Cuốn sách “Biển Đông: Địa chính trị, lợi ích, chính sách và hành động của các bên liên quan” tập trung phân tích các vấn đề địa chính trị ở Biển Đông, những nhân tố chính trị nội bộ và lợi ích của từng nước cũng như tương tác chính sách giữa các bên liên quan ở Biển Đông. Nội sung sách gồm 5 chương và được chia thành 2 phần ebook, phần 1 gồm có những nội dung chính sau: Biển Đông và các vấn đề địa chính trị, chính trị nội bộ và chính sách đối ngoại trên biển Đông, quân sự hóa và hệ lụy đối với biển Đông. Mời các bạn cùng tham khảo,
Trang 2ĐỊA CHÍNH TRỊ, LỢI ÍCH, CHÍNH SÁCH VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN
Trang 3TS Đặng Đình Quý - Nguyễn Minh Ngọc
(Đồng chủ biên)
BIỂN ĐÔNG:
ĐỊA CHÍNH TRỊ, LỢI ÍCH, CHÍNH SÁCH VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN
Trang 4Các bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả chứ không phản ánh quan điểm của các cơ quan, tổ chức nơi tác giả đang công tác, cũng như quan điểm của chủ biên và nhà xuất bản.
Trang 5MỤC LỤC
Lời giới thiệu 7
TS Đặng Đình Quý
ThS Nguyễn Minh Ngọc
Chương I: BIỂN ĐÔNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐỊA CHÍNH TRỊ 15
1 “THỜI KHẮC BIỂN” CHÂU Á VÀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG 17
GS Geoffrey Till
2 TẦM QUAN TRỌNG CHIẾN LƯỢC CỦA BIỂN ĐÔNG VÀ
CÁC TUYẾN GIAO THÔNG TRÊN BIỂN 31
Phó Đô đốc (nghỉ hưu) Hideaki Kaneda
Chương II: CHÍNH TRỊ NỘI BỘ VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
TRÊN BIỂN ĐÔNG 51
3 LỰA CHỌN LỢI ÍCH QUỐC GIA CĂN BẢN VÀ LẬP TRƯỜNG
TRONG CÁC VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG 53
GS Su Hao và Ren Yuan-zhe
4 CHÍNH TRỊ NỘI BỘ: “LÀN SÓNG NGẦM”
QUYẾT ĐỊNH VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG 63
Nguyễn Hùng Sơn
5 TRUNG QUỐC TRANH LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BIỂN ĐÔNG:
TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI DIỄN BIẾN CỦA TRANH CHẤP
TRONG TƯƠNG LAI 77
TS Li Mingjiang
6 TRUYỀN THÔNG VÀ CÔNG LUẬN TẠI PHILIPPINES
VỀ CÁC TRANH CHẤP GIỮA PHILIPPINES VÀ TRUNG QUỐC
TRÊN BIỂN ĐÔNG 99
GS Aileen S.P Baviera và Sascha M Gallardo
Chương III: QUÂN SỰ HÓA VÀ HỆ LỤY ĐỐI VỚI BIỂN ĐÔNG 121
7 CHIẾN LƯỢC “CHỐNG TIẾP CẬN/ PHONG TỎA KHU VỰC”
VÀ BIỂN ĐÔNG 123
Christian Le Mière
8 TRUNG QUỐC HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUÂN VÀ
MỸ TÁI CÂN BẰNG SANG CHÂU Á:
HỆ LỤY ĐỐI VỚI SỰ ỔN ĐỊNH TRÊN BIỂN ĐÔNG 137
GS Carlyle A Thayer
Trang 69 SỰ PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH QUÂN SỰ CỦA TRUNG QUỐC VÀ
TÁC ĐỘNG ĐỐI SỰ HIỆN ĐẠI HÓA QUÂN ĐỘI
TẠI ĐÔNG NAM Á 163
Richard A Bitzinger
Chương IV: LỢI ÍCH VÀ CHÍNH SÁCH CỦA CÁC NƯỚC LIÊN QUAN
NGOÀI KHU VỰC BIỂN ĐÔNG 187
10 “CHIẾN LƯỢC XOAY TRỤC CHÂU Á CỦA CHÍNH QUYỀN OBAMA: CHUYỂN TỪ KIỀM CHẾ NGOẠI GIAO SANG KIỀM CHẾ CHIẾN LƯỢC TRƯỚC MỘT TRUNG QUỐC ĐANG TRỖI DẬY?” 189
GS Renato Cruz De Castro
11 LỢI ÍCH CỦA NHẬT BẢN Ở BIỂN ĐÔNG 219
GS Masahiro Akiyama
12 ĐIỂM NÓNG Ở BIỂN ĐÔNG: NHỮNG LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH
VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI ẤN ĐỘ 227
TS Probal Ghosh
13 CHÍNH SÁCH CỦA LIÊN XÔ/NGA Ở CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
VÀ TRONG TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG:
QUÁ KHỨ VÀ HIỆN TẠI 237
GS Dmitri Valentinovich Mosyakov
14 CẠNH TRANH TRUNG-MỸ Ở BIỂN ĐÔNG:
THỜI ĐIỂM ĐỂ HÀN QUỐC THỂ HIỆN VAI TRÒ
QUỐC GIA TẦM TRUNG CỦA MÌNH 243
TS (Đại tá Hải quân) Sukjoon Yoon
Chương V: BIỂN ĐÔNG TRONG QUAN HỆ TRUNG QUỐC-ASEAN- MỸ 265
15 NHỮNG DIỄN BIẾN TRONG QUAN HỆ MỸ - TRUNG QUỐC - ASEAN XUNG QUANH VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG: GÓC NHÌN TỪ MỸ 267
Bonnie S Glaser
16 ASEAN, TRUNG QUỐC, MỸ VÀ BIỂN ĐÔNG: CƠ HỘI HỢP TÁC 287
Termsak Chalermpalanupap
17 TÁI CÂN BẰNG TAM GIÁC QUAN HỆ TRUNG QUỐC-ASEAN-MỸ
Ở BIỂN ĐÔNG 399
TS Trần Trường Thủy
Phụ lục: Tiểu sử tác giả 313
Trang 7LỜI GIỚI THIỆU
TS Đặng Đình Quý - Giám đốc Học viện Ngoại giao ThS Nguyễn Minh Ngọc - Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Tư liệu,
Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao
Biển Đông là tài sản chung của thế giới và khu vực, cung cấp nguồn tài nguyên dồi dào, nuôi sống nhiều quốc gia và mang đến sự phát triển thịnh vượng, đặc biệt cho khu vực Châu Á-Thái Bình Dương Mỗi năm, một nửa lượng tàu thuyền thương mại trên thế giới, tương đương 1/3 lượng giao thông toàn cầu với giá trị thương mại khoảng 5,3 nghìn tỷ USD đi qua vùng biển này Theo thống kê của Cơ quan Năng lượng Mỹ, 1/3 lượng dầu thô và hơn 1/2 lượng khí hóa lỏng được chuyên chở qua Biển Đông, trong đó eo Malacca trở thành điểm nút quan trọng trong tuyến đường cung cấp năng lượng từ Châu Phi và vùng Vịnh sang các nền kinh tế Châu Á Biển Đông cũng chiếm khoảng 1/10 lượng đánh bắt cá trên thế giới, đóng góp một phần quan trọng vào dinh dưỡng của người Châu Á và tăng đáng kể thu nhập của người dân Đó là chưa kể đến những nguồn tài nguyên chưa được khai thác ở Biển Đông như băng cháy, đá phiến… và các giá trị an ninh, kinh tế khác của vùng biển này
Những con số thống kê trên dẫu sơ lược nhưng đã khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông và sự cần thiết cùng hợp tác quản lý bền vững vùng biển này vì lợi ích chung của tất cả quốc gia sử dụng nó Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đã leo thang ở Biển Đông, làm gia tăng hiểu lầm, cạnh tranh, va chạm và đôi khi còn đẩy các nước đến bên bờ vực xung đột “nóng” Lợi ích nhiều mặt của các quốc gia trong và ngoài tranh chấp đều bị ảnh hưởng và mặc dù các bên đã có những nỗ lực đối thoại và bàn thảo để giảm thiểu căng thẳng, dàn xếp mâu thuẫn và hướng tới giải pháp nhưng diễn biến hiện nay cho thấy vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro bởi bản chất phức tạp của tranh chấp và tính toán riêng của từng quốc gia Do đó, rất cần đến những phân tích, đánh giá sâu sắc và những giải pháp sáng tạo, đột phá cho Biển Đông bởi vì, bên cạnh nguy cơ xung đột, những thách thức hàng ngày xảy ra trên vùng biển này như cướp biển, thiên tai, ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu… đang trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống người dân trong khu vực
Trang 8Với nhận thức đó, Học viện Ngoại giao phối hợp với Hội Luật gia Việt Nam, tiếp nối nỗ lực và thành công của những năm qua, đã tổ chức Hội thảo Quốc tế khoa học lần
thứ tư với chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực” từ ngày
19-21/11/2012 tại TP Hồ Chí Minh Hội thảo đã nhận được sự quan tâm của đông đảo học giả, chuyên gia và quan chức quốc tế, trong nước với trọng tâm thảo luận tập trung vào chín nhóm chủ đề sau:
(i) Biển Đông trong sự dịch chuyển địa chính trị;
(ii) Những diễn biến gần đây ở Biển Đông;
(iii) Chính trị nội bộ và chính sách đối ngoại của các bên ở Biển Đông;
(iv) Quân sự hóa và những hệ lụy;
(v) Lợi ích và chính sách của các bên ngoài khu vực Biển Đông;
(vi) Biển Đông trong quan hệ Mỹ-ASEAN-Trung Quốc;
(vii) Những khía cạnh pháp lý của vấn đề Biển Đông;
(viii) Hợp tác ở Biển Đông: nhìn lại quá khứ và hướng tới tương lai
(ix) Giải quyết tranh chấp, quản lý xung đột và các phương thức hướng tới giải pháp
Để giới thiệu với bạn đọc những nghiên cứu của các học giả tham gia hội thảo, Học viện Ngoại giao đã tổng hợp phần lớn các bài viết trong hai ấn phẩm Cuốn sách thứ
nhất với tựa đề “Biển Đông: Địa chính trị, Lợi ích, Chính sách và Hành động của Các bên liên quan” tập trung phân tích các vấn đề địa chính trị ở Biển Đông, những nhân
tố chính trị nội bộ và lợi ích của từng nước cũng như tương tác chính sách giữa các bên
liên quan ở Biển Đông Cuốn sách thứ hai với tựa đề “Biển Đông: Quản lý tranh chấp và Định hướng giải pháp” chủ yếu đánh giá các diễn biến tình hình Biển Đông trong
những năm gần đây, xem xét các khía cạnh pháp lý của vấn đề và đề xuất các hướng giải pháp trong quản lý và giải quyết tranh chấp
Các bài viết trong cuốn sách thứ nhất “Biển Đông: Địa chính trị, Lợi ích, Chính sách và Hành động của Các bên liên quan” được chia thành năm chương Chương
Một “Biển Đông và các vấn đề địa chính trị” đánh giá vai trò của Biển Đông dưới góc
độ chiến lược và tính toán địa chính trị của các bên GS Geoffrey Till (Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Biển, Đại học King, London, Anh) cho rằng, giai đoạn hiện nay không chỉ Mỹ, Trung Quốc mà còn nhiều nước ở Đông Nam Á và Châu Á-Thái Bình Dương như Ấn Độ, Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc ngày càng quan tâm tới Biển Đông Mối quan tâm đó thể hiện ít nhất ở năm khía cạnh sau: Biển Đông như (i) một nguồn dự trữ tài nguyên; (ii) một nguồn cung ứng nguyên liệu và hàng hóa; (iii) một môi trường tự nhiên; (iv) một khu vực chủ quyền và (v) một phương tiện để thiết lập ảnh hưởng Biển Đông vì thế đã trở thành một không gian có ý nghĩa chiến lược nhất là trong bối cảnh trọng tâm quyền lực đang dịch chuyển dần về Châu Á GS Till cũng cho rằng, xu hướng hiện đại hóa hải quân ở khu vực không nên bị thổi phồng quá mức bởi nó chưa phải là chạy đua vũ trang nhưng cần “hạ nhiệt” tranh chấp, thiết lập các đường dây nóng giữa hải quân các nước và tiến hành các biện pháp xây dựng lòng tin an ninh biển để tránh cho tranh chấp vượt khỏi tầm kiểm soát
Trang 9Lời giới thiệu
Phó Đô đốc (nghỉ hưu) Hideaki Kaneda (Giám đốc Viện Okazaki, Nhật Bản) nhìn nhận giá trị của Biển Đông dưới góc độ mạng lưới các tuyến giao thông trên biển Ông cho rằng các tuyến đường biển kết nối Ấn Độ Dương, eo biển Malacca, Biển Đông và Biển Hoa Đông chính là “huyết mạch” của toàn bộ khu vực bởi sự phát triển của tất cả các quốc gia tại đây đều phụ thuộc vào nguồn năng lượng và vận tải thương mại Do đó, việc bảo vệ an ninh của các tuyến hàng hải trọng yếu này trở nên ngày càng cấp thiết, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc đang có nhiều hành vi bá quyền trên Biển Đông và Hoa Đông và bày tỏ tham vọng muốn thống trị những vùng biển này Theo Kaneda, một “liên minh an ninh biển” giữa Nhật, Mỹ với Úc và Ấn Độ, trong đó Mỹ-Nhật đóng vai trò trung tâm có thể là một cơ chế hữu hiệu để bảo đảm an toàn cho mạng lưới giao thông trên biển, bên cạnh việc tiếp tục duy trì các nỗ lực và cơ chế đối thoại hiện có như Diễn đàn khu vực ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, Diễn đàn Hải quân Tây Thái Bình Dương…
Chương Hai “Chính trị nội bộ và chính sách của các bên ở Biển Đông” nghiên cứu các
nhân tố bên trong ảnh hưởng đến quyết sách của các nước về vấn đề Biển Đông Bài viết của GS Su Hao (Khoa Ngoại giao, Đại học Ngoại giao Trung Quốc) và Ren Yuan-zhe (giảng viên Khoa Ngoại giao, Đại học Ngoại giao Trung Quốc) xem xét vị trí của Biển Đông trong việc xác định các lợi ích quốc gia cơ bản Các tác giả cho rằng tuy Biển Đông liên quan đến lợi ích chủ quyền và an ninh của nhiều nước nhưng về tổng thể thì Biển Đông chỉ là lợi ích quốc gia thứ yếu Trong những năm gần đây, các bên liên quan đến tranh chấp ở Biển Đông thường mắc sai lầm khi hoạch định chính sách dựa trên việc xem Biển Đông là lợi ích quốc gia cơ bản, đầu tư nhiều nguồn lực để bảo vệ các lợi ích ở Biển Đông, dẫn đến tình trạng căng thẳng và đối đầu – điều này không có lợi đối với tất cả các nước ở khu vực Vì vậy, một chính phủ trách nhiệm và duy lý cần phải định hướng chiến lược quốc gia dựa trên cơ sở lợi ích cơ bản của việc phát triển đất nước và tập trung vào phát triển quốc gia thay vì làm tổn hại chính mình bằng cách đầu tư nguồn lực sai lầm, đánh giá quá cao vị trí của Biển Đông dẫn đến những căng thẳng không đáng có
Bài viết của ông Nguyễn Hùng Sơn (Phó Viện trưởng, Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao Việt Nam) phân tích các nhân tố nội bộ bên trong Trung Quốc, ASEAN (với tư cách là một tổ chức) và Việt Nam để làm sáng tỏ các “làn sóng ngầm” giúp giải thích chính sách của các chủ thể này ở Biển Đông Đối với Trung Quốc, tuy các nhóm chủ thể có những nhãn quan rất khác nhau về thế giới nhưng điểm chung đó là họ đều nhìn thấy Trung Quốc ở trung tâm của một trật tự thế giới mới, nơi Trung Quốc sẽ tăng cường vai trò và ảnh hưởng Hành xử cứng rắn của họ trên Biển Đông bị ảnh hưởng của tâm lý chủ nghĩa dân tộc và tư tưởng bá quyền, vì thế rất khó nhân nhượng với những thứ họ xem là “lợi ích cốt lõi” ASEAN đang vấp phải những khó khăn nội tại giữa vấn đề lợi ích quốc gia và lợi ích nhóm, giữa phi chính thức và phi thể chế, giữa lợi ích an ninh và kinh tế trong quá trình xây dựng cộng đồng Đối với Việt Nam, những phát triển mới trong tư duy hoạch định chính sách đối ngoại, việc tăng cường định vị bản thân là một nhân tố quan trọng trong ASEAN và thành viên tích cực trong cộng đồng thế giới và tương tác với người dân đã ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách của Việt Nam trên Biển Đông
