I- TÊN ĐỀ TÀI: ỨNG DỤNG ARCGIS XÂY DỰNG BỘ CÔNG CỤ HỖ TRỢ TỔNG QUÁT HÓA TỰ ĐỘNG CHO DỮ LIỆU BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH TỶ LỆ LỚN II- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG: - Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực ti
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH
ỨNG DỤNG ARCGIS XÂY DỰNG BỘ CÔNG CỤ
HỖ TRỢ TỔNG QUÁT HÓA TỰ ĐỘNG CHO
DỮ LIỆU BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH TỶ LỆ LỚN
Chuyên ngành: Bản đồ, viễn thám và hệ thông tin địa lý
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 1 năm 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Vũ Xuân Cường
Cán bộ chấm nhận xét 1: TS Lê Trung Chơn
Cán bộ chấm nhận xét 2: TS Lâm Đạo Nguyên
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại Học Bách Khoa, ĐHQG Tp HCM
ngày 5 tháng 1 năm 2012
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 CHỦ TỊCH: TS TRẦN TRỌNG ĐỨC
2 THƯ KÝ: TS NGUYỄN KIM LỢI
3 PHẢN BIỆN 1: TS LÊ TRUNG CHƠN
4 PHẢN BIỆN 2: TS LÂM ĐẠO NGUYÊN
5 ỦY VIÊN: TS VŨ XUÂN CƯỜNG
Xác nhận của Chủ Tịch Hội đồng đánh giá luận văn và Bộ môn quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa
Chủ Tịch Hội đồng đánh giá luận văn Bộ môn quản lý chuyên ngành
Trang 3
Tp HCM, ngày 2 tháng 12 năm 2011
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Hồng Hạnh Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 04/07/1983 Nơi sinh: Nghệ An
Chuyên ngành: Bản đồ, viễn thám và hệ thông tin địa lý MSHV: 01008169
Khoá (Năm trúng tuyển): 2008
I- TÊN ĐỀ TÀI: ỨNG DỤNG ARCGIS XÂY DỰNG BỘ CÔNG CỤ HỖ TRỢ TỔNG QUÁT HÓA TỰ ĐỘNG CHO DỮ LIỆU BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH TỶ LỆ LỚN
II- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn về tổng quát hoá và tổng quát hoá tự động nội dung bản đồ địa hình
- Đảm bảo khả năng sử dụng phần mềm GIS ở mức tuỳ biến các công cụ, chức năng và phát triển ứng dụng
- Hình thành quy trình tổng quát hoá tự động nội dung bản đồ trong môi trường ArcGIS
- Hiện thực hoá cơ sở lý thuyết và các quy định về tổng quát hoá vào trong môi trường ArcGIS thành các công cụ, nhóm công cụ
III- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 22/01/2011
IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 02/12/2011
V- CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS VŨ XUÂN CƯỜNG
Trang 4Trước hết cho tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tập thể quý Thầy,
Cô đã hướng dẫn, giảng dạy tôi trong quá trình học tại Trường Đại học Bách khoa
Thành phố Hồ Chí Minh Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc
nhất tới TS Vũ Xuân Cường đã trực tiếp hướng dẫn tôi và truyền đạt cho tôi những
kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện đề
tài
Tôi xin chân thành gửi lời cám ơn tới Ban Giám Hiệu, quý thầy cô Khoa
Quản Lý Đất Đai và Bất Động Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí
Minh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập, làm việc và thực
hiện đề tài Đặc biệt, tôi xin gửi lời tri ân tới Thầy Đặng Quang Thịnh đã giúp đỡ,
động viên, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình thực hiện đề
tài
Xin cảm ơn các bạn bè, các bạn đồng nghiệp, các anh chị học viên cao
học khóa 2008, 2009 đã tận tình giúp đỡ tôi để tôi hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn tới tất cả những người thân trong gia đình đã giúp đỡ,
khuyến khích và động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện
luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Tp Hồ Chí Minh, ngày 2 tháng 12 năm 2011
Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Trang 5Tổng quát hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình thành lập bản đồ, vì trên bề mặt trái đất có rất nhiều yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội mà bản
đồ không thể biểu thị hết được nên phải chọn các yếu tố chủ yếu và khái quát các đặc trưng về hình dạng, số lượng, chất lượng các yếu tố nội dung cho phù hợp với mục đích, nội dung và tỷ lệ bản đồ
Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin một số công
ty đã xây dựng được nhiều phần mềm, nhiều công cụ hỗ trợ cho tổng quát hóa bản
đồ Một trong những công cụ tổng quát hóa bản đồ phổ biến nhất là bộ công cụ ArctoolBox trong phần mềm ArcGIS của hãng ESRI Các công cụ này đem lại sự tiện ích nhất định cho tác nghiệp viên biên tập dữ liệu bản đồ đồng thời cung cấp một cách linh hoạt với các phương án sử dụng khác nhau Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có nhiều hạn chế như các công cụ chỉ sử dụng để tổng quát hóa các đối tượng độc lập và để sử dụng và phối hợp các công cụ lại với nhau nhằm đem lại kết quả tốt nhất đòi hỏi biên tập viên phải có kinh nghiệm, kiến thức, biết cách chọn lọc và cân nhắc kỹ lưỡng trong quá trình tác nghiệp
Để giải quyết vấn đề trên kết hợp với sở khoa học về tổng quát hóa bản
đồ cũng như đặc điểm và cách thể hiện các yếu tố nội dung bản đồ địa hình ở các tỷ
lệ khác nhau kết hợp với các quy định, quy phạm về thành lập và biên tập bản đồ địa hình Việt Nam tác giả đã xây dựng, hiện thực hóa các công cụ đó bằng một quy trình thống nhất để tổng quát hóa tự động lớp đối tượng nhà trên bản đồ địa hình tỷ
lệ lớn trong môi trường ArcGIS dựa trên mối quan hệ các thành phần COM, thư viện ArcObject, geoprocessing của ArcInfo và ngôn ngữ lập trình VBA được tích hợp trong ArcObject
Kết quả đạt được là một chương trình tổng quát hóa tự động trong môi trường ArcGIS với các chức năng phục vụ cho người dùng tổng quát hóa lớp dữ liệu nhà trong vùng dân cư từ tỷ lệ 1:2000 xuống tỷ lệ 1:10 000
Trang 6CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 TỔNG QUAN 1
1.1.1 Đặt vấn đề 1
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 7
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 7
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 7
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 8
1.4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
1.4.1 Nội dung nghiên cứu 8
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu 8
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH 11
2.1 KHÁI NIỆM VỀ BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH 11
2.2 CÁC TÍNH CHẤT CỦA BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH 12
2.3 PHÂN LOẠI BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH 13
2.3.1 Phân loại theo mức độ khái quát hoá nội dung 13
2.3.2 Phân loại theo tỷ lệ 13
2.3.3 Phân loại theo ý nghĩa sử dụng 13
2.4 VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH 14
2.5 NỘI DUNG CỦA BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH 16
2.6 PHƯƠNG PHÁP THỂ HIỆN VÀ TỔNG QUÁT HÓA CÁC YẾU TỐ NỘI DUNG TRÊN BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH 17
2.6.1 Cơ sở toán học của bản đồ địa hình 17
2.6.2 Yếu tố thủy hệ và các đối tượng liên quan 19
2.6.3 Dân cư các đối tượng liên quan 21
Trang 72.6.6 Đặc điểm thể hiện và tổng quát hóa yếu tố đất và thực vật 30
CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 33
3.1 KHÁI NIỆM VỀ TỔNG QUÁT HÓA BẢN ĐỒ VÀ TỔNG QUÁT HÓA BẢN ĐỒ TỰ ĐỘNG 33
3.1.1 Sự cần thiết phải tổng quát hóa bản đồ 33
3.1.2 Khái niệm tổng quát hóa bản đồ và tổng quát hóa bản đồ tự động 34
3.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔNG QUÁT HÓA BẢN ĐỒ 36
3.3 CÁC DẠNG TỔNG QUÁT HÓA BẢN ĐỒ 39
3.3.1 Lựa chọn các đối tượng và hiện tượng 39
3.3.2 Tổng quát hóa hình dạng 40
3.3.3 Tổng quát hóa đặc trưng số lượng 40
3.3.3 Tổng quát hóa đặc trưng chất lượng 41
3.4 CÁC HÌNH THỨC TỔNG QUÁT HÓA BẢN ĐỒ 41
3.4.1 Đơn giản hóa (Simplification) 41
3.4.2 Cường điệu hóa (Exaggeration) 42
3.4.3 Giảm tính chi tiết (Refinement) 43
3.4.4 Làm trơn (smoothing) 44
3.4.5 Phá vỡ (Collapse) 44
3.4.6 Xê dịch (Displacement) 44
3.4.7 Gộp vùng (Amalgamation) 45
3.4.8 Gộp điểm (Aggregation) 45
3.4.9 Hợp nhất (Merging) 46
