Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng và định tính trên toàn bộ 203 người nhiễm HIV đang điều trị tại CSĐT ARV thuộc Bệnh viện đa khoa huyện Vũ Thư và Kiến Xương, tỉnh Thái Bình nhằm m
Trang 1THỰC TRẠNG THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NGƯỜI NHIỄM HIV TẠI CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ ARV HUYỆN VŨ THƯ VÀ KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI - 2018
TẠ THỊ LIÊN HƯƠNG
Trang 2
THỰC TRẠNG THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NGƯỜI NHIỄM HIV TẠI CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ ARV HUYỆN VŨ THƯ VÀ KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG NĂM 2018
HÀ NỘI - 2018
TẠ THỊ LIÊN HƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS DƯƠNG THÚY ANH
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Dương Thúy Anh, Ths Phạm Thị Thùy Linh đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và những Đồng nghiệp tại Cục Phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam, nơi tôi công tác đã luôn tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong quá trình học tập
Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo và nhân viên Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Thái Bình, Bệnh viện đa khoa huyện Vũ Thư, Bệnh viện đa khoa huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Lời cảm ơn cuối cùng xin dành cho sự quan tâm, động viên, chia sẻ của gia đình, bè bạn đối với tôi trong cuộc sống và đặc biệt là trong những tháng ngày tôi tham gia khóa học này
Trân trọng cảm ơn!
Học viên
Tạ Thị Liên Hương
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
AIDS Acquired Immuno-Deficiency Syndrome (Hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải) ARV Antiretrovirus - Thuốc kháng retrovirus
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
BHYTTN Bảo hiểm y tế tự nguyện
CD4 Tế bào bạch cầu được tạo ra do đáp ứng của hệ miễn dịch
CSĐT Cơ sở điều trị
CDC Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa kỳ
CMTND Chứng minh thư nhân dân
HGĐ Hộ gia đình
HIV Human Immunodeficienci Virus (là vi rút gây suy giảm miễn
dịch ở người) KCB Khám, chữa bệnh
TLN Thảo luận nhóm
TTLT Thông tư liên tịch
TNCH Nhiễm trùng cơ hội
UBND Ủy ban nhân dân
YTDP Y tế dự phòng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Các khái niệm về HIV/AIDS và thuốc ARV 4
1.2 Giới thiệu chung về BHYT, tình hình bao phủ BHYT tại Việt Nam 4
1.2.1 Các khái niệm 4
1.2.1.1 Khái niệm bảo hiểm 4
1.2.1.2 Khái niệm bảo hiểm y tế 4
1.2.1.3 Khái niệm tham gia BHYT 5
1.2.2 Các loại hình BHYT 5
1.2.3 Nguyên tắc của BHYT 6
1.2.4 Đối tượng tham gia, mức đóng, quyền lợi khi tham gia BHYT 6
1.2.5 Tình hình bao phủ bảo hiểm y tế tại Việt Nam 7
1.2.6 Tình hình bao phủ BHYT và chính sách BHYT đối với người nhiễm HIV/AIDS 8
1.2.7 Tình hình mắc, điều trị và thực trạng nguồn lực tài chính cho phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam 9
1.5 Tổng quan các nghiên cứu về tham gia BHYT của người nhiễm HIV 11
1.5.1 Mua và sử dụng thẻ BHYT 11
Trang 61.5.2 Nhóm yếu tố cá nhân 12
1.5.3 Nhóm yếu tố hộ gia đình 14
1.5.4 Yếu tố môi trường chính sách, dịch vụ BHYT 15
1.6 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 19
1.7 Khung lý thuyết 21
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng 23
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính 23
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.3 Thiết kế nghiên cứu 24
2.4.Cỡ mẫu nghiên cứu và phương pháp chọn mẫu: 24
2.4.1 Mẫu định lượng: 24
2.4.2 Mẫu định tính: 24
2.5 Phương pháp và kỹ thuật thu thập thông tin 25
2.5.1 Thu thập số liệu định lượng 25
2.5.2 Thu thập số liệu định tính: 26
2.5.3 Quy trình thu thập số liệu 26
2.6 Quản lý, tính toán và phân tích số liệu 27
2.6.1 Đối với số liệu định lượng 27
2.6.2 Đối với số liệu định tính 28
2.7 Các biến số trong nghiên cứu 28
2.7.1 Biến định lượng: 28
2.7.2 Biến định tính: 29
2.8 Chỉ số nghiên cứu 30
Trang 72.9 Khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá dùng trong nghiên cứu 30
2.9.1 Các khái niệm 30
2.9.2 Kiến thức đạt 30
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 31
2.11 Sai số trong nghiên cứu 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 32
3.2 Thực trạng tham gia BHYT của đối tượng nghiên cứu 36
3.3 Kiến thức về BHYT của người nhiễm HIV 44
3.3.1 Kiến thức về BHYT của đối tượng nghiên cứu 44
3.5 Yếu tố truyền thông 50
3.5 Một số yếu tố liên quan đến dự định mua thẻ BHYT 55
3.6 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng tham gia BHYT 56
3.6.1 Nhóm yếu tố cá nhân: 56
3.6.2 Nhóm yếu tố hộ gia đình 58
3.6.3 Yếu tố về dịch vụ y tế: 58
3.6.4 Môi trường chính sách: 59
Chương 4 BÀN LUẬN 62
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 62
4.2 Thực trạng có thẻ BHYT của người nhiễm HIV trong nghiên cứu 64
4.3 Tình hình sử dụng thẻ BHYT của người nhiễm HIV trong nghiên cứu 66
4.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc mua, dự định mua và sử dụng thẻ BHYT 68
4.4.1 Yếu tố cá nhân 68
4.4.2 Yếu tố hộ gia đình 69
Trang 84.4.3 Yếu tố về môi trường chính sách 69
4.4.4 Yếu tố về dịch vụ y tế 70
4.4.5 Yếu tố về truyền thông 71
4.5 Hạn chế của nghiên cứu 72
Chương 5 KẾT LUẬN 74
1 Thực trạng người nhiễm HIV tham gia BHYT tại CSĐT huyện Vũ Thư và Kiến Xương tỉnh Thái Bình năm 2018 74
2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của người nhiễm HIV đang điều trị tại CSĐT huyện Vũ Thư và Kiến Xương tỉnh Thái Bình: 74
Chương 6 KHUYẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Phụ lục 1 CÁC BIẾN SỐ TRONG NGHIÊN CỨU 78
Phụ lục 2 BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN 84
Phụ lục 3 HƯỚNG DẪN TLN CHO NGƯỜI NHIỄM ĐÃ CÓ THẺ BHYT 94
Phụ lục 4 HƯỚNG DẪN PVS CHO NGƯỜI NHIỄM CHƯA CÓ THẺ BHYT 96
Phụ lục 5 HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU LÃNH ĐẠO TRUNG TÂM PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS TỈNH THÁI BÌNH 98
Phụ lục 6 HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU TRƯỞNG CSĐT/CÁN BỘ TRỰC TIẾP ĐIỀU TRỊ TẠI CSĐT HIV/AIDS 100
Phụ lục 7 102
BẢNG CHẤM ĐIỂM KIẾN THỨC ĐẠT 102
Phụ lục 8 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN LUẬN VĂN 104
Phụ lục 9 DỰ TRÙ KINH PHÍ NGHIÊN CỨU 107
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tình hình tham gia BHYT theo các nhóm đối tượng 7
Bảng1.2: Bệnh nhân HIV đang điều trị tại các CSĐT tỉnh Thái Bình 20
Bảng 3.1: Một số đặc điểm về nhân khẩu học 32
Bảng 3.2: Tình trạng hôn nhân 34
Bảng 3.3: Nghề nghiệp và thu nhập của đối tượng nghiên cứu 34
Bảng 3.4: Nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu 35
Bảng 3.5: Tỷ lệ bệnh nhân có thẻ BHYT 36
Bảng 3.6: Tỷ lệ được thanh toán khi KCB bảo hiểm y tế 37
Bảng 3.7: Lý do mua (có) thẻ BHYT 38
Bảng 3.8: Dự định mua thẻ BHYT 40
Bảng 3.9: Lý do không có dự định mua thẻ BHYT 40
Bảng 3.10: Khám chữa bệnh và sử dụng thẻ BHYT 42
Bảng 3.11: Lý do chỉ sử dụng thẻ BHYT một số lần 43
Bảng 3.12: Kiến thức về quyền lợi khi KCB BHYT 44
Bảng 3.13: Kiến thức về đối tượng, mức phí và thủ tục tham gia 46
Bảng 3.14: Kiến thức về BHYT hộ gia đình 47
Bảng 3.15: Tổng hợp kiến thức về BHYT của đối tượng nghiên cứu 49
