1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

làm giàu protein củ sắn bằng cách lên men với nấm men làm thức ăn cho lợn địa phương ở lào

54 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có những kết quả tích cực về lượng ăn vào (theo VCK), tăng khối lượng, giảm hệ số chuyển hóa thức ăn, khi tỷ lệ PECR trong khẩu phần ăn đã tăng (từ 0 đến 15% theo VCK). Tóm lại việc t[r]

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN

1: PHÓ GIÁO SƯ, TIẾN SĨ LÊ VĂN AN

2: PHÓ GIÁO SƯ, TIẾN SĨ TRẦN THỊ THU HỒNG

HUẾ, 2019

Trang 3

GIỚI THIỆU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Lợn là một trong những động vật quan trọng nhất đối với các hộ chăn nuôi quy

mô nhỏ ở vùng cao của Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào vì nó có thể được bán khi cần tiền mặt để mua gạo và các thực phẩm khác, để trả học phí hoặc chi phí bệnh viện cho người trong gia đình bị ốm và thịt lợn được sử dụng trong các nghi lễ truyền thống của gia đình Lợn có thể được nhốt trong một khu vực nhỏ, có thể thích ứng với nhiều phụ phẩm nông nghiệp, nhà bếp và mang lại lợi nhuận đầu tư nhanh chóng (Steinfeld, 1998) Khoảng 75% hộ gia đình ở vùng cao trong nước đang nuôi lợn (FAO, 2017) Nhìn chung, lợn bản địa chiếm khoảng 85,1% trong hệ thống chăn nuôi quy mô nhỏ (DLF, 2017), chúng rất khỏe mạnh và có thể kiếm thức ăn cho chúng trong điều kiện tự

do, lợn bản địa được nuôi chủ yếu trong các hệ thống đầu tư thấp chủ yếu từ thức ăn tự nhiên (Kennard, 1996; FLSP, 2002) Ở hầu hết các vùng của Lào, phụ phẩm nông nghiệp, như cám gạo và cỏ tự nhiên là thức ăn chính cho lợn (ILRI 2002) Ở các vùng nông thôn Lào, nơi hầu hết nông dân đang trồng lúa để bán, thức ăn cho lợn là cám gạo cho ăn cùng với một lượng nhỏ thức ăn xanh Do đó, cám gạo có sẵn ở hầu hết các hộ nông dân nhưng giá trị dinh dưỡng cám gạo không cao (ILRI, 2002; FLSP, 2002) Do thức ăn chiếm khoảng 50-60% chi phí sản xuất, nên chất lượng thức ăn rất quan trọng đối với sự thành công của hoạt động chăn nuôi lợn Các vấn đề chính có thể xảy ra do thức ăn chất lượng thấp dẫn đến kém ăn, tăng trưởng chậm, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn cao và tỷ lệ sống thấp do các vấn đề về chất lượng nguyên liệu, công thức thức ăn, công nghệ chế biến, lưu trữ và quản lý thức ăn Vấn đề chính là việc cung cấp protein như đậu nành và bột cá nhưng lại không có sẵn ở các vùng nông thôn và đắt đỏ (Phengsavanh và Stür., 2006)

Trồng sắn chủ yếu để lấy củ Năng suất của củ sắn là khác nhau tùy thuộc vào

độ phì nhiêu của đất, hệ thống quản lý và tưới tiêu Năng suất củ sắn có thể từ 10 đến

15 tấn / ha mà không cần đầu tư trên đất bị xói mòn (Howeler, 1991) Ở Lào, sắn (Manihot esculenta Crantz) được gọi là ‘Man Ton’, hiện là cây trồng quan trọng thứ ba

ở Lào, sau lúa và ngô cho nông dân sản xuất nhỏ ở vùng cao Gần đây, cây sắn đã trở thành cây trồng quan trọng cho sử dụng trong nước hoặc xuất khẩu vì nó có thể được sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi cũng như chế biến công nghiệp thành tinh bột (Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp, 2013) Sắn đã trở thành cây trồng chính ở Lào, chủ yếu là do xuất khẩu tinh bột được chiết xuất từ củ sắn Có năm nhà máy tinh bột sắn có tổng diện tích trồng sắn là 60.475 ha, cho năng suất trung bình của củ tươi là 27 tấn / ha Sản lượng hàng năm là 1,6 triệu tấn (Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp, 2013) Các nông trại sắn không chỉ cần một nguồn thu nhập chính cho các hộ gia đình nông thôn mà còn được sử dụng trong các khẩu phần ăn của lợn làm nguồn năng lượng vì củ sắn có hàm lượng năng lượng cao (75 đến 85% carbohydrate hòa tan) nhưng protein thô thấp (2 đến 3% CP) Củ sắn bao gồm carbohydrate tiêu hóa cao ở dạng tinh bột với

ít chất xơ (Kang và cs, 2015; Polyorach và cs, 2013) Lên men ở trạng thái rắn của củ sắn là một công nghệ đầy hứa hẹn vì nó có khả năng nâng hàm lượng protein lên mức cần thiết để cân bằng carbohydrate, do đó tạo ra thức ăn gần như hoàn chỉnh cho lợn (Boonnop và cs, 2009) Sengxayalth và Preston, (2017a) đã báo cáo sự gia tăng protein thực từ 2 đến 12% theo vật chất khô (VCK) của bột sắn Vanhnasin và cộng sự,

Trang 4

(2016a) protein thực của củ sắn tăng từ 2 đến 7% trong chất khô (DM) Những phát hiện tương tự đã được báo cáo bởi Balagopalan và cộng sự, (1988), họ đã phát triển một quá trình lên men ở trạng thái rắn để làm giàu protein của bột sắn và chất thải của

nhà máy tinh bột sắn bằng nấm Trichoderma pseudokonigii rifai Lên men bằng nấm

men, vi khuẩn đã được nghiên cứu để làm giảm các thành phần phi dinh dưỡng, làm tăng giá trị dinh dưỡng của các sản phẩm phụ nông nghiệp (Okpako et al 2008; Aderemi et al 2007; Trần Thị Thu Hồng và Nguyễn Văn Ca, 2013) Phosphate bổ sung dẫn đến tăng sinh khối của nấm men và vi khuẩn (Papagianni et al 1999) Hữu và Khammeng, (2014) đã báo cáo rằng khi thay thế ngô bằng bột sắn lên men có chứa 13% protein thô ( theo VCK), tỷ lệ tiêu hóa và tồn dư Nito tương tự như khẩu phần đối chứng Protein làm giàu từ củ sắn có thể cung cấp trong khẩu phần ăn của lợn tới 25 đến 28% protein trong khẩu phần ăn dựa trên bột sắn (hoặc củ sắn ủ), thay thế lá khoai môn ủ (Vanhnsin và Preston, 2016b) hoặc bột đậu nành (Sengxayalth và Preston, 2017b) Cũng tương tự như tăng trưởng ở lợn được báo cáo bởi Phương và cộng sự, (2013) đối với bột sắn được làm giàu từ 3 đến 5,5% protein thực khi sử dụng nấm

