Để xây dựng nhà máy, một bộ phận người Mnông buộc phải tổ chức tái định cư (TĐC), một bộ phận khác chịu tác động hiện đang có những biến đổi lớn về không gian sống, văn hóa, SK, … Nhữn[r]
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
PHẠM TRỌNG LƯỢNG
SINH KẾ CỦA NGƯỜI MNÔNG DƯỚI TÁC ĐỘNG
CỦA THỦY ĐIỆN BUÔN TUA SRAH
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
PHẠM TRỌNG LƯỢNG
SINH KẾ CỦA NGƯỜI MNÔNG DƯỚI TÁC ĐỘNG
CỦA THỦY ĐIỆN BUÔN TUA SRAH
Ở HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành : Dân tộc học
Mã số : 931 03 10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DÂN TỘC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh
HUẾ, NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này được chỉ rõ nguồn gốc
Huế, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Phạm Trọng Lượng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của quý thầy cô giáo khoa Lịch sử, Phòng Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
Tôi xin cảm ơn Công ty Thủy điện Buôn Kuốp, Nhà máy thủy điện Buôn Tua Srah; Huyện ủy và Ủy ban Nhân dân huyện Lắk; các phòng: Thống kê, Dân tộc - Tôn giáo, Kinh tế - Hạ tầng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên - Môi trường, Giáo dục và Đào tạo; Ban quản lý Dự án giảm nghèo; cán bộ và nhân dân các xã Krông
Nô, Nam Ka, Ea Rbin, Buôn Triết, Đắk Nuê, Đắk Phơi, Buôn Tría, Bông Krang (nơi thực hiện điều tra số liệu, thu thập thông tin) đã tận tình cung cấp thông tin, tài liệu, số liệu để tôi nghiên cứu, hoàn thành luận án này
Đặc biệt, cho phép tôi được bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian, cho tôi nhiều lời khuyên và kinh nghiệm quý báu để tôi hoàn thành luận án
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận án này
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH Công nghiệp hóa
CRES VNU-Central Institute For Natural Resource Inviromental Studies
Viện Tài nguyên Môi trường – Đại học Quốc gia Hà Nội CSHT Cơ sở hạ tầng
CTTĐ Công trình thủy điện
DFID Department for International Development
Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh HĐH Hiện đại hóa
HĐND Hội đồng Nhân dân
IFAD International Fund for Agricultural Development
Quỹ Phát triển Nông nghiệp quốc tế IISD International Institute for Sustainable Development
Viện Quốc tế Phát triển bền vững IUCN International Union for Conservation of Nature and Natural Resources
Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên KHCN Khoa học Công nghệ
KHXH&NV Khoa học Xã hội và Nhân văn
MW Mê ga oát/megawatt
NLSK Nguồn lực sinh kế
NMTĐ Nhà máy thủy điện
NGOs Non-governmental organization
Tổ chức Phi chính phủ Nxb Nhà xuất bản
OXFAM Oxford Committee for Famine Relief
Ủy ban Oxford cho cứu trợ nạn đói THCS Trung học cơ sở
UB MTTQ Ủy ban Mặt trận tổ quốc
UBND Ủy ban Nhân dân
USAID United States Agency for International Development
Cơ quan Phát triển Quốc tế của Hoa Kỳ
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4 Nguồn tư liệu của luận án 4
5 Đóng góp của luận án 5
6 Bố cục của luận án 6
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN, CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
1.2 Cơ sở lý luận 19
1.3 Các phương pháp nghiên cứu 29
1.4 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 33
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2 SINH KẾ CỦA NGƯỜI MNÔNG TRƯỚC KHI XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN BUÔN TUA SRAH HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK 40
2.1 Các nguồn lực sinh kế của người Mnông trước khi xây dựng thủy điện 40
2.2 Các hoạt động sinh kế của người Mnông trước khi xây dựng thủy điện 52
Tiểu kết chương 2 74
CHƯƠNG 3 SINH KẾ CỦA NGƯỜI MNÔNG TỪ KHI XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN BUÔN TUA SRAH HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK 75
3.1 Biến đổi các nguồn lực sinh kế của người Mnông tái định cư và vùng chịu tác động thủy điện 75 3.2 Tác động của các nguồn lực sinh kế đến biến đổi sinh kế người Mnông tái định cư
Trang 7và vùng chịu tác động thủy điện 94
3.3 Sinh kế thích ứng hiện nay của người Mnông tái định cư và vùng chịu tác động thủy điện 104 Tiểu kết chương 3 112
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG CHO NGƯỜI MNÔNG TÁI ĐỊNH CƯ VÀ VÙNG CHỊU TÁC ĐỘNG CỦA THỦY ĐIỆN BUÔN TUA SRAH HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK 113
4.1 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức các nguồn lực sinh kế của người Mnông 113
4.2 Phân tích các hoạt động sinh kế hiện nay của người Mnông 119
4.3 Một số giải pháp cụ thể phát triển sinh kế bền vững cho người Mnông 122
Tiểu kết chương 4 136
KẾT LUẬN 138
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất ở xã Buôn Triết, Krông Nô, Nam Ka, Ea Rbin 41
Bảng 2.2 Số trường, phòng học, giáo viên và trẻ bậc mầm non huyện Lắk 43
Bảng 2.3 Số trường, phòng học, giáo viên và học sinh các bậc học phổ thông huyện Lắk 43 Bảng 2.4 Tình hình y tế và chăm sóc sức khỏe tại các xã nghiên cứu 45
Bảng 2.5 Tài sản cộng đồng xã Buôn Triết, Krông Nô, Nam Ka, Ea Rbin 49
Bảng 2.6 Lịch làm nương rẫy của người Mnông 61
Bảng 2.7 Hoạt động nông nghiệp và lễ hội của người Mnông 62
Bảng 3.1 Diện tích đất sản xuất và tình hình sử dụng 76
Bảng 3.2 Hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể địa phương 84
Bảng 3.3 Tiếp cận các dịch vụ xã hội của người Mnông 87
Bảng 3.4 Nhu cầu và nguyện vọng vay vốn của nông hộ 90
Bảng 3.5 Sở hữu tài sản vật chất của người Mnông 95
Bảng 3.6 Đặc trưng hình thái lưu vực sông 104
Bảng 3.7 Diện tích gieo trồng trung bình các loại cây trước và sau khi xây dựng thủy điện 105
Bảng 4.1 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức các nguồn lực sinh kế của người Mnông 114
Bảng 4.2 Phân tích các hoạt động sinh kế hiện nay của người Mnông 119
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Khung sinh kế bền vững của DFID 27
Sơ đồ 1.2 Khung sinh kế bền vững của IFAD 28
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ lao động theo lứa tuổi 78
Biểu đồ 3.2 Truyền dạy tri thức bản địa 79
Biểu đồ 3.3 Cơ cấu nghề nghiệp 80
Biểu đồ 3.4 Trình độ học vấn 80
Biểu đồ 3.5 Kiến thức và kỹ năng làm việc 81
Biểu đồ 3.6 Tỉ lệ học sinh bỏ học trong độ tuổi đến trường 81
Biểu đồ 3.7 Trình độ học vấn của lao động phổ thông 82
Biểu đồ 3.8 Quan hệ gia đình, dòng họ, buôn làng, tôn giáo của người Mnông 82
Biểu đồ 3.9 Các tổ chức địa phương mà người Mnông tham gia 83
Biểu đồ 3.10 Nguồn thông tin được người Mnông chia sẻ 84
Biểu đồ 3.11 Mức độ hiểu biết và tổ chức lễ nghi truyền thống của người Mnông 85
Biểu đồ 3.12 Mức độ hỗ trợ của các tổ chức địa phương 86
Biểu đồ 3.13 Đánh giá hiệu quả các khóa bồi dưỡng, tập huấn 86
Biểu đồ 3.14 Đánh giá những biến động của các hoạt động kinh tế 89
Biểu đồ 3.15 Nguyên nhân không vay được vốn ngân hàng 90
Biểu đồ 3.16 Chất lượng nguồn tư liệu sản xuất 92
Biểu đồ 3.17 Chất lượng hệ thống thủy lợi 93
Biểu đồ 3.18 Tình hình khai thác lâm sản, thủy sản năm 2004 và năm 2018 100
Biểu đồ 3.19 Mức sống của người Mnông hiện nay so với trước khi xây dựng Thủy điên Buôn Tua Srah 103
Biểu đồ 3.20 Những khó khăn trong trồng trọt 106
Biểu đồ 3.21 Những thuận lợi trong trồng trọt 107
Biểu đồ 3.22 Những khó khăn trong chăn nuôi 109
Biểu đồ 3.23 Những thuận lợi trong chăn nuôi 109
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xây dựng các công trình thủy điện (CTTĐ) là những dự án cơ sở hạ tầng (CSHT)
có tác động to lớn đến sự phát triển quốc gia Hơn nữa, các dự án này cũng là nguồn gốc của những tranh luận giữa các nhà môi trường, đầu tư, kinh tế, nhà khoa học và cộng đồng bị ảnh hưởng Việt Nam là đất nước đang trong thời kì phát triển nên rất cần năng lượng, tuy nhiên lại hạn chế về năng lượng điện mặt trời, điện hạt nhân, điện gió Vì vậy, việc lựa chọn xây dựng các nhà máy thủy điện (NMTĐ) là một giải pháp hợp lý để cung cấp năng lượng Mặt khác, TĐ thường được coi là "sạch" và "tái tạo" Ngoài cung cấp nguồn năng lượng, các đập TĐ còn được sử dụng để trữ nước, ngăn lũ, điều tiết sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, thực tế cho thấy TĐ đã gây ra một số hệ quả khá nghiêm trọng đến môi trường và dân sinh trong khu vực dự án Hậu quả mà các NMTĐ gây ra
là những mâu thuẫn từ cộng đồng địa phương, bao gồm không có đất, tình trạng thất nghiệp, gạt ra ngoài lề, an ninh lương thực, gia tăng bệnh tật, mất quyền truy cập vào các nguồn tài sản chung, chia cắt cộng đồng
Các NMTĐ ở Việt Nam được chú ý đầu tư, xây dựng từ những năm 1970 (1) và nhất là từ sau thời kì đổi mới Thực hiện kế hoạch chiến lược đảm bảo năng lượng phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước, hàng trăm NMTĐ lớn nhỏ được xây dựng Các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách đã/đang nghiên cứu và đánh giá những tác động từ các CTTĐ đến đời sống những cư dân bị ảnh hưởng Vấn đề này hiện đang được xem xét, cân nhắc có tiếp tục lập các dự án xây dựng nữa hay không hoặc tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế khác Tuy nhiên, để giải quyết hậu quả từ các NMTĐ đã được xây dựng, tìm ra các giải pháp khả quan hơn đang là thách thức đối với nhiều ngành và nhà khoa học, trong lúc cộng đồng người dân vẫn đang gánh chịu hằng ngày Việc người dân thích ứng hoặc cố gắng để thích nghi với cuộc sống và môi trường mới, những yếu tố nào giúp họ phục hồi và phát triển sinh kế (SK) thì cần có hướng tiếp cận thực tế, hiệu quả trên cơ sở lý thuyết phù hợp
Sông Sêrêpôk (hay Srêpôk) được hợp thành bởi 2 phụ lưu chính là sông Krông Ana và Krông Nô Đây là con sông lớn nhất ở tỉnh Đắk Lắk với chiều dài 126 km Trên
