DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BTN Bệnh truyền nhiễm CBYT Cán bộ Y tế CDC Trung tâm kiểm soát và phòng chống dịch bệnh Centers for Disease Control and Prevention CTV Cộng tác viên ĐTNC Đối tượng
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, thầy cô giáo trường Đại học Y tế công cộng đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và những kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt 1 năm học qua
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn đặc biệt đến PGS.TS Lã Ngọc Quang đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này Từ những bước đầu tiên cho đến khi hoàn thành luận văn, thầy đã luôn có những định hướng và hỗ trợ
em
Em xin cảm ơn Phòng đào tạo sau đại học đã tạo điều kiện cho em được làm luận văn, phòng công tác chính trị và quản lý sinh viên đã giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành luận văn
Em xin cảm ơn Ban chấp hành Đảng ủy, Ban Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Ứng Hòa và các khoa, phòng liên quan, trạm Y tế 28 xã và 01 thị trấn đã tạo mọi điều kiện và thời gian để em hoàn thành luận văn theo kế hoạch
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 10 năm 2018
Học viên
Đặng Anh Tuân
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BTN Bệnh truyền nhiễm
CBYT Cán bộ Y tế
CDC Trung tâm kiểm soát và phòng chống dịch bệnh (Centers for Disease
Control and Prevention) CTV Cộng tác viên
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
GSBTN Giám sát bệnh truyền nhiễm
HGĐ
HTGS
Hộ gia đình
Hệ thống giám sát KSDB Kiểm soát dịch bệnh
PKĐK Phòng khám đa khoa
PVS Phỏng vấn sâu
SXHD Sốt xuất huyết Dengue
TLN Thảo luận nhóm
TTYT Trung tâm Y tế
TTYTDP Trung tâm Y tế Dự phòng
TYT Trạm Y tế
UBND Ủy ban nhân dân
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Giám sát bệnh sốt xuất huyết dengue 4
1.2 Tình hình SXHD trên thế giới và tại Việt Nam 6
1.2.1 Tình hình SXHD trên thế giới 6
1.2.2 Tình hình SXHD tại Việt Nam 7
1.2.3 Tình hình sốt xuất huyết tại Thành phố Hà Nội và huyện Ứng Hòa 8
1.3 Hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm 8
1.4 Hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam 11
1.5 Giám sát SXHD tại Việt Nam 12
1.5.1 Giám sát bệnh nhân SXHD 12
1.5.2 Giám sát huyết thanh và vi rút Dengue 13
1.5.3 Giám sát véc tơ 13
1.5.4 Giám sát độ nhạy cảm và thử sinh học của muỗi Aedes aegypti, Aedes albopictus đối với các hóa chất diệt côn trùng trước mùa dịch 14
1.6 Một số nghiên cứu về hệ thống giám sát SXHD trên thế giới và tại Việt Nam và hoạt động của CTV chương trình SXHD 14
1.6.1 Nghiên cứu trên thế giới 14
1.6.2 Nghiên cứu tại Việt Nam 16
1.6.3 Nghiên cứu phòng chống sốt xuất huyết dựa vào cộng tác viên 17
Khung lý thuyết 20
1.7 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 21
1.7.1 Các đơn vị hành chính: 21
1.7.2 Đặc điểm tình hình 21
1.7.3 Thời tiết – Khí hậu 21
1.7.4 Tình hình kinh tế, xã hội 22
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
Trang 62.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
2.3 Thiết kế nghiên cứu 24
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 25
2.4.1 Cỡ mẫu 25
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 26
2.5 Công cụ thu thập số liệu 26
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.7 Các biến số nghiên cứu 27
2.8 Quản lý và phân tích số liệu 28
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 29
CHƯƠNG 3 30
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Thông tin chung về CTV mạng lưới giám sát SXHD 30
3.2 Hoạt động giám sát sốt xuất huyết Dengue của cộng tác viên 33
3.3 Hoạt động giám sát sốt xuất huyết Dengue tại các cơ sở y tế 39
3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động hệ thống giám sát SXHD 44
3.4.1 Nguồn nhân lực 44
3.4.2 Thông tin báo cáo giữa các tuyến 45
3.4.3 Sự chỉ đạo của chính quyền địa phương 46
3.4.4 Nguồn kinh phí cho hoạt động giám sát SXHD 46
3.4.5 Sự phối hợp của người dân 47
CHƯƠNG 4 48
BÀN LUẬN 48
4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 48
4.2 Thực trạng hoạt động hệ thống giám sát bệnh sốt xuất huyết Dengue tại huyện Ứng Hòa 49
4.2.1 Hoạt động giám sát sốt xuất huyết Dengue của cộng tác viên 49
4.2.2 Hoạt động giám sát sốt xuất huyết Dengue tại các cơ sở Y tế 52
Trang 74.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện hoạt động giám sát bệnh sốt xuất
huyết Dengue tại huyện Ứng Hòa 54
4.4 Hạn chế của nghiên cứu 56
KẾT LUẬN 58
KHUYẾN NGHỊ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 64
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học của CTV mạng lưới giám sát SXHD 30
Bảng 3.2: Đặc điểm công việc hiện tại của CTV mạng lưới giám sát SXHD 31 Bảng 3.3: Hiểu biết các hoạt động cần thực hiện của CTV 33
Bảng 3.4: Thực hành các hoạt động tại địa bàn của CTV 34
Bảng 3.5 Tình hình CTV thăm, kiểm tra các HGĐ hàng tháng 35
Bảng 3.6: Tần suất thăm, kiểm tra hộ gia đình của các CTV 35
Bảng 3.7: Công việc các CTV đã làm trong quá trình thăm, kiểm tra HGĐ 36
Bảng 3.8: Xử trí của CTV khi phát hiện các ca nghi ngờ mắc SXHD 36
Bảng 3.9: Hình thức truyền thông PC SXHD cho người dân của các CTV 37
Bảng 3.10: Hình thức ghi chép số liệu giám sát SXHD tại địa bàn 38
Bảng 3.11: CTV thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát phòng chống SXHD 38
Bảng 3.12: Cách thức thu thập số liệu của TTYT huyện 39
Bảng 3.13: Cách thức thu thập số liệu giám sát SXHD của các TYT 39
Bảng 3.14: Cách thức ghi nhận ca bệnh và báo cáo số liệu của TTYT và CSĐT 40
Bảng 3.15: Cách thức ghi nhận ca bệnh của các TYT 41
Bảng 3.16: Các biến số phân tích số liệu giám sát SXHD của TYT 42
Bảng 3.17: Lý do không phân tích số liệu giám sát 42
Bảng 3.18: Tình trạng chuẩn bị và đáp ứng, kiểm soát dịch bệnh của TYT 43
Bảng 3.19: Hoạt động hỗ trợ hệ thống giám sát SXHD tại Trạm Y tế 43
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức hệ thống thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm…………12
Trang 10TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Bệnh sốt xuất huyết Dengue là bệnh gây nên bởi vi rút Dengue cấp tính do muỗi truyền và có thể gây thành dịch lớn Ước tính mỗi năm trên thế giới có hàng triệu người mắc và khoảng 22.00 trường hợp tử vong Việt Nam là quốc gia lưu hành dịch sốt xuất huyết Dengue, xảy ra theo chu kỳ Có 2 vụ dịch lớn xảy ra gần đây vào năm
2009 và 2017 Biện pháp phòng chống bệnh chủ yếu dựa vào hoạt động giám sát và kiểm soát véc- tơ truyền bệnh Để nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống dịch sốt xuất huyết tại huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
“Thực trạng hoạt động giám sát bệnh sốt xuất huyết dengue tại huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội năm 2018”
