1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Thực thi pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm tại Việt Nam

17 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 653,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện đề tài thực thi pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm tại Việt Nam, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp luận duy vật biện chứ[r]

Trang 1

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Danh mục ký hiệu, chữ viết tắt v

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu tài liệu liên quan 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Kết cấu dự kiến của luận văn 6

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ THỰC THI BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI SẢN PHẨM PHẦN MỀM 7

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI SẢN PHẨM PHẦN MỀM 7

1.1.1 Khái niệm quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm 8

1.1.1.1 Khái niệm quyền tác giả 8

1.1.1.2 Nội dung quyền tác giả 10

1.1.2 Khái quát về sản phẩm phần mềm 13

1.1.2.1 Khái niệm phần mềm 13

1.1.2.2 Đặc điểm của sản phẩm phần mềm 15

1.1.3 Cơ sở pháp lý của việc bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm 16

1.1.3.1 Điều kiện bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm 17

1.1.3.2 Phạm vi bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm 19

1.2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỰC THI BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI SẢN PHẨM PHẦN MỀM 22

1.2.1 Cơ quan thực thi bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm 22

1.2.1.1 Cơ quan Trung ương 22

1.2.1.2 Cơ quan địa phương 24

1.2.1.3 Cơ quan thực thi bảo hộ quyền tác giả tại biên giới 25

1.2.2 Các phương thức thực thi bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm 26

Trang 2

1.2.2.1 Biện pháp dân sự 27

1.2.2.2 Biện pháp hành chính 29

1.2.2.3 Biện pháp hình sự 30

1.2.2.4 Biện pháp thương mại 30

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN CÔNG TÁC THỰC THI BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI PHẦN MỀM TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 33

2.1 THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI SẢN PHẨM PHẦN MỀM 33

2.1.1 Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm 33

2.1.1.1 Căn cứ xác định dấu hiệu vi phạm 33

2.1.1.2 Căn cứ xác định hành vi xâm phạm 33

2.1.2 Các giai đoạn thực thi và áp dụng chế tài đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm 34

2.1.2.1 Đối với biện pháp dân sự 34

2.1.2.2 Đối với biện pháp hành chính 41

2.1.2.3 Đối với biện pháp hình sự 45

2.1.2.4 Đối với biện pháp thương mại 50

2.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI SẢN PHẨM PHẦN MỀM 51

2.2.1 Định hướng nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo hộ quyền tác giả 51

2.2.1.1 Bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể sáng tạo 52

2.2.1.2 Xây dựng môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh 53

2.2.2 Một số giải pháp thực thi việc bảo hộ quyền sở hữu phần mềm 53

2.2.2.1 Về xác định dấu hiệu xâm phạm 53

2.2.2.2 Xác định hành vi xâm phạm 54

2.2.2.3 Áp dụng chế tài phù hợp 57

KẾT LUẬN 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 3

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

CNTT: Công nghệ thông tin

BLDS: Bộ luật Dân sự

BLHS: Bộ luật Hình sự

BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự

BERNE: Công ước về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật

SHTT: Sở hữu trí tuệ

TRIPs: Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của

Quyền Sở hữu Trí tuệ TPP: Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương

WIPO: Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới

WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh toàn cầu, vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trở nên quan trọng và trở thành mối quan tâm hàng đầu trong quan

hệ kinh tế quốc tế Đặc biệt từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức (thứ 150) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; chống sản xuất, buôn bán hàng nhái, hàng giả ngày càng được quan tâm hơn

Tuy nhiên, việc xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn gặp nhiều khó khăn và bất cập Các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra ngày một gia tăng nhiều hơn nhưng khó bị phát hiện và khi đã phát hiện thường chỉ bị xử lý bằng các biện pháp hành chính hoặc dân sự Đáng chú ý nhất là việc áp dụng biện pháp hành chính để xử lý hành

vi xâm phạm quyền tác giả, một biện pháp đặc biệt trong hệ thống pháp luật Việt Nam

so với quy định của nhiều quốc gia khác trên thế giới, việc áp dụng biện pháp hành chính mục đích nhằm nhanh chóng ngăn chặn hành vi xâm phạm, giảm thiệt hại tối thiểu cho chủ thể bị xâm phạm Tuy nhiên, biện pháp hành chính không mang lại hiệu quả trong công tác phòng chống hành vi xâm phạm quyền tác giả trong thực tế