Trang 10TS Li Mingjiang (Trường Nghiên cứu Quốc tế S Rajaratnam, Đại học Kỹ nghệ Nanyang, Singapore) nghiên cứu các cuộc tranh luận trong nội bộ Trung Quốc gần đây về vấn đề Biển Đông và từ đó đưa ra các dự đoán về chiều hướng chính sách của nước này trong thời gian tới Tác giả nhận thấy rằng phần lớn các nhà phân tích Trung Quốc thống nhất về căn nguyên gây xung đột trên Biển Đông là do các nước trong khu vực thiếu tôn trọng lợi ích của Trung Quốc, liên kết chống lại Trung Quốc Quan điểm khá thống nhất này là dấu hiệu cho thấy, nếu không có sai lầm nghiêm trọng, Trung Quốc sẽ không điều chỉnh đáng kể chính sách ở Biển Đông Rất có thể, trong vài năm tới, Trung Quốc sẽ quyết đoán hơn ở Biển Đông nhưng không đối đầu bởi Trung Quốc phải tính đến quan hệ với các nước Đông Nam Á, mục tiêu cạnh tranh chiến lược với Mỹ và những ưu tiên phát triển kinh tế trong nước
Trong bài viết của mình, GS Aileen S.P Baviera và Sascha M Gallardo (Đại học Philippines) phân tích vai trò của truyền thông và công luận Philippines trong các tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines trên Biển Đông Truyền thông đại chúng Philippines đã đóng một vai trò quan trọng trong việc xử lý khủng hoảng bởi chính phủ có thể sử dụng ý kiến công chúng và các chiến dịch tuyên truyền làm hậu thuẫn cho quan điểm của mình, củng cố sự đoàn kết chống lại Trung Quốc và kêu gọi ủng hộ của cộng đồng quốc tế Tuy nhiên, ý kiến dư luận cũng có thể là con dao hai lưỡi, đôi khi thay vì chỉ trích Trung Quốc lại quay lại phê phán chính phủ Philippines vì quá yếu đuối, tự mãn hoặc thiếu chiến lược tổng thể Vì vậy, chính phủ cần sử dụng hợp lý công cụ tuyên truyền và thông tin đầy đủ để thúc đẩy truyền thông đóng vai trò tích cực trong việc đưa ra các giải pháp và củng cố lòng tin chính trị
Chương Ba “Quân sự hóa và hệ lụy đối với Biển Đông” đánh giá xu thế hiện đại hóa
quân sự ở khu vực và tác động của nó đối với tranh chấp Biển Đông Christian Le Mière (Chuyên viên cao cấp, Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Anh) đưa ra một phân tích chi tiết về chiến lược “chống tiếp cận/ phong tỏa khu vực” (A2AD) – một lựa chọn đang được các nước quanh Biển Đông chú ý đầu tư Tác giả cho rằng tuy về bản chất, chiến lược này mang tính chất tự vệ nhưng những lo ngại về hạn chế khả năng hành động do A2AD gây ra đã tạo nên các chuỗi hành động-đáp trả giữa các nước, khơi nguồn cho một tình thế “tiến thoái lưỡng nan” về an ninh Mặc dù vậy, xu hướng tăng cường mua sắm vũ khí ở khu vực chưa tạo thành một cuộc chạy đua vũ trang Tuy nhiên, để phá vỡ vòng tròn nguy hiểm này, trách nhiệm sẽ thuộc phần lớn vào các quốc gia mạnh hơn (như Mỹ, Trung Quốc), các nước này cần chấp nhận một mức độ “bất ổn” an ninh nhất định để các nước nhỏ hơn cảm thấy thoải mái với mức độ phòng thủ của mình
Bài viết của GS Carlyle A Thayer (Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học New South Wales, Học viện Quốc phòng Úc) tập trung giải đáp câu hỏi liệu quá trình hiện đại hóa hải quân của Trung Quốc và chiến lược tái cân bằng của Mỹ tại Đông Á có ảnh hưởng như thế nào đến ổn định ở Biển Đông Tác giả cho rằng môi trường an ninh tương lai của Biển Đông sẽ chịu ảnh hưởng của năm xu thế chồng chéo, tiềm ẩn trong đó cả những nhân tố ổn định và bất ổn, đó là: (i) sự đối đầu chiến lược giữa Mỹ
và Trung Quốc; (ii) xu hướng hiện đại hóa quân sự trong khu vực; (iii) tăng cường khả năng chấp pháp trên biển trong khu vực; (iv) sự phát triển của cấu trúc an ninh khu
Trang 11Lời giới thiệu
vực; và (v) các cuộc đối thoại về Biển Đông giữa Trung Quốc và ASEAN Trong ngắn hạn, do sự mất lòng tin chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc, hai nước sẽ tiếp tục cạnh tranh và hợp tác, điều này sẽ gây ra nhiều khó khăn cho ASEAN nhất là trong bối cảnh cấu trúc an ninh khu vực không có khả năng quản lý hiệu quả các thách thức an ninh biển trên Biển Đông
Richard A Bitzinger (Nghiên cứu viên cao cấp, Trường Nghiên cứu Quốc tế S Rajaratnam, Đại học Kỹ nghệ Nanyang, Singapore) miêu tả chi tiết quá trình xây dựng quân đội của Trung Quốc kể từ cuối những năm 1990 và tác động của nó đối với việc hiện đại hóa quân đội của các nước Đông Nam Á Theo Bitzinger, việc mua sắm vũ khí trong khu vực thời gian gần đây, đặc biệt là về hải quân và không quân, vượt ra ngoài khuôn khổ của việc hiện đại hóa thông thường, bởi các loại vũ khí đó có tính sát thương, độ chính xác và phạm vi triển khai rộng lớn hơn Điều này tăng cường đáng kể năng lực chiến tranh của các nước quanh Biển Đông và bất kỳ cuộc xung đột nào nếu xảy ra thì cường độ sẽ mạnh hơn, phạm vi rộng hơn và sức tàn phá cũng lớn hơn
Chương Bốn “Lợi ích và chính sách của các nước liên quan ngoài khu vực Biển Đông”
tập trung nghiên cứu các chủ thể có lợi ích ngày càng lớn ở Biển Đông như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga và Hàn Quốc Bài viết của GS Renato Cruz De Castro (Khoa Nghiên cứu Quốc tế, Đại học De La Salle, Philippines) phân tích việc chuyển chính sách của Mỹ từ kiềm chế ngoại giao sang kiềm chế chiến lược trước một Trung Quốc đang trỗi dậy Tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Clinton tại ARF 2010 là một nỗ lực kiềm chế ngoại giao của Mỹ nhằm liên kết với các quốc gia ASEAN thuyết phục Trung Quốc chấp nhận cách tiếp cận đa phương trong giải quyết tranh chấp Biển Đông Tuy nhiên, Trung Quốc đã sử dụng ảnh hưởng chính trị, thương mại và đầu tư của mình để ngăn cản sự hình thành của một liên minh Mỹ-ASEAN và vì thế Mỹ phải chuyển sang kiềm chế chiến lược bằng cách tái triển khai trên quy mô lớn các lực lượng hải quân và không quân từ Châu Âu và Trung Đông sang Châu Á
GS Masahiro Akiyama (Cố vấn cấp cao, Quỹ Nghiên cứu Chính sách Đại dương, Nhật Bản) cho rằng lợi ích quan trọng nhất của Nhật Bản ở Biển Đông là tự do hàng hải; do đó, các tranh chấp lãnh thổ tại đây trở thành mối quan tâm lớn của Nhật Chúng có thể ảnh hưởng đến việc tự do lưu thông của tàu thuyền thương mại và quân sự ở vùng biển này Theo GS Akiyama, các bên liên quan cần sớm hợp tác để xây dựng một bộ quy tắc hay nguyên tắc hướng dẫn cho hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế dựa trên tinh thần và các điều khoản của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển
1982 nhằm tránh các vụ va chạm như trong quá khứ
Về lợi ích và chính sách của Ấn Độ ở Biển Đông, TS Probal Ghosh (Nghiên cứu viên cao cấp, Quỹ Nghiên cứu Giám sát Ấn Độ) khẳng định những căng thẳng ở Biển Đông có tác động đáng kể đến Ấn Độ bởi gần 50% hoạt động thương mại của nước này được vận chuyển qua các tuyến đường biển trong khu vực Việc qua lại vô hại của tàu chiến và tàu thuyền thương mại của Ấn Độ cũng có thể bị cản trở nếu Trung Quốc hiện thực hóa thành công yêu sách đường chín đoạn như đã được kiểm chứng qua vụ việc tàu Airavat Ấn Độ cũng có lợi ích lớn trong việc khai thác năng lượng ở Biển Đông nên sẽ không chấp nhận bất kỳ sự cản trở nào từ Trung Quốc Vì vậy, dù là “cường quốc bên
Trang 12ngoài”, Ấn Độ mong muốn thực hiện vai trò trung gian một cách trung thực để giữ gìn
an ninh, ổn định ở Biển Đông
Bài viết của GS Dmitri Valentinovich Mosyakov (Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, Úc và Châu Đại Dương tại Viện Nghiên cứu Phương Đông, Học viện Khoa học Nga) so sánh chính sách của Liên Xô/ Nga ở Châu Á-Thái Bình Dương và đối với tranh chấp Biển Đông trong quá khứ và hiện tại Tác giả kết luận rằng Nga đang quyết tâm triển khai chính sách “quay lại Châu Á” và trong tương lai sẽ đóng vai trò quan trọng trong các vấn đề của khu vực, trong đó có Biển Đông Mặc dù Trung Quốc theo dõi rất sát sao sự quay trở lại của Nga và sự can dự của Nga ở Biển Đông nhưng Nga sẽ không rút khỏi Biển Đông trước các áp lực của Trung Quốc GS Mosyakov cho rằng đây là lựa chọn chính sách đúng đắn duy nhất bởi nếu Nga nhượng bộ Trung Quốc, cái giá phải trả với Nga không chỉ là “mất mặt ở Châu Á” mà còn là các hợp đồng trị giá hàng tỷ USD từ các công trình ở thềm lục địa
Đại tá Hải quân Sukjoon Yoon (Nghiên cứu viên cao cấp, Viện Chiến lược Biển Hàn Quốc) trong Bài viết của mình đã nghiên cứu sự cạnh tranh Trung-Mỹ trên Biển Đông và từ đó đề xuất vai trò quốc gia tầm trung của Hàn Quốc và một số chủ thể có tiềm năng khác (như Nhật Bản, Úc, New Zealand, Ấn Độ và ASEAN) để ngăn chặn trò chơi “ăn miếng trả miếng” giữa hai cường quốc này Tác giả cho rằng một liên minh các quốc gia tầm trung ở Đông Á, trong đó Hàn Quốc là nước có khả năng và lợi ích để đảm đương một vai trò tích cực, có thể góp phần hữu ích vào giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông Trước mắt, một “bộ quy tắc hợp tác” nên được xây dựng để giảm thiểu tình trạng mất lòng tin chiến lược, tránh các tác động xấu từ cạnh tranh Trung-Mỹ và thu hẹp những bất đồng giữa các quốc gia trong khu vực
Chương Năm “Biển Đông trong quan hệ Mỹ-ASEAN-Trung Quốc” xem xét những
tương tác chính sách giữa Mỹ, ASEAN và Trung Quốc, những chủ thể được xem là quan trọng nhất trong vấn đề Biển Đông Bài viết của Bonnie S Glaser (Nghiên cứu viên cao cấp, Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược Mỹ) so sánh quan hệ Mỹ-Trung Quốc-ASEAN trong giai đoạn 2002-2006 với giai đoạn 2007-2012 để tìm ra những thay đổi quan trọng và hệ quả của chúng Tác giả đưa ra ba kết luận chính: thứ nhất, Trung Quốc đã thay đổi chính sách, hành xử cứng rắn hơn và dùng năng lực biển ngày càng tăng của mình để ép các nước nhỏ trong ASEAN thay đổi chính sách theo hướng có lợi cho Trung Quốc Thứ hai, ASEAN từ chỗ còn mâu thuẫn về sự hiện diện của Mỹ hầu hết đã chuyển sang ủng hộ vô điều kiện sự quay trở lại của Mỹ như một đối trọng trước những bất ổn gây ra do sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc Thứ ba, Mỹ đã nhận thức được rằng một chính sách tốt với Trung Quốc chỉ khi nó nằm trong chiến lược Châu Á, nghĩa là phải tăng cường thảo luận và làm việc với các quốc gia khác trong khu vực Theo Glaser, tuy vấn đề Biển Đông khó có thể giải quyết một sớm một chiều nhưng những lo ngại về việc cạnh tranh Biển Đông sẽ dẫn đến đối đầu Trung-Mỹ, sự tan rã của ASEAN hay xung đột quân sự leo thang thành chiến tranh rộng lớn đều là sự thổi phồng quá mức
Từ quan điểm của ASEAN với vai trò là nhân tố thúc đẩy đối thoại và hợp tác, tác giả Termsak Chalermpalanupap (Nghiên cứu viên cao cấp, Trung tâm Nghiên cứu ASEAN,
Trang 13Lời giới thiệu
Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore) cho rằng Biển Đông có thể mang lại nhiều
cơ hội khả quan cho Trung Quốc và Mỹ trong hợp tác với ASEAN để duy trì hòa bình,
ổn định của khu vực An ninh biển là một lĩnh vực rộng để ba bên có thể ngồi lại đối thoại và hợp tác trên cơ sở bảo đảm không sử dụng hay đe dọa vũ lực và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình – điều mà tất cả các bên đã cam kết thông qua việc ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Thân thiện (TAC) Việc hợp tác này nền tảng để các bên tiếp tục xây dựng lòng tin, ủng hộ Đông Nam Á trở thành một khu vực phi hạt nhân
Theo TS Trần Trường Thủy (Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao Việt Nam), vấn đề Biển Đông giờ đã đồng thời trở thành “thuốc thử” quan trọng đối với chiến lược
“phát triển hòa bình” của Trung Quốc, vị trí thống lĩnh của Mỹ ở khu vực và sự thống nhất của ASEAN Hiện nay, tam giác quan hệ Trung Quốc-ASEAN-Mỹ ở Biển Đông đang bị mất cân bằng khi Trung Quốc chiếm ưu thế trên biển và trên các diễn đàn ngoại giao, Mỹ vẫn loay hoay tìm kiếm cách đối phó với một Trung Quốc đang trỗi dậy, một ASEAN bị phân hóa và, về mặt thể chế có thể bị thao túng bởi bất kỳ nước chủ tịch hay thậm chí là một thành viên riêng lẻ nào Tuy nhiên, có khả năng những gì Trung Quốc đạt được chỉ là tạm thời; về lâu dài những gì Trung Quốc mất có thể nhiều hơn nếu cứ tiếp tục hành xử bất chấp luật pháp Về phần Mỹ, nước này cần cân nhắc bổ sung các thành tố khác vào chiến lược của mình như việc sử dụng lực lượng bán quân sự và các công cụ kinh tế để đối phó hiệu quả hơn với Trung Quốc bởi Biển Đông không chỉ liên quan đến lợi ích chiến lược mà còn là uy tín của sức mạnh Mỹ
Nhìn chung, các bài viết trong cuốn sách này đều thống nhất về tầm quan trọng địa chính trị của Biển Đông và chỉ ra những tính toán phức tạp của các nước liên quan trong và ngoài khu vực Chính những mâu thuẫn lợi ích và cạnh tranh chính sách này đang tác động trực tiếp đến những diễn biến hàng ngày trên Biển Đông và đặt ra nhu cầu bức thiết về việc quản lý xung đột, hướng tới giải quyết tranh chấp, nếu không sự xói mòn lòng tin chiến lược sẽ dẫn cả khu vực đến một kết cục thua thiệt cho tất cả các bên, thay vì cùng hợp tác phát triển thịnh vượng Những nội dung này sẽ được đề cập
cụ thể hơn trong cuốn sách thứ hai “Biển Đông: Quản lý tranh chấp và Định hướng giải pháp”./.
