1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone tại trung tâm y tế thành phố châu đốc, tỉnh an giang năm 2013 đến năm 2017

115 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 5,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT AIDS Acquired Immune Deficiency Syndrome: Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ATS Amphetamine – type Stimulants: Các chất kích thích tác động tới hệ thần kinh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với: Ban Giám Hiệu và tập thể giảng viên trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy cho tôi trong suốt khóa học vừa qua

Đặc biệt xin cảm ơn PGS.TS Đỗ Mai Hoa đã tậm tâm đóng góp nhiều ý kiến quý báu và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn

Xin cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh An Giang, Trung tâm Y tế thành phố Châu Đốc và toàn thể cán bộ y tế đang công tác; người nhà và bệnh nhân đang điều trị Methadone tại cơ sở điều trị Methadone thành phố Châu Đốc đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện Luận văn này

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp và các bạn lớp Chuyên khoa 2 Tổ chức - Quản lý Y tế khóa 3 – Đồng Tháp đã luôn quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn

Trân trọng cảm ơn!

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AIDS Acquired Immune Deficiency Syndrome: Hội chứng suy giảm

miễn dịch mắc phải ATS

Amphetamine – type Stimulants: Các chất kích thích tác động tới

hệ thần kinh trung ương Bệnh nhân

Chất dạng thuốc phiện Chất gây nghiện

Cơ sở điều trị Đối tượng nghiên cứu Human Immunodeficiency Virus: Vi rút gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người

Hồ sơ bệnh án MMT Methadone Maintenance Therapy: Liệu pháp điều trị duy trì bằng

Methadone SDMT

THCS

Sử dụng ma túy Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông

TTYT Trung tâm y tế

UNAIDS

UNODC

United Nations Program on HIV/AIDS: Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS

United Nations office on Drug and Crime: Cơ quan phòng chống

Ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm trong nghiên cứu 4

1.2 Tình hình sử dụng ma túy và HIV trên thế giới và Việt Nam 6

1.3 Chương trình điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone 8

1.4 Nghiên cứu về sử dụng ma túy trong quá trình MMT 13

1.5 Các yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng ma túy 16

1.6 Khung lý thuyết 20

1.7 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 20

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

2.3 Thiết kế nghiên cứu: 21

2.4 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu 21

2.5 Quy trình thu thập thông tin 22

2.6 Tiêu chuẩn đánh giá 23

2.7 Xử lý và phân tích số liệu 24

2.8 Đạo đức nghiên cứu 24

2.9 Sai số và cách khắc phục 24

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

3.1 Kết quả thực hiện chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Trung tâm Y tế thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang từ năm 2013 đến 2017: 26

3.2 Đặc điểm của các bệnh nhân đang điều trị Methadone 27

3.3 Một số kết quả điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone tại TP Châu Đốc tỉnh An Giang, từ tháng 1/2013 đến tháng 12/2017 31

3.4 Khó khăn và thuận lợi khi triển khai điều trị Methadone tại thành phố Châu Đốc tỉnh An Giang 36

Trang 6

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 45

4.1 Đánh giá kết quả điều trị Methadone tại cơ sở điều trị thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang từ năm 2013 đến năm 2017: 45

4.2 Một số kết quả điều trị Methadone 45

4.3 Khó khăn và thuận lợi trong việc triển khai chương trình điều trị Methadone tại thành phố Châu Đốc tỉnh An Giang 49

4.4 Hạn chế nghiên cứu: 55

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 57

CHƯƠNG 6: KHUYẾN NGHỊ 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC 64

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Kinh phí hoạt động qua các năm 26

Bảng 3.2 Số bệnh nhân qua các năm 26

Bảng 3 3: Một số đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu 27

Bảng 3.4: Đặc điểm sử dụng chất gây nghiện 28

Bảng 3.5: Thông tin về điều trị Methadone 30

Bảng 3.6: Tình hình sử dụng Heroin sau 3, 6 và 9 tháng điều trị 31

Bảng 3 7: Tình hình thay đổi liều điều trị của bệnh nhân 32

Bảng 3 8:Tình hình ngừng uống thuốc của bệnh nhân theo giai đoạn 33

Bảng 3 9: Nhân lực của cơ sở điều trị: 37

Bảng 3 10: Trang thiết bị phòng tiếp đón và tư vấn 38

Bảng 3 11: Trang thiết bị phòng khám 39

Bảng 3 12: Trang thiết bị kho thuốc 40

Biểu đồ 3.1: Bệnh nhân bỏ trị 27

Biểu đồ 3.2: Tình trạng sử dụng ma túy qua 5 năm 33

Biểu đồ 3.3: Tình trạng xét nghiệm của bệnh nhân qua 5 năm 35

Biểu đồ 3.4: Tình hình vi phạm pháp luật của bệnh nhân qua 5 năm 35

Biểu đồ 3.5: Cân nặng của bệnh nhân qua 5 năm 36

Biểu đồ 3.6: Điều kiện việc làm của bệnh nhân 36

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình Phụ lục 1 Khung lý thuyết nghiên cứu 64

Trang 8

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2017 đến tháng 09/2018 tại cơ sở điều trị Methadone của thành phố Châu Đốc tỉnh An Giang nhằm mô tả một số kết quả điều trị methadone, đồng thời tìm hiểu một số khó khăn thuận lợi ảnh hưởng đến hoạt động, từ đó đưa ra những khuyến nghị để nâng cao chất lượng của cơ sở điều trị

Áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang với phương pháp định lượng và định tính Đối với nghiên cứu định lượng kết hợp hồi cứu hồ sơ bệnh án và phỏng vấn trực tiếp

210 bệnh nhân hiện tham gia điều trị tại cơ sở Với nghiên cứu định tính thực hiện 4 cuộc thảo luận nhóm gồm 34 đối tượng (18 bệnh nhân, 12 người nhà bệnh nhân và 4 cán bộ y tế) cùng 2 cuộc phỏng vấn sâu (1 lãnh đạo Trung tâm phòng chống HIV/AIDS và 1 lãnh đạo Trung tâm Y tế Châu Đốc phụ trách Methadone)

Kết quả nghiên cứu cho thấy về hoạt động: Cơ sở methadone thành phố Châu đốc, tỉnh An giang được xây dựng tháng 11/2012, kinh phí hoạt động do ngân sách chi toàn bộ cho 10 nhân viên, nguồn thuốc được Cục phòng chống HIV/AIDS cung cấp miễn phí Tỷ lệ bệnh nhân dương tính Heroin giảm từ 11,8% còn 6,9% sau 5 năm điều trị; Cân nặng của BN sau 5 năm điều trị cải thiện từ 54% lên 90% so với trong giai đoạn đầu điều trị Tình trạng việc làm của bệnh nhân tăng từ 53,4% lên 83,3% sau 5 năm điều trị Tuy nhiên tỷ lệ xét nghiệm methamphethamine dương tính gia tăng từ 6,7% lên 13,3% qua 5 năm điều trị Về khó khăn thuận lợi: cơ sở vật chất và trang thiết bị của cơ sở điều trị cơ bản đáp ứng yêu cầu Nhân sự bố trí đủ, tuy nhiên chế độ phụ cấp chưa tương xứng làm cho cán bộ y tế chưa an tâm công tác Bệnh nhân thường xuyên tiếp xúc với người TCMT, thời gian khởi liều kéo dài, giờ giấc uống thuốc không phù hợp, khoảng cách đi uống thuốc quá xa là những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của chương trình

Qua đó, chúng tôi khuyến nghị: Xây dựng đề án thu phí điều trị Methadone để chi thêm phụ cấp cho nhân viên, đồng thời sửa chữa cơ sở để đáp ứng nhu cầu điều trị Methadone ngày càng tăng Duy trì công tác tư vấn và hỗ trợ tâm lý bệnh nhân và đồng thời tổ chức các buổi họp nhóm với gia đình và bệnh nhân Thành lập nhóm chuyên gia hỗ trợ cho các cơ sở điều trị Methadone để giúp tư vấn cho bệnh nhân từ

bỏ sử dụng Methamphethamine

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tiêm chích ma túy là con đường chủ yếu gây lây nhiễm HIV/AIDS, các bệnh lây truyền qua đường máu và chiếm khoảng 5-10% trong số tất cả các ca nhiễm HIV trên thế giới [37] Theo ước tính của tổ chức phòng chống Ma túy và tội phạm của Liên hiệp quốc (UNODC) năm 2015 có khoảng một phần tư tỷ người, tương đương với 5% dân số thế giới trong độ tuổi từ 15-64 đã từng sử dụng ma túy [39]

Theo số liệu báo cáo của Bộ Công an, tính đến hết năm 2016 cả nước có 210.751 người nghiện ma túy Trong đó: nghiện ma túy tổng hợp là 20.778 người chiếm 9,8%; người nghiện các chất dạng thuốc phiện là 159.844 người, chiếm tới 75,8% (heroin: 154.102 người chiếm 73,1% và thuốc phiện: 5.742 người chiếm 2,7%) [7] Số người nghiện các chất dạng thuốc phiện (CDTP) vẫn chiếm tỷ lệ lớn Tuy nhiên, các bằng chứng gần đây đã cho thấy có chiều hướng gia tăng sử dụng ATS, đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và loại ATS được sử dụng phổ biến là thuốc lắc, đá và hồng phiến [34]