3.5 GIỚI THIỆU VỀ ARCGIS VÀ CÁC CÔNG CỤ TỔNG QUÁT HÓA TRONG PHẦN MỀM ARCGIS 46
3.5.1 Giới thiệu về ArcGIS 46
3.5.2 Các công cụ tổng quát hóa trong ArcGIS 9.3 51
3.5.3 Các phương án sử dụng công cụ tổng quát hóa 54
Trang 83.6.2 Giới tthệu về ArcObject 62
3.6.3 Ngôn ngữ lập trình 63
3.7 GIỚI THIỆU VỀ PHẦN MỀM MICROSTATION 64
CHƯƠNG 4: XÂY DỰNG VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH CỦA CHƯƠNG TRÌNH TỔNG QUÁT HÓA TỰ ĐỘNG 65
4.1 MÔ TẢ BÀI TOÁN ỨNG DỤNG 65
4.2 QUY TRÌNH TỔNG QUÁT HÓA CHO LỚP DÂN CƯ TRÊN BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH TRONG MÔI TRƯỜNG ARCGIS 66
4.3 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH VÀ QUY TRÌNH CỦA CHƯƠNG TRÌNH TỔ2G QUÁT HÓA BẢN ĐỒ TỰ ĐỘNG 72
4.3.1 Mô hình tổng thể của chương trình 72
4.3.2 Đề xuất quy trình tổng quát hóa bản đồ tự động 74
CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH, THIẾT KẾ HỆ THỐNG 75
5.1 PHÂN TÍCH, THIẾT KẾ CƠ SỞ DỮ LIỆU BẢN ĐỒ 75
5.1.1Phân tích, xác định các thực thể và các thuộc tính của các đối tượng tham gia tổng quát hóa bản đồ 75
5.1.2 Mô tả mối quan hệ giữa các đối tượng trong cơ sở dữ liệu 77
5.2 THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU 78
5.2.1 Thiết kế cơ sở dữ liệu mức luận lý 78
5.2.2 Thiết kế cơ sở dữ liệu mức vật lý 80
5.3 PHÂN TÍCH, THIẾT KẾ CƠ SỞ DỮ LIỆU TỔNG QUÁT HÓA 82
5.3.1 Phân tích, xác định các chỉ tiêu tổng quát hóa bản đồ 82
5.3.2 Thiết kế cơ sở dữ liệu tổng quát hóa 85
5.4 PHÂN TÍCH, LỰA CHỌN THUẬT TOÁN TỔNG QUÁT HÓA BẢN ĐỒ 85 5.4.1 Phân tích, xác định các thuật toán tham gia tổng quát hóa bản đồ 85
5.4.2 Thiết kế các thuật toán tổng quát hóa bản đồ 88
5.5 THIẾT KẾ CHỨC NĂNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH ỨNG DỤNG 90
Trang 9CHƯƠNG 6: TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG VẬN HÀNH THỬ NGHIỆM VÀ
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 96
6.1 TRIỂN KHAI XÂY DỰNG ỨNG DỤNG 96
6.1.1 Tổng quan về chương trình ứng dụng 96
6.1.2 Xây dựng ứng dụng 96
6.2 CHUẨN BỊ VÀ CHUẨN HÓA DỮ LIỆU PHỤC VỤ CHO TỔNG QUÁT HÓA BẢN ĐỒ 101
6.2.1 Quy trình chuẩn bị và chuẩn hóa nguồn dữ liệu 101
6.2.2 Thu thập, phân tích, đánh giá nguồn dữ liệu 101
6.2.3 Đánh giá nguồn dữ liệu 103
6.2.4 Biên tập và trình bày bản đồ 103
6.3 VẬN HÀNH THỬ NGHIỆM CHƯƠNG TRÌNH 107
6.3.1 Sơ đồ quy trình vận hành thử nghiệm 107
6.3.2 Thử nghiệm với các chức năng của chương trình ứng dụng 108
6.4 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BẢN ĐỒ SAU TỔNG QUÁT HÓA 112
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 114
Trang 10Trang
Hình 1.1: Các công cụ trong Generalization Toolset 4
Hình 2.1: Phép chiếu UTM 18
Hình 2.2: Mô phỏng yếu tố thủy hệ trên bản đồ địa hình 19
Hình 2.3: Mô phỏng yếu tố dân cư trên bản đồ địa hình 22
Hình 2.4: Hệ thống các đường đồng mức 29
Hình 2.5: Mô phỏng yếu tố thực vật trên bản đồ địa hình 31
Hình 3.1: Tổng quát hóa hình dạng hình học 40
Hình 3.2: Cường điệu hóa (Exaggeration) 43
Hình 3.3: Giảm tính chi tiết (Refinement) 44
Hình 3.4: Làm trơn (smoothing) 44
Hình 3.5: Phá vỡ (Collapse) 44
Hình 3.6: Xê dịch (Displacement) 45
Hình 3.7: Gộp vùng 45
Hình 3.8: Gộp điểm (Aggregation) 45
Hình 3.9: Hợp nhất (Merging) 46
Hình 3.10: Các sản phẩm của phần mềm ArcGIS 46
Hình 3.11: Giao diện của phần mềm ArcMap 48
Hình 3.12: Giao diện của ArcCatalog 49
Hình 3.13: Các công cụ trong Generalization Toolset 52
Hình 3.14: Aggregate Polygons 52
Hình 2.15: Collapse Dual Lines To Centerline 53
Hình 3.16: Dissolve 53
Hình 3.17: Eliminate 53
Hình 3.18: Simplify Building 53
Hình 3.19: Simplify Line 54
Hình 3.20: Smooth Line 54
Hình 3.21: Simplify Polygon 54
Hình 3.22: Hộp thoại Simplify polygons 55
Hình 3.23: Tạo mới Model 56
Hình 3.24: Tổng quát hóa các tòa nhà sử dụng ModelBuilder 56
Hình 3.25: Mô hình dữ liệu đồ họa 58
Hình 3.26: Mô hình dữ liệu vector 59
Hình 3.27: Mô hình dữ liệu raster 60
Hình 3.28: Mô hình TIN 60
Hình 3.29: Mối quan hệ giữa các bảng 61
Hình 3.30: VBA tích hợp trong ArcMap 63
Hình 3.31: Giao diện phần mềm Microstation 64
Hình 4.1: Các phương án kết hợp công cụ 69
Hình 4.2: Giao diện Aggregate Polygon 70
Trang 11Hình 5.2: Quá trình tạo Personal Geodatabase 81
Hình 5.3: Kết quả tạo Geodatabase “du lieu tong quat hoa” 81
Hình 5.4: Kết quả thiết kế cơ sở dữ liệu bản đồ mức vật lý 82
Hình 5.5: Các chỉ tiêu tổng quát hóa bản đồ 84
Hình 5.6: Quá trình loại các đỉnh của thuật toán POINT_REMOVE 86
Hình 5.7: Thuật toán POINT_REMOVE với dung sai cho phép 10m 86
Hình 5.8: Thuật toán POINT_REMOVE với dung sai cho phép 20m 87
Hình 5.9: Thuật toán Bend simplify với dung sai cho phép 10m 87
Hình 5.10: Thuật toán Bend simplify với dung sai cho phép 20m 88
Hình 5.11: Giao diện chuyển đổi dữ liệu 92
Hình 5.12: Giao diện thiết lập chỉ tiêu TQH 93
Hình 5.13: Giao diện tổng quát hóa yếu tố dân cư 94
Hình 5.14: Giao diện TQH đường giao thông 94
Hình 5.15: Giao diện tạo các trường thuộc tính 95
Hình 6.1: Khởi động cửa sổ Customize 96
Hình 6.2: Cửa sổ Customize… 96
Hình 6.3: Cấu trúc của menu ứng dụng 97
Hình 6.4: Khởi động Visual Basis Editor 97
Hình 6.5: Tạo Form cho các công cụ 97
Hình 6.6: Các modul kết quả trong VB6 98
Hình 6.7: Các lỗi trên bản đồ tài liệu 105
Hình 6.8: Công cụ sửa lỗi cho yếu tố dạng đường 105
Hình 6.9: Công cụ vẽ vùng Polygons 105
Hình 6.10: Kết quả chuẩn hóa và hoàn thiện dữ liệu đồ họa 106
Hình 6.11: Bật tắt các level cần thiết 106
Hình 6.12: Xem thông tin thuộc tính 107
Hình 6.13: Hiển thị các thông tin thuộc tính 107
Hình 6.14: Giao diện chính của chương trình tổng quát hóa tự động 108
Hình 6.15: Giao diện chuyển đổi 109
Hình 6.16: Kết quả chuyển đổi dữ liệu 109
Hình 6.17: Giao diện thiết lập chỉ tiêu tổng quát hóa 110
Hình 6.18: Giao diện TQH lớp nhà 111
Hình 6.19: Kết quả TQH yếu tố dân cư 111
Hình 6.20 : Giao diện TQH đường giao thông 111
Hình 6.21: Kết quả TQH đường giao thông 112
Hình 6.22: Hiển thị kết quả 112
Hình 6.23: lớp đối tượng nhà tỷ lệ 1:2000 113
Hình 6.24: lớp đối tượng nhà ở tỷ 1:10000 113
Trang 12Trang
Sơ đồ 4.1: Quy trình tổng quát hóa bản đồ trong môi trường ArcGIS 67
Sơ đồ 4.2: Sơ đồ quy trình tổng quát hóa bản đồ của chương trình ứng dụng 74
Sơ đồ 5.1: Quy trình chuyển đổi dữ liệu 91
Sơ đồ 5.2: Quy trình thiết lập các chỉ tiêu TQH 92
Sơ đồ 5.3: Quy trình TQH lớp nhà trong vùng dân cư 93
Sơ đồ 6.1: Chuẩn bị và chuẩn hóa nguồn dữ liệu 101
Sơ đồ 6.2: Quy trình vận hành chương trình 108
Bảng 2.1: Cách biểu thị cùng dân cư trên bản đồ địa hình 23
Bảng 2.2: Quy định về khoảng cao đều trên bản đồ địa hình 30
Bảng 3.1: Trọng tải của bản đồ địa hình 38
Bảng 5.1: Phân lớp nội dung bản đồ địa hình tỷ lệ 1:2 000 76
Bảng 5.2: Phân lớp nội dung bản đồ địa hình tỷ lệ 1:10 000 76
Bảng 5.3: Các trường thuộc tính của lớp đối tượng nhà 79
Bảng 5.4: Các trường thuộc tính của lớp đường giao thông 79
Bảng 5.5: Các trường thuộc tính của các đối tượng độc lập 80
Bảng 5.6: Các trường thuộc tính của lớp cơ sở toán học 80
Bảng 5.7: Kết quả các chỉ tiêu TQH trên bản đồ tỷ lệ lớn 85
Bảng 6.1: Thống kê và giải thích các ký hiệu lớp dân cư 104
Bảng 6.2 : So sánh kết quả ở 2 tỷ lệ 113
Trang 13CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 TỔNG QUAN
1.1.1 Đặt vấn đề
Tổng quát hóa bản đồ là phương pháp đặc biệt để lựa chọn và khái quát các
yếu tố nội dung bản đồ, làm sáng tỏ và biểu thị lên bản đồ các đặc điểm đặc trưng,
những nét cơ bản, điển hình của đối tượng, hiện tượng và mối tương quan giữa chúng
với nhau, làm nổi bật quy luật phát triển tự nhiên và kinh tế xã hội [8]
Tổng quát hóa bản đồ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình thành
lập bản đồ, vì trên bề mặt trái đất có rất nhiều yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội mà
bản đồ không thể biểu thị hết được, nên phải chọn các yếu tố chủ yếu và khái quát
các đặc trưng về hình dạng, số lượng, chất lượng các yếu tố đó cho phù hợp với mục
đích, nội dung và tỷ lệ bản đồ
