trọng của dinh dưỡng đối với sức khỏe, tâm lý thoải mái trong giờ ăn, có ý thứctốt trong việc ăn uống, có một số thói quen văn minh tốt…tạo điều kiện để pháttriển thể chất, phát triển tr
Trang 11 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình là côngdân tương lai của đất nước Mọi trẻ em sinh ra đều được quyền bình đẳng: Nuôidưỡng, chăm sóc, giáo dục và tham gia vào các hoạt động học hành vui chơi
Có thể nói, trẻ em lứa tuổi Mầm non (từ 0 đến 6 tuổi) là thời kỳ phát triển nhanh
về mọi mặt, nền tảng quyết định nhất là sự phát triển về thể chất Sự phát triểnthể chất của trẻ ảnh hưởng đến sự phát triển mọi mặt đặc biệt là sự phát triển trítuệ Yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến sự phát triển mọi mặt đó là thể chất mà thểchất trong đó phải kể đến dinh dưỡng, các nhà dinh dưỡng học đã nói “Dinhdưỡng là cái nền của sức khỏe” Dinh dưỡng là nhu cầu sống hằng ngày của conngười, trẻ em cần dinh dưỡng để phát triển thể lực và trí lực, người lớn cần dinhdưỡng để duy trì sự sống và làm việc hay nói cách khác dinh dưỡng quyết định
sự tồn tại và phát triển của cơ thể Trẻ em trong độ tuổi này, nhu cầu dinh dưỡngrất lớn nếu như không được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng thì không thể pháttriển bình thường được dẫn đến nguyên nhân gây ra nhiều bệnh tật như suy dinhdưỡng, còi xương… Như vậy những hoạt động giáo dục dinh dưỡng nhằm cảithiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em để góp phần nâng cao hiệu quả công tácchăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ là một việc làm cần thiết và rất có ý nghĩa
Ở trẻ em trong độ tuổi cơ thể đang phát triển mạnh nhu cầu dinh dưỡng rấtlớn Nếu ăn uống không đủ chất, không đảm bảo vệ sinh, ăn không có khoa họctrẻ em sẽ là đối tượng đầu tiên chịu hậu quả của các bệnh về dinh dưỡng như:suy dinh dưỡng protein-năng lượng, các bệnh do thiếu vi chất dinh dưỡng (đầnđộn, hỏng mắt ) Ở nước ta vấn đề thiếu dinh dưỡng hiện nay vẫn còn là vấn đềnghiêm trọng, bên cạnh đó căn bệnh béo phì lại có xu hướng gia tăng, làm sao
để giảm tình trạng suy dinh dưỡng và nguy cơ béo phì là một vấn đề thiết yếu
Là một giáo viên mầm non trực tiếp làm nhiệm vụ chăm sóc cho các cháu, tôi hạquyết tâm làm sao để giúp các cháu nhận thức đúng đắng tầm quan trọng củadinh dưỡng đối với sức khỏe con người
Trang 2Qua thực tế, việc tổ chức ăn uống cho trẻ ở trường mầm non hay ở tronggia đình vẫn còn nhiều vấn đề bàn đến, thường trong các bữa ăn của trẻ ngườilớn chỉ chú ý cho trẻ làm sao ăn cho nhiều, ăn hết suất, ăn liên tục, ăn nhồi nhétchứ chưa chú ý đến việc trẻ có ăn ngon miệng hay không? ăn nhiều quá có tốtcho sức khỏe không?… Còn ở trường cứ đến giờ ăn thì cho cháu ăn chứ giáoviên cũng ít chú ý tới việc tổ chức làm sao cho trẻ có hứng thú để ăn, tâm lýthoải khi ăn….Ngoài ra tôi còn quan sát giờ ăn của trẻ: phần lớn trẻ đã ăn hếtkhẩu phần ăn, nhưng ăn trong 1 thời gian tương đối dài và tốc độ ăn lúc đầu củatrẻ tương đối nhanh, về sau thì giảm dần, đặc biệt khi ăn đến chén thứ hai thìnhiều trẻ không muốn ăn ngồi ngậm cơm, một số trẻ tỏ ra hào hứng trong ănuống, bên cạnh đó tôi thấy có rât nhiều trẻ khó chịu, không muốn ăn, có nhiềutrẻ khi cô giáo đến xúc cơm cho trẻ thì trẻ miếm chặt môi không cho cô giáo đúthoặc có trẻ giả làm động tác ọe cơm để cô không cho ăn nữa … Đa số các trẻchưa nhận thức được tầm quan trọng của việc ăn uống, ăn uống như vậy làm sao
có sức khỏe, để học tập có hứng thú, vui chơi thoải mái cùng bạn bè
Cũng như các nhà tâm lý đã nghiên cứu, trẻ ăn ngon có tinh thần thoải máithì cơ thể sẽ hấp thu nhiều hơn và ngược lại trẻ ăn mà bị ngượng ép thì hấp thu
sẽ kém hơn, trẻ còn nhỏ vốn kiến thức còn nghèo nàn nên làm thế nào để cho trẻtiếp thu kiến thức dinh dưỡng, sức khỏe một cách tốt nhất đó cũng là vấn đềkhiến tôi băn khoăn Nhận thức được tầm quan trọng của việc Giáo dục dinhdưỡng, sức khoẻ với trẻ mẫu giáo Vì vậy, ngay từ đầu năm học 2018 – 2019,tôi đã đi sâu nghiên cứu lồng ghép Giáo dục dinh dưỡng, sức khoẻ cho trẻ theo
hướng tích hợp nên tôi chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo
dục dinh dưỡng, sức khỏe cho trẻ mẫu giáo” Mục đích là góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục dinh dưỡng, sức khoẻ cho trẻ
1.1.1 Cơ sở lý luận
Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước Việcbảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội và của mỗigia đình: “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” Giáo dục trẻ ngay từ khi còn nhỏ
Trang 3là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp trồng người, nhằm hình thành và pháttriển nhân cách toàn diện cho trẻ sau này.
