Bao gồm các chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần, ngƣời lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, ngƣời đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp[r]
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
5 PHẠM VI GIỚI HẠN ĐỀ TÀI 4
6 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TÀI VIÊN THEO PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM 5
1.1 KHÁI QUÁT VỀ QUẢN TÀI VIÊN 5
1.1.1 Khái quát về phá sản và thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 5
1.1.2 Khái niệm Quản tài viên và doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản 9
1.1.3 Đặc điểm chung của Quản tài viên trong thủ tục phá sản 11
1.1.4 Vai trò của Quản tài viên trong thủ tục phá sản doanh nghiệp 13
1.1.5 Sơ lược sự hình thành và phát triển của chế định Quản tài viên trong pháp Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam 16
1.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TÀI VIÊN 18
1.2.1 Điều kiện hành nghề Quản tài viên 18
1.2.2 Các hình thức hành nghề Quản tài viên … ………22
1.2.3 Trình tự thủ tục đăng ký hành nghề Quản tài viên 25
1.2.4 Quyền, nghĩa vụ của Quản tài viên trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 27 1.3 QUẢN TÀI VIÊN TRONG MỘT SỐ QUỐC GIA TIÊU BIỂU 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TÀI VIÊN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 39
Trang 22.1 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG BẤT CẬP CỦA QUẢN TÀI VIÊN THEO LUẬT PHÁ SẢN 39 2.1.1 Về quy định chung đối với Quản tài viên 39 2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của Quản tài viên trong thủ tục phá sản doanh nghiệp 42 2.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TÀI VIÊN THEO LUẬT PHÁ SẢN 47
PHẦN KẾT LUẬN 57 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
LHTX: Luật Hợp tác xã
OECD: Organization for Economic Cooperation and Development (Tổ chức
Hợp tác và Phát triển Kinh tế)
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thì mô hình kinh doanh ngày càng mở rộng và phát triển, phát triển là sự cạnh tranh khốc liệt để dành cho mình một chỗ đứng trên thương trường, đi song song giữa phát triển là phá sản, phá sản ngày càng trở thành một vấn đề kinh tế pháp lý là một khâu tất yếu trong vòng quanh cạnh tranh kinh tế xã hội Để đảm bảo cho việc quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản, chế định Quản tài viên được hình thành Quản tài viên được xây dựng dựa trên dựa trên điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam với sự học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm của các nước trên thế giới
Năm 2014 lần đầu tiên Việt Nam quy định chủ thể thực hiện chức năng quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã là Quản tài viên trong Luật Phá sản Quản tài viên là một điểm mới, đột phá của luật Phá sản năm 2014 trong thủ tục quản
lý, thanh lý tài sản Quản tài viên có thể hành nghề với tư cách cá nhân hoặc thông qua doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản Để trở thành Quản tài viên, cá nhân phải được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên Đối tượng được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên bao gồm: Luật sư, Kiểm toán viên hoặc người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, tài chính, ngân hàng và có 05 năm kinh nghiệm trở lên về lĩnh vực đào tạo
Hơn bốn năm kể từ ngày Luật Phá sản năm 2014 có hiệu lực thi hành cho đến nay cũng là ngày Quản tài viên có đầy đủ cơ sở pháp lý để hình thành, phát triển và đi vào nề nếp Từ những ngày đầu hình thành và phát triển cho đến nay Quản tài viên đạt được nhiều thành công nhất định, khẳng định được chỗ đứng quan trọng trong việc quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã Bên cạnh những thành công bước đầu thì còn nhiều khó khăn, vướng mắc trong quy định pháp luật và thưc tiễn thi hành đối với Quản tài viên theo luật Phá sản như: Chỉ định, thay đổi, giám sát hoạt động, pháp lý trong quá trình giải quyết vụ việc của Quản tài viên…
Từ những ưu điểm, khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng đối với Quản tài viên trong việc quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã, nhằm xây dựng cho bản thân những kiến thức hữu ích trong việc áp dụng quy định của pháp luật về Quản tài viên, mổ sẽ những vấn đề đạt được và chưa đạt được của việc áp dụng đối với
Trang 5Quản tài viên trong thời gian qua, nhằm cũng cố pháp lý cho Quản tài viên trong thời gian tới Do đó, bản thân đã lựa chọn đề tài ―Quản tài viên theo pháp luật Phá sản Việt Nam‖ làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu chung