Trang 15Chương I
BIỂN ĐÔNG VÀ
CÁC VẤN ĐỀ ĐỊA CHÍNH TRỊ
Trang 17“THỜI KHẮC BIỂN” CHÂU Á VÀ
VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG
GS Geoffrey Till Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Biển, Đại học King, London, Anh
Ở Mỹ, trong khi các cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan đang đi xuống, việc khôi phục các lĩnh vực biển trong chính sách an ninh của Mỹ ngày càng được tập trung Dường như giờ là “thời khắc biển”, và là thời khắc mà Thủy quân lục chiến Mỹ đã xác định vừa
là cơ hội và vừa là thách thức - và đang quyết tâm làm rõ điều này.1
Giả thiết đặt ra, có lẽ không có gì là ngạc nhiên rằng:
Năng lực biển và năng lực đổ bộ của Mỹ có ý nghĩa then chốt đối với khả năng của Mỹ trong tương lai Mỹ có thể ngăn chặn và đánh bại kẻ thù, củng cố liên minh, phong tỏa hang ổ của kẻ thù và mở rộng ảnh hưởng trên toàn cầu Định hướng chiến lược mới
của Lầu Năm Góc, “Duy trì vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ: Ưu tiên cho Quốc phòng ở
Thế kỷ 21” vạch ra các sứ mệnh cho quân đội Mỹ, bao gồm cân bằng thế quân sự của Mỹ
ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, triển khai sức mạnh, hiện diện ổn định ở những khu vực then chốt và thực hiện hỗ trợ nhân đạo.2
Đứng trước khả năng bị cắt giảm ngân sách trong khi các đối thủ bất định ngày càng gia tăng và các mối đe dọa đối với các tuyến đường biển ngày càng nhiều (tất cả các nước đều phải phụ thuộc vào các tuyến đường biển này), Mỹ cần phải chớp lấy “thời khắc biển” đang mở ra này Mỹ phải giải quyết các vấn đề về hoạt động biển ở tất cả các vùng biển quan trọng Một khi đạt được điều này, có thể kết luận rằng “Hải quân và Thủy quân lục chiến của Mỹ giờ đây đang đứng trước cơ hội dẫn đầu trong một “Thế kỷ Hải quân” mới và một “Thời đại Hoàng kim” nữa của sức mạnh biển Mỹ” Quan điểm
1 ‘Naval Amphibious Capability of the 21st century: Strategic Opportunity and a Vision for Change’ Báo cáo của nhóm
Làm việc về năng lực đổ bộ, 27/4/2012 Nhóm Marine Corps Ellis ‘US Amphibious forces: Indispensible ments of American Seapower’ trong Small Wars Journal, 27/8/2012 là một bản tóm tắt tại http://smallwarsjour-
Ele-nal.com/jrnl/art/us-amphibious-forces-indispensible-elements-of-american-seapower
2 “US Amphibious Forces,’ tlđd
Trang 18này là bước phát triển nhưng hoàn toàn nhất quán với sự nhấn mạnh vào tầm quan trọng của thương mại đường biển đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Mỹ, được đề
cập trước đó trong các bản trình bày về chính sách biển của Mỹ, ví dụ: “Một chiến lược
hợp tác cho Sức mạnh biển thế kỷ 21” năm 2007 Nền kinh tế trên thế giới đang dịch
chuyển sang Châu Á-Thái Bình Dương , nên chắc chắn Mỹ sẽ gia tăng sự tập trung vào Châu Á
Nhưng Mỹ cũng phải đương đầu với nhiều thách thức không nhỏ Đầu tiên là những nhu cầu bất định trong một thế giới xa lạ, trong đó xuất hiện sự dịch chuyển ngang của quyền lực toàn cầu sang những nước và khu vực mới và dịch chuyển dọc của sức mạnh sang những chủ thể hỗn hợp hay phi quốc gia (xã hội, kinh tế, tôn giáo, tội phạm, dân tộc) Những chủ thể này thách thức các quan niệm về chủ quyền, nguy cơ và an ninh” Mỹ (và các nước khác) do đó phải đón chờ khủng hoảng và bất ổn kéo dài
Thứ hai, sẽ xuất hiện ngày càng nhiều các mối đe dọa đến tự do hàng hải mà Mỹ, các đồng minh và đối tác của Mỹ cần đến để đối phó với sự bất ổn do các đối thủ phi quốc gia tạo ra thông qua các hoạt động bất tương xứng và với chiến lược chống tiếp cận hay phong tỏa khu vực của các đối thủ trong khu vực
Do đó, nhu cầu cấp bách đối với Mỹ trước hết là duy trì “sự hiện diện tiên phong” (forward presence) Bởi vì điều này sẽ tạo ra một mức độ răn đe và sự đáp trả nhanh chóng nếu như răn đe bị thất bại Vì quan trọng nên không ngạc nhiên khi nó xếp thứ hai trong “3 nguyên lý” của Đô đốc Jonathan Greenert, Tư lệnh tác chiến của Hải quân Mỹ.3
Điều này tiếp theo sẽ đòi hỏi việc đảm bảo quyền tự do tiếp cận trên các vùng biển trên thế giới, và khả năng quản lý các chiến lược chống tiếp cận về kỹ thuật, chính trị và pháp lý của các đối thủ quốc gia và phi quốc gia
Cuối cùng, việc tầm quan trọng chiến lược của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương tăng lên tương đối đòi hỏi Mỹ phải chuyển trọng tâm chiến lược, tạo ra yêu cầu ngày càng tăng đối với Hải quân và Thủy quân lục chiến Mỹ:
Theo báo cáo “Ưu tiên và lựa chọn ngân sách quốc phòng” Mỹ tháng 1/2012, tái cân
bằng khu vực Châu Á-Thái Bình Dương “tạo ra sự tập trung mới đối với các lực lượng không quân và hải quân” Báo cáo này cũng miêu tả chi tiết những thay đổi trong chi tiêu ngân sách của Lầu Năm Góc trong thập kỷ tới Thủy quân lục chiến và lực lượng đổ bộ của hải quân Mỹ đang đứng trước ngưỡng cửa của thời đại yêu cầu Mỹ có năng lực biển mạnh, đặc biệt khi quân đội thực hiện tái cân bằng ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương 4
Nhưng “thời khắc biển” không chỉ áp dụng đối với Mỹ, mặc dù người Mỹ - hay ít nhất là một số người Mỹ - có lẽ đi đầu trong cách nói này Nó cũng áp dụng đối với nhiều nước khác nữa, và đặc biệt ở Châu Á-Thái Bình Dương - một khu vực, mặc dù có những rắc rối nội bộ nhưng dựa nhiều vào biển trong lịch sử của mình, phát triển kinh
tế và đường hướng tương lai
3 Đó là “Chiến đấu trước” [Warfighting First], “Hiện diện tiên phong” [Forward Presence] và “Sẵn sàng” [Be Ready]
4 ‘US amphibious Forces,’ tlđd.
Trang 19“Thời khắc biển” của Châu Á và vấn đề Biển Đông
Ví dụ như Trung Quốc, một nước đang tìm lại nguồn gốc đi biển của mình và đang phát triển định hướng biển trong tổng thể các chính sách xã hội, kinh tế và an ninh Từ
2002, trong Báo cáo Đại hội Đảng lần thứ 16 của mình, Trung Quốc đã nhận thức sâu sắc rằng hai thập niên đầu thế kỷ 21 là “giai đoạn thời cơ chiến lược”.5 Sách trắng Phát triển Hòa bình năm 2011 cũng nêu ra rằng ban đầu cần tập trung phát triển lợi ích kinh
tế và xã hội của đất nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất và xã hội ngày càng tăng6
- và để đảm bảo sự sống còn của chế độ Điều này đòi hỏi khả năng phát triển nguồn tài nguyên trong nước và đảm bảo khả năng tiếp cận các nguồn hàng hóa và tài nguyên cần thiết từ nước ngoài Tương tự, Chủ tịch Hồ tại Diễn đàn Bác Ngao năm 2011 đã lập luận, điều này đòi hỏi việc định hình một “Châu Á hài hòa” về hội nhập kinh tế và cộng đồng văn hóa trong đó các lợi ích quốc gia của Trung Quốc được đặt đúng chỗ trên cơ sở “tin tưởng lẫn nhau, lợi ích chung, bình đẳng và hợp tác”.7 Chừng nào mà trật tự thế giới hiện tại khiến cho điều này khó thực hiện, Trung Quốc sẽ muốn thay đổi trật tự thế giới, để tạo không gian cho sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc thế giới lớn mạnh nhưng hòa bình
Sự nhấn mạnh vào khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và tính trung tâm của thương mại kinh tế một lần nữa hướng sự chú ý của chúng ta tới một thực tế rằng: đây là thời khắc biển Theo đó, các nhà quan sát đã lưu ý đến sự tập trung phát triển các lĩnh vực kinh tế biển của Trung Quốc trong kế hoạch 5 năm gần đây nhất của họ, việc xây dựng đáng kể các đơn vị thực thi luật biển của Trung Quốc, đặc biệt là Hải quân Trung Quốc
Khá thú vị là, cũng có một số ý kiến nhấn mạnh rằng Trung Quốc cần phải tính toán lại, làm rõ và cần phải làm tốt hơn để có thể bảo vệ các lĩnh vực trong chính sách biển của mình Ví dụ, ở Trung Quốc, cũng như ở các nước khác, tháng 3/2012 đã có nhiều lời kêu gọi hình thành nên một chiến lược biển chặt chẽ ở cấp độ quốc gia nhằm mục tiêu kết nối tất cả mọi hướng lại với nhau Thậm chí, ở một đất nước mà từ lâu đã được coi là có khả năng đề ra kế hoạch dài hạn một cách công phu và tổng hợp, tình hình thực tế lại dường như rất khác cho người trong cuộc Do vậy, Phó Đô đốc Hải quân Yin Zhuo, Chủ tịch Ủy ban Chuyên gia về Thông tin hóa Hải quân cho rằng: “Trung Quốc không có một chiến lược biển rõ ràng ở cấp độ quốc gia” Các tính toán về kinh tế chi phối chính sách của các đơn vị trong Cục Hải dương Quốc gia và “một cách rất tự nhiên Hải quân cũng có những tính toán chiến lược biển của riêng mình, nhưng những tính toán này chỉ là hành động của một số bộ ngành nhất định, và không ở cấp độ quốc gia” Những lo lắng như vậy đã dẫn đến, ở Trung Quốc, cũng như các nơi khác, sự kêu gọi thành lập “Bộ Đại dương”.8 Vì tất cả những lý do này, trong bài phát biểu cuối cùng của
5 Timothy R Heath, ‘What Does China Want ? Discerning the PRC’s National Strategy’ Asian Security, Vol 8, No
1, 2012
6 Heath, ‘What Does China Want?’ tlđd, tr 66
7 Phát biểu của Ông Hồ Cẩm Đào, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại lễ khai mạc Diễn đàn Bác Ngao Châu Á năm 2011, 14/4/2011, có tại website Bộ Ngoại giao, http://www.fmprc.gov.cn.