Liệu pháp điều trị thay thế bằng Methadone (MMT) đã được chứng minh có tác dụng tốt trong việc điều trị nghiện và dự phòng HIV/AIDS trong nhóm nghiện chích ma túy Liệu pháp điều trị thay thế bằng Methadone giúp làm giảm tần suất và tiến tới ngưng sử dụng các chất gây nghiện, giảm nguy cơ lây nhiễm HIV [3],[5]

Tại Việt Nam, điều trị thay thế bằng thuốc Methadone bắt đầu triển khai năm

2008 tại thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hải Phòng Chương trình điều trị thay thế các CDTP bằng Methadone (MMT) đã mang lại nhiều hiệu quả giúp cải thiện sức khỏe về mặt thể chất và tâm lý cho những người bị lệ thuộc CDTP, đồng thời làm giảm hành vi nguy cơ nhiễm HIV, giảm sử dụng ma túy, tăng cường chất lượng cuộc sống, tăng tỷ lệ có việc làm [4] Vì vậy chương trình MMT đã được nhân rộng nhanh chóng trong những năm qua Tính đến hết tháng 7/2017 chương trình MMT đã triển khai mở rộng tại 63 tỉnh thành, có 294 cơ sở điều trị, điều trị cho 52,054 bệnh nhân [3]

Châu Đốc là thành phố biên giới phía Tây Nam tổ quốc, có khu du lịch Quốc gia Miếu Bà Chúa xứ Núi Sam hàng năm đón hàng triệu lượt du khách đến tham quan

du lịch Do đó, việc gia tăng tệ nạn xã hội trong đó có ma túy là không tránh khỏi[22]

Trang 10

Tại tỉnh An Giang, thành phố Châu Đốc là đơn vị thứ hai trong tỉnh thực hiện điều trị Methadone cho người nghiện các chất dạng thuốc phiện vào tháng 11/2012 Đến cuối năm 2017 đã có 236 bệnh nhân đang được uống thuốc hằng ngày tại cơ sở, trong đó có 212 bệnh nhân đã vào giai đoạn duy trì [22]

Với đặc thù điều trị methadone là lâu dài, cùng với công tác xã hội hóa trong điều trị methadone nhằm đạt chỉ tiêu đề ra của Chính phủ, việc đánh giá hiệu quả của dịch vụ methadone là hết sức cần thiết nhằm tìm hiểu những thuận lợi - khó khăn, để

từ đó có kế hoạch cải thiện, phục vụ người bệnh được tốt nhất đồng thời là cơ sở giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra các chiến lược phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả điều trị methadone, đóng góp vào sự bền vững của các can thiệp HIV/AIDS tại

Việt Nam Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Trung tâm Y tế thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang từ năm 2013 đến 2017”

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Đánh giá kết quả thực hiện chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Trung tâm Y tế thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang từ năm 2013 đến 2017

2 Phân tích một số khó khăn và thuận lợi trong thực hiện chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Trung tâm Y tế thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang từ năm 2013 đến 2017

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm trong nghiên cứu

Ma túy là tên gọi chung của các chất kích thích mà sử dụng nhiều lần có thể gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo Không có một định nghĩa chung thống nhất nào về khái niệm này Ở mỗi góc độ tiếp cận, ma túy lại được hiểu theo những cách khác nhau [9]:

Theo định nghĩa của Tổ chức Liên Hợp Quốc, ma tuý được hiểu là “Các chất

có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ làm thay đổi trạng thái tâm sinh lý của người sử dụng”[5]

Tổ chức Y tế thế giới cũng đưa ra khái niệm như sau: “Ma túy là các chất độc, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy các cơ quan nội tạng” [3]

Luật Phòng, Chống ma tuý của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 9/12/2000, có hiệu lực từ ngày 1/6/2000, tại điều 1 khoản 2 cũng góp phần làm rõ khái niệm ma túy thông qua định nghĩa về chất ma túy [9]:

+ Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành

+ Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng

+ Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu

sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng

Chất gây nghiện bất hợp pháp (ma túy): chất dạng thuốc phiện (thuốc phiện, morphine, heroin), Cocaine, Ecstasy, ATS, cần sa…[3]

Chất dạng thuốc phiện (opiats, opioid) là tên gọi chung cho nhiều chất như thuốc phiện, morphine, heroin, methadone, buprenorphine, codein, pethidine, fentanyle, có biểu hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương

tự ở não [5]

AST (Amphetamine – Type Stimulants): Theo UNODC định nghĩa là một nhóm thuốc kích thích tác động tới hệ thống thần kinh trung ương bao gồm Amphetamine, Methamphetamine (METH), Metheathinone và ecstasy [38]

Trang 13

Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma tuý và bị lệ thuộc vào các chất này [3]

Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự như các CDTP khác (đồng vận) nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và không gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷ dài (trung bình là 24 giờ) nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để không xuất hiện hội chứng cai Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài [5]

Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone là một điều trị lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống, dưới dạng siro nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, C đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và tái hoà nhập cộng đồng [3]

Có nhiều cách trực tiếp và gián tiếp để xác định bệnh nhân có tiếp tục sử dụng chất gây nghiện (CGN) trong quá trình điều trị Sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định chắc chắn về tình trạng tiếp tục sử dụng CGN và tác hại liên quan đến hình thức sử dụng đó Các phương pháp để xác định vấn đề này gồm:

- Tự báo cáo về việc sử dụng chất gây nghiện và hành vi nguy cơ;

- Thăm khám lâm sàng (kiểm tra ven, các dấu hiệu lạm dụng rượu);

- Các chỉ số thực thể và sức khoẻ;

- Các biểu hiện phê/say CGN khi uống thuốc (kiểm tra với nhân viên tư vấn

và nhân viên cấp thuốc);

- Sàng lọc bằng xét nghiệm nước tiểu ngẫu nhiên;

- Xét nghiệm chức năng gan có thể có ích trong việc theo dõi sử dụng rượu Xét nghiệm nước tiểu tìm CGN có thể giúp xác định tình trạng tiếp tục sử dụng CGN nhưng nó chỉ phát huy tác dụng tối đa khi bệnh nhân không biết là họ sẽ phải làm xét nghiệm Có sự hạn chế về độ chính xác của test vì tất cả các test này đều được chế tạo để cho kết quả âm tính nếu nồng độ thuốc dưới một ngưỡng nhất định Do đó, với bệnh nhân đã sử dụng CGN hơn 24 giờ hoặc những người chỉ sử dụng lượng nhỏ

có thể không có kết quả xét nghiệm dương tính [9]

Trang 14

Hành vi SDMT: Hành vi SDMT khi tham gia chương trình MMT Hành vi SDMT của bệnh nhân được xác định nếu bệnh nhân có bất kỳ một trong các điều kiện sau đây trong vòng 30 ngày trước khi đánh giá: Tự báo cáo có SDMT hoặc dương tính với xét nghiệm nước tiểu các CDTP

SDMT bất hợp pháp: bệnh nhân SDMT trong quá trình tham gia chương trình MMT bằng cách mua bán bất hợp pháp [3]

Tuân thủ điều trị Methadone: Dựa theo hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone của Bộ y tế năm 2010 Bỏ uống thuốc 1 đến 3 ngày: không thay đổi liều Methadone đang điều trị Bỏ uống thuốc 4 đến 5 ngày: đánh giá lại sự dung nạp thuốc của người bệnh, cho 1/2 liều Methadone bệnh nhân vẫn uống trước khi dừng điều trị đồng thời khám lại và cho liều Methadone thích hợp Bỏ uống thuốc trên 5 ngày (từ ngày thứ 6 trở đi): khởi liều Methadone lại từ đầu [3] Căn cứ vào hướng dẫn này, nghiên cứu đánh giá mức độ tuân thủ điều trị của ĐTNC trong 1 tháng gần nhất được định nghĩa như sau: BN được đánh giá là tuân thủ điều trị cần thỏa mãn 1 trong 2 điều kiện: 1) Trong 1 tháng qua, không bỏ uống thuốc ngày nào hoặc 2) có ngày không uống thuốc, nhưng không được bỏ quá 3 ngày liên tiếp và mỗi lần nghỉ uống thuốc cần thông báo với CSĐT

1.2 Tình hình sử dụng ma túy và HIV trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Trên thế giới

Theo UNODC tính đến hết năm 2015, trên toàn thế giới có khoảng một phần

tư tỷ người, tương đương với khoảng hơn 5% dân số trưởng thành toàn cầu đã từng

sử dụng ma túy ít nhất một lần Trong số các loại ma túy thì cần sa vẫn là thuốc được

sử dụng nhiều nhất với khoảng 183 triệu người, đứng thứ hai là amphetamine với khoảng 35 triệu người sử dụng và việc sử dụng amphetamine, đặc biệt là methamphetamine được cho là đang gia tăng ở nhiều tiểu vùng, bao gồm Bắc Mỹ, Châu Đại Dương và hầu hết các vùng của châu Á Tiếp đến có khoảng 17,7 triệu người được ước tính đã sử dụng thuốc phiện (heroin và thuốc phiện) và cuối cùng là gần 17 triệu người sử dụng cocaine trên toàn thế giới [39]