Bảng 3.16:Yếu tố hộ gia đình 49
Bảng 3.17: Yếu tố về truyền thông 50
Bảng 3.18: Mối liên quan giữa dự định mua thẻ và một số yếu tố 55
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Tình hình bao phủ của bảo hiểm y tế tại Việt Nam 7 Biểu đồ 1.2: Tỷ lệ có thẻ BHYT trong bệnh nhân điều trị ARV đến tháng 10/2017 8 Biểu đồ 1.3: Các nguồn ngân sách Nhà nước và nhà tài trợ đang cắt giảm 10 Biểu đồ 3.1: Phân bố tỷ lệ các nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 33
Trang 11TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Trong bối cảnh nguồn lực của các dự án quốc tế bị cắt giảm và sẽ kết thúc sau năm 2018, việc chuyển giao Chương trình điều trị HIV/AIDS từ các chương trình dự án sang nguồn BHYT là cần thiết Nếu như bệnh nhân HIV không có thẻ BHYT sẽ không có cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc HIV và thuốc kháng vi rút HIV (ARV)
Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng và định tính trên toàn bộ 203 người nhiễm HIV đang điều trị tại CSĐT ARV thuộc Bệnh viện đa khoa huyện Vũ Thư và Kiến Xương, tỉnh Thái Bình nhằm mô tả thực trạng tham gia BHYT tại địa bàn nghiên cứu và một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng tham gia BHYT của đối tượng nghiên cứu năm 2018
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ ĐTNC có thẻ BHYT tại thời điểm nghiên cứu đạt 97,5% trong đó: đối tượng có thẻ BHYT tự nguyện đạt 25,3%, được tỉnh cấp: 22,2% còn lại thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo và bảo trợ xã hội Trong số
198 bệnh nhân có thẻ BHYT thì tỷ lệ sử dụng thẻ đạt 100% Tuy nhiên vẫn còn có đối tượng chỉ sử dụng một số lần (12,1%) hoặc chỉ sử dụng khi KCB liên quan đến HIV/AIDS (2%) Lý do không sử dụng hoặc chỉ sử dụng thẻ BHYT một số lần chủ yếu là do tâm lý lo sợ lộ thông tin nhiễm HIV/AIDS (57,6%) kế đến là do chất lượng dịch vụ kém, chờ đợi lâu (18,2%), vẫn còn 12,1% không sử dụng được do trái tuyến
Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có thẻ và sử dụng thẻ trong KCB gồm: Yếu tố môi trường chính sách, chất lượng dịch vụ y tế, thông tin về BHYT ngoài ra còn các yếu tố thuộc về cá nhân, hộ gia đình vấn đề tự kỳ thị, tâm lý lo sợ bị lộ thông tin nhiễm HIV khi tham gia BHYT
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ Chương trình phòng, chống HIV/AIDS được triển khai tại Việt Nam từ năm
2004, khoảng 80% cho kinh phí hoạt động của chương trình là từ các nguồn viện trợ quốc tế Trong đó tiền mua thuốc kháng vi-rút HIV (ARV) chiếm khoảng 95% tổng tiền mua thuốc sử dụng cho bệnh nhân [21] Các nguồn viện trợ Quốc tế cho phòng, chống HIV/AIDS đang giảm dần và sẽ kết thúc sau năm 2018 Tính đến hết tháng 9 năm 2017, Việt Nam đã điều trị cho 122.439 người nhiễm HIV(chiếm khoảng 57%
số người nhiễm HIV được phát hiện và đang còn sống) Dự kiến đến năm 2020 con
số này sẽ tăng lên 195.000 người Một trong những nguyên tắc của việc điều trị HIV/AIDS bằng thuốc ARV là phải điều trị liên tục, suốt đời [24] Trong khi đó bệnh nhân HIV chủ yếu là người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, khả năng tự trang trải chi phí chữa bệnh suốt đời là một thử thách lớn đối họ
Thủ tướng chính phủ đã chỉ đạo "Chuyển dần nhiệm vụ điều trị người nhiễm HIV từ các chương trình dự án sang nhiệm vụ của Quỹ bảo hiểm y tế” tại Quyết định số 1899/QĐ-TTg ngày 16/10/2013 phê duyệt “Đề án đảm bảo tài chính cho hoạt động phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2013-2020” [19]
Quyết định 2188/QĐ-TTg ngày 15/11/2016 của Thủ tướng chính phủ ban hành hướng dẫn tạm ứng, thanh toán thuốc kháng HIV được mua sắm tập trung từ quỹ khám bệnh, chữa bệnh BHYT có nội dung: “Giao cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố bố trí kinh phí mua thẻ cho người nhiễm HIV để đảm bảo 100% người nhiễm HIV có thẻ BHYT đồng thời đảm bảo kinh phí đồng chi trả thuốc ARV cho người nhiễm HIV có thẻ BHYT”
Tính đến 30/6/2017 cả nước có 76,44 triệu người tham gia bảo hiểm y tế, đạt
tỉ lệ bao phủ 82,19% dân số cả nước [11] Theo số liệu báo cáo của Cục Phòng, chống HIV/AIDS đến 30/9/2017 tỉ lệ bệnh nhân đang điều trị ARV tại các cơ sở điều trị (CSĐT) HIV/AIDS trong cả nước có thẻ BHYT là 82% [8] Cũng tại thời điểm này tỉnh Thái Bình có số bệnh nhân đang điều trị ARV là 1.152 người [27] tại
08 CSĐT HIV/AIDS cho người lớn và 01 CSĐT cho trẻ em Số bệnh nhân có thẻ BHYT tại 9 CSĐT này đạt 76% [7]
Trang 13Từ tháng 12/2016 trở về trước, bệnh nhân HIV của tỉnh Thái Bình được miễn phí toàn bộ chi phí điều trị HIV/AIDS từ các nguồn viện trợ Tuy nhiên, từ tháng 01/2017, các nguồn viện trợ chỉ còn cho thuốc ARV, xét nghiệm CD4 và đo tải lượng vi-rút, các xét nghiệm cơ bản và thuốc NTCH không còn nữa Sau 31/12/2018 các dịch vụ trên cũng bị cắt hoàn toàn Như vậy từ 01/2019 bệnh nhân
sẽ phải tự thanh toán cho các dịch vụ điều trị HIV/AIDS kể cả thuốc ARV Lợi thế
sẽ thuộc về bệnh nhân nào có thẻ BHYT và sử dụng thẻ khi KCB
Để triển khai được BHYT cho người nhiễm HIV/AIDS, Bộ Y tế đã chỉ đạo các tỉnh/TP thực hiện kiện toàn CSĐT HIV/AIDS (chuyển các CSĐT HIV/AIDS
từ hệ thống Y tế dự phòng vào hệ thống KCB vì BHYT chỉ ký hợp đồng thanh toán BHYT với các cơ sở KCB) Tháng 01/2017 Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Thái Bình đã hoàn thành việc kiện toàn, các CSĐT được đặt tại Bệnh viện đa khoa huyện Tới tháng 9/2017 đã có 7/9 CSĐT ký được hợp đồng KCB BHYT, trong đó có CSĐT HIV/AIDS huyện Vũ Thư và huyện Kiến Xương Hai CSĐT này bắt đầu triển khai KCB BHYT vào cuối năm 2017 Tỷ lệ sử dụng thẻ BHYT tại CSĐT huyện Kiến Xương là 70/144(48,6%) và tại CSĐT huyện Vũ Thư là 13/67 (đạt 19,4%) vào cuối năm 2017 [2] Những bệnh nhân không có, hoặc không sử dụng thẻ BHYT khi KCB HIV/AIDS thì phải tự thanh toán chi phí KCB nhưng vẫn được cấp miễn phí thuốc ARV đến hết năm 2018
Thái Bình là một trong hai tỉnh được Cục Phòng, chống HIV/AIDS và CDC chọn để hỗ trợ đạt mục tiêu 100% người nhiễm có thẻ BHYT vào năm 2018 Hai Huyện Vũ Thư và Kiến Xương là hai huyện được tỉnh chọn đầu tiên để thực hiện mục tiêu này Câu hỏi đặt ra là thực trạng tham gia BHYT tại hai CSĐT này ra sao? có những yếu tố nào ảnh hưởng tới việc tham gia BHYT của họ? Để trả lời câu hỏi trên cần phải tìm hiểu thực trạng người nhiễm đang điều trị ở các cơ sở điều trị ARV có thẻ BHYT thế nào? họ sử dụng thẻ BHYT ra sao? Những yếu tố nào ảnh hưởng tới việc tham gia BHYT của họ? Để trả lời cho những câu hỏi trên,
chúng tôi dự kiến thực hiện đề tài nghiên cứu: “Thực trạng tham gia BHYT của người nhiễm HIV tại cơ sở điều trị ARV huyện Vũ Thư và Kiến Xương tỉnh Thái Bình và một số yếu tố ảnh hưởng năm 2018”
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của người nhiễm HIV đang điều trị ARV tại cơ sở điều trị huyện Vũ Thư và huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình năm
2018
2 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng tới việc tham gia bảo hiểm y tế của người nhiễm HIV đang điều trị ARV tại các cơ sở điều trị huyện huyện Vũ Thư và Kiến Xương tỉnh Thái Bình năm 2018
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các khái niệm về HIV/AIDS và thuốc ARV