Trước đây để chọn lọc các yếu tố nội dung để biểu thị lên bản đồ cho phù hợp
đối với mức độ chi tiết của từng tỷ lệ đều dựa vào các thao tác thủ công của các kỹ
thuật viên cùng với những kinh nghiệm và kiến thức địa lý liên quan
Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin một số
công ty đã xây dựng được nhiều phần mềm, nhiều công cụ hỗ trợ cho tổng quát hóa
bản đồ Một trong những công cụ tổng quát hóa bản đồ phổ biến nhất là bộ công cụ
ArctoolBox trong phần mềm ArcGIS của hãng ESRI Các công cụ này đem lại sự
tiện ích nhất định cho tác nghiệp viên biên tập dữ liệu bản đồ đồng thời cung cấp một
cách linh hoạt với các phương án sử dụng khác nhau Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có
nhiều hạn chế như các công cụ chỉ sử dụng để tổng quát hóa các đối tượng độc lập và
để sử dụng các công cụ hỗ trợ đó đòi hỏi phải có sự can thiệp của kỹ thuật viên ở
nhiều công đoạn như cách phối hợp các công cụ, nghiên cứu và lựa chọn các chỉ tiêu
tổng quát hóa cho các yếu tố địa lý ở các tỷ lệ khác nhau Như vậy để sử dụng các
công cụ một cách có hiệu quả và tạo ra được các sản phẩm bản đồ chất lượng cao,
đáp ứng yêu cầu theo quy phạm hiện hành thì đòi hỏi các kỹ thuật viên phải có kiến
thức, có kinh nghiệm thực tế về tổng quát hóa bản đồ từ tỷ lệ này sang tỷ lệ khác
Vấn đề đặt ra là để tận dụng các công cụ hữu ích mà ArcGIS mang lại đồng thời khắc
Trang 14phục những vấn đề khó khăn và phức tạp cho người sử dụng khi sử dụng các công cụ
có sẵn trong phần mềm ArcGIS cần phải hiện thực hóa các công cụ đó bằng một quy
trình thống nhất để tổng quát hóa các đối tượng trên bản đồ
Ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay hầu hết các cơ quan sản xuất bản đồ đều
quản lý cơ sở dữ liệu (CSDL) về bản đồ địa hình dưới nhiều tỷ lệ khác nhau Muốn
thu nhỏ bản đồ địa hình từ tỷ lệ này xuống tỷ lệ khác thường sử dụng các công cụ có
sẵn trong các phần mềm chuyên dụng để tổng quát hóa nội dung bản đồ có sự can
thiệp của kỹ thuật viên ở nhiều công đoạn mà chưa quan tâm đến giải pháp tổng quát
hóa bản đồ tự động
Xuất phát từ những lý do trên mà học viên tiến hành thực hiện đề tài “Ứng
dụng ArcGIS xây dựng bộ công cụ hỗ trợ tổng quát hóa tự động cho dữ liệu bản
đồ địa hình tỷ lệ lớn”
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trong những năm gần đây một số quốc gia trên thế giới đã có nhiều nỗ lực,
sáng tạo trong việc nghiên cứu và phát trển các phương pháp, các giải thuật, các quy
trình xử lý và các công cụ tổng quát hóa bản đồ tự động
Bước đầu các nghiên cứu tập trung xây dựng các giải thuật và công cụ dành
cho tổng quát hóa các đối tượng hình học, mô phỏng các thao tác của các kỹ thuật
viên Chẳng hạn như giải pháp làm trơn đường Douglass – Peuker (1973) [4] và giải
thuật approximation của Lie-Openshaw (1993) [16] Các công cụ tổng quát hóa thời
kỳ đầu nhằm giảm thiểu đáng kể tác nghiệp thủ công của con người và tiết kiệm thời
gian trong quá trình biên tập bản đồ
Giai đoạn hiện nay ngoài việc xây dựng các công cụ tổng quát hóa các đối
tượng hình học nhằm mục đích thành lập bản đồ còn chú trọng hơn đến việc thể hiện
các đối tượng địa lý và nghiên cứu về tổng quát hóa mô hình, tổng quát hóa cơ sở dữ
liệu để tạo ra các gói, các tập dữ liệu từ cơ sở dữ liệu ban đầu nhằm mục đích tạo ra
được hệ thống các bản đồ đa tỷ lệ
Trang 15Với sự phát triển đó có thể kể đến một số công trình nghiên cứu quan trọng và
ảnh hưởng rất lớn đối với tổng quát hóa bản đồ cả lý thuyết lẫn ứng dụng thực tế cụ
thể như tác giả McMaster và Shed (1989) đã nghiên cứu và tổng hợp 12 tác vụ cơ
bản tổng quát hóa bản đồ như Simplycation, Smoothing, Aggregation, Selection…[24] Các tác vụ này liên quan đến biến đổi thông tin thuộc tính và không
gian của các đối tượng địa lý Nghiên cứu này là nền tảng cơ bản để xây dựng nên
các công cụ và các phần mềm tổng quát hóa bản đồ Các hoạt động này có thể sử
dụng khác nhau trong các phần mềm tổng quát hóa thương mại nhưng đều được xếp
vào nhóm các hình thức tổng quát hóa Tác giả Brassel và Weibel (1988) trình bày
tổng quan về tổng quát hóa bản đồ và ý nghĩa của nó trong việc biên tập và thành lập
bản đồ [29] Dan Lee (1992) thử nghiệm tổng quát hóa bản đồ dựa trên phần mềm
thương mại MGE (Modular GIS Environment) [14] Weibel (1993) trình bày những
kiến thức cơ bản về tổng quát hóa bản đồ, mối quan hệ giữa GIS và bản đồ và vai trò
của tổng quát hóa bản đồ trong việc xây dựng và duy trì cơ sở dữ liệu [30]
Cùng với các nghiên cứu của các tác giả đó thì các công ty phân mềm cũng
sản xuất ra các phần mềm liên quan đến tổng quát hóa bản đồ tự động và GIS như
ESRI (Mỹ), Map Generalization thuộc hãng Intergraph (Mỹ), LaserScan (Anh),
Sibgeoinform (Nga), Change (Đức)
Map Generalization là một module của MGE (Intergraph - Mỹ), là nền tảng
để thực hiện các thao tác tổng quát hóa như: loại bỏ, bẻ gãy, giản lược, làm trơn, gộp,
điển hình hóa, dịch chuyển, phóng to điểm, định hướng điểm và hiệu chỉnh vùng ở
chế độ tương tác
DynaGen cho phép người dùng thực hiện một số thao tác tổng quát hóa ở chế
độ thủ công, tương tác hoặc tự động
CHANGE là sản phẩm của Viện Nghiên cứu Bản đồ thuộc Đại học tổng hợp
Hannover (Đức), với chức năng chủ yếu thực hiện tổng quát hóa các khối nhà và
đường giao thông, dùng cho tỷ lệ 1: 10 000 xuống tỷ lệ 1: 25 000 từ cơ sở dữ liệu chi
tiết
Trang 16Ngoài ra các sản phẩm của Laser Scan (Anh) cung cấp một số công cụ để
tổng quát hóa ở chế độ tương tác thông qua giao diện người dùng và cũng có thể
chạy ở chế độ batch
Gothic Generalization là kết quả của sự hợp tác giữa hãng Laser-Scan với
các trung tâm nghiên cứu như Đại học tổng hợp Edinburgh, Đại học tổng hợp Zurich
Gothic Generalization cho phép tổng quát hoá bản đồ trên một dải tỷ lệ rộng từ 1:
10 000 đến 1: 1 000 000 và sản phẩm này đã được áp dụng thành công tại các tổ chức
bản đồ Quốc gia Đức, Pháp và các nước nam Châu Phi
Công ty phần mềm ESRI (Mỹ) đã sản xuất ra các công cụ phục vụ cho tổng
quát hóa bản đồ Các công cụ đã mang lại các tiện ích nhất định hỗ trợ tổng quát hóa
bản đồ, nhưng đòi hỏi các kỹ thuật viên phải có kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn
liên quan đến tổng quát hóa bản đồ mới tạo ra được các sản phẩm bản đồ có độ thẩm
mỹ và chất lượng tốt
Hình 1.1: Các công cụ trong Generalization Toolset [32]
Kế thừa những kết quả nghiên cứu ở trên góp phần thúc đẩy các nhà khoa học
có những nghiên cứu chuyên sâu hơn về tổng quát hóa bản đồ cũng như phát triển
các công cụ tổng quát hóa bản đồ tự động cho các yếu tố địa lý ngày càng hoàn thiện
hơn, tiện lợi hơn và đảm bào nhiều tính năng hơn Cụ thể như nghiên cứu của tác giả
Dan Lee (1999) trình bày về các giải pháp đơn giản hóa các tòa nhà và loại bỏ các
đường bao để tạo tim đường một cách tự động khi thu nhỏ tỷ lệ bản đồ bằng cách sử
Trang 17dụng thủ thuật trong hệ thống Macro [12] Năm 2005, tác giả Dan Lee, Paul Hardy
cùng với một số thành viên khác đã giới thiệu về các công cụ tổng quát hóa tự động
có sẵn trong ArcToolBox và cách sử dụng các công cụ này trong việc xử lý dữ liệu
và khái quát hóa bản đồ tự động [13] Đây là những công trình nghiên cứu quan
trọng và góp phần cho việc phát triển và mở rộng các công cụ tổng quát tự động theo
các ngữ cảnh khác nhau
Các tác giả Jantien Stoter, John van Smaalen, Nico Bakker and Paul Hardy
thuộc các đơn vị trường Đại học Công nghệ Delft Hà Lan, Hãng ESRI tại Hà Lan và
Hãng ESRI (Anh) năm 2009 đã kết hợp nghiên cứu về vấn đề xác định và so sánh,
đánh giá các tiêu chuẩn cho việc tổng quát hóa tự động bản đồ địa hình [9]
Nghiên cứu của tác giả Droppova thuộc cơ quan sản xuất bản đồ, Trường đại
học công nghệ Slovak năm 2010 đã trình bày về khả năng sử dụng các công cụ tổng
quát hóa cho dữ liệu vector trong môi trường ArcGIS và dựa trên khả năng đó để
thiết kế và thực hiện một mô hình tổng quát hóa cho các tòa nhà trên bản đồ địa hình