Hơn nữa, sự nổi lên của chất kích thích tổng hợp và các chất hoạt tính thần kinh mới và việc sử dụng chúng thay cho hoặc kết hợp với thuốc thông thường đang

Trang 15

gây thách thức thêm cho các chuyên gia y tế đáp ứng các trường hợp khẩn cấp liên quan đến sử dụng ma túy và điều trị những người có rối loạn do sử dụng ma túy [37]

Việc sử dụng thuốc phiện, heroin bằng cách tiêm chích vẫn là một nguyên nhân dẫn đến gia tăng lây nhiễm HIV ở các nước khu vực Đông Nam Á Việc lạm dụng và buôn bán chất kích thích thuộc nhóm amphetamine (AST) đặc biệt là methamphetamine đang lan rộng một cách nhanh chóng ở khu vực Đông Nam Á Trong năm 2015, methaphetamine là thuốc được sử dụng nhiều nhất ở Trung Quốc, Nhật Bản, Philippines và Singgapore [39] Nhiều tài liệu nghiên cứu ở Thái Lan, Lào

và Camphuchia cho thấy nhiều người sử dụng AST cũng có hoạt động tình dục rất cao và có nguy cơ gia tăng hoạt động tình dục và nguy cơ gia tăng mắc phải các bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến trong đó có HIV/AIDS

Gần 12 triệu người trên toàn thế giới tiêm chích ma túy, trong đó 1,6 triệu người đang sống với HIV/AIDS và 6,1 triệu người đang sống với bệnh viêm gan C

Số ca tử vong do viêm gan C trong số những người sử dụng ma túy lớn hơn các nguyên nhân tử vong khác liên quan đến sử dụng ma túy [36]

Theo ước tính của UNAIDS trong năm 2016 có 36,7 triệu người sống chung với HIV và 1 triệu người chết vì AIDS, giảm 48% kể từ khi đỉnh cao vào năm 2005 Khoảng 0,8% người trưởng thành độ tuổi từ 15-49 tuổi sống chung với HIV.Tử vong

đã giảm do một phần điều trị kháng retrovirus (ARV) HIV vẫn là một nguyên nhân

tử vong hàng đầu trên thế giới và nguyên nhân hàng đầu của tử vong ở phụ nữ tuổi sinh đẻ trên toàn cầu [36]

1.2.2 Tình hình sử dụng ma túy và nhiễm HIV ở Việt Nam

Nghiện ma túy tại Việt Nam vẫn đang diễn biến phức tạp với chiều hướng ngày càng gia tăng Theo số liệu báo cáo của Bộ Công an, tính đến hết năm 2016 cả nước có 210.751 người nghiện ma túy trong đó: nghiện ma túy tổng hợp là 20.778 người chiếm 9,8%; người nghiện các chất dạng thuốc phiện là 159.844 người, chiếm tới 75,8% (trong đó heroin: 154.102 người (73,1%) và thuốc phiện: 5.742 người (2,7%); cần sa: 3.418 người; cocaine: 238 người; sử dụng nhiều loại ma túy: 4.219 người (2%) [5]

Trang 16

Tại Việt Nam, việc sử dụng heroin vẫn tiếp tục chiếm ưu thế Tuy nhiên, các bằng chứng gần đây cho thấy có chiều hướng gia tăng sử dụng AST, đặc biệt là ở các thành phố lớn Methamphetamine là loại AST được sử dụng phổ biến nhất ở Việt Nam, thường được vận chuyển vào Việt Nam từ khu vực Tam giác vàng Hiện tượng

sử dụng methamphetamine và thuốc lắc tăng lên từ năm 2003, chỉ đứng sau heroin [37]

Kể từ ca nhiễm HIV/AIDS được phát hiện đầu tiên năm 1990 tại thành phố

Hồ Chí Minh, tính đến cuối năm 2015, toàn quốc có 227.154 người nhiễm HIV đang được báo cáo, 85.194 người nhiễm HIV đang giai đoạn AIDS và đã có trên 86.716 người nhiễm HIV đã tử vong [6] Trong 6 tháng đầu năm 2017, cả nước xét nghiệm phát hiện mới 4.541 trường hợp nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS 2.321 trường hợp, số bệnh nhân tử vong 799 trường hợp Trong đó số báo cáo của Hà Nội và TP Hồ Chí Minh phát hiện nhiều nhất cả nước, tổng hai thành phố chiếm 20% số phát hiện cả nước Phân bố người nhiễm HIV theo giới nam giới chiếm 67.7%, nữ giới chiếm 32.3% So sánh vời cùng kỳ năm 2016, số trường hợp nhiễm HIV phát hiện mới giảm 5.6%, số bệnh nhân AIDS giảm 39% và người nhiễm HIV

và giảm thèm nhớ [5]

Trang 17

Methadone được tổng hợp lần đầu tiên vào năm 1937 tại một phòng thí nghiệm dược phẩm của Đức [28] Đây là thuốc tổng hợp có tác dụng kéo dài được sản xuất với mục đích ban đầu là thuốc giảm đau trong chiến tranh thế giới thứ hai

Điều trị thay thế các CDTP là một trong những chương trình can thiệp làm giảm tác hại và dự phòng lây truyền HIV trên thế giới và Việt Nam

Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone nhằm 3 mục đích chủ yếu sau[5]:

- Giảm tác hại do nghiện các CDTP gây ra như: lây nhiễm HIV, viêm gan B,

C do sử dụng chung dụng cụ tiêm chích, tử vong do sử dụng quá liều các CDTP và hoạt động tội phạm

- Giảm sử dụng các CDTP bất hợp pháp, giảm tỷ lệ tiêm chích CDTP

- Cải thiện sức khoẻ và giúp người nghiện duy trì việc làm, ổn định cuộc sống lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội

Ngoài tác dụng điều trị thay thế nghiện các CDTP, Methadone cũng có một số tác dụng phụ ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Các tác dụng phụ phổ biến của Methadone bao gồm ra nhiều mồ hôi, táo bón, mất ngủ, bệnh về răng miệng, rối loạn giấc ngủ, rối loạn kinh nguyệt ở nữ giới, chứng vú to ở nam giới, rối loạn chức năng tình dục, giữ nước và tăng cân [9] Phần lớn bệnh nhân đều gặp tác dụng phụ trong quá trình điều trị với một số triệu chứng như: táo bón, rối loạn chức năng tình dục, tăng tiết mồ hôi, viêm răng lợi [3][13]

Methadone có thể tương tác với các thuốc điều trị HIV/AIDS hoặc các thuốc điều trị một số bệnh lý khác, do vậy cần lưu ý đặc biệt đến các tương tác giữa thuốc Methadone với một số thuốc như: thuốc ARV, thuốc điều trị lao, điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội, thuốc an thần, thuốc giảm đau các loại [3], [9]

1.3.2 Tình hình triển khai chương trình điều trị Methadone trên thế giới

Năm 1964, hai bác sỹ người Mỹ là Marie Nyswander và Vincent Dole đã dùng Methadone để điều trị thí điểm cho những người nghiện heroin Từ những kết quả thu được, họ phát hiện ra rằng Methadone có thể giúp người nghiện ngừng sử dụng heroin và không bị tăng liều khi dùng Methadone trong thời gian dài Từ đó, liệu pháp điều trị duy trì cho người nghiện heroin bằng Methadone ra đời và triển khai ở nhiều

Trang 18

quốc gia [20] Quy mô áp dụng tại một số nước trên thế giới khá rộng lớn, tại Mỹ những năm 1970 đã có 20.000 bệnh nhân được điều trị MMT, năm 2008 tại Thụy Sỹ

có 3.000 cơ sở điều trị MMT, Tây Ban Nha có 5.000 cơ sở, Trung Quốc có 5.000 cơ

sở Tại khu vực Đông Nam Á có nhiều nước cũng áp dụng như: Thái Lan, Indonesia, Malaysia Hiện nay trên thế giới đã có 80 quốc gia triển khai chương trình điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone [15]

1.3.3 Chương trình điều trị Methadone tại Việt Nam

Đề án triển khai thí điểm chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại thành phố Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh đã được Bộ trưởng Bộ Y tế ký quyết định phê duyệt từ năm 2007, cho phép thí điểm điều trị tại thành phố này trong 2 năm, bắt đầu từ tháng 4/2008 Kết quả đánh giá bước đầu Đề án triển khai thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện (CDTP) bằng thuốc Methadone do Bộ Y tế tiến hành đã ghi nhận những kết quả hết sức tích cực Căn cứ vào những kết quả đã đạt được của đề án thí điểm, chính phủ đã cho phép nhiều tỉnh tiến hành triển khai tại địa phương Tính đến hết tháng 7/2017 chương trình điều trị MMT đã triển khai mở rộng tại 63 tỉnh thành, có 294 cơ sở điều trị, điều trị cho 52,054 bệnh nhân [15]

Quy trình tiếp nhận và điều trị Methadone cho bệnh nhân tại cơ sở điều trị được thực hiện theo Quyết định 3140/QĐ-BYT của Bộ Y tế về việc hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone [3]