HIV là chữ viết tắt của Tiếng Anh (Human Immunodeficienci Virus) HIV là virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người HIV gây tổn thương
hệ thống miễn dịch của cơ thể và làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh dẫn đến chết người [3]
AIDS là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV được thể hiện bởi các bệnh nhiễm trùng cơ hội, ung thư và các bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch dẫn đến tử vong Thời gian từ khi nhiễm HIV đến biến chuyển thành bệnh AIDS tùy thuộc vào hành vi và đáp ứng miễn dịch của từng người nhưng tựu chung lại trong khoảng thời gian trung bình là 5 năm [3]
ARV là tên viết tắt của Antirotrovirus – Thuốc kháng retrovirus; là loại thuốc tổng hợp dùng để điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS Thuốc không tiêu diệt được HIV mà chỉ ức chế vi rút không nhân lên, nhằm phục hồi hệ thống miễn dịch, làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do HIV, cải thiện chất lượng sống, dự phòng lây truyền HIV [3]
1.2 Giới thiệu chung về BHYT, tình hình bao phủ BHYT tại Việt Nam 1.2.1 Các khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm bảo hiểm
Bảo hiểm là sự cam kết bồi thường của tổ chức bảo hiểm cho người tham gia khi gặp rủi ro dẫn đến tổn thất với điều kiện người tham gia bảo hiểm nộp một khoản phí cho tổ chức bảo hiểm Phạm vi bảo hiểm là những rủi ro mà người tham gia đăng ký với tổ chức bảo hiểm [1]
1.2.1.2 Khái niệm bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là một hình thức bảo hiểm được thực hiện trong lĩnh vực y tế Nhằm mục đích chia sẻ rủi do, giảm bớt chi phí cho người tham gia khi không may mắc bệnh, ốm đau, nằm viện Điều 2 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2014 định
Trang 16nghĩa: “Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện” [16]
1.2.1.3 Khái niệm tham gia BHYT
Trong đề tài nghiên cứu này, tham gia BHYT là khi một cá nhân có thẻ BHYT theo bất kỳ hình thức nào (tự mua, được cấp, phát miễn phí hoặc đóng góp một phần phí) và sử dụng thẻ đó khi KCB
1.2.2 Các loại hình BHYT
Hiện nay ở Việt Nam có hai loại hình BHYT:
- Bảo hiểm y tế xã hội, mang tính xã hội không vì mục đích lợi nhuận và được Nhà nước tổ chức thực hiện theo Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014 Mọi người dân bắt buộc phải tham gia BHYT theo qui định của Luật Tuy nhiên hiện nay, chúng ta đang vẫn đang vận động dân chúng
tự nguyện tham gia BHYT, việc này mang tính bổ trợ và bước đệm để mở rộng chế
độ bắt buộc, tiến tới bao phủ toàn dân Quyết định số 1167/QĐ-TTg ngày 28/6/2016 của Chính phủ đã giao lại chỉ tiêu cho các tỉnh, thành phố để đến năm 2020 đạt tỉ lệ 90,7% dân số tham gia BHYT
- Bảo hiểm y tế thương mại, loại hình BHYT này mang tính chất tự nguyện
là chính Những người tham gia BHYTTN có thể lựa chọn công ty bảo hiểm y tế tư nhân Với các trường hợp này thì mệnh giá, quyền lợi của người tham gia bảo hiểm
sẽ là sự thỏa thuận giữa công ty bảo hiểm và cá nhân người tham gia bảo hiểm Những Công ty bảo hiểm tư nhân do hoạt động vì lợi nhuận nên quyết định mệnh giá dựa trên tình trạng sức khỏe của từng thành viên mua bảo hiểm chứ không dựa trên tình trạng sức khỏe chung của cộng đồng Thường những người có mức sống cao mới áp dụng hình thức bảo hiểm này vì họ sẽ nhận được mức bảo hiểm cao khi
họ đóng bảo hiểm nhiều [22]
Trang 171.2.3 Nguyên tắc của BHYT
Nguyên tắc BHYT là: (i) đảm bảo chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT; (ii) Mức đóng BHYT được xác định theo tỉ lệ % của tiền lương làm căn cứ đóng BHXH theo qui định bắt buộc của Luật BHXH; (iii) Mức hưởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi và thời gian tham gia BHYT; (iv) Chi phí khám chữa bệnh do Quỹ BHYT và người tham gia BHYT cùng chi trả; (v) Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch đảm bảo cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ [15, 16]
1.2.4 Đối tượng tham gia, mức đóng, quyền lợi khi tham gia BHYT Đối tượng tham gia BHYT bắc buộc được chia thành 5 nhóm: (i) Nhóm người lao động và sử dụng lao động đóng; (ii) nhóm do tổ chức BHXH đóng; (iii) nhóm do ngân sách nhà nước đóng; (iv) nhóm ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng; (v) nhóm hộ gia đình [17]
Mức bắt buộc mua (đóng) BHYT qui định chung là 4,5% lương cơ sở Tùy vào từng nhóm đối tượng công nhân, viên chức, bộ đội, công an hộ nghèo, cận nghèo, học sinh được nhà nước hỗ trợ 100% hay một phần khi tham gia BHYT
Ví dụ: Hỗ trợ 100% mức phí đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo có thể được hỗ trợ mức đóng từ 70-100%, học sinh sinh viên đang theo học tại các cơ sở đào tạo công lập, hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình được hỗ trợ 30% Nếu mua theo hộ gia đình thì mức đóng của các thành viên thứ hai, ba, tư… sẽ được giảm dần tới mức tối thiểu là 40% [17]
Quyền lợi được hưởng khi tham gia KCB BHYT có thể được thanh toán từ 80% đến 100% chi phí KCB tùy theo từng loại thẻ của người tham gia BHYT nếu đúng tuyến Trong trường hợp KCB BHYT không đúng tuyến, người bệnh sẽ được thanh toán 40% chi phí điều trị nội trú tại bệnh viện tuyến trung ương, 60% chi phí điều trị nội trú tại bệnh viện tuyến huyện [17]
Trang 181.2.5 Tình hình bao phủ bảo hiểm y tế tại Việt Nam
Bảng 1.1: Tình hình tham gia BHYT theo các nhóm đối tượng
2017
1 Nhóm do NSDLĐ và NLĐ đóng
12.081
12.831
13.031
2 Nhóm do cơ quan BHXH đóng
2.807
3.062
3.256
3 Nhóm do NSNN đóng
30.030
32.858
33.075
4 Nhóm do NSNN hỗ trợ
15.985
15.552
15.169
5 Nhóm tham gia BHYT hộ gia đình
9.070
11.530
12.145
Cộng
69.973
75.833
76.676
(Nguồn BHXH Việt Nam năm 2017 [12])
Nhận thức của người dân thay đổi cùng với nhiều chính sách hỗ trợ ưu việt
của Nhà nước trong mức đóng BHYT đã làm tỉ lệ tham gia BHYT tăng lên nhanh
chóng Tính đến 31/12/2016 tỉ lệ tham gia BHYT đạt 81,9% dân số, tăng 2,9% so
với chỉ tiêu tại Quyết định số 1167/QĐ-TTg [12] Vào cuối tháng 9/2017 tỉ lệ này
đã đạt 82.19% [11]
Biểu đồ 1.1: Tình hình bao phủ của bảo hiểm y tế tại Việt Nam
(Nguồn Vietdata [28])
Trang 191.2.6 Tình hình bao phủ BHYT và chính sách BHYT đối với người nhiễm HIV/AIDS
Trước tình hình các nguồn viện trợ quốc tế giảm dần và kết thúc sau 2018, ngày 16/10/2013 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1899/QĐ-TTg phê duyệt Đề
án đảm bảo tài chính cho hoạt động phòng, chống HIV/AIDS [19]; Quyết định số 2188/QĐ-TTg ban hành ngày 15/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo UBND các tỉnh, thành phố bố trí ngân sách để đảm bảo 100% người nhiễm có thẻ BHYT
và chi phí đồng chi trả thuốc ARV [18] Văn bản này đã có tác động rất mạnh đến
tỷ lệ bệnh nhân HIV/AIDS có thẻ BHYT Đến 30/9/2017 đã có 22/63 tỉnh bố trí ngân sách mua thẻ BHYT cho người nhiễm thuộc diện không được ngân sách nhà nước hỗ trợ Nếu như tỷ lệ bệnh nhân HIV có thẻ BHYT vào tháng 10 năm 2016 chỉ đạt 50%, tháng 2/2017 tỷ lệ này đã lên tới 67% Sau hơn 6 tháng tỷ lệ này đã đạt mức 82% vượt hẳn với mục tiêu đặt ra của năm 2017 (dự kiến 60%) [7] Tuy nhiên hiện tại chúng ta mới chỉ mở rộng được độ bao phủ BHYT đối với những người nhiễm đang được quản lý tại các CSĐT HIV/AIDS còn người nhiễm ở cộng đồng vẫn chưa có số liệu thống kê cụ thể