8 Trích từ James Holmes, ‘China’s Maritime Strategy is more than Naval Strategy’ China Brief, Jamestown
Founda-tion, 4/2011; ‘General calls for New Coastguard to patrol South China Sea’ Wall Street Journal, 7/3/2012; ‘Calls
for Establishment of Ministry of Oceans’ Xinhua, 5/3/2012.
Trang 20mình tại Đại hội Đảng lần thứ 18, Chủ tịch Hồ đã kêu gọi Trung Quốc phải biến mình thành một cường quốc biển.9
Những động lực và đường hướng tương tự như vậy có thể được thấy ở các nước nhỏ hơn trong khu vực, dù ở quy mô nhỏ hơn nhiều và trong một khu vực địa lý hẹp hơn Sự phụ thuộc vào biển, coi biển như là nguồn tài nguyên và là phương tiện vận tải nguyên liệu thô và hàng hóa chế tạo để mang lại triển vọng cho nền kinh tế và sự ổn định xã hội ngày càng thể hiện rõ ở Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia và Singapore Đối với họ, hoạch định kinh tế ngày càng phản ánh tầm quan trọng của biển; các đơn vị thực thi luật biển được xây dựng; và hải quân được phát triển, cũng giống như ở Trung Quốc và Mỹ Ước muốn tái lập trật tự khu vực, trong đó lợi ích quốc gia của họ được bảo vệ một cách tốt nhất là rất rõ ràng và trong chừng mực nào đó, họ mong muốn lôi kéo các nước bên ngoài vào để tái cân bằng với Trung Quốc - một nước với sự tăng trưởng và tự tin đôi khi khiến các quốc gia lo lắng Điều này dường như đặc biệt đúng với Việt Nam và Philippines, vì những tranh cãi của họ với Trung Quốc xung quanh việc ai sở hữu cái gì ở Biển Đông
Lời mời của Việt Nam vào tháng 11/2010 đối với các hải quân bên ngoài về việc sử dụng các dịch vụ tại cảng Cam Ranh (được nâng cấp với sự giúp đỡ rất nhiều của Nga) đã thu hút rất nhiều sự chú ý, và có vẻ như đã dẫn đến sự tăng cường hiện diện trong khu vực của Nga, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc.10 Sự xuất hiện của Lực lượng Đặc nhiệm thứ 5 của hạm đội Viễn Đông Nga đã thể hiện sự quan tâm liên tục của nước này tại Biển Đông Ngoài ra, Việt Nam và Mỹ đang xích lại gần nhau, biểu hiện qua một loạt các chuyến thăm cấp cao của hải quân Mỹ đến nước này Quan hệ hải quân được cải thiện nhanh chóng giữa hai nước cũng đã thu hút rất nhiều sự chú ý.11
Tương tự, và cũng một phần do tranh chấp bãi Hoàng Nham (Scarborough Shoal) đầu năm 2012, Philippines đang tìm kiếm sự ủng hộ từ Mỹ Mỹ dường như muốn ra tín hiệu hỗ trợ Philippines thông qua chuyến thăm không được công bố trước tới Vịnh
Subic của tàu ngầm USS North Carolina, nhưng vẫn chưa sẵn sàng bị lôi vào vấn đề ai
sở hữu bãi đá ngầm này hay chấp nhận rằng bãi cạn cũng được điều chỉnh bởi Hiệp ước Phòng thủ chung năm 1951.12 Có một điều chưa chắc chắn là Mỹ liệu có coi Nhóm đảo Kalayaan (KIG) hay bãi Scarorough nằm trong phạm vi Hiệp ước An ninh chung Mỹ
- Philippines, được ký 4 năm trước khi Philippines đưa ra yêu sách đối với KIG nhưng ít nhất, Mỹ sẽ quan tâm đến tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc Vì vậy, cuộc diễn tập Balikatan của nước này với Philippines, và lần đầu tiên với cả Nhật Bản và Hàn Quốc, đã cho thấy sự quan tâm của nước này dù lãnh thố tranh chấp đó có nằm trong hiệp ước hay không.13
Tuy nhiên, một điều đáng lưu ý là các quốc gia bên ngoài khác dường như cũng
9 ‘Hu Defends track record, calls for war on graft’ The Straits Times, 9/11/2012
10 ‘Twist of fate sees old foes as allies in power tussle’ Financial Times, 15/6/2011.
11 ‘US Vietnam in Exercises Amid Tensions with China’ Wall Street Journal, 16/7/2011.
12 Joint Statement of the US-Philippine Ministerial dialogue, Office of the Spokesperson, Washington DC, 30/4/2012; Thayer (2012b); Glaser (2012) see also the perceptive Li Ying, ‘US not ready to be Philippines’ savior over Huangyan Island’ Global Times, 21/5/2012
13 Michael Richardson, ‘China tests US strength with shoal stand-off, The Straits Times, 23/4/2012.
Trang 21“Thời khắc biển” của Châu Á và vấn đề Biển Đông
đang tăng cường lợi ích chiến lược của mình ở khu vực Nhật Bản, Hàn Quốc và ở mức độ ít hơn như Ấn Độ và Singapore cũng chia sẻ nhận thức về tầm quan trọng ngày càng tăng của các tuyến đường giao thông qua Biển Đông đối với quốc gia Do đó, Ngoại trưởng Nhật Bản tháng 9/2011 đã tuyên bố:
Nhật Bản có lợi ích lớn trong tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông bởi vì những tranh chấp này có thể ảnh hưởng đến hòa bình và an ninh khu vực Châu Á-Thái Bình Dương,
và liên quan chặt chẽ đến việc bảo đảm an ninh giao thông biển.14
Sự chuyển dịch lực lượng và triển khai quân của Nhật Bản xuống phía nam trong vài năm qua khá đáng chú ý Ví dụ gần đây nhất là việc ký kết đối tác chiến lược với Philippines, khả năng cung cấp các tàu tuần tra cho Cảnh sát Biển Philippines và tổ chức các cuộc diễn tập hải quân.15 Sự quan tâm của Ấn Độ đối với khu vực cũng đã tăng đáng kể trong những năm qua, như là một phần trong chiến lược “Hướng Đông” của nước này, điều mà nhiều nhà phân tích cho là một phần để đáp trả với sự hiện diện của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương Ấn Độ đã thiết lập nhiều kết nối quan trọng với Việt Nam Sự kiện thách thức đối với tàu tấn công đổ bộ INS Airavat của Ấn Độ đang trên đường về Ấn Độ sau chuyến thăm Việt Nam vào tháng 7/2011 đã được truyền thông Ấn Độ coi như là bằng chứng cho sự lo ngại của Bắc Kinh về sự hiện diện “trái phép” của tàu chiến nước ngoài trong vùng mà Trung Quốc coi là của mình ở Biển Đông.16
Nhật Bản, Úc và Hàn Quốc cũng đã thể hiện sự quan tâm của mình.17 Năm 2011, cuộc diễn tập ba bên lần thứ tư giữa Mỹ, Nhật Bản và Úc đã diễn ra ở Biển Đông ngoài khơi Brunei.18
Tất cả những điều này đã đặt Bắc Kinh vào một vị thế ngày càng khó khăn Rõ ràng
là Trung Quốc càng thể hiện chính sách cứng rắn ở Biển Đông, thì càng gặp phải nhiều hành động đáp trả, bên trong hợp tác, bên ngoài quan tâm Ngược lại, chính sách càng ít cứng rắn thì nước này sẽ gặp phải càng nhiều ý kiến bất đồng và phản đối từ chính công dân của mình và từ những người hiểu rõ lợi ích biển của Trung Quốc trong kết quả của các sự kiện ở Biển Đông và Biển Hoa Đông
Tính trung tâm của Biển Đông
Một điều đã trở nên rõ ràng từ phần phân tích ngắn về “thời khắc biển” của Mỹ, Trung Quốc, các nước trong khu vực Đông Nam Á và các chủ thể khác như Úc, Ấn Độ
và Nhật Bản, là Biển Đông đã trở thành trung tâm trong các mối quan tâm của họ Đây
là điểm chung trong mối quan tâm của họ và là một điểm chung ngày càng lớn, không phải là thứ có thể bị gạt sang một bên chờ đến thời điểm thích hợp hơn Có năm lý do
14 Trích trong ‘South China Sea Dispute: Harbinger of regional Strategic Shift ? Asahi Shimbun, 10/9/2011.
15 Japan, Philippines agree ‘strategic’ ties, Jane’s Defence Weekly, 5/10/2011
16 ‘China confronted Indian warship off Vietnam’ Financial Times, 1/9/2011 Mặc dù còn khá mơ hồ (vì chiếc tàu
cho rằng không nhận ra nguồn tín hiệu radio, nhưng theo như tường thuật thì đây là một sự kiện rất đáng chủ ý Vì chiếc tàu chỉ đi qua và rõ ràng không tiến hành tập trận hay thu thập thông tin quạn sự hay thực hiện bất kỳ nhiệm
vụ gì, nến nó càng gây nên nghi ngờ về các phát ngôn của Trung Quốc trước đây rằng họ sẽ ‘tôn trọng quyền tự
do qua lại của tàu thuyền các quốc gia liên quan phù hợp với luật pháp quốc tế Ben Blanchard, ‘China says Will Respect South Seas Navigation Freedom’ Reuters, 31/7/2010.
17 “Japan considers giving patrol boats to Philippines to help boost marine security’ Mainichi Daily News, 23/3/2012.
18 ‘Joint Drills to be held in South China Sea’ The Yomiuri Shimbun, 9/7/2011.
Trang 22riêng biệt nhưng liên quan đến nhau khiến Biển Đông ngày càng trở nên quan trọng:
• Biển Đông như một nguồn dự trữ tài nguyên
• Biển Đông như một nguồn cung ứng
• Biển Đông như môi trường tự nhiên
• Biển Đông như một khu vực chủ quyền
• Biển Đông như một phương tiện thống trị
Tất cả các vấn đề biển của thế giới đều được phô bày ở đây - nhưng trong một dạng thức sắc sảo hơn.19
Biển Đông như một nguồn dự trữ tài nguyên
Biển Đông là một khu vực rất giàu về nguồn cá, chiếm mấy chục phần trăm lượng
cá đánh bắt toàn cầu, và cấp thiết đối với an ninh lượng thực của các nước tuyên bố chủ quyền Ước tính tiềm năng dầu của Biển Đông thì khá là khác nhau Số liệu của Trung Quốc có vẻ cao hơn số liệu của các chuyên gia bên ngoài Nguồn tài nguyên tiềm năng của khu vực phong phú như thế nên nó đòi hỏi sự quan tâm và quy hoạch kinh tế của tất cả các nước xung quanh khu vực biển này Tất cả đều tuyên bố chủ quyền và có xu hướng coi việc khai thác tài nguyên, và thậm chí coi các hành động thăm dò của các nước tuyên bố chủ quyền khác là “ăn trộm” tài nguyên của mình Theo đó, trong giới hạn khả năng của mình, bảo vệ những nguồn tài nguyên này là một ưu tiên quốc gia cao, đặc biệt đối với các nước láng giềng
Biển Đông như một nguồn cung ứng
Biển Đông cũng cần được nhìn nhận như một nguồn cung ứng vì người ta ước tính rằng khoảng 5,3 ngàn tỷ USD giá trị hàng hóa đi qua khu vực này mỗi năm, trong đó 1,2 ngàn tỷ là của Mỹ.20 Vì lý do này, bất cứ điều gì phá hoại đến sự qua lại tự do của các tàu thuyền thương mại trên khu vực này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh của cả bên trong và bên ngoài khu vực.21 Tăng trưởng kinh tế của Đông Á đã làm gia tăng mạnh mẽ lượng giao thông ở đây; các khó khăn hàng hải trong khu vực nằm ở chỗ tàu thuyền đều đi qua khu vực tranh chấp ở Biển Đông Trung Quốc và tất cả các nước khác của khu vực chú ý tới mối đe dọa đối với an toàn di chuyển của khoảng 74.000 tàu thuyền thương mại qua eo biển Malacca và Biển Đông mỗi năm
Khủng bố và cướp biển, và các dạng tội phạm trên biển khác đe dọa đến tự do hàng hải, cả trực tiếp lẫn gián tiếp Hiện nay vấn đề cướp biển ở eo biển Malacca đã được kiềm chế nhiều Sự sự chú ý của thế giới đã chuyển sang vùng biển Ả rập và Vịnh Guinea Các mối đe dọa vẫn còn hiện diện ở phía nam Biển Đông và khu vực đầy hỗn loạn, bất ổn định giữa Philippines và Borneo.22 Bên cạnh việc coi Biển Đông như một phương tiện
19 Phần còn lại của bài viết này dựa trên một chương trong bản thứ ba của ‘Seapower: A Guide for the 21st Century’ sẽ
được đăng trên Routledge vào tháng 1/2013.
20 Glaser (2010)
21 ‘India tells ASEAN it believes in ‘open’ South China Sea’ 16/2/2012 @ http://malaysia.reserve.com
22 ‘Piracy down in Malacca Strait but up in S China Sea’ The Straits Times, 17/7/2009.