Những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn tham gia điều trị sẽ được cán bộ y tế tại cơ sở điều trị khám đánh giá ban đầu về tiền sử sử dụng các chất gây nghiện, các hành vi nguy cơ cao như sử dụng chung bơm kim tiêm và quan hệ tình dục không an toàn, tiền sử bệnh…sau đó bệnh nhân sẽ được chỉ định thực hiện một số xét nghiệm cần thiết như xét nghiệm HIV, viêm gan B, viêm gan C, xét nghiệm công thức máu, xét nghiệm nước tiểu tìm CDTP Đồng thời bệnh nhân cũng được tư vấn cá nhân và giáo dục nhóm

Sau khi được khám đánh giá ban đầu và tư vấn, bệnh nhân sẽ được sắp xếp uống thuốc Methadone Bệnh nhân sẽ được điều trị theo 3 giai đoạn:

Trang 19

Giai đoạn dò liều: Trong hai tuần đầu bệnh nhân phải điều trị ở giai đoạn dò

liều, trung bình liều khởi liều là 15-30 mg tùy thuộc vào kết quả đánh giá độ dung nạp của người bệnh Trong giai đoạn điều trị dò liều bệnh nhân sẽ được cán bộ y tế đánh giá hàng ngày để điều chỉnh liều, nhưng một tuần không vượt quá 20 mg [3]

Giai đoạn điều chỉnh liều: Từ tuần thứ 3 của quá trình điều trị và có thể kéo dài

từ 01 đến 3 tháng bệnh nhân sẽ tiếp tục được điều chỉnh liều đến khi người bệnh đạt liều hiệu quả là liều làm hết hội chứng cai, giảm thèm nhớ, ngăn tác dụng của việc

sử dụng heroin và không gây ngộ độc Cán bộ y tế đánh giá người bệnh trước khi quyết định tăng hoặc giảm liều Sau 3-5 ngày điều trị, liều Methadone có thể tăng từ 5-15mg/lần Tổng liều tăng không vượt quá 30 mg [3]

Giai đoạn điều trị duy trì: Là liều có hiệu quả và phong tỏa được tác dụng gây

khoái cảm của heroin Liều hiệu quả tối ưu khác nhau ở từng người bệnh, một số bệnh

lý đồng diễn, tình trạng đặc biệt Liều duy trì thông thường là 60 – 120 mg/ngày, liều duy trì thấp nhất 15mg/ngày, liều cao nhất có thể lên tới 200-300 mg/ngày Cá biệt

có những người bệnh liều cao hơn 300mg/ngày [3]

Đối với điều trị Methadone, hàng ngày bệnh nhân sẽ phải đến cơ sở để được uống thuốc dưới sự giám sát của cán bộ y tế tại cơ sở Điều trị MMT cho bệnh nhân phải điều trị lâu dài, trong quá trình điều trị, bệnh nhân sẽ được tư vấn và thăm khám định kỳ Sau 6 tháng sẽ làm một số xét nghiệm định kỳ theo chỉ định của bác sỹ cơ

sở điều trị Ngoài ra bệnh nhân sẽ được xét nghiệm nước tiểu ngẫu nhiên nhằm xác định những bệnh nhân còn sử dụng chất CDTP để khám và điều chỉnh liều Methadone phù hợp nhằm đánh giá hiệu quả điều trị Những thông tin trên sẽ được lưu trong từng

hồ sơ bệnh án của bệnh nhân [3][5]

1.3.4 Điều kiện hoạt động của cơ sở điều trị Methadone:

1.3.4.1 Điều kiện về cơ sở vật chất:

Có nơi tiếp đón, phòng hành chính, phòng cấp phát và bảo quản thuốc, phòng

tư vấn, phòng khám bệnh và phòng xét nghiệm Các phòng trong cơ sở điều trị thay thế phải có diện tích từ 10 m2 trở lên;

Trang 20

Các phòng của cơ sở điều trị thay thế phải được xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà sử dụng các chất liệu dễ tẩy rửa làm vệ sinh, có cửa sổ chắc chắn, cửa ra vào có khóa;

Khu vực thực hiện xét nghiệm sử dụng các vật liệu không thấm nước, chịu được nhiệt và các loại hóa chất ăn mòn; có bồn nước rửa tay, vòi rửa mắt khẩn cấp, hộp sơ cứu;

Bảo đảm đủ điện, nước và đáp ứng các điều kiện về quản lý chất thải y tế, phòng cháy, chữa cháy theo quy định của pháp luật [9]

1.3.4.2 Điều kiện về trang thiết bị:

Phòng cấp phát và bảo quản thuốc cần phải có: Ẩm kế; Nhiệt kế đo nhiệt độ phòng; Điều hòa nhiệt độ; 02 tủ chắc chắn có khóa để đựng thuốc, trong đó: 01 tủ để đựng thuốc cấp phát hàng ngày và 01 tủ để bảo quản thuốc; Dụng cụ cấp phát thuốc;

Tủ hoặc giá đựng hồ sơ, sổ sách, phiếu theo dõi điều trị; Thiết bị khử trùng dụng cụ

và bệnh phẩm; Thiết bị giám sát việc thực hiện điều trị

Phòng khám bệnh: Nhiệt kế đo thân nhiệt; Ống nghe; Tủ thuốc cấp cứu (trong

đó có thuốc giải độc); Máy đo huyết áp; Bộ trang thiết bị cấp cứu; Giường khám bệnh; Cân đo sức khỏe - chiều cao; Thiết bị khử trùng dụng cụ và bệnh phẩm

Phòng xét nghiệm: Bộ dụng cụ xét nghiệm nước tiểu và lấy máu; Tủ lạnh bảo quản sinh phẩm, bệnh phẩm

Nơi lấy nước tiểu của người bệnh: Bộ bàn cầu (với đường cấp nước có van đặt

ở bên ngoài nơi lấy nước tiểu); Vách ngăn dán kính màu một chiều từ bên ngoài để nhân viên của cơ sở điều trị quan sát được quá trình tự lấy mẫu nước tiểu của người bệnh [9]

1.3.4.3 Điều kiện về nhân sự:

Có ít nhất 01 người phụ trách chuyên môn là bác sỹ có giấy chứng nhận đã qua đào tạo, tập huấn về điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện và là người làm việc toàn thời gian tại cơ sở điều trị thay thế;

Có ít nhất 01 nhân viên làm nhiệm vụ hỗ trợ công tác khám bệnh, chữa bệnh

có trình độ trung cấp chuyên ngành y trở lên;

Trang 21

Có ít nhất 02 nhân viên làm nhiệm vụ cấp phát thuốc có trình độ trung cấp chuyên ngành y, dược trở lên Nhân viên phụ trách kho thuốc phải đáp ứng các điều kiện về chuyên môn theo quy định của pháp luật về dược;

Có ít nhất 01 nhân viên làm nhiệm vụ xét nghiệm có trình độ trung cấp thuộc một trong các chuyên ngành y, dược, sinh học hoặc hóa học trở lên;

Có ít nhất 01 nhân viên làm nhiệm vụ tư vấn có trình độ trung cấp thuộc một trong các chuyên ngành y, dược hoặc xã hội trở lên;

Có ít nhất 01 nhân viên làm nhiệm vụ hành chính có trình độ trung cấp trở lên; Căn cứ tình hình thực tế, cơ sở điều trị thay thế bố trí nhân viên bảo vệ tại cơ

sở nơi đặt cơ sở điều trị hoặc phối hợp với công an nơi cơ sở điều trị đặt trụ sở để bảo đảm công tác an ninh cho cơ sở điều trị; trường hợp cần thiết, có thể bố trí tối đa 02 nhân viên bảo vệ riêng cho cơ sở điều trị;

Số lượng nhân viên làm việc toàn thời gian phải đạt tỷ lệ từ 75% trở lên trên tổng số nhân viên của cơ sở điều trị thay thế Việc bố trí nhân lực thực hiện điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện tại cơ sở được thực hiện theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm, bảo đảm phù hợp về yêu cầu chuyên môn quy định và quy mô của cơ sở điều trị thay thế [9]

1.3.5 Thuốc Methadone:

Đến thời điểm hiện nay, nguồn thuốc Methadone cung cấp cho cơ sở điều trị

do Cục Phòng chống HIV/AIDS cung cấp miễn phí [9] Thuốc được dự trù theo mỗi quý, được Sở Y tế phê duyệt và gửi về Cục Phòng chống HIV/AIDS Nguồn thuốc

sẽ được vận chuyển thẳng về cơ sở điều trị theo dự trù

1.4 Nghiên cứu về sử dụng ma túy trong quá trình MMT

Điều trị Methadone nhằm mục đích giảm tác hại do nghiện các CDTP gây ra như: lây nhiễm HIV, viêm gan B, C do sử dụng chung dụng cụ tiêm chích, tử vong

do sử dụng quá liều các CDTP và hoạt động tội phạm Giảm sử dụng các CDTP bất hợp pháp, giảm tỷ lệ tiêm chích CDTP

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu cho thấy tác động tích cực của chương trình MMT trong việc thay đổi hành vi SDMT Tỷ lệ sử dụng heroin ở bệnh nhân điều trị Methadone trong giai đoạn dưới 6 tháng khá phổ biến là 67%, từ 6 tháng đến

Trang 22

4,5 năm là 23%, với bệnh nhân trên 4,5 năm là 8% [24] Theo nghiên cứu của Simpson và Sells cho thấy, sau 3 – 5 năm điều trị tỷ lệ sử dụng heroin của bệnh nhân

là 18% [26] Tại New Yok, 44% bệnh nhân còn sử dụng heroin trong năm đầu tiên điều trị Methadone, sau 3 năm điều trị tỷ lệ sử dụng heroin là 24% [26]