Sinh thời Bác Hồ đã nói: “Không có giáo dục thì không nói gì đến kinh tếvăn hóa” Sản phẩm của giáo dục là con người mà con người là mục tiêu, độnglực của sự phát triển đất nước trong tương lai đó chính là thế hệ trẻ
Giáo dục mầm non góp phần cùng với sự phát triển của giáo dục Việt Namđào tạo ra những con người có năng lực, phát triển toàn diện không những cả vềphẩm chất trí tuệ, phẩm chất đạo đức mà còn có đầy đủ sức khỏe và sẵng sànphục vụ đắc lực cho sự nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế
xã hội trong tương lai
Mục tiêu giáo dục mầm non trong chiến lược phát triển giáo dục nhấnmạnh đến chất lượng giáo dục toàn diện, trong đó phát triển thể chất được đặt ratrong mối quan hệ tổng thể với các mặt phát triển khác: “Nâng cao chất lượngchăm sóc giáo dục trẻ dưới 6 tuổi để phát triển một cách toàn diện về thể chất,tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ “ Cơ thể trẻ em đang phát triển rất nhanh về thể chất
và tinh thần, đặc biệt trong thời kì bào thai và 5 năm đầu của cuộc đời, do vậynhu cầu dinh dưỡng của trẻ rất cao Ở giai đoạn này cơ thể trẻ còn non yếu vàchức năng các bộ phận cơ thể, nhất là chức năng tiêu hóa, là giai đoạn thích ứngvới môi trường, nhày cảm với bệnh tật và cũng là giai đoạn tiền đề cho sức khỏe
và trí tuệ sau này, tác động trực tiếp vào sự phát triển toàn diện của trẻ Việccung cấp không đầy đủ không đúng khẩu phần dinh dưỡng sẽ làm cho trẻ dễmắc bệnh về dinh dưỡng
Độ tuổi mầm non là độ tuổi rất tốt để trẻ tiếp thu những điều được dạy ởtrường và hình thành thói quen lâu dài trong tương lai Bởi vậy nếu ngay từ thờiđiểm này chúng ta giáo dục dinh dưỡng cho trẻ thì sẽ giúp trẻ ghi nhớ và tạo nênmột thế hệ với vốn hiểu biết phong phú về dinh dưỡng và sức khỏe conngười Việc giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mần non cũng sẽ giúp các bé ăn uốngmột cách tự giác, đúng cách và biết trân trọng thực phẩm từ đó sẽ tạo nên cáchành vi có lợi để đảm bảo sức khỏe lâu dài cho bản thân trẻ cũng như cả cộng
Trang 4đồng Do đó việc lựa chọn các phương pháp giáo dục dinh dưỡng phù hợp chotrẻ mầm non là hết sức cần thiết, làm sao để giáo viên có phương pháp giáo dụccho trẻ mang lại hiệu quả.
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Đầu năm học 2018-2019, tôi được nhà trường phân công phụ trách công tácchăm sóc, giảng dạy lớp lá D Qua quá trình quan sát theo dõi trẻ tham gia cáchoạt động của từng trẻ trong lớp, tôi nhận thấy rằng: Khả năng nhận biết và phânbiệt được những loại thực phẩm thông thường và ích lợi của thực phẩm đối vớisức khoẻ của trẻ còn hạn chế Một số trẻ chưa có ý thức ăn uống đầy đủ, hợp lý
để cơ thể khoẻ mạnh Chưa có một số kỹ năng cơ bản về nề nếp thói quen, hành
vi tốt trong ăn uống, chưa tự chăm sóc bảo vệ sức khỏe, tự phục vụ bản thânmình, cũng như bước đầu biết cách bảo vệ sức khoẻ cho bản thân, chăm sóc vệsinh thân thể và các giác quan
Để làm tốt công tác này, tôi đã tìm tòi, nghiên cứu, trau dồi và trang bị chomình một kiến thức tốt nhất khi tổ chức các hoạt động cho trẻ Làm thế nào đểgiúp trẻ cảm thấy thoải mái vui vẻ vào giờ ăn thì chất lượng bữa ăn mới đem lạihiệu quả cao, làm sao để trẻ nhận thức được tầm quan trọng của dinh dưỡng đốivới sức khỏe, biết được con người cần ăn uống mới lớn lên và khỏe mạnh đồngthời giúp trẻ hình thành những hành vi văn minh trong ăn uống và biết lao động
tự phục vụ bản thân mình Bản thân tôi đã cố gắng lựa chọn những phươngpháp, hình thức tổ chức sinh động, phù hợp với lứa tuổi, đặc điểm sinh lý trẻnhằm phát huy những khả năng nhận thức ở từng trẻ Với tôi, trẻ chính là nhữngvùng đất mới màu mỡ đang chờ chúng ta khai thác, vì thế chúng ta cần tìm vàđưa ra những giải pháp đúng đắn, hấp dẫn mới phát huy hết giá trị của nó
1.2 Xác định mục đích nghiên cứu
Với đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng,
sức khỏe cho trẻ mẫu giáo” thì mục tiêu cuối cùng là tìm ra các giải pháp để
nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng, sức khỏe cho trẻ Thông qua các hoạtđộng giáo dục dinh dưỡng, sức khỏe sẽ giúp trẻ có nhận thức đúng về tầm quan
Trang 5trọng của dinh dưỡng đối với sức khỏe, tâm lý thoải mái trong giờ ăn, có ý thứctốt trong việc ăn uống, có một số thói quen văn minh tốt…tạo điều kiện để pháttriển thể chất, phát triển trí tuệ, kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử, hành vi vănminh…
Mục tiêu của đề tài là tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu thực trạng nhận thức về dinh dưỡng, sở thích, thói quen trong ănuống của trẻ, tìm hiểu nguyên nhân, hạn chế Từ đó tìm ra các giải pháp phù hợp
và đưa giải pháp đó vào tổ chức giáo dục dinh dưỡng, sức khỏe cho trẻ như thếnào cho hiệu quả, vận động tuyên truyền phụ huynh phối hợp cùng nhà trườngtrong công tác chăm sóc giáo dục trẻ một cách tích cực nhất
- Kết quả nghiên cứu và một số kiến nghị đối với nhà trường để tổ chứccông tác dinh dưỡng cho trẻ
- Những biện pháp đưa ra trong đề tài là bài học kinh nghiệm cần thiếttrong việc giáo dục dinh dưỡng,sức khỏe cho trẻ của giáo viên mẫu giáo
- Khi đề tài thành công sẽ giúp cho bản thân tôi nói riêng và từng thànhviên trong tổ mẫu giáo nói chung có được các giải pháp và một số kinh nghiệmtrong việc giáo dục dinh dưỡng sức khỏe cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
- Nâng cao chất lượng giảng dạy cho trẻ mẫu giáo 5 -6 tuổi nói riêng và độtuổi mầm non nói chung
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lớp lá D Trường Mầm non thị trấn Bình Dương mà tôi đangchăm sóc giảng dạy trong năm học này
- Tài liệu Giáo dục dinh dưỡng sức khỏe trẻ
1.4 Đối tượng khảo sát thực nghiệm
- Đối tượng khảo sát, thực nghiệm là học sinh lớp lá D Trường Mầm nonthị trấn Bình Dương
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
* Nghiên cứu tài liệu
Trang 6Sưu tầm và tìm đọc một số tài liệu có liên quan đến yêu cầu giáo dục dinhdưỡng cho trẻ, các biện pháp, các nội dung giáo dục lồng ghép vào các hoạtđộng, các thời điểm trong ngày ghi chép lại.Tham khảo một số sách báo, sưutâm thơ ca, hò, vè về dinh dưỡng Thường xuyên tìm tòi sách báo, thông tin đạichúng để cập nhập thông tin về cách nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ hằngngày, hằng tuần, hằng tháng và theo mùa.