Trang 23“Thời khắc biển” của Châu Á và vấn đề Biển Đông
vận chuyển hợp pháp, (và nhu cầu chính đáng cần bảo vệ nó) cũng còn nhiều hoạt động vận chuyển bất hợp pháp của những kẻ buôn lậu thuốc phiện, buôn người, buôn lậu vũ khí và gỗ Các sản phẩm từ heroin và methamphetamine đi qua khu vực và xuống dưới phía Úc (cùng với các chất tiền hóa học mà các sản phẩm methamphetamine cần đến từ Ấn Độ và Trung Quốc) thường được vận chuyển bằng đường biển.23 Hoạt động tội phạm dạng này, thường dựa vào vận tải biển, gây ra rối loạn xã hội và bất ổn chính trị,
do đó đe dọa gián tiếp đến thương mại đường biển
Biển Đông như một môi trường tự nhiên
Là một vùng biển nửa kín, môi trường Biển Đông đặc biệt dễ bị tác hại Biển Đông cũng là ví dụ điển hình cho rất nhiều vấn đề đang ảnh hưởng đến các đại dương trên thế giới Đánh bắt cá quá mức và ô nhiễm là mối đe dọa chính đến an ninh môi trường của khu vực.24
Nghịch lý là vấn đề quyền tài phán ở Biển Đông chưa được giải quyết làm giảm khả năng bảo vệ biển và các nguồn tài nguyên của nó Kết quả là lượng đánh bắt không ổn định ở mức cao, môi trường sống thì đầy rẫy nguy cơ và các sự tính toán an toàn bị xao nhãng Tất cả những điều này trên thực tế làm giảm giá trị “trữ lượng” của khu vực đối với tất cả những nước liên quan, và có thể ảnh hưởng đến giá trị “dòng chảy” của nó.25
Vì khu vực không có khả năng thống nhất thực hiện các quy tắc chung, từng nước riêng lẻ cứ cố thực hiện các hành động đơn phương trong phần Biển Đông mà họ cho
là của mình, và điều đó gây nên sự kháng cự mạnh mẽ từ các nước tuyên bố chủ quyền khác Vấn đề không phải vì là các quy định mà là vì nó được áp đặt một cách đơn phương Một phần do hậu quả của các áp lực xung đột dạng này, các nỗ lực hợp tác bảo vệ Biển Đông như một môi trường tự nhiên (như “Cơ quan điều phối về Biển ở Đông Á (COBSEA)” và đối tác trong Quản lý Môi trường Biển ở Đông Á (PEMSEA)) thực tế chỉ ở mức độ vừa phải.26
Ba thuộc tính này của biển chỉ có thể được khai thác đầy đủ và theo một cách bền vững chỉ khi điều kiện chính trị cho phép Trật tự tốt trên biển là một điều kiện tiên quyết dù ở Biển Đông hay bất cứ nơi nào khác Khai thác bền vững nguồn cá và khoáng sản không thể tiến hành được khi mà các tàu thăm dò và tàu cá bị quấy nhiễu, các công
ty bị các chính phủ gây áp lực và phản đối sự có mặt của họ.27 Một nền ngư nghiệp bền vững trong khu vực không thể có nếu không có trật tự biển tốt và sự quản lý hiệu quả nguồn dự trữ đang tồn tại.28 Các vấn đề về nguồn dự trữ, nguồn cung ứng hay môi trường tự nhiên không thể được giải quyết khi mà vấn đề tranh chấp quyền tài phán vẫn còn tồn tại, trừ phi các nước tuyên bố chủ quyền có thể tìm ra được cách khắc phục
23 ‘Ice Age: Southeast Asia’s amphetamine trade.’ Jane’s Intelligence Review, tháng 5/2011.
24 Trefor Moss, ‘The South China Seasickness’ The Diplomat 24/4/2012 Xem trang web UNEP/GEF Về tình trạng
ô nhiễm môi trường ở Biển Đông
25 ‘Outlook for China’s maritime environment ‘not optimistic’: top oceanic officer’ Xinhua 13/3/2012.
26 Jon M Van Dyke, Regional Cooperation in the South China Sea’, Third International Workshop, Hanoi, Vietnam, Nov 3-5, 2011.
27 ‘China tells foreign firms not to explore in disputed waters.’ The Straits Times, 1/11/2011
28 ‘Filipino Fishermen killed in ‘tuna turf war (off Basilan) Al Jazeera, 24/1/2012.
Trang 24tạm thời để hạn chế rủi ro đến mức có thể cho tới khi vấn đề quyền tài phán được giải quyết Nhiệm vụ chính là tìm cách nào để làm được như vậy, trong khi vẫn giữ nguyên các yêu sách của các nước Thực tế chẳng thấy mấy tiến tiển gì cả.
Biển Đông như một vùng chủ quyền
Bởi vì Biển Đông rất giá trị nên các quốc gia trong khu vực tiếp tục tuyên bố chủ quyền mạnh mẽ lên những vùng mà họ cho là của mình, bao gồm nhiều hình thái địa chất ở khu vực, đáy biển và vùng nước mà các hình thái này tạo ra Các tuyên bố dựa trên sự pha trộn các đặc điểm lịch sử, pháp lý và địa lý phức tạp Chúng chồng lấn lên nhau, toàn bộ hay một phần, và trong một số trường hợp còn phức tạp hơn vì những mối quan hệ chính trị nhạy cảm giữa một số nước có yêu sách - rõ nhất là Trung Quốc
và Đài Loan, nhưng cũng theo một cách chung hơn là giữa Trung Quốc như một cường quốc và các nước láng giềng ASEAN yếu và nhỏ hơn rất nhiều của nước này
Mặc dù là chưa đủ, lợi ích của các nước bên ngoài ở một số khía cạnh nào đó càng làm cho tranh chấp phức tạp thêm Trong thời đại của công dân internet - công dân mạng - chính quyền không thể phớt lờ chủ nghĩa dân tộc đang ngày càng gia tăng trong dân chúng Đối với họ, khả năng của chính phủ bảo vệ cái mà họ cho là đảo và vùng biển của mình là chỉ số hiệu quả quan trọng trong mắt công dân mạng, như ở Trung Quốc, Việt Nam và Philippines.29 Gần đây, khi được một nhà báo của tờ Asahi Shimbun
hỏi tại sao Trung Quốc lại quan tâm đến Biển Đông như vậy, Đô đốc Wu Shengli, Tổng
tư lệnh, Hải quân Quân giải phóng nhân dân trả lời rằng: “Bạn cảm thấy thế nào nếu tôi cắt chân và tay của bạn? Trung Quốc nhìn nhận Biển Đông cũng giống như vậy”.30 Vấn đề chủ quyền rõ ràng có thể trở thành vấn đề danh dự và sự tự hào dân tộc, điều có thể không liên quan lắm đến chế độ pháp lý của các đảo và giá trị nguồn tài nguyên mà các đảo này có thể có được, thậm chí là cả các giá trị chiến lược của chúng
Nhưng vấn đề chủ quyền đã trở nên phiền phức hơn, khi chúng ta chuyển từ cuộc tranh cãi về đường biên tài phán ở Biển Đông sang vấn đề hẹp hơn về việc chủ quyền cho phép các quốc gia được làm gì trong khu vực quyền tài phán của mình Ở đây, vấn đề chủ yếu là tự do hàng hải, đặc biệt là tự do của tàu chiến - điều đã làm rối quan hệ Mỹ - Trung, thể hiện ở quyết tâm của Hải quân Mỹ nhằm duy trì đường vào khu vực, sự nhạy cảm và phản ứng của Trung Quốc đối với việc này dẫn tới việc xây dựng, đầu
tư cho hải quân ở tỉnh Hải Nam
Các nước có tuyên bố chủ quyền đang bảo vệ các yêu sách của mình bằng cách phát triển lực lượng hải quân và cảnh sát biển bằng cách này hay cách khác Các tàu cảnh sát biển (về mặt chức năng, dường như ít khiêu khích hơn tàu chiến) phụ thuộc lớn vào cách thức mà chúng được sử dụng Nhớ lại vụ Impeccable tháng 3/2009 là do các tàu cá và tàu loại này thực hiện Một số nhà phân tích suy đoán rằng vì những lý do thể
29 ‘China warns US to Stay Out of Islands Dispute’ New York Times 28/7/2010 ‘Hiệu ướng công dân mạng’ dĩ nhiên
cũng áp dụng đối với các nước tranh chấp khác ở Biển Đông và cả Việt Nam nếu nhìn vào các sự kiện xảy ra đầu năm 2011 Thomas J Christensen, ‘Posing Problems without Catching Up: China’s Rise and Challenges for US Security Policy’ International Security, Spring 2011, tr 5-40.
30 Trích trong in William Choong, ‘Mistrust hurts naval cooperation in region’ The Straits Times, 27/5/2011.
Trang 25“Thời khắc biển” của Châu Á và vấn đề Biển Đông
chế hơn là những lý do dân tộc mà những cơ quan này có thể cần phải “biện minh” cho ngân sách của mình thông qua các hành động cứng rắn Tuy nhiên nhiều người sẽ cho rằng việc thiếu cảnh sát biển có thể sẽ khiến cho các nước có yêu sách yếu hơn phải sử dụng các tàu của hải quân để đẩy mạnh yêu sách của mình - và điều này có vẻ như là khá bất lợi về mặt chính trị Không bị vướng vào sự kiềm chế này, những nước được trang bị với những lực lượng cảnh sát biển hiệu quả có thể sẽ dễ thực hiện các hành động cứng rắn và mạnh mẽ để bảo vệ lợi ích của mình
Hầu hết các nước có yêu sách, và những cường quốc bên ngoài quan tâm đến kết quả của tranh chấp đều hiểu rõ rằng chiến lược của họ đối với vấn đề Biển Đông cần sự hỗ trợ không chỉ bởi các đáp trả của hải quân và cảnh sát biển Tất cả họ đều đang dính vào cái mà một số học giả gọi là “lawfare”(luật chiến) - là việc sử dụng các điểm mập
mờ hay ít nhất là gây tranh cãi về khả năng áp dụng của luật biển quốc tế để củng cố cho lợi ích quốc gia trong những trường hợp đặc biệt.31 Việc các nước yêu sách áp dụng
“đường cơ sở” địa lý (mà từ đó, phạm vị của lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế được xác định) thường được các đối thủ và các chuyên gia bên ngoài đánh giá là phi lý và
do đó là một ví dụ tốt cho vấn đề này.32 Hơn nữa, cho đến nay hầu hết các nước có yêu sách thể hiện rất ít thiện chí trong việc giải quyết tranh chấp bằng việc nhờ vào trọng tài quốc tế đã được thỏa thuận theo UNCLOS, ngoại trừ một đề xuất của Philippines đối với bãi Scarborough, nhưng đã bị Trung Quốc từ chối một cách thẳng thừng.33
Các sự kiện gần đây ở Biển Đông cho thấy số lượng lớn các hành động trên mặt trận ngoại giao của cảnh sát biển và hải quân nhằm ngăn chặn các nước khác hoạt động trong khu vực “của mình” Trong diễn văn liên bang cuối tháng 7/2011, Tổng thống Philippines Benigno Aquino phát biểu: “Chúng tôi không muốn gia tăng căng thẳng với bất cứ ai, nhưng chúng tôi phải cho thế giới biết rằng chúng tôi sẵn sàng bảo vệ những gì là của chúng tôi” Vì lý do này mà tàu Rajah Humabon - tàu đô đốc của hải quân Philippines - được cử đến nơi mà một số người ở Manila giờ nhắc đến là “Biển Tây Philippines”.34 Tháng 4/2012, căng thẳng giữa hai nước càng leo thang trong thế giằng
co kéo dài ở đá ngầm Scarborough.35 Đây chỉ là một trong số rất nhiều ví dụ
Mặc dù các hoạt động cộng tác của hải quân và cảnh sát biển có nhiều hơn là cạnh tranh, nhưng số lượng các vụ việc như này ngày càng tăng sẽ là điều đáng lo ngại Việc ngồi lại cùng nhau để giải quyết là rất cần thiết, một phần để đối phó với các mối đe dọa đối với một trật tự biển tốt đẹp (nhu cầu chung của tất cả các nước), một phần để đảm bảo rằng tranh chấp đối với quyền tài phán không quá nóng thông qua các giải pháp quản lý xung đột như “Tuyên bố về Cách ứng xử” (DOC) năm 2002 và hàng loạt các động thái sau đó nhằm thực hiện các cam kết DOC nhằm không làm cho tình hình trở
31 Một chiến lược đã lần đầu tiên được phác thảo trong Qiao Liang và Wang, Xiangsui, Unrestricted Warfare (Beijing:
PLA Literature & Arts Publishing House, 1999)
32 Schofield, Clive and Storey, Ian The South China Sea Dispute: Increasing Stakes and Rising Tensions (Washington:
The Jamestown Foundation, 2009), tr 17, 39.
33 Phỏng vấn với Deng Zhonghua, ‘China committed to solving island dispute’ China Daily, 14/5/2012.
34 ‘Navy Flagship to patrol PH waters only, says Palace, Philippine Daily Inquirer, 21/6/2011.
35 ‘Manila seeks to ‘lay claim’ over Hungyan with new name’, Global Times, 7/5/2012; ‘”New” name for island sparks
fury’ China Daily 8 May 2012.
