ đang sống trong gia đình bạo lực có 28,3% trẻ bị rối nhiễu tâm lý với các dấu hiệu lâm sàng điển hình, 35,3% trẻ đang ở trạng thái ranh giới giữa bình thường
và bệnh lý Trẻ em sống trong gia đình có bạo lực bị rối nhiễu tâm lý sẽ gặp khó khăn trong việc thích ứng xã hội, giải quyết tình huống có vấn đề và học đường nhiều hơn so với các trẻ em bình thường khác[8] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Anh trên đối tượng học sinh THPT Cầu Giấy cũng chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng có vấn đề về sức khoẻ tâm thần với mối quan hệ đối xử của cha mẹ, gia đình: gia đình/cha mẹ có thái độ cư xử mỉa mai, chê bai; đối xử thờ ơ, lạnh nhạt với con khá thường xuyên trở lên và con bị cha mẹ mắng chửi thì con có nguy cơ gặp các vấn đề về sức khoẻ tâm thần cao hơn so với trẻ chỉ bị thỉnh thoảng, hiếm khi bị [1]
5.3 Yếu tố nhà trường
Hoạt động học tập là một hoạt động chủ yếu của học sinh THPT và thời lượng các em đi học/tự học cũng chiếm phần lớn thời gian trong ngày của các em Ở cấp học này, các em cũng ý thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập Hoạt động học tập góp phần nhiều hình thành và phát triển nhân cách Chính vì vậy, nếu môi trường học tập gây cho các em những ức chế như bị giáo viên mắng, phương pháp giảng dạy – học tập không phù hợp, học thầy cô không thích hay sự quan tâm của thầy cô là yếu tố nguy cơ đối với vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh Khảo sát SAVY 2 (2009) cho thấy, những học sinh có mức độ gắn kết với nhà trường cao hơn thì tỷ lệ hành vi có hại của học sinh, tần suất cảm thấy buồn chán, tụ tập gây rối v.v cũng thấp hơn [13] Bên cạnh đó, những học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần cũng có nguy cơ vi phạm nội quy, gây rối nhiều hơn Nghiên cứu về mối liên quan giữa rối nhiễu tâm trí và hành
vi bạo lực học đường mà chính mình đã từng thực hiện trong năm học tại Lâm Đồng, có 39,3% học sinh xác nhận thỉnh thoảng vi phạm; 14,7% báo cáo thường xuyên vi phạm Trong số học sinh có hành vi bạo lực thì có đến 54,5% là từ những học sinh bị rối nhiễu hành vi, 60,1% là từ những học sinh bị rối nhiễu chung, mối liên hệ giữa 2 biến này có ý nghĩa thống kê [5] Bảng 1.2 dưới đây tổng hợp kết quả nghiên cứu của WHO (2005) và một số nghiên cứu khác về những yếu tố nguy cơ, yếu tố bảo vệ trẻ, chia thành 4 nhóm
Trang 30độc lập gồm sinh học, cá nhân, gia đình, trường học và cộng đồng ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần[13, 14, 35, 43, 45]:
Bảng 1.2: Một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của vị thành niên Nhóm yếu tố Các yếu tố nguy cơ Các yếu tố bảo vệ
Sinh học - Yếu tố gia đình có người bị rối
- Có sức khỏe thể lực tốt
- Có chức năng trí tuệ tốt
Cá nhân - Kết quả học tập kém
- Nhân cách: khó gần, hướng nội, khép kín
- Mâu thuẫn trong gia đình, bạo lực gia đình
- Gia đình có người mất
- Gia đình gắn bó
- Bố mẹ có trách nhiệm với trẻ
- Được gia đình coi trọng
Trường học - Thời lượng học quá nhiều, khối
lượng kiến thức cần tiếp thu lớn
- Môi trường học và lớp học không thuận lợi
- Giám sát học tập không phù hợp hoặc không đầy đủ
- Bắt nạt học đường, là nạn nhân của bạo lực học đường
- Được tham gia các hoạt động trong trường, lớp
- Có bạn bè
- Có thành tích học tập tốt
- Có sự gắn kết với thầy cô
Trang 31Cộng đồng - Cộng đồng thiếu quan tâm chăm
sóc, mâu thuẫn với hàng xóm, xung quanh có nhiều tội phạm, bạo lực,
hư hỏng, không có mối liên hệ vớicộng đồng
VI Khung lý thuyết