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính Đối tượng nghiên cứu là lãnh đạo trung tâm Y tế huyện Ứng Hòa, 180 cộng tác viên phòng chống sốt xuất huyết, trưởng khoa kiểm soát bệnh truyền nhiễm, cán bộ khoa xét nghiệm, cán bộ chuyên trách sốt xuất huyết, trưởng trạm Y tế xã, thị trấn Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2018 tại huyện Ứng Hòa, Hà Nội Sử dụng phương pháp phỏng vấn để đánh giá về hoạt động giám sát phòng chống sốt xuất huyết Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS18.0 Nghiên cứu được Hội đồng Y đức trường Đại học YTCC thông qua
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu toàn bộ cộng tác viên có tuổi đời trên 20 tuổi, 75% có trình độ từ trung học phổ thông trở lên Hoạt động giám sát sốt xuất huyết Dengue tại huyện Ứng Hòa đã có sự tham gia của 100% các đơn vị thuộc hệ thống Y học dự phòng Các thành phần hỗ trợ thực hiện hệ thống giám sát cơ bản đáp ứng được yêu cầu tại trung tâm Y tế huyện, tại trạm Y tế: 31,03% trạm Y tế có tài liệu hướng dẫn giám sát sốt xuất huyết Dengue Khó khăn trong thực hiện hoạt động giám sát là: Cán bộ chuyên trách tuyến xã, thị trấn phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, thiếu sự quan tâm thích đáng và chủ động chỉ đạo của chính quyền một số xã của huyện
Xuất phát từ kết quả trên nghiên cứu, chúng tôi đề xuất một số khuyến nghị: Cần thiết tăng cường công tác tập huấn cho các cộng tác viên, bao gồm những thực hành thực tế tại hộ gia đình về các nhiệm vụ giám sát phòng chống sốt xuất huyết
Trang 11Việt Nam là một trong tám nước đứng đầu Đông Nam Á về tỷ lệ mắc, tử vong
do SXHD [31] Tại Việt Nam, bệnh SXH được biết đến từ năm 1913 tại miền Bắc và miền Trung, nhưng đến năm 1958 mới ghi nhận xảy ra một vụ dịch nhỏ tại Hà Nội và
từ đó cho đến nay, SXH đã trở thành dịch bệnh lưu hành tại địa phương Trong những năm qua, dịch SXH thường xuyên xuất hiện ở nước ta, gây ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của người dân và đời sống kinh tế của toàn xã hội Những năm gần đây, dịch SXHD đang có những diễn biến ngày càng phức tạp với số ca mắc và tử vong do SXHD có xu hướng gia tăng Tỷ lệ mắc SXHD/100.000 dân là 32,5 năm 2000 tăng lên
120 năm 2009 Đến năm 2015, số ca mắc SXHD tăng 11,5% so với trung bình giai đoạn 2010 - 2014 [2] Tỷ lệ tử vong do sốt xuất huyết từ năm 2005-2015 đã được kiểm soát còn dưới 1 ca/1000 ca bệnh Trẻ em vẫn là nhóm nguy cơ cao (90% số ca tử vong
do sốt xuất huyết xảy ra ở nhóm tuổi dưới 15) Trên 85% ca mắc và 90% ca tử vong do sốt xuất huyết là ở các tỉnh miền Nam (chiếm 76,9% số ca mắc và 83,3% số ca tử vong
từ 2001 - 2011), khu vực miền Bắc có trọng điểm mắc SXHD là Hà Nội [7]
Thủ đô Hà Nội là vùng trọng điểm dịch SXHD của miền Bắc, năm 2017 Thành phố Hà Nội có 37.665 ca mắc, chiếm 61,3% tổng số ca mắc của toàn miền Bắc Ứng Hòa là một huyện ngoại thành của Thành phố Hà Nội, có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Tuy nhiên với đặc điểm là một huyện có diện tích rộng, dân số đông, điều kiện vệ sinh môi trường tại một số xã còn chưa đảm bảo, ý thức của người dân về phòng chống dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm còn chưa cao do vậy tình hình dịch bệnh còn có những diễn biến phức tạp Trong 2 năm trở lại đây tình trạng
Trang 12bệnh nhân mắc sốt xuất huyết gia tăng rõ rệt Năm 2016 chỉ ghi nhận 15 ca (tỉ lệ 7,38
ca mắc/100.000 dân), tuy nhiên đến năm 2017 đã ghi nhận số ca mắc lên đến 169 ca (82,67 ca mắc/100.000 dân) [4]
Ngoài ra số bệnh nhân mắc tại cộng đồng nhưng tự điều trị ở nhà hoặc tại các phòng khám tư cũng có nên số lượng thống kê chính xác sẽ còn cao hơn nữa Điều này gây khó khăn cho TTYT và huyện Ứng Hòa trong công tác xử lý dịch và phòng chống dịch bệnh.Trước tình hình đó, giám sát được coi như là một phương thức chính để phân loại và chỉ ra sự nguy hiểm của BTN[19] Nếu thực hiện giám sát bệnh tốt, thường xuyên, có hệ thống trong nhiều năm thì có thể phát hiện được quy luật phát sinh, phát triển của bệnh và dự báo được sự bùng nổ của dịch bệnh Theo khuyến cáo của WHO, mỗi quốc gia cần thực hiện đánh giá hệ thống giám sát (HTGS) định kỳ nhằm đưa ra những ưu tiên trong việc kiểm soát dịch bệnh, tìm những cơ hội tăng cường hiệu quả của hệ thống giám sát [37], do đó để nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống dịch SXH tại địa phương, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng hoạt động giám sát bệnh sốt xuất huyết dengue tại huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội năm 2018”
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng hoạt động giám sát bệnh sốt xuất huyết Dengue tại huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội năm 2018
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát bệnh sốt xuất huyết Dengue tại huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội năm 2018
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giám sát bệnh sốt xuất huyết dengue
Giám sát dịch bệnh sốt xuất huyết dengue là quá trình thu thập thông tin liên tục, có hệ thống về tình hình, chiều hướng của bệnh, phân tích, giải thích nhằm cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch, triển khai và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng, chống bệnh sốt xuất huyết dengue [13]
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, bệnh sốt xuất huyết bao gồm bệnh sốt Dengue, sốt xuất huyết Dengue thuộc nhóm B trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm[13], [5]
Tác nhân gây bệnh:
Sốt xuất huyết Dengue được gây nên bởi một trong bốn loại huyết thanh virus gần gũi nhưng lại khác nhau về mặt kháng nguyên là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4 Virus này thuộc chi Flavivirus Nhiễm một loại virus có khả năng tạo nên miễn dịch suốt đời nhưng chỉ chống lại chính loại huyết thanh virus đó Chính vì vậy mà những người sống trong vùng lưu hành dịch Dengue có thể mắc bệnh nhiều hơn một lần trong đời [29]
Đặc điểm dịch tễ học:
Phân bố địa lý: Bệnh SXHD lưu hành ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi sinh sống của các loài muỗi Aedes Bệnh lưu hành hầu hết ở các nước Châu Á Bệnh gặp cả ở vùng thành thị, nông thôn và cả miền núi, tuy nhiên tập trung cao nhất ở các khu vực có mật độ dân cư đông, tình trạng đô thị hóa cao
Phân bố theo thời gian: Bệnh thường xuất hiện và gây thành dịch vào các tháng mùa mưa, nhiệt độ trung bình tháng cao Chu kỳ của dịch bệnh SXHD khoảng 3 - 5 năm Thường sau một số chu kỳ dịch nhỏ và vừa lại có một chu kỳ dịch lớn xảy ra [21]
Phân bố theo nhóm người: Mọi người sống trong khu vực lưu hành địa phương của SXHD đều có thể mắc bệnh hoặc nhiễm vi rút lành Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố nên tỷ lệ mắc bệnh rất khác nhau giữa các nhóm dân
cư Nhóm người có nguy cơ cao mắc SXHD là trẻ em, người di cư hay du lịch đến
từ vùng không lưu hành SXHD, người dân sinh sống tại các khu đang đô thị hóa,
Trang 15đời sống kinh tế thấp kém, vùng có tập quán trữ nước và sử dụng nước không được kiểm soát, vùng có mật độ muỗi Aedes aegypti thường xuyên cao [21]
Nguồn truyền nhiễm:
