Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh để tìm hiểu quan điểm pháp luật cạnh tranh không lành mạnh ở nước ta với các nước trên thế giới; phương pháp thống kê đ[r]
Trang 1GVHD: Huỳnh Thị Trúc Linh SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Nhi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ACL
CTKLM
HĐQT
JFTC
KH&CN
LCT
QLCT
SNG
TAND
TNHH
UBND
WTO
Australia Comsummar Law – Luật tiêu dùng Úc
Cạnh tranh không lành mạnh
Hội đồng quản trị
Japan Fair Trade Committee - Ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản Khoa học và công nghệ
Luật Cạnh tranh
Quản lý cạnh tranh
Cộng đồng các quốc gia độc lập
Tòa án nhân dân
Trách nhiệm hữu hạn
Ủy ban nhân dân
World Trade Organization – Tổ chức thương mại thế giới
Trang 2GVHD: Huỳnh Thị Trúc Linh SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Nhi
DANH MỤC BIỂU BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị xử lý năm 2010 - 2016
Trang 3GVHD: Huỳnh Thị Trúc Linh SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Nhi
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giai đoạn 2010 – 2016 Hình 2.2 Số tiền phạt các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh năm 2010 - 2016
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
2.1 Mục tiêu chung 1
2.2 Mục tiêu cụ thể 1
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Kết cấu của đề tài 2
Chương 1 KHÁI QUÁT VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ 3
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 3
1.1 Khái quát về cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh 3
1.1.1 Cạnh tranh 3
1.1.2 Cạnh tranh không lành mạnh 6
1.2 Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam 27
1.2.1 Nội dung cơ bản 27
1.2.2 Cơ sở hình thành 28
1.2.3 Vai trò 30
1.3 Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh ở một số nước trên thế giới 31
1.3.1 Tại Úc 31
1.3.2 Tại Nhật 33
1.3.3 Tại Hoa Kỳ 35
Chương 2 THỰC TRẠNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 37
2.1 Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2016 .37
2.2 Đánh giá thực trạng cạnh tranh không lành mạnh 48
2.3 Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh 50
2.3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh 50
2.3.2 Giải pháp hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh 53
KẾT LUẬN 55
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển kinh tế thị trường hiện nay đó là sự phát triển nhanh chóng về số lượng cũng như quy mô của doanh nghiệp Song song đó là sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh Cạnh tranh được xem là quy luật cơ bản của cơ chế thị trường Xét về phương diện tích cực, cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, là cơ sở quan trọng bảo đảm cho tự do kinh doanh hợp pháp và mang lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng, tuy nhiên, cạnh tranh cũng mang lại nhiều yếu tố tiêu cực như những hậu quả về kinh tế, xã hội Cạnh tranh gay gắt sẽ dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh Thực tế cho thấy các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã và đang diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, tác động xấu đến sự phát triển của nền kinh tế và cản trở hoạt động kinh doanh hợp pháp của chủ thể kinh doanh cũng như ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của người tiêu dùng
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách về cạnh tranh và pháp luật về cạnh tranh là vấn đề luôn được quan tâm hàng đầu Việc hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh là vấn đề cần thiết để đảm bảo cho việc xây dựng một môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng và tự do
Để có thêm những hiểu biết về lĩnh vực này, người viết chọn đề tài “Cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Việt Nam – thực trạng và giải pháp hoàn thiện” để làm khóa luận tốt nghiệp cho mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu, tìm hiểu quy định về pháp luật cạnh tranh không lành mạnh ở nước ta hiện nay, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng như phương hướng hoàn thiện pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về cạnh tranh và quy định của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam hiện nay
- Khái quát thực trạng cạnh tranh không lành mạnh, nghiên cứu, đánh giá thực trạng đó
Trang 6- Đề xuất giải pháp để hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh ở nước ta
3 Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về cạnh tranh bao gồm pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2016
4 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế nước
ta và thực trạng hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp để hoàn thiện hệ thống pháp luật