Aspergillus niger để ủ

Thức ăn địa phương được sử dụng trong các hệ thống chăn nuôi nhỏ cho lợn bao gồm phụ phẩm gạo, thức ăn từ cây trồng và các nguyên liệu từ thực vật xanh khác nhau (ILRI 2002) Tuy nhiên, thức ăn địa phương có giá trị dinh dưỡng thấp Phụ nữ thường là những người chủ chốt trong việc này, theo thông lệ truyền thống, họ dành 2 đến 3 giờ mỗi ngày để thu thập và chuẩn bị thức ăn cho lợn (Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Úc 2010) Nông dân có ít kiến thức về tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn thức ăn hiện có, tốc độ tăng trưởng của lợn chỉ 100 đến 120 g / ngày nếu phụ thuộc vào thức ăn địa phương Trong thức ăn hoàn chỉnh thương mại, các nguồn protein phổ biến nhất là bột cá và bột đậu nành Những thức ăn này cung cấp protein chất lượng cao cho lợn, nhưng chúng được nhập khẩu và đắt tiền Do giá cao, các nguồn protein như vậy không thể được sử dụng bởi các hộ nông dân nghèo (Phengsavanh và cs, 2010) Vì vậy, cải thiện giá trị dinh dưỡng dồi dào của thức ăn địa phương trong vùng của họ, đặc biệt là ứng dụng lên men vi sinh vật, có thể cải thiện giá trị dinh dưỡng của thức ăn địa phương và sử dụng làm thức ăn cho lợn địa phương ở Lào, giúp giảm chi phí thức ăn và mang lại lợi ích kinh tế cho nông dân ở vùng nông thôn

2 MỤC TIÊU

Mục đích tổng thể của luận án này là cải thiện giá trị dinh dưỡng của củ sắn

bằng cách lên men với nấm (Saccharomyces cerevisiae), phụ gia Urea và di-ammonium

phosphate như là nguồn protein sử dụng trong khẩu phần của lợn Moo Lath Mục tiêu

cụ thể là:

• Nghiên cứu giá trị dinh dưỡng của củ sắn bằng cách lên men với nấm

(Saccharomyces cerevisiae), phụ gia Urê và Di-ammonium phosphate

• Nghiên cứu yếu tố giới hạn trong quá trình tổng hợp protein thực từ protein thô trong quá trình lên men của củ sắn

Trang 5

• Đánh giá việc sử dụng củ sắn đã làm giàu protein như là một phần thay thế thân lá khoai môn ủ chua trong chế độ ăn có thân cây chuối – là khẩu phần cơ sở cho lợn Moo Lath

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Có những điểm chính sau: (i) Chăn nuôi lợn ở Lào; (ii) nhu cầu về protein và axit amin đối với lợn đang phát triển; (iii) thức ăn cho lợn ở Lào; (iv) phương pháp cải thiện giá trị cho thức ăn chăn nuôi có hàm lượng protein thấp; và (v) sử dụng thức ăn thô xanh

cho lợn

Trang 6

CHƯƠNG 2 CẢI THIỆN GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA CỦ SẮN

(Manihot esculenta Crantz)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Những vấn đề chính của chăn nuôi lợn quy mô nhỏ ở vùng cao của CHDCND Lào là tỷ lệ chết của lợn con cao và tốc độ sinh trưởng thấp Hầu hết tất cả các giống lợn thuộc giống địa phương (Mou Lath), được quản lý trong các hệ thống bẩn và chịu

sự bất cập về thức ăn cả chất lượng và số lượng Theo khảo sát của Phonepaseuth và

cs, (2010), hầu hết lợn con ở vùng cao có tốc độ sinh trưởng thấp (20-50 g / ngày) và tỷ

lệ chết cao (30-50%) Lợn cai sữa cần từ 5 đến 8 tháng để đạt trọng lượng sống từ 20 đến 30 kg

Củ sắn bao gồm carbohydrate và do đó là nguồn năng lượng chủ yếu Hàm lượng tinh bột thay đổi từ 32 đến 35% khối lượng của củ tươi và 80 đến 90% khối lượng củ khô (Montagnac et al., 2009) Hàm lượng protein là không đáng kể, từ 1 đến 3% chất khô (Buitrago, 1990)

Một cách để cải thiện hàm lượng protein trong thức ăn giàu carbohydrate là lên men ở trạng thái rắn với nấm men (Araujo và cs, 2008; Hong và Ca, 2013) Quá trình

lên men của bột sắn với S cerevisiae đã tăng mức protein từ 4,4% lên 10,9% theo VCK

và làm giảm hàm lượng xyanua (Oboh và Kindahunsi, 2005)

Lên men trạng thái rắn của củ sắn bằng urê và di-ammonium phosphate (DAP)

là một công nghệ đầy hứa hẹn vì nó có khả năng nâng hàm lượng protein lên mức cần thiết để cân bằng carbohydrate, do đó tạo ra khẩu phần thức ăn gần như hoàn chỉnh cho động vật như lợn và gia cầm (Boonnop và cs, 2009)

Thực tế, trong các nghiên cứu được báo cáo cho đến nay là không phải tất cả các hợp chất nitơ được thêm vào (urê và DAP) đã được chuyển đổi thành protein thực, mức độ không bao giờ vượt quá 50 đến 70% protein thô trong các thí nghiệm với củ sắn lên men (Vanhnasin và Preston, 2016a) và bột củ sắn (Sengxayalth và cs, 2017a) Nấm men không thể trực tiếp sử dụng urê mà trước tiên phải được thủy phân thành amoniac bằng urease Tuy nhiên, hoạt động của urease bị ức chế ở pH thấp (Kay và Reid, 1934), giảm nhanh khi củ sắn được lên men

Trang 7

nằm cách thành phố Luông Pha Băng, CHDCND Lào 7 km Nhiệt độ trung bình hàng ngày ở khu vực này tại thời điểm thí nghiệm là 27° C (khoảng 22-32 ° C)

hấp và không hấp sau đó được trộn với urê, men (Saccharomyces cerevisiae) và DAP

(bảng 1) Tỷ lệ urê được thay đổi tùy theo mức độ DAP sao cho các khối ủ là cân bằng nitơ Các khối ủ sau đó được chuyển vào các rổ tre được phủ bằng lưới nhựa để cho phép không khí vào tự do (ảnh 2) và lên men trong 14 ngày

Bảng 1 Thành phần của khối ủ (theo VCK) Nghiệm

Nấm men là saccharomyces cerevisiae đã được sử dụng trong thí nghiệm Các

tế bào S cerevisiae có hình tròn hoặc hình trứng, đường kính 5-10 mm Nó sinh sản

bằng cách phân chia được gọi là đâm chồi (Feldmann và Horst, 2010) Di-ammonium phosphate (DAP) chứa 16% N và 20% phốt pho (P); Urê có 46% Nito (theo VCK);

nấm men (S cerevisiae) chứa 48,6% CP theo VCK

Trang 8

Các chỉ tiêu theo dõi

Vào các ngày 0, 3, 7 và 14 mẫu được lấy từ các nghiệm thức Có bốn lần lặp lại trong mỗi giai đoạn của nghiệm thức (mẫu không lặp lại các phép đo trong từng giai đoạn) và mẫu được phân tích các chỉ tiêu: VCK, Nito, chất hữu cơ và protein thực Trọng lượng tươi của khối ủ của mỗi nghiệm thức được cân tại mỗi khoảng thời gian để xác định VCK trong quá trình lên men

Phân tích hóa học

VCK, Nito và khoáng được phân tích theo phương pháp AOAC, (1990) Để ước tính protein thực, 2 g mẫu tươi được cho vào bình Erlenmeyer 125ml với 50 ml nước cất, để yên trong 30 phút, sau đó 10ml TCA (axit trichloracetic) được thêm vào và để yên trong 20-30 phút nữa Sau đó mẫu được lọc qua giấy Whatman # 4 bằng trọng lực Dịch lọc được loại bỏ và giấy lọc còn lại và chất nền lơ lửng được chuyển sang bình kjeldahl để ước tính tổng lượng Nito Chỉ tiêu protein thô và protein thực được thực hiện trên mẫu tươi