Biểu đồ 1.2: Tỷ lệ có thẻ BHYT trong bệnh nhân điều trị ARV đến tháng
10/2017
(Nguồn Cục Phòng, chống HIV/AIDS 2017 [6])
Tháng 10/2016 trước khi
ban hành QĐ 2188
Trang 201.2.7 Tình hình mắc, điều trị và thực trạng nguồn lực tài chính cho phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam
Đến cuối tháng 9 năm 2017, lũy tích số người nhiễm HIV tại Việt Nam là 208.371 người (còn sống) Trong đó số người nhiễm HIV được điều trị là 122.439 chiếm khoảng 57% số người nhiễm HIV Điều trị ARV đã được triển khai tại tất cả
63 tỉnh/thành phố, với 401 phòng khám điều trị ngoại trú ARV, triển khai cơ sở cấp phát thuốc điều trị ARV tại 562 trạm y tế, 53 trại giam [8]
Theo hướng dẫn mới nhất tại Quyết định số 5418/QĐ-BYT ngày 01/12/2017 của Bộ Y tế, người nhiễm HIV phải được đưa vào điều trị ARV ngay sau khi phát hiện nhiễm HIV [24] Thực hiện mở rộng điều trị ARV và mục tiêu 90-90-90 (90%
số người nhiễm biết được tình trạng nhiễm HIV của mình, 90% số người đã được chẩn đoán nhiễm HIV được điều trị ARV, 90% số người được điều trị ARV có tải lượng vi-rút HIV thấp dưới ngưỡng ức chế), dự kiến đến năm 2020 Việt Nam sẽ có khoảng 195.000 người nhiễm HIV được điều trị ARV [25]
Đến nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu HIV/AIDS, chỉ có thuốc ức chế
sự nhân lên của virus nhằm kéo dài cuộc sống của người nhiễm HIV là thuốc Anti RertoVirus (ARV) Tuy nhiên điều trị ARV là điều trị phức tạp, cần phải điều trị suốt đời, uống thuốc đầy đủ, đúng giờ, hàng ngày (tuân thủ điều trị) để đảm bảo hiệu quả điều trị, tránh kháng thuốc Khi điều trị ARV phải theo dõi tác dụng phụ, thất bại điều trị, thay đổi phác đồ và hội chứng phục hồi miễn dịch [24] Do đó, chăm sóc hỗ trợ điều trị phải toàn diện bao gồm quản lý lâm sàng, tư vấn, hỗ trợ tâm lý xã hội, chăm sóc giai đoạn cuối đời, dự phòng lây nhiễm HIV
Trong khi số bệnh nhân HIV cần được điều trị ARV tăng nhanh thì nguồn viện trợ quốc tế lại giảm sút rõ rệt: PEPFAR giảm 10% trong năm 2016, giảm 40% trong năm 2017 tiến đến dừng hoàn toàn vào 2019; Quỹ toàn cầu chưa có kế hoạch
hỗ trợ sau 2017
Từ 2012, các nguồn tài trợ cho hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam đã có xu hướng cắt giảm và các đơn vị kỹ thuật đang thực hiện chuyển giao dần toàn bộ hoạt động, kinh phí, nhân lực, kỹ thuật cho địa phương [5]
Trang 21Biểu đồ 1.3: Các nguồn ngân sách nhà nước và nhà tài trợ đang cắt giảm
(Nguồn: VAAC, 2014 [5])
Đối với chương trình phòng, chống HIV/AIDS, 95% kinh phí mua thuốc ARV điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS do các tổ chức quốc tế tài trợ, chủ yếu từ hai nguồn PEPFAR và Quỹ Toàn cầu Giai đoạn từ năm 2008 - 2010 thì 73% tổng kinh phí cho Chương trình phòng, chống Việt Nam được hỗ trợ từ nước ngoài [21] Theo lộ trình cắt giảm kinh phí viện trợ, PEPFAR sẽ dừng tài trợ 100% hỗ trợ trực tiếp gồm thuốc, sinh phẩm, nhân lực từ năm 2018 Dự án Quỹ toàn cầu kết thúc vào tháng 12/2017, giai đoạn tiếp theo 2018-2020 còn đang chờ phê duyệt
Theo ước tính tổng nhu cầu kinh phí cho công tác phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2014-2020 là 24.547 tỷ đồng (trong đó, 12.625 tỷ đồng cho công tác điều trị) Trên thực tế chúng ta mới chỉ đáp ứng được 11.216 tỷ đồng (45,7%) [10] Ngân sách quốc gia cho phòng, chống HIV/AIDS đã giảm đáng kể từ 245 tỷ đồng vào năm 2013 xuống 85 tỷ đồng vào năm 2014 Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đã chấm dứt vào năm 2015 và từ năm 2016 chuyển thành Dự án Phòng, chống HIV/AIDS thuộc Chương trình mục tiêu Y tế dân số
Nhiều dịch vụ liên quan đến điều trị đã bị cắt gảm do các dự án viện trợ đang rút dần Nhiều tỉnh, thành phố nằm trong kế hoạch cắt giảm dần nguồn viện trợ: Xét nghiệm CD4 đã dừng tài trợ vào năm 2017, xét nghiệm tải lượng virus HIVdừng tài
Trang 22trợ vào năm 2018 Thuốc ARV dừng sau năm 2018 Việc chuyển sang hệ thống BHYT là tất yếu nhằm đảm bảo tính bền vững cho Chương trình phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam
1.5 Tổng quan các nghiên cứu về tham gia BHYT của người nhiễm HIV
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới việc tham gia BHYT
1.5.1 Mua và sử dụng thẻ BHYT
Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu phát triển cộng đồng năm 2013 về đánh giá BHYT cho người nhiễm HIV tại tỉnh Đồng Tháp và Ninh Bình Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống được sử dụng và tiến hành trên 484 đối tượng hiện đang điều trị tại các CSĐT Phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu
là định lượng kết hợp với định tính Kết quả cho thấy: Tỷ lệ bao phủ chung BHYT
là 54% trong đó ở Ninh Bình là 69% và ở Đồng Tháp là 39% Trạm Y tế xã là nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu của đa số người nhiễm tại hai Tỉnh nhưng có tới 60% người nhiễm mong muốn được đăng ký khám chữa bệnh tại tuyến huyện và tỉnh; tỷ lệ người nhiễm HIV có dự định tham gia BHYT là 86% [4]
Một nghiên cứu cắt ngang trên 200 người nhiễm HIV/AIDS của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Thừa Thiên Huế về tiếp cận và sử dụng bảo hiểm y tế trong chăm sóc sức khỏe của người nhiễm HIV/AIDS tỉnh Thừa Thiên Huế năm
2015 cho thấy: 82,0% có thẻ bảo hiểm y tế; 50,5% có bảo hiểm y tế tự nguyện; 21,5% là bảo hiểm do hộ nghèo, cận nghèo và 10,0% là bảo hiểm y tế khác Nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại trạm y tế là 50,0%; Trung tâm y tế là 18,5% Có 22,5% ĐTNC sử dụng thẻ bảo hiểm y tế trong tất cả các lần khám chữa bệnh ngoại trú; 20,7% sử dụng một số lần và 56,7% không sử dụng Có 96,5% người nhiễm sẵn sàng mua thẻ bảo hiểm y tế Lý do không có thẻ bảo hiểm y tế: 36,11% là thủ tục mua bảo hiểm y tế khó khăn; 27,78% thấy không cần thiết; 16,67% hiện đang được điều trị miễn phí; 11,11% là không có tiền và 8,33% sợ bị biết tình trạng nhiễm Lý do người nhiễm không sử dụng bảo hiểm y tế trong khám chữa bệnh, do sợ bị lộ thông tin về tình trạng nhiễm HIV là 27,5%; thời gian chờ
Trang 23đợi được khám bệnh lâu là 19,5%; khó khăn trong chuyển tuyến là 14,0%; khó khăn trong thủ tục thanh toán là 9,0% và khác là 12,0% [9]
Nghiên cứu cắt ngang, phối hợp định lượng với định tính được tiến hành trên toàn bộ 351 bệnh nhân đang điều trị ARV tại 03 CSĐT (CSĐT) tỉnh Bắc Giang năm 2016 của Dương Văn Vịnh cho kết quả: tỷ lệ có BHYTTN trong tổng số 351 bệnh nhân là 51,3% và tỷ lệ dự định mua bảo BHYT trong giai đoạn tiếp theo là 64,7%, trong đó nhóm có thẻ BHYT là 96,1%, nhóm không có thẻ BHYT là 31,6%; Các lý do không mua thẻ BHYT là: không có tiền để mua chiếm tỷ lệ 81,9%; sợ bị
kỳ thị, phân biệt, đối xử chiếm 68,8%; sợ bị lộ thông tin cá nhân chiếm tỉ lệ 63,7%
và cho rằng BHYT không cần thiết chiếm tỷ lệ 43,3% Các lý do bệnh nhân tham gia BHYT trong năm tiếp theo là: mắc HIV/AIDS chiếm tỷ lệ 57,5%; phòng khi ốm 50,1%; tham gia BHYT có nhiều quyền lợi chiếm tỷ lệ 50,4% [29]