Trang 26nên xấu hơn Đó đều là những dấu hiệu cho thấy các nước có chung mong muốn quản lý tranh chấp trong trường hợp không thể giải quyết thấu đáo một cách hòa bình.36 Tuy nhiên, tiến triển chậm chạp trong việc biến DOC thành một Bộ Quy tắc Ứng xử chi tiết hơn và sự thất bại năm 2008 của Thỏa thuận thăm dò địa chấn chung giữa Trung Quốc - Philippines - Việt Nam đều cho thấy giới hạn thực sự trong việc hợp tác biển của khu vực, ngay cả trong việc đương đầu với các nguy cơ và các thách thức mà tất cả đều đã chấp nhận
Biển Đông như một phương tiện cho sự thống trị
Cuối cùng và đáng lo ngại nhất là, Biển Đông cũng phải được nhìn như một phương tiện cho sự thống trị ngoài các giá trị chính trị, kinh tế và môi trường của nó Biển Đông có giá trị chiến lược và giá trị đó đang tăng rất nhanh
Không phải lúc nào điều này cũng xảy ra Giá trị chiến lược của chính các địa hình
và các đảo ở Biển Đông dường như vẫn còn gây tranh cãi vì kích thước quá nhỏ của chúng, các yêu cầu duy trì cao và do khả năng dễ bị tấn công của các đảo nên yêu cầu phòng thủ cũng nặng nề Thú vị là, các đảo này có vai trò chiến lược rất ít trong cả hai cuộc chiến tranh lớn nhất ở khu vực trong thế kỷ trước - chiến tranh thế giới thứ hai và chiến tranh Việt Nam Hơn nữa, người đi biển coi phần lớn khu vực trong đó là “vùng nguy hiểm”, khiến cho một số phần ở Biển Đông không thuận lợi cho tàu thuyền.Nhưng những hoài nghi về giá trị chiến lược của khu vực giờ đây dường như đã mờ hơn, vì hai lý do Thứ nhất là sự phát triển tương đối của các tuyến đường vận tải biển
đi qua khu vực, không chỉ đến các nước trong mà cả các nước ngoài khu vực
Thứ hai, vì những lý do riêng biệt của chính mình, hầu hết các quốc gia trong khu vực đều nhận thức được giá trị của Biển Đông như một chiến hào phòng vệ Ví dụ, Trung Quốc đang đầu tư xây dựng các công trình hải quân mới ở tỉnh Hải Nam Điều này sẽ cho phép các nguồn lực quân sự đóng ở phía Bắc phòng vệ về chiều sâu hơn, và được kỳ vọng là sẽ tạo ra một cơ sở tốt cho chiến lược “pháo đài” hỗ trợ các lực lượng hải quân chiến lược và các tàu ngầm bắn tên lửa đạn đạo chiến lược trong tương lai Có lẽ Mỹ cần phải tính toán kỹ về việc này và phải cho tất cả các bên hiểu sự nhạy cảm đó Việc Việt Nam mở các dịch vụ ở Vịnh Cam Ranh cho hải quân quốc tế sử dụng cũng sẽ làm tăng thêm điều này
Hầu hết các quốc gia khác trong khu vực cũng nhìn nhận Biển Đông như một chiến hào phòng vệ mở rộng để chống lại kẻ xâm lược ở trong và ngoài khu vực, do vậy đều có vậy lợi ích trong chiến lược chống tiếp cận và phong tỏa biển kiểu này hay kiểu khác Theo đó, các lực lượng hải quân nhỏ hơn có xu hướng đầu tư vào những cơ cấu lực lượng hải quân phù hợp cho cả việc bảo vệ các lợi ích quốc gia trong phần Biển Đông
“của mình” (khi được sử dụng để chống lại các đối thủ ngang cấp thì đây có thể coi là một kiểu mẫu cho việc kiểm soát biển) và để hạn chế các cường quốc mạnh hơn tự do hành động (một kiểu phong tỏa biển) Điều này giải thích khá rõ mối quan tâm của các nước trong khu vực trong việc mua tàu ngầm, là cực kỳ cần thiết dù có đắt vì là đối lực bất tương xứng mạnh để chống lại lực lượng hải quân trên mặt biển Mặc dù khó khăn
36 Declaration on Conduct of Parties in the South China Sea, Phnom Penh, 4/11/2002
Trang 27“Thời khắc biển” của Châu Á và vấn đề Biển Đông
về chi phí và kỹ thuật, nhưng các nước ASEAN vẫn đang đầu tư lớn vào SSK với hệ thống động cơ không dùng không khí tiên tiến (AIP) Singapore, Thái Lan và Indonesia cũng đã hoàn thành hoặc đang lên kế hoạch mua tàu ngầm.37 Tuy nhiên việc mua tàu ngầm cũng cần được nhìn như là một phần trong chương trình hiện đại hóa hải quân toàn diện hơn, bao gồm tàu khu trục, tàu hộ tống và tàu tuần tra ngoài khơi, những thứ thông thường hơn và ít nhắm đến một đối thủ cụ thể nào hơn Hải quân Trung Quốc cũng đang làm điều tương tự nhưng ở quy mô lớn hơn
Nhưng cũng có quan điểm rộng hơn và chung hơn của Trung Quốc về kiểm soát/phong tỏa biển trong khu vực này Trung Quốc thường cho rằng mình bị bao vây bởi các thế lực nước ngoài trong các vùng biển ở khu vực Theo đó, các nhà bình luận Trung Quốc thường xuyên công khai chỉ trích “sự hiện diện tiên phong” của các tàu chiến Mỹ,
và không còn chấp nhận luận điểm cho rằng nó có chức năng làm ổn định khu vực mà Trung Quốc cũng có lợi ích Trung Tướng Quân giải phóng Nhân dân Luo Yuan cho rằng : “cái gọi là sự hiện diện tiên phong có nghĩa là Mỹ có thể đưa tàu chiến tới bất cứ góc nào của thế giới… Bằng cách này, Mỹ thậm chí có thể tuyên bố rằng Hoàng Hải và Biển Đông cũng nằm trong đường biên an ninh của mình”,38 dẫn đến những phản ứng
gay gắt ngoài mong đợi từ phía Trung Quốc Ví dụ, một bài xã luận trên tờ Global Times, phiên bản Tiếng Anh của tờ Nhân dân Nhật báo chính thức, viết:
Không nghi ngờ gì cả, Trung Quốc cần phải xây dựng một năng lực chống hạm đáng tin cậy… Trung Quốc không chỉ cần một tên lửa đạn đạo chống tàu, mà còn cần
cả các biện pháp diệt tàu sân bay khác Vì các tàu sân bay của Mỹ chiến đấu theo nhóm ở Thái Bình Dương góp phần ngăn chặn các lợi ích chiến lược của Trung Quốc, Trung Quốc phải có khả năng đối trọng lại.39
Từ những điều này, cộng với việc hiểu được sự phản ứng của Trung Quốc trong lịch sử trước các mối đe dọa từ biển cũng như trước các hậu quả mà Trung Quốc phải gánh chịu nếu như không ngăn chặn được bằng lực lượng hải quân, chúng ta hoàn toàn có thể phán đoán được sự nhạy cảm của Trung Quốc đối với việc hiện diện và hoạt động trái phép trên vùng nước của Trung Quốc
Trong bối cảnh Trung Quốc đang lao vào chiến dịch phát triển khả năng có thể đặt Mỹ vào tình thế nguy hiểm nếu họ đi vào các vùng biển mà Trung Quốc phản đối Chiến lược chống can thiệp (hay chống tiếp cận/phong tỏa khu vực A2/AD) là chiến lược phong tỏa biển có hệ thống Chiến lược này sử dụng C4ISR để tìm kiếm và nhắm vào các tàu chiến địch trên mặt nước, đe dọa chúng bằng tên lửa đạn đạo chống tàu từ
cơ sở trên mặt đất, máy bay có căn cứ mặt đất, tàu ngầm và lực lượng chiến đấu mặt
37 Christian Le Miere, ‘Waves of Concern: Southeast Asian States Plan Naval Defences’, Jane’s Intelligence Review,
tháng 5/2011, tr 8-13 Tuy nhiên, các kế hoạch phát triển hải quân của Thái Lan theo hướng này đã bị đình trệ
‘Submarine plan torpedoed,’ Bangkok Post, 20/9/2011.
38 Luyo Yuan, ‘PLA General: US engaging in gunboat diplomacy’ People’s Daily, 12/8/2010 Trích trong Manicom,
tlđd.
39 Staff Writers AFP Beijing, 7/9/2010 ‘China Needs ‘carrier-killer missile: press’ citing Global Times 6/9/2010
Điều này khá bất ngờ vì Trung Quốc không phản đối sự hiện diện của tàu George Washington trong Hoàng Hải
năm 2009 Tuy nhiên, tờ Thời báo Hoàn cầu thường có xu hướng chủ nghĩa dân tộc hơn tờ Trung Quốc Nhật báo,
một tờ báo tiếng Anh có lượng phát hành rộng ở lục địa
Trang 28nước trung bình và nhỏ Dường như các hệ thống này được dẫn dắt tấn công bằng máy tính vừa phá hủy cơ sở của địch, vừa có thể tự bảo vệ và duy trì sức tấn công.
Không ngạc nhiên là, điều này đã gây ra một cuộc tranh cãi lớn ở Mỹ về việc chống lại chiến lược A2/AD thế nào là tốt nhất Mặc dù người phát ngôn của Mỹ đã cố gắng nhấn mạnh rằng suy tính của họ không nhằm cụ thể vào Trung Quốc hay đơn thuần
là ai đó ở Tây Thái Bình Dương, nhưng tuyên bố này cũng dấy lên nhiều hoài nghi ở Bắc Kinh Dù thế nào, dường như có hai ý tưởng về cách phản ứng đối với thách thức của chiến lược đó Ý thứ nhất, đã được thảo luận nhiều nhưng vẫn là một khái niệm khá mơ hồ là Thế trận Không-Biển, mà ở đó các lực lượng không quân và hải quân hợp nhất thành một hệ thống toàn diện, có khả năng thực hiện và đánh bại khả năng chống can thiệp
Ý tưởng thứ hai, được thúc đẩy bởi chi phí và bản chất leo thang của phản ứng này,
là khái niệm mới về “Kiểm soát Xa bờ” trong đó áp lực đối kháng được đặt vào sự phụ thuộc của những đối thủ khu vực đối với các tuyến thông tin đường biển.40 Như đã đề cập, trong bối cảnh Trung Quốc đang ngày càng phụ thuộc vào việc đảm bảo các tuyến thông tin đường biển, ý tưởng này có vẻ như ngày càng trở nên hấp dẫn Ví dụ như Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã ám chỉ đến thế tiến thoái lưỡng nan ở Malacca của Trung Quốc (“Malacca Dilemma”) trong đó sự thịnh vượng hay độc lập chiến lược của một đất nước dựa vào việc đảm bảo các tuyến giao thông biển - những tuyến đường mà hiện nay Trung Quốc ít hoặc không kiểm soát được Tổng tư lệnh Wu Shengli, viết bài cho tạp
chí của Đảng Cộng sản Qishi chỉ ra nhu cầu duy trì “an toàn giao thông trên biển và các
tuyến giao thông chiến lược cho năng lượng.”41 Vai trò quan trọng của nhiệm vụ này ngày càng nhận được nhiều quan tâm do hệ quả của các chiến dịch đầy quyết tâm của Trung Quốc xây dựng các hạm đội tàu chở dầu khí quốc gia để mang về nguồn cung năng lượng, góp phần giảm bớt một nguyên nhân gây ra sự dễ bị tổn thương về mặt thương mại và chiến lược của Trung Quốc.42
Hai cách đối phó này rất khác nhau ngoại trừ trong việc chúng đều chú trọng vào Biển Đông và Hoa Đông mặc dù ý tưởng thứ hai có thể ít hơn ý tưởng thứ nhất Hơn nữa, cả 3 ý tưởng (Các Hoạt động Chống Can thiệp, Thế trận Không-Biển và Kiểm soát
Xa bờ) không nên chỉ được nhìn nhận là các kế hoạch hành động quân sự thuần túy, dù có đúng như vậy đi chăng nữa thì các ý tưởng này là một phần của các chiến lược tổng thể và toàn diện để giành lấy đồng minh và tác động đến các nước ở khu vực Vì thế, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates phát biểu năm 2009 rằng:
Khi xem xét các chương trình hiện đại hoá quân sự của các nước như Trung Quốc, chúng ta nên ít quan tâm hơn đến các khả năng thách thức nước Mỹ một cách đối xứng
40 Về Thế trận Không-Biển xem Jan Van Tol et al, AirSea Battle: A Point-of-Departure Operational Concept
(Washing-ton: Center for Strategic and Budgetary Assessments, 2010), Bill Gertz, ‘Inside The Ring: Air Sea battle Fight’ Washington Times, 12/10/2011 and Richard Fisher, ‘Too Little Too late ?’ Defense Technology International tháng
4/2011 For ‘Offshore Control’ see J Noel Williams, ‘Air-Sea Battle: An Operational Concept looking for a egy,’ Armed Forces Journal tháng 9/2011.
strat-41 Trích trong Richard D Fisher Jr ‘Depth Perception: China links power to economic security’ Defense Technology International tháng 5/2009
42 Michael Richardson, ‘China’s reliance on Mid-East oil a strategic vulnerability’ The Straits Times, 14/2/2011.
Trang 29“Thời khắc biển” của Châu Á và vấn đề Biển Đông
như: máy bay - máy bay, tàu - tàu, mà thay vào đó, nên quan tâm nhiều hơn đến khả năng can thiệp vào quyền tự do đi lại và hạn chế các lựa chọn chiến lược của chúng
ta Đầu tư của Trung Quốc vào vũ khí chống tàu và tên lửa đạn đạo có thể đe doạ đến cách thức mà Mỹ sử dụng để thực thi quyền lực và trợ giúp các đồng minh ở Thái Bình Dương - đặc biệt là các căn cứ không quân và các biên đội tàu sân bay tấn công.43
Vì tất cả các lý do đó, khu vực Biển Đông, và cả vùng biển Hoa Đông, đang ngày càng trở nên có ý nghĩa chiến lược
Bất chấp các yêu sách về kiểm soát đặc quyền đối với Biển Đông, đây là một không gian chiến lược chung cho tất cả các nước trong khu vực cũng như nhiều nước khác ngoài khu vực, chứ không giống như Biển Bắc và Đông Đại Tây Dương trong thế kỷ 20 Theo đó, sẽ rất đáng ngạc nhiên nếu Biển Đông không phải là nơi có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh chuyển hướng quyền lực kinh tế sang Châu Á-Thái Bình Dương, sự nổi lên của “thời khắc biển” và sự phát triển của sức mạnh hải quân và cảnh sát biển ở khu vực Theo đó, các nước tuyên bố chủ quyển sẽ cần điều chỉnh chính sách
Vậy có thể làm được điều gì?
Xung đột trong và xung quanh Biển Đông và các nguy cơ về hiện đại hóa hải quân hiện nay ở khu vực không nên bị thổi phồng quá mức Hiện đại hóa hải quân chưa đến mức giống như chạy đua vũ trang cổ điển Mọi người có thể tranh luận rằng sự hiện đại hóa hải quân kiểu này là bằng chứng, thay vì là một nguyện vọng “thông thường” của các quốc gia biển trong việc tăng cường năng lực và xây dựng khả năng công nghiệp quốc phòng quốc gia Tuy nhiên, những phát triển này có thể vượt ra khỏi tầm kiểm soát, đặc biệt nếu nó dẫn đến các vụ va chạm vô ý nhưng ngày càng leo thang trên biển Từ đó có thể biến thành một cuộc chạy đua vũ trang hải quân phức tạp và tạo ra hậu quả khôn lường cho sự ổn định quốc tế Rõ ràng chúng ta đều hiểu rõ mối nguy này.Cùng theo cách đó, nhu cầu hạ nhiệt cũng được thừa nhận một cách rộng rãi Và trong bối cảnh này, việc thiết lập một “đường dây nóng” gần đây giữa Việt Nam và Trung Quốc, hay việc tổ chức tuần tra hải quan chung giữa Việt Nam - Trung Quốc, hay việc nối lại liên lạc quân sự - quân sự, như Hiệp định Tham vấn quân sự trên biển giữa Mỹ và Trung Quốc, các chuyến viếng thăm cấp cao giữa tất cả các bên đều là những diễn biến tích cực, đặc biệt nếu chúng dẫn đến sự thống nhất để tránh những vụ va chạm trên biển vượt ra khỏi tầm kiểm soát.44 Do vậy, rất nhiều người sẽ tán thành việc tìm kiếm một thỏa thuận INCSEA được ký giữa Mỹ và Xô Viết năm 1972.45 Trên thực
tế một số nước cũng đã làm như vậy như Indonesia và Malaysia năm 2001
Các biện pháp xây dựng lòng tin an ninh biển dạng này cũng ít nhiều cải thiện được môi trường và giúp cho việc quản lý (nếu chưa giải quyết được) vấn đề Biển Đông dễ dàng hơn Ví dụ như DOC, nhấn mạnh vào nhu cầu của các nước yêu sách phải giải
43 Trích trong ‘Race on for next generation of anti-ship missiles’ The Straits Times, 11/1/2011.
44 Hotline to ease Vietnam-China tensions, Jane’s Defence Weekly, 7 Sep 2011; ’Vietnam Holds navy Drill Amid
China Spat’Washington Post, 20/6/2011; ‘China, US Agree on navy Drills, Dispute over South China Sea’ Beijing Review, 12/7/2011.