Khung lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần ở học sinh THPT được xây dựng nhằm giải quyết 2 mục tiêu: (1) Mô tả sức khoẻ tâm thần của học sinh trường THPT Đan Phượng, huyện Đan Phượng, Hà Nội năm 2018; (2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến sức khoẻ tâm thần của học sinh trường THPT Đan Phượng, huyện Đan Phượng, Hà Nội năm 2018 Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên 3 yếu
tố là: yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình và yếu tố trường học
Trang 32- Rƣợu, bia và các chất gây
nghiện, sử dụng internet, thể thao
Yếu tố gia đình:
+ Thông tin về gia đình: tình trạng
hôn nhân của bố mẹ, trình độ học
- Vấn đề cảm xúc
- Vấn đề hành vi ứng
xử
- Vấn đề tăng động giảm chú ý
- Vấn đề quan hệ nhóm bạn
- Vấn đề kĩ năng tiền
xã hội
Trang 33VII Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu
Trường THPT Đan Phượng là trường công lập nằm ở ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm khoảng 20 km về phía Tây thành phố Trường có bề dày lịch sử hơn 55 năm, có nhiều thành tích trong dạy và học Trường cũng là điểm trường có đầu vào cao nhất trong 3 trường THPT tại huyện Năm học 2017 – 2018, trường có tổng cộng 36 lớp với 1640 học sinh, trong đó khối 10 có 12 lớp, khối 11 có 11 lớp và khối 12 có 13 lớp, trung bình mỗi lớp có khoảng 45,5 em
Trường hiện có một cán bộ trình độ điều dưỡng làm cán bộ y tế học đường, có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho các em học sinh trong trường Các hoạt động y
tế học đường được triển khai gồm khám sức khỏe định kỳ, phòng chống tật cận thị, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trong canteen trường… Hiện chưa có một nghiên cứu hay can thiệp về sức khỏe tâm thần cho học sinh trong trường
Trang 34CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Là học sinh trường THPT Đan Phượng tại thời điểm nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn:
-Là học sinh của trường THPT Đan Phượng tại thời điểm nghiên cứu -Có đủ năng lực trả lời phát vấn
-Tự nguyện tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
-Từ chối tham gia trả lời hoặc phụ huynh không cho phép các em tham gia nghiên cứu
-Vắng mặt tại thời điểm thu thập số liệu -Không đủ năng lực để trả lời phát vấn
2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 2/2018 – 5/2018
Địa điểm nghiên cứu: Trường THPT Đan Phượng, huyện Đan Phượng, Hà Nội
3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu định lượng được tiến hành nhằm mô tả thực trạng sức khỏe tâm thần và một số yếu tố liên quan Phương pháp này nhằm cung cấp các thông tin cơ bản cho nghiên cứu như tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần, mức
độ học sinh đánh giá về áp lực của chương trình học tập, mối quan hệ với bạn bè, thầy
cô, cha mẹ và các mối quan hệ xã hội khác của các em Sau đó sử dụng phương pháp phân tích đơn biến và đa biến để tìm hiểu các mối liên quan giữa các yếu tố độc lập với vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh
4 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu: sử dụng công thức tính cỡ mẫu xác định tỷ lệ trong quần thể:
Trang 35DE d
p p
2
2 2 /
Trong đó:
+ p = 0,27 – p là ước lượng tỷ lệ học sinh có vấn đề sức khoẻ tâm thần theo nghiên cứu của tác giả Đặng Thùy Linh về Sức khỏe tâm thần và một số yếu tố liên quan ở học sinh trung học phổ thông Hồng Hà – Nguyễn Khuyến, Hà Nội năm 2016 [14] + Z = 1.96 ứng với độ tin cậy 95% thì z =1,96
+ α: là mức ý nghĩa thống kê, lấy α = 5%
+ d = 0,07 (giá trị sai số tuyệt đối của kết quả nghiên cứu)
+ DE = 2 (giá trị hiệu ứng thiết kế)