hệ thống sông Sêrêpôk đã xây dựng, vận hành 9 NMTĐ gồm: Đức Xuyên, Buôn Tua
(1) Nhà máy TĐ đầu tiên ở Việt Nam là TĐ Thác Bà hoàn thành năm 1970, do Liên Xô giúp thiết kế, xây dựng
Trang 12Srah, Buôn Kuốp, Đray H’Linh 1, Đray H’Linh 2, Hòa Phú, Sêrêpôk 3, Sêrêpôk 4, Sêrêpôk 4A Thủy điện Buôn Tua Srah là NMTĐ thuộc bậc thứ hai có tác động trực tiếp đến người Mnông Để xây dựng nhà máy, một bộ phận người Mnông buộc phải tổ chức tái định cư (TĐC), một bộ phận khác chịu tác động hiện đang có những biến đổi lớn về không gian sống, văn hóa, SK, … Những biến đổi có tính tích cực như: buôn làng được quy hoạch và có CSHT tương đối khang trang, giao thông, giáo dục, y tế, thông tin liên lạc được cải thiện; biến đổi tiêu cực như: điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu, nhiệt độ
có nhiều biến đổi, chất lượng các loại hình đất canh tác ngày càng suy giảm, nguồn nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất không đảm bảo, quan hệ dòng tộc, cộng đồng thay đổi, … Trong những biến đổi đó, biến đổi về SK là hết sức phức tạp và đa dạng
Mnông là tộc người tại chỗ cư trú lâu đời tại đây, có hoạt động kinh tế khá đa dạng trong đó khai thác nguồn lợi tự nhiên là tương đối điển hình Từ khi TĐ Buôn Tua Srah được xây dựng, nguồn lực tự nhiên bị thu hẹp và suy giảm, các nguồn lực khác gia tăng chậm, người Mnông buộc phải thay đổi SK để đảm bảo đời sống Môi trường sống thay đổi đã có những tác động to lớn đến SK, gây ra những khó khăn, bất cập cho người dân TĐC Ngoài ra, một bộ phận cư dân Mnông sống tại khu vực ảnh hưởng của NMTĐ Buôn Tua Srah cũng chịu nhiều tác động từ công trình này NMTĐ Buôn Tua Srah đã
và đang có những tác động to lớn, làm thay đổi các nguồn lực tự nhiên, con người, xã hội, tài chính, vật chất của người Mnông TĐC và vùng chịu tác động Chính những yếu
tố trên dẫn đến SK và sự thích ứng SK của người Mnông gặp nhiều khó khăn
Trong thực tế, sinh kế của người dân TĐC và vùng chịu tác động không chỉ là vấn đề đặt ra đối với người Mnông ở huyện Lắk mà còn là vấn đề đặt ra đối với các tộc người khác cư trú tại khu vực này Ngoài ra, đây cũng là một vấn đề lớn ở hầu hết các CTTĐ trên cả nước Mức độ tác động đến SK sẽ khác nhau, đời sống của người dân bị ảnh hưởng trong lúc SK truyền thống không còn được duy trì, các nguồn hỗ trợ sinh hoạt, sản xuất không thể kéo dài mãi Do vậy, rất cần thực hiện những nghiên cứu cơ bản, cụ thể về bảo đảm sinh kế bền vững (SKBV) đối với người Mnông TĐC và vùng chịu tác động TĐ Buôn Tua Srah ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Sinh kế của người Mnông dưới
tác động của thủy điện Buôn Tua Srah ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài luận
án tiến sĩ dân tộc học của mình
Trang 132 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Qua nghiên cứu SK của người Mnông trước và sau khi xây dựng TĐ Buôn Tua Srah ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, luận án tìm hiểu các yếu tố thúc đẩy và cản trở nguồn lực sinh kế (NLSK) do TĐ gây nên, đồng thời gợi ý các giải pháp phù hợp để phát triển
SK cho người Mnông khu TĐC và vùng chịu tác động TĐ Buôn Tua Srah trong bối cảnh mới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để làm rõ mục tiêu trên, luận án sẽ có những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa lý thuyết về SK; nghiên cứu về SK của người Mnông trước và sau khi xây dựng TĐ Buôn Tua Srah;
- Tìm hiểu các vấn đề về môi trường tự nhiên, xã hội, giáo dục, y tế và tình hình chăm sóc sức khỏe đối với người Mnông TĐC, vùng chịu tác động TĐ Buôn Tua Srah
ở huyện Lắk;
- Đánh giá những NLSK; nhận diện những biến đổi về SK của người Mnông dưới tác động của TĐ Buôn Tua Srah;
- Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp phù hợp để phát triển SKBV cho người
Mnông trong điều kiện chịu tác động của TĐ Buôn Tua Srah
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án là hoạt động SK của người Mnông trước và sau khi xây dựng TĐ Buôn Tua Srah, các NLSK, những tác động của NMTĐ Buôn Tua Srah đến SK của họ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Khu TĐC và vùng chịu tác động TĐ Buôn Tua Srah, huyện
Lắk, tỉnh Đắk Lắk trong đó chủ yếu là 4 xã gồm: Krông Nô, Nam Ka, Ea Rbin, Buôn Triết
- Phạm vi thời gian: Từ trước khi xây dựng TĐ đến hiện nay, chia làm 2 giai đoạn:
+ Năm 2004 về trước, tức là khi TĐ Buôn Tua Srah chưa được khởi công + Từ năm 2005 đến năm 2018, là giai đoạn thi công, hoàn thành và đưa vào hoạt động, gồm di dân TĐC, giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, dân sinh, môi trường cho
đến khi các chương trình của dự án kết thúc
Trang 144 Nguồn tư liệu của luận án
4.1 Tư liệu thành văn
Để hoàn thành luận án, trước tiên chúng tôi sử dụng tư liệu từ các công trình
nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Về lý thuyết nghiên cứu SK, SKBV trong nhân học thì có Ashley, Caroline, Diana Carney, Bebbington, Anthony, Chambers, Conway, DFID, IFAD, … và các công trình biên khảo, bài viết khoa học được chúng tôi tham
khảo, trích dẫn để lý giải vấn đề luận án đặt ra Ngoài ra, nội dung nghiên cứu “Sinh kế
của người Mnông dưới tác động của thủy điện Buôn Tua Srah ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk” là sự tổng hợp và so sánh của các nguồn tư liệu đa ngành, đa lĩnh vực của các tác
giả nước ngoài
Thứ hai, nguồn tài liệu trong nước của các cơ quan nghiên cứu được sử dụng
như: Viện Dân tộc học, Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam, các đại học, đrường đại học, ; của các cá nhân như Ngô Văn Lệ, Bế Viết Đẳng, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Văn Sửu, Trần Văn Hà, Võ Văn Sen, Nguyễn Xuân Hồng, Ngô Phương Lan, Nguyễn Văn Toàn, Trần Thọ Đạt, Ngô Đức Thịnh, Đoàn Văn Phúc, … và các nhà nghiên cứu của Chế độ Việt Nam Cộng hòa trước đây như Bình Nguyên Lộc, Lân Đình, …
Thứ ba, các bài viết ở các tạp chí khoa học, hội thảo, website chuyên ngành như:
Tạp chí Dân tộc học, tạp chí Kinh tế phát triển, tạp chí Xã hội học, tạp chí Khoa học của Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên, tạp chí Khoa học công nghệ (KHCN) của Sở KHCN Đắk Lắk, Đắk Nông, các nghiên cứu của Viện Viễn đông Bác cổ, hay các hội thảo khoa học liên quan đến sinh kế các tộc người Tây Nguyên, người Mnông; các website thuộc các ngành Dân tộc học, Nhân học, Kinh tế, Luật, đều được chúng tôi
chắt lọc, khảo cứu khi thực hiện luận án
4.2 Tư liệu điền dã
Đây là nguồn tư liệu quan trọng nhất được chúng tôi thu thập thông qua nhiều cuộc điền dã dân tộc học, các khảo sát, điều tra, quan sát, thảo luận nhóm, … tại điểm chọn lựa nghiên cứu là xã Krông Nô, Nam Ka, Ea Rbin, Buôn Triết và một số nơi khác trong địa bàn huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk được ghi chép, phân loại cẩn thận Những tư liệu ảnh, ghi âm, phỏng vấn đồng bào Mnông từ người nông dân đến già làng, trưởng bản, thầy cúng, cán bộ thôn/buôn, hội phụ nữ, chi bộ, … lãnh đạo xã, huyện, cán bộ viên chức NMTĐ Buôn Tua Srah được phân loại, mã hóa, phân tích theo từng nội dung và
Trang 15vấn đề cụ thể Tất cả nguồn tư liệu sơ cấp được xử lý, phân tích và được chúng tôi so
sánh, đối chiếu và sử dụng trong quá trình thực hiện luận án
5 Đóng góp của luận án
Với việc kế thừa kết quả của các tác giả đi trước, trên cơ sở lí thuyết Dân tộc
học/Nhân học và nguồn tư liệu nghiên cứu, luận án “Sinh kế của người Mnông dưới tác
động của thủy điện Buôn Tua Srah ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk ” có những đóng góp về
khoa học và thực tiễn, như sau:
- Đóng góp khoa học:
+ Bằng việc áp dụng khung SKBV, luận án đã góp phần nâng cao phương pháp nghiên cứu về SK của tộc người, khác với cách nghiên cứu dân tộc học kinh tế truyền thống ở Việt Nam
+ Qua nghiên cứu biến đổi SK của dân tộc Mnông do tác động của TĐ Buôn Tua Srah ở huyện Lắk, luận án góp phần tìm hiểu quá trình tộc người của dân tộc này trong thời kỳ đổi mới
+ Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung, sáng tỏ thêm lí thuyết và khung phân
tích về SK; mặt khác với việc tìm kiếm nguyên nhân biến đổi SK, phân tích các xu hướng biến đổi SK tộc người Mnông dưới tác động của TĐ Buôn Tua Srah
+ Luận án sẽ cung cấp cho khoa học Dân tộc học/Nhân học nguồn tư liệu thực địa để vận dụng so sánh, đánh giá sự thay đổi SK của các cộng đồng cư dân dưới tác động của các CTTĐ khác ở Tây Nguyên và cả nước
- Đóng góp thực tiễn:
+ Cùng với những nghiên cứu khác về TĐC và tác động do xây dựng TĐ ở một
số khu vực trên cả nước, luận án góp phần chỉ ra sự bất cập có tính hệ thống của những công trình này đến sự bền vững sinh kế của các tộc người có liên quan
+ Luận án cung cấp luận chứng khoa học để các cấp quản lý có thẩm quyền điều chỉnh, xây dựng các chính sách phát triển SKBV cho người Mnông TĐC, cộng đồng người Mnông chịu tác động, các dân tộc bị ảnh hưởng do xây dựng TĐ Buôn Tua Srah nói riêng và TĐ trên cả nước nói chung
+ Cùng với những nghiên cứu khác, luận án góp phần xây dựng nguồn dữ liệu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu các chuyên đề về TĐC TĐ và với SKBV đối với những cư dân bị tác động của các dự án TĐ
Trang 166 Bố cục của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần nội dung của luận
án được chia thành 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận, các phương pháp và khái quát địa bàn nghiên cứu
Chương 2 Sinh kế của người Mnông trước khi xây dựng Công trình thủy điện Buôn Tua Srah huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Chương 3 Sinh kế của người Mnông từ khi xây dựng Công trình thủy điện Buôn Tua Srah huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Chương 4 Giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người Mnông tái định cư