45 David Winkler, ’The Evolution and significance of the 1972 Incidents at sea agreement’ Journal of Strategic Studies,
tháng 4/2005.
Trang 30quyết vấn đề bảo vệ môi trường biển, thực hiện hợp tác nghiên cứu khoa học biển, đảm bảo tự do hàng hải cho tất cả các tàu thuyền và duy trì tìm kiếm và cứu nạn Sự công nhận nhu cầu hợp tác để đối phó với các mối đe dọa chung đến trật tự tốt trên biển, như đánh bắt cá quá mức và cướp biển, cũng là mục đích thứ hai của việc cải thiện quan hệ tác chiến và chính trị giữa các nước có yêu sách và giữa họ với những nước bên ngoài có lợi ích.
Nhưng có lẽ trên tất cả, nên có sự gia tăng nhận thức rằng: vẫn có khả năng xảy ra rắc rối nghiêm trọng ở Biển Đông; rằng khu vực đang ngày càng có ý nghĩa quan trọng về kinh tế và chiến lược; rằng tình hình đang dần xấu đi và rằng thời gian nếu đang
không cạn dần thì ít nhất cũng rất hạn hẹp, nên cần phải khuyến khích đối thoại và thảo
luận và nhận thấy được sự khẩn cấp phải quản lý (nếu như chưa thể giải quyết được) các
thách thức khác nhau ngày càng tăng ở Biển Đông
Trang 31TẦM QUAN TRỌNG CHIẾN LƯỢC CỦA BIỂN ĐÔNG VÀ
CÁC TUYẾN GIAO THÔNG TRÊN BIỂN
Phó Đô đốc (nghỉ hưu) Hideaki Kaneda Giám đốc Viện Okazaki, Nhật Bản
Những yếu tố gây bất ổn trong an ninh khu vực hiện nay
Trong tình hình an ninh hiện tại, có một số những yếu tố bất ổn đáng chú ý đang
đe dọa an ninh khu vực Châu Á-Thái Bình Dương Những yếu tố này có thể được chia thành hai loại chính: yếu tố truyền thống và yếu tố phi truyền thống
Về những yếu tố truyền thống, trước hết, có một số cơ chế đối đầu được để lại
từ thời kỳ Chiến tranh Lạnh, ví dụ như tại Bán đảo Triều Tiên và Eo biển Đài Loan, vẫn đang trùm bóng đen của sự bất ổn, không chắc chắn, và không thể dự báo lên khu vực Yếu tố thứ hai là sự phát triển nhanh chóng của sức mạnh quân đội Trung Quốc mà chủ yếu là lực lượng hải quân và không quân, cũng như việc sử dụng không gian và mạng trong lĩnh vực quân sự, điều có thể phá vỡ thế cân bằng lực lượng quân sự trong khu vực Yếu tố thứ ba bao gồm các tranh chấp về lãnh thổ, tôn giáo và sắc tộc do những tranh cãi từ lịch sử Đặc biệt, tranh chấp đảo có thể phát triển thành xung đột vũ trang Yếu tố thứ tư là sự đối đầu về lợi ích biển - có liên quan mật thiết đến tranh chấp lãnh thổ đối với các hòn đảo Tất cả các yếu tố kể trên đều có thể có tác động nghiêm trọng đến an ninh và ổn định tổng thể của khu vực, bởi vì chúng có khả năng có thể gây trở ngại cho an toàn của các tuyến giao thông trên biển (SLOC)
Những yếu tố phi truyền thống, mặt khác, là những yếu tố mới chỉ xuất hiện rõ ràng kể từ sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh Yếu tố thứ năm là phổ biến các loại vũ khí huỷ diệt hàng loạt và tên lửa đạn đạo từ Đông Bắc Á đến Pakistan, Iran và những khu vực khác chủ yếu thông qua các tuyến giao thông trên biển trong khu vực Yếu tố thứ sáu là gia tăng sức mạnh của các hoạt động khủng bố như đánh bom, do có sự tăng
Trang 32cường quan hệ giữa các tổ chức khủng bố quốc tế với các nhóm có liên quan khác trong
và ngoài khu vực, chủ yếu nhắm vào các quốc gia quản lý yếu kém, các vùng biển đảo, hoặc các đảo hẻo lánh Tình trạng này đã trở nên đặc biệt rõ ràng kể từ sau vụ khủng
bố ngày 11/9 Yếu tố thứ bảy là xu hướng toàn cầu hoá và tái tổ chức các hoạt động tội phạm phi pháp xuyên đại dương, ví dụ như cướp biển, buôn bán ma tuý, và buôn lậu người trong khu vực Yếu tố thứ tám, nhìn từ góc độ dài hạn, là tham vọng của Trung Quốc muốn duy trì vị trí bá chủ trên biển Điều đó được thể hiện thông qua các nỗ lực của nước này trong việc xây dựng cái gọi là “chuỗi ngọc trai” - một chuỗi các cơ sở chiến lược (chính trị, kinh tế và quân sự), dọc theo các tuyến đường biển chính nối Trung Đông với Đông Bắc Á
Thông qua việc xem xét những yếu tố bất ổn này, chúng ta có thể tìm thấy một số từ khóa chung giữa chúng Trong đó, “An ninh Biển” và “Những Rủi ro từ Trung Quốc” là những từ khoá quan trọng nhất đối với sự ổn định tổng thể của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương
Tầm quan trọng của An ninh Biển
1 “An ninh Biển” đối với Mạng lưới hàng hải (Broad SLOC)
Không cần phải nói “An ninh Biển” rất quan trọng đối với kinh tế khu vực Nền kinh tế khu vực, bao gồm cả Nhật Bản, đã được phát triển và cũng phụ thuộc rất nhiều vào vận tải biển qua các tuyến giao thông trên biển an toàn Đặc biệt nguồn tài nguyên dầu mỏ mà vô cùng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của Nhật Bản và khu vực phụ thuộc rất lớn vào an toàn của các tuyến giao thông trên biển dài và rộng kết nối Ấn Độ Dương, eo biển Malacca-Singapore, Biển Đông và Biển Hoa Đông Do vậy, các tuyến giao thông trên biển này thực chất là huyết mạch của toàn bộ khu vực Trên thực tế, Eo biển Malacca-Singapore là “mạch sống của các quốc gia Đông Bắc Á” bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc và cả Nhật Bản, khiến eo biển này theo một cách nào đó trở thành
“gót chân Achilles” của nền kinh tế thế giới Hàng năm có khoảng 50.000 tàu, hơn một phần tư tổng số tàu vận chuyển hàng hoá trên toàn thế giới, và khoảng một nửa sản lượng thương mại của Nhật Bản, Trung Quốc, và Hàn Quốc lưu thông qua eo biển này Nếu chỉ tính riêng các tàu chở dầu, khoảng 50% lượng tàu chở dầu của toàn thế giới và 85% tàu chở dầu từ khu vực Trung Đông đến vùng Đông Bắc Á đi qua eo biển Malacca-Singapore
Việc đảm bảo “An ninh Biển” ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, tự thân nó rất quan trọng đối với nền kinh tế và an ninh khu vực Tuy nhiên, các tuyến giao thông trên biển không chỉ dừng lại trong phạm vi một khu vực Do thương mại trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Châu Đại Dương và Nam Thái Bình Dương liên tục phát triển trong những năm qua với sự tăng dần của nguồn cung năng lượng, tài nguyên và thực phẩm từ Úc sang các quốc gia Đông Bắc Á, ví dụ như như uranium, than đá, khí tự nhiên, quặng sắt, đất hiếm hay thịt, cũng như sự phát triển kinh tế vượt bậc của Ấn Độ dẫn đầu bởi ngành công nghệ thông tin, các khu vực đã ngày càng nhận
Trang 33Tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông và các tuyến giao thông trên biển
ra tầm quan trọng đặc biệt của “Mạng lưới giao thông hàng hải” (Broad SLOC), mà là huyết mạch của cả một khu vực thống nhất, mở rộng xa ra ngoài khu vực Châu Á-Thái Bình Dương tới các vùng nước lân cận thuộc Châu Đại Dương, Nam Thái Bình Dương
và khu vực Ấn Độ Dương
Trong các tuyến giao thông trên biển chính gần với Nhật Bản, những tuyến nằm trong khu vực Châu Đại Dương, Nam Thái Bình Dương, và Đông Thái Bình Dương đều tương đối ổn định, không tồn tại mối đe doạ đáng kể nào Tại những khu vực này,
Mỹ duy trì ảnh hưởng áp đảo bằng việc duy trì các cứ điểm quân sự tại Hawaii, Guam
và bờ Tây nước Mỹ Sự hiện diện của các đồng minh chính trên biển và theo chế độ dân chủ, như Úc và Canada cũng đảm bảo thêm cho sự ổn định của những tuyến giao thông trên biển này Nếu tồn tại bất kỳ sự đe dọa đáng kể nào đối với khu vực, đó là khả năng Trung Quốc sẽ tiến quân một cách hiếu chiến ra khỏi bờ Tây Thái Bình Dương, khi nước này đang tiếp tục trỗi dậy thành một cường quốc quân sự chính của toàn thế giới Vì thế, mọi động thái của nước này cần phải được liên tục chú ý Về vấn đề này, liên minh giữa các cường quốc biển và dân chủ chính ở Thái Bình Dương của Nhật Bản, Úc
và Canada cùng với Mỹ - cường quốc biển mạnh nhất và lớn nhất thế giới - ở trung tâm
sẽ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an ninh biển trên toàn bộ khu vực liên Thái Bình Dương
2 Liên hiệp An ninh Biển bảo vệ các tuyến hàng hải trọng yếu trong khu vực Châu Á mở rộng
Đặc biệt đối với Nhật Bản và Mỹ, liên minh (hay thậm chí là bán liên minh) với Úc
sẽ có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với khu vực an ninh của các tuyến giao thông biển trọng yếu mà còn với an ninh trên toàn khu vực Theo tình hình kinh tế và an ninh quốc tế gần đây, nước Úc là một trong những đối tác quan trọng nhất và không thể tách rời đối với cả Nhật Bản và Mỹ trong khu vực Châu Á mở rộng kéo dài từ phía Bắc đến phía Nam của Châu Á
Úc chia sẻ những giá trị cơ bản với Nhật Bản như tôn trọng tự do, nhân quyền và dân chủ, và là một đồng minh với Mỹ, giống như Nhật Mặc dù chú trọng các khu vực lân cận như Timor-Leste và Quần đảo Solomon, nước Úc đã tham gia một cách tích cực và sâu rộng vào việc giải quyết các vấn đề an ninh quốc tế, chẳng hạn như những vấn đề ở Afghanistan
Mặt khác, xét theo bối cảnh đã nêu ở trên, Ấn Độ cũng là một trong những quốc gia quan trọng nhất trong khu vực “Châu Á mở rộng” trải dài từ phía Đông sang phía Tây của Châu Á Hợp tác an ninh biển giữa Nhật Bản, Mỹ và Ấn Độ có lẽ không hề kém quan trọng so với Hợp tác giữa Nhật Bản, Mỹ và Úc vì an ninh của một phần của các tuyến giao thông hàng hải rộng lớn
Khu vực Ấn Độ Dương thường nhận được tương đối ít sự quan tâm của các quốc gia Châu Á-Thái Bình Dương về cả khía cạnh kinh tế lẫn an ninh Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, có sự thừa nhận ngày càng tăng về tầm quan trọng của khu vực Bắc Ấn
Độ Dương do có mối quan hệ với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương trên cả hai phương diện kinh tế và an ninh
Trang 34Đất nước có sức mạnh ảnh hưởng lớn nhất ở khu vực Bắc Ấn Độ Dương là Ấn Độ
Ấn Độ là quốc gia dân chủ lớn nhất trên thế giới được điều hành bởi chính quyền được lựa chọn thông qua bầu cử đa đảng tự do Thêm vào đó, Ấn Độ chia sẻ nhiều giá trị và
hệ thống cơ bản chung với Nhật Bản và các quốc gia sáng suốt và phát triển khác như
tự do, dân chủ và kinh tế thị trường
Thúc đẩy tự do hoá và cải cách nền kinh tế từ những năm 1990, Ấn Độ đã duy trì một tốc độ phát triển kinh tế cao thông qua việc đẩy mạnh công nghệ kỹ thuật và lĩnh vực công nghệ thông tin Được hỗ trợ bởi tăng trưởng kinh tế vượt bậc của mình, Ấn
Độ đang thực hiện các hoạt động ngoại giao một cách tích cực và đa dạng, đảm bảo nâng cao sự hiện diện của mình trên trường quốc tế
Tuy nhiên, tuyến đường bộ nối liền khu vực Bắc Ấn Độ Dương với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương lại chưa được phát triển đầy đủ Chính điều đó đã làm tăng sự lệ thuộc vào các tuyến giao thông biển qua khu vực Hơn thế nữa, đối với cả hai khu vực Bắc Ấn Độ Dương và Châu Á-Thái Bình Dương, việc “sử dụng nguồn tài nguyên biển” hay những hoạt động liên quan đến tài nguyên biển như nghề cá, và tài nguyên đáy đại dương là chìa khóa cho sự phát triển trong tương lai Chính vì những lý do này, bất kỳ
sự xáo trộn hoặc phá vỡ nào đối với các tuyến giao thông trên biển này cũng có nhiều khả năng gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế và an ninh của các khu vực này
3 Rủi ro từ Trung Quốc
(i) Bước tiến trở thành bá chủ trên biển của Trung Quốc
Trung Quốc đang tiến hành nhanh chóng hiện đại hoá và tăng cường vũ khí hạt nhân, tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình, sức mạnh hải-không quân, và các năng lực chiến tranh không gian và chiến tranh mạng Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã có những hành vi bá quyền trong khu vực Biển Hoa Đông, Biển Đông và Tây Thái Bình Dương Những bước tiến quyết đoán đến các vùng biển gần và các đại dương của Trung Quốc đã được hỗ trợ bởi sức mạnh quân sự phát triển nhanh chóng, gây ra va chạm với những quốc gia có liên quan ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á, và thỉnh thoảng khiến tình hình trở nên nóng hơn, lên sự cảnh giác của cộng đồng thế giới và khu vực