Phân tích thống kê

Số liệu được phân tích bằng tùy chọn Mô hình tuyến tính chung (GLM) trong chương trình ANOVA của phần mềm Minitab, (2010) (phiên bản 16.0) Trong mô hình, các nguồn của biến thể là các nghiệm thức, tương quan nghiệm thức và sai số ngẫu nhiên So sánh cặp Turkey được sử dụng để xác định sự khác biệt Các mô hình thống kê được sử dụng là:

Yijk = µ +ci +dj + tk + (c*d*t)ijk + eijk

Yijk là các biến phụ thuộc; µ: trung bình quần thể; ci là ảnh hưởng của củ sắn, dj là ảnh hưởng của DAP; tk là ảnh hưởng của thời gian; (c*d*t)ijk là sự tương tác giữa ba yếu tố;

eijk là sai số ngẫu nhiên

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Hấp củ sắn trước khi lên men dường như có tác dụng (p = 0,67) đối với việc chuyển đổi protein thô thành protein thực (bảng 2) Việc tăng tỷ lệ DAP từ 0 đến 2% theo VCK đã làm tăng mức trung bình của protein thực của khối ủ từ 4,16 đến 5,85% theo VCK (bảng 2) Tỷ lệ protein thực trong khối ủ tăng theo xu hướng đường cong tuyến tính (R2 = 0,98) từ 2,3 đến 6,9% theo VCK khi thời gian lên men tăng từ 0 đến 14 ngày; protein thô là 10,5 theo VCK sau khi ủ và không thay đổi vào cuối thời gian lên men Tỷ lệ protein thực so với protein thô tăng từ 24,6 lên 63,7 so với cùng thời gian (bảng 2; hình 1 và 2) Tuy nhiên, theo (Vanhnasin và Preston, 2016b) cho thấy VCK, protein thô (CP) và protein thực (TP) của củ sắn được lên men (14 ngày) mà không có

cơ chất là VCK 29,5%, CP 3%, TP 1,5% nhưng hàm lượng của khoáng là cao (97%)

Bảng 2 Giá trị trung bình của VCK, chất hữu cơ (OM), protein thô; protein thực và

tỷ lệ TP / CP ở các giai đoạn khác nhau của quá trình lên men (% theo VCK)

Trang 9

Bảng 3 Ảnh hưởng của DAP đến hàm lượng protein thô, protein thực và tỷ lệ TP

/ CP sau 14 ngày lên men (% theo VCK)

Thay đổi khối lượng khối ủ trong quá trình lên men

Khoảng 30% VCK ban đầu trong khối ủ đã được lên men vào ngày 14, tỷ lệ mất mát cho thấy xu hướng cong tuyến tính theo thời gian, sự thay đổi lớn diễn ra trong 3 ngày đầu (bảng 4)

Trang 10

Bảng 4 Thay đổi khối lượng khối ủ tươi (FM) và vật chất khô (VCK) trong quá

Thiết kể thí nghiệm

Phương pháp thí nghiệm được lặp đi lặp lại hấp củ sắn với 2% di-ammonium phosphate (DAP) giống như trong thí nghiệm 1

Trang 11

Thiết kế thí nghiệm là sự sắp xếp 2 * 9 yếu tố trong một thiết kế hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) với 2 nghiệm thức kết hợp và với 4 lần lặp lại mỗi giai đoạn Khối ủ (theo VCK) bao gồm 93,6% củ sắn, 3% men, 1,4% urê và 2% di-ammonium phosphate (DAP) trong điều kiện hiếu khí và kỵ khí, được lên men trong 9 ngày (giai đoạn) (0, 3h,

1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 ngày)

Quy trình

Củ sắn được gọt vỏ và cắt thành miếng nhỏ (1-2 cm) và hấp trong 30 phút trong một cái rổ tre đặt trên chảo chứa nước sôi Sau đó, nó được làm nguội trong 15 phút

trước khi trộn với men (S cerevisiae), urê và DAP (tất cả các thành phần này được sử

dụng cùng loại như thí nghiệm 1) Một nửa khối ủ chuyển vào rổ tre được phủ lưới nhựa để cho không khí vào tự do và lên men trong 7 ngày (điều kiện hiếu khí) Phần còn lại của khối ủ được đóng gói chặt vào túi nhựa 0,5 lít, đóng kín (điều kiện yếm khí)

và được bảo quản trong 7 ngày

Các chỉ tiêu theo dõi

Mẫu được lấy từ mỗi nghiệm thức / lặp lại vào ngày 0 (3 giờ sau khi ủ), và sau

đó cứ sau 24 giờ cho đến khi kết thúc quá trình lên men để xác định pH, protein thô, protein thực và amoniac

Phân tích hóa học

pH của từng mẫu được đo bằng máy đo pH kỹ thuật số, phân tích amoniac bằng phương pháp chưng cất hơi nước sau khi bổ sung natri hydroxit (AOAC, 1990) Protein thô được phân tích bằng cách công phá kjeldahl bằng axit sulfuric sau đó chưng cất theo phương pháp AOAC, (1990) Để ước tính protein thực , 2 g mẫu tươi được cho vào bình Erlenmeyer 125ml với 50 ml nước cất, để yên trong 30 phút, sau đó 10ml TCA (axit trichloroacetic) được thêm vào và cho để yên trong 20-30 phút nữa Mẫu được lọc qua giấy Whatman # 4 bằng trọng lực Dịch lọc loại bỏ, giấy lọc còn lại và mẫu lọc được chuyển sang bình kjeldahl để ước tính tổng lượng Nito.N- Urea được ước tính bằng cách lấy protein-Nito thô trừ Nito-protein thực và Nito-ammonia Các chỉ tiêu protein thô, protein thật và amoniac được thực hiện trên các mẫu tươi

Phân tích thống kê

Số liệu được phân tích bằng tùy chọn Mô hình tuyến tính chung (GLM) trong chương trình ANOVA của phần mềm Minitab, (2010) (phiên bản 16.0) Trong mô hình, các nguồn của biến thể là các nghiệm thức, tương quan nghiệm thức và sai số ngẫu nhiên So sánh cặp Turkey được sử dụng để xác định sự khác biệt; thời gian khi

giá trị P của F kiểm tra P <0,05 Các mô hình thống kê được sử dụng là:

Yij = µ +ai +tj + (a*t)ij + eij

Y ij là các biến phụ thuộc; µ trung bình quần thể; a i là ảnh hưởng của điều kiện

(hiếu khí và kỵ khí); t j là ảnh hưởng của thời gian; (a*t) ij là sự tương tác giữa hai yếu tố; e ij là sai số ngẫu nhiên

Trang 12

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Thành phần hóa học của khối ủ

pH giảm theo thời gian lên men, theo xu hướng gần như tuyến tính, từ 5,8 ngay sau khi ủ, xuống 5,47 trong 3h và xuống 3,43 sau 7 ngày (bảng 1) Tỷ lệ protein thô sau khi trộn khối ủ với chất phụ gia là 10,35% theo VCK và không thay đổi trong 7 ngày lên men Tỷ lệ protein thực trong khối tăng từ 2,37 đến 6,97% theo VCK khi thời gian lên men tăng từ 0 lên 7 ngày, do đó tỷ lệ giữa protein thực với protein thô tăng từ 22,95 lên 66,11 so với cùng thời gian (bảng 1) Không có sự khác biệt trong tất cả các chỉ tiêu này giữa điều kiện hiếu khí và kỵ khí, ngoài xu hướng pH giảm nhanh hơn một chút trong 4 ngày đầu tiên trong điều kiện yếm khí sau đó là tốc độ giảm chậm để đạt đến mức gần như giá trị cuối cùng sau 7 ngày với điều kiện hiếu khí