Nghiên cứu của Hoàng Quỳnh Anh (2017) về “Thực trạng mua và sử dụng thẻ BHYT của bệnh nhân HIV/AIDS tại cơ sở chăm sóc điều trị HIV/AIDS, Trung tâm y tế thành phố Yên Bái” cho thấy lý do người nhiễm chưa mua thẻ BHYT là do: Không có tiền (83,6%); sợ bị kỳ thị, phân biệt đối xử (33,6%); sợ lộ thông tin cá nhân về tình trạng nhiễm HIV/AIDS (17,3%); thiếu giấy tờ tùy thân để mua BHYT (11,8%); thấy BHYT là không cần thiết (31,8%); không mua do thuốc ARV còn đang phát miễn phí (48,2%); không mua do cho rằng mức đóng cao (21,8%); thủ tục mua mức tạp (3,7%); sử dụng thẻ BHYT khi KCB phải chờ lâu (1,8%) Lý do bệnh nhân khi đi khám không dùng thẻ BHYT chủ yếu là do phải chờ đợi lâu (87,1%); bị kỳ thị, phân biệt, đối xử chiếm 58,1% [1]
1.5.2 Nhóm yếu tố cá nhân
Tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, thu nhập
Theo một nghiên cứu của Ngô Văn Đôn trên 215 người trong hộ gia đình có
ít nhất 1 người tham gia BHYTTN và 215 hộ gia đình chưa có ai tham gia BHYT thì những người trên 60 tuổi có tỷ lệ cao ở nhóm chưa có thẻ BHYT (χ2=7,2; p=0,027<0,05) [13]
Trang 24Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu phát triển cộng đồng năm 2013 về đánh giá BHYT cho người nhiễm HIV tại tỉnh Đồng Tháp và Ninh Bình thì lại chỉ
ra rằng: Tỷ lệ người nhiễm có thu nhập nghèo, cận nghèo là 83,3%; tỷ lệ người nhiễm có thu nhập không nghèo là 29,0% Trong số những người có BHYT thì loại thẻ BHYT người nghèo chiếm cao nhất 64%; cận nghèo 8%; tự nguyện 23% [4]
Nghiên cứu của Dương Văn Vịnh, cho thấy: Tỷ lệ đối tượng có trình độ học vấn đến cấp 2 không mua BHYTTN cao hơn 1,7 lần đối tượng có trình độ học vấn trên cấp 2 Trình độ học vấn thấp thì mua BHYTTN thấp, mối liên quan này có ý nghĩa thống kê (95% CI: 1,0-2,7; p < 0,05) Tỷ lệ đối tượng có thu nhập từ 3 triệu/ tháng trở xuống không mua BHYTTN cao hơn 2,6 lần đối tượng có thu nhập trung bình trên 3 triệu/tháng Mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thu nhập và nhu cầu mua BHYTTN (95% CI: 1,7-4,1; p< 0,01) [29]
Hoàng Quỳnh Anh lại chỉ ra trong nghiên cứu của mình bệnh nhân có độ tuổi
từ 35 trở lên có khả năng mua BHYT cao gấp 3 lần bệnh nhân có độ tuổi dưới 35 (p<0,01) Tỷ lệ bệnh nhân có trình độ học vấn trên cấp 2 có khả năng mua BHYT cao gấp 1,9 lần đối tượng có trình độ học vấn từ cấp 2 trở xuống Bệnh nhân có thu nhập từ 3 triệu đồng/tháng trở lên có khả năng mua BHYT cao gấp 1,9 lần bệnh nhân có thu nhập dưới 3 triệu đồng/tháng (p=0,22); không có mối liên quan giữa giới tính, nghề nghiệp và tình trạng hôn nhân với việc mua BHYT của bệnh nhân[1]
Kiến thức về BHYT
Geoffrey Setswe và các cộng sự (2015) đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang hai giai đoạn có hệ thống về nhận thức của những người cư trú tại Limpopo, KwaZulu-Natal và các tỉnh miền đông Cape (Nam Phi) về Bảo hiểm Y tế Quốc gia (NHI) Nghiên cứu được tiến hành trên 748 người, dữ liệu được thu thập bằng cách
sử dụng điện thoại di động hỗ trợ phỏng vấn cá nhân Kết quả cho thấy 80,3% người được hỏi nhận thức được về BHYT; (49,8%) số người trả lời không biết cách BHYT hoạt động và 71,8% thiếu nhận thức về nguồn gốc của sự phát triển của khái niệm BHYT ở Nam Phi; 48,1% biết rằng Quỹ BHYT sẽ chi trả chi phí y tế nếu một
Trang 25người bị bệnh và 45,7% biết rằng với bảo hiểm y tế, yêu cầu sức khoẻ cơ bản được đảm bảo và nếu người đó bị ốm, điều trị y tế sẽ do Quỹ BHYT chi trả; 50,9% người trả lời không hiểu Quỹ BHYT sẽ chi trả như thế nào về chăm sóc sức khoẻ, chỉ có 44,8% biết BHYT sẽ trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhận được như thế nào [31]
Nghiên cứu của Dương Văn Vịnh cho thấy tỷ lệ bệnh nhân HIV/AIDS trong nghiên cứu có kiến thức đạt về BHYTTN chiếm tỷ lệ 37% Nhóm có BHYT kiến thức đạt 61,1%; không đạt chiếm 38,9% Nhóm không có BHYT kiến thức đạt chỉ
có 11,7% Nhóm có kiến thức không đạt về BHYTTN thì không mua thẻ cao gấp 11,8 lần so với nhóm có kiến thức đạt về BHYTTN (p<0,01) Sự chênh lệch giữa hai nhóm đối với hành vi dự định mua thẻ BHYT là 37 lần với p<0,01 Sự chênh lệch giữa hai nhóm đối với hành vi dự định mua thẻ BHYT là 13,2 lần với p<0,01 [29]
Hoàng Quỳnh Anh trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng có mối liên quan giữa kiến thức đạt về BHYT và dự định mua BHYT (p<0,01) Bệnh nhân có kiến thức đạt về BHYT mua BHYT cao gấp 5,6 lần bệnh nhân có kiến thức không đạt Bệnh nhân có kiến thức đạt dự định mua thẻ BHYT cao gấp 2,3 lần bệnh nhân
có kiến thức không đạt [1]
1.5.3 Nhóm yếu tố hộ gia đình
Nghiên cứu của Dương Văn Vịnh cho thấy: Nhóm hiểu hình thức tham gia của BHYTTN không theo hộ gia đình thì không mua BHYTTN cao gấp 4 lần nhóm hiểu biết về điều này (95%CI: 2,3-6,7) [29]
Theo nghiên cứu của Hoàng Quỳnh Anh cho thấy có 40,5% đối tượng có thu nhập bình quân của hộ gia đình/tháng ở mức nghèo, cận nghèo; 59% thu nhập ở mức trung bình Đa số các đối tượng được sự ủng hộ của gia đình trong việc mua BHYT (91,9%) Bệnh nhân có thu nhập hộ gia đình trung bình có khả năng mua và
dự định mua thẻ BHYT cao hơn bệnh nhân có thu nhập nghèo, cận nghèo lần lượt
là 1,8 và 2 lần Bệnh nhân được sự ủng hộ của gia đình có khả năng mua và dự định
Trang 26mua BHYT cao hơn bệnh nhân không nhận được sự ủng hộ của hộ gia đình lần lượt
là 24,2 và 21 lần (p<0,05) [1]
1.5.4 Yếu tố môi trường chính sách, dịch vụ BHYT
Yếu tố môi trường chính sách, chất lượng dịch vụ
Arleen A Leibowitz (2013) và các cộng sự trong một nghiên cứu tại 43 cơ
sở cung cấp dịch vụ HIV/AIDS ở California lại chỉ ra rằng khi người nhiễm được chuyển vào hệ thống bảo hiểm y tế có quản lý, tỷ lệ người nhiễm HIV được quỹ BHYT chi trả đã tăng từ 16,9% lên 55,5% Khi tham gia BHYT bệnh nhân HIV/AIDS dương tính giảm 43,5% và số người được chăm sóc qua BHYT tăng gấp
3 lần, từ 44 bệnh nhân/cơ sở cung cấp dịch vụ lên 148 bệnh nhân/cơ sở cung cấp dịch vụ [30]
Theo Trần Xuân Bách và cộng sự thì chi tiêu chăm sóc sức khoẻ hàng năm trung bình cho bệnh nhân HIV/AIDS là 188 đô la Mỹ 35,1% hộ gia đình có người nhiễm HIV sẽ rơi và tình trạng đói nghèo và 73,3% các hộ gia đình sẽ bị ảnh hưởng nếu ARV không được trợ cấp [32]
Theo Ngô Văn Đôn (2006) người dân gặp phải khi KCB bằng BHYT: 62% chờ đợi lâu; 54% thiếu thuốc, trang thiết bị kém; 40% nhân viên y tế không nhiệt tình; 18% là thủ tục hành chính, chuyển tuyến [1] Theo báo cáo của Ngan Do, Juhwan Oh và Jin-Seok Lee (2013) đối với nhóm tự đóng tỷ lệ có BHYT là 21,1%
Lý do được đưa ra là họ phải trả tiền để có BHYT vẫn còn đắt vì những đóng góp được tính toán dựa trên mức lương tối thiểu, không phải trên cơ chế khả năng để trả tiền Chất lượng dịch vụ y tế kém, thời gian chờ đợi lâu khi đi khám bệnh, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện với BHYT [13]
Nghiên cứu của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Thừa Thiên Huế (2015) cho thấy lý do không có thẻ bảo hiểm y tế là: 36,11% là thủ tục mua bảo hiểm y tế khó khăn; 27,78% thấy không cần thiết; 16,67% hiện đang được điều trị miễn phí; 11,11% là không có tiền và 8,33% sợ bị biết tình trạng nhiễm Lý do người nhiễm không sử dụng bảo hiểm y tế trong khám chữa bệnh, do sợ bị lộ thông tin về tình trạng nhiễm HIV là 27,5%; thời gian chờ đợi được khám bệnh lâu là
Trang 2719,5%; khó khăn trong chuyển tuyến là 14,0%; khó khăn trong thủ tục thanh toán là 9,0% và khác là 12,0% [9]
Nghiên cứu của Dương Văn Vịnh tại Bắc Giang (2016) lại cho thấy lý do không tham gia BHYT liên quan đến môi trường chính sách là: Thủ tục mua phức tạp 2,9%; thủ tục chi trả/thanh toán phức tạp 1,8%; phải đăng ký KCB ban đầu tại
