TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, sức khỏe tâm thần ngày càng được quan tâm, trong đó stress là vấn đề khá phổ biến và gây nên nhiều hậu quả nặng nề, Điều dưỡng là ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRỊNH XUÂN QUANG
TÌNH TRẠNG STRESS CỦA ĐIỀU DƯỠNG CÁC KHOA LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN ĐA
KHOA TRUNG TÂM TIỀN GIANG NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hà Nội- 2018
Trang 2KHOA TRUNG TÂM TIỀN GIANG NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TẠ VĂN TRẦM
Hà Nội- 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, Em đã nhận được nhiều sự động viên, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện thuận lợi của các cấp lãnh đạo, của
quý thầy cô, của các bạn đồng nghiệp và gia đình
Em chân thành cảm ơn: Hội đồng đạo đức, Hội đồng khoa học; Ban Giám Hiệu nhà trường, Phòng đào tạo sau đại học, quý Thầy Cô các Bộ môn trường Đại học Y tế Công cộng; Ban Giám Đốc, đội ngũ cán bộ y tế Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang; các anh chị bạn bè cùng lớp thạc sĩ Y tế Công cộng khóa 20 Tiền Giang đã tận tình chia sẽ kinh nghiệm, cung cấp tài liệu tạo điểu kiện thuận lợi, đóng góp những ý
kiến quý báu cho việc nghiên cứu hoàn thành đề tài
Đặc biệt, Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy PGS TS BS Tạ Văn Trầm và
Cô Ths Trần Thị Thu Thủy đã hướng dẫn khoa học, luôn tận tâm bồi dưỡng kiến thức, phương pháp nghiên cứu, năng lực tư duy và trực tiếp giúp đỡ học viên hoàn thành
luận văn này
Mặc dù rất cố gắng trong quá trình thực hiện, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, học viên kính mong nhận được những lời chỉ dẫn ân cần của các thầy
cô, ý kiến trao đổi của các đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Tiền Giang, tháng 8 năm 2018
Trịnh Xuân Quang
Trang 4MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN I MỤC LỤC II DANH MỤC CÁC BẢNG VI TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VII
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU……….5
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Giới thiệu về stress và điều dưỡng 4
1.1.1 Khái niệm về stress 4
1.1.2 Các khái niệm về Điều dưỡng… ………7
1.1.3 Các mức độ của stress 5
1.1.4.Các biểu hiện của stress 6
1.1.5.Ảnh hưởng của stress 7
1.1.6 Nguyên nhân của stress 7
1.2.Thực trạng stress của điều dưỡng trên Thế giới và Việt Nam 8
1.2.1.Thực trạng stress của điều dưỡng trên Thế giới 8
1.2.2 Thực trạng stress tại Việt Nam 11
1.3 Một số yếu tố liên quan đến stress ở điều dưỡng 13
1.3 1.Yếu tố cá nhân 13
1.3.2.Yếu tố gia đình 13
1.3.3.Yếu tố công việc 14
1.3.4.Yếu tố môi trường văn hóa, xã hội 16
1.4.Giới thiệu về bộ công cụ DASS 21 của Lovibond 17
Trang 51.5 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 20
1.6 Khung lý thuyết 21
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.3 Thiết kế nghiên cứu 23
2.4 Cỡ mẫu 23
2.4.1 Cỡ mẫu cho cấu phần định lượng 23
2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính 24
2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 24
2.5.1.Công cụ thu thập số liệu 24
2.5.2.Cách thức thu thập số liệu 257 2.5.3 Điều tra viên 25
2.5.4 Quy trình giám sát……… 28
2.6.Quản lý và phân tích số liệu 26
2.6.1.Quản lý số liệu 26
2.6.2.Phân tích số liệu 26
2.7 Biến số trong nghiên cứu 27
2.8 Các tiêu chí đánh giá điều dưỡng bị stress 27
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 28
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đặc điểm cá nhân và gia đình của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) 302
3.2 Tỷ lệ điều dưỡng bị stress tại các khoa lâm sàng tại bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018 40
Trang 63.3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của điều dưỡng lâm sàng tại
bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang 40
Chương 4 BÀN LUẬN 61
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 61
4.2 Tình trạng stress của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng tại bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, năm 2018 62
4.3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của điều dưỡng ở các khoa lâm sàng tại bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang 64
4.3.1 Mối liên quan giữa tình trạng stress với yếu tố về đặc điểm cá nhân 64
4.3.2 Mối liên quan giữa tình trạng stress với yếu tố về gia đình 66
4.3.3 Mối liên quan giữa tình trạng stress với yếu tố xã hội 67
4.3.4 Mối liên quan giữa tình trạng stress với áp lực công việc 68
4.3.5 Mối liên quan giữa tình trạng stress với môi trường làm việc 70
4.3.6 Mối liên quan giữa tình trạng stress với các mối quan hệ nơi làm việc 73
4.3.7 Mối liên quan giữa tình trạng stress với tổ chức công việc và mức độ động viên khuyến khích 79
4.4 Hạn chế của nghiên cứu 76
KẾT LUẬN 78
KHUYẾN NGHỊ……….83
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 84
Phụ lục 1 BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 88
Phụ lục 2 PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU 89
Phụ lục 3 PHIẾU ĐIỀU TRA 90
Phụ lục 4 NỘI DUNG HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM 97
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSNB Chăm sóc người bệnh
CS II Chăm sóc cấp II
CS III Chăm sóc cấp III
DASS Thang đánh giá trầm cảm, lo âu, stress (Depression,
Anxiety and Stress Scale) ĐVKK Động viên khuyến khích
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
ILO Tổ chức Lao động quốc tế (International Labour
Organization)
NNNB Người nhà người bệnh
NIOSH Viện Sức khỏe và An toàn nghề nghiệp Hoa Kỳ
(National Institute for Occupational Safety and Health)
SAS Thang đánh giá lo âu Zung (Self-Rating Anxiety Scale)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Các mức độ stress theo Dass 21 của Lovibond……… 22
Bảng 2: Điểm về các mức độ stress theo Dass 21-stress của Lovibond 30
Bảng 3.1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 32
Bảng 3.2.Thông tin về yếu tố gia đình của đối tượng nghiên cứu 33
Bảng 3.3.Thông tin về yếu tố xã hội của đối tượng nghiên cứu 34
Bảng 3.4: Đặc điểm về nội dung và áp lực công việc của ĐTNC 35
Bảng 3.5: Đặc điểm về môi trường làm việc của ĐTNC 36
Bảng 3.6: Đặc điểm về mối quan hệ của ĐTNC 37
Bảng 3.7: Đặc điểm về ĐVKK và phát triển nghề nghiệp 39
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ stress của điều dưỡng theo mức độ 40
Bảng 3.8: Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học và stress 40
Bảng 3.9: Mối liên quan giữa yếu tố gia đình và tình trạng stress 44
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa yếu tố xã hội và tình trạng stress 46
Bảng 3.11: Mối liên quan giữa nội dung và áp lực công việc với stress 47
Bảng 3.12: Mối liên quan giữa môi trường làm việc với stress 50
Bảng 3.13: Mối quan hệ của ĐTNC tại nơi làm việc liên quan với stress 58
Bảng 3.14: Mối liên quan của tổ chức công việc và ĐVKK với stress 61
Bảng 3.15: Mối liên quan của tình trạng stress đối với các yếu tố bằng phân tích hồi qui Logistic: 41
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, sức khỏe tâm thần ngày càng được quan tâm, trong đó stress là vấn đề khá phổ biến và gây nên nhiều hậu quả nặng nề, Điều dưỡng là nghề đặc thù, đặc biệt là điều dưỡng khối lâm sàng là những người có thời gian tiếp xúc, chứng kiến những bệnh tật, đau đớn của bệnh nhân cũng như các yếu
tố nguy cơ liên quan đến công việc hàng ngày dễ dẫn đến stress
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3/2018 đến tháng 6/2018, với phương pháp mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính, theo trình tự định lượng trước
và định tính sau; thu thập thông tin qua bộ câu hỏi tự điền với sự tham gia của 316 điều dưỡng viên các khoa lâm sàng được tiến hành tại bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang với mục tiêu: Xác định tình trạng stress và các yếu tố có liên quan đến tình trạng stress điều dưỡng viên lâm sàng
Bộ câu hỏi tự điền sử dụng Thang đo DASS 21 để xác định tỷ lệ và mức độ stress Kết hợp thảo luận nhóm các Điều dưỡng có mức độ stress vừa, stress nặng và nhóm nặng – rất nặng, các câu hỏi tập trung vào những yếu tố được xem là liên quan đến tình trang stress của ĐDV Độ tin cậy của bộ câu hỏi điều tra stress có hệ số tin cậy (giá trị Cronbach’ Anpha) khá cao là 0,779 Số liệu được nhập bằng phần mềm Epi Data 3.1 và xử lý bằng phần mềm SPSS 18.0, sử dụng hồi quy logistic để loại bỏ yếu tố nhiễu khi tìm hiểu một số yếu tố liên quan Các thông tin định tính thu được, được gỡ băng, tổng hợp và phân tích theo nhóm chủ đề liên quan nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng stress của điều dưỡng