và vùng chịu tác động của Thủy điện Buôn Tua Srah huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN, CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về sinh kế của các tác giả ngoài và trong nước
1.1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về sinh kế của các tác giả nước ngoài
Các công trình nghiên cứu SK của các tác giả nước ngoài được khởi đầu từ những những năm 60 của thế kỉ XX Theo Chambers (1969), Robert and Morris J (1973) khi dân di cư tị nạn ồ ạt từ Kenya và một số nước ở châu Phi do chiến tranh đã khiến cuộc sống của họ khó khăn và chết chóc [98, 100] Những nghiên cứu này đặt ra yêu cầu cấp bách là phải đảm bảo ngay tức thời về đời sống từ ăn uống, chỗ ở đến điều kiện sống tối thiểu cho những người tị nạn Đây không chỉ là vấn nạn của một nhóm hay một cộng đồng người mà còn là vấn nạn của các quốc gia châu Phi Vấn đề này tương tự những
gì xảy ra trong thời gian vừa qua khi những người tị nạn chiến tranh Lybia, Syria và một
số quốc gia Bắc Phi bằng mọi cách vượt Địa Trung Hải đến với châu Âu, dân di cư các quốc gia Nam Mỹ bằng mọi cách để được vào Mỹ Thời kì này SK được ẩn trong các khái niệm như: Hoạt động kinh tế, hoạt động mưu sinh, hoạt động sản xuất,
Đến năm 1983, trong tác phẩm “Phát triển nông thôn: Đặt lên hàng đầu” (Rural
development: Putting the last first), Robert Chambers đã đưa ra khái niệm SK [99] Về
sau, khái niệm này xuất hiện thường xuyên hơn trong các nghiên cứu của Barrett, Morrison, Dorward, … và có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau Từ đó một
số nhà khoa học, cơ quan phát triển đã tiếp nhận và cố gắng hiện thực hóa khái niệm
Năm 1999, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID – Department for
international development) đã đưa ra khung SKBV trong khuôn khổ cam kết hỗ trợ nhằm
cố gắng đạt được mục đích đặt ra là xoá đói, giảm nghèo [106]
Trên cơ sở khung SK của DFID, IFAD (International Fund for Agricultural
Development - Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế) đã phát triển khung SK mới IFAD
lấy người nghèo làm trung tâm của khung SK do người nghèo dễ bị mất năm nguồn lực
SK Khung SK của IFAD có nhiều yếu tố và cách thể hiện mối quan hệ mới [112]
Như vậy, trong suốt hơn sáu thập kỉ qua, vấn đề SK trở thành nội dung tiếp cận
và phân tích ở cấp độ vĩ mô và vi mô theo các hướng khác nhau Cụ thể:
Trang 18Tiếp cận phát triển: Nổi bật trong cách tiếp cận này là các phân tích của Amartya
Sen, nhà kinh tế học người Ấn Độ về quyền lợi (entitlements) được thực thi trong mối
quan hệ với nạn đói nghèo Với việc quan tâm đến tính hiệu quả, sự nhân văn của các hoạt động và quá trình phát triển, Amartya Sen (2009) cho rằng các quyền lợi của những bên liên quan và cả cộng đồng người, thậm chí mở rộng hơn trong vùng, khu vực phải được đặt trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Không vì sự thịnh vượng của một nhóm nào, một vùng, một khu vực hay một quốc gia mà một đối tượng nào đó bị bỏ quên, bị gạt ra khỏi lề [124] Theo đó, Parasuraman (2001) đánh giá, việc xây dựng những con đập lớn ở Ấn Độ từ năm 1947 đến năm 2001 đã để lại hậu quả là làm cho gần 33 triệu người bản địa buộc phải di cư khỏi vùng đất tộc người của họ và có cuộc sống đầy khó khăn [119] Robinson Courtland (2003) đã đánh giá về những rủi ro - thách thức và quyền được biết - được tham gia của những người dân vào các dự án xây đập; nguyên nhân, hậu quả và thách thức của sự phát triển - thay đổi - nơi mà họ buộc phải chuyển
đến R.Courtland nhận định “Việc xây dựng đập đã lấy đi ngôi nhà, kế sinh nhai, sức
khoẻ và thậm chí là cuộc sống của hàng triệu người trên thế giới” [104, tr 32]
Tiếp cận đồng đại: Theo Diana, Carney (1998), Ellis, Frank (2000), Kelly, F
Philip (2003) thì SK của người dân sẽ bị ảnh hưởng bởi việc thực thi của các thể chế, chính sách, cách thức tiếp cận và các tài sản của họ được sử dụng như thế nào Cách tiếp cận này cho rằng con người sống không cô lập mà bản thân họ có rất nhiều mối quan hệ ràng buộc ở nhiều cấp độ Họ nhấn mạnh trong nghiên cứu chúng ta phải nhận dạng và chỉ ra những cơ hội, hạn chế và thách thức liên quan đến SK, cụ thể: (1) Áp dụng khung phân tích SK xuyên các nhóm xã hội; (2) Thừa nhận công việc có liên quan đến nhau; (3) Công nhận nhiều tác nhân; (4) Có nhiều chiến lược sử dụng để bảo đảm SK và cho
ra những kết quả SK khác nhau mà họ theo đuổi [97, 109, 115]
Tiếp cận sở hữu: Dưới góc độ này, sinh kế (livelihood) được hiểu như là các tài
sản hay/hoặc vốn mà người ta sở hữu nó Ví như, khi tiếp cận về nông nghiệp hay nông thôn, người ta nhầm lẫn SK đất đai (agrarian livelihoods) với SK nông thôn (rural livelihoods), Có nhiều sự khác biệt trong việc hiểu về các loại vốn/nguồn lực Cụ thể, theo Scoones, Ian (1998) thì “SK nông thôn” (rural livelihoods) là đạt được mục tiêu bền vững của những người ở khu vực nông thôn qua việc tiếp cận các nguồn lực SK gồm: “vốn tự nhiên”, “vốn kinh tế/tài chính”, “vốn con người” và “vốn xã hội” trong
Trang 19những bối cảnh khác nhau [122] Còn Bebbington, Anthony (1999), khi phân tích SKBV lại thay đổi bằng cách thay đổi tên khác cho năm loại vốn là “vốn sản xuất” (produced capital), “vốn con người” (human capital), “vốn tự nhiên” (natural capital), “vốn xã hội” (social capital), “vốn văn hóa” (cultural capital) [91]
Tiếp cận tổng hợp: Nghiên cứu của IUCN và IISD (2003), USAID (2009) về SK
trong bối cảnh biến đổi khí hậu đã đưa ra cách tiếp cận tổng hợp trong việc giải quyết vấn đề SKBV Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa quản lý rủi ro và thiên tai, quản lý tài nguyên thiên nhiên và tăng cường thực thi các biện pháp và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm làm giảm khả năng bị tổn thương do biến đổi khí hậu gây ra, giảm nghèo đói và cải thiện phúc lợi cho người dân [114, 126]
Tóm lại, các công trình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước đều hướng đến phương pháp tiếp cận SK lấy con người làm trung tâm của mọi sự phát triển Kết quả SK là: 1 Đời sống được cải thiện, 2 Giảm khả năng tổn thương, 3 An ninh lương thực được tăng cường, 4 Sử dụng bền vững nguồn tài nguyên, 5 Môi trường sống được đảm bảo,
là một mối quan tâm lớn nhất và có tính chất hỗ trợ cho kết quả khác
1.1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về sinh kế của các tác giả trong nước
Hiện nay, khái niệm SK được sử dụng rộng rãi trong khoa học và các phương tiện thông tin ở Việt Nam Thực chất nội hàm khái niệm SK giống với khái niệm hoạt động mưu sinh, tìm kiếm thu nhập, hoạt động sản xuất, hoạt động kinh tế Con người thông qua hoạt động kiếm sống để đảm bảo được cuộc sống chính mình SK chính là các hoạt động kinh tế trong đời sống tộc người, có mối quan hệ mật thiết và có sự tác động to lớn đến các thành tố khác như văn hóa, chính trị, xã hội
Từ cuối những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “Sinh kế” bắt đầu được sử dụng trong các dự án liên kết giữa Việt Nam với các tổ chức quốc tế nhằm nghiên cứu, phát triển bền vững về lâm nghiệp, kinh tế, giảm nghèo và SK nông thôn Cụ thể:
Trần Đức Viên (2001), trong công trình “Phân cấp trong quản lý tài nguyên rừng
và sinh kế của người dân” đã nghiên cứu và đưa ra đánh giá tổng quát về ba cộng đồng
nghiên cứu (bản Huổi Toi, Na Bè, và Xiêng Hương) thuộc hai xã Chiềng Hặc (tỉnh Sơn La) và xã Xá Lượng (tỉnh Nghệ An) trong việc thay đổi chính như cấp, chia và quản lý đất rừng Tác giả cho biết, điều đó đã mang lại một số tác động cả tích cực và tiêu cực theo hai chiều hướng khác nhau về SK [79]
Trang 20Nguyễn Xuân Hồng (2001), Nguyễn Thị Mỹ Vân (2003) trong “Nghiên cứu về
tri thức bản địa, sinh kế người dân tộc vùng đồi núi” đã đưa ra chiến lược SKBV cho
một số cộng đồng người dân tộc ở vùng đồi núi tỉnh Thừa Thiên Huế [48, 49, 50]
Bùi Đình Toái (2004) đã đưa ra quan niệm“Sinh kế của hộ hay một cộng đồng là
một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định
và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn Hay nói cách khác, SK của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó” [69, tr 21] Theo ông, mỗi
hộ gia đình đều có các SK khác nhau Chiến lược SK của hộ hay kế sách sinh nhai của
hộ là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ Đó là những vấn đề quy mô, thành phần, mối quan hệ, tính gắn bó giữa các thành viên trong hộ, việc phân bổ các nguồn lực vật chất, các chi phí để đầu tư cấp hộ
Đánh giá hoạt động sinh kế của các dân tộc Tây Bắc và Đông Bắc, Trần Bình
trong các nghiên cứu “Tập quán mưu sinh và hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở
Tây Bắc Việt Nam”(2001) [16], “Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam”(2005) [17], “Văn hóa mưu sinh của các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam” (2013) đã nêu ra những điểm bao quát các khía cạnh trồng trọt,
chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, buôn bán [18, 19, 20]
Trong nghiên cứu “Sử dụng vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của nông dân ven
đô Hà Nội dưới tác động của đô thị hóa”, Nguyễn Duy Thắng (2007) khi phân tích vốn
xã hội được sử dụng trong chiến lược SK của người nông dân ở một số phường và xã khu
vực ngoại thành Hà Nội đã nhận định rằng: “Bên cạnh những yếu tố quan trọng trong
chiến lược SK của nông dân như đất, lao động, tài chính, vốn xã hội được coi là một nguồn lực quan trọng giúp nông dân chuyển đổi chiến lược SK để ứng phó với các thách thức của đô thị hóa” [70, tr 42]