* Nghiên cứu thực trạng
Khảo sát giờ ăn của trẻ tại lớp, dự giờ giờ ăn của các lớp khác, trò chuyêntrao đổi với phụ huynh, học sinh, đồng nghiệp Tìm hiểu về công tác phối hợpgiữa giáo viên và phụ huynh để nắm được tình hình chăm sóc giáo dục trẻ ở nhà
và các biên pháp của giáo viên ở trường từ đó rút ra những ưu điểm và tồn tại
để có giải pháp thích hợp cho trẻ
* Quan sát
Qua quan sát trẻ trong một số hoạt động ở trường, lớp như: giờ ăn, giờhoạt động góc, hoạt động ngoài trời…….ghi chép lại sở thích cá nhân, thói quentrong ăn uống, khả năng nhận biết của trẻ như thế nào để làm cơ sở đánh giá
Trang 7- Nhằm tổng hợp, so sánh, đối chiếu kết quả khi chưa áp dụng giải phápmới và khi đã thực hiện giải pháp mới.
1.6 Phạm vi và thời gian nghiên cứu
- Điều tra thực tế, đọc và nghiên cứu tài liệu: Từ tháng 04/2018 đến tháng08/2018
Trang 82 NỘI DUNG 2.1 Những nội dung lý luận có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu
Như chúng ta đã biết chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn
2001-2010 cũng đã tiếp tục triển khai công tác giáo dục dinh dưỡng và phổ cập kiếnthức dinh dưỡng cho toàn dân Nhiệm vụ này nhằm thực hiện mục tiêu giảm tỉ lệsuy dinh dưỡng cho trẻ từ 0-5 tuổi xuống 25% vào năm 2005 và dưới 20% vàonăm 2010, tỉ lệ trẻ em béo phì dưới 5 tuổi không quá 5% vào năm 2010
Thực hiện nhiệm vụ của Bộ giáo dục và Đào tạo, nghành học mầm non đãđưa nội dung giáo dục dinh dưỡng sức khỏe vào chương trình chăm sóc giáo dụctrẻ ở nhà trẻ mẫu giáo
Và chúng ta đã biết, nhu cầu dinh dưỡng rất cần thiết và quan trọng trongtừng thời kỳ phát triển của trẻ, đặc biệt với lứa tuổi mẫu giáo Vậy muốn trẻ pháttriển được toàn diện, trước hết trẻ phải được phát triển hài hoà, cân đối cả về thểchất lẫn tinh thần để tiếp thu, lĩnh hội tri thức, kiến thức cần thiết, tạo nền móngtốt cho trẻ sau này Việc tổ chức các hoạt động giáo dục về nội dung giáo dụcdinh dưỡng, sức khoẻ thích hợp cho trẻ ở độ tuổi này là tích hợp vào các hoạtđộng của các lĩnh vực khác, vào các chủ đề, kết hợp giáo dục trong các thờiđiểm, tình huống hàng ngày, nề nếp thói quen trong ăn uống góp phần phát triểntoàn diện về mọi mặt cho trẻ, giúp trẻ nhận biết một số kiến thức cơ bản như:Biết ăn uống đúng cách để có lợi cho sức khoẻ Biết thức ăn cung cấp dinhdưỡng để nuôi dưỡng cơ thể Cung cấp kiến thức về 4 nhóm thực phẩm cơ bản:Protein, Lippit, Glucid, Vitamin Thành phần các món ăn đơn giản quen thuộc
Trang 9trẻ ăn hàng ngày Chúng ta cần thức ăn và nước uống để sống, lớn lên, có sứckhoẻ, sức lực để vui chơi học hành.
Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở lứa tuổi này chưa hoàn thiện, cơ thể còn nonyếu dễ bị phát triển lệch lạc, do vậy trẻ có thể phát triển tốt nếu như được nuôidưỡng chăm sóc một cách hợp lý, việc chăm sóc của người lớn có ý nghĩa đặcbiệt trong việc phát triển toàn diện của trẻ Nhận thức sâu sắc về điều này trongnăm học qua tôi đã tổ chức tốt các hoạt động giáo dục dinh dưỡng và lồng ghépvào các hoạt động cho trẻ
2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Năm học 2018-2019 tôi được phân công chủ nhiệm lớp lá D Trong quátrình tố chức giáo dục dinh dưỡng, sức khoẻ và cách tổ chức ăn uống cho trẻ tôigặp những thuận lợi và khó khăn sau
2.2.1 Thuận lợi
- Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, của Đảng và của Ủy ban nhândân thị trấn Bình Dương đã và đang từng bước xây dựng trường Mầm non BìnhDương trên một mặt bằng khá rộng, trường lớp khang trang sạch đẹp, các lớpđều có lối đi qua lại, nhà vệ sinh đầy đủ Hơn nữa trường Mầm non chúng tôinằm xa khu dân cư, tránh sự ồn ào, thoáng mát nên trẻ ở đây ngủ ngon đủ giấc
- Có bếp nấu ăn tương đối rộng rãi, sạch sẽ theo qui trình bếp ăn, có đầy đủ
đồ dùng, dụng cụ nấu ăn
- Bản thân tôi được nhà trường tạo điều kiện cho tôi đi học bồi dưỡngchuyên môn nghiệp vụ để trang bị một số kiến thức về dinh dưỡng, ích lợi khẩuphần ăn đối với từng độ tuổi Bên cạnh đó tôi được sự đồng tình giúp đỡ của cácchị em đồng nghiệp, với lòng tâm huyết yêu nghề mến trẻ “Tôi muốn được thấycác cháu cười mỗi ngày, nụ cười thánh thiện làm tôi thấy dường như trẻ lại”
- Lớp có 2 cô giáo phụ trách có trình độ đạt trên chuẩn Các cô đều có lòngnhiệt tình, yêu nghề mến trẻ
- 100% trẻ được học bán trú tại trường, nên có thuận lợi trong công tácchăm sóc giáo dục trẻ được thường xuyên