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ stress của điều dưỡng tại khoa lâm sàng của Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018 là 21,5%; trong đó các mức độ nhẹ, vừa, nặng và rất nặng lần lượt là 12,6%, 5,4%, 3,2% và 0,3% Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến xác định được một số yếu tố liên quan với stress của điều dưỡng: ĐDV trực trên 5 ngày/tháng có khả năng stress cao gấp 2,18 lần (p= 0,045), ĐDV làm việc trong môi trường có nguy cơ lây các bệnh truyền nhiễm bị stress cao gấp 4 lần (p= 0,022), ĐD phải chăm sóc hơn 20 bệnh nhân /ngày bị stress gấp 4,89 lần so với ĐD chăm sóc ít hơn 20 bệnh nhân/ ngày (p= 0,004); Với ĐDV thường
Trang 10xuyên chứngkiến các phản ứng không tốt của người bệnh, người nhà bị stress cao gấp 3,96 lần (p=0,009), trong khi đó, ĐDV phải chăm sóc con dưới 5 tuổi bị stress cao gấp 4,52 lần (p=0,001), Ngoài ra, ĐDV là người đem lại nguồn thu nhập chính trong gia đình bị stress cao 3,58 lần (p= 0,001)
Khuyến nghị: Bệnh viện cần tăng thêm ĐD để đủ nhân lực chăm sóc bệnh nhân, cải thiện môi trường làm việc nhằm hạn chế tối đa các yếu tố lây nhiễm cho
ĐD, tăng cường các biện pháp bảo vệ ĐD trước những thái độ không tốt của bệnh nhân và người nhà Đồng thời bệnh viện cần tiến hành sàng lọc stress trong toàn bệnh viện để phát hiện sớm và có hướng can thiệp kịp thời, có thêm các nghiên cứu chuyên sâu để đánh giá nguy cơ thực sự dẫn đến stress các đối tượng khác trong bệnh viện
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) đã định nghĩa: “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ giới hạn ở tình trạng không bệnh, tật”, qua đó có thể thấy sức khỏe tinh thần là một trong những thành tố quan trọng cấu thành sức khỏe cho mỗi cá nhân[34]
Theo TCYTTG, loài người đã trải qua “thời đại bệnh truyền nhiễm”, “thời đại bệnh thể xác” và đang chuyển sang “thời đại bệnh tinh thần” trong thế kỷ XXI [18], [37] Stress liên quan đến nghề nghiệp là một trong những căn bệnh hàng đầu gây tổn thương đến người lao động Những nghiên cứu mới nhất đã cho thấy hậu quả xấu của tình trạng stress kéo dài liên tục làm ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe tâm thần, trong đó có stress, đồng thời ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất của người lao động như tăng nguy cơ bị huyết áp cao, rối loạn vận mạch, bệnh tim mạch, rối loạn giấc ngủ,… Stress không chỉ ảnh hưởng đến từng cá thể bao gồm chất lượng công việc, giảm năng suất lao động mà còn ảnh hưởng đến cả cộng đồng xung quanh Theo khảo sát của Viện Sức khỏe và An toàn nghề nghiệp quốc gia Hoa Kỳ (NIOSH) năm 2007, có 40% người được hỏi cho rằng, stress là nguyên nhân chính khiến người lao động phải đi bệnh viện [37]
Bên cạnh sự phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân ngày càng nâng cao, đòi hỏi ngành y tế phải nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ,
do vậy áp lực công việc ngày càng lớn [1] Sức ép quá lớn của công việc khiến tỷ lệ nhân viên y tế bao gồm cả ĐDV có thể bị stress cao Những ảnh hưởng của stress liên quan nghề nghiệp lại diễn biến trong thời gian kéo dài, nên việc đánh giá đầy đủ những tác động của nó đối với sức khỏe của các nhân viên y tế (NVYT) là một việc làm hết sức cần thiết
Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang là bệnh viện Đa khoa hạng I có phân tuyến chuyên môn cao nhất của ngành Y tế trong tỉnh Tiền Giang.Tổng số giường kế hoạch là 780, thực kê là: 1.256 giường Công suất sử dụng giường bệnh 128% Tổng số nhân viên là: 855 Cơ cấu tổ chức gồm Ban Giám đốc, 8 phòng chức
Trang 12năng, 20 khoa lâm sàng và 07 khoa cận lâm sàng Số bệnh nhân điều trị nội trú trung bình 1.300 – 1.400/ ngày; biên chế Điều dưỡng lâm sàng 358, Điều dưỡng chăm sóc trung bình 10 – 15 bệnh nhân/ ngày.
Đi đôi với nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao là gia tăng áp lực công việc cho NVYT, trong đó phải kể đến đối tượng điều dưỡng Đây là lực lượng lao động chiếm phần lớn trong tổng số nhân viên bệnh viện, là những người trực tiếp có mặt điều trị, chăm sóc cho bệnh nhân, đây là nhóm nhân viên chịu nhiều áp lực hơn
về công việc (thời gian làm việc, trực đêm, trực tiếp chăm sóc bệnh nhân ) so với các nhân viên khác trong bệnh viện (trừ bác sĩ) ĐD là nghề đặc thù chịu nhiều áp lực
cả về thể chất lẫn tinh thần, hàng ngày họ phải tiếp xúc hàng loạt các tình huống có thể gây căng thẳng như: khối lượng công việc nhiều, nguy cơ lây nhiễm, môi trường làm việc không an toàn…Tình trạng quá tải bệnh nhân cùng với nhân lực điều dưỡng còn thiếu, một số áp lực từ người bệnh như: nhu cầu chăm sóc ngày càng cao, thái độ không tốt của bệnh nhân và người nhà, áp lực từ những qui định thủ tục hành chính quá nhiều và chồng chéo, các khoản thanh toán chi phí BHYT ít nhiều gây stress cho điều dưỡng
Ngoài ra, từ trước đến nay chưa có nghiên cứu nào về stress của nhân viên y tế nói chung hay điều dưỡng nói riêng tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang
Do vậy, tôi tiến hành nghiên cứu “ Tình trạng stress của điều dưỡng các khoa lâm sàng và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang
phần giảm thiểu vấn đề stress cho nhân viên điều dưỡng tại bệnh viện
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả tình trạng stress của điều dưỡng các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, năm 2018
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của điều dưỡng các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, năm 2018
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về stress và điều dưỡng
1.1.1 Khái niệm về stress
Trong cuộc sống hiện đại, thuật ngữ stress xuất hiện ngày càng nhiều, bao gồm các biểu hiện khó chịu hay những áp lực của đời sống cá nhân Bác sĩ chuyên khoa thần kinh nổi tiếng của Hoa Kỳ - Walter Cannon - là người đầu tiên đưa ra khái niệm về stress vào năm 1915 Theo ông, stress là biểu hiện khó chịu hay những
áp lực của đời sống cá nhân [23]
Hiện nay, stress là một thuật ngữ được dùng rộng rãi, tuy nhiên mỗi tác giả
sử dụng so với thời kỳ đầu, các nghiên cứu về stress đã có nhiều phát triển đáng kể Dưới đây là một số định nghĩa về stress: “Stress xuất hiện khi cá nhân nhận thấy rằng, họ không thể ứng phó được với những yêu cầu cuộc sống hằng ngày hoặc cơ thể khỏe mạnh của họ không được đảm bảo” (R.S.Lazarus, 1966) [35] “Stress là kết quả của sự mất cân bằng giữa yêu cầu và nguồn lực” (R.S.Lazarus và S.Folkman, 1984) [27] Stress bao gồm 2 khía cạnh: Tình huống stress dùng để chỉ tác nhân kích thích gây ra stress và đáp ứng stress dùng để chỉ trạng thái cơ thể con người phản ứng với stress (Đỗ Mạnh Tôn, 2008) [18]
Stress do nghề nghiệp được Viện nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ về sức khỏe
và an toàn nghề nghiệp (NIOSH) định nghĩa là “những phản ứng về thể chất và cảm xúc tiêu cực xảy ra khi có những đòi hỏi của công việc nhưng chưa tương xứng với năng lực hoặc nhu cầu của người làm việc”(NIOSH) [32]
Stress liên quan nghề nghiệp: là sự tương tác giữa các điều kiện lao động với đặc trưng của người lao động khiến cho các chức năng bình thường về tâm lý hay sinh lý hoặc cả hai bị thay đổi Nói cách khác stress nghề nghiệp là những đòi hỏi lao động vượt quá năng lực ứng phó của người lao động [9]
Như vậy có thể xem stress như sự đáp ứng của con người trước một nhu cầu hoặc là sự tương tác trong mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh Trong điều kiện bình thường, stress là một đáp ứng thích nghi về mặt tâm lý, sinh học và tập tính Stress đặt con người vào quá trình sắp xếp thích ứng với môi trường
Trang 15xung quanh, tạo cho cơ thể một cân bằng mới sau khi chịu đựng những tác động của môi trường Nói theo cách khác, stress bình thường góp phần làm cho cơ thể thích nghi Nếu đáp ứng của cá nhân với stress không đầy đủ, không thích hợp và cơ thể không tạo ra được một cân bằng mới thì những chức năng của cơ thể ít nhiều bị rối loạn, dẫn đến những thay đổi về sinh lý, tâm lý, hành vi tạo ra những stress bệnh lý cấp tính hoặc kéo dài [13]
1.1.2 Các khái niệm về điều dưỡng
Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ
sự hồi phục của họ Người điều dưỡng có 4 vai trò: Người chăm sóc, người truyền đạt thông tin, người giáo viên, người tư vấn, người biện hộ cho người bệnh [14]
TCYTTG đánh giá dịch vụ chăm sóc sức khỏe do điều dưỡng, hộ sinh (gọi chung là điều dưỡng) cung cấp là một trong những trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế nên đã đưa ra nhiều nghị quyết về củng cố và tăng cường dịch vụ điều dưỡng toàn cầu phát triển nguồn nhân lực điều dưỡng có trình độ được coi là chiến lược quan trọng để tăng cường sự tiếp cận của người nghèo đối với các dịch vụ y tế, cũng như
đảm bảo công bằng trong ngành y tế [15].