Theo nghiên cứu của R Wang và cộng sự năm 2014 tại quận Dehong, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc tiến hành trên 2600 bệnh nhân cho thấy, tổng số 2121 người tham gia đã được xét nghiệm nước tiểu để sử dụng morphine và MAMP Trong số

đó, 220 người (10,4%) chỉ dương tính với morphine, 273 người (12,9%) chỉ dương tính với MAMP, 196 người (9,2%) dương tính với morphine và MAMP, và 1432 người (67,5%) còn âm tính cho cả hai morphine và MAMP Sử dụng ma túy bất hợp pháp trong quá trình điều trị liên quan đến chủng tộc, dân tộc, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, tiền sử sử dụng ma túy trước khi tiêm MMT, kinh nghiệm MMT và tình trạng nhiễm HIV [40]

Nghiên cứu của Seyed Ramin Radfar, Sarah J Cousins và cộng sự về sử dụng Methamphetamine ở bệnh nhân đang điều trị Methadone ở giai đoạn duy trì ở Iran từ năm 2013 đến năm 2014 Nghiên cứu sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trọng tâm, tổng cộng có 45 người tham gia vào 7 cuộc thảo luận nhóm Trung bình mỗi cuộc thảo luận nhóm là 5 người Kết quả nghiên cứu, khoảng một nửa số người tham gia báo cáo rằng họ đã quyết định sử dụng, hoặc tiếp tục sử dụng, methamphetamine trong suốt quá trình MMT Các yếu tố đóng vai trò trong việc sử dụng methamphetamine là do tác dụng phụ của Methadone, sự thiếu giáo dục về tác dụng phụ của MMT hoặc nghiện methamphetamine, mức độ nhận thức của sử dụng methamphetamine trong điều trị MMT [35]

Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình trạng SDMT đã giảm sau khi điều trị MMT Việc sử dụng ma tuý trong số những người nghiện ma túy đã giảm

từ 100% khi bắt đầu điều trị xuống 27,5% ở tháng thứ 3 và tiếp tục giảm còn 15,9% sau 24 tháng [17], [21]

Nghiên cứu tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013 trong vòng

24 tháng đối với 965 bệnh nhân đang điều trị Methadone, tỷ lệ bệnh nhân sử dụng ma túy giảm từ 100% xuống còn 34-36% sau 3 tháng điều trị và còn 19-26% sau 6 tháng

Trang 23

điều trị Tỷ lệ sử dụng ma túy thấp này tiếp tục được duy trì cho đến hết thời gian triển khai nghiên cứu [4]

Theo nghiên cứu của Phạm Thị Bích năm 2015 đối với 150 bệnh nhân tại Thành phố Hải Dương, tỷ lệ bệnh nhân còn sử dụng lại chất gây nghiện trong quá trình điều trị MMT là 20,8% Loại chất gây nghiện chủ yếu mà các bệnh nhân này sử dụng là Heroin (64,3%) và thuốc phiện (23,8%)[2]

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Sơn tại thành phố Tân An, Long An năm 2015 đối với 100 bệnh nhân đang điều trị MMT trên 6 tháng và trong giai đoạn liều duy trì cho thấy sau 6 tháng điều trị tỷ lệ bệnh nhân sử dụng Heroin giảm còn 32% và sau

12 tháng còn 16,7%, có 10,4% bệnh nhân sử dụng ma túy đá sau 6 tháng [18]

Theo nghiên cứu của Trần Minh Hoàng về một số yếu tố liên quan đến hành

vi sử dụng ma túy của người nhiễm HIV tham gia chương trình điều trị Methadone tại Hải Phòng và Thành Phố Hồ Chí Minh, 2009-2011 Nghiên cứu phân tích số liệu thứ cấp tiến hành trên 377 bệnh nhân nhiễm HIV tham gia điều trị cai nghiện bằng Methadone tại 6 cơ sở điều trị Methadone ở Hải Phòng và Tp Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tiếp tục sử dụng ma túy của đối tượng nghiên cứu giảm mạnh sau 3 tháng điều trị (29%) và duy trì ở mức 19-24% ở các thời điểm theo dõi tiếp theo trong 2 năm điều trị Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với hành vi tiếp tục SDMT của đối tượng nghiên cứu bao gồm: Đối tượng nghiên cứu có bạn tình nghiện chích ma túy, có hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình điều trị, có vấn đề sức khỏe trong quá trình điều trị, liều Methadone trung bình Điều chỉnh tăng liều trong quá trình điều trị, tuân thủ điều trị Methadone [13]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuận nhằm đánh giá thực trạng sử dụng ma túy tại Hải Dương năm 2017 Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang trên 248 bệnh nhân đang điều trị Methadone trong giai đoạn duy trì Kết quả cho thấy tỷ lệ sử dụng ma túy là 37,9%, trong đó sử dụng heroin là 29,4%, ma túy đá là 11,7%, thuốc lắc và hồng phiến chiếm 5,2% [19]

Hiệu quả của chương trình điều trị MMT đã được các nghiên cứu chứng minh

là làm giảm tỷ lệ sử dụng Heroin Tuy nhiên, hiện nay với sự sẵn có của nhiều loại

ma túy tổng hợp đã dẫn đến tình trạng bệnh nhân có xu hướng chuyển sang sử dụng

Trang 24

loại ma túy này, đặc biệt phải kể đến là methamphetamine Một nghiên cứu trên 150 bệnh nhân đang MMT tại Trung tâm Nghiên cứu Nghiện Ma túy Quốc gia Iran đã phát hiện ra rằng tỷ lệ bệnh nhân sử dụng methamphetamine trong khi điều trị MMT trong tháng 1, 3 và 6 lần lượt là 15%, 24% và 12% [33] Một nghiên cứu tại phòng khám Methadone của một bệnh viện trung tâm ở Zahedan cho thấy sử dụng methamphetamine tăng lên đáng kể giữa các khách hàng từ 6% trong năm 2009 lên gần 20% trong năm 2011 [33] Trong năm 2013, một cuộc khảo sát của 7.342 nam giới và phụ nữ (82,5% so với 17,5%) tại các phòng khám và trung tâm Methadone ở tỉnh Khorasan phía Bắc cho thấy 2,8% bệnh nhân là người sử dụng methamphetamine trong MMT [35] Một nghiên cứu của 120 khách hàng tại một số phòng khám Methadone ở Tehran cho thấy 64,7% khách hàng hút thuốc methamphetamine sau sáu tháng điều trị bằng Methadone [42]

1.5 Các yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng ma túy

1.5.1 Nhóm yếu tố liên quan từ đặc điểm cá nhân

Tuổi là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả điều trị lạm dụng ma túy và dự phòng lây nhiễm HIV Nghiên cứu của Rongrong Wang và cộng

sự năm 2014 tại quận Dehong, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đã chỉ ra hầu hết những người tham gia chương trình MMT ở độ tuổi 30 – 49 tuổi Bệnh nhân trên 50 tuổi có

tỷ lệ sử dụng heroin (15,3%) cao hơn nhóm tuổi còn lại Bệnh nhân trẻ tuổi có tỷ lệ

sử dụng ma túy đá cao hơn nhóm tuổi lớn hơn Bệnh nhân dưới 40 tuổi có tỷ lệ sử dụng ma túy đá (15,8%) cao hơn nhóm tuổi lớn hơn [40]

Tỷ lệ SDMT bất hợp pháp ở bệnh nhân là nam giới cao hơn tỷ lệ này ở bệnh nhân là phụ nữ Một nghiên cứu thực hiện trên quần thể người NCMT ở Baltimore năm 2000 cho thấy phụ nữ hành vi tích cực hơn so với nam giới

Tình trạng hôn nhân có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với hành vi SDMT Những bệnh nhân đã kết hôn tuân thủ điều trị Methadone hơn những người độc thân Việc tuân thủ điều trị tốt dẫn đến thay đổi hành vi SDMT tốt hơn Sống với bạn tình

có SDMT là một yếu tố nguy cơ liên quan đến hành vi SDMT của bệnh nhân MMT Những người có bạn tình SDMT có nguy cơ sử dụng ma túy cao hơn những bệnh nhân không có bạn tình sử dụng ma túy [18], [38]

Trang 25

Trình độ học vấn cũng có thể ảnh hưởng đến việc tiếp tục SDMT của bệnh nhân Tỷ lệ SDMT ở những bệnh nhân có trình độ học vấn thấp cao hơn ở những bệnh nhân còn lại [18], [38]

Tình trạng việc làm có liên quan đến hành vi tiếp tục SDMT của bệnh nhân MMT Ward và cộng sự đã cung cấp bằng chứng cho thấy những bệnh nhân không

có việc làm thường dễ bị tái nghiện và hoặc vi phạm pháp luật nếu họ ra khỏi chương trình MMT [29] Bệnh nhân có việc làm ổn định thì khả năng sử dụng lại chất gây nghiện thấp hơn những bệnh nhân thất nghiệp và có việc làm không ổn định [9]