Cũng trong khung cảnh đô thị, Nguyễn Vũ Hoàng (2008) nêu rõ việc cố kết cá nhân thông qua những hành động tập thể sẽ giúp hình thành mạng lưới xã hội, để hành động vì lợi ích chung đối với những người dân bị ảnh hưởng các dự án phát triển đô thị
ở Hà Nội Điều đó được thể hiện qua bài viết về“Vốn xã hội trong đô thị: Một nghiên
cứu nhân học về hành động tập thể ở một dự án phát triển đô thị tại Hà Nội” [47]
Trong tác phẩm“Tiếp cận nông thôn Việt Nam từ mạng lưới xã hội và vốn xã hội
Trang 21cho phát triển”, Ngô Đức Thịnh (2008) đã nhấn mạnh các mạng lưới xã hội như gia đình,
dòng họ, làng xã là một trong những nhân tố thúc đẩy phát triển xã hội nông thôn và giúp người nông dân có những thuận lợi nhất định trong các hoạt động SK của họ [74]
Năm 2008, Oxfam có báo cáo về “Việt Nam: Biến đổi khí hậu, sự thích ứng và
người nghèo” Báo cáo này đã tập trung phân tích cuộc sống của các hộ gia đình nghèo
ở hai tỉnh Bến Tre và Quảng Trị trong bối cảnh khí hậu đang thay đổi và tìm hiểu xem người dân đối phó như thế nào trước sự thay đổi của khí hậu trong tương lai [63]
Khi nghiên cứu về “Tác động của dự án duy trì và phát triển bền vững đến sinh
kế của người dân vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo khu vực Vĩnh Phúc”, Đặng Văn
Thành (2009) đã nhận thấy có những thay đổi lớn trong thu nhập của người dân vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo Tuy nhiên, khoảng cách và chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp, thành phần là khá lớn và có xu hướng ngày càng nới rộng Đời sống của một
bộ phận người dân tộc tại chỗ còn gặp nhiều khó khăn và ngày càng bấp bênh hơn [68]
Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu (2012) trong nghiên cứu “Biến đổi khí hậu và
sinh kế ven biển, diễn đàn phát triển Việt Nam" đã tập hợp một số lý thuyết và nghiên
cứu về biến đổi khí hậu và SK ven biển, bao gồm biến đổi khí hậu, khả năng bị tổn thương của cư dân ven biển trước biến đổi khí hậu, năng lực thích ứng của cư dân ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu, hỗ trợ SK để thích ứng với biến đổi khí hậu ven biển ở Việt Nam [36]
Trong các nghiên cứu về việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở các đô thị, Nguyễn Dũng Anh (2014), Nguyễn Văn Sửu (2014), Phạm Thị Thủy (2014), nhấn mạnh
quá trình thu hồi đất để phát triển CNH, đô thị hóa “đã có những chuyển dịch về cơ cấu
kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng hiện đại, kết cấu hạ tầng được cải thiện, tạo ra nhiều cơ hội việc làm, đa dạng hoá nghề nghiệp cho người dân” Tuy nhiên, SK của
nông dân sau khi bị thu hồi đất và TĐC không những không tốt hơn mà còn khó khăn hơn do có những thay đổi đáng kể do các nguồn lực tự nhiên, vật chất, tài chính, con người và xã hội mà bản thân người nông dân chưa thể thay đổi kịp [3, 67, 77]
Võ Văn Sen và các cộng sự (2014) trên cơ sở khảo sát dữ liệu thực tế đã phân tích 5 nguồn lực SK và đưa ra một số giải pháp phát triển các nguồn lực nhằm ổn định SKBV cho người dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang [65]
Trong tác phẩm “Chuyển đổi sinh kế và vấn đề tín dụng ở một số tộc người thiểu
Trang 22số tại Tây Nguyên và Miền núi Tây Bắc” (2017), Hoàng Cầm, Ngô Phương Lan, Hoàng
Anh Dũng, Vũ Thành Long, Nguyễn Văn Giáp đã đánh giá, nêu vấn đề tín dụng và sử dụng hiệu quả các nguồn tín dụng trong chuyển đổi SK cho những người dân tộc vùng Tây Nguyên và Tây Bắc [57]
Tóm lại, qua khoảng hai thập kỷ nghiên cứu về sinh kế, các tác giả ở trong nước
đã đạt được một số thành tựu Một là, đã đề xuất khái niệm về sinh kế của nhóm cư dân
bị tác động Hai là, phạm vi nghiên cứu sinh kế mở rộng, được tiến hành ở cả vùng đồng
bằng, vùng cao, vùng dân tộc thiểu số, và đặc biệt gắn với vấn đề biến đổi khí hậu - đang
được thế giới quan tâm Ba là, bên cạnh chú trọng nguồn lực tự nhiên, kinh tế, tài chính,
nhiều nghiên cứu, nhất là nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội đã quan tâm sâu sắc đến nguồn lực con người và xã hội
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về sinh kế của cư dân thủy điện ở Việt Nam
1.1.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về tái định cư thủy điện ở Việt Nam
Cũng như các nước đang phát triển trên thế giới, rất nhiều các NMTĐ được xây dựng ở Việt Nam để giải quyết vấn đề nhu cầu năng lượng Xây dựng các NMTĐ được xem là giải pháp tối ưu trong bối cảnh năng lượng thiếu hụt Hiện nay, TĐ giữ vai trò lớn trong phát triển kinh tế và năng lượng ở Việt Nam Cụ thể: NMTĐ Yaly hằng năm sản xuất hơn 3,6 tỉ Kwh, NMTĐ Lai Châu hơn 4,6 tỉ Kwh, NMTĐ Hoà Bình hơn 8,4 tỉ Kwh, NMTĐ Sơn La hằng năm sản xuất khoảng 10,5 tỉ Kwh, … Các NMTĐ hàng năm cung cấp khoảng hơn 30% tổng sản lượng điện cho toàn hệ thống của Việt Nam (2) Ngoài việc cung cấp năng lượng, các NMTĐ còn giúp kiểm soát lũ lụt, nguồn nước và góp phần cho việc tưới tiêu hàng triệu héc ta đất nông nghiệp trên cả nước
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc xây dựng NMTĐ có tác động lớn đến đời
sống cư dân nơi thực hiện dự án Nhà nước luôn nhận thức rằng “dân sinh và SK người
dân là một vấn đề phức tạp, việc đảm bảo cho người dân bị ảnh hưởng có cuộc sống tốt hơn hoặc ít nhất bằng là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các công trình khi thực hiện”
Tuy nhiên, thực tế cho thấy một khoảng cách rất lớn giữa chính sách và thực thi chính sách Một số kết quả nghiên cứu về tác động của việc xây dựng TĐ chỉ ra rằng, việc xây dựng các NMTĐ lớn hay nhỏ này thực tế đã làm cho điều kiện sống của cư dân khu vực
(2) Báo cáo thường niên EVN 2017, https://www.evn.com.vn/userfile/User/tcdl/files/EVNAnnualReport2017-web.pdf
Trang 23lòng hồ, khu vực ảnh hưởng, khu TĐC kém hơn so với trước khi di chuyển là không thể phủ nhận Đối tượng bị ảnh hưởng dễ nhận thấy là dân tộc thiểu số bởi các NMTĐ thường được xây dựng ở các vùng miền núi, nơi không gian sinh tồn của họ
Trong tác phẩm “Tái định cư thủy điện ở Việt Nam thời đổi mới” (2011), Trần
Văn Hà đã khảo sát để xây dựng CTTĐ Hoà Bình, khoảng 58.000 người thuộc nhiều dân tộc khác nhau như Thái, Mường, Dao, sống ở hai tỉnh Hoà Bình và Sơn La phải
di chuyển Khoảng 11.000 ha đất trồng trọt, hàng trăm nghìn m2 đất ở, đất của các cơ quan, trường học, trung tâm y tế và khu làm việc ngập chìm trong nước Trong những năm đầu tiên từ khi di chuyển, 40% những hộ di dời bị thiếu lương thực từ 5 đến 6 tháng mỗi năm Đời sống văn hoá và xã hội của họ vì thế cũng bị ảnh hưởng do thu nhập quá thấp Giáo dục và y tế có chất lượng kém ở hầu hết các vùng này Do không có đủ trường học cũng như điều kiện đến trường khó khăn, trẻ em ở độ tuổi đi học phải nghỉ học tăng lên 47% Tương tự như vậy, các vấn đề về bệnh tật, sức khoẻ cũng tăng lên do thiếu nước sạch, nhà vệ sinh và bệnh tật do lũ lụt Xung đột cũng xảy ra do những tranh chấp đất đai và tài nguyên thiên nhiên giữa những người mới đến và dân sở tại Hàng trăm héc ta rừng đã bị khai thác lấy gỗ bán và để làm nương rẫy trồng cây lương thực và hàng trăm hộ dân tộc Mường ở TĐ Hòa Bình không ổn định được dân cư và SK [42]
Theo CRES (Trung tâm nghiên cứu tài nguyên thiên nhiên và môi trường, Đại
học quốc gia Hà Nội) (2001) trong “Báo cáo nghiên cứu tác động của đập Yaly đối với
cộng đồng di dời và cộng đồng khu vực hạ lưu sông” việc tổ chức di dân TĐC CTTĐ
Yaly cũng gây những tác động không nhỏ tới đời sống vật chất, xã hội, đời sống văn hoá tinh thần của bà con dân tộc thiểu số như Gia-rai, Rơ Ngao (một nhóm của dân tộc Xơ-đăng) và Ba-na Kết luận của CRES cho thấy rất nhiều gia đình bị thiếu lương thực, gia đình đồng bào Gia-rai, Rơ Ngao không còn khả năng tạo ra thu nhập từ việc bán các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, đồng bào thường chịu thiệt thòi do đền bù không thoả đáng, không công bằng Mặc dù vấn đề SK
và TĐC của công trình Yaly được chú ý và chuẩn bị chu đáo hơn CTTĐ Hoà Bình, từ việc xây khu TĐC cho đến việc chăm lo đời sống tinh thần, vật chất, y tế, giáo dục nhưng thực tế vẫn bộc lộ nhiều yếu kém [26]
Gần đây nhất trong Hội nghị Thái học lần thứ VII (2015), nhiều báo cáo đánh giá CTTĐ Sơn La, Lai Châu khi đi vào hoạt động đã tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình
Trang 24phát triển của đất nước nói chung và khu vực Tây Bắc nói riêng Tuy nhiên, bên cạnh ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế, công trình này đã tác động sâu sắc đến sự ổn định dân cư và không gian sinh sống của các dân tộc trong vùng bị ảnh hưởng ở 3 tỉnh Lai Châu, Sơn
La và Điện Biên về lâu dài Bởi vì, hơn 91.000 người thuộc 12 dân tộc của 3 tỉnh Lai Châu, Sơn La và Điện Biên phải di dời Nhận thức được quy mô lớn của công trình, Chính phủ đã trực tiếp chỉ đạo các Bộ liên quan cùng Ủy ban Nhân dân 3 tỉnh hợp sức
tổ chức di dân, thực hiện các chính sách đền bù để khi chuyển đến phải được ổn định ngay Đồng thời, phải xây dựng các điểm TĐC theo tiêu chuẩn nông thôn mới Ngoài ra còn một số nghiên cứu về tác động của các TĐ Thác Bà, TĐ Tuyên Quang, Trung Sơn, Buôn Kuốp, … đã nhận diện các vấn đề tương tự như các nghiên cứu ở trên
Từ kinh nghiệm thực tiễn của việc thực hiện tổ chức di dân TĐC và đảm bảo SK cho người dân bị tác động do các CTTĐ lớn chúng ta thấy rằng, đây là một công việc khó khăn và nhạy cảm, đòi hỏi sự cố gắng hết sức, trách nhiệm, tâm huyết của các ban ngành, các nhà nghiên cứu để giải quyết thấu đáo, hiệu quả và hợp lí Bởi lẽ, công việc này liên quan đến việc thực hiện chế độ chính sách, đất đai, cuộc sống bền vững của đồng bào các dân tộc khi họ đã hi sinh quyền lợi cho sự phát triển của đất nước
1.1.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về sinh kế của cư dân khu tái định cư và vùng tác động các công trình thủy điện