Điều dưỡng là một nghề chuyên nghiệp Y học ngày càng phát triển đòi hỏi phải nâng cao kiến thức và trình độ chuyên nghiệp của điều dưỡng Việc đào tạo điều dưỡng ở bậc đại học và sau đại học đã tạo ra sự thay đổi về mối quan hệ giữa người thầy thuốc và người điều dưỡng, người điều dưỡng trở thành cộng sự của người thầy thuốc, một thành viên của nhóm chăm sóc thay vì chỉ là người thực hiện
у lệnh Bác sĩ và điều dưỡng là hai nghề có định hướng khác nhau: bác sĩ làm nhiệm
vụ chẩn đoán và điều trị Điều dưỡng chăm sóc và đáp ứng các nhu cầu cơ bản cho người bệnh về thể chất và tinh thần [15]
1.1.3 Các mức độ của stress
Theo Đặng Phương Kiệt [9] stress có 3 mức độ, trong đó stress ở mức độ nhẹ
là mức độ làm cho chủ thể cảm nhận như một thách thức, có thể là một kích thích làm tăng thành tích Stress ở mức độ vừa là mức độ phá vỡ ứng xử, có thể dẫn đến những hành động lặp đi lặp lại Stress ở mức độ nặng là mức độ ngăn chặn ứng xử
và gây ra những phản ứng lệch lạc
Trang 16Nguyễn Thành Khải [8] lại chia stress thành 3 mức độ dựa trên sự cảm nhận của chính chủ thể gồm mức độ rất căng thẳng khi chủ thể cảm nhận về mặt tâm lý là rất căng thẳng, khó chịu Mức độ căng thẳng khi chủ thể cảm nhận có sự căng thẳng cảm xúc, nếu mức độ này kéo dài sẽ chuyển qua mức độ rất căng thẳng Mức độ thứ
ba là ít căng thẳng khi chủ thể cảm nhận bình thường hoặc có yếu tố căng thẳng nhẹ Tuy nhiên việc phân chia này mang tính tương đối, không có những tiêu chuẩn
cụ thể để có thể phân biệt được sự khác nhau rõ rệt giữa các mức độ
Nguyễn Thị Hải [5] lại phân chia mức độ stress thành 3 mức độ: ít trầm trọng khi stress chỉ biểu hiện ở một mặt, không kéo dài, chủ thể có thể tự khắc phục được; mức độ thứ hai là trầm trọng biểu hiện ở hai hay một số mặt, lặp đi lặp lại trong thời gian tương đối dài, phải khắc phục trong một thời gian nhất định; mức độ thứ ba là rất trầm trọng biểu hiện ở nhiều mặt, diễn ra trong thời gian dài, phải khắc phục trong thời gian rất dài
1.1.4.Các biểu hiện của stress
Stress tiêu cực có thể phá vỡ cân bằng trong cuộc sống của con người làm nảy sinh nhiều vấn đề về sức khỏe như: suy kiệt, lo âu, trầm cảm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bản thân và xã hội [19]
Nhưng nếu nhìn nhận ở khía cạnh tích cực thì stress là phản ứng không thể thiếu ở con người, là biểu hiện đáp ứng của cá nhân đối với những yếu tố tác nhân, hay tình huống trong cuộc sống con người phải đối mặt Stress tích cực giúp chúng
ta thích nghi, hòa hợp để cùng sống chung với stress, biến nó thành động lực giúp con người phát triển [9]
Các dấu hiệu của stress bao gồm những bất thường về thể chất, cảm xúc, nhận thức và hành vi Có thể là sự kiệt sức, tự dưng thèm ăn hoặc bỏ ăn, đau đầu rối loạn giấc ngủ cùng những biểu hiện khó chịu khác Stress còn đi kèm với cảm giác bất an, giận dữ hoặc sợ hãi Người bị stress thường có các biểu hiện thực thể (như tăng nhịp tim, tăng huyết áp, nhức đầu, mệt mỏi, thở ngắn hơi, ra mồ hôi Biểu hiện
về cảm xúc (như cảm thấy khó chịu, dễ cáu gắt, buồn bã, chán nản, thờ ơ, không thân thiện, sa sút tinh thần…); Có những hành vi như lạm dụng chất kích thích (rượu, bia, thuốc lá ) dễ gây hấn, bất cần đời, xáo trộn các sinh hoạt hàng ngày (ăn
Trang 17uống, giấc ngủ), mất tập trung, hay quên, xa lánh mọi người, có vấn đề về tình dục Nếu stress kéo dài sẽ tổn hại hệ miễn dịch và các chức năng sinh lý khác, làm suy yếu khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể cũng như sự xâm nhập của vi khuẩn và làm tăng nguy cơ tử vong [16].
1.1.5.Ảnh hưởng của stress
Một số ảnh hưởng sinh lý, đồng thời là những biểu hiện cụ thể của stress [9]:
Ảnh hưởng đến tim: rối loạn nhịp tim (tim đập nhanh, mạnh), một số căng thẳng về tinh thần hoặc tình cảm, gây ra quá trình thiếu máu cơ tim cục bộ
Ảnh hưởng đến hệ bài tiết: đổ mồ hôi một cách khác thường (mồ hôi tay) Ảnh hưởng đến cơ khớp: khiến cơ bắp dễ căng cứng, mệt mỏi; lưng, cổ, hàm hay mặt dễ bị đơ hoặc đau nhức
Ảnh hưởng đến da: da trở nên kém mịn màng, nhanh lão hóa và dễ nổi mụn,
có khi còn làm xuất hiện các bệnh nguy hiểm khác như chàm bội nhiễm…
Ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa: khó tiêu, đầy hơi, buồn nôn và chướng bụng, tiêu chảy hoặc táo bón Đồng thời tạo ra những thay đổi trong ăn uống (ăn không ngon miệng, ăn quá nhiều hoặc ít hơn bình thường, không muốn ăn) dẫn đến cơ thể giảm cân đột ngột
Ảnh hưởng hệ sinh sản: Giảm nhu cầu tình dục, lãnh cảm, giao hợp đau, xuất tinh sớm…Đối với nữ thì có sự rối loạn kinh nguyệt, đau hơn khi hành kinh
Ảnh hưởng đến giấc ngủ: làm rối loạn giấc ngủ như khó ngủ, ngủ chập chờn, hay
thức giấc, hay có ác mộng
Ảnh hưởng đến hệ thần kinh: gây ra các chứng nhức đầu (đau nửa đầu, chóng mặt, hoa mắt và nhiều trường hợp gây ra chứng suy nhược thần kinh)
1.1.6 Nguyên nhân của stress
Giống như các chứng bệnh tâm thần khác, cho đến nay khoa học vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chính xác gây ra stress Các nhà khoa học cho rằng stress
có tính chất tự diễn tiến trong thời gian dài hoặc xảy ra một cách đột ngột quá sức chịu đựng của cá nhân Nguyên nhân có thể xuất phát từ môi trường bên ngoài, cũng có thể xuất phát từ chính bên trong con người Cùng một sự kiện tác động
Trang 18nhưng mỗi người sẽ có những nhận định riêng về sự kiện đó mang tính đe dọa, có hại hay thách thức và sẽ có các biểu hiện mức độ stress khác nhau Sự khác biệt đó
là do ở mỗi người có quá trình nhận thức diễn ra không như nhau Như vậy nguyên nhân xuất phát từ chính bản thân mỗi người là nguyên nhân quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ stress của mỗi cá nhân [41]
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố liên quan gây ra stress như các yếu tố thảm hoạ thiên nhiên (động đất, sóng thần, bão, lũ lụt ), các yếu tố xã hội nói chung (chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, tắc đường ), các yếu tố cá nhân (tuổi, giới tính, trình độ học vấn, vị trí công tác ), các yếu tố về công việc (nội dung công việc, môi trường làm việc, mối quan hệ với đồng nghiệp, sự động viên khuyến khích và phát triển trong nghề nghiệp ), các yếu tố gia đình (mất người thân, xung đột với các thành viên trong gia đình, ly thân/ly hôn…) (Đặng Phương Kiệt, 2004) [9], (E.B.Faragher, 2004) [23]
Như vậy các yếu tố gây ra stress, có thể được chia theo các cấp độ cá nhân, gia đình, tổ chức đơn vị và môi trường (tự nhiên và xã hội).Việc phân chia các yếu