Ổ chứa: Người là ổ chứa và là nguồn truyền nhiễm chủ yếu của bệnh SXHD trong chu trình “người-muỗi Aedes aegypti” ở khu vực thành thị và nông thôn Ngoài bệnh nhân, người mang vi rút Dengue không triệu chứng cũng có vai trò truyền bệnh quan trọng Trong ổ dịch SXHD, cứ một trường hợp bệnh điển hình có hàng chục trường hợp mang vi rút tiềm ẩn, không có triệu chứng [22]
Thời gian ủ bệnh: Từ 3 -14 ngày, thông thường từ 5 - 7 ngày
Thời kỳ lây truyền: Bệnh nhân SXHD là nguồn lây truyền ngay trước khi xuất hiện cơn sốt cho tới khi hết sốt, trung bình khoảng 6 - 7 ngày Người mang vi rút không triệu chứng thường có thời kỳ lây truyền ngắn hơn Muỗi Aedes aegypti nhiễm vi rút từ 6 - 12 ngày sau khi hút máu và có khả năng truyền bệnh suốt đời [22]
Phương thức lây truyền:
Bệnh lây truyền qua véc tơ, ở Việt Nam là 2 loài muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus Vi rút được truyền qua vết đốt của muỗi, chủ yếu là của loài muỗi Aedes aegypti Đây là loài muỗi ưa thích đốt hút máu người, đốt ban ngày, thường vào buổi sáng sớm và chiều tà, có thể đốt nhiều lần trong ngày nếu chưa no máu Muỗi trưởng thành thường trú đậu ở các góc tối trong nhà, thích đẻ trứng ở những vật chứa nước sạch trong khu dân cư Muỗi Aedes phát triển mạnh vào mùa mưa, khi nhiệt độ trung bình hàng tháng trên 200C [22]
Dự phòng SXHD:
Hiện nay bệnh SXHD chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu nên biện pháp phòng bệnh quan trọng nhất là diệt muỗi, bọ gậy/lăng quăng và phòng chống muỗi đốt Nếu không có bọ gậy/lăng quăng, không có muỗi truyền bệnh thì không có bệnh sốt xuất huyết Thường xuyên giữ gìn vệ sinh môi trường sống sạch sẽ; chủ động thực hiện các biện pháp diệt muỗi, diệt bọ gậy tại hộ gia đình [22]
Trang 161.2 Tình hình SXHD trên thế giới và tại Việt Nam
1.2.1 Tình hình SXHD trên thế giới
SXHD là một những căn bệnh do muỗi truyền lan rộng nhanh nhất trên thế giới Trong 50 năm qua, số ca mắc SXHD tăng 30 lần, gia tăng các vùng bị nhiễm mới trong những năm gần đây, phân bố từ thành phố đến nông thôn Hiện có khoảng 2,5 tỉ người (tương đương 2/5 dân số thế giới) đang sống tại các quốc gia có bệnh lưu hành và với khoảng 50 triệu ca mắc SXHD, nửa triệu ca mắc SXHD và ít nhất 12.000 ca tử vong mỗi năm Trong 10 năm qua, số ca mắc SXHD tăng gần gấp đôi trên thế giới Khoảng 1,8 tỷ (hơn 70%) dân số trên thế giới có nguy cơ mắc SXHD sống tại khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, nơi này đang chịu khoảng 75% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu do SXHD gây ra [37]
Khu vực Đông Nam Á, từ năm 2000, dịch SXHD lan rộng đến các khu vực mới và gia tăng tại các khu vực bệnh lưu hành sẵn có Tỉ lệ tử vong/mắc tại các nước trong khu vực giai đoạn 2000 - 2007 là dưới 0,2% đến 5%, thấp nhất tại Thái Lan (dưới 0,2%) và cao nhất tại Ấn Độ, Indonesia và Myanmar (3-5%) [31]
Tại khu vực Tây Thái Bình Dương, trong thời gian từ năm 2001-2008, tổng
số 1.020.333 ca bệnh được báo cáo tại Campuchia, Malaysia, Philippines và Việt Nam Đồng thời là 4 quốc gia tại khu vực Tây Thái Bình Dương có số ca mắc và tử vong cao nhất Số ca tử vong ở các nước này là 4.798 ca Năm 2011, có 244.880 ca mắc, 839 ca tử vong, tỷ lệ chết/mắc là 0,34% Với vùng dịch bùng phát mạnh nhất ở Campuchia có 15.980 ca mắc và 73 ca tử vong với cao điểm dịch vào tháng 7[34]
Năm 2013, các nước vùng Tây Thái Bình Dương vẫn là vùng trọng điểm về SXHD của thế giới Số mắc cao nhất ở Philippines 166.107 ca Tỷ suất mắc cao nhất là New Caledonia 4.027/100.000 dân Việt Nam có 66.138 ca mắc, giảm 23,1% so với năm 2012 [34]
Theo WHO, các nước vùng Tây Thái Bình Dương vẫn là vùng trọng điểm về SXHD của thế giới Số mắc cao nhất ở Philippines 166.107 xuống thấp nhất dưới 50% và tỷ lệ tử vong dưới 25% (tính từ năm 2010) Để làm được điều này cần duy trì hoạt động mạng lưới giám sát SXHD, và xử lý nhanh các ổ dịch mới phát sinh [31]
Trang 171.2.2 Tình hình SXHD tại Việt Nam
Ở Việt Nam, bệnh SXHD là bệnh lưu hành rất phổ biến Bệnh xuất hiện cả ở
4 miền Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên kể cả ở thành thị và vùng nông thôn Tuy nhiên bệnh ghi nhận nhiều nhất ở các tỉnh miền Nam, miền Trung, Tây Nguyên, một số tỉnh đồng bằng và duyên hải Bắc bộ Các tỉnh miền núi phía Bắc bệnh ít gặp hơn Hàng năm, ghi nhận trung bình từ 80.000 đến 100.000 trường hợp mắc, trong
đó có hàng chục ca tử vong Những khu vực đông dân cư có tập quán chứa nước sạch ở nhiều loại dụng cụ, nơi công trường xây dựng, khu vực đang đô thị hóa, nơi
có nhiều đồ vật phế thải chứa nước mưa là những nơi rất thuận lợi cho dịch bệnh SXHD bùng phát Trong năm dịch SXHD phát triển mạnh nhất vào các tháng từ tháng 6 đến tháng 10, chu kỳ của dịch khoảng 3-5 năm một lần [7]
Giai đoạn từ năm 1999 - 2003, số mắc trung bình hàng năm đã giảm đi chỉ còn 36.826 trường hợp và số tử vong là 66 trường hợp Tuy nhiên từ năm 2004 đến nay số mắc và số tử vong do SXHD có xu hướng gia tăng Năm 2006 cả nước đã ghi nhận 77.818 trường hợp mắc SXHD, trong đó 68 ca tử vong, tỷ lệ mắc 88,6 trường hợp/100.000 dân và tỷ lệ chết/mắc là 0,09% Đến năm 2010, số mắc SXHD của cả nước tiếp tục tăng lên, ghi nhận có 128.710 ca mắc, trong đó 109 trường hợp tử vong,
tỷ lệ mắc lên tới 146,69 trường hợp/100.000 dân và tỷ lệ chết/mắc là 0,85% Đến năm
2011, số trường hợp mắc bệnh đã giảm gần một nửa so với năm 2010, nguyên nhân là
có thể do số trường hợp mắc bệnh năm 2010 đã được miễn dịch ở cộng đồng, mặt khác năm 2011 không còn nằm trong chu kỳ dịch chung của cả nước [8]
Trong năm 2013, khu vực Miền Bắc ghi nhận 4.334 ca mắc SXHD, tăng gấp
2 lần so với năm 2012 (2.007 ca) Các ca mắc SXHD tập trung chủ yếu tại Hà Nội (3.138 ca; 72%) Số ca mắc SXHD tập trung chủ yếu ở người lớn trên 15 tuổi (3.859 ca; 89%) Trong năm 2013, khu vực Miền Bắc đã ghi nhận 703 ổ dịch SXHD, trong đó nhiều nhất là tại Hà Nội (696 ổ dịch) [1]
Nhìn chung, qua các năm Việt Nam đã thành công trong việc kiểm soát tỷ lệ
tử vong do SXHD nhưng vẫn chưa đạt được nhiều thành công trong việc giảm số ca mắc SXHD Để đạt mục tiêu giảm ca mắc, không có ca tử vong do SXHD, chương trình phòng chống dịch, giám sát cần tiếp tục duy trì hoạt động [2]
Trang 181.2.3 Tình hình sốt xuất huyết tại Thành phố Hà Nội và huyện Ứng Hòa
Tại Hà Nội, bệnh SXHD lưu hành nhiều năm và là trọng điểm về dịch SXHD
ở khu vực phía Bắc Dịch ngày càng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân và sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố Chu kỳ dịch thường xảy ra khoảng 10 năm/lần và xảy ra vào tháng 10, 11 hàng năm Tỷ lệ mắc trên 100.000 dân hàng năm trong giai đoạn từ 2006 đến 2010 cao hơn tỷ lệ mắc so với các năm trước
đó [24] Đặc biệt 2009, với 16.090 ca mắc bệnh, 4 ca tử vong, tỷ lệ mắc trên 100.000
là 245,9 dân cao nhất trong vòng 22 năm kể từ năm 1987 Tỷ lệ mắc gấp 1,8 lần so với 1998 là năm có dịch lớn nhất trước đó, số mắc tăng gấp 6,4 lần so với năm 2008[24] Trong năm 2013, toàn thành phố có 3.127 ca mắc SXHD, tăng gấp 2 lần năm 2012 (1.368 ca), các ca mắc SXHD phân bố ở 26/29 quận, huyện [26]