tỷ lệ 1: 10 000 [5]
Qua đó cho thấy các nước trên thế giới đã đạt được rất nhiều thành tựu trong
lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng TQH bản đồ Đặc biệt các nghiên cứu ngày càng
chú trọng đến vấn đề tổng quát hóa tự động các đối tượng hình học khi thể hiện trên
bản đồ ở các cấp tỷ lệ khác nhau
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu liên quan đến tổng quát hóa các yếu tố
nội dung của bản đồ địa hình theo phương pháp thủ công và đề ra các giải pháp cho
tổng quát hóa tự động bằng cách sử dụng các công cụ có sẵn trong các phần mềm của
nước ngoài Các công cụ này còn có nhiều hạn chế và chỉ sử dụng để tổng quát hóa
các đối tượng độc lập và tổng quát hóa bằng máy tính nhiều chỗ không phản ánh
đúng quy luật tự nhiên và xã hội do vậy đòi hỏi sự can thiệp của các kỹ thuật viên ở
nhiều công đoạn trong quá trình biên tập bản đồ Việc tổng quát hóa các yếu tố nội
dung bản đồ hầu như chỉ dựa vào kinh nghiệm và tính thẩm mỹ trong quá trình quan
sát trực quan của các nhà địa lý
Trang 18Một số công trình nghiên cứu liên quan đến bản đồ địa hình và vấn đề tổng
quát hóa như đề tài nghiên cứu của tác giả Vũ Bích Vân và các cộng tác viên (1991)
[26] Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở dữ liệu của nhóm bản đồ địa hình khái quát,
cụ thể như các phương pháp tổ chức CSDL số không gian, mô tả hình học các đối
tượng địa hình mặt đất, quy trình công nghệ thành lập CSDL nhóm bản đồ địa hình
khái quát, thiết kế CSDL bản đồ địa hình khái quát và tiến hành thử nghiệm Cũng
trong thời gian đó Vũ Bích Vân đã trình bày nghiên cứu cơ sở lý luận và công nghệ
thành lập hệ thống bản đồ địa hình cơ bản Việt Nam, ứng dụng công nghệ mô hình số
địa hình và thiết bị cần cho công nghệ tự động hóa Nghiên cứu còn đề cập các đặc
điểm cũng như yêu cầu tổng quát hóa bản đồ trong quá trình thành lập bản đồ địa
hình bằng phương pháp biên vẽ Tiếp đến, năm 1995 Vũ Bích Vân và một số cộng
tác viên trình bày chương trình ứng dụng phần mềm SDR để tự động hóa thành lập
bản đồ tỷ lệ lớn (1:1000; 1:5000) bằng phương pháp số [27] Năm 1999, dựa trên các
chương trình thử nghiệm Vũ Bích Vân tiếp tục nghiên cứu về cơ sở dữ liệu bản đồ
địa hình khái quát và phương pháp thiết kế và xây dựng cơ sở dữ liệu đó nhằm phục
vụ cho các mục đích khác nhau [27]
Năm 2007, tác giả Vũ Xuân Cường trình bày đề tài tự động hóa thành lập bản
đồ hiện trạng sử dụng đất trên cơ sở thông tin bản đồ địa chính số [2] Đề tài tập
trung vào các ứng dụng các công cụ tổng quát hóa các đối tượng dạng vùng để thành
lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất và thử nghiệm phần mềm hỗ trợ ghép biên tự động,
gộp vùng, giản lược đường bao và biên tập khung bản đồ từ các dữ liệu địa chính
Năm 2008, Đồng Thị Bích Phương đã trình bày đề tài nghiên cứu cơ sở khoa
học tổng quát hóa bản đồ tự động và xây dựng phần mềm tổng quát hóa bản đồ địa
hình tỷ lệ lớn Đề tài tập trung nghiên cứu, xây dựng thuật toán và phần mềm tổng
quát hóa tự động cho đối tượng dạng tuyến trên bản đồ địa hình [21]
Năm 2009, Vũ Xuân Cường và Lê Đăng Khôi đã trình bày một nghiên cứu về
đánh giá khả năng sử dụng các công cụ hỗ trợ tổng quát hóa dữ liệu bản đồ trong
ArcGIS 9.x [3]
Trang 19Năm 2010, tác giả Lê Đăng Khôi đã trình bày đề tài phân tích, thiết kế cơ sở
dữ liệu không gian hỗ trợ một số hành vi tổng quát hóa tự động dữ liệu bản đồ Đề tài
tập trung nghiên cứu cấu trúc Geodatabase và khả năng mở rộng đối tượng có xác lập
hành vi đồng thời thiết kế và xây dựng cơ sở dữ liệu không gian và giải thuật cho các
hành vi tổng quát hóa dữ liệu bản đồ [10]
Qua đó cho thấy các nghiên cứu tại Việt Nam về tổng quát hóa bản đồ đã có
sự đánh giá về các phần mềm, các công cụ hỗ trợ tổng quát hóa bản đồ tự động của
một số nước trên thế giới, còn các vấn đề ứng dụng tổng quát hóa chủ yếu sử dụng
các công cụ có sẵn trong các phần mềm thương mại để tổng quát hóa bản đồ còn vấn
đề xây dựng các chương trình ứng dụng về tổng quát hóa tự động chưa được quan
tâm
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu và xây dựng bộ công cụ tổng quát hóa tự động cho dữ liệu bản đồ
địa hình tỷ lệ lớn trong phần mềm ArcGIS
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn về tổng quát hoá và tổng quát hoá tự
động nội dung bản đồ địa hình
Đảm bảo khả năng sử dụng phần mềm GIS ở mức tuỳ biến các công cụ, chức
năng và phát triển ứng dụng
Hình thành quy trình tổng quát hoá tự động nội dung bản đồ trong môi trường
ArcGIS
Hiện thực hoá cơ sở lý thuyết và các quy định về tổng quát hoá vào trong môi
trường ArcGIS thành các công cụ, nhóm công cụ
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Khả năng sử dụng các công cụ liên quan đến tổng quát hóa bản đồ tự động
trong bộ công cụ ArcToolbox của phần mềm ArcGIS
- Các tác vụ liên quan đến tổng quát hóa bản đồ
Trang 20- Ngôn ngữ lập trình VBA (Microsoft Visual Basic For Applications) kết hợp
với thư viện ArcObjects trên ArcGIS để xây dựng các công cụ tổng quát hóa bản đồ
tự động
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu yếu tố dân cư và phương pháp tổng quát hóa yếu tố đó trên
bản đồ địa hình từ tỷ lệ 1: 2 000 – 1: 10 000
Kết quả tổng quát hóa thử nghiệm cho dữ liệu bản đồ chỉ tính đến yếu tố ảnh
hưởng là tỷ lệ bản đồ, không tính đến hệ số khu vực
1.4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung cụ thể như sau:
- Nghiên cứu về cơ sở lý luận của tổng quát hóa bản đồ liên quan đến đối tượng
dạng vùng (dân cư)
- Nghiên cứu các đặc điểm thể hiện nội dung bản đồ địa hình theo quy trình quy
phạm hiện hành tại Việt Nam Phân tích đánh giá, tổng hợp các quy định về
tổng quát hóa hiện hành Tìm hiểu ArcGIS/ ArcToolbox/ Map Generalization
Tools Nghiên cứu cách sử dụng các công cụ tổng quát hóa bản đồ có sẵn trong
phần mềm ArcGIS của ESRI
- Xây dựng, đề xuất quy trình tổng quát hóa tự động liên quan đến các đối tượng
dạng vùng (dân cư) trên bản đồ địa hình
- Phân tích, thiết kế và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho tổng quát hóa dữ liệu
bản đồ
- Chuẩn bị, chuẩn hóa, tiền xử lý dữ liệu bản đồ Thiết kế cơ sở dữ liệu bản đồ
- Lập trình xây dựng các công cụ tổng quát hóa bản đồ tự động trong phần mềm
ArcGIS và tiến hành thử nghiệm
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu
1.4.2.1 Phương tiện nghiên cứu
Phần cứng
- Máy tính có cấu hình: 2.0GHz, bộ nhớ trong 2GB
Trang 21- Thiết bị ngoại vi: màn hình 14 inch, bàn phím chuột
Phần mềm
Đề tài sử dụng các phần mềm: MicroStation, MapInfo, ArcGIS … để biên tập
bản đồ và sử dụng ngôn ngữ lập trình VBA kết hợp với thư viện ArcObjects trên
ArcGIS để xây dựng bộ công cụ hỗ trợ cho quá trình tổng quát hóa tự động
1.4.2.2 Các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Đây là phương pháp đọc và phân tích những tài liệu lý luận, các công trình
nghiên cứu đã được công bố và các tài liệu có liên quan nhằm khai thác những vấn
đề cần thiết về lý luận, về kinh nghiệm thực tế trong vấn đề tổng quát hóa bản đồ
Phương pháp phân tích, tổng hợp
Từ những tài liệu thu thập được tiến hành phân tích, tổng hợp các nội dung
cho phù hợp với đề tài nghiên cứu
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan đến bản đồ
và công nghệ thông tin để xây dựng được bộ công cụ đảm bảo khoa học, đầy đủ,
phục vụ có hiệu quả trong việc tổng quát hóa bản đồ
Phương pháp ứng dụng các phần mềm GIS
Sử dụng các công cụ trong các phần mềm GIS như Microstation, ArcGIS để
chuẩn hóa nguồn dữ liệu đầu vào làm cơ sở cho việc xây dựng các công cụ tổng quát
hóa
Phương pháp phân tích, thiết kế hệ thống
Dựa trên cơ sở lý thuyết đã được nghiên cứu, dựa trên mục tiêu của đề tài để
đưa ra mô hình hệ thống phù hợp
Phương pháp mô hình hóa
Công tác lập bản đồ nói chung như một quá trình mô hình hóa đồ họa – logic
Trong quá trình hình thành nội dung của bản đồ đòi hỏi phải phân tích sự đa dạng