về cạnh tranh cũng như biện pháp hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu có tính chất bao trùm trong luận văn là phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác Lê-nin trên cơ sở vận dụng các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về chính sách cạnh tranh và điều tiết cạnh tranh bằng pháp luật Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh để tìm hiểu quan điểm pháp luật cạnh tranh không lành mạnh ở nước ta với các nước trên thế giới; phương pháp thống kê để làm rõ thực trạng cạnh tranh không lành mạnh và sự điều chỉnh pháp luật đối với hành vi này ở Việt Nam; phương pháp phân tích số liệu
để thấy được tốc độ, diễn biến của hành vi cạnh tranh không lành mạnh, từ đó có thể đánh giá được thực trạng cũng như đề xuất giải pháp để hoàn thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh, và các phương pháp khác như: phương pháp lịch sử nghiên cứu, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát và quy định pháp luật Việt Nam về cạnh tranh không lành mạnh
Chương 2: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện
Trang 7Chương 1 KHÁI QUÁT VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
1.1 Khái quát về cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh
1.1.1 Cạnh tranh
1.1.1.1 Khái niệm
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường Đó là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà kinh tế trên thế giới nên có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh
Theo từ điển Tiếng Việt, cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân,…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên những lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được lợi ích nhất cho mình.1
Dưới thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển vượt bậc, Mác đã quan niệm:
“Cạnh tranh chủ nghĩa tư bản là sự ganh đua đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa
để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.2
Theo từ điển kinh doanh Vương quốc Anh xuất bản năm 1992, cạnh tranh
được định nghĩa như sau: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà
kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” 3
Nhìn chung, cạnh tranh là sự ganh đua của hai hay nhiều chủ thể kinh doanh nhằm giành cho mình những lợi thế nhất định trong kinh doanh so với các chủ thể khác
1
Bách khoa toàn thư Wikipedia Tiếng Việt: cạnh tranh
https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%A1nh_tranh_(kinh_doanh) [Truy cập ngày 17/01/2017]
2
Nguyễn Thị Hạnh (2013), “Lý luận chung về cạnh tranh hàng hóa”, voer.edu.vn/business [Truy cập ngày
17/01/2017]
3
http://doanhnhan.net/khai-niem-canh-tranh-va-cac-loai-hinh-canh-tranh-7678.html [Truy cập ngày
18/01/2017]
Trang 8Cạnh tranh là điều tất yếu và cơ bản nhất của cơ chế thị trường Bất cứ ngành nghề kinh doanh nào cũng tồn tại sự cạnh tranh Ở Việt Nam, cạnh tranh được thừa nhận là yếu tố khách quan của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp buộc phải chấp nhận cạnh tranh, cạnh tranh để phát triển, cạnh tranh để tránh bị đào thải, cạnh tranh để giành những lợi thế nhất định về mình
1.1.1.2 Đặc trưng của cạnh tranh
Có thể nói, cạnh tranh là sản phẩm riêng của nền kinh tế thị trường Tại sao lại có thể nói như vậy? Vì chỉ đến khi kinh tế thị trường xuất hiện thì cạnh tranh mới tồn tại và được xem là đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường Cạnh tranh tồn tại những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, cạnh tranh là một hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh
Từ điển Tiếng Việt đã chỉ ra cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể Từ
đó có thể thấy được một đặc trưng cơ bản của cạnh tranh, đó là sự tồn tại ít nhất 2 chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế và hình thức sở hữu khác nhau Các chủ thể này có chung mục đích là lợi nhuận Do đó, trong một thị trường mà chỉ có 1 doanh nghiệp thì chắc chắn không tồn tại cạnh tranh Hơn nữa, cạnh tranh chỉ có ý nghĩa khi các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, cạnh tranh sẽ thúc đẩy sự phát triển và là động lực để các chủ thể kinh doanh tự cải tiến
và trang bị cho mình những điều kiện tốt nhất để tồn tại và phát triển
Thứ hai, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh
Trong kinh doanh, lợi nhuận được xem là mục đích cuối cùng mà các doanh nghiệp muốn đạt được Hay nói khác hơn là doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận Đó cũng là thước đo cho sự phát triển của một doanh nghiệp Mục đích lợi nhuận buộc các doanh nghiệp phải tối ưu hóa các phương tiện vật chất, kỹ thuật, đổi mới phương pháp sản xuất để nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm Đó là cuộc chạy đua không ngừng nghỉ của các doanh nghiệp để mở rộng thị trường, tìm kiếm khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh Kết quả người nào chiến thắng sẽ giành được thị phần rộng lớn nhất định, nguồn khách hàng ổn định và tăng lợi nhuận, người thua sẽ mất khách hàng và giảm lợi nhuận, đồng thời có thể bị loại bỏ khỏi thị trường cạnh tranh