Huyện Ứng Hòa là địa phương có dịch sốt xuất huyết lưu hành ở mức thấp của Thành phố Hà Nội trong nhiều năm trở lại đây Trong năm 2016, chỉ ghi nhận
15 ca (tỉ lệ 7,38 ca mắc/100.000 dân), tuy nhiên đến năm 2017 đã ghi nhận số ca mắc lên đến 169 ca (82,67 ca mắc/100.000 dân) [16]
Với tình hình dịch bệnh SXH bùng phát mạnh mẽ và tăng cao về số mắc trong thời gian qua đòi hỏi hệ thống giám sát và phòng chống SXHD phải được triển khai hoạt động có hiệu quả Tuy nhiên, thực tế hiện nay đang phát sinh nhiều vấn đề mới trong giám sát SXHD, nếu không có biện pháp khắc phục, cải thiện có nguy cơ dịch SXHD sẽ tiếp tục bùng phát, phát sinh thêm các ổ dịch mới với diễn biến phức tạp
1.3 Hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm
Khái niệm giám sát bệnh truyền nhiễm và ổ dịch
Theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm, giám sát bệnh truyền nhiễm (GSBTN) là việc thu thập thông tin liên tục, có hệ thống về tình hình và chiều hướng của bệnh truyền nhiễm, phân tích, giải thích nhằm cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch, triển khai và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng chống bệnh truyền nhiễm [13]
Mục tiêu của giám sát các bệnh truyền nhiễm là:
Phát hiện dịch sớm, kể cả dịch tản phát;
Thông báo dịch nhanh và triển khai các biện pháp chống dịch kịp thời;
Trang 19 Qua quá trình giám sát bệnh lâu dài có thể xác định được sự phân bố của bệnh theo từng vùng địa lý;
Biết được cơ cấu của BTN trong cộng đồng;
Đánh giá được tính nghiêm trọng của từng bệnh qua tần số mắc và chết;
Phát hiện được quy luật phát sinh và chu kỳ bùng phát dịch;
Có biện pháp dự báo dịch và chủ động phòng chống dịch và lựa chọn bệnh
ưu tiên trong từng thời kỳ [5]
Chức năng của hệ thống giám sát
Trên thế giới hiện có rất nhiều hệ thống GSBTN hay các vấn đề sức khỏe khá hoàn chỉnh ở cả các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển Tuy nhiên, bất kỳ HTGS nào cũng đều có chung các thành phần cơ cấu tổ chức, quy trình giống nhau và có cùng nguồn nhân lực Theo WHO, các chức năng của HTGS gồm các chức năng chung sau[38]:
Xác định ca bệnh:
Chất lượng của số liệu phụ thuộc vào việc sử dụng các tiêu chuẩn phát hiện ca bệnh Các tiêu chuẩn này tập hợp lại thành định nghĩa ca bệnh Định nghĩa ca bệnh trong giám sát thường gồm có các tiêu chuẩn về lâm sàng thường gặp, tiêu chuẩn xét nghiệm, ngoài ra có thể thêm yếu tố tiền sử dịch tễ Việc sử dụng định nghĩa ca bệnh chuẩn đảm bảo rằng tất cả trường hợp bệnh đều được chẩn đoán theo một cách thức như nhau mà không phụ thuộc vào người chẩn đoán[38]
Báo cáo:
Báo cáo là khi người cung cấp số liệu gửi số liệu cho các đơn vị giám sát Đó cũng là việc ấn hành, xuất bản định kỳ các thông tin đặc hiệu về bệnh dịch qua quá trình giám sát, bao gồm cập nhật các bảng, biểu, đồ thị chuẩn về các vụ dịch xảy ra; thông tin về việc thực hiện theo các chỉ tiêu, chỉ số đã đề ra Các loại hình báo cáo giám sát gồm có: định kỳ, khẩn cấp, ca bệnh,… Các hình thức báo cáo bằng điện thoại, fax, thư điện tử phụ thuộc vào từng hệ thống, nguồn lực của mỗi quốc gia [38]
Phân tích và công bố dữ liệu:
Trang 20Điểm then chốt của HTGS là sự công bố đúng lúc các dữ liệu giám sát cho những người cần biết giúp cho việc triển khai các biện pháp kiểm soát và phòng chống bệnh Hầu hết các HTGS hiện đại đều cung cấp thông tin cho người sử dụng ngay khi kết thúc giai đoạn thao tác với dữ liệu Người dùng có thể đăng nhập vào HTGS và xem xét các dữ liệu cảnh báo Những cảnh báo này thường được mã hóa bằng biểu tượng “cờ” để chỉ ra rằng các số liệu giám sát đã vượt ngưỡng; Số liệu được phân tích theo không gian và thời gian; hoặc liệt kê các ca bệnh cần cảnh báo [38]
Điều tra dịch tễ:
Khi có một vụ dịch xảy ra thì việc điều tra dịch ở thực địa cần thiết phải được tiến hành nhanh chóng và tìm ra được những giải pháp đúng Việc điều tra dịch tễ học nhằm khẳng định sự tồn tại của vụ dịch, hình thành các giả thuyết về đường lây truyền và giúp thực hiện các biện pháp phòng chống dịch [38]
Đáp ứng phòng chống dịch:
Sau khi hoàn thành cuộc điều tra và thu thập được đủ bằng chứng, có thể bắt tay vào lập kế hoạch các biện pháp phòng chống dịch Đây là lý do cơ bản để thực hiện các cuộc điều tra vụ dịch Các hành động khống chế sự lan rộng của dịch, hạn chế số mắc mới được tiến hành ngay cả khi đang tiến hành điều tra Cần lập kế hoạch chương trình dự phòng toàn diện để giảm khả năng xảy ra những vụ dịch tương tự trong tương lai [38]
Phản hồi thông tin:
Là động lực thúc đẩy các cán bộ tham gia tích cực hơn Ngoài ra, nó còn giúp cán bộ y tế các tuyến tăng cường nhận thức về tầm quan trọng của HTGS [38]
Theo dõi và đánh giá định kì:
Theo hướng dẫn của WHO, mỗi quốc gia cần thiết phải có những đánh giá định kỳ tổng thể HTGS để đưa ra các ưu tiên trong việc kiểm soát bệnh dịch, tìm những cơ hội tăng cường hiệu quả của HTGS Mục đích của đánh giá hệ thống nhằm nhấn mạnh đến các nhu cầu về: việc lồng ghép HTGS và hệ thống thông tin y
tế, thiết lập tiêu chuẩn của các số liệu giám sát, trao đổi các dữ liệu sức khỏe điện tử
Trang 21và thay đổi mục tiêu của giám sát y tế công cộng nhằm đáp ứng với các vấn đề sức khỏe mới nổi hoặc tái xuất hiện [38]
1.4 Hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam
Từ năm 2011, quy trình giám sát, báo cáo BTN được thực hiện theo Thông
tư 48/2010/TT-BYT ngày 31/12/2010 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn chế độ khai báo, thông tin, báo cáo BTN [17]
Đến năm 2015, quy trình giám sát, báo cáo BTN được thực hiện theo Thông
tư 54/2015/TT-BYT ngày 28/12/2015 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn chế độ thông tin báo cáo và khai báo bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm [20]
Chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị tham gia giám sát trên địa bàn huyện: TTYT huyện có trách nhiệm phân tích, báo cáo số liệu BTN trong địa bàn huyện tới đơn vị liên quan tuyến tỉnh TYT xã có trách nhiệm tổng hợp, xác minh
và báo cáo số liệu BTN trong địa bàn xã cho TTYT huyện Đồng thời thực hiện việc phản hồi thông tin cho các đơn vị thuộc địa bàn phụ trách [20]
Y tế thôn có trách nhiệm thu thập, tổng hợp, báo cáo số liệu BTN cho TYT
xã Phòng khám đa khoa tư nhân có trách nhiệm tổng hợp, xác minh và báo cáo số liệu BTN tại cơ sở mình cho TTYT huyện [20]
Chức năng của CTV phòng chống SXHD:
Trung tâm YTDP Hà Nội quy định nhiệm vụ của CTV mạng lưới phòng chống SXHD như sau: Mỗi tháng, CTV đi kiểm tra ít nhất một lần số hộ gia đình (HGĐ) được phân công phụ trách, thực hiện các công việc cụ thể:
- Tuyên truyền, hướng dẫn trực tiếp người dân các biện pháp phòng chống SXHD đơn giản, ít tốn kém, hiệu quả;
- Kiểm tra, phát hiện, loại trừ ổ bọ gậy ở tất cả các dụng cụ chứa nước trong và xung quanh nhà;
- Trực tiếp tham gia và hướng dẫn người dân diệt bọ gậy tại HGĐ;
- Phát tài liệu truyền thông phòng chống SXHD (nếu có yêu cầu);
- Phát hiện người sốt nghi SXHD báo cho y tế;