Đánh giá về chính sách và tổ chức TĐC các CTTĐ, Đặng Nguyên Anh (2007)
với “Tái định cư cho các công trình thủy điện ở Việt Nam”, “Chính sách di dân tái định
cư các công trình thuỷ điện ở Việt Nam từ góc độ nghiên cứu xã hội” đã nhận xét mỗi
một dự án TĐ có đối tượng bị tác động là không giống nhau, vì thế những kết quả nghiên cứu không giống nhau
Khi tiến hành khảo sát, đánh giá các NLSK của người dân tại vùng bán ngập
huyện Thuận Châu trong “Sinh kế của các hộ dân tái định cư vùng bán ngập huyện
Thuận Châu tỉnh Sơn La”, Phạm Minh Hạnh (2009) cho rằng khi NLSK biến đổi thì SK
của người dân vùng bán ngập cũng biến đổi theo Nghiên cứu này đã đề xuất một số giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình SK giúp người dân ổn định SK lâu dài [44]
Đậu Thị Bích Hoài, Nguyễn Văn Sang, (2010) đã tập trung đo lường sự thay đổi các NLSK của các hộ dân TĐC TĐ Hủa Na Kết quả khảo sát, nghiên cứu cho rằng khi các hộ TĐC di dân đến nơi ở mới thì sự co hẹp nguồn lực tự nhiên kéo theo sự thay đổi
Trang 25các nguồn lực còn lại Những sự thay đổi của các nguồn lực đều được đánh giá theo chiều
hướng tích cực và tiêu cực trong công trình“Đánh giá sự thay đổi nguồn sinh kế của các
hộ di dân tái định cư thuộc dự án thủy điện Hủa Na: trường hợp nghiên cứu tại xã Tiền Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An” [64]
Nghiên cứu biến đổi SK của người Mường trong quá trình TĐC xây dựng TĐ
Hòa Bình, trong công trình “Biến đổi sinh kế của người Mường vùng lòng hồ thủy điện
Hòa Bình ở nơi tái định cư” của Trịnh Thị Hạnh (2016) đã tập trung nghiên cứu hai mô
hình TĐC là “di vén” và “lập làng mới” Nghiên cứu cũng chỉ ra quá trình thích ứng về kinh tế, xã hi và văn hóa của người dân ở hai mô hình trên [45]
Nghiên cứu của Phạm Quang Linh trong “Sinh kế của người Thái tái định cư
thủy điện Sơn La” (2017) đã tìm hiểu về năm nguồn vốn của người Thái trước và sau
TĐC, đánh giá ảnh hưởng của năm nguồn vốn đến hoạt động sinh kế và đề xuất các giải
pháp nhằm ổn định sinh kế của người Thái TĐC theo hướng phát triền bền vững [59]
Những nghiên cứu của nước ngoài về tác động của TĐ Việt Nam đối với người dân tộc thiểu số không nhiều Trong lĩnh vực này chủ yếu là các chuyên gia, tổ chức ngoài Việt Nam kết hợp với các viện, NGOs Việt Nam để khảo sát, nghiên cứu đánh giá các tác động xã hội, y tế, hoặc cung cấp tài chính cho các dự án nghiên cứu đánh giá (những nghiên cứu của các cá nhân, tổ chức như VRN từ 2006 - 2014, Warecod 2006, Trần Văn
Hà 2008, 2011, 2012; Nguyễn Công Thảo, Vương Ngọc Thi 2013, )
Ngoài ra, Philip Hirsch và cộng sự thuộc Đại học Sydney, Australia trong nghiên
cứu “Social and environmental implications of resource development in Viet Nam: The
case of Hoa Binh reservoir - Mối quan hệ xã hội và môi trường trong sự phát triển tài nguyên ở Việt Nam: Trường hợp của hồ Hòa Bình” đã xem xét tác động của hồ TĐ Hòa
Bình đến môi trường và SK của người Mường bản Lương Phong, xã Hiền Lương, Đà Bắc, Hòa Bình; đặc biệt là những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình tìm kiếm những nguồn lực này với người dân các xóm liền kề (xóm Mái và xóm Ngù) được làm rõ Đây
là một công trình tham khảo hữu ích về phương pháp tiếp cận cũng như cách giải thích vấn đề SK người dân tộc thiểu số bị ảnh hưởng [110]
1.1.3 Nhóm công trình nghiên cứu về người Mnông và sinh kế của người Mnông
1.1.3.1 Nhóm công trình nước ngoài
Henri Maitre với các công trình khá công phu về “Les regions Moi du Sud
Trang 26Indochinois” - Khu vực của người Mọi ở Nam Đông Dương - Cao nguyên Đắk Lắk (1909)
và “Les jung les Moi” - Rừng người thượng (1912) đã mô tả khá kĩ về địa lí, đời sống văn
hóa, kinh tế, phong tục, tôn giáo các dân tộc Tây Nguyên Công trình này cho chúng ta biết khá đầy đủ, sâu sắc về các tộc người Tây Nguyên trong đó có dân tộc Mnông ở thời
điểm này [61] Les M’nong des Háut – Plateaux - Người Mnông ở Cao Nguyên (1993) là
một chuyên khảo của Albert - Marie Maurice về tộc người Mnông Tập 1 - về đời sống vật chất, Albert - Marie Maurice đã mô tả các hoạt động kinh tế của người Mnông với cảm quan sâu sắc và chi tiết Ông đã mô tả các hoạt động như làm nương rẫy, săn bắt, đánh cá, hái lượm, các nghề thủ công đặc biệt là nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng Tập 2 - về đời sống xã hội và luật tục Thông qua sách này, chúng ta có một bức tranh khái quát khá đầy đủ về người Mnông giữa không gian tự nhiên và xã hội của họ từ 1935 đến 1937 [127] Ngoài ra năm 1954, ông cùng với Proux xuất bản cuốn sách tiếp theo có
tên là “Hồn lúa” Albert - Marie Maurice đã dành nhiều công sức, tâm huyết để nghiên cứu về người Mnông G Condominas cho rằng, “tất cả những ai quan tâm đến dân tộc
học ở Đông Dương đều coi A Maurice là một trong những chuyên gia xuất sắc về các tộc người ở Tây Nguyên”
Tác phẩm “Chúng tôi ăn rừng” của G Condominas là chuyên khảo về người
Mnông Gar - một nhóm của cộng đồng dân tộc Mnông sống khá tách biệt ở làng Sar Luk
bên bờ sông Krông Nô huyện Lắk Ông quan niệm phải đặt mình và phải “nhìn từ bên
trong” như chính người Mnông Gar tự nhìn nhận, tự hiểu mình Cách ông đặt tên cuốn
sách đã thể hiện quan điểm nghiên cứu: Chúng tôi ăn rừng, “Chúng tôi” chứ không phải
họ, hay tuyệt nhiên không phải là “Người Mnông Gar ăn rừng” Công trình này được coi
giống như người Mnông Gar viết về họ [24] G Condominas đã mô tả chi tiết các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, luật tục, người M nông Gar Họ đánh dấu một năm mới trong cộng đồng bằng cách gọi tên khoảnh rừng mà làng đã khai phá để làm ra cái ăn trong năm nông nghiệp ấy, cái năm làng “ăn” khoảnh rừng đó Ông đã mô tả tỉ mỉ việc đi tìm đất làm rẫy, cách thử đất, cách khoanh rừng để tìm cái ăn, một cuộc đốt rẫy và tỉa lúa, một đám cưới, một đám tang, cách làm quan tài trong rừng, đêm khóc người chết, buổi
an táng, một vụ loạn luân và cách thức làng “phạt” đôi trai gái loạn luân, vụ tự tử của chàng Tiêng đẹp trai, lễ hội lớn kết nghĩa giữa hai nhân vật có vai vế ở hai làng lân cận, những nghi lễ ăn mừng mùa lúa mới,…Thực sự, thông qua tác phẩm này chúng ta như
Trang 27đang sống trong gian làng Sar Luk tại thời điểm Condominas viết
Người Mnông Gar là một trong hai nhóm cộng đồng TĐC và chịu ảnh hưởng trực
tiếp của TĐ Buôn Tua Srah Trong “Không gian xã hội vùng Đông Nam Á” Condominas
bày tỏ không chỉ quan điểm khoa học mà cả quan điểm về nghề nghiệp của mình Ông là một nhà dân tộc học luôn ủng hộ người dân tộc thiểu số, các dân tộc bị áp bức [23]
1.1.3.2 Nhóm công trình trong nước
Nhóm tác giả Bế Viết Đẳng, Chu Thái Sơn, Vũ Thị Hồng & Vũ Đình Lợi (1982)
trong công trình nghiên cứu “Đại cương về các dân tộc Ê-đê, Mnông ở Đắk Lắk” đã xây
dựng bộ dữ liệu đầy đủ về 2 dân tộc Ê-đê, Mnông ở Đắk Lắk Công trình đã khái quát đầy
đủ các mặt sản xuất, kinh tế, quan hệ xã hội, văn hoá, … về tộc người Ê-đê và Mnông Công trình đặt nền móng cho những nghiên cứu sâu hơn về sau này đối với 2 dân tộc có lịch sử rất lâu đời và có truyền thống văn hóa đặc sắc này Trong phần 2, các tác giả đã
mô tả kĩ các hoạt động kinh tế như trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề thủ công, trao đổi buôn bán [40]
Trong dòng chảy nghiên cứu về luật tục, Ngô Đức Thịnh và các cộng sự đã công
bố các kết quả nghiên cứu của mình như: Luật tục Mnông (Tập quán pháp) (1998), “Tìm
hiểu luật tục các tộc người ở Việt Nam” (2003), và cho rằng người Mnông cư trú chủ yếu
tại các tỉnh Đắk Nông, Đắk Lắk, có nhiều nhóm địa phương Dưới góc độ tiếp cận luật tục, tác giả đi nghiên cứu luật tục ở các góc độ: nguồn gốc, bản chất, quá trình phát triển, đồng thời giới thiệu một số luật tục người Ê-đê, Mnông coi đó như là những đại diện các hình thức và trình độ phát triển khác nhau của luật tục các tộc người ở Việt Nam [72, 73]
Ở góc độ văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng có nhiều công trình như: Trương Bi (2007)
với “Văn hoá mẫu hệ Mnông” đã khẳng định văn hóa mẫu hệ chi phối hệ văn hóa của
người Mnông Tác giả còn cho rằng mặc dù người Mnông theo chế độ mẫu hệ, nhưng người đàn ông được đối xử bình đẳng, không bị phân biệt, được tôn trọng [16] Y Tuyn
Bing (2008) trong “Tang lễ của người Mnông Rlăm” đã giới thiệu về tang lễ của người
Mnông Rlăm ở buôn Dlei, huyện Lắk gồm nghi lễ, nghi thức tang ma đến các thủ tục
chôn cất và sau chôn cất [83] Linh Nga Niê Kdăm (2010) trong “Nghề thủ công truyền
thống của các dân tộc Tây Nguyên” đã khái quát, mô tả, đánh giá khá chi tiết về nghề
thủ công của người Mnông [60] Võ Thị Thùy Dung (2017), “Tín ngưỡng và lễ hội của
người Mnông tỉnh Đắk Nông” đã đi sâu tìm hiểu các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng,
Trang 28lễ hội của người Mnông từ đặc điểm, cấu trúc, chức năng, giá trị đến mối quan hệ giữa tín ngưỡng và lễ hội xuyên suốt truyền thống đến hiện đại [34]
Ở góc độ ngôn ngữ, văn học có Triệu Văn Thịnh (2015) với tác phẩm “Hệ thống
nhân vật trong sử thi Mnông và vấn đề thể loại” đã hệ thống hóa các nhân vật trong sử
thi Mnông và đã nêu lên một số vấn đề về thể loại nhân vật [75] Đặng Văn Bình (2017)
với nghiên cứu về “Tên chính danh của người Mnông” Trong nghiên cứu của Đặng
Văn Bình, tác giả đã tìm hiểu đặc điểm tên chính danh của người Mnông từ các phương diện: cấu tạo; cơ sở đặt tên và ý nghĩa; sự biến đổi tên chính danh và cách sử dụng tên chính danh người Mnông trong giao tiếp để góp phần chuẩn hóa tên chính danh của họ trong các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời góp phần giúp cơ quan quản lý Nhà nước làm tốt công tác dân tộc [17]
Tiếp cận về tri thức bản địa có Ngô Văn Lệ, Huỳnh Ngọc Thu (2017), với công