tố gây stress chỉ mang tính tương đối Trên thực tế, một cá nhân bị stress có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau cùng tích hợp lại Ví dụ như một nhân viên Điều dưỡng bị rơi vào tình trạng stress, nguyên nhân có thể xuất phát từ việc cô ấy bị quá tải trong công việc Tuy nhiên, việc quá tải trong công việc đã có thể không trở thành nguyên nhân gây stress nếu cô ấy không phải lo lắng về đứa con đang bị ốm ở nhà Do đó, việc xác định chính xác nguyên nhân gây nên tình trạng stress của cá nhân không phải là việc đơn giản (Niosh, 2007) [33]
1.2.Thực trạng stress của điều dưỡng trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1.Thực trạng stress của điều dưỡng trên Thế giới
Một nghiên cứu tiền cứu được tiến hành tại Trường Đại học Y khoa Harran, Sanliurfa, Thổ Nhĩ Kỳ của T.Ulas và các cộng sự (2013), đánh giá các thông số oxy hóa gây stress ở 70 điều dưỡng làm việc ca ngày từ 8 giờ - 16 giờ (8 giờ) và 70 điều dưỡng làm việc ca đêm từ 16 giờ - 8 giờ (16 giờ) trong đơn vị hồi sức tích cực Kết quả phát hiện rằng, các thông số stress tăng lên vào cuối ca trực [38]
Hơn nữa, điều kiện làm việc căng thẳng có liên quan đến khả năng làm việc
Trang 19giữa các NVYT, và có nhiều yếu tố quan trọng gây stress tại các phòng khám và bệnh viện nơi mà nhân viên điều dưỡng thường làm việc [38] [28]
Nghiên cứu định tính của Mohsen Adib và cộng sự (2012), được tiến hành ở Kashan, Iran Số liệu được thu thập qua phỏng vấn sâu cá nhân với 19 điều dưỡng
có ít nhất hai năm kinh nghiệm và không có tiền sử của bệnh tâm thần Ba nội dung được phỏng vấn sâu gồm: nhận thức của điều dưỡng về stress nghề nghiệp, sự quan tâm đến nghề nghiệp và sự ưu tiên giữa sự nghiệp và cuộc sống gia đình Kết quả nêu lên rằng stress nghề nghiệp được định nghĩa là một điều kiện gây ra bởi các môi trường làm việc mà trong đó điều dưỡng bị áp lực tác động tiêu cực đến chăm sóc điều dưỡng và cũng phá vỡ gia đình, cuộc sống cá nhân của họ Một số ý kiến cho rằng cường độ stress có liên quan đến tuổi tác, kinh nghiệm làm việc, giờ làm việc trong tuần, nơi làm việc và nhân cách của điều dưỡng [22]
Stress cũng phát sinh từ việc thiếu chuẩn bị, thay đổi đột ngột tại nơi làm việc
Có ý kiến cho rằng: khi bạn đột nhiên chuyển sang một công việc mới, vấn đề này
có thể tạo ra stress, bởi vì các đồng nghiệp mà bạn làm việc cùng nhau được thay đổi và hoàn cảnh của người bệnh cũng khác nhau [22]
Theo quan điểm của điều dưỡng, những phát hiện như sau: (1) Luân phiên công việc giữa các điều dưỡng có thể có ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của
họ, (2) Luân chuyển công việc có thể có ảnh hưởng đến cam kết của tổ chức, (3) Việc làm hài lòng có thể có một tác động tích cực cam kết tổ chức, (4) Vai trò căng thẳng giữa các điều dưỡng có thể có một tác động tiêu cực về sự hài lòng công việc của họ, và (5) Vai trò căng thẳng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nỗ lực tổ chức của
họ [40]
Mặt khác, stress lại xảy ra khi đang làm việc bởi những lo lắng về công việc gia đình như một lời tâm sự của một điều dưỡng, chị ấy nói rằng: "Khi các con được đưa đến nhà trẻ bệnh viện, tôi luôn nghĩ về các con của mình Tôi luôn sợ có gì đã xảy ra với nó không ? Bởi vì người quản lý trường mẫu giáo là một người già đã không thể tự chăm sóc mình " [22] Điều này cho thấy rằng: cô ấy đang mất tập trung trong công việc, thay vì suy nghĩ về người bệnh, cô ấy quan tâm đến các con của mình trong trung tâm giữ trẻ Hậu quả có thể xảy ra, gần nhất là dễ sai sót
Trang 20chuyên môn và xa hơn là giảm chất lượng công việc
Tình trạng thiếu điều dưỡng cũng là một trong những nguyên nhân chính của stress nghề nghiệp, thiếu sự phối hợp, sự chậm trễ, không có các bác sĩ, sự tranh chấp giữa các bác sĩ và điều dưỡng đều xảy ra stress Stress cũng liên quan đến quản lý điều dưỡng: thái độ không chính xác, lên án tất cả các tình huống, trừng phạt không công bằng Nghiên cứu của Adid Hajbaghery (2007) trên 151 điều dưỡng tại Iran cũng nêu ra thiếu sự hỗ trợ và sự thân mật giữa các nhân viên điều dưỡng cũng sẽ dẫn đến gia tăng stress nghề nghiệp Căng thẳng cũng có liên quan đến người bệnh như: số lượng người bệnh nặng và làm việc với các người bệnh có nguy cơ cao hoặc stress chẳng hạn như: sự mất lòng tin của người bệnh và thân nhân của họ, chịu đựng sự lạm dụng và xúc phạm, sự vô ơn của một số người bệnh
và gia đình của họ [22], [30]
Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trong năm 2010 tại thành phố Campo Grande của Theme Filhavà cộng sự (2013), sử dụng thang đo DASS 21 để nghiên cứu trên 134 nhân viên điều dưỡng (điều dưỡng, kỹ thuật viên và trợ lý điều dưỡng) thông qua phỏng vấn dựa vào bộ câu hỏi gửi phong bì đến các đối tượng nghiên cứu Kết quả cho thấy: tình trạng stress cao trong số nam (32,5%), nhân viên trẻ tuổi (dưới 35 tuổi) (43,4%) chiếm đa số [31]
Nghiên cứu của Sharifah Zainiyah (2011) sử dụng thang đo DASS 21 để đánh giá tình trạng stress trên 110 điều dưỡng tại một bệnh viện Kuala Lumpur Kết quả thu được tỷ lệ stress là 23,6%, trong đó mức độ nhẹ là 13,6%, vừa là 5,5%, nặng là 0,9% và rất nặng là 3,6% Hạn chế của nghiên cứu là nghiên cứu loại trừ tất cả các đối tượng nữ đang mang thai và nam điều dưỡng.Trong khi phụ nữ đang mang thai
có thể là người khá nhạy cảm với stress, hay nam điều dưỡng trong một số nghiên cứu lại bị stress nhiều hơn nữ điều dưỡng [36]
Nghiên cứu định tính của Oliveira và cộng sự (2013), làm việc trong phòng cấp cứu là một công việc cực kỳ khó tính, xử lý các thủ tục phức tạp phải được thực hiện trong cách đơn giản, đây là một tình huống gây stress nhiều nhất Số lượng lớn các trường hợp người bệnh cần điều trị ngoại trú, công việc tổ chức và môi trường gây ra rất nhiều áp lực, quá tải về thể chất và cảm xúc trong các hoạt động hàng
Trang 21ngày của họ Trong phòng cấp cứu, điều dưỡng phải làm việc gấp đôi để vượt qua những hạn chế; dẫn đến tình trạng sức khỏe dễ xấu đi và có nguy cơ tâm thần Mối quan hệ giữa các cá nhân, đối phó với cơn đau và cái chết; đối phó với điều kiện làm việc không lành mạnh, cấu trúc quản lý cứng nhắc, thiếu trách nhiệm trong ra quyết định; làm việc theo ca; làm việc dưới áp lực thời gian và quá tải Cuối cùng, thiếu nguồn lực điều dưỡng gây ra stress và những thay đổi đáng kể trong thực hiện công việc của điều dưỡng [25].