- Hướng dẫn người dân tới cơ sở y tế khai báo khi mắc bệnh [25]
Trang 22Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức hệ thống thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm
(Nguồn: Thông tư số 54/2015/TT-BYT ngày 28/12/2015 của Bộ Y tế) [20]
1.5 Giám sát SXHD tại Việt Nam
Theo Quyết định số 3711/QĐ-BYT ngày 19/9/2014 của Bộ Y tế về hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh SXHD qui định, giám sát SXHD gồm: giám sát bệnh nhân, giám sát huyết thanh và vi rút, giám sát véc tơ (muỗi, lăng quăng/bọ gậy) và giám sát tính nhạy cảm của véc tơ với các hóa chất diệt côn trùng, đồng thời theo dõi diễn biến thời tiết, môi trường và kết quả biện pháp phòng chống chủ động [5]
Trung tâm PCSR tỉnh
Viện Vệ sinh dịch tễ/Pasteur
BỘ Y TẾ
CỤC Y TẾ DỰ PHÒNG
Bệnh viện Trung ương
Trung tâm YTDP tỉnh
Phòng khám đa khoa tư nhân
Bệnh việntỉnh, Bệnh viện của Bộ,ban, ngành, Bệnh viện tư nhân
Trang 23Ca bệnh giám sát (ca bệnh lâm sàng): Người đến từ vùng có ổ dịch hoặc lưu hành SXHD trong vòng 14 ngày có biểu hiện sốt cao đột ngột, liên tục từ 2 - 7 ngày
và có ít nhất 2 trong các dấu hiệu sau: Biểu hiện xuất huyết có thể ở nhiều mức độ khác nhau Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn Da xung huyết, phát ban Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt Vật vã, li bì Đau bụng vùng gan hoặc ấn đau vùng gan [5]
Ca bệnh xác định: Là ca bệnh được chẩn đoán xác định bằng kỹ thuật ELISA (phát hiện IgM hoặc NS1) hoặc phân lập vi rút hoặc xét nghiệm PCR [5]
Hoạt động giám sát, thống kê báo cáo bệnh SXHD thực hiện theo Hướng dẫn khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm của Bộ Y tế [5]
Giám sát và thống kê báo cáo trọng điểm
Mục tiêu giám sát trọng điểm bệnh SXHD: xác định xu hướng diễn biến bệnh ở một địa phương thông qua việc kết hợp và phân tích các dữ liệu liên quan đến bệnh gồm
số liệu ca bệnh, các chỉ số véc tơ và xét nghiệm phát hiện vi rút Dengue [5]
1.5.2 Giám sát huyết thanh và vi rút Dengue
Mỗi tỉnh cần tổ chức giám sát huyết thanh, vi rút trên toàn bộ số quận, huyện trong tỉnh, thành phố để có thể phát hiện sớm ngay từ ca bệnh đầu tiên Thu thập bệnh phẩm của bệnh nhân trong diện giám sát để xét nghiệm huyết thanh và vi rút học [5]
1.5.3 Giám sát véc tơ
Giám sát véc tơ nhằm xác định nguồn sinh sản chủ yếu của muỗi truyền bệnh, sự biến động của véc tơ, tính nhạy cảm của véc tơ với các hóa chất diệt côn trùng và đánh giá hoạt động phòng chống véc tơ tại cộng đồng Điểm giám sát véc
tơ được lựa chọn tại các xã, phường trọng điểm và hai điểm không thuộc xã, phường trọng điểm của tỉnh (để làm đối chứng) [5]
Giám sát muỗi trưởng thành:
Giám sát muỗi trưởng thành bằng phương pháp soi bắt muỗi đậu nghỉ trong nhà bằng ống tuýp hoặc máy hút cầm tay Soi bắt muỗi cái đậu nghỉ trên quần áo
Sử dụng 2 chỉ số là: mật độ muỗi là số muỗi cái Aedes trung bình trong một gia đình điều tra; nhà có muỗi là tỷ lệ phần trăm nhà có muỗi cái Aedes trưởng thành [5]
Trang 24Giám sát lăng quăng/bọ gậy:
Giám sát thường xuyên: 1 tháng 1 lần cùng với giám sát muỗi trưởng thành Sau khi bắt muỗi, tiến hành điều tra lăng quăng/bọ gậy bằng quan sát, thu thập, ghi nhận và định loại ở toàn bộ dụng cụ chứa nước trong và quanh nhà
Giám sát ổ lăng quăng /bọ gậy nguồn: Phương pháp này dựa vào kết quả đếm toàn bộ số lượng lăng quăng/bọ gậyAedes trong các chủng loại dụng cụ chứa nước khác nhau để xác định nguồn phát sinh chủ yếu và độ tập trung của lăng quăng/bọ gậy của từng địa phương [5]
Xác định ổ lăng quăng/bọ gậy nguồn: sẽ tiến hành theo đơn vị tỉnh, điều tra trong những xã điểm 2 lần/năm Có 4 chỉ số được sử dụng để theo dõi lăng quăng/bọ gậy của muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus (tính theo từng loài): nhà có lăng quăng/bọ gậy; dụng cụ chứa nước có lăng quăng/bọ gậy; chỉ số Breteau (BI); mật độ lăng quăng/bọ gậy [5]
1.5.4 Giám sát độ nhạy cảm và thử sinh học của muỗi Aedes aegypti, Aedes albopictus đối với các hóa chất diệt côn trùng trước mùa dịch
Tuyến tỉnh thực hiện thử sinh học để xác định nồng độ hóa chất hiệu quả tại địa phương Xét nghiệm vi rút Dengue trên muỗi do các Viện VSDT/Pasteur/SR-KST-CT thực hiện nhằm phát hiện và phân típ vi rút Dengue thu được từ các ổ dịch [5]
1.6 Một số nghiên cứu về hệ thống giám sát SXHD trên thế giới và tại Việt Nam và hoạt động của CTV chương trình SXHD
1.6.1 Nghiên cứu trên thế giới
Cho đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều quốc gia tiến hành nghiên cứu đánh giá hệ thống GSBTN nhằm đưa ra các ưu tiên trong việc kiểm soát bệnh dịch, tìm những cơ hội tăng cường hiệu quả của HTGS
Bộ Y tế Uganda đã tiến hành nghiên cứu đánh giá hệ thống GSBTN ở các các y tế tuyến cơ sở năm 2000[32] Cỡ mẫu gồm 52 trong tổng số 1639 cơ sở y tế (chiếm 3%) và 8 trong tổng số 45 quận/huyện (chiếm 18%) Kết quả điều tra cho thấy, tại các CSĐT, trong 6 tháng trước khi đánh giá, hầu hết các hoạt động giám sát được thực hiện bởi các CSĐT đã không được đánh giá (chiếm 68%) hoặc không nhận được phản hồi từ tuyến quận/huyện hoặc cấp trung ương (85%) Có 32 CSĐT
Trang 25được tập huấn về cách sử dụng phiếu giám sát (62%) Hầu hết các CSĐT có máy tính tay (77%), văn phòng phẩm (75%) và điện thoại (27%) Tại TTYT quận, huyện, trong 6 tháng trước khi đánh giá, bảy trong số tám quận/huyện có khả năng vận chuyển mẫu đến phòng thí nghiệm cao cấp hơn làm xét nghiệm khẳng định Bốn cơ sở có nguồn cung cấp đầy đủ các loại hình báo cáo hàng tháng
Năm 2004 - 2005 một nghiên cứu ở Mosul, Irắc của Al-Neami nhằm tìm hiểu cấu trúc, các chức năng chính, chức năng hỗ trợ và đáp ứng của các cấp thuộc hệ thống GSBTN tại thành phố [33] Nghiên cứu cho thấy: Tại các CSYT, các chính sách và hoạt động báo cáo, giám sát các bệnh đặc trưng trong hệ thống GSBTN đáp ứng tốt Tuy nhiên, các định nghĩa chuẩn và khả năng chẩn đoán xác định bệnh tại các phòng xét nghiệm còn hạn chế tại tất cả các cấp Hoạt động phản hồi thông tin được cho là yếu nhất trong tất cả các hoạt động trong hệ thống giám sát Hệ thống GSBTN tại đây không có các hoạt động cần thiết như hệ thống cảnh báo sớm tại các
cơ sở y tế và các ngành, các cấp Hệ thống báo cáo còn sơ sài, không ai sử dụng máy tính để phân tích và báo cáo số liệu giám sát mặc dù đã có 76,5% các cơ sở y tế được trang bị máy tính Nội dung đánh giá đã bao phủ được cấu trúc và chức năng của hệ thống GSBTN, đưa ra những đánh giá cụ thể cho từng hoạt động, phân tích điểm mạnh, điểm yếu và những tồn tại của hệ thống
Nghiên cứu củaLiming Li năm 2006 trên tổng số 31 tỉnh và 14 trung tâm tại Trung Quốc về hoạt động chính và hoạt động hỗ trợ của hệ thống GSBTN tuyến trung ương và tuyến tỉnh [36] Kết quả cho thấy, các chức năng chính của hệ thống khai báo các bệnh cần phải báo cáo như khả năng xác định ca bệnh, báo cáo, phân tích và một số chức năng hỗ trợ như giám sát và tập huấn cán bộ y tế được thực hiện đầy đủ trong cả cấp quốc gia và cấp tỉnh Tuy nhiên, một số hoạt động hỗ trợ bao gồm hoạt động phản hồi thông tin, việc hỗ trợ trang thiết bị và kinh phí cần được tăng cường tại hầu hết các trung tâm Nghiên cứu thực hiện dựa trên những hướng dẫn của WHO về đánh giá hệ thống GSBTN Nội dung đánh giá chưa đề cập đến cấu trúc và chất lượng của hệ thống GSBTN Phương pháp nghiên cứu còn hạn chế