Theo số liệu Báo cáo tổng kết chương trình hành động phòng, chống xâm phạm quyền SHTT giai đoạn II (2012-2015) diễn ra tại Hà Nội ngày 28 tháng 4 năm 2016 giữa các bộ, ngành có liên quan trong công tác thực thi quyền SHTT, từ năm 2012 đến năm 2015 đã kiểm tra và tiếp nhận 25.966 vụ việc, đã xử lý vi phạm hành chính 25.543

vụ việc, khởi tố 381 vụ với 553 bị can, xét xử 55 vụ án trong đó có 12 vụ hình sự

Tính riêng trong lĩnh vực phần mềm máy tính, theo báo cáo từ Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, từ 2006 – 2015 qua kiểm tra đột xuất 541 doanh nghiệp và tổng số 27.602 máy tính, phát hiện hành vi sao chép tác phẩm phần mềm máy tính mà không được phép của chủ sở hữu và lập biên bản vi phạm hành chính và ban hành 499 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 8,613 tỷ đồng1

Từ số liệu trên cho thấy, hầu hết các vi phạm về quyền tác giả, quyền liên quan chủ yếu đã được xử lý bằng con đường hành chính Điều này đã dẫn đến tình trạng “hành chính hoá” các quan hệ dân sự Một số trường hợp xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thuộc

1 T.L, 4 năm, xử lý 25.000 vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, https://laodong.vn/kinh-te/4-nam-xu-ly-25000-vu-xam-pham-quyen-so-huu-tri-tue-546334.bld, ngày truy cập: 14/10/2017

Trang 5

lĩnh vực dân sự, lẽ ra cần phải được giải quyết bằng biện pháp dân sự tại toà án nhưng lại được xử lý bằng biện pháp hành chính cho đơn giản và đỡ tốn kém

Điều này cho thấy công tác đấu tranh phòng, chống hành vi xâm phạm SHTT hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trước các hành vi xâm phạm ngày một gia tăng và càng phức tạp, cũng như trước những yêu cầu cấp thiết khi nước ta tham gia vào các điều ước quốc tế về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập thương mại quốc tế của mình

Không thể phủ nhận rằng, việc xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT bằng biện pháp hành chính là điều cần thiết, tuy nhiên từ góc độ đảm bảo hài hòa giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích cộng đồng cơ chế xử lý xâm phạm quyền SHTT bằng biện pháp hành chính đang làm cho Việt Nam thiệt hại nhiều hơn Cụ thể:

+ Về chi phí: Hiện tại, việc xử lý xâm phạm quyền SHTT bằng biện pháp hành chính đang đóng vai trò chủ đạo Đối với biện pháp này, nhà nước vẫn đang phải gánh toàn bộ chi phí cho vấn đề thực thi, bao gồm từ chi phí bộ máy, nhân lực, vật lực để tiến hành xử lý vi phạm và thậm chí là cả chi phí cho việc vận chuyển, lưu giữ và tiêu hủy hàng hoá vi phạm

Trong khi đó, ở các nước sử dụng cơ chế xử lý xâm phạm quyền SHTT bằng biện pháp dân sự để thực thi và giải quyết tranh chấp thì chủ thể quyền hoặc bên xâm phạm quyền SHTT có nghĩa vụ phải trả chi phí cho giải quyết vụ việc

+ Về phương thức giải quyết tranh chấp: Bản thân cụm từ “xử lý xâm phạm quyền” trong biện pháp hành chính đã cho ta thấy vị thế không cân bằng giữa bên nguyên đơn và bị đơn như trong tố tụng dân sự, dường như bên bị yêu cầu xử lý mặc nhiên bị coi là bên vi phạm Mặc dù, Nghị định 99/2013/NĐ-CP cũng có lồng ghép một số nội dung cho phép bên bị yêu cầu xử lý có quyền giải trình, cung cấp chứng cứ chứng minh

về việc không vi phạm; nhưng về mặt tổng thể, vị thế của bên bị yêu cầu xử lý theo trình

tự hành chính vẫn khá thiệt thòi hơn so với vị thế của bị đơn trong trình tự dân sự Người

bị yêu cầu xử lý không có quyền phản tố hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp chủ thể quyền SHTT đưa ra các yêu cầu không phù hợp

+ Về hiệu quả giải quyết tranh chấp: Phán quyết của tòa án mang tính toàn diện

và được đảm bảo thực thi Người bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền gây ra được bồi thường theo quy định Trong khi đó, các quyết định hành chính không có được đặc tính này

Trang 6

Chính thực trạng nêu trên đòi hỏi phải có những giải pháp quyết liệt hơn nhằm tạo sự chuyển biến trong công tác đấu tranh phòng, chống hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả đối với các sản phẩm phần mềm Đó cũng chính

là lý do để tác giả lựa chọn đề tài “Thực thi pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với

sản phẩm phần mềm tại Việt Nam” để làm luận văn thạc sĩ

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU LIÊN QUAN

Liên quan đến nội dung thực thi pháp luật về bảo vệ quyền tác giả nói chung,

có các công trình nghiên cứu như sau:

Giáo trình “Quyền sở hữu trí tuệ”của tác giả Lê Nết (2006), Trường Đại học

Luật Thành phố Hồ Chí Minh, đã trình bày các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ dựa trên luật pháp Quốc tế và pháp luật của Việt Nam, qua đó tác giả so sánh các điều luật

và lấy ví dụ minh hoạ để làm rõ hơn các điều luật về lý luận chung quyền tác giả, trong

đó có quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học

“Thực thi quyền tác giả” của Ths Nguyễn Như Quỳnh – Khoa Luật dân sự

– Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), trong bài viết tác giả nêu lên các quy định của Quốc tế và của nước ta như các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, các quy định pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả Qua đó, tác giả cũng nêu lên vi phạm quyền tác giả xảy ra thường xuyên, ở hầu hết các lĩnh vực và trong tình trạng đáng báo động Điều đó chứng tỏ rằng, cho đến nay, hiệu quả thực thi quyền tác giả không cao, các phương thức thực thi quyền tác giả, các tồn tại hạn chế trong việc thực thi quyền tác giả và đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền tác giả

Nguyễn Hợp Toàn; Nguyễn Thị Thanh Thủy; Trần Văn Nam - Đại học Kinh tế

Quốc dân,“Thực trạng giải quyết tranh chấp về quyền tác giả tại Việt Nam giai đoạn 2006-2012 và một số đề xuất tiếp tục hoàn thiện pháp luật và thực thi về sở hữu trí tuệ” (2013), nội dung bài viết nhóm tác giả nêu ra những hạn chế như: tính mất cân xứng của

luật nội dung về quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp, những bất cập của pháp luật về tố tụng đối với việc giải quyết các vụ tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ và sự non kém về năng lực chuyên môn của các cán bộ xét xử, hệ quả là tòa án chưa thực sự trở thành kênh giải quyết thuyết phục, ưa chuộng đối với các tranh chấp về tác quyền Đồng thời đề xuất một số giải pháp, bao gồm xây dựng luật riêng về quyền tác giả; thiết lập tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ, thiết lập cơ quan đầu mối phối hợp trong phòng

Trang 7

chống, xử lí có hiệu quả các hành vi xâm phạm tác quyền v.v nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ và tăng hiệu lực thực thi trong thời gian tới ở Việt Nam

Trần Văn Hải – Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, “Những bất cập trong quy định của pháp luật SHTT Việt Nam hiện hành về quyền tác giả, quyền liên quan”, Tạp chí Luật học, số 7,

(122) năm 2010 Nội dung bài viết phân tích một số bất cập của pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành về quyền tác giả, quyền liên quan và đề xuất việc hoàn thiện pháp luật

Nguyễn Như Quỳnh– Khoa Luật dân sự – Trường Đại học Luật Hà nội,“Sự tương thích giữa các quy định pháp luật hiện hành về quyền tác giả của Việt Nam và các công ước quốc tế về quyền tác giả” (2008) Ở bài viết này, tác giả bàn về sự tương

thích giữa các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về quyền tác giả và các công ước quốc tế trên cơ sở xem xét, so sánh những văn bản pháp luật cơ bản nhất của Việt Nam về quyền tác giả (như Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành, Bộ luật

tố tụng dân sự, Bộ luật hình sự, Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính và văn bản hướng

dẫn thi hành) và hai công ước quốc tế là: Công ước Berne và Hiệp định TRIPs

Bài viết “Một vài suy nghĩ về bảo hộ phần mềm máy tính ở Việt Nam”của tác giả

Nguyễn Đình Huy, tạp chí KHPL Số 8/2002, nội dung bài viết đã nêu lên mối quan hệ giữa quyền tác giả và quyền sở hữu, một loại quyền sở hữu đối với tài sản vô hình - thành quả của hoạt động sáng tạo của con người Tác giả đã phân tích những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng sao chép lậu tràn lan các phần mềm như hiện nay, qua đó tác giả đưa ra các giải pháp để bảo hộ có hiệu quả quyền tác giả đối với phần mềm máy tính