Từ một số nghiên cứu trên thế giới ở trên cho thấy: các nghiên cứu đã phần nào mô tả được tình trạng stress trong nhân viên điều dưỡng Một số nghiên cứu đã
đi sâu tìm hiểu các yếu tố liên quan và đưa ra được các cảnh báo hữu ích để cải thiện tình hình Tuy nhiên, các yếu tố liên quan được chỉ ra còn ít nên khi phân tích tìm mối liên quan cho kết quả chưa đầy đủ Hầu hết các nghiên cứu là cắt ngang nên các tác giả cũng chưa thể đưa ra bất cứ kết luận nào về nguyên nhân gây ra các vấn
đề SKTT trong số các nguy cơ được tìm thấy Chúng tôi cũng chưa tìm thấy nghiên cứu nào có sự kết hợp giữa chẩn đoán lâm sàng của bác sĩ chuyên khoa với việc sử dụng các thang đo sàng lọc để đưa ra chẩn đoán xác định cho các vấn đề SKTT được nghiên cứu
1.2.2 Thực trạng stress tại Việt Nam
Mặc dù chưa có thống kê, báo cáo chính thức nào đề cập đến số lượng NVYT bị các vấn đề về sức khỏe tinh thần trên cả nước nhưng đã có một số nghiên cứu về tình trạng stress của nhân viên y tế trong đó có nhân viên điều dưỡng tại một
số đơn vị
Nghiên cứu của tác giả Đỗ Nguyễn Nhựt Trần và cộng sự (2008) tại huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đánh giá tình trạng stress và các yếu tố liên quan ở CBYT hiện đang làm việc tại các cơ sở y tế Huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai Với bộ câu hỏi soạn sẳn và phát vấn 149 đối tượng tham gia nghiên cứu là nhân viên y tế , kết quả cho thấy khoảng 27% nhân viên y tế có stress ở mức thường xuyên [19]
Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thúy (2011) đánh giá trạng thái stress trên đối tượng CBYT khối lâm sàng tại Bệnh viện Ung bướu Hà Nội Có 120 CBYT khối lâm sàng Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội tham gia nghiên cứu Tác giả sử dụng
Trang 22thang đo DASS 21 xác định tình trạng stress của CBYT Kết quả thu được có 36,9% CBYT có biểu hiện stress, 41,5% biểu hiện lo âu và 15,3% có biểu hiện trầm cảm [16]
Nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết năm 2013 về tình trạng stress, lo âu trầm cảm của CBYT khối lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh, Bệnh viện Đa khoa 115 Nghệ An năm 2013 và một số yếu tố liên quan” nhằm mô tả tỷ lệ stress, lo
âu, trầm cảm và xác định một số yếu tố liên quan đến các tình trạng này Trong nghiên cứu này, tác giả dùng thang đo DASS 21 để phát vấn và thu thập số liệu nhằm xác định nhằm mô tả
tỷ lệ stress CBYT Kết quả cho thấy tỷ lệ CBYT có biểu hiện stress tại Bệnh viện Đa
khoa Thành phố Vinh là 16,8% thấp hơn tại Bệnh viện Đa khoa 115 là 24,5%, trong khi đó tỷ lệ stress của đối tượng nghiên cứu chung là 20,4% [16]
Nghiên cứu của Dương Thành Hiệp về “Tình trạng stress của điều dưỡng, hộ sinh ở
8 khoa lâm sàng tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre năm 2014 và một
số yếu tố liên quan” nhằm xác định tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh bị stress và một số yếu tố liên quan cho tình trạng này.Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định tính và định lượng được thực hiện với 246 điều dưỡng, hộ sinh.Thu thập số liệu định lượng thông qua phát vấn bộ câu hỏi được xây dựng dựa vào bộ công cụ DASS
21 của Lovibond đã được chuẩn hoá tại Việt Nam Kết quả cho thấy có 56,9% nhân viên điều dưỡng, hộ sinh ở 8 khoa lâm sàng tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre có nguy cơ bị stress [6]
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuyên về “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến căng thẳng của điều dưỡng viên lâm sàng bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định, năm 2015” Tác giả sử dụng bộ công cụ DASS 21 của Lovibond đã được chuẩn hoá tại Việt Nam để thu thập số liệu với mục tiêu mô tả tình trạng căng thẳng và xác định các yếu tố có liên quan đến tình trạng căng thẳng điều dưỡng viên lâmsàng; Kết quả nghiên cứu: 483 điều dưỡng viên lâm sàng có tỷ lệ bị căng thẳng tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định là 18% Trong số 87 trường hợp bị căng thẳng thì số ít các trường hợp căng thẳng nặng (12,6%) và rất nặng (5,7%), đa số là bị căng thẳng nhẹ (50,6%) và vừa (31,0%)[20]
Ngoài ra, năm 2015 tác giả Bạch Nguyên Ngọc nghiên cứu về “Stress nghề
Trang 23nghiệp và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai” Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, có phân tích, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng Thông tin được thu thập qua bộ câu hỏi tự điền với sự tham gia của 250 điều dưỡng khối lâm sàng BVĐK tỉnh Gia Lai Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ chuẩn DASS 21 của Lovibond để xác định tỷ lệ stress Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ điều dưỡng viên lâm sàng của BVĐKtỉnh Gia Lai không
có biểu hiện stress là 74,8% và có biểu hiện stress là 25,2% Trong đó các mức độ nhẹ, vừa, nặng lần lượt là (10,4%, 8,8%, 6%), không có mức độ rất nặng [10]
1.3 Một số yếu tố liên quan đến stress ở điều dưỡng
1.3 1.Yếu tố cá nhân
Nghiên cứu của Khalid S Al-Gelban (2006) sử dụng thang đo DASS 42 để đánh giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm trên đối tượng là 304 bác sỹ ở vùng Aseer Saudi Arabia Tác giả cũng đã đưa vào tìm hiểu mối liên quan giữa tình trạng stress,
lo âu và trầm cảm với một số yếu tô như: tuổi, giới tính, quốc tịch, tình trạng hông nhân, bằng cấp và số năm kinh nghiệm Kết quả xác định được hai yếu tố liên quan
có ý nghĩa thống kê với trạng thái stress là giới tính và trình độ chuyên môn, trong
đó nữ giới bị stress nhiều hơn nam giới [26]
Nghiên cứu của 3 tác giả Lê Thành Tài, Trần Ngọc Xuân, Trần Trúc Linh (2008) tiến hành tại ba địa điểm là Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ và Bệnh viện Đa khoa Châu Thành - Hậu Giang nhằm đánh giá tình trạng stress trên đối tượng là nhân viên điều dưỡng Kết quả nghiên cứu xác định được yếu tố thâm niên công tác liên quan có ý nghĩa thống kê đến tình trạng stress [12]
Nghiên cứu của Mai Hòa Nhung thì nhóm điều dưỡng viên từ 30 tuổi trở xuống có biểu hiện stress gấp 6,6 lần so với nhóm điều dưỡng viên từ 30 tuổi trở lên (p=0,002) Nhóm điều dưỡng viên có thâm niên làm việc tại bệnh viện dưới 10 năm
có biểu hiện stress gấp 3,1 lần so với nhóm điều dưỡng có thâm niên làm việc tại bệnh viện trên 10 năm (p=0,039) [11]
1.3.2.Yếu tố gia đình
Nghiên cứu của 3 tác giả Đỗ Nguyễn Nhựt Trần và cộng sự (2008) tại huyện
Trang 24Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đánh giá tình trạng stress và các yếu tố liên quan ở CBYT hiện đang làm việc tại các cơ sở y tế Huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai Nghiên cứu đã
mở rộng đến các yếu tố cá nhân như: mối quan hệ với gia đình, bạn bè, hàng xóm, hay tham gia các hoạt động thể lực, tuy nhiên chưa tìm thấy mối quan hệ giữa tình trạng stress và các yếu tố này [19]
Nghiên cứu của Trần Thị Thúy tại Bệnh viện Ung bướu Hà Nội và nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết tại 2 bệnh viện ( Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh và Bệnh viện Đa khoa 115 Nghệ An) đã đưa một số yếu tố gia đình vào để tìm hiểu mối liên quan với tình trạng stress như: số con, chăm sóc con nhỏ dưới 5 tuổi, chăm sóc người thân già yếu, bệnh tật, thu nhập chính trong gia đình, nhà riêng ổn định, mối quan hệ trong gia đình Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan nào có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng stress và các yếu tố này [16]
Tác giả Dương Thành Hiệp nghiên cứu “Tình trạng stress của điều dưỡng, hộ sinh ở 8 khoa lâm sàng tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre năm 2014 và một số yếu tố liên quan” đã xác định được mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa việc phải chăm sóc con nhỏ dưới 5 tuổi và stress Các điều dưỡng, hộ sinh phải chăm sóc con nhỏ có nguy cơ bị stress cao hơn 1,9 lần so với những người không có hoàn cảnh này (p=0,021) [6]
1.3.3.Yếu tố công việc
Nghiên cứu của Sharifah Zainiyah (2011) sử dụng thang đo DASS 21 để đánh giá tình trạng stress trên 110 điều dưỡng tại một bệnh viện Kuala Lumpur Nghiên cứu cũng chỉ đưa ra một số ít yếu tố để tìm mối liên quan với trạng thái stress như: tuổi, tình trạng hôn nhân, khoa phòng công tác, tình trạng tài chính và thời gian làm việc Kết quả là tác giả chỉ tìm thấy một yếu tố liên quan duy nhất với stress có ý nghĩa thống kê là khoa phòng công tác của điều dưỡng [36]