Đề tài tác giả nghiên cứu là Quản tài viên theo pháp luật Việt Nam từ đó góp phần đưa ra các khái niệm quy định chung về Quản tài viên theo pháp luật Việt Nam
và bất cập trong áp dụng luật tại Việt Nam để góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về Quản tài viên trong việc quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã Đồng thời đề tài trở thành tài liệu nghiên cứu chung cho các nghiên cứu sinh
2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống cơ sở lý luận pháp luật về trong Quản tài viên trong việc quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
Phân tích đánh giá thực trạng áp dụng quy định pháp luật đối với Quản tài viên trong việc quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn chế đó
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật đối với Quản tài viên trong việc quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
3 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Mô hình quản lý, thanh lý tài sản trong pháp LPS là một nghiệm vụ tất yếu và cần thiết trong điều kiện kinh tế đặc thù của từng quốc gia Đối với các các nước có nền kinh tế thị trường phát triển chủ thể quản lý, thanh lý tài sản là các cá nhân hành nghề độc lập và chuyên nghiệp Đối với Việt Nam trên cơ sở điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội có nhiều đặc thù nên đã thiết lập một mô hình chủ thể mới, đó là những thiết chế tập thể thực hiện chức năng quản lý, thanh lý tài sản phá sản gồm tổ quản lý tài sản,
tổ thanh lý tài sản do Nhà nước đảm nhiệm theo LPS năm 1993 và LPS năm 2004 Trong LPS năm 2014 việc quy định chủ thể quản lý, thanh lý tài sản là cá nhân và doanh nghiệp là một bước tiến quan trọng của pháp luật về phá sản ở Việt Nam nhằm hướng đến việc cải cách thủ tục hành chính, xã hội hóa việc công Quản tài viên được xây dựng dựa trên sự phát triển của nền kinh kế, xã hội của đất nước và các tiếp thu có chọn lọc từ những nền kinh tế phát triển của thế giới
Trang 6Từ những ngày hình thành và phát triển cho đến nay đội ngũ Quản tài viên đã từng ngày trưởng thành hơn về cơ cấu tổ chức, cơ sở pháp lý trong việc áp dụng quy định pháp luật Nhưng vẫn còn đâu đó những bất cập, quy định của pháp luật chưa chặt chẽ, dẫn đến một số hệ lụy khi áp dụng Quản tài viên trong LPS
Nền kinh tế, xã hội của Việt Nam hiện nay đang ngày càng thay da, đổi thịt và phát triển mạnh mẽ, cũng từ đó theo quy luật tất yếu thì phá sản sẽ hình thành Để giải quyết tốt việc quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã cần phải có một đội ngũ Quản tài viên giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, thật sự năng động và có tâm với nghề, để đảm bảo điều đó pháp luật cần phải có những quy định chặt chẽ hơn, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước
Dựa trên những bất cập, quy định pháp luật chưa chặt chẽ nên nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu về pháp luật của Quản tài viên như Luận văn nghiên cứu của Nguyễn Đức Hải ―Pháp luật về Quản tài viên và doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản qua thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng‖ năm 2018; các công trình nghiên cứu liên quan như ―Hoàn thiện chế định Quản tài viên trong Luật Phá sản‖ trong tạp chí nghiên cứu lập pháp của Đặng Văn Huy; ―Địa vị pháp lý của tổ quản lý và thanh lý tài sản theo pháp luật phá sản‖ trong tạp chí Pháp luật và Doanh nghiệp số 2 của Đặng Văn Huy Các công trình nghiên cứu cũng đưa ra những khái niệm chung về Quản tài viên và những bất cập đồng thời đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nền tảng cơ bản trong việc nghiên cứu đề tài luận văn dựa trên các phương pháp nghiên cứu Triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể dưới đây:
- Tại Chương 1, đây là chương nêu những khái niệm, quy định chung nhằm đưa
ra cách nhìn tổng quan về vấn đề nên khi nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về phá sản, những quy định của pháp luật về Quản tài viên, tác giả đã sử dụng phương pháp thu thập từ đó sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp bình luận và nêu ra phương pháp đánh giá nhằm kết luận vấn đề Ngoài những phương pháp trên chương 1 còn sử dụng các phương pháp như lịch sử, phương pháp đối chiếu, phương pháp so
Trang 7sánh giữa pháp luật một số nước trên thế giới để đưa ra so sánh sự phát triển pháp luật
về phá sản của các nước trên thế giới so với Việt Nam