“Luật Sở hữu trí tuệ và bảo hộ phần mềm máy tính”, của tác giả Nguyễn Hoàn Thành được tìm thấy trên trang http://bacvietluat.vn/luat-so-huu-tri-tue-va-bao-ho-phan-mem-may-tinh.html Trong bài viết này tác giả phân tích các cơ sở pháp lý để bảo

hộ bản quyền phần mềm máy tính; điều kiện xác lập quyền tác giả, tác giả và chủ sở hữu bản quyền; nêu lên thực trạng vi phạm bản quyền phần mềm máy tính và đề ra một số vấn đề còn tồn tại và các biện pháp thực thi quyền

Qua nghiên cứu các tài liệu nêu trên, tác giả đã có thêm được thông tin về lý luận chung quyền tác giả, các quy định của Quốc tế và của nước ta như các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để so sánh với các quy định pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả, thực trạng vi phạm bản quyền phần mềm máy tính, một số tồn tại, bất cập của pháp luật hiện hành trong công tác thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên

Trang 8

quan Từ đó, tác giả phân tích các cơ sở pháp lý để làm rõ hơn những ưu điểm và tồn tại của pháp luật hiện hành về công tác thực thi bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm và kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực thi bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu chung

Luận văn tập trung làm rõ những phương thức thực thi pháp luật, những tồn tại, hạn chế trong việc thực thi bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm của pháp luật Việt Nam Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng và hoàn thiện pháp luật cho bảo hộ quyền tác giả đối với các sản phẩm phần mềm tại Việt Nam

3.2 Mục tiêu cụ thể

Với mục tiêu nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ cụ thể mà luận văn phải thực hiện là:

- Nghiên cứu các quy định pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm

- Phân tích, đánh giá việc thực thi pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm tại Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật trong việc thực thi pháp luật

về bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề thực thi pháp luật về bảo hộ quyền tác giả nói chung và đối với sản phẩm phần mềm theo pháp luật Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về lý luận: Nghiên cứu các vấn đề về lý luận, về các quy định của pháp luật có liên quan trực tiếp đến việc thực thi pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm

- Về cơ sở pháp lý: Đề tài nghiên cứu việc thực thi pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm

Trang 9

- Về thực tiễn: Giới hạn nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam

- Về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2016

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài thực thi pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm tại Việt Nam, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương

pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh để phân tích làm rõ các quy định của pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm, phân tích thực trạng xâm phạm bản quyền phần mềm và tình hình thực thi pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm ở nước ta, so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, phân tích tình hình vi phạm bản quyền phần mềm của nước ta Qua phân tích, đánh giá để tìm ra một số giải pháp nhằm đảm bảo thực thi bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm

6 KẾT CẤU DỰ KIẾN CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm có hai chương

Chương 1 Lý luận và cơ sở pháp lý về thực thi pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm

Chương 2 Thực tiễn công tác thực thi pháp luật bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm tại Việt Nam và một số giải pháp

Trang 10

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ THỰC THI BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI SẢN PHẨM PHẦN MỀM

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI SẢN PHẨM PHẦN MỀM

Mục đích chung nhất của hoạt động bảo hộ quyền tác giả là khuyến khích các hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học Sản phẩm của quá trình này là các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học Vì vậy, hoạt động bảo hộ quyền tác giả một cách tương xứng và có hiệu quả trong một quốc gia sẽ có vai trò quan trọng trong việc làm giàu và phong phú nền di sản văn hóa đất nước, góp phần đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục quốc gia

+ Bảo hộ quyền tác giả: Bảo hộ là bảo vệ, che chở, bênh vực không để tổn thất,

thiệt hại Bảo hộ quyền tác giả chính là việc không để tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả

bị tổn thất, thiệt hại về mặt vật chất cũng như tinh thần từ việc khai thác trái phép tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học của họ.“Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền

sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích của chủ thể quyền

sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh” 2 , nhà nước bảo hộ

quyền tác giả bằng các công cụ của mình thông qua các cơ quan quản lý nhà nước, các

cơ quan thực thi và hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tác giả hoặc chủ thể quyền

Tác giả hoặc chủ thể thực hiện đăng ký quyền tác giả với cơ quan nhà nước có

thẩm quyền nhà nước để được nhà nước bảo hộ, tuy nhiên quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký 3 cũng sẽ được nhà nước bảo hộ

+ Bảo vệ quyền tác giả: Luật SHTT luôn khuyến khích tác giả hoặc chủ thể

quyền nên áp dụng các biện pháp tự bảo vệ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Các biện pháp tự bảo vệ có thể gồm: Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền tác giả; Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm

2 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (Luật số: 50/2005/QH11) ngày 29/11/2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, Điều 8

3 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (Luật số: 50/2005/QH11) ngày 29/11/2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, Khoản 1, Điều 6

Ngày đăng: 30/01/2021, 13:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w