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng tiền sử SDMT của bệnh nhân MMT có liên quan đến hành vi tiếp tục SDMT trong quá trình MMT Bệnh nhân có tiền sử tần suất

sử dụng chất gây nghiện trong ngày cao thì khả năng sử dụng lại chất gây nghiện cao hơn những bệnh nhân có tiền sử tần xuất sử dụng chất gây nghiện trong ngày thấp [14] Những người có tiền sử thời gian SDMT nhiều năm hơn thì có nguy cơ sử dụng lại heroin cao hơn, bệnh nhân có thời gian sử dụng ma túy trước điều trị trên 10 năm

có tỷ lệ sử dụng lại heroin (33%) cao hơn những bệnh nhân có thời gian sử dụng heroin trước điều trị dưới 10 năm [29]

1.5.2 Nhóm yếu tố liên quan từ chương trình điều trị

Thời gian điều trị

Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy thời gian điều trị Methadone có ảnh hưởng đến hành vi sử dụng ma túy trong quá trình điều trị Thời gian điều trị MMT ngắn có nhiều nguy cơ tái nghiện hơn Thời gian điều trị lâu giúp cho bệnh nhân giảm tần suất SDMT [30] Bệnh nhân MMT dưới 1 năm khả năng sử dụng heroin là 21,2%, trong khi đó bệnh nhân MMT trên 1 năm thì tỷ lệ thấp hơn rất nhiều dưới 10%, càng MMT lâu thì tỷ lệ sử dụng heroin càng giảm, đặc biệt với những bệnh nhân điều trị trên 5 năm, tỷ lệ sử dụng heroin dưới 5%[28] Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng methamphetamine thường gặp phổ biến ở những bệnh nhân đã được điều trị trên 5 năm là 18% [31] Điều này cho thấy MMT trong thời gian dài với liều cao sẽ làm mất

đi tác dụng của sử dụng heroin, nhưng không làm giảm độ phê khi sử dụng methamphetamine [35]

Liều Methadone

Trang 26

Liều Methadone bệnh nhân uống hàng ngày có liên quan trực tiếp đến hành vi SDMT Liều Methadone thấp hơn có liên quan đến việc tiếp tục sử dụng heroin trong quá trình điều trị [31] Bệnh nhân có liều Methadone trung bình dưới 46 mg/ngày có

tỷ lệ SDMT cao gấp 5,2 lần những bệnh nhân có liều Methadone trung bình hơn 71mg/ngày [31] Việc sử dụng heroin trong 3 tháng trước khi phỏng vấn được cho là lớn nhất trong số các bệnh nhân duy trì liều Methadone nhỏ hơn 70 mg/ngày[28] Liều Methadone trong khoảng từ 60-100 mg/ngày có hiệu quả hơn trong việc duy trì điều trị và giảm hành vi tiếp tục SDMT của bệnh nhân [3],[9] Bệnh nhân có liều điều trị Methadone cao hơn có xu hướng chuyển sang dùng Methamphetamine nhiều hơn [30]

Liều Methadone của bệnh nhân và thời gian điều trị Methadone là những yếu

tố quan trọng trong việc giảm tỷ lệ sử dụng heroin [29]

Bệnh nhân đang điều trị Methadone đồng thời điều trị HIV/AIDS hoặc các bệnh lý kèm theo, do vậy có thể dẫn đến các tương tác giữa thuốc Methadone với thuốc khác như: thuốc ARV, thuốc điều trị lao, điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội

Do vậy những bệnh nhân MMT kèm theo điều trị ARV thường có liều điều trị cao hơn những bệnh nhân không điều trị ARV, bệnh nhân thường có liều điều trị trên 100ml/ngày [3], [29]

Tác dụng phụ của Methadone

Khi MMT bệnh nhân thường gặp các tác dụng như: ra nhiều mồ hôi, táo bón, buồn nôn, mất ngủ, bệnh về rằng miệng, rối loạn giấc ngủ, rối loạn chức năng tình dục, trầm cảm [9] Một số nghiên cứu đã khám phá ra rằng, những bệnh nhân điều trị Methadone chuyển sang sử dụng methamphetamine để đối phó với các tác dụng phụ của Methadone[33] Các lý do khiến cho bệnh nhân sử dụng methamphetamine trong quá trình MMT là bệnh nhân cảm thấy khỏe hơn, giảm tác dụng phụ của Methadone, tăng hoạt động tình dục, tăng khoái cảm [33], [35] Điều này có thể giải thích lý do tại sao những người tham gia MMT đồng sử dụng methamphetamine với methadone Sự xuất hiện của methamphetamine giữa các bệnh nhân MMT mang lại những thách thức mới cho các chương trình MMT hiện tại và nhấn mạnh nhu cầu về các can thiệp tâm lý và điều chỉnh các quy trình điều trị [30]

Trang 27

Tuân thủ điều trị

Khi bệnh nhân điều trị Methadone tuân thủ đúng quy trình điều trị thì bệnh nhân sẽ không nghĩ đến việc SDMT, những bệnh nhân bỏ liều, điều trị không đầy đủ theo quy định có nguy cơ SDMT cao hơn, trên 75% bệnh nhân không tuân thủ điều trị [15] Theo kết quả nghiên cứu Trần Minh Hoàng, tỷ lệ SDMT cao hơn ở nhóm bệnh nhân tuân thủ điều trị kém hơn Sau thời gian 2 năm điều trị tỷ lệ tiếp tục SDMT trong nhóm bệnh nhân dừng 1-2 ngày uống thuốc cao hơn trong nhóm không dừng uống thuốc ngày nào [13]

1.5.3 Nhóm yếu tố từ gia đình, bạn bè

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuận trên 248 bệnh nhân đang điều trị Methadone cho thấy tỷ lệ ĐTNC có người thân/bạn bè hiện còn sử dụng ma túy là 39,5%, và những ĐTNC có người thân/bạn bè SDMT nguy cơ sử dụng ma túy trong quá trình điều trị cao gấp 2,8 lần nhóm còn lại (p<0,05) [19]

Nghiên cứu của Ward và cộng sự cho thấy, bệnh nhân được nhận hỗ trợ xã hội thích hợp có khả năng thành công cao hơn trong chương trình MMT Việc không sống cùng bạn tình hoặc gia đình là những yếu tố làm cho bệnh nhân có nhiều khả năng tái SDMT hoặc vi phạm pháp luật nếu họ rời khỏi chương trình điều trị [29]

1.5.4 Nhóm yếu tố liên quan từ dịch vụ điều trị

Những yếu tố từ dịch vụ điều trị cũng là một trong những yếu tố tác động không nhỏ tới quá trình điều trị của bệnh nhân Nghiên cứu của Steven Alex và cộng

sự năm 2008 tại Anh cho thấy những yếu tố ảnh hưởng đến bệnh nhân bỏ trị đó là chưa tin tưởng vào điều trị, cán bộ cơ sở, giờ mở cửa của dịch vụ chưa phù hợp, kỹ năng tư vấn còn hạn chế [34] Việc hàng ngày phải đến cơ sở uống thuốc ảnh hưởng đến thời gian và công việc của họ [9] [34]

Nghiên cứu của Phạm Thị Bích đối với 150 bệnh nhân đang điều trị methadone tại Thành phố Hải Dương năm 2015 cho thấy những bệnh nhân không hài lòng với thái độ của cán bộ y tế cơ sở điều trị thì khả năng sử dụng lại chất gây nghiện cao hơn

so với những bệnh nhân hài lòng với thái độ của cán bộ y tế, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,01) [2]

Trang 28

1.6 Khung lý thuyết

Qua tổng quan tài liệu từ các nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước [15], [19], [22], [29], [30], chúng tôi đã xây dựng khung lý thuyết theo khung lý thuyết hệ thống y tế thế giới.( Phụ lục 1)

1.7 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu

Châu Đốc là thành phố biên giới phía Tây Nam tổ quốc, với khoảng 120.000 dân, có khu Du lịch Quốc gia Miếu Bà Chúa xứ hàng năm đón trên 4 triệu lượt du khách đến hành hương cúng lễ Do đó, tệ nạn xã hội cũng như việc lây truyền HIV là không tránh khỏi [22]

Số người nghiện ma túy của theo ước tính là 585 người, số người nghiện ma túy quản lý được ở cộng đồng tập trung chủ yếu ở các phường nội ô Theo báo cáo của Trung tâm Y tế thành phố tháng 12 năm 2016, trong số người nhiễm HIV được phát hiện có 26,43% là người tiêm chích ma túy Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT tại vẫn ở mức cao so với các địa phương khác trong tỉnh [22]

Tính đến ngày 31/12/2016 trên địa bàn thành phố Châu Đốc có số lũy tích nhiễm HIV phát hiện là 1.097 trường hợp, chuyển sang AIDS là 756 trường hợp, tử vong do AIDS là 450 trường hợp [22]

Cơ sở điều trị Methadone thành phố Châu Đốc bắt đầu hoạt động chính thức

từ tháng 11/2012, đến nay đã có 233 bệnh nhân đang được uống thuốc hằng ngày tại

cơ sở, trong đó có 212 bệnh nhân đã vào giai đoạn duy trì [22]

Tổng số bệnh nhân thu dung điều trị: 439 bệnh nhân Trong đó, có 205 bệnh nhân đã dừng điều trị, tỷ lệ chiếm: 46,24/% Trong 203 bệnh nhân này có: 111 bệnh nhân bỏ liều nhiều lần, bỏ trị; 72 bệnh nhân Công an bắt do phạm pháp hình sự, vi phạm pháp luật; 01 xin chuyển vào cai nghiện tập trung; 01 bệnh nhân xin ra khỏi chương trình; 19 xin chuyển đến cở sở khác điều trị; 06 bệnh nhân tử vong