cơ sở địa phương 55,6%; vẫn phải trả thêm chi phí KCB 5,3%, không hài lòng với chất lượng dịch vụ KCB BHYT 5,3% Lý do không dùng thẻ BHYT để KCB 54,1%
do chờ đợi lâu; 2,8% cho rằng người có thẻ BHYT không được nhận các dịch vụ tốt, 54,1% sợ bị kỳ thị và phân biệt đối xử [29]
Yếu tố kinh tế
Nghiên cứu của Ngô Văn Đôn về nhận thức mua và sử dụng thẻ BHYT tự nguyện và một số yếu tố liên quan của người dân tại xã Lạc Vệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh năm 2006 cho thấy 41% người dân không mua thẻ BHYT là do không có điều kiện kinh tế [13]
Theo một ghiên cứu của Beniamin Johns và cộng sự (2012) về chi tiêu và bảo hiểm y tế của bệnh nhân điều trị ARV đã được trình bày tại Hội nghị khoa học quốc gia về phòng, chống HIV/AIDS lần thứ VI được tổ chức tại Hà Nội thì tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS không có tiền để mua BHYT là 27% [33]
Theo báo cáo của Ngan Do, Juhwan Oh và Jin-Seok Lee (2013) về hướng độ bao phủ của bảo hiểm y tế ở Việt Nam, những rào cản, yếu tố thuận lợi và bài học
từ Hàn Quốc cho thấy yếu tố hạn chế sự tiếp cận của BHYT ở Việt Nam là giới hạn
về mặt tài chính ở một số nhóm như cận nghèo, học sinh (tỷ lệ có thẻ chỉ đạt 52,8%,
tỷ lệ của nhóm mua thẻ tự nguyện chỉ là 21,1% Lý do được họ đưa ra là BHYT vẫn còn đắt, họ phải trả tiền để có BHYT Mức đóng BHYT lại căn cứ vào mức lương tối thiểu, không phải dựa trên khả năng chi trả của người tham gia Trong khi đó chất lượng dịch vụ kém, thời gian chờ đợi lâu, hệ thống luật pháp về BHYT lại chưa hoàn thiện [34]
Nghiên cứu của Dương Văn Vịnh tại Bắc Giang (2016) cho thấy người có thu nhập thấp thì nhu cầu tham gia BHYT thấp Người có thu nhập dưới
Trang 283.000.000đ/tháng thì có dự định mua BHYT thấp hơn người có thu nhâp từ 3.000.000đ/tháng trở lên tới 4 lần [29]
Nghiên cứu của Hoàng Quỳnh Anh (2017) cho thấy 70,6% đối tượng nghiên cứu cho rằng mức đóng BHYT là cao so với thu nhập của họ Có tới 70% ĐTNC cho rằng mua BHYT theo HGĐ là gánh nặng đối với họ và gia đình [1]
Yếu tố về truyền thông
Theo Ngô Văn Đôn (2006) nghiên cứu về nhận thức, mua và sử dụng thẻ BHYT tự nguyện và một số yếu tố liên quan của người dân tại xã Lạc Vệ huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh năm 2006 thì người dân không mua thẻ BHYT là do thiếu thông tin về BHYTTN chiếm tỷ lệ 49,8% [13]
Nghiên cứu của Dương Văn Vịnh tại Bắc Giang cho thấy: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đã từng nghe nói về BHYT là 90,3% Nguồn thông tin chủ yếu nghe từ loa truyền thanh chiếm 76,9%, đài, ti vi chiến 65%, tờ rơi, áp phích 44,7% [29]
Cũng theo Hoàng Quỳnh Anh thì có tới 85,5% ĐTNC được nghe về BHYT thông qua cán bộ Y tế, qua tivi là 56,6%, qua đài là 51,5% Tỷ lệ mua BHYT được
tư vấn trước khi mua là 56,8%, trong đó 81,7% nhận được tư vấn từ cán bộ y tế Có 52,3% nhận được tư vấn về BHYT cho người nhiễm HIV từ cán bộ y tế Chỉ có 8,1% bênh nhân nhận được tài liệu truyền thông về HIV/AIDS trong vòng 12 tháng qua; 54,5% bệnh nhân biết về thông tin sẽ không còn thuốc ARV miễn phí trong thời gian tới Bệnh nhân biết thông tin thuốc ARV sẽ không còn miễn phí nữa mua
và dự định mua thẻ BHYT cao lần lượt gấp 3,3 và 3,8 lần nhóm không nhận được thông tin [1]
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT
Kiến thức, thông tin về BHYT: Theo Ngô Văn Đôn (2006) thì có tới 49,8%
số người không mua thẻ BHYT là do thiếu thông tin [13] Theo Trần Thúy Hà (2006) thì chỉ có 23,3% số người không mua thẻ BHYT có kiến thức đúng về BHYT Còn tại nghiên cứu của Dương Văn Vinh tại 3 PKNT tỉnh Bắc Giang năm
2015 thì nhóm có kiến thức không đạt về BHYTTN thì không mua thẻ cao gấp 11,8 lần so với nhóm có kiến thức đạt về BHYTTN (P<0,01) Hoàng Quỳnh Anh trong
Trang 29nghiên cứu của mình tại cơ sở chăm sóc điều trị HIV/AIDS, Trung tâm y tế thành phố Yên Bái đã chỉ ra rằng có mối liên quan giữa kiến thức đạt về BHYT và dự định mua BHYT (p<0,01) Bệnh nhân có kiến thức đạt về BHYT mua BHYT cao gấp 5,6 lần bệnh nhân có kiến thức không đạt Bệnh nhân có kiến thức đạt dự định mua thẻ BHYT cao gấp 2,3 lần bệnh nhân có kiến thức không đạt [1]
Môi trường chính sách, điều kiện kinh tế: Nghiên cứu của Ngô Văn Đôn (2006) cho thấy 41% người dân không mua thẻ BHYT là do không có điều kiện kinh tế [13] Theo một nghiên cứu của Beniamin Johns và cộng sự (2012) thì tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS không có tiền để mua BHYT là 27% [33] Theo báo cáo của Ngan Do, Juhwan Oh và Jin-Seok Lee (2013) thì ĐTNC cho rằng BHYT vẫn còn đắt, họ phải trả tiền để có BHYT Mức đóng BHYT lại căn cứ vào mức lương tối thiểu, không phải dựa trên khả năng chi trả của người tham gia [34].Nghiên cứu của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Thừa Thiên Huế (2015) cho thấy lý do không có thẻ bảo hiểm y tế là: 36,11% do thủ tục mua bảo hiểm y tế khó khăn; 11,11% do không có tiền [9] Nghiên cứu của Dương Văn Vịnh tại Bắc Giang (2016) lại cho thấy lý do không tham gia BHYT liên quan đến môi trường chính sách là: Thủ tục mua phức tạp 2,9%; thủ tục chi trả/thanh toán phức tạp 1,8%; phải đăng ký KCB ban đầu tại cơ sở địa phương 55,6%; vẫn phải trả thêm chi phí KCB 5,3%, không hài lòng với chất lượng dịch vụ KCB BHYT 5,3% [29] Còn theo Hoàng Quỳnh Anh (2017) cho thấy: 70,6% đối tượng nghiên cứu cho rằng mức đóng BHYT là cao so với thu nhập của họ Có tới 70% ĐTNC cho rằng mua BHYT theo HGĐ là gánh nặng đối với họ và gia đình [1]
Chất lượng dịch vụ KCB: Theo Ngô Văn Đôn (2006) người dân gặp phải khi KCB bằng BHYT: 62% chờ đợi lâu; 54% thiếu thuốc, trang thiết bị kém; 40% nhân viên y tế không nhiệt tình; 18% là thủ tục hành chính, chuyển tuyến [13] Theo báo cáo của Ngan Do, Juhwan Oh và Jin-Seok Lee (2013) thì BHYT vẫn còn đắt trong khi thời gian chờ đợi lâu, chất lượng dịch vụ kém, hệ thống pháp luật về BHYT chưa hoàn thiện [34] Nghiên cứu của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Thừa Thiên Huế (2015) cho thấy lý do không sử dụng dịch vụ y tế là: thời gian chờ đợi được khám bệnh lâu là 19,5%; khó khăn trong chuyển tuyến là 14,0%; khó khăn
Trang 30trong thủ tục thanh toán là 9,0% và khác là 12,0% [9] Nghiên cứu của Dương Văn Vịnh tại Bắc Giang (2016) lại cho thấy: 5,3% không hài lòng với chất lượng dịch vụ KCB BHYT Lý do không dùng thẻ BHYT để KCB: 54,1% do chờ đợi lâu; 2,8% cho rằng người có thẻ BHYT không được nhận các dịch vụ tốt; 54,1% sợ bị kỳ thị
và phân biệt đối xử [29]
Bên cạnh các yếu tố trên việc tham gia BHYT của người nhiễm HIV còn bị ảnh hưởng bởi thái độ tự kỳ thì, sợ lộ danh tính, thiếu giấy tờ tùy thân, trình độ học vấn, thu nhập… Theo Hoàng Quỳnh Anh (2017): 33,6% ĐTNC sợ bị kỳ thị phân biệt đối xử; 17,3% sợ bị lộ thông tin về tình trạng nhiễm HIV; 11,8% thiếu giấy tờ tùy thân để mua BHYT [1]
1.6 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Thái Bình là một tỉnh Nông nghiệp thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ, diện tích 1.537,8 km2, dân số 1.934.000, mật độ dân số 1.282 người/km2 đứng thứ ba trên toàn quốc sau thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, 94% dân số sống ở nông thôn và sản xuất nông nghiệp Thái Bình gồm 07 huyện (Đông Hưng, Kiến Xương, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Tiền Hải, Vũ Thư) và 01 thành phố (TP Thái Bình) với 286 xã, phường, thị trấn [27]