của thủ pháp lập bản đồ và bao quát một bộ phận lớn của toàn bộ khoa học về bản
đồ Bất cứ một bản đồ nào cũng là một mô hình hóa của thế giới thực, được hình
Trang 22thành theo những nguyên tắc cơ bản của mô hình hóa trên cơ sở chặt chẽ về mặt toán
học của toán bản đồ và được kết cấu theo những chuẩn tắc về hình thức và nội dung
của bản đồ học Ngoài ra, phương pháp này còn được sử dụng nhằm đề xuất quy
trình thực hiện tổng quát hoá tự động trên cơ sở quy trình thủ công
Trang 23CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
2.1 KHÁI NIỆM VỀ BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
Bản đồ địa lý là mô hình thu nhỏ bề mặt trái đất lên mặt phẳng, xác định về
mặt toán học, có biểu thị khái quát và bằng hệ thống ký hiệu Bản đồ địa lý được
phân thành 2 nhóm là bản đồ địa lý chung và bản đồ chuyên đề Trong đó, bản đồ địa
lý chung là mô hình thu nhỏ bề mặt trái đất thông qua phép chiếu toán học nhất định,
có tổng quát hoá và bằng hệ thống ký hiệu, phản ánh sự phân bố, trạng thái và mối
quan hệ tương quan nhất định giữa các yếu tố cơ bản của địa lý tự nhiên và kinh tế xã
hội, còn bản đồ chuyên đề là mô hình thu nhỏ thông qua phép chiếu toán học nhất
định có tổng quát hoá và bằng hệ thống ký hiệu phản ánh đầy đủ và chi tiết một hay
vài yếu tố riêng biệt của địa lý tự nhiên hay kinh tế xã hội còn các yếu tố khác không
biểu thị hoặc biểu thị kém chi tiết hơn [20]
Tuỳ thuộc vào mức độ chi tiết, phương pháp, kỹ thuật thành lập và độ chính
xác trong nhóm bản đồ địa lý chung lại phân ra thành bản đồ địa hình và bản đồ khái
quát Bản đồ khái quát biểu thị một cách khái lược các yếu tố lớn, điển hình quan
trọng của địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực biểu thị Còn bản đồ địa hình
(BĐĐH) biểu thị các yếu tố tự nhiên và kinh tế xá hội của bề mặt trái đất với mức độ
đầy đủ, độ chính xác và chi tiết cao
Vậy có thể định nghĩa một cách đầy đủ về bản đồ địa hình như sau: “BĐĐH là
bản đồ địa lý chung, có tỷ lệ lớn hơn và bằng 1:1000 000, là mô hình thu nhỏ một
khu vực của bề mặt trái đất thông qua phép chiếu toán học nhất định, có tổng quát
hoá và bằng hệ thống ký hiệu phản ánh sự phân bố, trạng thái và các mối quan hệ
tương quan nhất định giữa các yếu tố cơ bản của địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội với
mức độ đầy đủ, chi tiết và độ chính xác cao Các yếu tố này được biểu thị tương đối
như nhau và phần lớn giữ được hình dạng, kích thước theo tỷ lệ bản đồ đồng thời giữ
được tính chính xác hình học của ký hiệu và tính tương ứng địa lý của yếu tố nội
dung cao”[31]
Trang 242.2 CÁC TÍNH CHẤT CỦA BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
Bản đồ nói chung và bản đồ địa hình nói riêng đều có những tính chất cơ bản
sau [31]
- Bản đồ được thành lập trên cơ sở toán học
Cơ sở toán học của bản đồ địa hình là những yếu tố nhằm đảm bảo độ chính
xác cho việc thành lập và sử dụng bản đồ bao gồm các yếu tố cơ bản sau: phép chiếu
bản đồ, tỷ lệ bản đồ, các điểm khống chế đo đạc, hệ thống chia mảnh, khung và bố
cục của bản đồ
- Bản đồ sử dụng hệ thống ký hiệu
Hệ thống ký hiệu của bản đồ là hình thức biểu thị nội dung và ngôn ngữ kỹ
thuật phản ánh dung lượng thông tin bản đồ nên có tác dụng nhận biết, phân biệt các
địa vật, biểu thị được hình dạng, kích thước vị trí của địa vật, phản ánh được số
lượng, chất lượng và mối quan hệ giữa chúng Ký hiệu trên bản đồ địa hình có tính
tương ứng với đối tượng mà nó phản ánh Mỗi ký hiệu có một vị trí trên bản đồ
tương ứng với một vị trí trên thực tế và được xác định đúng đắn về mặt toán học
- Trên bản đồ có sự lựa chọn và khái quát hoá các đối tượng được biểu thị
Vì trên bề mặt trái đất có rất nhiều yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội mà bản đồ
không thể biểu thị hết được, nên phải chọn các yếu tố chủ yếu và khái quát các đặc
trưng về hình dạng, số lượng, chất lượng các yếu tố nội dung cho phù hợp với mục
đích và nội dung bản đồ Kết qủa của quá trình tổng quát hoá bản đồ được thể hiện rõ
khi so sánh các bản đồ tỷ lệ khác nhau trên cùng khu vực Tỷ lệ bản đồ càng nhỏ,
không gian biểu thị càng hẹp thì càng cần phải loại bỏ những đối tượng thứ yếu, ít
quan trọng để làm nổi bật những nét điển hình, quan trọng của khu vực
- Bản đồ địa hình có tính hiện đại và tính chính xác cao
Vì các bản đồ được thành lập từ các tài liệu đo đạc trực tiếp trên mặt đất hoặc
trên ảnh chụp từ máy bay hay trên ảnh chụp từ mặt đất nên BĐĐH là tài liệu đáp ứng
được yêu cầu sử dụng cho tất cả các ngành kinh tế, văn hoá và quốc phòng
- Bản đồ địa hình là tài liệu cơ bản để thành lập các bản đồ khác
Trang 25Vì bản đồ địa hình biểu thị đầy đủ các yếu tố của địa lý tự nhiên và kinh tế xã
hội với mức độ chi tiết tương đối như nhau, các yếu tố này phần lớn giữ được hình
dạng, kích thước theo tỷ lệ bản đồ đồng thời giữ được tính chính xác hình học của ký
hiệu và tính tương ứng địa lý của các yếu tố nội dung cao nên nó là tài liệu gốc cơ
bản để thành lập các bản đồ khác
2.3 PHÂN LOẠI BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
Ở Việt Nam hiện nay chưa có một văn bản chính thức quy định cách phân loại
bản đồ địa hình vì còn nhiều vấn đề chưa thống nhất, nên chấp nhận một cách tương
đối một số quy định phân loại bản đồ của nước ngoài [31]
2.3.1 Phân loại theo mức độ khái quát hoá nội dung
Theo nội dung của bản đồ, Giáo sư Salishev phân loại bản đồ địa lý chung
thành ba nhóm: bản đồ địa hình (bản đồ địa lý chung có tỷ lệ lớn hơn 1:200 000), bản
đồ địa hình khái quát (là bản đồ địa lý chung có tỷ lệ từ 1:200 000 đến 1:1000 000),
bản đồ khái quát (là bản đồ địa lý chung có tỷ lệ nhỏ hơn 1:1000 000)
Theo quan điểm này giáo sư Sukhôv lại phân chia bản đồ địa lý chung thành 2
nhóm: Bản đồ địa hình (là bản đồ địa lý chung có tỷ lệ lớn hơn 1:1000 000), bản đồ
khái quát (là bản đồ địa lý chung có tỷ lệ nhỏ hơn 1:1000 000)
Theo 2 cách phân loại trên thì giáo sư Salishev phân loại bản đồ chi tiết hơn
song vì nhóm bản đồ địa hình và nhóm bản đồ địa hình khái quát có nhiều đặc điểm
giống nhau nên trong thực tế ở nước ta vẫn sử dụng quan điểm phân loại của giáo sư
Sukhôv nghĩa là bản đồ địa hình có tỷ lệ lớn hơn hoặc bằng 1: 1000 000
2.3.2 Phân loại theo tỷ lệ
Theo tỷ lệ bản đồ giáo sư Sukhôv phân chia bản đồ địa hình thành 3 loại
- Bản đồ địa hình tỷ lệ lớn: là bản đồ có tỷ lệ lớn hơn hoặc bằng 1:25 000
- Bản đồ địa hình tỷ lệ trung bình: tỷ lệ từ 1:50 000 đến 1:200 000
- Bản đồ địa hình tỷ lệ nhỏ: Bản đồ tỷ lệ từ 1:300 000 đến 1:1000 000
2.3.3 Phân loại theo ý nghĩa sử dụng
Theo ý nghĩa sử dụng BĐĐH được phân thành 4 loại: Bản đồ địa hình cơ bản,
bản đồ địa hình chuyên ngành, bản đồ nền địa hình, bản đồ ảnh địa hình
Trang 26Bản đồ địa hình cơ bản: Là bản đồ phản ánh các yếu tố địa hình, địa vật trên
bề mặt lãnh thổ ở thời điểm đo vẽ ở độ chính xác, độ tin cậy cao, với mức độ chi tiết
cần thiết và tương đối đồng đều và cơ bản nhất
Bản đồ có khả năng cùng đáp ứng những mục đích sử dụng cơ bản của nhiều
ngành kinh tế quốc dân, quốc phòng, nghiên cứu khoa học và nhiều mặt hoạt động
thực tiễn khác Bản đồ địa hình cơ bản chiếm vị trí hàng đầu so với các thể loại bản
đồ khác, nên khi thành lập phải tuân theo các tiêu chuẩn chung về kỹ thuật
Bản đồ chuyên ngành là bản đồ trên đó thể hiện chi tiết hơn về các yếu tố
thuộc một nhóm chuyên ngành, và chúng được thành lập để giải quyết những nhiệm
vụ cụ thể của một ngành khoa học hữu quan, hoặc dùng cho mục đích cụ thể
Bản đồ nền địa hình là bản đồ được thành lập từ bản đồ địa hình cơ bản
nhưng có lược bớt một số đặc điểm, tính chất của các phần tử địa hình, địa vật để
giảm nhẹ dung lượng Các bản đồ này thường được dùng làm cơ sở địa hình để vẽ
trực tiếp lên đó khi tiến hành các công việc thiết kế, quy hoạch, thành lập các bản đồ
chuyên môn, chuyên đề
Bản đồ ảnh địa hình là loại bản đồ địa hình được in trên nền ảnh hàng không
hoặc ảnh vệ tinh của cùng một khu vực