Một số nghiên cứu đã kết luận rằng việc lập kế hoạch công việc không đầy
đủ và một lịch trình tổ chức làm việc kém có thể ảnh hưởng đến sức khỏe Ngoài ra, các nghiên cứu trước đây khi làm việc ca đêm cũng gây ra căng thẳng ảnh hưởng đến sinh lý bệnh, hành vi lối sống và điều kiện làm việc của điều dưỡng [26] [23]
Nghiên cứu của Michigan trên 105 điều dưỡng làm việc ca 12 giờ và 99 điều
Trang 25dưỡng làm việc ca 8 giờ Kết quả cũng đã khám phá rằng, vai trò của stress có liên quan đến thời gian một ca làm việc của điều dưỡng Ở những điều dưỡng làm việc với ca 12 giờ thì mức độ stress cao hơn đáng kể so với điều dưỡng làm việc với ca 8 giờ Một nghiên cứu khác của Balan cũng chứng minh rằng, điều dưỡng làm việc ca
12 giờ (n=96) sẽ có một số bất lợi nhiều hơn so với điều dưỡng làm việc ca 8 giờ (n=30) như: mệt mỏi nhiều hơn, lo lắng, kiệt sức tình cảm [22]
Nghiên cứu của 3 tác giả Lê Thành Tài, Trần Ngọc Xuân, Trần Trúc Linh (2008) tiến hành tại ba địa điểm là Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ và Bệnh viện Đa khoa Châu Thành - Hậu Giangnhằm đánh giá tình trạng stress trên đối tượng là nhân viên điều dưỡng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố có thể gây stress cho điều dưỡng bao gồm: làm việc quá nhiều giờ (>8h/ngày), công việc nhiều áp lực, không hứng thú, làm việc trong điều kiện thiếu thốn máy móc, trang thiết bị, đông người, ồn ào, tiếp xúc nhiều mầm bệnh,
dễ bị thương tích, thường gặp phản ứng của bệnh nhân và người nhà, thu nhập chưa thỏa đáng và công việc ít cơ hội thăng tiến[12]
Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thúy (2011) đánh giá trạng thái stress trên đối tượng CBYT khối lâm sàng tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội Tác giả sử dụng thang đo DASS 21 nghiên cứu trên đối tượng CBYT Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê làm tăng trạng thái stress là: Số buổi trực trong/tháng; cảm nhận công việc ít hứng thú; thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại; cảm nhận thấy mối quan hệ của họ với bệnh nhân không tốt [16]
Nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết năm 2013 về “tình trạng stress, lo âu trầm cảm của CBYT khối lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh, Bệnh viện
Đa khoa 115 Nghệ An năm 2013 và một số yếu tố liên quan” nhằm mô tả tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảm và xác định một số yếu tố liên quan đến các tình trạng này Kết quả sau khi kiểm soát nhiễu đã xác định được 1 yếu tố liên quan đến tình trạng stress ở Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh là mức độ hứng thú trong công việc; 2 yếu tố liên quan đến tình trạng stress ở Bệnh viện Đa khoa 115 Nghệ An là nhiệt độ nơi làm việc và nguy cơ lây nhiễm bệnh tật [21]
Trang 26Nghiên cứu Dương Thành Hiệp cũng xác định được mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố: Mối quan hệ với cấp trên, đồng nghiệp, và thái độ không tốt từ người bệnh và người nhà với tình trạng stress Những người có mối quan hệ với cấp trên không tốt và chỉ tương đối tốt thì có nguy cơ bị stress gấp 1,93 lần so với những người có mối quan hệ tốt (p=0,009) Đối với đồng nghiệp, ở những người có mối quan hệ không tốt và chỉ tương đối tốt có nguy cơ bị stress gấp 1,70 lần so với những người có mối quan hệ tốt (p=0,029) Những người thường xuyên gặp phải thái độ không tốt từ người bênh hay người nhà người bệnh thì có nguy cơ
bị stress gấp 1,95 lần so với những người thỉnh thoảng và không bao giờ gặp phải tình huống đó (p=0,038) [6]
1.3.4.Yếu tố môi trường văn hóa, xã hội
Một số nghiên cứu đã tiến hành tìm hiểu mối liên quan giữa một số yếu tố môi trường văn hóa, xã hội với tình trạng stress như:
Nghiên cứu của Mai Hòa Nhung: Tình trạng kẹt xe, tai nạn giao thông và tình trạng trộm cắp, cướp giật tại khu vực sống cũng được chúng tôi đưa vào trong nghiên cứu để tìm hiểu mối liên quan đến tình trạng stress Qua phân tích đơn biến, kết quả cho thấy cả 2 yếu tố trên đều có mối liên quan tới tình trạng stress với mức
ý nghĩa lần lượt là p= 0,048 và p= 0,018 Cụ thể thì nhóm điều dưỡng viên thường xuyên gặp tình trạng kẹt xe, tai nạn giao thông có biểu hiện stress cao hơn gấp 2 lần
so với nhóm không bao giờ hoặc thỉnh thoảng mới gặp Nhóm điều dưỡng viên thỉnh thoảng và thường xuyên gặp tình trạng trộm cắp, cướp giật tại khu vực sống
có biểu hiện stress cao gấp 2,7 lần so với nhóm điều dưỡng viên không bao giờ gặp Điều này cũng dễ hiểu do bệnh viện đặt tại khu vực đông dân cư nên tình trạng kẹt xe, tai nạn giao thông xảy ra thường xuyên khiến cho điều dưỡng viên rất căng thẳng khi lưu thông trên đường [11]
Các yếu tố về tình trạng kẹt xe, tai nạn giao thông, tình trạng trộm cắp, cướp giật này cũng được đưa vào trong nghiên cứu của Trần Thị Thúy và Đậu Thị Tuyết Tuy nhiên ở cả 2 nghiên cứu trên đều không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê, điều này có thể là do tại địa bàn nghiên cứu, những vấn đề này chưa đủ nhiều và chưa tới mức nghiêm trọng để có thể tác động đến tâm lý con người [21]
Trang 271.4.Giới thiệu về một số thang đo trầm cảm, lo âu, stress và bộ công cụ DASS
21 của Lovibond:
Trên thế giới hiện nay có nhiều bộ công cụ được sử dụng để đánh giá các vấn
đề SKTT Có thể kể đến một số bộ công cụ được dùng nhiều trong các nghiên cứu khoa học cũng như được ứng dụng trong lâm sàng giúp hỗ trợ chẩn đoán như:
Thang đánh giá trầm cảm của Hamilton (HAM-D): Thang đánh giá trầm cảm của Hamiton ra đời năm 1960, thang đánh giá này có nhiều phiên bản khác nhau, phiên bản gốc có 21 đề mục Phiên bản được tác giả xem là vĩnh viễn có 17 đề mục (Hamilton,1967) Trong cấu trúc của thang đánh giá, 17 đề mục được giữ lại trong phiên bản mà ông xem như vĩnh viễn là những đề mục đại diện tốt nhất cho triệu chứng học của rối loạn trầm cảm
Thang tự đánh giá trầm cảm của Beck (BID-D): là một chuỗi những câu hỏi được xây dựng để đánh giá cường độ, mức độ và sự nhận thức về trầm cảm ở những người bệnh có chẩn đoán rối loạn tâm thần Thang đánh giá này được xây dựng từ năm 1961, được chuẩn hóa vào năm 1969 và đăng ký bản quyền vào năm 1979 gồm hai phiên bản: phiên bản 21 câu được thiết kế để đánh giá các triệu chứng thường gặp ở những người mắc bệnh trầm cảm; phiên bản rút gọn gồm, 13 câu được thiết
kế dành cho NVYT chăm sóc sức khỏe ban đầu.Thang đo này là công cụ đánh giá chủ quan rối loạn trầm cảm được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu lâm sàng Tâm thần học, trong thực hành đa khoa và dịch tễ học, mang lại những dữ liệu về tình trạng trầm cảm
Thang đánh giá lo âu của Zung (SAS): là trắc nghiệm đánh giá mức độ lo âu
do cả người tiến hành trắc nghiệm và người được trắc nghiệm thực hiện Bệnh nhân phải là người được đọc và viết thông thạo, được giải thích rõ ràng cách thực hiện trắc nghiệm, bệnh nhân đọc kỹ từng đề mục (20 đề mục) đối chiếu trạng thái bản thân trong vòng 1 tuần trở lại đây và đánh số phù hợp nhất vào cột tương ứng
Thang đo NSS (The Nursing Stress Scale): năm 2014, tại Canada có một nghiên cứu làm nổi bậc mối liên hệ giữa chất lượng cuộc sống và các yếu tố ảnh hưởng Thang đo được thiết kế xung quanh các tình huống được xác định gây căng thẳng cho các ĐDV trong việc thực hiện nhiệm vụ của họ Thang đo này được phát
Trang 28triển bởi Gray dựa trên 34 tác nhân có thể gây căng thẳng cho ĐD, chia làm 7 nhóm: 1 nhóm về yếu tố môi trường vật lý, 4 nhóm yếu tố về môi trường tâm lý, 2 nhóm yếu tố về môi trường bệnh viện
Thang đánh giá của Lovibond (DASS 42 và DASS 21) là một thang đo đánh giá được tổng hợp cả ba vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến hiện nay là căng thẳng,
lo âu và trầm cảm [29] Thang đo DASS 21 đã được đánh giá về tính giá trị, độ tin cậy và khẳng định có thể áp dụng tại Việt Nam, không có sự khác biệt nhiều về văn hóa [29], [24]
Tại Việt Nam, bộ công cụ DASS đã được nghiên cứu trên cộng đồng (phụ nữ
và vị thành niên) trong các nghiên cứu của Tran TD, Tran T [40] và Le MTH, Tran