Thái Bình phát hiện được ca nhiễm HIV đầu tiên vào năm 1996, đến ngày 30/10/2017, số ca nhiễm HIV/AIDS được phát hiện là 3.284 người (1.633 người nhiễm ở địa phương, có địa chỉ rõ ràng), 895 trường hợp lũy tích tử vong do HIV/AIDS 100% huyện, thành phố và trên 88% số xã, phường, thị trấn phát hiện người nhiễm HIV Thành phố Thái Bình có số người nhiễm HIV cao nhất 947 ca, tiếp đến là huyện Kiến Xương 513 ca, huyện Vũ Thư 432 ca Tỷ lệ nhiễm HIV tại Thái Bình là 169 ca/100.000 dân [27]
Thái Bình hiện đang điều trị ARV cho 1.152 bệnh nhân tại 9 cơ sở điều trị (CSĐT) trong đó có 8 CSĐT cho người lớn (Bệnh viện Đa khoa tỉnh, và 7 bệnh viện Đa khoa tuyến huyện/thành phố) và 01 cơ sở điều trị cho trẻ em (Bệnh viện Nhi) Lũy tích bệnh nhân được điều trị ARV là 1.627 người Hiện nay hầu hết người
Trang 31nhiễm HIV/AIDS tại Thái Bình đang được điều trị ARV miễn phí từ nguồn tài trợ của các dự án quốc tế [27]
Trong số 1.633 người nhiễm HIV tại Thái Bình, có 1.152 người đang được điều trị tại các CSĐT HIV/AIDS, số người nhiễm ở cộng đồng là 481 người [27]
Hai huyện Vũ Thư và Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã hoàn thành việc kiện toàn CSĐT và ký hợp đồng với BHXH và đã triển khai việc KCB thông qua BHYT vào cuối năm 2017
Bảng1.2: Bệnh nhân HIV đang điều trị tại các CSĐT tỉnh Thái Bình
Trang 321.7 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết được xây dựng nhằm giải quyết 2 mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng tham gia BHYT của người nhiễm HIV đang điều trị ARV tại CSĐT huyện Vũ Thư và Kiến Xương tỉnh Thái Bình năm 2018; (2) Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng tham gia BHYT của người nhiễm HIV đang điều trị ARV tại CSĐT huyện Vũ Thư và Kiến Xương tỉnh Thái Bình năm 2018
Khung lý thuyết dựa trên tổng quan tài liệu và tham khảo từ một số nghiên cứu của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Thừa Thiên Huế (2015), nghiên cứu của Dương Văn Vịnh (2016), nghiên cứu của Hoàng Quỳnh Anh (2017) Trong khung lý thuyết có 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia BHYT:
Nhóm yếu tố cá nhân: Tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng
hôn nhân, điều kiện kinh tế cá nhân; sự ủng hộ của gia đình; kiến thứcvề BHYT; Một số khó khăn, rào cản: Tự kỳ thị; sợ lộ danh tính; sợ bị kỳ thị, phân biệt đối xử; thiếu giấy tờ tùy thân để mua thẻ BHYT; Nhu cầu về sử dụng dịch vụ; Kinh nghiệm KCB BHYT của bản thân
Nhóm yếu tố hộ gia đình: Qui mô hộ gia đình, điều kiện kinh tế hộ gia đình,
sự ủng hộ của gia đình đối với việc tham gia BHYT
Nhóm yếu tố về môi trường chính sách BHYT: Mức đóng BHYT (tỷ lệ được
ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương hỗ trợ); Hình thức, quyền lợi, nghĩa vụ khi tham gia BHYT; Thủ tục đăng ký khi tham gia BHYT; Được hỗ trợ kinh phí mua thẻ và đồng chi trả thuốc ARV
Nhóm yếu tố về dịch vụ y tế: Là sự đánh giá của ĐTNC về thủ tục hành chính
khi khám và thanh toán KCB BHYT; Chất lượng cung cấp dịch vụ điều trị HIV/AIDS; Thời gian chờ đợi khi KCB BHYT; Kỳ thị và phân biệt khi KCB BHYT; truyền thông về BHYT…
Các yếu tố này được đánh giá qua bộ câu hỏi định lượng và PVS/TLN nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu
Trang 33Yếu tố về môi trường chính
sách BHYT, kinh tế
+ Chính sách BHYT nói chung và
chính sách riêng cho người nhiễm
HIV
+ Mức đóng BHYT
+Hình thức, quyền lợi, nghĩa vụ
khi tham gia BHYT
+ Thủ tục đăng ký khi tham gia
BHYT
+ Địa phương hỗ trợ kinh phí mua
thẻ và đồng chi trả thuốc ARV
Yếu tố về dịch vụ YT + Thủ tục hành chính khi khám
và thanh toán KCB BHYT, chất lượng cung cấp dịch vụ điều trị HIV/AIDS
+ Thời gian chờ đợi khi KCB BHYT
+ Kỳ thị và phân biệt khi KCB BHYT
+ Thái độ của CBYT đối với KCB
+ Được cung cấp thông tin về BHYT; tư vấn, truyền thông trên thông tin đại chúng
KT&PBĐT, thiếu giấy tờ tùy thân
+ Kinh nghiệm KCB BHYT của
bản thân về chất lượng dịch vụ,
thời gian KCB, bị phân biệt, đối
xử khi sử dụng dịch vụ
Yếu tố hộ gia đình + Điều kiện kinh tế hộ gia đình + Quy mô hộ gia đình
+ Sự ủng hộ của gia đình
Thực trạng tham gia BHYT (có thẻ, sử dụng thẻ khi KCB)
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng
- Tiêu chí lựa chọn
+ Bệnh nhân người lớn (>18 tuổi) đang điều trị thuốc kháng HIV tại CSĐT huyện Vũ Thư và Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
+ Có đủ quyền công dân
+ Đủ khả năng và minh mẫn để trả lời câu hỏi của người phỏng vấn
+ Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Tiêu chí loại trừ:
+ Đối tượng không đáp ứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn
+ Đối tượng đang trong trại giam và tạm giam
+ Người nhiễm không còn đủ sức khỏe và minh mẫn để trả lời câu hỏi của người phỏng vấn
+ Từ chối tham gia nghiên cứu
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính
Đối tượng nghiên cứu được lựa chọn có chủ đích gồm:
- Bệnh nhân đang trực tiếp điều trị tại CSĐT HIV/AIDS hai huyện Vũ Thư
và Kiến Xương có thẻ/không có thẻ BHYT
- Cán bộ trực tiếp điều trị ARV tại CSĐT HIV/AIDS hai huyện Vũ Thư và Kiến Xương
- Lãnh đạo Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Thái Bình
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 3/2018 đến tháng 7/2018
- Địa điểm: Cơ sở điều trị HIV/AIDS huyện Vũ Thư và Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
Trang 352.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp phương pháp định lượng và định tính Nghiên cứu định lượng được tiến hành trước để đáp ứng mục tiêu 1 của nghiên cứu Nghiên cứu định tính thực hiện sau nhằm bổ sung thêm thông tin cho phần nghiên cứu định lượng và đáp ứng mục tiêu 2 của nghiên cứu
2.4.Cỡ mẫu nghiên cứu và phương pháp chọn mẫu:
2.4.1 Mẫu định lượng:
Tổng số bệnh nhân HIV/AIDS theo báo cáo của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Thái Bình tại 2 huyện Vũ Thư và Kiến Xương là 211 bệnh nhân (theo số liệu báo cáo đến tháng 9/2017) Trong phạm vi nghiên cứu này, mục tiêu 1 là mô tả thực trạng tham gia BHYT của ĐTNC, do đó học viên đã áp dụng chọn mẫu toàn
bộ trên đối tượng bệnh nhân HIV/AIDS đang điều trị tại 02 CSĐT HIV/AIDS huyện Vũ Thư và huyện Kiến Xương đáp ứng tiêu chuẩn nghiên cứu Thực tế tại thời điểm thu thập số liệu (12/3/2018 đến 31/5/2018) nhóm nghiên cứu chỉ thu thập được 203 phiếu định lượng do một số đối tượng đã chuyển cơ sở điều trị, đi vắng,
nhờ người nhà lấy thuốc
2.4.2 Mẫu định tính:
- Phỏng vấn sâu: Nghiên cứu tiến hành 03 cuộc phỏng vấn sâu
+ 01 cuộc phỏng vấn sâu Lãnh đạo Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh + 02 cuộc phỏng vấn sâu cán bộ trực tiếp điều trị tại CSĐT (01 cuộc/huyện)
- Thảo luận nhóm: Nghiên cứu dự định tiến hành 04 cuộc thảo luận nhóm
+ 02 cuộc TLN với bệnh nhân ở CSĐT đã mua thẻ BHYT (01 cuộc/huyện) + 02 cuộc TLN với bệnh nhân ở CSĐT chưa mua thẻ BHYT (01 cuộc/huyện) Nhưng trên thực tế sau khi thu thập số liệu định lượng,học viên thống kê lại thì chỉ còn 5/203 đối tượng là chưa có thẻ BHYT và lý do không có thẻ chủ yếu tập trung ở: Sợ lộ tình trạng nhiễm, không có tiền hoặc giấy tờ tùy thân và đi vắng nên không mua Vì vậy học viên đã chuyển từ TLN đối tượng chưa có thẻ thành 03 cuộc PVS