2.4 VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
Khi nhắc đến ý nghĩa của bản đồ địa hình chính là nhắc đến ý nghĩa sử dụng
chúng Bản đồ địa hình được thành lập cho tất cả các ngành kinh tế, văn hoá, quốc
phòng…và mỗi ngành lại có những yêu cầu riêng phụ thuộc vào từng mục đích thành
lập bản đồ Bản đồ địa hình có ý nghĩa rất quan trọng cụ thể bản đồ địa hình là tài
liệu không thể thiếu cho tất cả các ngành
- Dựa vào bản đồ địa hình có thể nhanh chóng cho ta xác định toạ độ, độ cao
của bất kỳ điểm nào trên mặt đất, khoảng cách và phương hướng giữa hai điểm, chu
vi, diện tích, khối lượng của một vùng cùng hàng loạt các thông số khác
- Bản đồ địa hình là tài liệu rất quan trọng cho các ngành địa chất, công trình,
công nghiệp, nông nghiệp, giao thông …mới có cơ sở để nghiên cứu tình hình cụ thể
thực tế và đưa ra kế hoạch thực hiện
Trang 27- Đối với quốc phòng, ngoài việc dựa vào bản đồ địa hình để nghiên cứu xây
dựng kế hoạch quốc phòng và toàn bộ kế hoạch chiến tranh, còn dùng để nghiên cứu
chiến lược, chiến thuật cho từng giai đoạn, bố trí tác chiến cho từng trận đánh
- Bản đồ địa hình là nguồn tài liệu đáng tin cậy, chính xác phục vụ cho công
tác xây dựng cơ sở dữ liệu không gian để tiến hành xây dựng hệ thống thông tin đa
ngành trên tất cả các lĩnh vực
- Bản đồ địa hình là tài liệu dùng trong công tác điều tra cơ bản, tự nhiên, kinh
tế, xã hội của các khu vực
- Bản đồ địa hình là tài liệu để lập bản đồ khái quát tỷ lệ nhỏ hơn và là cơ sở
địa lý cho các bản đồ chuyên đề
- Bản đồ địa hình tỷ lệ càng lớn thì mức độ chi tiết càng cao và tuỳ từng loại
bản đồ tỷ lệ khác nhau sẽ được phục vụ vào các mục đích khác nhau
Các bản đồ địa hình tỷ lệ lớn hơn hoặc bằng 1:25 000 thường được dùng vào
trong quá trình khảo sát, thiết kế thi công và nghiệm thu các công trình xây dựng
hoặc dùng trong quy hoạch chi tiết và thiết kế chính xác cho các công trình xây dựng
như thành phố, cầu đường, đập nước, nhà máy, hầm mỏ… Các loại bản đồ này
thường được dùng để thăm dò và khai thác khoáng sản, điều tra và khảo sát giao
thông, lập kế hoạch canh tác, lập kế hoạch trồng rừng, bảo vệ và quản lý rừng, lập
các bản đồ tỷ lệ nhỏ hơn và làm cơ sở địa lý cho bản đồ chuyên đề
Các bản đồ địa hình có tỷ lệ từ 1:50 000 đến 1:1000 000 có tỷ lệ tương đối
nhỏ, nên độ chi tiết thấp, mức độ khái quát nội dung khá lớn, chỉ biểu thị các yếu tố
chính, biểu thị được phạm vi lớn nên rất thuận tiện cho việc nghiên cứu quy luật tự
nhiên, hình dung một cách tổng thể về khu vực nghiên cứu Nên các bản đồ tỷ lệ này
dùng cho mục đích quy hoạch và phát triển tổng thể các phương pháp có ý nghĩa
kinh tế quốc dân, tổng quan tài liệu tìm kiếm công trình, nghiên cứu điều kiện tự
nhiên và kinh tế xã hội của khu vực, lập bản đồ khái quát tỷ lệ nhỏ hơn và là cơ sở
địa lý cho bản đồ chuyên đề Ví dụ, BĐĐH tỷ lệ 1:500 000 để tổng quan tài liệu tìm
kiếm phục vụ nghiên cứu rừng Trên cơ sở đó thành lập các bản đồ địa chất nhằm
mục đích cho phép quy hoạch, sử dụng hợp lý khoáng sản
Trang 282.5 NỘI DUNG CỦA BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
Yếu tố nội dung là yếu tố biểu đạt mục đích sử dụng bản đồ Việc xây dựng
nội dung cho bản đồ địa hình phải xuất phát từ những đặc điểm sau:
Đối tượng: đối tượng cần đưa lên bản đồ là các phần tử địa hình địa vật bao
gồm đầy đủ các đối tượng tự nhiên, kinh tế- văn hoá, xã hội Chúng được phản ánh
đầy đủ các đặc điểm phân bố địa lý Ngoài ra có bổ sung những thuộc tính và được
quy định ở mức độ phù hợp với tỷ lệ của bản đồ Trước đây bản đồ địa hình thường
sử dụng cho mục đích quân sự và dẫn đường Vì thế khi xây dựng nội dung người ta
thường đề cao các đặc điểm về định hướng, hình dạng, kích thước và tính chất bên
ngoài của các yếu tố địa hình, địa vật Ngày nay, bản đồ địa hình được sử dụng nhiều
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong nghiên cứu, tra cứu, hoạt động
kinh tế, điều tra cơ bản, đánh giá tài nguyên, quy hoạch, khảo sát thiết kế và chỉ đạo
các công trình Nội dung của bản đồ địa hình ngày càng được bổ sung phong phú và
đa dạng hơn làm cho lượng thông tin của bản đồ ngày càng tăng trong khi trọng tải
của bản đồ thì không tăng Vì vậy yêu cầu chung đối với bản đồ địa hình là nội dung
thể hiện trên từng loại bản đồ phải thoả mãn yêu cầu sử dụng và thường xuyên phải
được chỉnh lý, bổ sung cho sát với thực tế
Việc phân loại nội dung của bản đồ địa hình có ý nghĩa hết sức quan trọng
Tính thống nhất và tính khoa học trong phân loại càng cao thì càng đạt được mức độ
đầy đủ và hoàn thiện về nội dung Nội dung bản đồ địa hình được xậy dựng trên quan
điểm hệ thống và theo những nguyên tắc sau
Theo vật thể: Lấy các phần tử địa hình, địa vật làm đối tượng biểu thị và phân
loại chúng theo các tiêu chuẩn địa lý Ví dụ ở mức độ tổng quát là phân chúng thành
các nhánh như thuỷ hệ, hình thái địa hình, chất đất, thực phủ, giao thông, dân cư, địa
vật kinh tế xã hội, lưới khống chế trắc địa, địa vật và tường rào Ở mức độ chi tiết
hơn phân chúng thành các kiểu, loại, … những cấp thấp hơn
Theo thuộc tính: Mỗi chủ thể có nhiều thuộc tính Việc biểu thị các thuộc tính
tuỳ thuộc vào mục đích, ý nghĩa sử dụng và khả năng cho phép về tỷ lệ bản đồ Trên
bản đồ địa hình chủ yếu biểu thị những thuộc tính chủ yếu sau: Các giá trị định
Trang 29lượng, các mặt định tính, vị trí và trạng thái không gian, đặc điểm phân bố trên lãnh
thổ, một số đặc điểm kinh tế xã hội và địa danh
Theo quy mô: Các phần tử địa hình, địa vật có cùng thuộc tính sẽ được sắp
xếp theo ngôi thứ từ lớn tới nhỏ, từ chính đến phụ, từ chung đến riêng, từ tổng thể
đến cục bộ…
Với ba nguyên tắc trên một hệ thống nội dung và ký hiệu bản đồ tưởng chừng
phức tạp và lộn xộn sẽ được sắp xếp theo đúng vị trí của nó, đảm bảo cho việc quy
định nội dung trong từng loại bản đồ có hệ thống, đầy đủ và chặt chẽ, do đó cũng sẽ
dễ dàng hơn trong công tác thành lập bản đồ
Các nội dung chính bao gồm: Cơ sở toán học, yếu tố thuỷ hệ, hệ thống giao
thông, dân cư, hình thái địa hình, địa giới hành chính các cấp, thực vật, các địa vật
độc lập
2.6 PHƯƠNG PHÁP THỂ HIỆN VÀ TỔNG QUÁT HÓA CÁC YẾU TỐ NỘI
DUNG TRÊN BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
2.6.1 Cơ sở toán học của bản đồ địa hình
Cơ sở toán học của bản đồ là những yếu tố nhằm đảm bảo độ chính xác cho
quá trình thành lập, biên tập và sử dụng bản đồ Các yếu tố cơ sở toán học bao gồm:
phép chiếu bản đồ, tỷ lệ bản đồ, khung và bố cục bản đồ, phương pháp chia mảnh và
đánh số mảnh bản đồ
2.6.1.1 Đặc điểm của phép chiếu dùng trong thành lập bản đồ địa hình ở Việt
Nam
Nhìn chung các bản đồ địa hình đều yêu cầu các phép chiếu có độ biến dạng
nhỏ và sai số phân bố đều để nâng cao độ chính xác của bản đồ, hình dạng kinh, vĩ
tuyến đơn giản để dễ xác định tọa độ, các phép chiếu sử dụng thống nhất, ngoài ra
còn thêm yêu cầu là các phép chiếu không có sự biến dạng về góc, dễ chia mảnh và
đánh số mảnh bản đồ, dễ tính toán, số múi trong phép chiếu càng ít càng tốt, các mũi
có tính chất giống nhau để giảm bớt công tính toán Bản đồ địa hình là sản phẩm
Trang 30phục vụ cho tất cả các ngành khoa học Chính vì vậy được thành lập trong các phép
chiếu có độ chính xác cao
Đặc điểm của phép chiếu UTM
Phép chiếu UTM (Universal Transverse Mercator) còn gọi là phép chiếu hình
trụ ngang đồng góc Là phép chiếu hình giữ góc mặt chiếu hình là hình trụ ngang
Mặt chiếu hình không tiếp xúc với elipxoid mà cắt elipxoid ở hai kinh tuyến cách đều
kinh tuyến trục 180 km về phía đông và phía tây Tỷ lệ biến dạng chiều dài trên 2 cát
tuyến bằng 1, trên kinh tuyến giữa có giá trị là 0,9996 (đối với múi 3 độ), bằng
0,9999 (đối với múi 6 độ) Phép chiếu UTM làm giảm biến dạng ngoài biên múi
chiếu và phân phối đều biến dạng trong múi chiếu
Hình 2.1: Phép chiếu UTM
Phép chiếu UTM chỉ dùng cho những vùng trong phạm vi 80N-84B Kinh