Bảng 1 Thay đổi độ pH, protein thô (CP), protein thực (TP) và amoniac trong củ sắn

lên men với nấm men, urê và DAP trong điều kiện hiếu khí hoặc kỵ khí

Tỷ lệ protein thực trong khối ủ sau quá trình lên men 7 ngày đã tăng gấp đôi từ

34 đến 62% tổng nitơ, và dường như là nguồn gốc từ amoniac (từ DAP) và từ urê (hình 3) Tuy nhiên, urê không được xác định trực tiếp mà được coi là nguồn Nito còn lại sau khi trừ Nito-protein thực và Nito-ammonia khi kết thúc quá trình lên men Hai câu hỏi được trả lời là: i) Tại sao tất cả amoniac không được sử dụng cho sự phát triển của nấm

Trang 13

men?; và ii) tại sao urê không bị thủy phân hoàn toàn thành amoniac? Câu hỏi thứ hai

có lẽ có thể được giải thích là kết quả của sự giảm nhanh chóng pH, cơ chất ức chế hoạt động của urease, hoạt động của nó bị giảm ở pH thấp (Kay và Reid, 1934)

Biểu đồ 3 Phân phối nitơ dưới dạng urê, amoniac và protein thực khi

bắt đầu và sau 7 ngày lên men

THẢO LUẬN

Sự gia tăng hàm lượng protein thực của củ sắn bằng cách lên men với nấm men, urê và DAP đã được báo cáo từ một số nhà nghiên cứu Lên men vỏ sắn bằng nuôi cấy

S cerevisiae đã tăng hàm lượng protein từ 2,4% lên 14,1% ( Antai và Mbongo, (1994))

Oboh và Kindahunsi, (2005) báo cáo rằng quá trình lên men bột sắn với S cerevisiae

đã làm tăng mức protein từ 4,4% lên 10,9% theo VCK Krisada và cs, (2009) đã thực hiện một quá trình lên men tương tự với củ sắn tươi sử dụng urê và men Protein thô tăng từ 3,2 đến 21,1% theo VCK với 90% protein thô ở dạng protein thực Phiny và cs, (2012) lên men gạo tấm trong một hệ thống yếm khí chính là mô hình sản xuất rượu gạo của nông dân Sự khác biệt trong quy trình là bổ sung urê (1% của gạo) cũng như men và không cần chưng cất Hàm lượng protein thô được tăng từ 7% theo VCK trong gạo lên 23% theo VCK sau khi lên men trong 3 ngày Tỷ lệ protein thô và protein thực không được xác định nhưng tốc độ tăng trưởng của lợn tăng 37% khi gạo làm giàu protein được đưa vào khẩu phần ăn, cải thiện 16,5% về tốc độ sinh trưởng so với khẩu phần được bổ sung bằng bột cá, chỉ ra rằng phần lớn sự gia tăng của protein thô là protein thực sự Manivanh và Preston, (2016) đã sử dụng củ sắn làm nguồn carbohydrate, với sự kết hợp của DAP như một nguồn phốt pho với men và urê Hàm lượng protein thực của củ sắn đã tăng lên 14% trong theo VCK (từ 2,5% ở củ chưa lên men) và tốc độ tăng trưởng của lợn Moo Lath đã tăng 46% so với khẩu phần ăn đối chứng có protein từ lá, cuống lá môn được ủ)

Phốt pho là cần thiết cho sự sinh trưởng của tất cả các cơ thể sinh học, bao gồm

cả nấm men, do đó tăng 30% protein thực trong bột sắn lên men bằng cách tăng DAP (20% phốt pho) từ 0 đến 2% (theo VCK) Dường như không có nghiên cứu nào có thể

Trang 14

so sánh về tác động của hàm lượng phốt pho trong việc làm giàu protein của tinh bột với nấm men và urê

Không có các hợp chất nitơ bổ sung như (urê và DAP) được chuyển đổi thành protein thực, mức bổ sung không bao giờ vượt quá 50 đến 70% protein thô trong các thí nghiệm với củ sắn lên men (Vanhnasin và Preston , 2016a) và bột củ sắn (Sengxayalth

và cs, 2017a) Khi giải quyết vấn đề này, từ thí nghiệm 1 đã tăng mức độ DAP lên 2% khối ủ, giảm lượng urê xuống còn 1,2% Điều này có tác dụng làm tăng hàm lượng phốt pho trong khối ủ với sự tăng lên liên quan về tỷ lệ Nito được thêm vào dưới dạng amoniac, thay thế Nito-urê Sự gia tăng tuyến tính trong tỷ lệ giữa protein thực với protein thô được cho là do hàm lượng phốt pho tăng lên, nhưng một giải thích khác có thể là sự thay đổi một phần trong nguồn gốc của NPN được thêm vào - từ urê thành amoniac Nấm men không thể trực tiếp sử dụng urê mà trước tiên phải được thủy phân thành amoniac bằng urease Tuy nhiên, hoạt động của urease bị ức chế ở pH thấp (Kay

và Reid, 1934), giảm nhanh khi củ sắn được lên men

KẾT LUẬN

 Protein thực trong củ sắn tăng theo xu hướng tuyến tính (R2 = 0,98) từ 2,3 đến 6,87% theo VCK khi thời gian lên men tăng từ 0 ngày lên 14 ngày, tỷ lệ protein thực từ protein thô tăng từ 24,6 lên 63,7 so với cùng thời điểm

 Tăng tỷ lệ DAP từ 0 đến 2% theo VCK, khối ủ đã tăng protein thực từ 5,6 lên 7,3 % sau 14 ngày lên men

 30% VCK ban đầu đã được lên men trong quá trình chuyển đổi một phần carbohydrate ban đầu thành protein thực sau 14 ngày lên men

 Hấp củ sắn trước khi lên men có tác dụng tích cực trong việc chuyển đổi protein thô thành protein thật

 Độ pH giảm theo thời gian lên men, theo xu hướng gần như tuyến tính, từ 5,8 ngay sau khi ủ, xuống 5,4 trong 3 giờ và xuống còn 3,43 sau 7 ngày

 Hàm lượng protein thô sau khi ủ với chất phụ gia là 10,35% theo VCK và không thay đổi trong 7 ngày lên men

 Không có sự khác biệt giữa điều kiện hiếu khí và kỵ khí, ngoại trừ xu hướng pH giảm nhanh hơn một chút trong 4 ngày đầu tiên trong điều kiện yếm khí sau đó là tốc

độ giảm chậm để đạt gần như cùng giá trị cuối cùng sau 7 ngày với điều kiện hiếu khí

 Có một đề nghị rằng sự chuyển đổi không hoàn toàn của N-ure và N-amoniac thành protein nấm men là do sự thủy phân không hoàn toàn của urê thành amoniac do tác dụng của urease bị ức chế vì giảm pH trong quá trình lên men

CHƯƠNG 3

SỰ THAY THẾ CÂY MÔN (Colocasia esculenta) Ủ BẰNG CỦ SẮN ĐÃ ĐƯỢC

NÂNG CAO GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG PROTEIN TRONG KHẨU PHẦN CƠ

Trang 15

BẢN CÓ CHỨA THÂN CÂY CHUỐI (Musa sapientum Linn) CHO LỢN Ở

NÔNG HỘ NHỎ TẠI LÀO

TÓM TẮT

Một thí nghiệm sinh trưởng đã được thực hiện với 12 con lợn Moo Lath với trọng lượng ban đầu trung bình 14,8 ± 1,89 kg bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 4 nghiệm thức với ba lần lặp lại Mục đích của nghiên cứu là xác định hiệu quả của việc thay thế thân cây môn ủ chua (TS) bằng củ sắn đã được làm giàu protein (PECR) trong khẩu phần ăn cơ bản có chứa thân cây chuối (BS) Lên men củ sắn tươi với men, urê và di-ammonium phosphate (DAP) làm tăng hàm lượng protein thực trong củ sắn từ 2,5 đến 14,2% theo VCK Có những kết quả tích cực về lượng ăn vào (theo VCK), tăng khối lượng, giảm hệ số chuyển hóa thức ăn, khi tỷ lệ PECR trong khẩu phần ăn đã tăng (từ 0 đến 15% theo VCK) Tóm lại việc thay thế ủ chua cây môn bằng PECR đã cải thiện chất lượng khẩu phần ăn nói chung, dẫn đến lượng ăn vào, tốc độ sinh trưởng cao hơn; hiệu quả sử dụng thức ăn, hiệu quả kinh tế tốt hơn