Trang 9Thứ ba, mục đích của các doanh nghiệp là giành thị trường mua hoặc bán sản phẩm
Trên thị trường, cạnh tranh chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp có chung lợi ích tiềm năng (đầu vào hoặc đầu ra sản phẩm) Việc có cùng lợi ích khiến các doanh nghiệp trở thành đối thủ cạnh tranh của nhau Sự đạt được mục đích của người này
sẽ dẫn đến sự thất bại của người kia và ngược lại
1.1.1.3 Vai trò và ý nghĩa
Cạnh tranh luôn là động lực phát triển sản xuất hàng hóa, đồng thời cũng là động lực phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Do đó, cạnh tranh có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế, người tiêu dùng và đối với doanh nghiệp.4
- Đối với nền kinh tế quốc gia: cạnh tranh là động lực nâng cao năng suất lao
động Một nền kinh tế mạnh là nền kinh tế mà các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao, và đương nhiên đây phải là cạnh tranh lành mạnh Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung nguồn lực, vốn và các yếu tố khác trong quá trình sản xuất làm cho xã hội có đủ điều kiện và nguồn lực để thực hiện các dự án lớn
- Đối với người tiêu dùng: khi các doanh nghiệp cạnh tranh thì người hưởng
lợi sẽ là người tiêu dùng Khi có cạnh tranh thì người tiêu dùng sẽ hưởng những thành quả như chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá cả hàng hóa thấp hơn, chất lượng phục vụ tốt hơn Trong cạnh tranh, người tiêu dùng có vị trí trung tâm Nhu cầu của
họ sẽ được đáp ứng một cách tốt nhất, bởi họ có quyền quyết định ai sẽ được tồn tại
và ai sẽ bị loại bỏ khỏi thị trường thông qua việc tác động trở lại cạnh tranh bằng những yêu cầu về chất lượng hàng hóa, giá cả, chất lượng phục vụ
- Đối với doanh nghiệp: cạnh tranh có thể được xem là cuộc chạy đua khốc
liệt mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải tham gia Các doanh nghiệp phải chạy đua để giành lợi thế nhất định về mình như ưu thế về thị trường, khách hàng…Các doanh nghiệp buộc phải cắt giảm chi phí để giảm giá thành của hàng hóa, dịch vụ bằng việc tự đặt mình vào điều kiện kinh doanh tiết kiệm thông qua cách sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực mà họ có được Như vậy, cạnh tranh là động lực cơ bản giảm sự lãng phí trong kinh doanh, giúp cho mọi nguồn nguyên, nhiên liệu được sử
4
Hoàng Trung (2013) “Cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh trong doanh nghiệp”, voer.edu.vn/business
[Truy cập ngày 18/03/2017]
Trang 10dụng tối ưu Cứ như thế, cuộc chạy đua trong kinh doanh còn thúc đẩy sự phát triển không ngừng của khoa học, kỹ thuật tiến bộ trong đời sống kinh tế và xã hội nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất để đáp ứng những đòi hỏi của thị trường Ngoài ra, cạnh tranh còn kích thích sự sáng tạo, đổi mới liên tục trong đời sống xã hội Sự sáng tạo làm cho cạnh tranh diễn ra liên tục theo chiều hướng gia tăng quy mô và nhịp điệu tăng trưởng của nền kinh tế
1.1.2 Cạnh tranh không lành mạnh
1.1.2.1 Khái niệm
Theo từ điển Tiếng Việt, CTKLM là tất cả những hành động trong hoạt động kinh tế trái với đạo đức nhằm làm hại các đối thủ kinh doanh hoặc khách hàng Và cũng gần như sẽ không có người thắng nếu việc kinh doanh được tiến hành như một cuộc chiến Cạnh tranh khốc liệt mang tính tiêu diệt chỉ dẫn đến một hậu quả thường thấy sau các cuộc cạnh tranh khốc liệt là sự sụt giảm mức lợi nhuận ở khắp mọi nơi.5
Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp: “bất cứ hành vi không
trung thực trong hoạt động kinh doanh thương mại và công nghiệp đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh”.6
Luật C ạnh tranh của Cộng đồng các quốc gia dân tộc (SNG) đã đưa ra định
nghĩa CTKLM là: “hành vi của các doanh nghiệp với mục đích thu lợi bất chính
trong khi tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, gây ra thiệt hại cho các doanh nghiệp khác là đối thủ cạnh tranh hoặc gây ảnh hưởng uy tín kinh doanh của họ”
Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004 quy định: “hành vi cạnh tranh không
lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”
Với bản chất là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành vị thế nhất định cho mình, cạnh tranh luôn là sức ép cho các doanh nghiệp trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật tiến bộ vào hoạt động sản xuất kinh doanh để nâng cao chất
5
Bách khoa toàn thư Wikipedia Tiếng Việt: cạnh tranh không lành mạnh
https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%A1nh_tranh_(kinh_doanh) [Truy cập ngày 17/01/2017]
6
Điều 10bis – được bổ sung vào Công ước từ năm 1900