Bình quân mỗi tháng có khoảng từ 17 - 20 bệnh nhân không tuân thủ điều trị (bỏ liều 1-2 liều/tháng) chiếm tỷ lệ 7-8%[22]

Trang 29

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Với nghiên cứu định lượng

Hồi cứu sổ sách, báo cáo về hoạt động của Cơ sở điều trị Methadone của thành

phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, từ tháng 12/2013 tới tháng 12/2017

Hồ sơ bệnh án: Sổ sách và bệnh án của tất cả bệnh nhân đang tham gia điều

trị nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone tại các cơ sở điều trị Methadone Châu Đốc

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh án:

- Bệnh án có đầy đủ thông tin theo các tiêu chí được lựa chọn

2.1.2 Với nghiên cứu định tính

- Bệnh nhân đang điều trị Methadone ít nhất được 6 tháng tại Cơ sở điều trị Methadone TP Châu Đốc

- Cán bộ làm việc tại cơ sở điều trị Methadone của thành phố Châu Đốc: Phụ trách cơ sở điều trị, Bác sỹ điều trị, Cán bộ tư vấn, Cán bộ Hành chính

- Người hỗ trợ của những bệnh nhân đang điều trị Methadone tại Cơ sở Methadone Châu Đốc ít nhất được 6 tháng

- Lãnh đạo TTYT phụ trách phòng khám Methadone

- Lãnh đạo TTPC HIV/AIDS tỉnh phụ trách chương trình Methadone

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang từ tháng

10/2017 đến tháng 09/2018

2.3 Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính 2.4 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu định lượng: Chọn toàn bộ các hồ sơ bệnh án của bệnh nhân tham gia điều trị Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang năm 2018 Sau nghiên cứu có 210 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân được tuyển chọn và trích lục

Trang 30

Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu định tính: nhằm phân tích sâu hơn về kết quả dịch vụ điều trị MMT tại thành phố Châu Đốc tỉnh An Giang, các yếu tố liên quan tới việc triển khai dịch vụ điều trị MMT và một số đề xuất nhằm nâng cao kết quả chương trình điều trị MMT

Chọn chủ đích 18 bệnh nhân tại cơ sở điều trị ít nhất được 6 tháng cho 3 cuộc thảo luận nhóm tập trung như sau:

 Nhóm 1 là những bệnh nhân có thời gian điều trị từ đủ 6 tháng đến dưới

12 tháng;

 Nhóm 2 là những bệnh nhân có thời gian điều trị từ đủ 12 tháng đến dưới 18 tháng;

 Nhóm 3 là những bệnh nhân điều trị từ đủ 18 tháng trở lên

Mỗi cuộc thảo luận nhóm bao gồm 6 bệnh nhân và phải đảm bảo các tiêu chí để giúp đạt được sự đa dạng về đặc điểm của các bệnh nhân:

 Thảo luận 2 nhóm, gồm 12 người hỗ trợ bệnh nhân đang điều trị Methadone

ít nhất được 6 tháng chia làm 2 nhóm cho 2 cuộc thảo luận nhóm tập trung (6 người/cuộc) Mỗi cuộc thảo luận nhóm phải đảm bảo tiêu chí: có người hỗ trợ của những bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt, tuân thủ chưa tốt, có việc làm, thất nghiệp,

cư trú tại TP Châu Đốc Những thông tin trên do cán bộ hành chánh của cơ sở điều trị Methadone cung cấp

 Phỏng vấn sâu trưởng cơ sở điều trị Methadone của thành phố Châu Đốc

 Phỏng vấn sâu 01 GĐ Trung tâm phòng chống AIDS tỉnh An Giang

 Phỏng vấn sâu 01 Phó Giám đốc Trung tâm Y tế phụ trách CSĐT MTD

2.5 Quy trình thu thập thông tin

2.5.1.Công cụ thông thập thông tin

Công cụ thu thập thông tin cho nghiên cứu định lượng là biểu mẫu chiết xuất

dữ liệu từ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân điều trị methadone tại cơ sở điều trị Methadone thành phố Châu Đốc

Công cụ thu thập thông tin cho nghiên cứu định tính là hướng dẫn thảo luận

nhóm với các chủ đề về: Đánh giá hiệu quả dịch vụ điều trị MMT TP Châu Đốc, sự

Trang 31

hài lòng của bệnh nhân với kết quả điều trị, các yếu tố liên quan tới hiệu quả dịch vụ

điều trị MMT và một số đề xuất nhằm nâng cao kết quả chương trình điều trị MMT 2.5.2 Quy trình thu thập thông tin

Đối với nghiên cứu định lượng, chúng tôi tiến hành hồi cứu hồ sơ bệnh án theo các bước sau:

- Bước 1: Liên hệ nhân viên hành chính, lập danh sách tất cả bệnh nhân đang điều trị Methadone

- Bước 2: Loại những hồ sơ bệnh án của bệnh nhân không được đánh giá trước điều trị, sau 3 tháng, 6 tháng và từ 9 tháng điều trị hoặc không đầy

- Bước 1: Mời đối tượng vào hội trường cơ sở điều trị MMT

- Bước 2: Giới thiệu nghiên cứu, mục đích, nguy cơ, lợi ích, sự tự nguyện tham gia nghiên cứu của đối tượng nghiên cứu và thời gian thảo luận cho nghiên cứu

- Bước 3: Tiến hành thảo luận nhóm theo bản Hướng dẫn thảo luận nhóm cho từng đối tượng

- Bước 4: Kết thúc thảo luận nhóm Cảm ơn đối tượng đã tham gia

2.6 Tiêu chuẩn đánh giá

Tình trạng sử dụng ma túy của bệnh nhân được cải thiện tốt khi bệnh nhân giảm sử dụng ma túy sau điều trị

Cân nặng cơ thể được cải thiện tốt là khi trọng lượng trung bình của các bệnh nhân tăng sau điều trị

Tình trạng nhiễm HIV, viêm gan B, C của bệnh nhân được cải thiện tốt là khi không phát hiện trường hợp nhiễm mới nào sau điều trị

Trang 32

Tình trạng việc làm của bệnh nhân được cải thiện tốt khi tỷ lệ bệnh nhân thất nghiệp giảm xuống sau điều trị

Điều kiện nhà ở của bệnh nhân được cải thiện tốt khi tỷ lệ bệnh nhân có nhà ở

ổn định tăng lên sau điều trị

2.7 Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu được phân tích bằng các thuật toán thống kê mô tả và thống kê phân tích, sử dụng phần mềm SPSS

Phân tích thống kê mô tả được sử dụng để miêu tả các đặc điểm nhân khẩu học

và tình trạng sức khỏe của đối tượng nghiên cứu, phân chia theo từng nhóm đối tượng như: nam/ nữ, khu vực thành thị/nông thôn

Các số liệu định tính sau khi thu thập được tách băng và phân tích theo các chủ

đề tương ứng với mục tiêu nghiên cứu

2.8 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ được triển khai sau khi được Hội đồng đạo đức nghiên cứu Y Sinh học - Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua

Trước khi thu thập thông tin, đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích và lợi ích nghiên cứu Việc tham gia của đối tượng nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện

Nghiên cứu không làm ảnh hưởng tới các hoạt động điều trị cho đối tượng nghiên cứu tại trung tâm

Mọi thông tin về cá nhân của đối tượng nghiên cứu được giữ kín Thông tin được đảm bảo bí mật và mã hóa toàn bộ các câu trả lời Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác

2.9 Sai số và cách khắc phục

Sai số chọn: Người bệnh được lựa chọn trong nghiên cứu chỉ được chọn ở cơ

sở điều trị, do đó chưa đại diện cho quần thể người bệnh tham gia điều trị thay thế bằng Methadone

Sai số thông tin:

- Sai số trong quá trình ghi chép bệnh án của CBYT

Trang 33

- Sai số do điều tra viên: Điều tra viên bỏ sót câu hỏi khi thu thập thông tin, sai số khi ghi chép thông tin, sai số do điều tra viên không hiểu rõ về câu hỏi

- Sai số do người trả lời phỏng vấn: sai số tự khai báo, sai số nhớ lại, đặc biệt khi hỏi một số thông tin nhạy cảm như sử dụng ma túy và HIV

- Sai số trong quá trình nhập liệu

Cách khắc phục sai số thông tin:

- Đối với các dữ liệu nghi ngờ có sai sót được hỏi lại hoặc kiểm tra lại với CBYT

- Tập huấn kĩ cho các điều tra viên: huấn luyện kỹ điều tra viên về bộ câu hỏi cũng như một số ngôn ngữ ở địa phương

- Đối với sai số do đối tượng trả lời: hỏi chi tiết kỹ hơn, kiểm tra chéo thông tin bằng cách lập lại câu hỏi, nhấn mạnh tính bí mật và quyền riêng tư

- Đối với sai số trong quá trình thu thập số liệu: Giám sát, kiểm tra số liệu tại thực địa