Từ khóa: DAP, nấm men, urê, chuyển hóa thức ăn, tăng khối lượng

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hầu hết lợn ở khu vực nông thôn của CHDCND Lào được nuôi theo truyền thống, đầu vào thấp, theo phương thức tự do và bán tự do, lợn nhặt ăn tự do quanh năm hoặc sau khi các vụ mùa chính được thu hoạch (Phengsavanh và cs, 2010) Nguồn thức

ăn chính là phụ phẩm nông nghiệp, rau và cỏ dại mọc trong rừng, dọc theo bờ suối và trong các khu vực trồng trọt Những nguồn thức ăn này dễ bị hỏng do thay đổi thời tiết theo mùa và trong mùa khô thì thức ăn luôn thiếu Do đó, một trong những hạn chế chính đối với chăn nuôi lợn trong các hệ thống sản xuất nhỏ này là thiếu thức ăn Ngoài

sự thiếu hụt thức ăn này, các bệnh truyền nhiễm cũng là một vấn đề làm hạn chế sức sản suất (Conlan và cs, 2008; Phengsavanh và Stur, 2006; Thorne, 2005)

Ở Lào cũng như ở hầu hết các nước nhiệt đới, cây trồng được trồng rộng rãi nhất là nguồn carbohydrate chủ yếu (ví dụ: gạo, mía, sắn) Một số ít cây trồng là đặc biệt như là nguồn protein Do đó, thức ăn giàu protein như bột đậu nành được nhập khẩu để tạo ra chế độ ăn cân bằng cho vật nuôi, đặc biệt là lợn và gia cầm Một cách tiếp cận khác đã được một số tác giả nghiên cứu là lên men trạng thái rắn của các sản phẩm phụ giàu carbohydrate từ các loại cây trồng này bằng cách sử dụng kết hợp nấm

và nấm men (Phiny và cs, 2012; Phong và cs, 2013; Khempaka và cs, 2011; Hong và

Ca, 2015) để làm giàu hàm lượng protein

Mục đích của nghiên cứu được báo cáo trong bài báo này là áp dụng kỹ thuật làm giàu protein để nâng cao hàm lượng protein của củ sắn và đánh giá việc sử dụng sản phẩm này như là một phần thay thế của khoai môn ủ chua trong khẩu phần ăn cơ bản có thân cây chuối cho lợn Moo Lath

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đại điểm:

Trang 16

Thí nghiệm được thực hiện trong Phòng thí nghiệm của bộ môn Khoa học Động vật, Khoa Nông nghiệp và Tài nguyên Rừng, Đại học Souphanouvong Địa điểm này nằm cách thành phố Luông Pha Băng, CHDCND Lào 7 km

Thiết kế thí nghiệm, nghiệm thức và quản lý

Làm giàu protein củ sắn

Củ sắn (60 kg) được gọt vỏ và băm nhỏ bằng tay thành những miếng nhỏ (1-2 cm), và hấp trong 30 phút Dùng một thùng thép 20 lít để hấp Cái này có một sàn giả bằng các dải tre được đỡ bằng những tấm gỗ 30cm cao hơn đế thùng Không gian bên dưới dải tre chứa nước được duy trì ở điểm sôi bởi lửa cháy từ gỗ bên dưới thùng

Củ sắn hấp được lấy ra khỏi thùng và làm nguội trong 15 phút (94,2%) sau đó

trộn với 0,8% urê, 3% di-ammonium phosphate (DAP) và men 2% (S cerevisiae) theo

VCK (tất cả các thành phần đã được sử dụng cùng loại như thí nghiệm 1 và 2) Khối ủ sau đó được chuyển vào các rổ tre được phủ bằng lưới nhựa để cho phép không khí vào

tự do (ảnh 5) Trong mỗi 3 ngày liên tiếp, khối ủ trong rổ được xới để tất cả các chỗ của khối ủ được tiếp xúc với không khí Sau bảy ngày, củ sắn giàu protein đã được cho lợn

ăn

Ủ môn và thân cây chuối

Lá và cuống lá môn (Colocasia esculenta) được thu thập từ các khu vực xung

quanh trường Đại học và được cắt thành từng miếng nhỏ (dài 2-3 cm) Chúng được làm héo trong 24 giờ để giảm nước và sau đó được ủ trong túi nilon 50 lít không có phụ gia trong 14 ngày Thân cây chuối được mua từ một ngôi làng gần đó Chúng được cắt bằng tay thành từng miếng nhỏ và ủ trong các thùng nhựa PVC 200 lít trong 14 ngày

• PECR0: 60% Môn ủ chua (TS) + 40% thân cây chuối (BS)

• PECR5: 55% Môn ủ chua (TS) + 40% thân cây chuối (BS) + 5% củ sắn làm giàu

Các thành phần của khẩu ăn được trộn đều và cung cấp cho lợn hai lần mỗi

Trang 17

ngày vào lúc 6:30 sáng và 5:00 chiều, số lượng được cung cấp 40g VCK / kg trọng lượng sống

Thu thập số liệu

Lợn được cân vào buổi sáng trước khi cho ăn, cứ sau 15 ngày cân 1 lần kể từ khi bắt đầu thử nghiệm Tăng khối lượng được xác định hồi quy tuyến tính vào những ngày thí nghiệm Thức ăn cung cấp và từ dư thừa được ghi chép hàng ngày, mẫu thức

ăn được lưu trữ trong tủ lạnh ở 4 ° C trước khi phân tích DM, N và khoáng

Phân tích hóa học

Các chỉ tiêu VCK, Nito và chất hữu cơ (OM) của mẫu thức ăn dư được xác định theo phương pháp AOAC (1990) Protein thực chỉ được phân tích cho mẫu PECR, nó được xác định bằng cách xử lý trước các mẫu bằng axit Trichlor-acetic (TCA) trước khi ước tính N

Phân tích thống kê

Số liệu về thức ăn ăn vào, trọng lượng sống được phân tích bằng Mô hình tuyến tính chung (GLM) trong chương trình ANOVA của phần mềm Minitab (2010) (phiên bản 16.0) Nguồn của các biến thể là các nghiệm thức và sai số

Mô hình thống kê đã được sử dụng: Yij =  +  i + eij

Yij là biến phụ thuộc; µ là giá trị trung bình;  i = ảnh hưởng của nghiệm thức (i=1-4); eij là sai số ngẫu nhiên

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Lượng ăn vào, tốc độ sinh trưởng và hệ chuyển hóa thức ăn

Lượng VCK tăng tuyến tính với sự gia tăng mức độ củ sắn giàu protein (Bảng 2)

Trang 18

Bảng 2 Giá trị trung bình của lượng ăn vào theoVCK (g / ngày) của lợn được cho ăn

môn ủ chua (TS) và thân chuối (BT) bổ sung với củ sắn làm giàu protein (PECR)

Bảng 3 Sinh trưởng của lợn trong thí nghiệm

Hiệu quả kinh tế

Chi phí thức ăn và hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức thí nghiệm được thể hiện lần lượt trong bảng 4 và 5 Chi phí thức ăn/kg VCK là thấp hơn nghiệm thức