ở việc nghiên cứu chỉ gửi bộ câu hỏi qua thư điện tử mà không phỏng vấn trực tiếp, không thu thập được các số liệu thứ cấp hoặc có thể có những đơn vị không gửi thư
Trang 26phản hồi hoặc có sai số nhớ lại khi đối tượng nghiên cứu mô tả các hoạt động GSBTN năm trước
Các nghiên cứu về hệ thống giám sát BTN trên thế giới đến thời điểm hiện nay đã chỉ ra những tồn tại trong các hoạt động GSBTN và đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện hiệu quả của hệ thống giám sát
1.6.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các nghiên cứu đánh giá HTGS mới được đề cập khoảng 10 năm gần đây Năm 2008, Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương tiến hành đánh giá hệ thống giám sát tại 8 tỉnh của Việt Nam thuộc dự án VAHIP Hợp phần B cho thấy còn nhiều điểm yếu trong hệ thống giám sát BTN như: cấu trúc còn thiếu nhiều đơn vị đặc biệt là các đơn vị chuyên trách; hướng dẫn chuyên môn còn chưa có những chuẩn chung cụ thể; quy trình báo cáo, quản lý, phân tích và phản hồi số liệu còn bộc lộ nhiều yếu kém; tình trạng nhân lực chưa đầy đủ, kinh phí, trang thiết bị còn thiếu thốn, hạt động của phòng thí nghiệm còn hạn chế [23] Đánh giá được thực hiện trên
cả 3 vùng miền của đất nước với cỡ mẫu lớn bao phủ từ tuyến trung ương đến địa phương Vì các tỉnh thành được lựa chọn trong đánh giá chủ yếu là các tỉnh có kinh tế chưa phát triển trong cả nước, do đó, nghiên cứu chưa chỉ ra được đặc điểm riêng trong hệ thống giám sát thuộc khu vực đô thị
Năm 2008 - 2009, Nguyễn Thị Phương Liên tiến hành nghiên cứu về Thực trạng hệ thống GSBTN tại 8tỉnh/thành Việt Nam [10] Nghiên cứu đã bao phủ các tỉnh/thành trong cả nước, tuy nhiên, chưa mô tả được các hoạt động giám sát BTN tại tuyến xã/phường Kết quả điều tra, hệ thống giám sát tại 8 tỉnh được triển khai theo Quyết định 4880/2002/QĐ-BYT ngày 06/12/2002 có cấu trúc rõ ràng, đơn giản nhưng thiếu tính chuyên môn hóa, đặc biệt tuyến huyện, xã và chưa có sự tham gia của hệ thống y tế tư nhân, cộng đồng Các hoạt động giám sát chính chưa được các đơn vị thực hiện tốt, đặc biệt thấp ở tuyến huyện và xã, phân tích số liệu chỉ có ở tuyến huyện, tỉnh, tuyến xã chưa thực hiện Tìm hiểu những cản trở trong quá trình thực hiện hoạt động GSBTN cho thấy: 1) Các TTYTDP tuyến tỉnh và huyện được thiết lập và hoàn chỉnh cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ từ năm 2005, tuy nhiên không duy trì và phát triển về tổ chức chặt chẽ hơn mà được chia tách thành nhiều đơn vị khác nhau ở
Trang 27từng tuyến, gây ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động của đơn vị; 2) Các chức năng chính của HTGS không được thực thi đầy đủ tại các đơn vị giám sát các tuyến do thiếu các tính chặt chẽ về mặt cấu trúc; 3) HTGS các BTN gây dịch tại tuyến tỉnh và huyện thiếu tính chuyên nghiệp do không tổ chức được các đơn vị chuyên trách tại các bệnh viện cũng như các khoa KSBTN của các TTYTDP tuyến tỉnh và huyện; 4) Thiếu sự hỗ trợ và phối hợp của các đơn vị có liên quan khác và cộng đồng; 5) Cơ chế đãi ngộ cho cán bộ tham gia HTGS thiếu sự thúc đẩy và hỗ trợ cả năng lực cũng như điều kiện làm việc và tài chính; 6) Kinh phí đầu tư cho hoạt động GSBTN chưa đáp ứng với các yêu cầu chuyên môn
Nghiên cứu “Đáp ứng phòng chống dịch của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam, 2009” được thực hiện bởi Phan Trọng Lân bằng phương pháp
mô tả cắt ngang, kết quả cho thấy, hệ thống GSBTN đã được thiết lập, phân cấp từ trung ương tới tuyến khu vực, tuyến tỉnh, tuyến huyện, xã và hoạt động có hiệu quả Chất lượng giám sát tại các tuyến chưa đồng đều, việc phản hồi báo cáo được tuyến tỉnh, huyện thực hiện còn thấp (30-50%) Quản lý và phân tích số liệu chủ yếu tại tuyến Trung ương và khu vực Nguồn lực phục vụ cho giám sát còn chưa đáp ứng được nhu cầu tại tất cả các tuyến, đặc biệt là tuyến tỉnh và huyện
Các nghiên cứu về hệ thống GSBTN ở Việt Nam thực hiện đồng bộ từ tuyến trung ương đến tuyến tỉnh, huyện, xã và thôn bản Kết quả cho thấy hiện đang tồn tại nhiều vấn đề trong hoạt động hệ thống giám sát, và khâu yếu kém nhất trong là việc phản hồi thông tin giám sát cho các cơ sở phụ trách
1.6.3 Nghiên cứu phòng chống sốt xuất huyết dựa vào cộng tác viên
Vai trò của CTV trong công tác phòng chống dịch là rất quan trọng Họ là những người tình nguyện tham gia trong hoạt động giám sát và phòng chống dịch SXHD Có một số nghiên cứu mô tả hoạt động và đánh giá hiệu quả của CTV SXHD trong việc phòng chống dịch SXHD
Tại khu vực phía Bắc từ năm 1995-1999, các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe phòng chống SXHD thông qua các hoạt động của CTV và học sinh đã được triển khai tại xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên Kết quả cho thấy, sau
18 tháng can thiệp, kiến thức của người dân từ 31,2% trước can thiệp tăng lên
Trang 2870,4% sau can thiệp Các biện pháp được áp dụng phòng bệnh SXHD là thả cá, thả Mesocyclops trong các dụng cụ chứa nước từ 7,2% trước can thiệp tăng lên 83,6% sau can thiệp; áp dụng các biện pháp vệ sinh môi trường, loại bỏ các vật phế thải, làm giảm nơi sinh sản của muỗi Aedes aegypti từ 29% trước can thiệp tăng lên 53,8% sau can thiệp [11]
Theo kết quả đánh giá của Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống SXH khu vực phía Nam về hoạt động tổ chức đội ngũ CTV trong giai đoạn 2001-
2005 thấy tỷ lệ xã triển khai CTV dao động trong khoảng 16-20%, luôn vượt mức chỉ tiêu đặt ra hàng năm [27] Số hộ gia đình trung bình mỗi CTV quản lý từ gần
200 hộ/CTV vào những năm đầu đã giảm năm 2004 còn hơn 180 hộ/CTV và năm
2008 chỉ còn 84 hộ/CTV Số lượng hộ gia đình/CTV tuy có giảm nhưng vẫn còn cao so với khả năng vãng gia của CTV và chỉ tiêu đề ra của chương trình (tối đa 60 hộ/CTV) Hiệu quả hoạt động của đội ngũ CTV thông qua các chỉ số bọ gậy ở các
xã có CTV và xã chứng Kết quả đánh giá cho thấy, qua các năm chỉ số bọ gậy ở xã CTV giảm dần từng năm, nổi bật với các chỉ số nhà có bọ gậy (HI) và chỉ số dụng
cụ chứa nước có bọ gậy (CI) Tuy nhiên, các chỉ số bọ gậy của xã CTV giảm không nhiều và chỉ xấp xỉ với xã chứng [28]
Nghiên cứu ở tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2002 - 2003, cho thấy tỉ lệ hộ gia đình được vãng gia giảm tỉ lệ nghịch với số hộ gia đình CTV phụ trách, nhóm CTV quản lý dưới 50 hộ thì tỉ lệ trên 90% hộ gia đình được vãng gia hàng tháng và tỉ lệ
40 - 58% hộ gia đình được vãng gia trong nhóm CTV quản lý trên 150 hộ [6]
Một nghiên cứu khác xây dựng mô hình phòng SXHD dựa trên sự tham gia của cộng đồng và sử dụng tác nhân sinh học Mesocylops tại Kiên Giang năm 2003 với sự hoạt động tích cực của đội ngũ CTV đã đem lại nhiều kết quả khả quan Trung bình mỗi tháng một CTV phụ trách vãng gia 54 hộ gia đình, kiểm tra 278 DCCN, loại