Trang 102.2.2 Khó khăn
a Thực trạng từ nhà trường
- Trường Mầm non Bình Dương cũng như các trường mầm non khác đềukhó khăn về cơ sở vật chất, nhất là các phương tiện dạy học dành cho giáo viên,chưa có được sự đầu tư đúng mực về các phương tiện hỗ trợ cho công tác giảngdạy của giáo viên
- Tư liệu tham khảo cho giáo viên còn hạn chế
- Diện tích lớp học còn nhỏ so với số lượng trẻ
- Kinh phí đầu tư xây dựng cùng lúc quá lớn nên hạn chế việc mua sắmtrang thiết bị
- Chưa có phòng riêng cho trẻ ăn
b Thực trạng từ giáo viên
- Giáo viên còn phải tham gia làm một số công việc do nhà trường phâncông như: điều tra phổ cập nên thời gian dành cho chuyên môn đôi lúc chưanhiều
- Còn gặp nhiều khó khăn về thời gian, kinh nghiệm trong việc tìm kiếm tàiliệu, phương pháp, nghiên cứu đề tài
- Một số giáo viên còn chưa linh hoạt trong việc tổ chức hoạt động mangtính tích hợp vào trong chương trình giảng dạy
c Thực trạng từ học sinh
- Sĩ số trên từng lớp còn khá đông nên gây khó khăn cho giáo viên khi tổchức các giờ ăn cho trẻ
- Phần lớn trẻ được nuông chiều nên việc rèn nề nếp thói quen và kỹ năng
vệ sinh và thói quen ăn uống còn nhiều hạn chế Lớp có nhiều cháu mới đi họcchưa được học qua lớp nhà trẻ, cho nên còn rất bỡ ngỡ
- Do nhận thức, vốn kiến thức về dinh dưỡng của trẻ không đồng đều, cótrẻ thì nhanh nhẹn linh hoạt Nhưng có trẻ thì lại chậm chạp, thụ động, khôngthích hoạt động Vì vậy, trong quá trình tổ chức hoạt động về giáo dục dinhdưỡng, sức khoẻ ở lớp tôi đầu năm mang lại kết quả chưa cao
Trang 11d Thực trạng từ phụ huynh học sinh
- Các bậc phụ huynh luôn nóng vội trong việc học đọc, viết và làm sao chotrẻ ăn thật nhiều như: vừa ra khỏi lớp học hỏi con hôm may cô cho viết chữgì?,học chữ gì? ăn mấy chén cơm? đến nổi ăn có nguy cơ béo phì mà vẫn nhờ
cô giáo cho cháu ăn thêm váng sữa, bò cười…miễn sao con tăng cân là đượcchứ không nghĩ làm thế nào để trẻ có một tâm lý thỏa mái để ăn? ăn đủ lượng đủchất hợp lý? biết sử dụng đồ dùng vật dụng trong khi ăn uống? ăn biết mời mọc,
ăn có văn hóa? Một số trẻ ỷ lại mang tính dựa dẫm được bố mẹ cưng chiềunhư ở nhà bố mẹ đút ăn, ép ăn…nên trẻ đến trường có thói quen chờ cô, ănchậm, ngậm cơm không tự phục vụ Một số phụ huynh chưa nghĩ đến việc nuôicon có khoa học
- Để thực hiện đề tài này, tôi tiến hành nghiên cứu tài liệu, đúc kết kinhnghiệm trong quá trình giảng dạy Vào đầu năm học, tôi tiến hành khảo sát tìnhhình sức khỏe trẻ và khả năng nhận biết, kỹ năng trong ăn uống của trẻ 5-6 tuổi
ở lớp mình, tôi nhận thấy rằng: Mức độ nhận thức về dinh dưỡng và thói quenhành vi trong ăn uống của trẻ còn hạn chế
Qua quá trình khảo sát, tôi tổng hợp được kết quả sau:
Trang 126 Trẻ suy dinh dưỡng 7/38 18,5%
- Chưa nhận biết được sự cần thiết của ăn uống hợp vệ sinh
- Khả năng nhận biết một số thực phẩm và các món ăn quen thuộc còn hạnchế
- Kỹ năng tụ phục vụ, nề nếp thói quen trong ăn uống chưa thành thạo
- Tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng vẫn còn cao, trẻ thừa cân béo phì vẫn còn
- Một số giáo viên chưa hiểu hết tầm quan trọng, sự cần thiết của việc giáodục dinh dưỡng cho trẻ nên chưa tìm ra được các phương pháp giáo dục phù hợpkhả năng, nhận thức, độ tuổi của trẻ
- Một số phụ huynh chưa thực sự thấy được vai trò của mình trong công tácchăm sóc giáo dục trẻ
2.3 Mô tả, phân tích các giải pháp (hoặc biện pháp, các cách ứng dụng, cách làm mới) mà tác giả, đã thực hiện, đã sử dụng nhằm làm cho công việc có hiệu quả hơn.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài và qua thực tế dạy trẻ hằng ngày tôi đãthực hiện các giải pháp mới để thực hiện vấn đề như sau:
Giải pháp 1: Lựa chọn các nội dung cơ bản về giáo dục dinh dưỡng, sức khỏe phù hợp với lứa tuổi và phù hợp với từng chủ đề.
Nội dung giáo dục dinh dưỡng, sức khỏe cho trẻ vô cùng phong phú và đadạng nhưng không phải nội dung nào cũng phù hợp với trẻ Vì thế, giáo viên nên
có sự cân nhắc lựa chọn cho trẻ các nội dung giáo dục dinh dưỡng đơn giản, dễhiểu, dễ nhớ
Trang 13Bên cạnh đó trong trường mầm non lại có sự phân chia trẻ theo nhiều độtuổi Mỗi độ tuổi lại có mức độ nhận thức khác nhau chính vì thế các nội dunggiáo dục dinh dưỡng, sức khỏe cũng cần phải được lựa chọn cho phù hợp vớitừng độ tuổi.