Trang 19

PECR0, mặc dù sự khác biệt giữa các khẩu phần ăn là nhỏ Tuy nhiên, do hệ số chuyển hóa thức ăn của 2 nghiệm thức PECR15 và PECR10 là thấp nhất trong (tương ứng 4,7

và 4,9 kg VCK/ kg thức ăn), chi phí thức ăn/kg tăng trọng của các nghiệm thức PECR15 và PECR10 là thấp nhất (15,505 và 15,618 kip/kg khối lượng tăng) và cao nhất ở nghiệm thức PECR0 (tăng 16.426 kip/kg)

Bảng 4 Chi phí cho thức ăn (LAK)

LAK = Lao Kip,: 8,569 = 1 USD;

#PECR: Củ sắn làm giàu protein được tính giá bao gồm DAP, urê và nấm

men

Bảng 5 Hiệu quả kinh tế của nghiệm thức thí nghiệm (LAK)

Lên men vỏ sắn bằng nuôi cấy S cerevisiae thuần đã làm tăng hàm lượng protein từ

2,4% lên 14,1% (Antai và Mbongo, 1994) Oboh và Kindahunsi, (2005) đã báo cáo

Trang 20

rằng quá trình lên men bột sắn với S cerevisiae đã làm tăng mức protein từ 4,4% lên

10,9% theo VCK

Tăng tốc độ sinh trưởng (46%) bằng cách thay thế môn ủ chua bằng củ sắn giàu protein là tương đương với (32%) được báo cáo trong một thí nghiệm trước đó (Manivanh và Preston, 2015) Hệ số chuyển hóa thức ăn theo VCK trong thí nghiệm hiện tại (4.7) cũng tốt hơn so với hệ số chuyển hóa thức ăn theo VCK của Manivanh và Preston, (2016) là (5.7) Hang và cs, 2015 đã chỉ ra rằng cải thiện sinh trưởng cho lợn bằng cách thay thế môn ủ bằng củ sắn được làm giàu protein có thể là một phản ánh về giá trị năng lượng cao hơn (xơ thô theo VCK trong củ sắn là 3,7% so với 11% xơ thô trong môn ủ)

Chi phí thức ăn ở khẩu phần ăn PECR15 là thấp nhất chứng tỏ rằng việc thay

thế môn ủ chua (Colocasia esculenta) bằng củ sắn giàu protein là mang lại hiệu quả

kinh tế nhất cho nông dân sản xuất quy mô nhỏ

KẾT LUẬN

 Có tuyến tính tích cực về lượng ăn vào, tăng khối lượng, hệ số chuyển hóa thức

ăn khi dùng củ sắn giàu protein thay thế một phần thức ăn môn ủ chua trong khẩu ăn cơ bản có thân cây chuối được dùng nuôi lợn Moo Lath

 Việc sử dụng các nguồn thức ăn rẻ tiền, sẵn có tại địa phương, chẳng hạn như

củ sắn có thể cải thiện giá trị dinh dưỡng bằng cách lên men với nấm men, urê

và di-ammonium phosphate (DAP) từ 2,5% đến 14,2%, có khả năng cải thiện hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn ở Lào

CHƯƠNG 4

TỶ LỆ TIÊU HÓA BIỂU KIẾN VÀ NITO DUY TRÌ Ở LỢN THỊT MOO LATH

ĐƯỢC ĂN KHẨU PHẦN ĂN THAY THẾ MÔN Ủ (Colocasia esculenta) BẰNG

CỦ SẮN (Manihot esculenta Crantz) LÀM GIÀU PROTEIN

TÓM TẮT

4 con lợn đực đã thiến (lợn Moo Lath), nặng trung bình 15 kg được bố trí ngẫu nhiên với 4 khẩu phần trong thiết kế vuông 4 * 4 Latin, để nghiên cứu ảnh hưởng đến lượng ăn vào, khả năng tiêu hóa và nito duy trì, tỷ lệ của củ sắn giàu protein (PECR) là

0, 25, 50 và 75% kết hợp với môn ủ 80, 55, 30 và 5% với tỷ lện không đổi của thân chuối là 20% (Tất cả trên theo VCK)

Làm giàu protein của củ sắn (PECR) bằng cách lên men bằng urê, diamonium phosphate và nấm men, PECR ở mức 25% trong khẩu phần ăn có củ sắn, lá môn ủ và thân cây chuối đã tăng lượng thức ăn ăn vào, tỷ lệ tiêu hóa và duy trì N ở lợn Moo Lath bản địa Các chỉ tiêu này đã giảm tuyến tính khi tỷ lệ PECR là 50% và 75% trong khẩu phần ăn (i) Lợi ích từ khẩu phần ăn 25% PECR có thể hàm lượng men sống của nó đáp ứng, khả năng khác có thể là việc cung cấp vitamin của phức hợp từ quá trình lên men

Trang 21

củ sắn; và (ii) các kết quả cung cấp bằng chứng xác thực rằng lợn có thể sử dụng một lượng nhỏ NPN được tái chế vào khối ủ để tổng hợp vi sinh vật thành axit amin

Từ khóa: thân cây chuối, diammonium phosphate, men vi sinh, lên men trạng thái rắn, urê,nấm men

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rất nhiều thí nghiệm đã được thực hiện gần đây tại Lào (Manivanh và Preston, 2015; Manivanh và Preston, 2016; Manivanh và cs, 2018; Sengxayalth và Preston, 2017a; Vanhnasin và Preston, 2016) với mục đích xác định tiềm năng của quá trình lên men ở trạng thái rắn như một phương pháp nâng cao giá trị dinh dưỡng của củ sắn và bột sắn là khẩu ăn cho lợn (lợn Moo Lath ở Lào và lợn Mông Cái ở Việt Nam)

Kết quả của các thí nghiệm này cho thấy việc lên men củ sắn tươi hoặc bột sắn với sự kết hợp của urê (1-2%), DAP (1-2%) và men (3%) trong khoảng thời gian từ 5 đến 10 ngày thì protein thực tăng 7-8% (theo VCK) chiếm khoảng 60% tổng lượng protein thô có nguồn gốc từ urê, DAP và men Vẫn chưa thể vượt quá tỷ lệ protein thực này bằng các quy trình như: hấp trước nguồn tinh bột hoặc lên men trong điều kiện yếm khí, hiếu khí Bản chất của khoảng 30% nitơ phi protein còn lại chưa được xác định Số liệu được trình bày bởi Manivanh và cs, (2018) cho thấy hàm lượng amoniac là tối thiểu Các tác giả này đã đưa ra giả thuyết rằng NPN còn lại nó vẫn có thể ở dạng urê, quá trình thủy phân bởi urease có thể bị giảm do sự giảm pH nhanh chóng khi bắt đầu lên men

Mặc dù hạn chế rõ ràng là có khoảng 30 - 40% nitơ ở dạng phi protein, đã có kết quả tích cực khi bột sắn hoặc củ sắn đã làm giàu protein được cho lợn ăn ở mức độ

để cung cấp khoảng 25% protein thay thế protein từ lá môn (Manivanh và Preston, 2015; Vanhnasin và cs, 2016; Sengxayalth và Preston, (2017b) Ở mức vượt quá 25% protein khẩu phần ăn, tốc độ sinh trưởng bị giảm nhẹ khi PECR thay thế một nguồn protein cân bằng (ví dụ : lá môn ủ) nhưng giảm xuống rất ít khi duy trì khẩu ăn bao gồm 75% PECR và 25% củ sắn ủ- một khẩu phần ăn trong đó protein là từ PECR (Sengxayalth và Preston, 2017b)