- Tại Chương 2, sau khi nghiên cứu phần lý luận nhằm có cái nhìn tổng quan về vấn đề thì chương 2 nêu ra các vấn đề thực tiễn về việc áp dụng quy định pháp luật Quản tài viên theo LPS năm 2014 Từ những bất cập, khó khăn vướng mắc đồng thời đưa ra một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về Quản tài viên thì chương 2
sử dụng các phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn giải, phương pháp phân tích đã được tác giả sử dụng nhiều
5 PHẠM VI GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Phạm vi nội dung: Tổng quan nghiên cứu xoay quanh lý luận chung về khái niệm, bản chất pháp lý và đặc điểm, cũng như các hình thức quản tài viên theo pháp luật phá sản Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả cũng đi sâu nghiên cứu về vai trò và sơ lược hình thành - phát triển của chế định quản tài viên theo pháp luật Phá sản Việt Nam
Nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật Phá sản, tác giả phát hiện những bất cập trong quy định của các điều luật và bất cập trong quyền - nghĩa vụ của Quản tài viên Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về Quản tài viên theo luật Phá sản
Phạm vi không gian: Những quy định và thực trạng áp dụng pháp luật Quản tài viên trong việc quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã tại Việt Nam và một số nước tiêu biểu trên thế giới như Liên Bang Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Anh, Canada,
Phạm vi thời gian: Việc tìm hiểu, nghiên cứu thu thập thông tin pháp luật Phá sản trong nước từ năm 1993 đến nay Còn đối với việc tìm hiểu pháp luật Phá sản của những nước tiêu biểu trên thế giới, tác giả thu thập nghiên cứu thông tin tài liệu từ những năm 1955 đến nay
6 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT
Đối tượng nghiên cứu: Quản tài viên trong việc quản lý, thanh lý tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã
Đối tượng khảo sát: Không có
Trang 8CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TÀI VIÊN THEO PHÁP LUẬT PHÁ SẢN
VIỆT NAM
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN VÀ QUẢN TÀI VIÊN
1.1.1 Khái quát về phá sản và thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Ngày nay trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì doanh nghiệp là một
bộ phận được thành lập, hoạt động nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tuy nhiên nếu doanh nghiệp yếu hoạt động không hiệu quả dẫn đến thua lỗ và ngừng hoạt động
là điều tất yếu cho các doanh nghiệp mạnh, hoạt động có hiệu quả phát triển và thúc đẩy Việc ngừng hoạt động này không theo hướng tiêu cực mà nó giúp cho doanh nghiệp có cơ hội để làm lại từ đầu Ngoài doanh nghiệp, hợp tác xã cũng được thành lập vì mục đích kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu tập thể, nâng cao đời sống vật chất và góp phần vào phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên để ngừng hoạt động như thế nào cho hợp pháp và đúng theo quy định pháp luật nên LPS ra đời quy định hình thức
và thủ tục giải quyết phá sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã
―Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán
và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản‖ được quy định tại Khoản 2
Điều 4 LPS năm 2014 Trong khi đó ―Tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh
nghiệp, hợp tác xã” được hiểu là ―doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán‖ quy định
tại Khoản 1 Điều 4 LPS hiện hành Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp, hợp tác xã bị mất khả năng thanh toán và có khả năng bị Tòa án tuyên bố bằng một quyết định tuyên bố phá sản Tuy nhiên doanh nghiệp, hợp tác xã này vẫn có cơ hội phục hồi thông qua việc xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố bằng một quyết định tuyên bố phá sản thì không còn khả năng phục hồi Trong khi đó, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Nhà nước vẫn tạo điều kiện doanh nghiệp, hợp tác xã này khả năng phục hồi nhưng vẫn hạn chế một số quyền và lợi ích nhất định như các quyền định đoạt tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
Theo quy định tại Điều 47 LPS năm 2014 doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản vẫn tiếp tục hoạt động nhưng vẫn phải chịu sự giám sát
Trang 9của Thẩm phán và Quản tài viên, doanh nghiệp, ngoài ra còn một số hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã bị cấm sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản như cất giấu, tẩu tán, tặng cho tài sản; thanh toán khoản nợ không có bảo đảm; từ bỏ quyền đòi nợ; chuyển khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định tại Điều 48 LPS hiện hành Việc hạn chế này là do Nhà nước quy định để tránh tình trạng gây thua lỗ cho nhiều doanh nghiệp khác cũng như nhằm bảo đảm tài sản để thanh toán các khoản nợ có bảo đảm trong quá trình thực hiện thủ tục tuyên bố phá sản Sau khi doanh nghiệp, hợp tác