bỏ 50 dụng cụ phế thải và tuyên truyền được cho 90 lượt người Ban chỉ đạo cùng CTV thực hiện tốt việc giao ban đều đặn hàng tháng Kết quả là không có ca bệnh nào xảy ra tại cả 2 điểm triển khai và đối chứng [15]
Tại xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, một can thiệp về phòng chống SXHD đã được thực hiện trong giai đoạn 2006 - 2008 cho thấy: CTV
Trang 29đã cung cấp kiến thức, thực hành cho người dân về phòng chống SXHD Bên cạnh
đó, mạng lưới cộng tác viên cũng đã nhận được sự quan tâm và ủng hộ của cộng đồng trong công tác phòng chống SXHD [9]
Năm 2009, nghiên cứu tại quận 8, thành phố Hồ Chí Minh về đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống SXH của người dân giữa 2 phường triển khai
và không triển khai CTV SXHD của tác giả Đỗ Nguyễn Thùy Nhi cho thấy: hiệu quả hoạt động của CTV trong công tác phòng chống SXH tại phường điểm có CTV hoạt động khác hơn so với phường chứng Tuy nhiên, qua kết quả nghiên cứu cho thấy để đánh giá hiệu quả hoạt động của CTV là một công việc khá phức tạp, phải bao gồm đánh giá rất nhiều mặt như quá trình triển khai hoạt động, hoạt động thực sự của họ, sự chuyển biến kiến thức, thái độ và thực hành của người dân cũng như việc cải thiện tỉ lệ mắc bệnh, tử vong, hiệu quả kinh tế - xã hội [12]
Nghiên cứu của tác giả Dương Thị Thu Thủy (2012) tại các phường trọng điểm
về SXHD quận Đống Đa, Hà Nội kết quả cho thấy: Mạng lưới CTV phòng chống SXHD tại các phường trọng điểm thuộc quận Đống Đa đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đối với công việc như tuổi tác, học vấn cũng như thời gian tham gia Việc thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền phòng chống SXHD tại các cụm dân cư của CTV mạng lưới được thực hiện một cách nghiêm túc Hoạt động giao ban CTV cũng được các TYT chú trọng và thực hiện tương đối đầy đủ Các CTV cơ bản nắm được và thực hiện khá tốt nhiệm vụ của mình, cụ thể là các hoạt động tuyên truyền người dân biết cách tự phòng tránh khỏi SXHD Tuy nhiên, còn một số hoạt động CTV chưa thực hiện tốt, có thể do CTV chưa biết là cần phải làm gì[14]
Như vậy cho thấy, nghiên cứu về vai trò của CTV trong chương trình phòng chống SXHD đến nay chưa nhiều Nhưng đa số các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hoạt động của CTV trong hoạt động phòng chống SXHD là có hiệu quả, việc hoàn thành nhiệm vụ đang ở các mức độ và địa phương khác nhau Để duy trì hiệu quả hoạt động giám sát và phòng chống SXHD cần phát huy vai trò của CTV chương trình
Trang 30- Chỉ đạo và thông tin phản hồi từ tuyến trên
- Hỗ trợ về kỹ thuật của tuyến trên
- Sự phối hợp giữa các đơn vị
- Thời gian báo cáo và biểu mẫu báo cáo
- Số lượng và năng lực cán bộ
- Chính sách chế độ thu hút cán bộ
- Nguồn kinh phí cho hoạt động GS SXHD
- Các hoạt động đào tạo và tập huấn chuyên môn
- Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị
- Sự phối hợp của người dân
Trang 311.7 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Ứng Hòa là một huyện phía nam của Hà Nội, phía bắc giáp huyện Chương
Mỹ và Thanh Oai, phía nam giáp huyện Duy Tiên (Hà Nam) và Kim Bảng (Hà Nam), phía tây giáp huyện Mỹ Đức, phía đông giáp huyện Phú Xuyên
Xã Cao Thành, Xã Đại Cường, Xã Đại Hùng, Xã Đội Bình, Xã Đông Lỗ,
Xã Đồng Tân, Xã Đồng Tiến, Xã Hoa Sơn, Xã Hòa Lâm, Xã Hòa Nam, Xã Hòa Phú, Xã Hòa Xá, Xã Hồng Quang, Xã Kim Đường, Xã Liên Bạt, Xã Lưu Hoàng,
Xã Minh Đức, Xã Phù Lưu, Xã Phương Tú, Xã Quảng Phú Cầu, Xã Sơn Công,
Xã Tảo Dương Văn, Xã Trầm Lộng, Xã Trung Tú, Xã Trường Thịnh, Xã Vạn Thái,
Xã Viên An, Xã Viên Nội
1.7.2 Đặc điểm tình hình
Nhìn chung, địa hình của Ứng Hòa tương đối bằng phẳng Sông Đáy là phân giới tự nhiên phía tây của huyện, đồng thời cũng là giao tuyến phân chia địa hình núi đá vôi với đồng bằng chiêm trũng Riêng 2 xã Đội Bình và Hồng Quang thì mỗi
xã có một thôn nằm trong vùng địa hình núi đá vôi
Ứng Hòa có hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh tưới tiêu cho hầu hết diện tích sản xuất nông nghiệp của huyện Nguồn nước được lấy từ 2 con sông chảy qua huyện là sông Đáy và sông Nhuệ Tuy nhiên, mấy năm gần đây 2 sông này đã bị ô nhiễm nguồn nước do các công trình công nghiệp thải trực tiếp ra sông, đặc biệt là sông Nhuệ
1.7.3 Thời tiết – Khí hậu
- Có đủ 4 mùa: Xuân, Hạ (Hè), Thu, Đông
Trang 32- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.900 mm
- Nhiệt độ trung bình: 23,3 °C, chênh lệch khá cao giữa các mùa Mùa hè lên tới 36-37 °C, mùa đông xuống tới 9-10 °C
- Số giờ nắng trong năm: 1.400 giờ
- Độ ẩm tương đối trung bình: 70-85%
1.7.4 Tình hình kinh tế, xã hội
Về kinh tế: Là huyện thuần nông, điểm xuất phát thấp, thời gian gần đây, huyện Ứng Hòa đã tập trung chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp kết hợp với khôi phục ngành nghề truyền thống và phát triển nghề mới, nên năm 2009 tổng giá trị sản xuất của huyện đạt 905,6 tỷ đồng, vượt 2,7% so với
kế hoạch Tốc độ tăng trưởng đạt 11,2% Số hộ đói nghèo đã giảm được 1.152 hộ (giảm 2,63% so với năm 2008)
Về nông nghiệp: Ứng Hòa đã tập trung chỉ đạo nhân rộng các mô hình nông nghiệp giá trị kinh tế cao nhằm phát huy tối đa hiệu quả giá trị sử dụng đất ở địa phương Đẩy mạnh chương trình chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng, theo các mô hình chuyên canh, đa canh, nuôi thủy sản (lúa + cá + vịt) Hiện tại, tổng đàn gia súc, gia cầm của huyện duy trì khoảng gần 900.000 con
Đặc biệt, để thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, huyện đã quy hoạch 12 điểm với 635ha diện tích trồng rau an toàn tập trung tại các xã ven sông Đáy
Cùng với chăn nuôi gia súc, gia cầm, một mũi nhọn khác của Ứng Hòa là nuôi trồng thủy sản Năng suất thủy sản trung bình đạt từ 6,2-6,5 tấn cá/ha/năm; cho thu nhập từ 75-85 triệu đồng/ha/năm; cao gấp 2,5 đến 3 lần so với cấy lúa Nhiều hộ đầu tư vốn lớn cho thu nhập lên tới 100-120 triệu đồng/ha/năm
Về công nghiệp: Năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2008
Trang 33Về thương mại-dịch vụ: Năm 2009, giá trị thương mại dịch vụ tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2008 Huyện đã huy động mọi nguồn vốn đầu tư để xây dựng và nâng cấp một số chợ xã Phấn đấu năm 2010, đưa chợ đầu mối nông sản thuộc trung tâm thương mại thị trấn Vân Đình vào khai thác hoạt động kinh doanh đồng thời đa dạng hóa các loại hình dịch vụ
Về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: Huyện đã triển khai 87 dự án đầu tư xây dựng cơ bản với tổng vốn trên 550 tỷ đồng Đến nay đã có năm dự án hoàn thành Hiện nay, 100% số thôn trong huyện đã có điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt 837,8 km đường giao thông khu vực huyện lỵ đã được trải nhựa, tạo điều kiện cho nhân dân giao lưu kinh tế, phát triển sản xuất và phục vụ đời sống Dự án đường trục phía nam Hà Nội đi xuyên qua huyện tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế
Về làng nghề: Ứng Hòa có một số các làng nghề truyền thống như làng may Trạch Xá thuộc xã Hòa Lâm, làng bún Bặt thuộc xã Liên Bạt, làng đàn Đào Xá thuộc xã Đông Lỗ, làng nghề khảm trai Cao Xá thuộc xã Trung Tú
Về giáo dục: Toàn huyện có 15/29 trường đạt chuẩn quốc gia
Về y tế: Toàn huyện có 1 bệnh viện đa khoa (BV Đa khoa Vân Đình), Trung tâm Y tế huyện và 25/29 trạm y tế xã đạt chuẩn và có bác sĩ phục vụ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân [16]
Trang 34CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
1 TTYT huyện Ứng Hòa
- Lãnh đạo TTYT huyện
- Trưởng khoa KSBTN
- Cán bộ chuyên trách chương trình Sốt xuất huyết
- Cộng tác viên chương trình phòng, chống SXHD tại các xã
Những người không có khả năng đọc, viết hoặc từ chối tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành từ tháng 4 tới tháng 10 năm 2018
Nghiên cứu tiến hành tại huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính trong đó:
Trang 35- Nghiên cứu định lượng: được sử dụng để thu thập thông tin về hoạt động giám sát của cộng tác viên chương trình phòng chống sốt xuất huyết tại các cộng đồng dân cư; hoạt động giám sát của cán bộ y tế tuyến xã, huyện và cơ sở y tế trên địa bàn huyện
- Nghiên cứu định tính: được sử dụng để mô tả các khó khăn, thuận lợi, các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình thực hiện hoạt động giám sát sốt xuất huyết của CTV
và các cơ sở y tế trên địa bàn huyện Ứng Hòa
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu áp dụng cho nghiên cứu định lượng:
- Áp dụng phương pháp mẫu toàn bộ, tất cả CTV chương trình SXHD tại các
xã, thị trấn có mặt và thỏa mãn là đối tượng nghiên cứu được mời tham gia nghiên cứu, ước tính có từ 170 đến190 người trên toàn huyện
- Đối với các cơ sở y tế, nhóm nghiên cứu chọn 100% các cơ sở y tế tham gia mạng lưới giám sát SXH, các đối tượng nghiên cứu bao gồm:
nghiên cứu
Khoa KSDB và HIV/AIDS thuộc TTYT
Cỡ mẫu áp dụng cho nghiên cứu định tính:
Để xác định một số khó khăn, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống giám sát SXHD của huyện Ứng Hòa nhóm sẽ tiến hành phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với các đối tượng như sau:
- Giám đốc hoặc Phó Giám đốc trực tiếp chỉ đạo chương trình phòng chống bệnh truyền nhiễm
Trang 36Cán bộ phụ trách chương trình SXHD của TTYT huyện Phỏng vấn sâu 1Cán bộ phụ trách GSBTN của bệnh viện và 2 PKĐK Phỏng vấn sâu 3
Thảo luận nhóm với các CTV chương trình SXHD Thảo luận
nhóm
2 (12 cán bộ)
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng:
Áp dụng phương pháp mẫu toàn bộ, tất cả CTV chương trình SXHD tại các
xã, thị trấn có mặt và thỏa mãn là đối tượng nghiên cứu sẽ được mời tham gia nghiên cứu, ước tính có từ 170 đến190 người trên toàn huyện Thực tế đã điều tra được 180 CTV
Chọn mẫu cho nghiên cứu định tính:
Áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích các đối tượng nghiên cứu là cán bộ tham gia mạng lưới GSSXHD thuộc các cơ sở y tế: Giám đốc hoặc Phó Giám đốc TTYT huyện trực tiếp chỉ đạo công tác phòng chống dịch SXHD; lãnh đạo Phòng Y tế huyện; cán bộ phụ trách giám sát SXHD của TTYT huyện; trạm trưởng TYT các xã, thị trấn; CTV chương trình SXHD; cán bộ phụ trách GSBTN của 1 BV và 2 PKĐK
2.5 Công cụ thu thập số liệu
Bộ công cụ thu thập số liệu định lượng:
Trang 37Xây dựng bộ công cụ để thu thập số liệu định lượng gồm: phiếu khảo sát hoạt động giám sát SXHD cho CTV phòng chống SXHD
Bộ công cụ thu thập số liệu định tính
Hướng dẫn phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm về khó khăn, yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống giám sát SXHD huyện Ứng Hòa trên cơ sở về giám sát SXHD được Bộ Y tế quy định
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu định lượng cho nghiên cứu ở đối tượng CTV và cơ sở y tế: Các CTV chương trình SXHD được phỏng vấn theo bộ câu hỏi được thiết kế sẵn (Phụ lục 2)
Thu thập số liệu định tính là cán bộ tham gia mạng lưới giám sát SXHD: PVS với đối tượng nghiên cứu theo bộ câu hỏi hướng dẫn (phụ lục 3) và Hướng dẫn thảo luận nhóm (Phục lục 4) nhằm xác định những khó khăn, thuận lợi trong công tác PCSXH cũng như tìm hiểu các yếu tố liên quan đến hoạt động PCSXH
2.7 Các biến số nghiên cứu
Để thu thập thông tin theo mục tiêu đã xác định, nghiên cứu có các nhóm biến số cơ bản sau:
Biến số về cộng tác viên: tuổi, giới, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp,…
Biến số về hoạt động giám sát phòng chống SXH của CTV: kiến thức, thực hành giám sát phòng chống SXH
Biến số về cơ sở Y tế: cách thức ghi nhận số liệu giám sát, hoạt động hỗ trợ giám sát,…
(Chi tiết bảng biến số được trình bày trong phụ lục 5)
Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động giám sát SXHD:
Các hoạt động hỗ trợ hệ thống giám sát:
- Các tiêu chuẩn và hướng dẫn giám sát;
- Công tác tập huấn đào tạo;
- Công tác giám sát hỗ trợ;
- Phương tiện hỗ trợ giám sát dịch;
Trang 38- Sự đáp ứng đầy đủ của các mục tiêu
Khó khăn giám sát SXHD:
- Sự phù hợp của quy trình giám sát hiện nay trên địa bàn;
- Sự đáp ứng của hoạt động giám sát với tình hình dịch bệnh tại địa phương;
- Chính sách, điều luật, văn bản hướng dẫn giám sát;
- Chỉ đạo và thông tin phản hồi từ tuyến trên;
- Hỗ trợ về kỹ thuật của tuyến trên;
- Cơ chế phối hợp giữa các đơn vị ;
- Thời gian báo cáo và biểu mẫu báo cáo;
- Số lượng và năng lực cán bộ;
- Chính sách chế độ thu hút cán bộ;
- Nguồn kinh phí cho hoạt động sau khi không phải là huyện trọng điểm;
- Các hoạt động đào tạo và tập huấn chuyên môn;
- Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị;
- Sự phối hợp của người dân
2.8 Quản lý và phân tích số liệu
Trang 392.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai sau khi được Hội đồng đạo đức Trường Đại học
Y tế Công cộng thông qua
Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác Tất cả các đối tượng nghiên cứu được các ĐTV giới thiệu về nghiên cứu, quyền được và từ chối tham gia bất kỳ thời gian nào
Tất cả những thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được mã hoá và bảo mật trong suốt quá trình thu thập thông tin, phân tích và báo cáo
Bộ câu hỏi phỏng vấn đã hoàn thành cũng như các băng ghi âm sẽ được bảo quản cẩn thận, bảo mật và chỉ các thành viên nhóm nghiên cứu mới được sử dụng Kết quả nghiên cứu và những khuyến nghị được sử dụng vào mục đích nâng cao năng lực
hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm
Trang 40CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Qua khảo sát 180 đối tượng là CTV, cán bộ tham gia mạng lưới của TYT xã,thị trấn, cán bộ màng lưới tại các cơ sở điều trị trên địa bàn huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội nhằm tìm hiểu thực trạng hoạt động hệ thống giám sát bệnh SXHD tại huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội năm 2018, nghiên cứu đã đạt được một số kết quả chính như sau:
3.1 Thông tin chung về CTV mạng lưới giám sát SXHD
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học của CTV mạng lưới giám sát SXHD