Khi lựa chọn nội dung giáo dục dinh dưỡng, sức khỏe cho trẻ mẫu giáo tôithực hiện theo các tiêu chí sau:
- Nội dung giáo dục dinh dưỡng, sức khỏe không quá đơn giản nhưng cũngkhông quá phức tạp, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ
- Đồ dùng đồ chơi phục vụ cho nội dung giáo dục dễ kiếm, dễ tìm
- Giúp cũng cố tư duy, ngôn ngữ, kỹ năng cho trẻ
- Gây hứng thú thu hút sự chú ý của trẻ
- Có sự tham gia của tập thể lớp, các nhân trẻ
Từ những tiêu chí trên tôi đã lựa chọn các nội dung giáo dục dinh dưỡng,sức khỏe cho lớp mẫu giáo 5-6 tuổi như sau:
+ Nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với đời sốngcon người
+ Ích lợi của việc ăn uống: Để giúp trẻ ăn uống ngon đủ lượng, đủ chấttrước hết tôi phải chú trọng đến việc ăn uống Trẻ ăn uống đầy đủ, ngủ đủ giấc,vui chơi phù hợp.Trên cơ sở đó trẻ phát triển toàn diện về cả thể chất và tinhthần Trẻ biết con người cần được ăn uống để sống, phát triển, làm việc, học tập
và vui chơi
+ Làm quen 1 số loại thực phẩm: Bằng cách trò chuyện thông qua các mônhọc, giáo viên cho trẻ biết các loại thực phẩm quen thuộc ở địa phương, thựcphẩm giàu dinh dưỡng và 1 số cách chế biến các món ăn đơn giản thông qua “bétập làm nội trợ”, góc chơi gia đình
+ Ăn uống đủ chất: Giáo viên dạy trẻ biết phân biệt các nhóm thức ănchính: đạm - mỡ - đường - vitamin, nhận biết tên thực phẩm, biết bữa ăn đủ chấtgồm nhũng loại thực phẩm nào, biết cách pha sữa, pha nước cam Qua đó côgiáo dục trẻ ăn nhiều loại thức ăn, ăn hết xuất không kén chọn thức ăn
Trang 14+ Ăn uống hợp vệ sinh: Giáo viên khuyên trẻ nên ăn uống sạch sẽ, hợp vệsinh bảo vệ an toàn thực phẩm Cô cần rèn cho trẻ số thoái quen tốt và hành vivăn minh trong ăn uống như: rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, cáchdùng khăn lau mặt sạch, ăn không nói chuyện, ăn biết mời mọc, ăn không rơivãi, không dung tay bóc thức ăn, không bỏ thức ăn vào chén bạn…
+ Kỷ năng tự phục vụ: Giáo viên hướng dẫn trẻ lao động tự phục vụ như:biết cầm chén muỗng đúng cách, nhận ca, khăn, bàn chải đánh răng qua ký hiệu,rèn cho trẻ tự ăn không ỷ lại người khác, ăn xong biết cất chén muỗng gọn gàng,xếp ghế đúng nơi qui định
Từ việc lựa chọn các nội dung giáo dục dinh dưỡng, sức khỏe phù hợp vớilứa tuổi thì hiện nay, bậc học mầm non thực hiện chương trình giáo dục mầmnon theo hướng đổi mới tích hợp lồng ghép vào các hoạt động, các chủ đề, cácmôn học Vì vậy chương trình giáo dục trẻ được thực hiện theo các chủ đềnhưng không phải nội dung giáo dục dinh dưỡng nào cũng phù hợp với các chủ
đề, với các hoạt động, việc lựa chọn các nội dung giáo dục dinh dưỡng phù hợpvới chủ đề sẽ giúp cho giáo viên tổ chức tốt các nội dung cần học cho trẻ:
Bảng 2: Bảng phân phối các nội dung tích hợp lồng ghép qua các chủ đề
1 Trường
mầm non
- Nhận biết các món ăn tại trường, tập ăn hết suất
- Tập thói quen tự phục vụ trong ăn uống
- Biết đi vệ sinh đúng nơi quy định
- Giữ vệ sinh thân thể, biết bỏ rác đúng nơi qui định
- Làm quen với 4 nhóm thực phẩm ( tháp dinh dưỡng)
- An toàn khi sử dụng đồ dùng trong gia đình Tránh nhữngvật dụng nguy hiểm
Trang 15- Biết trật tự trong khi ăn, ăn không rơi vãi.
- Biết cách sử dụng các dung cụ trong khi ăn
- An toàn với một số dụng cụ nghề: kéo, búa, dao…
- Trẻ tự giác nhặt thức ăn rơi bỏ vào đĩa
- Trẻ biết trước khi ăn phải mời mộc
- Không ăn thức ăn ôi thiu
- Trẻ biết trong khẩu phần ăn có đầy đủ các nhóm
- Biết được lợi ích của việc ăn uống
- Giữ gìn sức khoẻ trong ngày tết và khi chuyển mùa
- Biết giữ gìn quý trọng bản thân
- Biết vệ sinh an toàn thực phẩm
- Hiểu biết và phân biệt 4 nhóm thức ăn chính
- Cách sử dụng các loại rau, củ, quả
- Biết chăm sóc, bảo vệ cây trồng
- Biết giữ vệ sinh trong ăn uống
7
Phương
tiện giao
thong
- An toàn khi tham gia giao thông
- Các phương tiện chuyên chở thực phẩm
- Tự giác vào giờ ăn
Trang 16- An toàn khi sử dụng các loại thức ăn vào mùa hè.
- Ăn mặc phù hợp theo mùa
- Ăn nhanh, ăn hết suất
- Biết lao động tự phục vụ trong ăn uống
- Ăn uống gọn gàng
- Có hành vi văn minh trong ăn uống
Tóm lại: Với giải pháp này giúp cho giáo viên biết lựa chọn các nội dunggiáo dục dinh dưỡng phù hợp với độ tuổi, với nhận thức của trẻ và từ đó đưa cácnội dung này vào trong từng chủ đề cụ thể trong năm học, mỗi chủ đề có nhữngnội dung giáo dục dinh dưỡng, sức khỏe nhất định mang tính từ dễ đến khó, từnhững yêu cầu đơn giản ở đầu năm học thì đến cuối năm là những yêu cầu caohơn Từ đó giáo viên sẽ truyền tải hết các nội dung giáo dục dinh dưỡng, sứckhỏe xuyên suốt cả năm học một cách khoa học sẽ không dẫn đến việc đưa racác nội dung giáo dục dinh dưỡng, súc khỏe lặp đi lặp lai làm cho trẻ cảm thấynhàm chán học đi học một nội dung, thì việc giáo dục sẽ không mang lại hiệuquả cao, bởi vậy giải pháp này rất có hữu ích cho giáo viên trong việc lựa chọncác nội dung, các chủ đề để giáo dục dinh dưỡng, sức khỏe trẻ
Giải pháp 2: Chuẩn bị đồ dùng đồ chơi sưu tầm các bài thơ, hò, vè, tranh ảnh, câu đố, tham mưu mua đồ dùng đồ chơi, ứng dụng công nghệ thông tin… có nội dung giáo dục dinh dưỡng để dạy trẻ.
Thơ ca là thứ dễ đi vào lòng trẻ nhất giúp truyền tải kiến thức cho trẻ nhanh
nhất, không gây cảm giác nhàm chán, nặng nề đối với trẻ mà trẻ tiếp thu nhanh
Trang 17hơn, khắc sâu hơn Ngoài những bài thơ, câu đố, vè về dinh dưỡng có trongchương trình học tôi đã sưu tầm thêm ngoài chương trình các bài thơ, bài hát,bài vè, câu đố, đồng dao, truyện, … có nội dung giáo dục dinh dưỡng , để dạytrẻ thông qua các hoạt động, nhằm cung cấp và củng cố kiến thức cho trẻ.