trình“Tri thức bản địa các dân tộc thiểu số tại chỗ Đắk Nông” Công trình này đã nghiên
cứu tri thức bản địa của các tộc người ở tỉnh Đắk Nông trong đó có người Mnông [58]
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về người Mnông không giống nhau về cách tiếp cận, chính kiến, mục đích, nhưng đây là những công trình nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề về văn hóa, kinh tế, xã hội, và có đóng góp lớn về khoa học Các công trình đã để lại nhiều tư liệu quý giá, giúp chúng tôi có cái nhìn đầy đủ về vùng đất, văn hóa, con người Mnông trong bối cảnh có nhiều vấn đề mang tính thời sự ảnh hưởng đến
sự phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị ở Tây Nguyên, đồng thời dự báo xu hướng
và đề xuất các giải pháp vừa cơ bản, vừa cấp bách nhằm xây dựng đời sống cho người Mnông nói riêng và các tộc người tại chỗ Tây Nguyên nói chung Mặc dù đã được quan tâm nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực, tuy nhiên lĩnh vực SK của người Mnông tại những vùng tác động và các khu TĐC các TĐ thì chưa có một công trình nào quan tâm
1.1.4 Những kết quả luận án kế thừa và các vấn đề đặt ra cần được giải quyết
1.1.4.1 Những kết quả luận án kế thừa
Qua nghiên cứu các công trình khoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài luận án, có thể thấy SK nói chung và SK của người dân tộc thiểu số tại các khu TĐC, vùng bán ngập, hoặc dưới tác động của các NMTĐ nói riêng đã thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Các công trình được khảo cứu như sách, bài tạp chí, bài báo, luận án, luận văn, khóa luận, đề tài khoa học, hội thảo, đã đề cập trên nhiều khía cạnh
Trang 29của vấn đề Các công trình đã đưa ra những quan điểm, nhận định về SK và SKBV, cũng như tìm hiểu về SK của người dân tại các khu TĐC, vùng tác động của các CTTĐ, trên
cơ sở đó các nghiên cứu bước đầu đã có những gợi ý về giải pháp phát triển SKBV Mặt khác, những nghiên cứu trên cũng đã đề cập nhiều vấn đề khác nhau về người Mnông, như nguồn gốc tộc người, kinh tế, văn hóa xã hội truyền thống của dân tộc này
Như vậy, những nghiên cứu đã được công bố liên quan đến đề tài khá phong phú, bao gồm các vấn đề về lý thuyết và thực tiễn khác nhau ở trong nước và trên thế giới Những kết quả nghiên cứu đó có ý nghĩa rất quan trọng, đã cung cấp nguồn tư liệu đa dạng, phong phú cho luận án, mặt khác còn gợi mở những vấn đề lý luận - thực tiễn và cách thức tiếp cận nghiên cứu để tham khảo, đối chứng trong quá trình nghiên cứu
1.1.4.2 Những vấn đề đặt ra Luận án cần được giải quyết
Qua khảo cứu các công trình liên quan đến đề tài luận án, chúng tôi nhận thấy còn khá nhiều những nội dung và khoảng trống đặt ra còn chưa được giải quyết Các nghiên cứu về SK của cư dân TĐC và vùng chịu tác động TĐ chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và đối tượng tác động là các dân tộc có trình độ phát triển tương đối cao như Tày, Thái, Mường, Nghiên cứu về SK dân tộc Mnông dưới tác động của TĐ trên dòng sông thuộc hệ thống sông Sêrêpôk vẫn chưa có công trình nào Bởi vậy, luận án sẽ tập trung giải quyết các vấn đề liên quan đến SK, biến đổi SK dân tộc Mnông dưới sự tác
động của TĐ Buôn Tua Srah; cụ thể sẽ giải quyết các vấn đề như sau:
- Tiếp tục nghiên cứu, hệ thống hóa lý thuyết nghiên cứu SK, biến đối SK;
- Nghiên cứu SK người Mnông ở huyện Lắk trước và sau khi xây dựng TĐ Buôn Tua Srah;
- Đánh giá những NLSK và biến đổi SK của người Mnông ở huyện Lắk dưới sự tác động của TĐ Buôn Tua Srah;
- Đề xuất một số giải pháp phát triển SKBV cho đồng bào Mnông dưới sự tác động của TĐ Buôn Tua Srah
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Một số khái niệm
- Sinh kế (livelihood): SK hay còn gọi là kế sinh nhai, một khái niệm thường được
sử dụng và hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Hiện nay, khái niệm về SK vẫn đang được
Trang 30thảo luận giữa các nhà khoa học dựa trên theo trường phái lý thuyết và thực tế (Chambers and Conway, 1992; Ellis, 1998; Carney, 1998; Barrett, 2006; )
Trong luận án này, khái niệm SK của DFID (1999) được chúng tôi sử dụng: “Sinh
kế là những hoạt động cần thiết mà cá nhân hay hộ gia đình phải thực hiện dựa trên các khả năng và nguồn lực sinh kế để kiếm sống và đạt được mục đích của mình” [106, tr.5]
- Sinh kế bền vững: Có nhiều định nghĩa khác nhau:
Chambers và Conway định nghĩa về SKBV như sau: “SKBV bao gồm con người,
năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội SKBV khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến SK khác SKBV về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh
từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai” [101, tr 51]
K Neefies định nghĩa: “Sinh kế bền vững là SK bao gồm các khả năng, tài sản
và các hoạt động cần thiết để kiếm sống Một SK được gọi là bền vững khi con người có thể đối phó, phục hồi những áp lực và các cú sốc, đồng thời có thể duy trì, nâng cao khả năng về tài sản ở hiện tại lẫn tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên” [118, tr 12] Trong luận án này, chúng tôi sử dụng định nghĩa của
K Neefies làm công cụ lý luận để tiến hành những nghiên cứu cụ thể
- Nguồn lực sinh kế:
Theo khung SK của DFID (1999), nguồn lực sinh kế “là những nguồn lực cụ thể
cũng như khả năng của con người trong khai thác, sử dụng, tái tạo, bồi dưỡng và bảo
vệ các nguồn lực đó” [106, tr 1] Các nguồn lực này tác động trực tiếp và gián tiếp đến
SK của người dân tộc Mnông nói chung, của hộ đồng bào Mnông tại khu TĐC và vùng tác động thủy điện Buôn Tua Srah nói riêng Trong luận án này, chúng tôi đồng nhất
khái niệm nguồn lực và vốn sinh kế Năm nguồn lực sinh kế được hiểu với nội hàm sau:
Nguồn lực tự nhiên (vốn tự nhiên), bao gồm các nguồn nguyên, nhiên, vật liệu tự
nhiên mà con người tận dụng để tạo dựng sinh kế như tài nguyên rừng, đất đai, khí hậu, sông suối,…[106]
Nguồn lực con người (vốn con người), bao gồm kinh nghiệm, kĩ năng, tri thức,
sức khỏe,… tạo điều kiện cho con người tham gia các hoạt động sinh kế và đạt được các mục tiêu sinh kế của họ [106]
Trang 31Nguồn lực xã hội (vốn xã hội), được hiểu bao gồm các mạng lưới, các mối quan
hệ xã hội, các tổ chức xã hội, niềm tin, thành viên nhóm mà con người tham gia để từ
đó, con người được những cơ hội và lợi ích khác nhau trong việc theo đuổi các mục tiêu sinh kế [106]
Nguồn lực tài chính (vốn tài chính), bao gồm được thể hiện bằng nguồn tiền vốn
có được để thực hiện việc đầu tư, chi trả cho các hoạt động sản xuất và đời sống, nó bao gồm cả các khoản tiết kiệm và tín dụng, đôi khi nó tồn tại dưới dạng hiện vật như vật tư
dự trữ, hàng hóa chưa tiêu thụ [106]
Nguồn lực vật chất (vốn vật chất), nguồn lực vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và
các loại hàng hóa mà người sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế Nguồn lực vật chất được phân chia làm 2 loại: Tài sản của cộng đồng và tài sản của hộ [106]
- Hoạt động mưu sinh: Là một thành tố quan trọng trong đời sống tộc người, có
tác động mật thiết và ảnh hưởng quan trọng đối với các thành tố khác như chính trị, văn
hoá, xã hội, … Mưu là cách thức, phương cách, còn sinh là sinh sống, tồn tại Hiểu theo nghĩa chung nhất, “hoạt động mưu sinh” là những cách thức, những phương cách kiếm
sống nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, của cộng đồng
và của các tộc người
- Biến đổi (change) được hiểu là quá trình vận động, phát triển của tất cả các xã
hội Nhìn ở khía cạnh lịch sử, mọi xã hội, mọi lĩnh vực đều đang diễn ra quá trình biến đổi, đan xen những sự tiếp nối và biến đổi
- Tái định cư: Tái định cư (resettlement) được hiểu là hai quá trình di chuyển và hoà nhập TĐC là quá trình thay đổi chỗ ở, nơi sinh sống, còn phục hồi là việc hòa nhập
vào cộng đồng tại nơi ở mới Đây là hai quá trình liên quan chặt chẽ với nhau, tạo ra một quá trình liên tục, kết nối, và không nhất thiết được coi là hai “giai đoạn” Bởi vì, đôi lúc để thành công, quá trình ổn định đời sống có thể diễn ra trước khi quá trình di chuyển nơi ở xảy ra
- Khu vực tác động: Là một vùng không gian địa lý, nơi mà NMTĐ Buôn Tua
Srah được xây dựng đã có những tác động đến người Mnông trên các phương diện xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, con người trong các quan hệ liên quan đến hoạt động của nhà máy
- Phát triển bền vững: Thuật ngữ phát triển bền vững (sustainable development)
Trang 32xuất hiện đầu tiên với nội dung đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú
trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và
sự tác động đến môi trường sinh thái học” Khái niệm này đã phản ánh sự quan ngại khi
một số quốc gia chỉ xem trọng tăng trưởng kinh tế, lấy tăng trưởng kinh tế là thước đo cho phát triển mà không quan tâm sự nguy hại dài lâu đến môi trường sinh thái, … Năm
1987, trong Báo cáo “Our Common Future” của Ủy ban thế giới về Môi trường và Phát
triển đã đưa ra một định nghĩa về Phát triển bền vững và nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các nhà nghiên cứu, đó là “sự phát triển mà thỏa mãn được các nhu cầu của hiện
tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng của thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của họ, …”
1.2.2 Một số lý thuyết nghiên cứu
- Lý thuyết về sinh thái nhân văn
Vào thập niên 50 của thế kỷ XX, lĩnh vực dân tộc học/nhân học được nhiều người quan tâm nghiên cứu và gặt hái nhiều thành công, đặc biệt là các vấn đề về xã hội nguyên thủy Người ta thấy rằng các tộc người/dân tộc trên thế giới có sự khác biệt lớn về văn hóa, đời sống, hoạt động kinh tế, tôn giáo, tín ngưỡng, … và dường như trong một “bối cảnh sinh thái tự nhiên” không giống nhau thì các tộc người/dân tộc lại có cách ứng xử