xã bị phá sản bắt buộc phải thanh toán cho các khoản nợ theo thứ tự phân chia theo Điều 54 LPS năm 2014 trong trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo thứ tự thì từng đối tượng cùng một thứ tự được ưu tiên thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ
Do các vụ phá sản đa dạng nên dựa trên mục đích của việc xem xét để phân chia việc phá sản Phá sản được phân chia dựa vào nguyên nhân dẫn đến phá sản chia phá sản thành hai loại 1 Thứ nhất, phá sản trung thực là phá sản do nguyên nhân khách quan dẫn đến tình trạng phá sản như thiên tai, dịch họa, biến động chính trị,… Thứ hai, phá sản man
trá là do chủ doanh nghiệp có hành vi gian dối, lợi dụng cơ chế phá sản để dẫn đến tình trạng phá sản nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ nợ và tình trạng nay phải bị xử lý theo quy
định pháp luật Ngoài ra, dựa vào tính chất pháp lý thì chia phá sản thành hai loại Thứ
nhất, phá sản bắt buộc là phá sản dựa trên yêu cầu của các chủ nợ Thứ hai, phá sản tự
nguyện là do doanh nghiệp mắc nợ tự nộp đơn yêu tuyên bố thủ tục phá sản.2
Về doanh nghiệp được hiểu là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng kí thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh theo quy định tại Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2014 Hợp tác xã được hiểu là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Hợp tác xã năm 2012
1
Trình bài phân loại về phá sản, [https://hocluat.vn/trinh-bay-phan-loai-ve-pha-san/], (truy cập ngày 29/12/2019)
2 Trường đại học Kinh tế Quốc dân, Pháp luật về phá sản
[http://eldata2.neu.topica.vn/TXLUKD01/Giaotrinh/08_NEU_TXLUKD01_Bai6_v2.0015108205.pdf?fbclid=Iw
Trang 10Pháp luật phá sản là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết thủ tục phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã Tính đặc thù được biểu hiện ở chỗ trong quy định này vừa chứa đựng các quy phạm pháp luật hình thức, vừa chứa quy phạm pháp luật về nội dung 3. Pháp luật về phá sản là một chế định không thể thiếu được trong kinh tế thị trường bởi trong nền kinh tế luôn luôn có sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh,
do vậy mà có những chủ thể không đứng vững trong các cuộc cạnh tranh nên bị phá sản 4 Do đó LPS là để giải quyết những vấn đề trên Trong pháp luật về phá sản thì LPS có vai trò quan trọng vì nó nhằm điều chỉnh những vấn đề về phá sản từ đơn, thụ
lý đơn yêu cầu; trình tự thủ tục phá sản; thủ tục phục hồi kinh doanh; tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản; xử lý các tài sản doanh nghiệp, hợp tác xã có tranh chấp; thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản và xử lý các vi phạm
Tóm lại, LPS hình thành góp phần điều chỉnh các mối quan hệ trong hoạt động phá sản Từ đó đưa ra hướng giải quyết các vấn đề liên quan để từ đó giảm thiểu hoạt động các doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản không hợp pháp
LPS năm 2014 quy định thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã như sau: nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản tiếp theo Hội nghị chủ nợ và thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; tiếp theo tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản; thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản
Đầu tiên, nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Người có quyền, nghĩa vụ nộp
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được quy định tại Điều 5 LPS hiện hành5
Thứ hai, xử lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Đây là giai đoạn Tòa án phân
công Thẩm phán xem xét và xử lý đơn yêu cầu theo các phương hướng Trường hợp đơn yêu cầu hợp lệ thì Thẩm phán thông báo cho người nộp đơn yêu cầu; trường hộ
3
Khái quát chung về phá sản doanh nghiệp, [http://doanhnghiepvalaw.blogspot.com/2016/08/khai-quat-chung-ve-pha-san-doanh-nghiep.html], (ngày truy cập 29/12/2019)
4 Khái quát chung về phá sản doanh nghiệp, [http://valaw.vn/bai-viet/246-khai-quat-chung-ve-pha-san-doanh-nghiep.html], (ngày truy cập 29/12/2019)
5
Bao gồm các chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần, người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán; chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thụ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ đông phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán; cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán trong trường hợp điều lệ công ty quy định,