TD, Holton S, Nguyen HT, Wolfe R [27]
Thang đo DASS21 đã được Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển cộng đồng (RTCCD) thực hiện chuẩn hóa năm 2013 Kết quả cho thấy, DASS 21 có thể áp dụng tốt ở Việt Nam vì trong quá trình sử dụng thang đo, thông tin được phỏng vấn trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu, thang đo đảm bảo tính khách quan, chuẩn hóa, dễ hiểu, sử dụng nhanh Ngoài ra DASS 21 còn được nhiều nghiên cứu đánh giá về tính giá trị và độ tin cậy cao, với hệ số Crobach’s Alpha (của DASS - Trầm cảm là 0,72; DASS - Lo âu là 0,77; DASS - Stress là 0,70) được khẳng định
có thể áp dụng tại Việt Nam, không có sự khác biệt về mặt văn hóa [39]
Gần đây thang đo DASS21 cũng đã được một số tác giả áp dụng trong một
số nghiên cứu về tình trạng stress của điều dưỡng như: Dương Thành Hiệp (2014) tình trạng stress của Điều dưỡng, hộ sinh ở 8 khoa lâm sàng tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre [6] , Mai Hòa Nhung (2014) tình trạng stress của Điều dưỡng viên tại bệnh viện Giao thông vận tải [11], Bạch Nguyên Ngọc (2015) stress nghề nghiệp của Điều dưỡng, hộ sinh tại bệnh viện Gia Lai [10], Nguyễn Văn Tuyên (2015) tình trạng stress của Điều dưỡng viên lâm sàng tại bệnh viện Bình Định [20]
Thang đánh giá stress, lo âu, trầm cảm của Lovibond (DASS 42 và DASS 21) là một thang đo đánh giá được tổng hợp cả ba vấn đề SKTT phổ biến hiện nay
là stress, lo âu và trầm cảm, được các bệnh viện tâm thần và các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài nước sử dụng khá phổ biến [4] Năm 1995, Lovibond S.H và
Trang 29Lovibond P.F tại khoa Tâm lý học, đại học New South Wales (Australia) đã thiết kế nên thang đánh giá stress, lo âu, trầm cảm ký hiệu là DASS 42 Đến năm 1997, cũng chính nhóm các nhà khoa học này lại cho ra đời thang đo DASS 21, đây là phiên bản rút gọn của DASS 42 nhằm tạo sự tiện lợi hơn cho người dùng Các nghiên cứu cần thiết đã được tiến hành và khẳng định sự nhất quán giữa phiên bản DASS 42 và DASS 21 DASS 42 gồm 42 tiểu mục chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm gồm 14 tiểu mục sẽ đánh giá một vấn đề SKTT là stress, lo âu hoặc trầm cảm Tương tự, DASS 21 gồm 21 tiểu mục chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm gồm 7 tiểu mục Mỗi tiểu mục là một mô tả về triệu chứng thực thể hoặc tinh thần Điểm cho mỗi tiểu mục là từ 0 đến 3 điểm, tùy thuộc mức độ và thời gian xuất hiện triệu chứng: 0 điểm - không đúng chút nào cả; 1 điểm - đúng phần nào, hoặc thỉnh thoảng mới đúng; 2 điểm - đúng phần nhiều, hoặc phần lớn thời gian là đúng; 3
điểm - hoàn toàn đúng hoặc hầu hết thời gian là đúng [29]
Mỗi đối tượng được phát 1 bảng hỏi tự trả lời Thông qua 21 câu trả lời theo bảng hỏi và theo khung điểm cho từng câu hỏi trong thang đánh giá DASS 21 để tính mức điểm cho từng thành phần stress, lo âu, trầm cảm Các câu hỏi đánh giá stress gồm: 1, 6, 8, 11, 12, 14, 18 Các câu 2, 4, 7, 9, 15, 19, 20 dùng đánh giá tình trạng lo âu và các câu còn lại 3, 5, 10, 13, 16, 17, 21 dùng để đánh giá tình trạng trầm cảm Điểm của trầm cảm, lo âu và stress đựợc tính bằng cách cộng điểm các
đề mục thành phần, rồi nhân hệ số 2 từ đó tính được số điểm và biết được các mức
độ [30]
Trong khuôn khổ của nghiên cứu này chúng tôi chỉ mô tả các mức độ của stress trong các đối tượng NVYT là điều dưỡng và áp dụng công cụ của DASS 21 để đánh giá 7 tiểu mục của stress bao gồm: (1) tình trạng thoải mái, (2) xu hướng phản ứng thái quá với mọi tình huống, (3) suy nghĩ quá nhiều, (4) dễ bị kích động, (5) cảm thấy khó thư giãn, (6) không chấp nhận được việc có cái gì đó xen vào cản trở việc đang làm, (7) dễ phật ý, tự ái [39]
Bảng 1: Các mức độ stress theo Dass 21 của Lovibond
Trang 301.5 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang là bệnh viện Đa khoa hạng I, trực thuộc Sở Y tế Tiền Giang có chức năng tiếp nhận và điều trị cho bệnh nhân thuộc tất cả các chuyên khoa (ngoại trừ Sản, Tâm Thần, Lao, Mắt) ở Tiền Giang và các tỉnh lân cận như Bến Tre, Long An…đến khám và điều trị nội trú tại bệnh viện; đồng thời thực hiện vai trò đào tạo, chỉ đạo tuyến cho các bệnh viện tuyến huyện trong tỉnh về lĩnh vực điều trị Bệnh viện là một trung tâm điều trị lớn, chuyên sâu nên luôn phải chịu áp lực quá tải Theo báo cáo của Bệnh viện năm 2017, trung bình một ngày bệnh viện có khoảng 2.500 lượt khám mỗi ngày, số người điều trị nội trú trung bình là 1300 - 1400 NB/ ngày, với công suất thiết kế 780 giường bệnh, trong khi số giường bệnh thực tế là 1256 [7]
Biên chế hiện có 855 nhân viên, trong đó điều dưỡng 451 bao gồm 93 điều dưỡng công tác khoa cận lâm sàng và 358 điều dưỡng lâm sàng, cơ cấu tổ chức gồm Ban Giám đốc, 8 phòng chức năng, 20 khoa lâm sàng và 07 khoa cận lâm sàng, nhiệm vụ chính là khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh
Trang 311.6 Khung lý thuyết
Trên cơ sở tìm hiểu, xem xét kỹ lưỡng các nghiên cứu đã làm trong nước và quốc tế về vấn đề “ stress” cũng như qua tham khảo nhiều nghiên cứu, tài liệu về Sức khỏe tâm thần nói chung (stress, trầm cảm,…) [16], [17], [21], xây dựng khung
lý thuyết bao gồm các yếu tố như: yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình, yếu tố xã hội và một số yếu tố liên quan đến công việc (nội dung và áp lực công việc, môi trường làm việc, các mối quan hệ, tổ chức và động viên khuyến khích)
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Đối tượng nghiên cứu
- Tiêu chí lựa chọn đối tượng: Điều dưỡng hiện đang công tác tại tất cả 20 khoa lâm sàng thuộc Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang
- Điều dưỡng có thời gian công tác tại bệnh viện > 6 tháng
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những điều dưỡng không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc đang trong thời gian nghỉ ốm, nghỉ sinh, đi công tác/học tập (không có mặt tại thời điểm điều tra)
- Điều dưỡng trưởng khoa, điều dưỡng không thực hiện công tác lâm sàng
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3/2018 đến tháng 6/2018
- Địa điểm nghiên cứu: Tại 20 khoa lâm sàng của Bệnh viện Đa khoa Trung
tâm Tiền Giang
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính, theo trình tự định lượng trước và định tính sau
2.4 Cỡ mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu cho cấu phần định lượng
Cỡ mẫu xác định dựa trên công thức tính cỡ mẫu ước một tỉ lệ cho nghiên cứu cắt ngang mô tả với độ tin cậy 95%,
n: cỡ mẫu tối thiểu cần thiết
α: độ tin cậy Tương ứng với độ tin cậy 95%, ta có Z1-α/2 tương ứng là 1,96
Trang 34p: ước tính tỷ lệ stress theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuyên tại Bệnh viện
Đa khoa Bình Định năm 2015 [20]
d: độ chính xác tuyệt đối mong muốn 5%
Đưa vào công thức ta tính được cỡ mẫu tối thiểu là 227, trong nghiên cứu này có 316 điều dưỡng tham gia
2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính
Sau khi có số liệu định lượng, xác định 3 nhóm khoa có tỷ lệ stress: nhẹ, vừa, nặng - rất nặng Để tìm hiểu sâu về một số yếu tố gây stress cho điều dưỡng ở các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, chúng tôi tiến hành 3 cuộc thảo luận nhóm cho các mức độ stress, mỗi nhóm 4-5 điều dưỡng khoa lâm sàng: khoa Cấp cứu, khoa Nhi và khoa Nội thần kinh
2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.5.1.Công cụ thu thập số liệu
Nghiên cứu định lượng:
Bộ câu hỏi phát vấn soạn sẵn (phụ lục 3) gồm các câu hỏi đánh giá tình trạng căng thẳng (một phần bộ câu hỏi liên quan đến stress của thang đo DASS 21 - gồm 7 câu) bao gồm: (1) tình trạng thoải mái, (2) xu hướng phản ứng thái quá với mọi tình huống, (3) suy nghĩ quá nhiều, (4) dễ bị kích động, (5) cảm thấy khó thư giãn, (6) không chấp nhận được việc có cái gì đó xen vào cản trở việc đang làm, (7) dễ phật ý,
tự ái [39] và các câu hỏi liên quan đến các yếu tố cá nhân (11 câu), yếu tố gia đình (5 câu), yếu tố xã hội (3 câu), yếu tố nội dung và áp lực công việc (10 câu), môi trường làm việc (8 câu), mối quan hệ nơi làm việc (7 câu), tổ chức công việc và động viên khuyến khích (7 câu)