tuyến trục trở thành một trục thẳng đứng của hệ toạ độ, xích đạo trở thành trục nằm
ngang, chiều dương hướng sang phía đông Giao điểm của chúng là gốc toạ độ với X
= 0, Y = 500 km đối với bắc bán cầu
Hệ tọa độ: Hệ quy chiếu và hệ toạ độ QG VN - 2000 với các đặc điểm sau
- Elipxoid qui chiếu là Elipxoid WGS – 84 toàn cầu với kích thước như sau
Bán trục lớn: a = 6378137m Bán trục nhỏ: b = 6356752,31425m
Trang 31độ dẹt: 1/298,257
- Định vị E: được định vị phù hợp với lãnh thổ VN
- Hệ toạ độ: được thiết lập trên cơ sở bình sai tổng thể lưới toạ độ Quốc Gia
cấp “0” và lưới toạ độ hạng I,II toàn quốc trên mặt quy chiếu VN-99 và trên mặt quy
chiếu WGS – 84, hệ toạ độ phẳng được thiết lập theo phép chiếu hình UTM
2.6.1.2 Hệ thống phân mảnh và danh pháp bản đồ:
Danh pháp bản đồ đặt theo hệ thống đang sử dụng Đối với mảnh bản đồ tỷ lệ
nhỏ hơn 1:50 000 danh pháp bản đồ đặt theo hệ thống đang sử dụng kèm theo danh
pháp hệ UTM (đặt trong ngoặc đơn)
2.6.2 Yếu tố thủy hệ và các đối tượng liên quan
Hệ thuỷ văn là yếu tố cơ bản của cảnh quan địa lý và là yếu tố ảnh hưởng rất
lớn tới sự hình thành môi trường khí hậu, địa mạo, thực vật, thổ nhưỡng, và có vai trò
rất quan trọng đối với giao thông, kinh tế, quân sự….Đối với bản đồ hệ thuỷ văn làm
cơ sở để vẽ chính xác cho các yếu tố trên bản đồ chính vì vậy cần phải thể hiện với
mức độ đầy đủ, chính xác
Hình 2.2: Mô phỏng yếu tố thủy hệ trên bản đồ địa hình
Hệ thuỷ văn được phân ra thành biển, sông, hồ, hồ nhân tạo, đầm, ao suối,
kênh rạch, mương máng, kênh nước, rạch nước … kèm theo những tính chất của
Trang 32chúng Những đối tượng này khác nhau về điểm định vị trên mặt đất và về nguồn gốc
phát sinh dẫn đến những khác nhau về đặc điểm bên ngoài
Khi tiến hành tổng quát hóa thuỷ hệ cần xét đến những chỉ tiêu sau:
- Hình dáng của đối tượng thuỷ hệ
- Cấu trúc không gian của mỗi đối tượng thuỷ hệ
- Mật độ của mạng lưới thuỷ hệ trong một khu vực
- Kiểu phân bố của mạng lưới thuỷ hệ trong một khu vực
- Đặc điểm sử dụng
Đối với bờ biển khi tổng quát hóa phải thể hiện hình dạng của đường bờ biển
với mức độ chi tiết nhất, đối với đường bờ có độ uốn cong nhỏ hơn 0,5 mm2 theo tỷ
lệ bản đồ thì bỏ đi, những chi tiết nhỏ mà quan trọng vẫn được giữ lại và phóng đại
lên
Đối với các đảo khi tổng quát hóa chỉ được lựa chọn lấy bỏ không được vẽ
gộp với nhau Trường hợp các đảo gần nhau thì có thể vẽ chung đường bờ nước
Đối với hệ thống sông ngòi trong tổng quát hóa chủ yếu là lựa chọn sông dựa
vào các chỉ tiêu về chiều dài, chiều rộng và tốc độ phát triển của sông Những nguyên
tắc chung trong việc lựa chọn sông ngòi là:
+ Chọn bỏ phải giữ được các đặc điểm địa lý của mạng lưới sông ngòi: giữ
được cấp mật độ sông và kiểu phân bố của mạng lưới sông ngòi
+ Phải xác định được vị trí bắt nguồn của dòng chảy chính và biểu thị đầy đủ
Chỉ loại bỏ các dòng chảy cấp thấp Đặc biệt là đối với hệ thống kênh mương, tuy có
chiều dài ngắn theo tiêu chuẩn loại bỏ, nhưng lại là kênh mương cấp cao hơn thì cần
được giữ lại Ưu tiên biểu thị những dòng chảy đổ vào sông chính hoặc đổ ra biển
hoặc có liên quan đến các hồ nước (đổ vào hồ hoặc nối với nhau, từ hồ chảy ra, …),
đầm lầy, địa hình carst
+ Không bỏ các dòng chảy đặc biệt: Nước nóng, nước khoáng, đoạn có thác
ghềnh, chảy qua những điểm dân cư quan trọng, các dòng chảy trong vùng hiếm
nước,…
Trang 33+ Khi TQH ở vùng đồng bằng có mạng lưới sông tự nhiên và kênh mương
chằng chịt đan nhau cần ưu tiên biểu thị sông tự nhiên Nếu mật độ kênh mương quá
dày đặc thì có thể loại bỏ bớt một số kênh mương cấp thấp nhất, mặc dù chiều dài
lớn hơn tiêu chuẩn chọn bỏ
Giản hoá đường bờ gồm loại trừ khúc uốn nhỏ, gộp khúc uốn hoặc là phóng
to khúc uốn lên để biểu thị Đối với sông biểu thị được theo tỉ lệ (2 nét) là giản hoá
đường bờ nước Đối với sông biểu thị không theo tỉ lệ (vẽ 1 nét) là giản hoá nét sông
Loại trừ khúc uốn nhỏ: cho phép loại bỏ khúc uốn nhỏ và không nằm ở vị trí
quan trọng, trên bản đồ có đường kính dưới 0,5 mm Những khúc uốn nhỏ nhưng là
đặc trưng của đáy sông thì cần giữ lại và được phóng to đến kích thước 0,5 mm – 0,6
mm Khi phóng to phải giữ lại được hình dạng khúc uốn
Gộp khúc uốn: có thể gộp hai khúc uốn kề nhau vào làm một Việc gộp này
nhằm mục đích giữ lại được đặc trưng về tỉ lệ độ uốn của đường bờ Khi có nhiều
khúc uốn nhỏ liền nhau thì có thể gộp một số cặp khúc uốn nhỏ kề nhau thành khúc
uốn lớn và có cùng đặc trưng cề độ uốn của đường bờ
2.6.3 Dân cư và các đối tượng liên quan
Vùng dân cư là nơi hoạt động sinh hoạt của con người và là yếu tố có ý nghĩa
quan trọng đối với sự phát triển quân sự, chính trị và xã hội
2.6.3.1 Phân loại vùng dân cư
Theo đặc điểm hoạt động vùng dân cư được chia thành: Vùng thành thị, vùng
kiểu thành thị, vùng nông thôn
Vùng thành thị là nơi trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội có ngành
công nghiệp chỉ đạo, giao thông vận tải và thiết bị thông tin hiện đại, mật độ dân số
lớn, số dân không làm nông nghiệp là chủ yếu, mật độ kiến trúc từ 15 – 80% bao
gồm các thành phố, thị xã, thị trấn lớn Vùng kiểu thành thị là vùng có dân số không
làm nông nghiệp chiếm trên 50% Vùng nông thôn là nơi số dân làm nông nghiệp là
chủ yếu, mật độ dân số nhỏ, mật độ kiến trúc chiếm 15%
Theo kết cấu xây dựng vùng dân cư được chia thành: Vùng thành thị, Vùng
nông thôn
Trang 342.6.3.2 Yêu cầu biểu thị vùng dân cư
Dân cư được biểu thị trên bản đồ địa hình chủ yếu phản ánh các đặc điểm dân
cư và công trình văn hoá, lịch sử, dân dụng liên quan chặt chẽ với dân cư Trên bản
đồ phải phân biệt được kiểu dân cư thành thị và dân cư nông thôn thông qua việc thể
hiện sự phân bố không gian và tổ chức mặt bằng của các điểm dân cư Các công trình
văn hoá, lịch sử, dân dụng liên quan chặt chẽ với điểm dân cư phần nào phản ánh
được quy mô và trình độ phát triển kinh tế xã hội, văn hoá của điểm dân cư Chúng
bao gồm các công trình văn hoá, lịch sử, trường học, thư viện, nhà văn hoá, các công
trình dân dụng, cơ quan công cộng, công sở, uỷ ban nhân dân các cấp, đơn vị kinh tế,
bệnh viện , khách sạn, nhà nghỉ, cửa hàng, nghĩa trang, nghĩa địa …
Hình 2.3: Mô phỏng yếu tố dân cư trên bản đồ địa hình
Khi thể hiện yếu tố dân cư cần chú ý thể hiện đầy đủ các yêu cầu sau
- Nếu vùng dân cư có diện tích lớn hơn 2 mm2 theo tỷ lệ bản đồ thì vẽ theo kích
thước đồ hình mặt bằng, nhỏ hơn thì vẽ các ký hiệu nhà đen Kích thước của
ký hiệu là 0,4 x 0,6 mm
- Phản ảnh rõ ý nghĩa hành chính của vùng dân cư: Dùng kiểu chữ, cỡ chữ để
giải thích
Trang 35- Phản ánh rõ kết cấu xây dựng của vùng dân cư: vùng dân cư có vật liệu chịu
lửa hay không chịu lửa, có quy hoạch hay không quy hoạch
- Biểu thị rõ diện tích, mật độ, vị trí của vùng dân cư
- Bảo đảm môí quan hệ với các yếu tố khác như giao thông, địa hình, sông
ngòi…
- Chú ý khi biểu thị vùng dân cư nông thôn nếu có lớp thực vật phủ trên 20%
diện tích thì tô màu nền lục nhạt
Bảng 2.1: Cách biểu thị vùng dân cư và tính chất của chúng
trên bản đồ địa hình
Ký hiệu Các bản đồ tỷ lệ
lớn hơn 1:500 000
Bản đồ tỷ lệ 1:1000 000
chữ để giải thích
Dùng kiểu chữ, cỡ chữ để giải thích
Ý nghĩa hành chính Dùng kiểu chữ, cỡ
chữ để giải thích
Dùng kiểu chữ, cỡ chữ để giải thích
Chịu lửa hay không
chịu lửa
Trên các bản đồ tỷ
lệ lớn có phân chia
Không phân chia
Mật độ điểm dân cư Dùng số lượng ký
hiệu trên diện tích
để biểu thị
Dùng số lượng ký hiệu trên diện tích
để biểu thị
2.6.3.3 Nguyên tắc lựa chọn vùng dân cư
Đối với các bản đồ địa hình có tỷ lệ lớn hơn hoặc bằng 1: 500 000 diện tích
nhỏ nhất của ký hiệu đồ hình mặt bằng được xác định theo nguyên tắc là phải vẽ
được đường viền của ký hiệu và bên trong đường viền ấy ít nhất một ký hiệu là nhà
đen Khoảng cách từ nhà đen tới đường viền lớn hơn hoặc bằng 0,2 mm Theo
nguyên tắc này nếu vùng dân cư có diện tích lớn hơn 2mm2 thì vẽ theo kích thước đồ
hình mặt bằng, nhỏ hơn thì vẽ các nhà đen Số lượng nhà đen trong vùng dân cư