“không giống nhau đến kì lạ” Để lý giải hiện tượng “không giống nhau đến kì lạ” thì
ngành Nhân học sinh thái ra đời tại Mỹ Lý thuyết này giải thích sự ảnh hưởng qua lại
giữa môi trường tự nhiên và ứng xử văn hoá của con người Cách tiếp cận nghiên cứu
của Nhân học sinh thái là đi vào tìm hiểu sự tương tác giữa tự nhiên và ứng xử văn hoá
của con người, đó là một mối quan hệ năng động và sáng tạo Có thể kể đến một số nhà nghiên cứu nổi bật cho lý thuyết này như M.Beits, Andrew Vayda, Royppaport, … Theo
quan niệm của các học giả này, nghiên cứu sinh thái văn hoá là sự phân tích mối quan hệ
giữa một nền văn hoá và môi trường và con người của nó Trong luận án này, môi trường
được hiểu bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển các đặc điểm văn hoá, trong đó mỗi thành viên (con người) ứng xử theo cách khác nhau
sẽ tạo ra phương thức sinh tồn và tái sản xuất Cách thức ứng xử của tộc người sẽ có những biến đổi thích ứng trong những bối cảnh và môi trường khác nhau [27]
Sau này, lý thuyết Nhân học sinh thái được phát triển thành lý thuyết “hệ sinh
thái nhân văn” hay còn gọi là “sinh thái học nhân văn” Khái niệm “sinh thái học nhân
Trang 33văn” trở thành thuật ngữ cơ bản được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực và loại hình
tiếp cận Rambo và Sajise cho rằng, có mối quan hệ và ảnh hưởng biện chứng lẫn nhau
trong xã hội loài người (hệ thống xã hội) và môi trường tự nhiên (hệ sinh thái) Khi con
người có những tác động đến hệ sinh thái thì bản thân hệ sinh thái sẽ có những “đáp trả” trở lại con người với mức độ thích ứng và ngược lại Dường như có sự cân bằng trong mối quan hệ giữa “hệ thống xã hội” và “hệ sinh thái tự nhiên” Lý thuyết này dường như rất đúng trong bối cảnh hiện nay khi con người đang khai thác kiệt quệ các nguồn lực tự nhiên, cố gắng chinh phục và làm chủ tự nhiên, … thì tự nhiên cũng đang có những “đáp trả” rất cân bằng với hành vi của con người [27]
Gerald G Marten và Daniel M Saltman cho rằng, phương pháp luận “sinh thái
học nhân văn” sẽ cung cấp những kiến thức cần thiết để nhận thức thấu đáo về sự tương
tác giữa hệ sinh thái tự nhiên và hệ thống xã hội của con người Sự phụ thuộc lẫn nhau trong quá trình tương tác có thể tạo ra động lực cùng phát triển hay ngăn cản sự phát triển lẫn nhau của các hệ sinh thái Lý thuyết sinh thái nhân văn hướng đến mục tiêu tìm hiểu, nhận thức quy luật, đặc điểm của mối quan hệ qua lại giữa hai hệ thống này và cách chúng tạo nên những hình thái đặc trưng trong hệ thống xã hội và hệ sinh thái [28]
Trong luận án, chúng tôi áp dụng cách phân tích của Sinh thái nhân văn để tìm
hệ tương tác giữa hệ thống xã hội (tư duy, cấu trúc xã hội, …) của người Mnông với hệ sinh thái nông nghiệp (rừng, đất, nước, …) xung quanh họ Mối quan hệ này mang tính biện chứng, trong đó sự thay đổi của hệ thống này sẽ ảnh hưởng qua lại đến hệ thống khác trên các bình diện cơ cấu, chức năng, mối quan hệ Cụ thể:
Về nhận thức: Hệ thống xã hội bao gồm các quan niệm, trình độ nhận thức, tôn
giáo, tín ngưỡng, và vai trò của nó trong điều khiển các hoạt động của con người qua hoạt động SK Trong phần này, nhận thức của người Mnông có vai trò quan trọng trong quá trình để triển khai các hoạt động SK của họ Việc thay đổi môi trường sống và các yếu tố khác sẽ thể hiện sự thích nghi trong hoạt động và ý thức của họ trong việc tác động với các yếu tố sinh thái xung quanh để đạt được mục tiêu sống
Cấu trúc xã hội: Bao gồm thể chế và cơ cấu xã hội, là một nhân tố rất quan trọng
trong việc điều chỉnh mối quan hệ qua lại giữa con người và tự nhiên Các chủ trương, chính sách lớn được thực hiện ở khu TĐC và vùng tác động TĐ Buôn Tua Srah nói riêng
và dân tộc Mnông nói chung như: Chương trình định canh định cư, Chính sách liên
Trang 34quan đến đất đai và rừng, Chính sách trong phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp (132,
135, 168, …), Chương trình xây dựng nông thôn mới, Dự án xóa đói giảm nghèo, … đã
thể hiện vai trò của Nhà nước, các cơ quan quản lý trong việc điều tiết sự tác động của con người tới môi trường tự nhiên nhằm hướng đến sự phát triển bền vững
Dân số của người Mnông ở khu TĐC và vùng tác động TĐ Buôn Tua Srah từ khi
khởi công xây dựng nhà máy trở lại đây là một yếu tố tương đối quan trọng Sự dịch chuyển dân số trong khi diện tích đất đai canh tác bị thu hẹp cả về diện tích lẫn chất lượng,
sự thu hẹp các nguồn lực khác (rừng, sông suối, thủy sản, …) đã khiến cho con người tại các khu vực này chịu tác động tiêu cực từ môi trường tự nhiên và ngược lại
Tương tự, yếu tố khoa học và kỹ thuật là một nhân tố của hệ thống xã hội tác
động đến mối quan hệ con người với tự nhiên và những thay đổi của nó do cấu trúc lại không gian sinh sống Đã từ lâu, người Mnông đã tích luỹ được những kinh nghiệm để duy trì độ màu của đất, chống xói mòn, Nhưng hiện nay, môi trường tự nhiên thay đổi, việc canh tác theo truyền thống đã không đủ các điều kiện về đất đai, môi trường sinh thái, các nguồn lực Do vậy, để thích ứng với điều kiện tự nhiên mới, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật (phân bón, thuốc trừ sâu, máy móc, …), các loại giống cây trồng mới (đậu, ngô lai, sắn cao sản, ) mặc dù cho năng suất cao nhưng cũng phải tăng cường
sử dụng phân bón hóa học Việc này sẽ làm suy giảm chất lượng đất, chất lượng môi trường Vì vậy, việc tìm ra các giống cây con phù hợp, đảm bảo SK và không làm tổn hại đến mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên đang là một đòi hỏi của thực tế
ở địa phương
Ở chiều ngược lại, khi các yếu tố của hệ sinh thái (rừng, đất, nước, cây trồng vật nuôi, ) có sự biến đổi thì các yếu tố của hệ thống xã hội (cấu trúc xã hội, nhận thức, tri thức bản địa, khoa học kỹ thuật, ) buộc phải có sự điều chỉnh cho phù hợp Trong luận án, mối quan hệ này được thể hiện rõ ở sự thực thi các chủ trương, chính sách của Nhà nước
và ý thức của người dân, trong việc ứng xử với hệ sinh thái đang có nhiều biến động
- Lý thuyết về sinh kế và sinh kế bền vững
Hiện nay, lý thuyết về SKBV của DFID được ứng dụng nhiều nơi trên thế giới
và được xem là cách tiếp cận khả dĩ và toàn diện trong công việc xóa đói giảm nghèo bền vững Theo đó, các yếu tố hợp thành SK bao gồm: 1 Con người có thể nhận biết và dành những ưu tiên để theo đuổi; 2 Con người có những chiến lược theo đuổi các ưu
Trang 35tiên đó để đạt được mục đích; 3 Các quyết định của tổ chức, thể chế, chính sách sẽ tác động đến sự tiếp cận các loại tài sản và cơ hội, các kết quả mà họ có thể đạt được; 4 Khả năng tiếp cận và sử dụng hiệu quả năm loại vốn; 5 Thể chế kinh tế, xu hướng công nghệ, những cú sốc, Lý thuyết này cho rằng còn người có thể thông qua năm loại nguồn lực, với mục tiêu rõ ràng có thể đạt được sự bền vững về SK [106]
Koos Neefies định nghĩa vốn SK “bao gồm các tài sản trừu tượng, có thể gọi là
vốn con người, vốn xã hội, vốn tài chính, vốn vật thể và vốn thiên nhiên” Theo tác giả,
khái niệm vốn bao hàm sự định giá một dự trữ của cải vô hình và hữu hình Dự trữ là một đại lượng và vốn là một đại lượng có một giá trị nhất định Không những thế, vốn còn là một đơn vị biến chuyển từ loại hình vốn này sang loại hình vốn khác [118]
Bebbington đưa ra quan điểm khác so với cách phân chia trên Năm loại vốn mà ông đưa ra, gồm: vốn tự nhiên (natural capital), vốn sản xuất (produced capital), vốn con
người (human capital), vốn xã hội (social capital) và vốn văn hoá (cultural capital) [91]
Một cách phân loại khác của Ian Scoones, nguồn lực SK chỉ gồm 4 loại: vốn tự nhiên,
vốn kinh tế/tài chính, vốn con người và vốn xã hội [122] Như vậy, so với định nghĩa K
Neefies, thì Bebbington không xem xét đến vốn tài chính, vốn vật chất mà thay vào đó
là vốn sản xuất, vốn văn hoá, còn Ian Scoones loại bỏ loại hình vốn vật chất trong cách
tiếp cận của mình Trên thực tế, những loại hình vốn đã được các nhà nghiên cứu khái niệm hoá với mục đích phát triển những mô hình và lý thuyết nhằm nâng cao hiệu quả
về sự tương tác giữa các quá trình xã hội và sự thay đổi môi trường
Quan điểm của DFID công bố vào năm 1999 chia thành 5 loại vốn đó là: vốn tự
nhiên (natural capital), vốn con người (human capital), vốn xã hội (social capital) vốn tài chính (financial capital), và vốn vật chất (physical capital) nhận được nhiều sự quan
tâm, đồng thuận của các nhà nghiên cứu, các tổ chức trong nước và trên thế giới [106]
Luận án sử dụng lý thuyết SKBV để nghiên cứu về SK của người Mnông ở huyện
Lắk, tỉnh Đắk Lắk dưới sự tác động của TĐ Buôn Tua Srah từ khi xây dựng cho đến
hiện nay Theo đó, vốn SK hay nguồn lực SK bao gồm những nguồn lực cụ thể, do con
người tạo nên, sử dụng, cải thiện và phát triển nhằm phục vụ cho nhu cầu tồn tại và phát triển của con người Đó bao gồm tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, tiền, vốn xã hội, vốn nhân lực (lao động, kỹ năng, kiến thức) Mỗi cá nhân hay hộ gia đình có thể có hoặc không có những nguồn vốn khác nhau trong theo đuổi các chiến lược SK của họ
Trang 361.2.3 Khung sinh kế được vận dụng giải quyết các vấn đề của luận án
Bên cạnh việc sử dụng lý thuyết về sinh thái học nhân văn để giải quyết các vấn
đề về biến đổi thích nghi/ biến đổi thích ứng SK của người Mnông do môi trường sinh thái bị thay đổi dưới tác động của CTTĐ Buôn Tua Srah, nghiên cứu sinh vận dụng các
khung SKBV để giải quyết các vấn đề đặt ra của luận án Khung SK là cơ sở để phân