+ Ước lượng 10% học sinh từ chối trả lời
Thay vào công thức ta tính được n = 340 đối tượng
Thực tế thu thập trên 381 đối tượng, có 23 đối tượng vắng mặt/từ chối tham gia Số phiếu thu về hợp lệ để nhập liệu và phân tích là 358 phiếu
Phương pháp chọn mẫu
Coi mỗi lớp là một cụm mẫu Tiến hành chọn mẫu nhiều giai đoạn:
- Giai đoạn 1 – chọn số lượng lớp: mỗi lớp ở trường có khoảng 42 học sinh, cỡ mẫu tối thiểu là 340 nên chọn 340 : 45 = 8,2 lớp nên làm tròn thành 9 lớp Mỗi khối chọn 3 lớp để tham gia vào nghiên cứu này
- Giai đoạn 2 – chọn lớp: Tên mỗi lớp được ghi vào một phiếu thăm Bốc thăm tên lớp trong từng khối Tổng cộng có 9 lớp, tương đương 9 cụm được chọn
- Giai đoạn 3 – chọn học sinh: trong mỗi lớp được chọn, chọn toàn bộ học sinh của lớp đó đáp ứng tiêu chí lựa chọn vào nghiên cứu Kết quả, có 358 học sinh tham gia vào nghiên cứu, trong đó vắng mặt 16 em, từ chối trả lời 7 em
Trang 36có 3 lựa chọn trong mỗi câu là không đúng – đúng một phần – rất đúng
Cấu phần 2 được xây dựng dựa trên cơ sở tổng quan tài liệu, bảng hỏi MSPSS
(Multidimensional Scale of Perceived Social Support); tham khảo bộ công cụ trong một
số đề tài nghiên cứu về chủ đề bắt nạt học đường (tác giả Lê Thị Hải Hà), áp lực học tập, stress và SKTT (tác giả Phạm Thị Thu Ba) trên đối tượng học sinh THCS và THPT cùng một số câu hỏi khác về nhân khẩu học, một số yếu tố về gia đình, nhà trường của đối
tượn nghiên cứu (Phụ lục 1) [38, 40]
Một số chi tiết về bộ công cụ SDQ và MSPSS:
Bộ công cụ SDQ được thiết kế để điều tra 5 nhóm vấn đề bao gồm:
36 lớp của trường THPT Đan Phượng, Hà Nội
Trang 37- Vấn đề cảm xúc: buồn rầu, thất vọng, suy nhược, sợ hãi lo lắng, mất quan tâm thích thú, ngại giao tiếp bạn bè Được đo lường bởi câu 3;8;13;16;24
- Vấn đề hành vi ứng xử: tức giận, mất tự chủ, thích bạo lực, thích gây hấn Đo lường bởi câu 5;7;12;18;22
- Vấn đề tăng động giảm chú ý: căng thẳng, bồn chồn, luôn ngọ nguậy, hấp tấp bốc đồng, không thể tập trung chú ý để làm một việc gì đến nơi đến chốn Đo lường bởi câu 2;10;15;21;25
- Vấn đề quan hệ bạn bè: cách biệt, thích một mình, ít quan hệ, thiếu hòa hợp, không được các bạn yêu mến Đo lường bởi câu 6, 11, 14, 19 và 23
- Vấn đề giao tiếp xã hội: không thân thiện, tình nguyện, không chia sẻ, không giúp đỡ mọi người, tỏ ra vô cảm với xung quanh, được đo lường bởi các câu 1, 4, 9, 17,
20
Quy trình thu thập số liệu:
Bộ công cụ đã được điều tra thử nghiệm trên năm học sinh trường THPT Đan Phượng và không thuộc lớp được chọn vào mẫu nghiên cứu, sau đó chỉnh sửa trước khi đưa vào tập huấn điều tra viên và phát vấn học sinh Phát phiếu đồng ý của phụ huynh cho con em mình tham gia điều tra
Buổi phát vấn học sinh được Ban Giám hiệu sắp xếp vào tiết sinh hoạt của 9 lớp Lựa chọn 6 điều tra viên (là những người đã có kinh nghiệm thu thập số liệu), 3 điều tra viên phụ trách 2 lớp và 3 điều tra viên phụ trách 1 lớp Sau khi tập huấn về nội dung bộ câu hỏi, cách hướng dẫn học sinh điền phiếu, soát phiếu, nhóm điều tra bắt đầu thu thập
số liệu
Phiếu phát vấn được thu ngay sau khi các em hoàn thành Khi thu phiếu, điều tra viên rà soát phiếu, nếu có thông tin chưa đầy đủ hoặc chính xác, điều tra viên yêu cầu học sinh bổ sung, sửa thông tin, sau đó mới nộp lại
6 Khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
Bộ công cụ SDQ-25:
Có 3 cách lựa chọn tương ứng với số điểm là: 0 điểm = Không đúng; 1 điểm = Đúng 1 phần; 2 điểm = Chắc chắn đúng Riêng câu 7, 11, 14, 21, 25 thay đổi 2 điểm = Không đúng; 1 điểm = Đúng 1 phần; 0 điểm = chắc chắn đúng Khi đánh giá SKTT chỉ