Trang 36được thành lập dựa vào mật độ kiến trúc và được tính bằng tổng diện tích ký hiệu
nhà đen trên diện tích khu vực
f
f f a
a a
S
n s S
Sa, Sf – tổng diện tích của ký hiệu làng trên bản đồ tài liệu và bản đồ thành lập
na, nf – số lượng nhà đen trên bản đồ tài liệu và bản đồ thành lập
thông thường diện tích ký hiệu nhà đen trên bản đồ tài liệu và thành lập có cùng kích
f a f
a a f
n s
s n n
s k
s s
Đối với bản đồ tỷ lệ 1: 1000 000, vùng dân cư được biểu thị vòng tròn nên gọi
là điểm dân cư và dùng các công thức của Sukhôv để tính chỉ tiêu lựa chọn điểm dân
i q w k
V
1 2
1
Trong đó
V: chỉ tiêu lựa chọn điểm dân cư trên 1 cm2 bản đồ
qi: mật độ điểm dân cư cấp thứ i (số điểm dân cư trên 100 km2 trên mặt đất)
wi: hệ số lựa chọn điểm dân cư cấp thứ i (phần trăm điểm dân cư được biểu
thị)
Trang 37Nếu như cấp đó được biểu thị toàn bộ thì wi = 1
k = 106.M (M – tỷ lệ bản đồ)
M = 1: 1000 000 nên k =1
n – số lượng cấp của điểm dân cư
Dựa theo trọng tải diện tích của ký hiệu điểm dân cư được tính theo
v V
Nếu kết hợp cả mật độ và trọng tải diện tích của ký hiệu điểm dân cư ta
có công thức sau và trong thực tế thường áp dụng công thức này để tính chỉ tiêu lựa
chọn điểm dân cư
i m
v q
w k
V
1 2
1
2.6.3.4 Nguyên tắc khái quát vùng dân cư
Khi khái quát vùng dân cư phải thể hiện rõ hình dạng bên ngoài, kết cấu bên
trong và đặc trưng phân bố của vùng dân cư
Các hoạt động tổng quát hóa vùng dân cư bao gồm: phá vỡ, đơn giản hóa,
cường đệu hóa, ký hiệu hóa, hợp nhất, loại trừ, điển hình, tập hợp Các hoạt động này
có mối quan hệ và bổ trợ cho nhau trong quá trình tổng quát hóa
Tổng quát hóa phải phù hợp với tỷ lệ bản đồ cần thành lập Các bản đồ có tỷ
lệ lớn hơn 1: 25 000 vẽ tất cả các vùng dân cư với vị trí, diện tích, hình dạng và
phương hướng chính xác Các bản đồ tỷ lệ nhỏ hơn cần bỏ đi một số đường phố thứ
yếu, khu phố giản ước và hợp nhất tương đối nhiều
Trang 38Việc tổng quát hóa đặc điểm bên ngoài vùng thành thị gồm các nội dung sau
- Gộp ghép các nhà liền nhau thành khối nhà, ô phố, khu phố đối với các nhà
có giãn cách dưới 0.4 mm theo tỷ lệ bản đồ
- Hợp nhất các khu phố lại với nhau nhưng cần tiến hành đồng thời với việc
lựa chọn đường phố
- Phóng to một số đối tượng như đường phố, đình chùa, địa vật kinh tế - xã
hội
- Biểu thị mối liên quan giữa vùng dân cư và các yếu tố khác như thuỷ hệ,
dáng đất, đường giao thông
Việc khái quát hóa đồ hình mặt bằng của vùng dân cư nông thôn chủ yếu
gồm:
- Loại bỏ một số nhà ở vùng dày đặc, giữ lại các nhà có vị trí quan trọng như
các nhà cao đột xuất, công cộng, đầu đường, cuối đường
- Giản hoá đường viền của khung làng (cần chú ý các vị trí lồi lõm của khung
làng nếu nhỏ hơn 0.4 mm thì bỏ đi)
Biểu thị chính xác mối quan hệ với các yếu tố khác nhất là đường giao thông
và sông ngòi Các đường giao thông thì vẽ liên tục Nếu đường giao thông loại 2 nét
trùng với khung làng thì vẽ thành đường khung làng và cách ra 0.2 mm
Khi khái quát kết cấu bên trong vùng nông thôn, nếu trong làng có các nhà
dày đặc, tập trung theo kiểu khu phố thì khái quát bên trong giống như đối với khu
phố Nếu làng có nhà thưa thớt, phân tán, khó xác định trung tâm thì chỉ được bỏ bớt
chứ không được vẽ gộp lại Khi biểu thị nhà phải giữ đúng vị trí và hướng nhà
Điểm dân cư nông thôn bắt đầu từ tỉ lệ 1: 25.000 được tiến hành giản hoá
Trên bản đồ tỉ lệ 1: 25.000 hầu như biểu thị được đầy đủ các ngôi nhà có người ở
Trên tỉ lệ 1: 50.000 loại bỏ nhà ở vùng dày đặc, giữ lại các nhà ở có tính định hướng
trong điểm dân cư, giữ lại mật độ tương quan phân bố nhà trong làng xóm Trên bản
đồ tỉ lệ 1: 100.000 các làng, xóm, ấp được biểu thị dưới dạng đồ hình mặt bằng, bỏ
việc chấm các nhà độc lập Đường viền của điểm dân cư có thể gọi là khung làng có
ý nghĩa ranh giới phân biệt đất thổ cư với xung quanh, khi thu nhỏ tỉ lệ phải tiến hành
Trang 39giản hoá các khúc ngoặt nhỏ Các góc ngoặt dưới 30 độ có thể loại bỏ khi không ảnh
hưởng đến hình dáng cơ bản của khung làng và phóng to lên 1,5 lần để biểu thị khi là
đặc trưng của hình dáng khung làng
2.6.4 Tổng quát hóa yếu tố đường giao thông và các đối tượng liên quan
Đường giao thông là phương tiện đi lại liên lạc giao lưu kinh tế văn hoá với
các vùng dân cư khác Tuỳ theo mỗi mục đích khác nhau mà đường giao thông có
những chức năng riêng
2.6.4.1 Yêu cầu biểu thị đường giao thông
Hệ thống giao thông – toàn bộ mạng lưới giao thông mặt đất: đường sắt,
đường bộ và các phương tiện giao thông vượt sông trên tuyến đường, sân bay, cảng
Đường sắt được thể hiện theo các tuyến đường, các ga, thiết bị trong ga, các loại tín
hiệu bảo đảm giao thông Đường bộ được thể hiện các loại đường ô tô, đường đất,
bến ô tô, các tín hiệu bảo đảm an toàn giao thông đường bộ, các phương tiện vượt
sông như cầu, phà, cống, đò, đường ngầm, bến lội… Trên bản đồ địa hình không
biểu thị hướng bay của hàng không mà chỉ biểu thị sân bay dân sự còn sân bay quân
sự không biểu hiện
– Phản ánh rõ đặc điểm từng loại, cấp đường…
– Nêu rõ mức độ phân bố và hình thái của mặt đường giao thông với các đối
tượng liên quan
– Bảo đảm mối quan hệ với các yếu tố khác như vùng dân cư, sông ngòi
2.6.4.2 Nguyên tắc tổng quát hóa hệ thống giao thông
Khi tổng quát hóa hệ thống đường giao thông cần thiết phải xét đến những
nhân tố như ý nghĩa kinh tế của đường, ý nghĩa hành chính, cấp hạng đường: căn cứ
vào độ bền vững của vật liệu trải mặt, độ rộng của đường và mật độ mạng lưới đường
giao thông
Trong thực tế việc chọn lọc biểu thị đường giao thông trên BĐĐH không phải
là vấn đề khó khăn Bởi vì ở yếu tố này sự phân loại được tuân theo một nguyên tắc
rất rõ ràng về quy mô từ lớn đến nhỏ, trong đó các ý nghĩa sử dụng (ý nghĩa về kinh
tế và hành chính) cùng cấp hạng đường Ví dụ, đã là những đường cấp cao như
Trang 40đường sắt lồng, đường ô tô trải bê tông nhựa thì lại là những đường có ý nghĩa quan
trọng trong kinh tế, có ý nghĩa lớn trong giao thông vận tải nối liền trong toàn quốc
hoặc các tỉnh với nhau nên được thể hiện trên bản đồ ở mọi cấp tỷ lệ
Việc chọn lọc biểu thị đương nhiên phải theo quy mô ưu tiên biểu thị những
đường cấp cao, có ý nghĩa quan trọng hơn về ý nghĩa kinh tế, hành chính, giao thông
Tuy nhiên, ở nước ta có đặc điểm là sự phân bố mạng lưới đường sá rất không đều
giữa vùng đồng bằng và vùng núi, giữa vùng trung tâm kinh tế và vùng xa trung tâm
Do đó, mức độ chọn lọc ở các vùng có khác nhau rõ rệt Trong mọi trường hợp biểu
diễn đường giao thông đều phải theo nguyên tắc là ưu tiên biểu thị đường cấp cao
Khi một số đường cấp cao được biểu thị lên bản đồ thì kích thước của nó thường lớn
hơn thực tế thì phải giải quyết việc xê dịch những đường cấp thấp hơn hoặc những
địa vật kém quan trọng hơn Đường sắt là địa vật hình tuyến có ý nghĩa định hướng
quan trọng nhất Nếu đường ô tô và đường sắt đi sát nhau thì đường ô tô phải xê dịch
vị trí để nhường vị trí cho đường sắt Khi đường ô tô (đường trải bê tông, nhựa, rải
gạch đá cấp phối) đi sát đường bờ nước thì ký hiệu đường bờ nước không vẽ Nhưng
các đường đất cấp thấp lại nhường vị trí cho đường bờ nước
Việc chọn bỏ đường giao thông chỉ thực hiện ở các tỷ lệ nhỏ Trên bản đồ tỉ lệ
1: 100.000 và lớn hơn biểu thị đầy đủ với cấp đường mòn ở tỉ lệ 1: 100.000 nếu có
độ dài dưới 1 cm và không đi đến một địa vật nào hoặc không nối các điểm dân cư
thì được chọn bỏ Các tỉ lệ 1: 25.000, 1: 50.000 và 1: 100.000 không biểu thị các loại
bờ vùng, bờ thửa, bờ ruộng
2.6.5 Đặc điểm thể hiện và tổng quát hóa yếu tố địa hình
Hình thái địa hình là yếu tố cơ bản của cảnh quan địa lý, nên nó ảnh hưởng rất
lớn đến khí hậu, sông ngòi đất đai và có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế, giao thông, quốc phòng
Khi biểu thị yếu tố địa hình lên bản đồ phải thể hiện đầy đủ các đặc điểm sau
đây
- Đặc điểm chung và đặc điểm phân biệt từng dạng địa hình
- Các dạng địa hình đặc biệt gây trở ngại cho giao thông đi lại