Mỗi bài thơ ca, hò vè, câu chuyện, đồ chơi,…có nội dung giáo dục khácnhau Có bài giúp trẻ nhận biết giá trị dinh dưỡng các loại thực phẩm, làm quenvới các loại thực phẩm, nhận biết các nhóm thực phẩm, có bài dạy trẻ các hành
vi văn minh trong ăn uống Tùy thuộc vào từng nội dung giáo dục mà giáoviên lựa chọn kết hợp các bài thơ, hò vè, câu chuyện, đồ chơi phù hợp với nộidung đề tài đó
Ví dụ: Giúp trẻ nhận biết từng loại thực phẩm thì giáo viên có thể kết hợpcác bài vè sau:
Bài vè: Hò vè rau quả
Trang 18Cái vè chất đạm Nấu canh cho huyết
Trứng vịt trứng gà Sưu tầm
Ví dụ: Hướng dẫn trẻ các hành vi văn minh trong ăn uống trước giờ ăn tôi
cho trẻ đọc bài thơ “hành vi văn minh” do tôi sưu tầm
Hành vi văn minh
Bé mau đáp đáp
Sưu tầm
Ngoài ra, tôi thường lên mạng tìm những video, clip, một số tranh ảnh, các
đồ chơi, các hình ảnh đẹp về các món ăn nhằm phục vụ cho các biện pháp giáodục dinh dưỡng sẽ giúp cho trẻ tiếp thu nhanh và nhớ lâu hơn
Trang 19Ví dụ: Trò chơi “Thử tài bé yêu” Tôi sưu tầm hình ảnh về hành vi đúng, sai
trong giờ ăn, nên và không nên chọn các loại thực phẩm nào, bé sẽ làm gì khithời tiết nắng nóng…Cho trẻ quan sát trên máy vi tính trong chương trìnhpowerpoint Sau đó cho trẻ thi chọn tranh nếu trẻ nào chọn tranh sai sẽ hiện ragương mặt khóc, nếu trẻ chọn đúng tranh sẽ hiện ra khuôn mặt cười Vì vậy trẻrất thích, say sưa vào giờ học gây được ấn tượng sâu sắc với trẻ qua đó ta sẽ giáodục trẻ thì bài dạy sẽ đạt hiệu quả
Để trẻ nhận thức sâu sắc hơn về tầm quan trọng của dinh dưỡng tôi đã phốihợp ban giám hiệu vận động phụ huynh đóng góp đồ dùng, đồ chơi phục vụ việcgiáo dục dinh dưỡng như mua sắm thêm tranh về các nhóm thực phẩm, đồ chơinấu ăn, rau, củ quả, bộ tranh truyện về giáo dục dinh dưỡng nhằm giúp trẻ hằngngày được trải nghiệm thông qua thực hành, được quan sát trực quan để giúp trẻkhắc sâu hơn các nội dung kiến thức mà giáo viên truyền tải
Ngoài ra tôi còn vận dụng thời gian làm thêm đồ dùng, đồ chơi từ nguyênvật liệu thiên nhiên, phế liệu như: giá đổ, thịt, giò, chả …bằng đất nặn, lá, võ,hạt từ củ cây, … để làm phong phú thêm đồ dùng, đồ chơi giáo dục dinh dưỡnggiúp trẻ hứng thú hơn khi tham gia vào các hoạt động Việc làm phong phú thêm
Trang 20đồ dùng đồ chơi phục vụ cho giảng dạy là một việc không hề đơn giản khôngthể chờ sự đầu tư của các cấp, có một số đồ dùng không thể mua được để phục
vụ cho công tác giảng dạy, vì vậy chúng ta cần phải biết linh hoạt, sáng tạo kếthợp cùng phụ huynh vận động phụ huynh siêu tầm, ủng hộ các tranh ảnh, lịch
cũ, vỏ chai, võ lon, hộp bánh, nấp chai, đĩa, vỏ sò, vỏ ốc … Ngoài nhữngnguyên vật liệu do phụ huynh đóng góp, tôi còn dặn trẻ đóng góp nguyên vậtliệu mà trẻ sử dụng hành ngày như: vỏ sữa chua, các chai sữa, hạt trái cây, đồchơi cũ… Tư những vật liệu phế phẩm phụ huynh và trẻ đóng góp tôi và trẻ sẽcùng nhau trang trí và làm lại chúng
Ví dụ: Các loại tranh ảnh cũ tôi và trẻ sẽ dán vào tờ lịch cho cứng sau đó
dùng băng keo trong dán lên một lần nữa như thế thì chúng tôi đã làm được một
tờ tranh mới và sử dụng được Hoặc các đĩa hư tôi có thể dùng xốp cắt dán trangtrí thêm các bộ phận thành các con vật nghộ nghĩnh dán trang trí trên tường hay
vỏ củ xoắn (mì) tôi quấn lại tạo thành các miếng chả để trẻ chơi, …
Ví dụ: Với trò chơi “Từ điển” củ quả: Đây là một trong những trò chơi hết
sức thú vị mà tôi đã được áp dụng thành công.Tôi dùng giấy bìa tạo hình cácloại củ quả quen thuộc như: táo, cam, nho, dưa hấu… và dán chúng lên bảng.Các bé sẽ có nhiệm vụ gọi tên các loại củ quả đó Khi bé đoán đúng thì phầnthưởng sẽ chính là trẻ sẽ được dán hình của quả và sự khen ngợi của cô và cácbạn Tôi thấy đa phần các bé đều rất hào hứng với trò chơi này, tôi đang nghiêncứu để đưa các loại củ quả thật vào trò chơi này”
Trang 21Thông qua các hoạt động như vậy tạo sự mối quan hệ giữa giáo viên vớitrẻ, giáo viên với phụ huynh càng thêm thân thiện, trẻ càng thêm thích thú khitham gia vào các hoạt động do chính tay mình làm ra, các bậc phụ huynh thì rấtngạc nhiên và hài lòng về môi trường lớp học của con mình.
Tóm lại thông qua giải pháp này giúp cho giáo viên nhận thấy được: Đồdùng đồ chơi, tranh ảnh, thơ ca, hò vè cũng phải thật sự phong phú và mang đặcthù riêng, mỗi trò chơi có mỗi loại đồ dùng tương ứng mà khi thiếu nó thì chúng
ta không thể thực hiện được, có một số trò chơi phải ứng dụng công nghệ thôngtin thì mới làm cho trẻ hứng thú với tiết học thì mới đạt được yêu cầu giáo dục
đề ra Như giờ hoạt động góc, góc bé làm nội trợ nếu thiếu đồ dùng nấu ăn, cácloại thực phẩm, các đồ chơi ít đẹp và ít phong phú, thì giờ chơi không mang lạikết quả không như mong đợi…Chính vì vậy trước khi tổ chức các hoạt động họcthì giáo viên cần tìm hiếu xem các đồ dùng, đồ chơi, tranh ảnh đó có phù hợpchưa, đã đẹp mắt phong phú đa dạng chưa Để từ đó có thể chuẩn bị những đồdùng cần thiết để giờ học, giờ ăn, giờ chơi, thật sự mang lại hứng thú kết quảcao
Trang 22Giải pháp 3: Lồng ghép giáo dục dinh dưỡng cho trẻ thông qua các hoạt động.