Trang 36đối tượng chưa có thẻ BHYT (đại diện cho 3 nhóm lý do chưa mua thẻ) nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn lý do không tham gia BHYT của họ
2.5 Phương pháp và kỹ thuật thu thập thông tin
Nghiên cứu kết hợp định lượng với định tính, học viên tiến hành thu thập số liệu định lượng trước Sau khi xong phần định lượng mới tiến hành thu thập số liệu định tính để bổ sung thông tin cho phần định lượng
Điều tra viên là học viên, và 04 cán bộ Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Thái Bình được học viên lựa chọn Các điều tra viên được tập huấn về mục đích điều tra và phương pháp thu thập số liệu định lượng, định tính trước khi tiến hành thu thập số liệu
Nghiên cứu viên (học viên) và giáo viên hướng dẫn chính làm luận văn giám sát quá trình thu thập thông tin định lượng Sau khi thu thập số liệu theo mẫu định sẵn, học viên và giáo viên hướng dẫn kiểm tra mức độ hợp lý của số liệu thu thập Nếu có sai sót thì yêu cầu điều tra viên bổ sung thông tin kịp thời
Học viên thực hiện phỏng vấn sâu, điều hành thảo luận nhóm
Số liệu được thu thập vào các ngày tái khám và nhận thuốc của bệnh nhân tại
cơ sở điều trị
2.5.1 Thu thập số liệu định lượng
Các đối tượng tham gia nghiên cứu được các điều tra viên phỏng vấn theo bộ câu hỏi được thiết kế sẵn (phụ lục 2) Bộ câu hỏi được thiết kế phù hợp với mục tiêu nghiên cứu để thu thập thông tin về cá nhân, kiến thức về BHYT của ĐTNC, hành
vi mua và sử dụng thẻ BHYT trong KCB Sau khi tập huấn điều tra viên và tiến hành điều tra thử, học viên nhận thấy bộ câu hỏi có nhiều chỗ không phù hợp với tình hình thực tế tại địa bàn nghiên cứu nên đã tiến hành điều chỉnh bộ câu hỏi thu thập số liệu định lượng cho phù hợp trước khi phỏng vấn chính thức Cụ thể: từ 43 câu hỏi rút xuống thành 40 câu hỏi Bỏ 03 câu: 18, 25, 30 Gộp các phương án trả lời hoặc lược bớt những phương án không sát thực tế của các câu: 5,7,8,11, 13, 15,16, 17, 20, 21, 23, 24, 30, 32 Thời gian mỗi cuộc phỏng vấn khoảng 15-20 phút
Trang 37Việc phỏng vấn, thu thập thông tin được thực hiện vào các ngày tái khám và nhận thuốc của bệnh nhân HIV/AIDS theo lịch của CSĐT huyện huyện Vũ Thư và huyện Kiến Xương Học viên trực tiếp thu thập số liệu định lượng cùng các thành viên của nhóm nghiên cứu (tỷ lệ trực tiếp thu thập khoảng 25% số phiếu)
2.5.2 Thu thập số liệu định tính:
- Công cụ thu thập: bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu theo các đối tượng (phụ lục 3,4,5,6)
- Kỹ thuật thu thập số liệu:
Để tránh bỏ sót ý hỏi và trả lời các cuộc phỏng vấn, thảo luận nhóm đều được ĐTNC đồng ý cho phép ghi âm
+ Đối PVS: Học viên là người trực tiếp thực hiện và ghi âm các cuộc phỏng vấn sâu
+ Đối với TLN:Học viên là người hỏi và 01 người trong nhóm nghiên cứu hỗ trợ ghi chép, ghi âm và giải thích thêm một số điểm ĐTNC còn thắc mắc
- Thời gian cho mỗi cuộc PVS khoảng 30-45 phút, TLN khoảng 60-90 phút 2.5.3 Quy trình thu thập số liệu
* Thông tin định lượng: Điều tra viên thu thập số liệu vào các ngày tái khám hàng tuần của bệnh nhân tại CSĐT
Bước 1: Cán bộ tại phòng khám thông báo cho bệnh nhân về nghiên cứu và mời đối tượng được phỏng vấn sang phòng chờ
Bước 2: Đối tượng nghiên cứu tới bàn tiếp đón tại phòng chờ Tại đây điều tra viên giới thiệu về nghiên cứu, đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu chuyển sang bước 3
Bước 3: Điều tra viên tiến hành phỏng vấn theo bộ câu hỏi
Bước 4: Kết thúc phỏng vấn, ĐTNC nhận chế độ của nghiên cứu
* Thông tin định tính:
Trang 38Đối tượng nghiên cứu được lựa chọn có chủ đích Nhóm nghiên cứu liên hệ với lãnh đạo Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS và cán bộ trực tiếp điều trị tại các CSĐT để hẹn lịch phỏng vấn và hẹn gặp theo lịch đã thỏa thuận trước Bệnh nhân HIV tại các CSĐT được học viên chọn lựa sau khi thu thập thông tin định lượng để
bổ sung thông tin cho phần số liệu định lượng Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS
có giấy mời, thông báo về nội dung nghiên cứu và mời các đối tượng tham gia cuộc điều tra theo lịch hẹn sẵn Cán bộ tại CSĐT liên hệ trực tiếp và thông báo cho các đối tượng này thời gian và nội dung TLN
Các cuộc TLN đối với người nhiễm đã có thẻ BHYT: Được thực hiện tại
CSĐT mà ĐTNC đang điều trị HIV/AIDS Học viên lựa chọn ĐTNC đa dạng theo
độ tuổi, hoàn cảnh kinh tế, nghề nghiệp, học vấn, có thẻ BHYT theo các hình thức
tự nguyện, được tỉnh cấp theo Quyết định 2188/QĐ-TTg, hộ nghèo, cận nghèo….Học viên thực hiện TLN với sự hỗ trợ của 01 cán bộ Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Thái Bình (thành viên nhóm nghiên cứu)
2.6 Quản lý, tính toán và phân tích số liệu
2.6.1 Đối với số liệu định lượng
Sau khi thu thập, các mẫu thu thập thông tin theo phụ lục 1 được kiểm tra tính đầy đủ thông tin trước và nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.1 Sau
đó, kiểm tra ngẫu nhiên 10% số phiếu sau khi đã nhập để phát hiện lỗi (nếu có) nhằm tránh sai số trong nhập liệu Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0
Trang 39Phân tích thống kê mô tả nhằm mô tả các đặc điểm chung và xác định tỷ lệ tham gia BHYT cũng như các yếu tố liên quan đến sự tham gia BHYT của người nhiễm HIV/AIDS tại CSĐT
2.6.2 Đối với số liệu định tính
Các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được học viên và các điều tra viên thực hiện trực tiếp và ghi âm lại, sau đó được học viên trực tiếp gỡ băng và ghi chép lại trung thực, tên người được phỏng vấn không được ghi trong báo cáo mà chỉ ghi chức danh hoặc mã hóa bằng số (1,2,3 )
Kết quả từ các cuộc phỏng vấn sâu được học viên tổng hợp và phiên giải thông tin theo các chủ đề để phục vụ mục tiêu 2 của nghiên cứu
2.7 Các biến số trong nghiên cứu
2.7.1 Biến định lượng:
Các biến số trong nghiên cứu được xây dựng sau khi tham khảo một số nghiên cứu của: Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Thừa Thiên Huế [9], Nghiên cứu của Dương Văn Vịnh [29], Hoàng Quỳnh Anh [1] và khung lý thuyết Nghiên cứu có 40 biến số được chia thành 5 nhóm:
Nhóm 1: Thông tin chung về ĐTNC: Gồm 11 biến
Nhóm 2: Thực trạng mua (có thẻ) và sử dụng thẻ BHYT: Gồm 11 biến
Nhóm 3: Kiến thức về BHYT: Gồm 8 biến
Nhóm 4: Yếu tố hộ gia đình: Gồm 03 biến
Nhóm 5: Thông tin liên quan đến BHYT: Gồm 7 biến
(Chi tiết xem Bảng biến số ở Phụ lục 01)
Trang 402.7.2 Biến định tính:
tượng
Yếu tố môi trường, chính sách, kinh tế: Thuận lợi,
khó khăn của chính sách BHYT nói chung và
quyết định 2188/QĐ-TTg nói riêng: Mức đóng
BHYT; quyền lợi khi tham gia BHYT; thủ tục để
được tham gia BHYT; thủ tục để được cấp miễn
Yếu tố cá nhân, hộ gia đình: Điều kiện kinh tế cá
nhân, kinh tế hộ gia đình, quy mô hộ gia đình, sự
ủng hộ của gia đình, kiến thức về BHYT Lý do
mua và chưa mua BHYT; dự định mua BHYT, lý
do dự định mua, không mua; lý do sử dụng, không
sử dụng thẻ BHYT khi KCB Thuận lợi, khó khăn
+ Thời gian chờ đợi khi KCB BHYT
+ Kỳ thị, phân biệt đối xử khi KCB BHYT
+ Thông tin về BHYT: Phương tiện thông tin đại
chúng, được nhân viên y tế tư vấn