tích toàn diện về những biến đổi trong nội bộ cộng đồng người Mnông TĐC và vùng tác động TĐ Buôn Tua Srah Dựa vào khung SK, chúng ta lý giải việc người Mnông thông qua việc sử dụng năm nguồn lực, với nhiều cách thức khác nhau để thích ứng với việc thay đổi môi trường sống để không rơi vào đói nghèo Khung phân tích SK chỉ ra các chiến lược nâng cao thu nhập; phân tích, lý giải việc người Mnông lựa chọn, sử dụng và phân phối các NLSK để sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống, đạt mục tiêu trong việc theo đuổi tương lai bền vững Khung phân tích SK sẽ được điều chỉnh và ứng dụng
linh hoạt, phù hợp với từng bối cảnh văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của người Mnông
Hiện nay, có rất nhiều các tổ chức quốc tế đã đưa ra các khung phân tích SK Trong phạm vi luận án, khung phân tích SK của DFID và IFAD được kết hợp sử dụng làm căn cứ về lý thuyết để phân tích các nguồn lực sinh kế của người Mnông tại khu TĐC và vùng tác động TĐ Buôn Tua Srah
1.2.3.1 Khung sinh kế bền vững của DFID
Các yếu tố tạo thành khung phân tích SK của DFID gồm: 1 Con người có thể nhận biết và dành những ưu tiên để theo đuổi; 2 Con người có những chiến lược theo đuổi các ưu tiên đó để đạt được mục đích; 3 Các quyết định của tổ chức, thể chế, chính sách sẽ tác động đến sự tiếp cận các loại tài sản và cơ hội, các kết quả mà họ có thể đạt được; 4 Khả năng tiếp cận và sử dụng hiệu quả năm loại vốn; 5 Thể chế kinh tế, xu hướng công nghệ, những cú sốc, [106]
Trong phân tích của DFID, con người và SK là trung tâm, người nghèo được quan tâm và đặt ở vị trí số một trong các nghiên cứu phát triển nông thôn ở các quốc gia
để đạt được mục tiêu giảm nghèo thực tế Mọi chính sách, thể chế, quy trình đều ảnh hưởng đến quá trình tiếp cận và sử dụng năm NLSK của người dân
Có thể khẳng định khung phân tích SK của DFID là cách tiếp cận khá toàn diện trong việc phân tích về SK và đói nghèo Khung này thừa nhận con người có mối quan
hệ với ràng buộc, gắn bó với nhau Các nghiên cứu hỗ trợ phát triển có trách nhiệm nhận
Trang 37dạng những cơ hội và thách thức liên quan đến SK ở các góc độ, cấp độ lĩnh vực, khu vực Cụ thể: (1) Khung SK phải được áp dụng nghiên cứu xuyên khu vực, lĩnh vực, nhóm xã hội; (2) Chúng ta có thể hiểu và thừa nhận nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến SK con người; (3) Có nhiều nhiều tác nhân tác động đến SK; (4) Con người sử dụng nhiều chiến lược để bảo đảm SK [106]
Sơ đồ 1.1 Khung sinh kế bền vững của DFID
Nguồn: DFID (1999)
Moser, Caroline (2008) đã khái quát thành ba điểm mạnh chính của khung phân
tích DFID, đó là: (1) Thứ nhất, tiếp cận lấy con người làm trung tâm, lấy chuyển đổi cách
thức hành động để bảo đảm khi thực thi các quá trình thì mọi người đều có thể tham gia;
(2) Thứ hai, cho phép tất cả mọi người trong cộng động đều được tham gia luận bàn và
quyết định mọi chính sách liên quan đến mình trong khi quyền lợi cá nhân vẫn được đảm
bảo (3) Thứ ba, tiếp cận liên ngành không có nghĩa chỉ sự đa dạng thành phần mà còn
công nhận nhiều thực thể xã hội tham gia với nhiều cách thức khác nhau Tuy nhiên cả Caroline, Moser cũng nêu lên một số điểm yếu của khung phân tích DFID, gồm: (1) Vì khung phân tích nhấn mạnh đến đa ngành, lĩnh vực, đa chủ thể nên ở cấp độ tổ chức và
áp dụng sẽ gặp khó khăn hơn; (2) Ở cấp độ các mối quan hệ chính trị, thị trường chưa được chú ý đúng mức nên rất khó lý giải nhiều vấn đề; và (3) Thực tế, khung phân tích này khó lí giải được cách thức và hiệu quả sự kết nối giữa vi mô và vĩ mô [116]
Trang 38Như vậy khung phân tích SK của DFID rõ ràng trong mối quan hệ tuần tự, tác động của các yếu tố chính sách, luật pháp và các yếu tố dễ gây tổn thương vào năng lực sinh kế, các chiến lược SK, phù hợp với quá trình phân tích SK của đồng bào người Mnông TĐC và vùng tác động TĐ Buôn Tua Srah mà luận án cần
1.2.3.2 Khung sinh kế của IFAD
Trên cơ sở khung phân tích SK của DFID, IFAD đã phát triển sơ đồ mới về phân tích SK IFAD bắt đầu từ người nghèo và các NLSK của họ, lấy “người nghèo làm trung tâm” cho mọi sự phân tích và chuyển hóa
Sơ đồ 1.2 Khung sinh kế bền vững của IFAD
Nguồn: IFAD (2004)
Người nghèo dễ bị mất năm NLSK Khi nhìn vào khung phân tích DFID, chúng
ta thấy, người tham gia ít được chú ý vì họ bị tập trung quá nhiều vào các nguồn lực và yếu tố khác Các mối liên kết, các chiến lược SK, các yếu tố dễ tổn thương không được xem trọng trong khi những điều này rất cần thiết để có một SKBV Ngoài ra, các yếu tố quan trọng khác trong SK của người nghèo như nguyện vọng, những cơ hội để thay đổi nhận thức là những yếu tố tiềm ẩn quan trọng khi xác định nội dung các lĩnh vực để can thiệp Đây chính là hạn chế lớn nhất của DFID
Khung SKBV IFAD có một số đặc điểm nổi bật sau:
- Ít “tuần tự” hơn: IFAD sắp xếp lại các yếu tố trong khung phân tích, mối quan
hệ giữa các yếu tố diễn ra ít tuần tự đã làm cho liên kết, các yếu tố nhanh chóng tác động đến chủ thể bị ảnh hưởng, biện chứng và rõ ràng hơn
Trang 39- Đặt người nghèo làm trung tâm: Với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, khung của
IFAD có ưu điểm là rất cố gắng đặt người nghèo làm trung tâm của sơ đồ và sắp xếp các yếu tố khác trong khuôn khổ mối quan hệ với họ
- Coi trọng đời sống tinh thần: Các yếu tố như giới tính, lứa tuổi, tầng lớp, trình
độ, dân tộc, tôn giáo được đặt gần trung tâm được coi như là yếu tố có tác đến người nghèo và các thành tố khác trong khung SK
- Kết hợp nhiều nguồn vốn của cá nhân: Yếu tố “cá nhân” được bổ sung vào
trong các NLSK của khung SKBV Điều này cho thấy rằng “cá nhân” rất quan trọng và
có những ảnh hưởng tới sự lựa chọn SK của gia đình Nội lực của từ cá nhân sẽ thúc đẩy những hành động hiệu quả và sẽ dẫn đến sự thay đổi SK
- Các yếu tố thể chế, văn hóa, thị trường: Chính sách thể chế, văn hóa, thị trường
có tác động qua lại với yếu tố trung tâm là người nghèo Phải làm rõ giữa "những người
có thẩm quyền", "các nhà cung cấp dịch vụ" và "những người sử dụng", xem xét tác động của các mối quan hệ trên đến người nghèo để đánh giá, cải thiện chính sách, thể chế, các tổ chức nhận ra những cách mà họ có thể xem xét để hoàn thiện chính sách
Tóm lại, khung SKBV của IFAD tập trung vào hỗ trợ người nghèo ở vai trò người
tổ chức và tạo lập các mối quan hệ Tầm quan trọng và vai trò của thị trường cũng được chỉ rõ ràng để người nghèo có thể chuyển đổi các nguồn lực Yếu tố tinh thần và văn hóa cũng được nhấn mạnh trong mô hình Chuẩn mực xã hội, chuẩn mực đạo đức có tác động mạnh mẽ đến cách mà người nghèo ứng xử trong đời sống của họ Quyền lợi được xem xét và được thực thi trong chính sách của thể chế phải được được công nhận mức
độ khác nhau tùy thuộc vào hệ thống chính trị và xã hội của một quốc gia Tất cả các yếu tố này có thể gây khó khăn cho người nghèo trong quá trình tổ chức các hoạt động
và “dễ bị tổn thương” bởi bối cảnh, đó là khó khăn khó có thể "đối phó" đối với người nghèo Khung phân tích SK IFAD thích hợp hơn đối với các dự án giảm nghèo
Từ việc nghiên cứu 2 khung SK DFID và IFAD ở trên, luận án vận dụng kết hợp
2 khung phân tích, trong đó khung phân tích DFID là trọng tâm để làm cơ sở lý luận cho
luận án về phân tích các nguồn lực SK
1.3 Các phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Phương pháp Điền dã dân tộc học
Đây là phương pháp chủ đạo trong quá trình triển khai thu thập tư liệu tại địa bàn
Trang 40nghiên cứu với nhiều phương pháp cụ thể Có thể khẳng định phương pháp điền dã dân tộc học đóng vai trò quyết định trong quá trình thực hiện luận án Đối tượng nghiên cứu
của đề tài là “Sinh kế của người Mnông dưới tác động của thủy điện Buôn Tua Srah ở
huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk” nên việc điền dã để quan sát, khảo sát, nghiên cứu, thu thập
tài liệu, … là yếu tố tiên quyết và bắt buộc Với yêu cầu và mục đích của luận án, chúng tôi chọn triển khai điền dã tại cộng đồng người Mnông ở 4 xã là Krông Nô, Nam Ka, Ea Rbin, Buôn Triết, trong đó công trình TĐ Buôn Tua Srah đặt tại xã Nam Ka, xã Krông
Nô nơi người Mnông có số lượng lớn và là nơi chọn làm khu vực TĐC của công trình
TĐ ở huyện Lắk Ở các điểm nghiên cứu trên, bên cạnh việc thu thập tư liệu bằng phương pháp nghiên cứu điền dã dân tộc học như: quan sát, mô tả, thu thập tư liệu bằng hệ thống câu hỏi/vấn đề bán cấu trúc, chúng tôi còn triển khai phương pháp thảo luận nhóm như
là một hình thức nghiên cứu có sự tham dự của người dân Với cách thức này chúng tôi
đã hình thành 3 nhóm nghiên cứu có sự tham dự của cộng đồng người dân và người Mnông như sau:
- Nhóm người Mnông thuộc các thành phần hộ gia đình (trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán, nhận trồng rừng và chăm sóc bảo vệ rừng, hoạt động thủy sản)
- Nhóm những người có uy tín trong cộng đồng buôn làng gồm: Già làng, trưởng buôn, bí thư chi bộ, chi hội trưởng hội nông dân, chi hội trưởng hội phụ nữ, bí thư đoàn thanh niên
- Nhóm cán bộ viên chức: Cán bộ, viên chức đang công tác tại chính quyền địa phương, nhà giáo,
Thông qua các buổi thảo luận nhóm trong quá trình điền dã dân tộc học, chúng tôi đã thu được những tham biến định tính về những nhân tố tác động tích cực và tiêu cực của công trình TĐ Buôn Tua Srah đến các hoạt động SK của người dân nói chung
và người Mnông nói riêng Kết hợp với những tư liệu định tính, chúng tôi xây dựng bộ câu hỏi điều tra xã hội học
Như vậy, phương pháp điền dã dân tộc học được triển khai trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện luận án với các hoạt động chính sau đây:
- Bằng phương pháp nghiên cứu chuyên gia, chúng tôi xây dựng câu hỏi bán cấu trúc, trực tiếp về cộng đồng các buôn làng thuộc địa bàn nghiên cứu, sống cùng người dân, quan sát, lắng nghe để mô tả, ghi chép, đo đạc, vẽ sơ đồ, chụp ảnh, … các hiện