Trang 38tính tổng điển của 4 cấu phần: vấn đề cảm xúc, hành vi, tăng động giảm chú ý và quan
hệ nhóm bạn Cộng điểm của từng ĐTNC và sử dụng điểm cắt > 15 để đánh giá tình trạng gặp các vấn đề sức khoẻ tâm thần của học sinh ở 2 mức: bình thường và có vấn đề
về SKTT(Bảng 3) Tổng điểm tối đa là 40 điểm, thấp nhất là 0 điểm [41]
Bảng 2.1 Bảng điểm đánh giá các mức độ vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh
Bộ công cụ MSPSS (Multidimensional Scale of Perceived Social Support): sử
dụng để đánh giá biến số mức độ hỗ trợ bạn bè, gia đình và nhà trường Trong nghiên
cứu này, tôi trích lược 4 câu để đánh giá mức độ hỗ trợ bạn bè (VD: Các bạn em thực sự giúp đỡ em) và 4 câu để đánh giá mức độ hỗ trợ của gia đình (VD: Gia đình em sẵn sàng giúp đỡ để em ra quyết định nào đó), 4 câu đánh giá mức độ hỗ trợ của nhà trường (VD:
Em có một thầy, cô giáo trong trường ở xung quanh em khi em cần) Sử dụng thang chấm điểm Likert 3 cấp độ: 0 = không đồng ý; 1 = đúng một phần; 2 = đồng ý Điểm số của mỗi cấu phần được cộng lại, điểm tổng từ 0 – 3 là nhận được hỗ trợ ít; từ 4 – 6 là nhận được hỗ trợ nhiều
Trang 39Phần phân tích: kiểm định χ2 được sử dụng để tìm hiểu những mối liên quan giữa
tỷ lệ học sinh có rối loạn tâm thần với các nhóm biến số về cá nhân, gia đình, trường học
và xã hội Sau đó sử dụng mô hình hồi quy logistic để xác định yếu tố liên quan trong khi kiểm soát yếu tố nhiễu giữa biến độc lập và biến phụ thuộc
- Nhóm biến số thực trạng vấn đề SKTT: 25 câu hỏi trong bộ công cụ SDQ – 25
- Nhóm biến số yếu tố cá nhân: áp lực học chính khóa và học thêm; thời gian sử dụng internet; thời gian chơi điện tử; các hoạt động giải trí; thói quen sử dụng rượu/bia, thuốc lá/thuốc lào/thuốc lá điện tử; thuốc phiện, cần sa hoặc 1 số chất kích thích khác
- Nhóm biến số gia đình: cấu trúc gia đình, tình trạng hôn nhân của bố mẹ, trình
độ học vấn của bố/mẹ, nghề nghiệp chính của bố mẹ, dự định trong tương lai của bố mẹ với con cái, mức độ bố mẹ kiểm tra bài vở, đối xử với ĐTNC, mức độ hỗ trợ của gia đình
- Nhóm biến số trường học: mức độ hỗ trợ của thầy/cô giáo, mức độ hỗ trợ của bạn bè, bị bắt nạt học đường, bắt nạt học đường, bị thầy/cô mắng trước lớp, vi phạm nội quy nhà trường
9 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được tuân thủ theo những quy định của đạo đức trong nghiên cứu Nghiên cứu được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua số 013/2018/YTCC-HD3 ngày 29 tháng 1 năm 2018
Nghiên cứu đã xin phép và được thông qua bởi BGH Trường THPT Đan Phượng, sau đó gửi phiếu đồng ý cho con em mình tham gia nghiên cứu tới phụ huynh học sinh trường THPT Đan Phượng
Trang 40Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được thông báo, giải thích về quyền từ chối trả lời bất cứ câu hỏi nào trong bộ câu hỏi Các đối tượng cũng được giải thích rõ mục đích và nội dung nghiên cứu trước khi tiến hành phát vấn, nhấn mạnh tính khuyết danh và giữ bí mật thông tin để đối tượng nghiên cứu tự nguyện hợp tác tốt trong quá trình nghiên cứu
Trong quá trình nhập liệu, phân tích và báo cáo, phiếu điều tra được mã hóa để đảm bảo tính riêng tư của các đối tượng nghiên cứu,.Thông tin trên phiếu chỉ sử dụng để phục vụ cho mục đích học tập và nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích khác Tầm quan trọng của tính bảo mật và việc bảo vệ danh tính của đối tượng nghiên cứu được nhấn mạnh trong quá trình tập huấn điều tra viên
Tất cả các phiếu điều tra hoàn thiện được lưu trữ trong tủ có khóa và chỉ có học viên mới có thể truy cập vào các dữ liệu