Mỗi hoạt động của trẻ đều nhằm đạt dược một mục đích nhất định Vì thếhoạt động nào cũng có tính chất riêng của nó Nếu như hoạt động học được tổchức nhằm cung cấp các kiến thức cho trẻ thì hoạt động ngoài trời lại giúp trẻđươc gần gũi với thiên nhiên đây là cơ hội cho trẻ trãi nghiệm với thực tế, gầngũi với thiên nhiên, giúp trẻ khám phá vật thật, còn ở hoạt động góc trẻ lại được
mở rộng thêm kinh nghiệm sống, thực hành các món ăn, kỹ năng chơi theonhóm, ở giờ ăn trẻ nề nếp thói quen tốt, có hành vi văn minh trong ăn uống.Muốn thực hiện tốt lồng ghép, tích hợp giáo dục dinh dưỡng, sức khỏe vào trongcác hoạt động giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo, lựa chọn các hình thức, nộidung phù hợp với chủ đề, phù hợp với bài dạy và khả năng nhận thức của trẻ.Qua đó trẻ tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, hứng thú
* Với hoạt động học
Hoạt động này thường là hoạt động tĩnh diễn ra trong phòng học giúp chogiáo viên truyền tải các yêu cầu về nội dung kiến thức đạt hiệu quả nhất Tuynhiên không phải đề tài nào cũng lồng ghép tích hợp được Vì vậy, tùy thuộc vào
đề tài nội dung cần giáo dục mà giáo viên cần lựa chọn các môn học cho phùhợp
Ví dụ: Môn phát triển thẩm mỹ: Tô màu, nặn các loại rau củ quả.
Khi cho trẻ quan sát tranh vẽ về các loại rau, cô đàm thoại cùng trẻ về giátrị dinh dưỡng của các loại rau đối với con người rất cần thiết, vài đặc điểm nổibật của một số loại rau và biết ích lợi của rau giúp cho cơ thể khoẻ mạnh Tôiđặt các câu hỏi: Đây là loại rau gì? Con có thích ăn các loại rau này không? Vìsao? Để ăn được các loại rau này thì chúng ta phải làm gì? Các loại rau đó thuộcnhóm thực phẩm nào?… Từ đó trẻ sẽ hiểu được ích lợi của các loại rau, kíchthích trẻ say mê thích thú, tưởng tượng vẽ các loại rau trẻ thích, mang lại hiệu
quả cao trong tiết học
Trang 23Ví dụ: Môn phát triển nhận thức: Nhận biết các nhóm thực phẩm, lợi ích và
các món ăn được chế biến từ các nhóm thực phẩm đó
* Nhóm vitamin và muối khoáng:
- Cho trẻ xem hình ảnh một số loại rau, quả
+ Các con vừa được xem những thực phẩm gì?
+ Các loại rau, củ, quả này có thể chế biến thành những món gì?
+ Ăn các loại rau củ quả này cung cấp chất gì cho cơ thể?
Qua đó giúp trẻ biết được Đây là những thực phẩm thuộc nhóm vitamin vàmuối khoáng, ăn các thực phẩm này cung cấp vitamin và muối khoáng cho cơthể, giúp da chúng ta đẹp, mắt sáng Các thực phẩm này có thể được chế biếnthành nhiều món: luộc, xào, nấu canh
* Nhóm chất đạm:
- Nhóm chất đạm là những thực phẩm gì?
- Cho trẻ quan sát nhóm chất đạm
+ Các con vừa được xem những thực phẩm gì?
+ Các loại thực phẩm như thịt, cá, trứng, tôm có thể chế biến thành nhữngmón gì?
+ Ăn các thực phẩm như thịt, cá, trứng, tôm cung cấp chất gì cho cơ thể?Giúp trẻ nhận biết đây là những thực phẩm thuộc nhóm chất đạm, ăn cácthực phẩm này cung cấp chất đạm cho cơ thể, các thực phẩm này được chế biếnthành nhiều món: luộc, xào, nấu canh, nướng, hấp, kho
* Nhóm bột đường:
- Cô có những thực phẩm gì đây?
Trang 24- Gạo, khoai có thể chế biến thành những món gì?
- Trước khi ăn phải làm như thế nào?
- Ăn những thức ăn này cung cấp chất gì cho cơ thể?
Trẻ sẽ nhận biết được đây là những thực phẩm thuộc nhóm bột đường, ănnhững thực phẩm này cung cấp tinh bột và đường cho cơ thể, các thực phẩm này
có thể chế biến được nhiều món: Cơm, xôi, khoai luộc, khoai rán.giáo dục trẻphải ăn đa dạng các loại thức ăn của nhóm này để dung cấp chất bột đường cho
cơ thể
* Nhóm chất béo:
- Cô có những thực phẩm gì đây?
- Mỡ, dầu ăn để làm gì?
- Ăn những loại thực phẩm cung cấp chất gì cho cơ thể?
- Củng cố: Đây là những thực phẩm cung cấp chất béo, ăn các thực phảmnày cung cấp chất béo cho cơ thể Đây là nhóm thực phẩm không nên ăn nhiều,gây bệnh béo phì
- Khi ăn các thực phẩm thuộc các nhóm chúng ta phải làm gì?
- Trước khi ăn các loại thực phẩm các con cần chọn thực phẩm tươi ngon,không bị thối hỏng, héo úa, ôi thiu, sau đó sơ chế các loại thự phẩm, rửa sạch rồinấu chín để đảm bảo dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
- Cho trẻ quan sát hình ảnh một số món ăn đã được chế biến
Trang 25Qua đó sẽ giúp trẻ biết được tên, ích lợi của các loại thực phẩm trong 4nhóm thực phẩm (Chất đạm, chất béo, chất bột đường, vitamin và muối khoáng)đối với sự phát triển của cơ thể Biết quy trình chế biến một số món ăn đơn giản,gần gũi.