Thí nghiệm sau đây được thiết kế để tạo ra nhiều thông tin hơn về tác động của việc tăng mức độ PECR trong khẩu ăn thay thế sự kết hợp giữa lá môn và thân cây chuối trong khẩu phần ăn của lợn Moo Lath

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đại điểm: Thí nghiệm được thực hiện tại khu vực thí nghiệm của Đại học

Souphanouvong (SU), thuộc tỉnh Luông Pha Băng, CHDCND Lào

Trang 22

PECR25: TS 55% + BS 20% + củ sắn làm giàu protein 25%

PECR50: TS 30% + BS 20% + củ sắn làm giàu protein 50%

PECR75: TS 5% + BS 20% + củ sắn làm giàu protein 75%

Thời gian của thí nghiệm là 48 ngày với 4 giai đoạn trong 12 ngày, 7 ngày đầu tiên để thích nghi sau đó 5 ngày để thu thập số liệu (thức ăn dư, phân và nước tiểu)

Làm giàu protein từ củ sắn được xử lý theo phương pháp tương tự như thí nghiệm 3 (chương 3) và thành phần được phối trộn từ nghiệm thức tốt nhất của thí nghiệm 1 (chương 2), thành phần là: men (3%), urê (1.4 %) và di-amoni photphat (DAP) 2% Đối với urê, nấm men và DAP được sử dụng giống như thí nghiệm 1, 2 và

3 Hỗn hợp này sau đó được cho lên men trong túi nhựa kín trong 7 ngày trước khi cho lợn ăn

Thân cây chuối xử lý theo phương pháp tương tự như thí nghiệm 3 (chương 3) trước khi cho động vật ăn

Lợn được cho ăn hai lần mỗi ngày (8:00 sáng và 4:00 chiều) Ba thành phần được trộn với Thức ăn được cung cấp tối đa dưới sự giám sát cẩn thận lượng ăn vào để giảm thiểu lượng dư thừa Nước uống được cung cấp thường xuyên qua núm uống cố định

Các chỉ tiêu theo dõi và thu thập số liệu

Lợn được cân vào buổi sáng trước khi bắt đầu mỗi giai đoạn và ngày kết thúc thí nghiệm của giai đoạn cuối cùng Thức ăn được cung cấp và dư thừa được ghi chép hàng ngày Các mẫu thức ăn được cung cấp và dư thừa được lấy hàng ngày và được phân loại cho đến cuối mỗi giai đoạn sau chúng được trộn lẫn theo mẫu để phân tích VCK, khoáng và Nito Phân và nước tiểu được thu thập hàng ngày Mỗi ngày 20 ml H2SO4 15% được thêm vào hộp đựng nước tiểu để duy trì độ pH của nước tiểu dưới 4.0 Phân được lưu trữ ở 4°C cho đến cuối mỗi giai đoạn sau đó chúng được trộn lẫn để phân tích VCK, khoáng và Nito Mẫu nước tiểu được lấy hàng ngày và được lưu trữ ở 4

° C cho đến khi kết thúc mỗi giai đoạn sau đó các mẫu được trộn để phân tích Nito

Các chỉ tiêu được phân tích theo phương pháp AOAC, (1990) bao gồm: vật chất khô, khoáng và Nito trong thức ăn, trong phân; N trong nước tiểu; và protein thực sau khi phản ứng mẫu với axit trichloro-acetic

Trang 23

Phân tích thống kê

Dữ liệu được phân tích với quy trình mô hình tuyến tính chung (GLM) cho các nghiệm thức lặp đi lặp lại trong phần mềm SAS (SAS, 2010), dưới dạng thiết kế ô vuông Latin Các chỉ tiêu lặp đi lặp lại là dữ liệu cho 5 ngày liên tiếp thu thập số liệu trong mỗi giai đoạn

Mô hình thống kê là: Yijk = μ + Ti + Cj+ R (k) + time + time (pen) + eijk Yijk = Biến phụ thuộc; μ = giá trị trung bình; Ti = ảnh hưởng của nghiệm thức (i=1-4), Cj = ảnh hưởng của giai đoạn (j=1-4); R (k) = ảnh hưởng của ô chuồng; ảnh hưởng của thời gian (l=1-5); ảnh hưởng của ô chuồng và thời gian, eijk = sai số ngẫu nhiên(b)

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Thành phần hóa học

Protein thực trong PECR chiếm 53% protein thô (bảng 1), tương tự như báo cáo của Manivanh và cs, (2016), Sengxayalth và Preston, (2017a); Vanhnasin và Preston,

(2016)

Bảng 1 Thành phần hóa học của các thành phần thức ăn (% theo VCK, ngoại

trừ VCK là trên cơ sở dạng tươi)

VCK N*6.25 Chất hữu cơ Protein thực

Thức ăn ăn vào

Lượng VCK hàng ngày theo xu hướng đường cong tuyến tính (y = -56,4x2 + 276x + 366; R² = 0,70) tăng lên tối đa khi tỷ lệ PECR tăng từ 0 đến 25% sau đó giảm dần với tỷ lệ PECR cao hơn (bảng 2) Là một chức năng của trọng lượng sống, thức ăn

ăn vào cao (33 đến 44 g VCK / kg trọng lượng sống)

Bảng 2 Giá trị trung bình của lượng ăn vào của lợn được cho ăn củ sắn làm giàu

protein (PECR) thay thế thức ăn ủ chua môn với tỷ lệ không đổi của thân cây chuối

TĂ ăn vào, g/ngày

Trang 24

abc Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê p<0,05

Tiêu hóa biểu kiến

Xu hướng của đường cong khả năng tiêu hóa VCK tương tự như đối với lượng

ăn vào (bảng 3; hình 2) và tăng hệ số chuyển hóa thức ăn khi PECR thay thế lá môn ủ ở mức 25% sau đó giảm dần với mức độ thay thế bằng PECR Tuy nhiên, giảm protein là một xu hướng tiêu cực khi thay thế toàn lá khoai môn ủ bằng PECR Trong khi chất hữu cơ cao nhất trong khẩu phần PECR 25% và khác nhau giữa các nghiệm thức (p = 0,003)

Bảng 3 Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến (%) của khẩu phần ăn với PECR thay thế lá môn ủ

với tỷ lệ không đổi của thân cây chuối

Bảng 4 Giá trị trung bình của cân bằng Nito ở lợn được cho ăn củ sắn giàu protein thay thế cho môn ủ chua với tỷ lệ không đổi của thân cây chuối

Cân bằng nito, g/ngày

Nito duy trì

Trang 25

% Nito tiêu hóa 73.6a 77.3a 63.7b 60.8b 1.70 <0.001

Nito duy trì được điều chỉnh bằng hiệp phương sai cho sự khác biệt về lượng Nito

đã được chuyển đổi một phần thành axit amin do tác động của vi khuẩn trong ruột non (Patterson và cs, 1995) và Stein và cs, 1996) Colombiaus và cs, (2014) đã cho urê vào manh tràng của lợn được cho ăn khẩu phần ăn thiếu axit amin, và cho thấy nó được tái chế đến ruột non nơi vi khuẩn chuyển thành axit amin với kết quả là Nito duy trì tăng Những phát hiện này đã được chứng minh bởi Mansilla và cs, (2015)

Sự tổng hợp axit amin từ NPN trong khẩu phần có thể là lời giải thích cho những tác động tích cực đến tốc độ sinh trưởng ở mức độ thấp hơn thay thế protein đậu nành bằng bột sắn làm giàu protein, vì protein được giới hạn 10% theo VCK trong khẩu phần ăn Ở mức protein này, các axit amin được bổ sung do sự tổng hợp axit amin từ NPN từ vi khuẩn có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng tốc độ sinh trưởng Tuy nhiên, với tỷ lệ thay thế cao hơn 50 và 75% môn ủ bằng củ sắn làm giàu protein, hàm lượng NPN còn lại (amoniac và urê) có thể đã vượt quá khả năng của các vi khuẩn đường ruột để tổng hợp nó thành axit amin Tác dụng độc hại của amoniac là dẫn đến giảm lượng thức ăn ăn vào do đó làm giảm tốc độ sinh trưởng