Trước khi tiến hành điều tra chính thức, bộ công cụ được điều tra thử tại 3 khoa Nội Thần kinh, Hồi sức Tích cực Chống độc và khoa Ngoại Chấn thương Chỉnh hình, mỗi khoa 4 điều dưỡng để điều chỉnh những lỗi chính tả, câu từ chưa rõ ràng, sauđiều tra thử,các đối tượng tham gia điều tra thử đều hiểu rõ các câu và điền các thông tin vào bộ câu hỏi đầy đủ, do đó tác giả không điều chỉnh gì thêm trong bộ câu hỏi
Nghiên cứu định tính:
Trang 35Sau khi tiến hành nghiên cứu định lượng, nghiên cứu viên xử lý sơ bộ kết quả
và chuẩn bị nội dung cho thảo luận nhóm dựa trên kết quả bước đầu của nghiên cứu định lượng Nghiên cứu viên phối hợp với phòng Điều dưỡng tổ chức 03 cuộc thảo luận nhóm nhằm thu thập thêm thông tin để giải thích: thực trạng stress như thế nào, những yếu tố thúc đẩy/ nguyên nhân gây stress, những yếu tố bảo vệ/ góp phần hạn chế stress
2.5.2.Cách thức thu thập số liệu
Trước tiên nghiên cứu viên liên hệ lãnh đạo bệnh viện để xin phép tiến hành nghiên cứu và chốt lịch làm việc tại bệnh viện vào thời gian từ ngày 01/3/2018 – 01/4/2018 Tại mỗi khoa, nghiên cứu viên gặp trực tiếp lãnh đạo, điều dưỡng trưởng các khoa để thông báo về nội dung, mục đích nghiên cứu và đồng thời tổng hợp số lượng nhân viên điều dưỡng đang công tác trong thời gian nghiên cứu (loại trừ các trường hợp nghỉ ốm, nghỉ sinh, học tập, công tác chưa đủ 6 tháng) Sau đó tiến hành phát vấn và thu lại phiếu
Sau khi tiến hành nghiên cứu định lượng, nghiên cứu viên xử lý sơ bộ kết quả
và chuẩn bị nội dung cho thảo luận nhóm dựa trên kết quả bước đầu của nghiên cứu định lượng Nghiên cứu viên phối hợp với phòng Điều dưỡng tổ chức 3 cuộc thảo luận nhóm tại phòng Điều dưỡng, mỗi nhóm 4- 5 điểu dưỡng viên nhằm thu thập thêm thông tin để giải thích cho kết quả:
Thảo luận nhóm 1(TLN1): gồm các điều dưỡng các khoa có tỷ lệ stress nhẹ
Thảo luận nhóm 2(TLN2): gồm các điều dưỡng các khoa có tỷ lệ stress vừa
Thảo luận nhóm 3(TLN3): gồm các điều dưỡng các khoa có tỷ lệ stress nặng và rất nặng
2.5.3 Điều tra viên
Là 5 Điều dưỡng trưởng của các khoa Cận lâm sàng
Điều tra viên được tập huấn trước và giám sát hỗ trợ trong suốt quá trình thu thập số liệu
Học viên vừa tham gia điều tra, đồng thời giám sát các điều tra viên khác
2.5.4.Quy trình giám sát
Vào ngày điều tra, điều dưỡng viên tập trung tại văn phòng khoa Điều tra viên
Trang 36thông báo mục đích của nghiên cứu và cách trả lời phiếu theo quy định cho đối tượng nghiên cứu Sau đó, Điều tra viên gửi lại cho các điều dưỡng viên một phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu và một phiếu phát vấn được đặt trong bìa thư Nếu đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu ký vào giấy đồng ý tham gia nghiên cứu và tiến hành trả lời các câu hỏi trong phiếu phát vấn, sau khi trả lời các câu hỏi xong, đối tượng nghiên cứu bỏ phiếu phát vấn vào bìa thư và gởi lại cho điều tra viên
Giám sát viên đi cùng điều tra viên để quan sát việc phát vấn và kịp thời rút kinh nghiệm, đồng thời thu thập các phiếu điều tra từ các điều tra viên giám sát viên cũng có nhiệm vụ làm sạch lại 1 lần các phiếu được thu gom về
Đối với các phiếu thu về trả lời thiếu bất kỳ thông tin nào thì sẽ bị loại ra Nếu khoa, phòng nào có trên 50% phiếu bị thiếu thông tin thì khoa phòng đó sẽ làm phiếu lại lần 2 (những đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu)
Kết quả: phát ra 328 phiếu, thu lại 316 phiếu (đạt 96,3%), có 8 phiếu không trả lời đầy đủ thông tin (3,7%)
2.6.Quản lý và phân tích số liệu
2.6.1.Quản lý số liệu
Sau khi thu thập, các phiếu điều tra được kiểm tra tính đầy đủ của thông tin Giám sát và điều tra viên làm sạch số liệu, mã hóa, nhập số liệu bằng phần mềm Epi Data 3.1, xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0
2.6.2.Phân tích số liệu
Thống kê mô tả (tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn) được áp dụng
để mô tả các đặc điểm cá nhân, gia đình, xã hội và công việc và tỷ lệ nhân viên điều dưỡng bị stress
Kiểm định thống kê Chi- square được dùng để tìm mối liên quan đơn biến giữa biến độc lập và biến phụ thuộc
Sử dụng mô hình hồi quy logistic để kiểm soát yếu tố nhiễu ảnh hưởng đến mối liên quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc, gồm 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1:
Phân tích đơn biến để lựa chọn các biến đưa vào mô hình Tất cả các mối liên quan đơn biến có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) được chọn vào mô hình Trong quá
Trang 37trình phân tích có tính đến yếu tố đa cộng tuyến trong mô hình để loại bớt các biến gây nhiễu
Kết quả khi đưa 22 biến độc lập vào mô hình, chúng tôi loại bỏ 7 yếu tố có tính đa cộng tuyến, chọn được 15 biến độc lập có VIF <2 , do đó chúng tôi chọn được 15 yếu tố để đưa vào mô hình đa biến
Giai đoạn 2:
Phân tích hồi quy logistic đa biến để tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu và
tình trạng stress của điều dưỡng
2.7 Biến số trong nghiên cứu
Sau khi tham khảo nhiều nghiên cứu trước đây và nghiên cứu bộ công cụ đánh giá Stress-Lo âu-Trầm cảm DASS 21 của Lovibond, chúng tôi đã xây dựng được các biến số cho nghiên cứu và chia thành các nhóm (Phụ lục 1)
Những yếu tố bảo vệ/góp phần hạn chế stress: sự quan tâm của lãnh đạo, tăng thêm nguồn nhân lực, giảm bớt các thủ tục hành chính, cải thiện môi trường làm việc, có hành lang pháp lý để bảo vệ điều dưỡng
2.8 Các tiêu chí đánh giá điều dưỡng bị stress nghề nghiệp
ĐTNC sẽ điền đầy đủ thông theo bộ câu hỏi tự điền (theo thang đo Dass 21- stress) gồm 7 câu hỏi liên quan đến căng thẳng, mỗi câu hỏi gồm 4 lựa chọn theo các mức độ:
1 Không đúng với tôi chút nào cả
2 Đúng với tôi phần nào, hoặc thỉnh thoảng mới đúng
3 Đúng với tôi phần nhiều, hoặc phần lớn thời gian là đúng
4 Hoàn toàn đúng với tôi, hoặc hầu hết thời gian là đúng
Cách tính điểm: ở mỗi mức độ trả lời sẽ tương ứng với số điểm là 0,1, 2, 3
Trang 38Tổng điểm của 7 câu hỏi (nhóm Dass 21- stress) đem nhân với 2 rồi so sánh vào bảng dưới đây để xác định được số lượng điều dưỡng bị stress.
Bảng2: Điểm về các mức độ stress theo Dass 21-stress của Lovibond [29]
Đánh giá thời gian trực của Điều dưỡng
Tại bệnh viện, tùy theo khoa/phòng số phiên trực trung bình trong tháng khác nhau:
Những khoa không tổ chức làm theo ca: trực 24/24, trung bình 5-6 đêm/tháng Những khoa tổ chức làm theo ca: trực 8 giờ/ca, trung bình 8 đêm/tháng
Đánh giá mức độ công việc của Điều dưỡng
Khối lượng công việc được giao so với khả năng hoàn thành, có phải làm thêm giờ, làm những việc ngoài chức năng nhiệm vụ, số lượng bệnh nhân chăm sóc/ngày…
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được hội đồng Đạo đức trường Đại học Y tế Công cộng thông qua theo quyết định số 146/2018/YTCC-HD3, ngày 16 tháng 3 năm 2018 và Hội đồng Khoa học của Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang
Chỉ điều tra những người đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Đối tượng tham gia nghiên cứu được điều tra viên giải thích rõ về mục đích của nghiên cứu Sự tham gia của các đối tượng là hoàn toàn tự nguyện, được thể hiện qua phiếu đồng ý tham gia vào nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu có thể rút lui khỏi nghiên cứu vào bất kỳ thời điểm nào mà không ảnh hưởng đến họ theo bất kỳ hình
Trang 40KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Để nghiên cứu tình trạng stress của điều dưỡng khối lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, chúng tôi sử dụng bộ công cụ DASS 21 do Lovibond công bố năm 1997 và được Quỹ Tâm lý của úc (Psychology Foundation of Australia) giới thiệu [39] Tại Việt Nam, thang đo DASS 21 đã được viện sức khỏe tâm thần quốc gia thử nghiệm, đánh giá và khuyến nghị dùng Khi áp dụng
bộ công cụ chúng tôi sử dụng phân tích độ tin cậy với hệ số Cronbach’s alpha để đánh giá độ tin cậy; hệ số Cronbach’s alpha của cấu phần stress là: 0,779 Kết quả cho thấy tất cả các tiểu mục là đáng tin cậy và thang đo có sự nhất quán bên trong Như vậy thang đo DASS 21 thích hợp dùng trong các nghiên cứu nhằm đưa ra một thực trạng sức khỏe tâm thần trong quần thể nghiên cứu [17],[21],[36]
3.1 Đặc điểm cá nhân và gia đình của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) Bảng 3.1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n= 316)
STT Thông tin chung Tần số Tỉ lệ
Thời gian công tác
khoa hiện tại