Ví dụ: Môn khám phá xã hội: Trò chuyện về mùa xuân
Trẻ biết một số đặc điểm thời tiết, cảnh vật và sinh hoạt của con ngườitrong mùa xuân, Trẻ biết chọn trang phục phù hợp với thời tiết Qua đó cô tròchuyện cùng trẻ : vào mùa xuân thì thời tiết như thế nào? Các con suy nghĩ lạixem khi mùa xuân đến con ăn mặc thế nào? Nhà con chuẩn bị gì cho ngày tết?Thế tết đến con sẽ ăn uống những gì để tốt cho sức khỏe? Từ đó giáo dục trẻbiết mặc trang phục phù hợp với thời tiết, biết các loại thức ăn truyền thống,phong tục tập quán ở địa phương mình Cứ mỗi dịp tết chúng tôi đều tổ chức chocác bé tham gia cùng các cô xếp mâm ngũ quả Bé nào cũng tỏ ra hết sức hàohứng với hoạt động này Qua đó chúng tôi dạy cho các bé về các loại quả, vềdinh dưỡng trong hoa quả và cách ăn các loại quả khác nhau”
* Với hoạt động góc:
Ở lứa tuổi này học mà chơi chơi mà học, trong giờ vui chơi trẻ được thựchành trải nghiệm nhiều vai chơi khác nhau của người lớn Tôi tiến hành lồngghép tổ chức giờ ăn vào trò chơi phân vai, qua đó trẻ đi chợ chọn thực phẩm,nấu các món ăn, bày bàn tiệc, tôi theo dõi quan sát lắng nghe cách làm, để kịpthời uốn nắn khi có biểu hiện chưa đúng
Trang 26Ví dụ: Góc bé tập làm nội trợ
Qua hoạt động này nội dung giáo dục dinh dưỡng được thực hiện một cáchnhẹ nhàng nhưng đạt hiệu quả cao, giáo viên dạy trẻ biết sử dụng thành thạo các
đồ dung, dụng cụ như dao, muỗng, thớt, cốc, chén…Biết làm một số món ăn đơn
giản thông thường như pha nước chanh, làm bánh phục linh… Trẻ biết được íchlợi của thực phẩm đối với con người Trong quá trình trẻ chơi tôi thường tập chotrẻ giao tiếp trao đổi với nhau để chọn món ăn, chọn thực phẩm, để biết thựcphẩm đó cung cấp chất gì? Chế biến như thế nào?…Cô gợi ý hỏi trẻ: Hôm naybếp trưởng cho các cháu ăn món gì? Cần mua những thực phẩm gì để nấu? Thựcphẩm này cung cấp chất gì? Có lợi ích gì đối với cơ thể?… Cô hướng dẫn giúptrẻ cách chế biến các món ăn, bày gọn gàng sạch sẽ, giáo dục trẻ biết tự phục vụchăm sóc và biết phục vụ chăm sóc mọi người xung quanh như pha nước chanhcho cả lớp cùng uống hoặc cô có thể gợi ý cho trẻ: thời tiết nóng quá, nếu đượcuống cốc nước chanh thì ngon và mát vô cùng, cô hướng dẫn trẻ cách thực hiệnpha nước chanh như: Vắt nước chanh, rót vào ly, cho thêm nước đường quấyđều, hay cách pha sữa bột, pha nước cam….Khi trẻ pha xong cô cho trẻ thưởngthức và hỏi trẻ Con thấy hương vị của nước cam, chanh… như thế nào? Cungcấp chất gì? Có lợi ích gì cho cơ thể?
Thông qua góc chơi, trẻ được tự mình thực hành trải nghiệm, tự lựa chọnlàm các công việc trẻ thích trong thực tế Trẻ lớp tôi rất say sưa, hứng thú, tíchcực tham gia hoạt động Qua đó trẻ được lĩnh hội kiến thức về dinh dưỡng, sứckhoẻ một cách phù hợp mang lại hiệu quả cao Giúp trẻ tích cực tham gia hoạt
Trang 27động cùng bạn cùng cô, trẻ của lớp tôi nói đến tổ chức bữa ăn là trẻ rất thích khi
ăn rất là im lặng, ăn rất văn hóa
* Với hoạt động ngoài trời:
Tận dụng không gian rộng và thoáng mát, giáo viên nên tổ chức các hoạtđộng giáo dục dinh dưỡng nhằm rèn luyện khả năng quan sát, kỹ năng thực hànhcho trẻ Đây là hoạt động trẻ được trải nghiệm với thực tế nên khả năng chú ýcao tạo điều kiện tốt cho việc lồng ghép giáo dục dinh dưỡng có hiệu quả nhất.Tùy thuộc vào khuôn viên của từng trường mà giáo viên cần lựa chọn các hìnhthức giáo dục cho phù hợp
Ví dụ: Cho trẻ quan sát vườn cây ăn quả, vườn rau.
Trường tôi có cây xanh, có khuôn viên trường thoáng mát có khu trồng rau,khu trồng các loại cây ăn quả, nhà trường còn xây thêm bồn rửa tay tại sân chơitạo thêm điều kiện cung cấp vốn sống cho trẻ để trẻ có cơ hội được làm vườnchăm sóc vườn cây, qua lao động vệ sinh trẻ biết gieo trồng tưới cây, nhặt lávàng…Trẻ được quan sát nhận dạng các loại cây, lá, quả, các loại rau như raucải ngót, cải cay, đậu bắp, ngò, các loại bí, các loại họ đậu…., hay các loại cây
Trang 28ăn quả như: khế, ổi, bưởi… , trẻ biết được lợi ích sự cần thiết của các loại thựcphẩm Cô cho trẻ biết rau xanh không thể thiếu được đối với con người, mỗingày ăn rau xanh làm cho cơ thể khỏe mạnh, giảm bệnh tật cho nên mỗi ngàychúng ta cần phải ăn rau xanh để cung cấp đủ chất cho cơ thể Từ đó giáo dục trẻ
biết lao động chăm sóc bảo vệ cây trong vườn Cô gợi ý, trò chuyện giúp trẻ
nhận ra những việc làm quen thuộc hành ngày của trẻ, ví dụ: Các con cần rửatay (lau mặt) khi nào? Rửa tay (lau mặt) như thế nào cho đúng? Cho trẻ rửa taythực hành Qua đó cô giáo dục cho trẻ biết giữ gìn vệ sinh cá nhân sạch sẽ, giúpcho cơ thể luôn khỏe mạnh phòng chống được các dịch bệnh ngoài da, về mắt
* Với các hoạt động khác:
Mục đích cuối cùng của việc giáo dục dinh dưỡng, sức khỏe là giúp trẻnhận biết lợi ích của dinh dưỡng đối với cơ thể từ đó mới ăn ngon miệng, ăn hếtsuất, tâm trạng thoải mái khi đến giờ ăn, có như vậy cơ thể mới hấp thu tốt nhấtcác dưỡng chất đưa vào thì cơ thể, mới phát triển toàn diện cả về thể chất và tinhthần Tùy thuộc vào đặc điểm riêng của từng lớp mà giáo viên lựa chọn hìnhthức lồng ghép giáo dục dinh dưỡng cho phù hợp với đặc điểm cá nhân, sởthích, tâm lý, nề nếp thói quen của từng trẻ
Để giúp trẻ ăn ngon miệng ăn hết suất, khi tới giờ ăn tôi giới thiệu các món
ăn, thành phần dinh dưỡng có trong các món ăn, lợi ích của các món ăn đó trongcuộc sống của chúng ta, khuyến khích trẻ ăn nhanh, ăn nhiều bằng hình thức thiđua giữa các tổ, giữa các bạn cùng nhóm Trẻ nào ăn nhanh cô bầu làm bàntrưởng có nhiêm vụ chia cơm cho các bạn trong bàn, trẻ rất nhanh nhẹn vui vẻlấy cơm cho các bạn và khi bắt đầu ăn thì ăn rất nhanh, ăn xong trẻ còn nói vớicác bạn cùng bàn “ tớ là người vô địch” Sau mỗi lần như vậy cô sẽ có biện phápkhuyến khích trẻ kịp thời, cháu nào ăn giỏi, ăn nhanh hơn bạn cô sẽ bầu làm bàntrưởng tiếp Cô khuyến khích trẻ nào ăn nhanh cuối tuần cô sẽ tặng hoa béngoan