- Đối với sai số trong quá trình làm sạch số liệu và nhập liệu: Đọc phiếu và làm sạch trước khi nhập liệu, Tạo các tệp check của phần mềm nhập liệu nhằm hạn chế sai số trong quá trình nhập liệu

- Làm sạch các số liệu bị thiếu và số liệu vô lý trước khi phân tích

Trang 34

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Kết quả thực hiện chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Trung tâm Y tế thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang từ năm

2013 đến 2017:

3.1.1 Tình hình chung của cơ sở điều trị Methadone Châu Đốc

Cơ sở methadone được xây dựng từ tháng 9/2012, từ sửa chữa lại cơ sở vật chất của Trung tâm Y tế thành phố Châu Đốc Kinh phí xây dựng từ nguồn của Ủy ban nhân dân Châu Đốc khoảng 800 triệu, cùng với khoảng 500 triệu đồng trang thiết

bị của dự án WB tài trợ Kinh phí hoạt động các năm như sau:

Bảng 3.1 Kinh phí hoạt động qua các năm Kinh

3.1.2 Số bệnh nhân thu dung qua các năm

Bảng 3.2 Số bệnh nhân qua các năm

Trang 35

Tổng số bỏ trị 5 năm qua là 205 bệnh nhân, số bệnh nhân thu dung điều trị đến cuối năm 2017 là 233

3.1.3 Số bệnh nhân bỏ trị theo nguyên nhân:

Biểu đồ 3.1 Bệnh nhân bỏ trị

Nhận xét:

Trong số bệnh nhân bỏ trị thì lý do bỏ liều là cao nhất với 111 bệnh nhân, thấp nhất là xin ra khỏi chương trình chỉ có 1 bệnh nhân

3.2 Đặc điểm của các bệnh nhân đang điều trị Methadone

3.2.1 Đặc điểm nhân khẩu học

Bảng 3 3: Một số đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu

Trang 36

3.2.2 Đặc điểm sử dụng chất gây nghiện

Bảng 3.4: Đặc điểm sử dụng chất gây nghiện

Tuổi lần đầu sử dụng ma túy

Tuổi lần đầu TCMT

Trang 37

Tiền sử cai nghiện ma túy

Trang 38

3.2.3 Thông tin về bệnh nhân

Bảng 3 5 Thông tin về điều trị Methadone

Loại bệnh nhân

Thời gian điều trị Methadone

Trang 39

Phần lớn bệnh nhân chỉ điều trị Methadone (90%) và thời gian điều trị từ 9 tháng trở lên (92,4%) Liều khởi đầu được ghi nhận với trung vị là 20 mg/ngày

3.3 Một số kết quả điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone tại TP Châu Đốc tỉnh An Giang, từ tháng 1/2013 đến tháng 12/2017

3.3.1 Tình hình sử dụng chất gây nghiện của bệnh nhân

Trang 40

Biểu đồ 3.2 Tình trạng sử dụng ma túy qua 5 năm

Nhận xét:

Số bệnh nhân xét nghiệm dương với heroin giảm từ 11,8% còn 6,9% qua 5 năm; tuy nhiên số xét nghiệm dương với methamphethamine gia tăng từ 6,7% lên 13,3% qua 5 năm điều trị

3.3.2 Tình hình thay đổi liều điều trị của bệnh nhân

Bảng 3.7: Tình hình thay đổi liều điều trị của bệnh nhân

Đặc tính

Sau 3 tháng Sau 6 tháng Sau 9 tháng

Số lượng %

Số lượng %

Số lượng %

Tỷ lệ bệnh nhân tăng liều

Ngày đăng: 30/01/2021, 16:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thị Minh An (2015), “Thực trạng bỏ trị của bệnh nhân tại các cơ sở Methadone tỉnh Thái Nguyên năm 2011 – 2015 và các yếu tố liên quan” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng bỏ trị của bệnh nhân tại các cơ sở Methadone tỉnh Thái Nguyên năm 2011 – 2015 và các yếu tố liên quan
Tác giả: Đào Thị Minh An
Năm: 2015
2. Phạm Thị Bích (2015), “ Kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone và một số yếu tố liên quan tại huyện Kinh Môn – Hải Dương năm 2015”, Luận văn thạc sỹ, Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone và một số yếu tố liên quan tại huyện Kinh Môn – Hải Dương năm 2015
Tác giả: Phạm Thị Bích
Năm: 2015
3. Bộ Y tế (2010), “Hướng dẫn Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone – Ban hành kèm theo quyết định số 3140/QĐ-BYT ngày 30/8/2010 của Bộ trưởng Bộ y tế”, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hướng dẫn Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone – Ban hành kèm theo quyết định số 3140/QĐ-BYT ngày 30/8/2010 của Bộ trưởng Bộ y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2010
4. Bộ Y tế và cộng sự (2013), “Đánh giá hiệu quả của chương trình thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá hiệu quả của chương trình thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh”
Tác giả: Bộ Y tế và cộng sự
Năm: 2013
5. Bộ Y tế (2015), “ Tài liệu đào tạo điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Tài liệu đào tạo điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone”
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2015
6. Bộ Y tế (2016), “Báo cáo công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2015 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2016” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2015 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2016
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2016
7. Bộ Y tế (2017), “Báo cáo công tác, phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2017 và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2017” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo công tác, phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2017 và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2017
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2017
8. Chính phủ (2016), “Nghị định quy định về điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng chất thay thế”. Số 90/2016-NĐ-CP Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghị định quy định về điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng chất thay thế”
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
9. Cục phòng, chống HIV/AIDS (2012), “ Tập huấn điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Tập huấn điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone”
Tác giả: Cục phòng, chống HIV/AIDS
Năm: 2012
10. Hoàng Đình Cảnh, Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Văn Hưng (2013), "Bước đầu đánh giá hiệu quả mô hình thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng (2009-2011)", Y học thực hành. 7, tr. 102-107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu đánh giá hiệu quả mô hình thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng (2009-2011)
Tác giả: Hoàng Đình Cảnh, Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Văn Hưng
Năm: 2013
11. Trần Quang Đạo (2016), “Bỏ trị của bệnh nhân điều trị Methadone tại thành phố Hòa Bình tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2012-2015: Thực trạng và một số yếu tố liên quan”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bỏ trị của bệnh nhân điều trị Methadone tại thành phố Hòa Bình tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2012-2015: Thực trạng và một số yếu tố liên quan
Tác giả: Trần Quang Đạo
Năm: 2016
12. Lê Quân Hải (2017), “Đánh giá kết quả điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại tỉnh Tuyên Quang từ tháng 12/2013 đến tháng 05/2016”.Luận văn chuyên khoa cấp II, trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá kết quả điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại tỉnh Tuyên Quang từ tháng 12/2013 đến tháng 05/2016”
Tác giả: Lê Quân Hải
Năm: 2017
13. Trần Minh Hoàng (2014), “Một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng ma túy của người nhiễm HIV tham gia chương trình điều trị MMT tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh 2009-2011”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng ma túy của người nhiễm HIV tham gia chương trình điều trị MMT tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh 2009-2011
Tác giả: Trần Minh Hoàng
Năm: 2014
14. Vương Kỳ Hùng (2015), “Kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone ở người nghiện chích ma túy tại thành Bắc Giang năm 2015”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone ở người nghiện chích ma túy tại thành Bắc Giang năm 2015
Tác giả: Vương Kỳ Hùng
Năm: 2015
17. Sở y tế Hà Nội (2017), “Báo cáo kết quả triển khai chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone trên địa bàn thành phố Hà Nội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo kết quả triển khai chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả: Sở y tế Hà Nội
Năm: 2017
18. Nguyễn Thanh Sơn (2015), “ Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại thành phố Tân An, Tỉnh Long An năm 2015”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại thành phố Tân An, Tỉnh Long An năm 2015”
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn
Năm: 2015
19. Nguyễn Thị Thuận (2017), “ Thực trạng sử dụng ma túy và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân điều trị methadone tại thành phố Hải Dương năm 2017”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Thực trạng sử dụng ma túy và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân điều trị methadone tại thành phố Hải Dương năm 2017”
Tác giả: Nguyễn Thị Thuận
Năm: 2017
20. Đinh Thị Thanh Thúy, Trần Minh Hoàng, Vương Thị Hương Thu, Lê Minh Giang (2013), “Tiếp cận dịch vụ y tế xã hội của bệnh nhân điều trị Methadone tại Hải Phòng năm 2013”, Trường đại học Y Hà Nội; Tổ chức Sức khỏe gia đình Quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiếp cận dịch vụ y tế xã hội của bệnh nhân điều trị Methadone tại Hải Phòng năm 2013”
Tác giả: Đinh Thị Thanh Thúy, Trần Minh Hoàng, Vương Thị Hương Thu, Lê Minh Giang
Năm: 2013
21. Tổ chức sức khỏe quốc tế (2008), “ Sổ tay thông tin điều trị Methadone cho bệnh nhân” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Sổ tay thông tin điều trị Methadone cho bệnh nhân
Tác giả: Tổ chức sức khỏe quốc tế
Năm: 2008
22. TTYT thành phố Châu Đốc (2017), “Báo cáo công tác phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS năm 2016, kế hoạch năm 2017” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo công tác phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS năm 2016, kế hoạch năm 2017
Tác giả: TTYT thành phố Châu Đốc
Năm: 2017

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w