Các yếu tố khác cần được xem xét là các tác dụng prebiotic và men vi sinh có thể phát sinh từ nấm men sống và lactobacilli có trong bột sắn lên men Thiếp, (2017) (số liệu chưa được công bố) đã báo cáo số lượng nấm men 9 triệu CFU / g và lactobacilli 17 triệu CFU / g trong bột sắn lên men với nâm men, urê và DAP Tác dụng tích cực đối với việc duy trì N ở lợn Moo Lath đã được báo cáo bởi Sivilai và cs,

(2017) khi lợn được cho ăn các sản phẩm phụtừ nhà máy chưng cất gạo và nhà sản xuất

bia tư hạt ngũ cốc được cho ăn với mức 4% theo VCK trong khẩu phần Nấm men sống

và lactobacilli (Thiep, 2017) trong khẩu phần ăn này đều giàu dinh dưỡng nhưng dữ liệu chưa được công bố

Trang 26

Các vấn đề được nêu ra là: (i) lợi ích từ 25% PECR trong khẩu ănlà do sự hiện diện của nấm men sống (ước tính là khoảng 1% VCK của khẩu phần ăn PECR25) hoạt động như một chế phẩm sinh học : (ii ) lợn có thể sử dụng một lượng nhỏ nitơ phi protein thông qua việc hấp thụ NPN từ ruột già và tái chế sau đó trong máu đến ruột non nơi vi khuẩn sử dụng NPN để tổng hợp axit amin (Colombia và cs, 2014)

Một kết quả từ thí nghiệm này là việc duy trì Nito chỉ bị giảm nhẹ thậm chí với 75% khẩu phần dưới dạng PECR, trái ngược với báo cáo của Sengxayalth và Preston, (2017b) khi 75 % khẩu phần ở dạng củ sắn giàu protein, tốc độ sinh trưởng đã giảm gần như bằng không Sự khác biệt giữa hai thí nghiệm là bản chất của 25% VCK còn lại Trong nghiên cứu của Sengxayalth và Preston, (2017b), đây là ở dạng bột củ sắn được

ủ trong khi trong thí nghiệm hiện tại, nó là sự kết hợp thêm giữa lá khoai môn ủ (5%)

và thân cây chuối (30%) Những thức ăn kết hợp này sẽ giàu vitamin, khoáng chất và nguyên tố vi lượng hơn nhiều so với chỉ PECR Điều này không thể được chứng minh trong trường hợp không có số liệu phân tích sinh hóa có liên quan trong cả hai thí nghiệm, nhưng đó là một lập luận cho lợi ích của việc có ít nhất một phần protein trong

khẩu ăn được cung cấp bởi các loại lá dinh dưỡng như lá môn

KẾT LUẬN

 Làm giàu hàm lượng protein của củ sắn (củ sắn giàu protein) bằng cách lên men với urê, diammonium phosphate và nấm men và bao gồm PECR ở mức 25% trong khẩu phần ăn có củ sắn ủ, lá môn ủ và thân cây chuối đã tăng lượng ăn vào, tỷ lệ tiêu hóa,và Nito duy trì cho lợn Moo Lath bản địa

 Các chỉ tiêu này giảm tuyến tính khi tỷ lệ củ sắn giàu protein được tăng lên 50

và 75% trong khẩu phần theo VCK

 Có thể kết luận rằng: (i) lợi ích từ khẩu phần ăn từ củ sắn giàu protein 25% có thể từ lượng men sống có trong đó và khả năng khác có thể là việc cung cấp vitamin của khối ủ từ men trong củ sắn đã được lên men và (ii) kết quả hỗ trợ nghiên cứu trước đó cho thấy lợn có thể sử dụng một lượng nhỏ NPN được tái chế vào ruột để làm vi sinh vật

KẾT LUẬN CHUNG

 Protein thực trong củ sắn tăng theo xu hướng đường cong (R2 = 0,98) từ 2,3 đến 6,87% theo VCK khi thời gian lên men tăng từ 0 lên 14 ngày, tỷ lệ protein thực trong protein thô tăng từ 24,6 lên 63,7 cùng thời gian Việc tăng tỷ lệ DAP từ 0 đến 2% theo VCK thì khối ủ đã tăng protein thực từ 5,6 lên 7,3 % sau 14 ngày lên men 30% VCK khối ủ đã được lên men trong quá trình chuyển đổi một phần tinh bột thành protein thực sau 14 ngày lên men Hấp củ sắn trước khi lên men dường như có tác động tích cực trong việc chuyển đổi protein thô thành protein thực

 Độ pH giảm theo thời gian lên men, theo xu hướng gần như tuyến tính, từ 5,8 ngay sau khi trộn khối ủ, xuống còn 5,4 trong 3 giờ và xuống còn 3,43 sau 7 ngày Mức

độ protein thô sau khi trộn khối ủ và chất phụ gia là 10,35% theo VCK và không thay đổi trong 7 ngày lên men Không có sự khác biệt giữa điều kiện hiếu khí và kỵ khí, ngoài xu hướng pH giảm nhanh hơn một chút trong 4 ngày đầu tiên trong điều kiện

Trang 27

yếm khí sau đó là tốc độ giảm chậm để đạt gần như cùng giá trị sau 7 ngày đối với điều kiện hiếu khí Việc chuyển đổi không hoàn toàn Nito urê và Nito amoniac thành protein nấm men là do quá trình thủy phân không hoàn toàn urê thành amoniac do tác dụng của urease bị ức chế vì giảm pH trong quá trình lên men

 Có tuyến tính tích cực về lượng ăn vào, tăng khối lượng, hệ số chuyển hóa thức

ăn khi dùng củ sắn giàu protein thay thế một phần thức ăn môn ủ chua trong khẩu ăn cơ bản của thân cây chuối được dùng nuôi lợn Moo Lath Sử dụng các nguồn thức ăn rẻ tiền, sẵn có tại địa phương, như lá môn, thân cây chuối và củ sắn, củ sắn có thể cải thiện giá trị dinh dưỡng bằng cách lên men với nấm men, urê và di-ammonium phosphate (DAP), có khả năng cải thiện hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn quy mô nhỏ ở Lào

Làm giàu hàm lượng protein của củ sắn (củ sắn giàu protein) bằng cách lên men với urê, diammonium phosphate và nấm men Củ sắn đã làm giàu protein ở mức 25% trong khẩu phần có củ sắn, lá môn ủ đã tăng lượng thức ăn ăn vào, tỷ lệ tiêu hóa và Nito duy trì ở lợn Moo Laath bản địa và cải thiện tốc độ sinh trưởng từ việc cho ăn củ sắn đã làm giàu protein có thể là kết quả của giá trị sinh học vượt trội so với protein trong lá môn Các tiêu chí này giảm tuyến tính khi tỷ lệ củ sắn đã làm giàu protein được tăng lên 50 và 75% khẩu phần theo VCK Có thể kết luận rằng: lợi ích từ khẩu phần ăn

từ củ sắn giàu protein 25% có thể từ lượng men sống có trong đó và khả năng khác có thể là việc cung cấp vitamin của khối ủ từ men trong củ sắn đã được lên men và (ii) kết quả hỗ trợ từ nghiên cứu trước đó cho thấy lợn có thể sử dụng một lượng nhỏ NPN được tái chế vào ruột để làm vi sinh vật

Ngày đăng: 31/01/2021, 08:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w