Về mặt lịch sử, những hành động tiến quân hiếu chiến trên biển của Hải quân Trung Quốc đã bắt đầu tại Biển Đông từ những năm 1970, và sau đó là tiến lên Biển Hoa Đông vào những năm 1980 Thậm chí vào lúc đó, họ đã dần mở rộng phạm vi và hoạt động của mình từ các vùng nước ven biển ra các vùng biển gần và cuối cùng là các vùng đại dương xa hơn như Tây Thái Bình Dương
Hải quân Trung Quốc đã xây dựng “Chiến lược Biển Gần” từ những năm 1980 để đảm bảo quốc phòng và các quyền lợi biển Theo chiến lược đó, tuyến phòng thủ trên chuỗi đảo thứ nhất của Trung Quốc kéo dài từ Quần đảo Nhật Bản, nhóm đảo Nansei, Đài Loan, Philippines, đảo Borneo qua Việt Nam được dựng nên để trở thành “tuyến phòng thủ vững chắc trên biển”, bao gồm cả Biển Hoa Đông và Biển Đông
Trang 35Tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông và các tuyến giao thông trên biển
Hơn thế nữa, nhờ được hỗ trợ bởi sức mạnh hải quân đang tăng lên, Trung Quốc đang mở rộng khu vực phòng thủ về phía Đông, thiết lập Tuyến Phòng thủ trên chuỗi đảo thứ hai nối liền nhóm đảo Izu, Quần đảo Ogasawara (Bonin), Nhóm đảo Mariana
và New Guinea, tạo ra biên cương phía Đông của “vùng đệm chiến lược” giữa tuyến phòng thủ trên chuỗi đảo thứ nhất của nước này
Bước tiến hải quân của Trung Quốc đã không chỉ dừng lại ở các vùng biển gần như Biển Đông và Biển Hoa Đông hay Tây Thái Bình Dương mà tiếp tục mở rộng tới các vùng biển xa hơn như Biển Nhật Bản, Ấn Độ Dương, Châu Đại Dương hay Bắc và Nam Thái Bình Dương, nơi mà có những tuyến giao thông hàng hải quan trọng đi qua
(ii) Lịch sử các cuộc xâm lược của Trung Quốc tại Biển Đông
Kể từ khi Đặng Tiểu Bình phát biểu tại Hội nghị Liên Hợp Quốc vào năm 1974 nhấn mạnh về “Chủ nghĩa Dân tộc Tài nguyên” của họ, Trung Quốc bắt đầu xâm lược các vùng nước lân cận, mở đầu bằng việc tiến quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của miền Nam Việt Nam (hiện tại, Trung Quốc, Việt Nam và Đài Loan đang yêu sách chủ quyền đối với quần đảo này) Năm 1988, Trung Quốc đã bắt đầu có được sự kiểm soát thực tế đối với các rặng san hô ở Quần đảo Trường Sa (nơi mà hiện tại Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei đang yêu sách chủ quyền) Trong những năm 1990, Trung Quốc đã bắt đầu tiến về biển Philippines, xây dựng cơ sở trên
Đá Vành Khăn (Mischief Reef), nơi mà Philippines đang tuyên bố chủ quyền Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh và giai đoạn ngay sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Mỹ và Liên Xô (sau này là Nga) đã duy trì các chính sách không can thiệp đối với những cuộc tiến quân của Trung Quốc trên các vùng biển
Những thay đổi trong chính sách và môi trường chính trị của Trung Quốc đã trở nên
rõ ràng hơn vào những năm cuối của thập kỷ 1990 Năm 1997, cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Philippines xảy ra trên Bãi cạn Scarborough (Trung Quốc: Hoàng Nham) của Bãi Macclesfield (Trung Quốc: Trung Sa) Mùa thu năm 1998, Trung Quốc cho xây dựng một cơ sở kiên cố trên khu vực đang tranh chấp là Đá Vành Khăn Để chống lại những hành vi xâm lược đó, Philippines và Mỹ đã tìm thấy những lợi ích chung do Philippines đã cố gắng đối đầu với Trung Quốc với sự hỗ trợ của đồng minh là Mỹ, còn
Mỹ nhận thức rõ hơn nhu cầu răn đe đối với các hành động vũ trang đầy tham vọng của Trung Quốc kể từ khi Trung Quốc phóng tên lửa đạn đạo qua Eo biển Đài Loan năm 1995 và 1996 Cả Philippines và Mỹ đều nối lại các hợp tác quân sự của họ vào năm 1998 thông qua việc ký kết “Hiệp định viếng thăm quân sự về việc viếng thăm của Quân đội Mỹ” Khi hai nước này tiến hành lại các cuộc tập luyện quân sự chung mà đã
bị dừng trước đó, Trung Quốc đã tạm dừng các hành động xâm lược đến các vùng biển bao quanh Philippines Thay vào đó, nước này chuyển hướng các tham vọng của mình sang vùng Biển Hoa Đông, bắt đầu các cuộc đụng độ thường xuyên với Nhật Bản chủ yếu là vì do các hoạt động khai thác dầu mỏ của Trung Quốc và các hoạt động bất hợp pháp của hải quân Trung Quốc tại Biển Hoa Đông
Các nước ASEAN đối đầu với Trung Quốc trong tranh chấp lãnh thổ đối với các đảo trong khu vực Biển Đông đã tổ chức một số cuộc họp với nhau cũng như các cuộc
Trang 36tham vấn trực tiếp với các nhà chức trách Trung Quốc, và trong năm 2002 đã xây dựng nên một “Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên trên Biển Đông” (DOC) với chữ ký của Trung Quốc Theo dự kiến, Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên trên Biển Đông này
sẽ dẫn đến một “Bộ Quy tắc Ứng xử” có tính ràng buộc pháp lý nếu mọi chuyện diễn
ra suôn sẻ
Đằng sau những hoạt động mang tính chính thức trên, cả Mỹ và Trung Quốc đều tiếp tục triển khai các chiến thuật quân sự trên Biển Đông Năm 2001 ghi nhận sự kiện một máy bay trinh sát điện tử EP-3 của Hải quân Mỹ có va chạm nhẹ với một máy bay chiến đấu F-8 của Hải quân Trung Quốc trong khi máy bay Mỹ đang bay tuần tra ở khu vực Biển Đông, và đã phải hạ cánh khẩn cấp xuống căn cứ hải quân ở Đảo Hải Nam của Trung Quốc Trong năm 2009, tàu nạp thanh do thám Impeccable của Hải quân
Mỹ, được cho là đang làm nhiệm vụ thu thập thông tin về các tàu ngầm nguyên tử của Trung Quốc, đã bị buộc phải thay đổi lịch trình do bị năm tàu Hải quân Trung Quốc vây quanh
Trong thực tế, Biển Đông không những là một vùng biển chứng kiến nhiều sự đối đầu giữa Trung Quốc và các quốc gia lân cận về lãnh thổ và lợi ích biển, mà còn là vũ đài chính của cuộc “Chiến tranh lạnh nhạt Mỹ - Trung” (US-China Cool War) Không giống như một cuộc Chiến tranh Lạnh, cuộc chiến lạnh nhạt giữa Mỹ và Trung Quốc liên quan đến việc chứng minh sự hiện diện của mình và thu thập các thông tin quân
sự Giống như trong trường hợp với Đài Loan và Tây Tạng, Trung Quốc coi Biển Đông
là “khu vực lợi ích cốt lõi” (theo bài phát biểu của Ủy viên Quốc vụ viện Đới Bỉnh Quốc tại “Đối thoại Kinh tế và Chiến lược Mỹ - Trung” trong tháng 3/2010) và đã triển khai tàu ngầm nguyên tử và nhiều tàu nổi lớn đến căn cứ Tam Á thuộc đảo Hải Nam để biến Biển Đông trở thành một “Thánh địa” Mặt khác, Mỹ lại xem “lợi ích quốc gia” của mình
là việc đảm bảo “tự do hàng hải” trên Biển Đông, đặc biệt là sự tự do tiến hành các hoạt động thu thập thông tin quân sự bằng tàu hải quân và tự do hiện diện ở đây (theo bài phát biểu của Ngoại trưởng Hillary Clinton tại Hội nghị Bộ trưởng Diễn đàn khu vực ASEAN được tổ chức trong tháng 7/2010) Do vậy, Biển Đông dường như đã trở thành một sân khấu khuất cho các cuộc đối đầu quân sự giữa hai bên hết lần này đến lần khác
Kể từ bài phát biểu của Ngoại trưởng Clinton, Trung Quốc đã tránh các cuộc đối thoại đa phương về các vấn đề Biển Đông mà có sự tham gia của Mỹ, và nỗ lực trong việc tìm kiếm các giải pháp ngoại giao thông qua đàm phán song phương Trong năm
2010 và 2011, Trung Quốc lại thường xuyên gây ra các sự kiện liên quan đến việc tranh chấp lãnh thổ với Philippines và Việt Nam, trong đó Trung Quốc có những hành động mạnh mẽ Để chống lại những hành động trên của Trung Quốc, các bên liên quan là Philippines và Việt Nam đã bắt đầu thắt chặt thêm mối quan hệ với Mỹ Trong cuộc Hội đàm của các Ngoại trưởng được tổ chức tại thủ đô Washington DC trong tháng 6/2011,
cả hai chính phủ Mỹ và Philippines đã đồng ý mở rộng phạm vi áp dụng của Hiệp ước Phòng thủ chung Mỹ - Philippines ký năm 1951 tới mọi “trường hợp khẩn cấp trên Biển Đông”, và Mỹ tiếp tục hỗ trợ việc phát triển trang thiết bị và hiện đại hoá Quân đội Philippines Hải quân hai nước đã tiến hành tập trận chung quanh khu vực phía Tây Nam của Philippines, và Mỹ đã trang bị một tàu mới nhất thuộc lực lượng Bảo vệ
Trang 37Tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông và các tuyến giao thông trên biển
bờ biển Mỹ cho Hải quân Philippines Chính phủ của Việt Nam và Mỹ đã có một thoả thuận nhằm thắt chặt quan hệ hợp tác giữa hai bên vào tháng 7/2011, hải quân hai nước
đã tiến hành tập trận chung tại Đà Nẵng ở miền Trung Việt Nam
Sau phản ứng của Philippines và Việt Nam, chính phủ Trung Quốc đã tăng cường các nỗ lực để tìm kiếm một giải pháp cho các vấn đề này thông qua đàm phán ngoại giao song phương Nói cách khác, Trung Quốc sử dụng cả hai cách tiếp cận cứng và mềm, tạo nên các áp lực ngoại giao đối với các quốc gia yếu hơn về chính trị, quân sự và kinh tế để giải quyết vấn đề theo cách có lợi cho nước này Khi Trung Quốc tiến hành các bước “chia để trị”, các nước ASEAN đã thay đổi chiến thuật của mình, kết hợp với nhau thông qua các đàm phán đa phương Kể từ sau bài phát biểu của Ngoại trưởng Clinton tại Diễn đàn Khu vực ASEAN hồi năm 2010, các nước ASEAN đã chia sẻ cơ hội
để từng bước phát triển quan hệ phối hợp giữa các bên, ví dụ như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) và những đàm phán đa phương khác
Tại hàng loạt các hội nghị thượng đỉnh với các nước ASEAN về các vấn đề Biển Đông, Mỹ luôn kiên quyết duy trì quan điểm về việc theo đuổi tự do ở Biển Đông, Nhật Bản đã hợp tác với Mỹ thông qua việc nhấn mạnh sự cần thiết phải có các cuộc đàm phám đa phương về an ninh biển, và các nước ASEAN đã tham gia vào mối liên kết này trong cuộc đối đầu với Trung Quốc, và vì thế đã cô lập Trung Quốc tại các diễn đàn này Trung Quốc, bất chấp mọi cuộc đàm phán đa phương về những vấn đề này, ra sức nỗ lực chia rẽ các quốc gia ASEAN để lấy lại vị trí của nước này trong các diễn đàn Tại Hội nghị ASEAN năm 2012, Trung Quốc đã ngăn cản thành công việc thông qua “Bộ Quy tắc Ứng xử” (COC) trên Biển Đông, với sự giúp đỡ của quốc gia đang giữ chức chủ tịch ASEAN là Campuchia, nước được cho là đang nghiêng về Trung Quốc Cuộc “Chiến tranh lạnh nhạt” giữa Mỹ và Trung Quốc có nhiều khả năng sẽ tiếp diễn và sẽ liên quan
cả đến các quốc gia ASEAN và Nhật Bản
(iii) Chiến thuật Đảo chiều (“Flip-Flop”, tương tự như Giương Đông kích Tây - ND) của Trung Quốc đối với các vấn đề lãnh thổ ở Biển Đông và Biển Hoa Đông
Xem xét cách thức tiến ra biển bằng vũ lực của Trung Quốc trong quá khứ, họ thường cố gắng chuyển sự chú ý của cộng đồng quốc tế về phía Biển Hoa Đông bằng cách tạo ra các sự cố ở đây, khi mà các hành vi mạnh mẽ nhằm tìm kiếm một vị trí bá chủ ở vùng Biển Đông đã thu hút quá nhiều sự chú ý Trong khi lôi kéo mọi sự chú ý
về Biển Hoa Đông, Trung Quốc cũng tìm cách hoàn tất việc chiếm đóng và xây dựng
cơ sở hạ tầng phi pháp trên các đảo bị tranh chấp Hiện tại, các hành vi bá quyền của Trung Quốc đối với các vùng biển ở Biển Đông đang tạm thời giảm xuống, song lại đang dần hiển hiện tại Biển Hoa Đông Đúng như dự đoán, kể từ mùa xuân năm 2012, Trung Quốc đã có những phản ứng hết sức mạnh mẽ với Nhật Bản về vấn đề Quần đảo Senkaku (Trung Quốc: Điếu Ngư) Nếu sự đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông đang trở thành một cuộc “Chiến tranh lạnh nhạt”, thì đối đầu giữa Nhật Bản và Trung Quốc ở Biển Hoa Đông đang gần như trở thành cái được gọi là “Chiến tranh Lạnh”.Nhìn lại các hành vi tiến ra biển mang tính chất bá quyền của Trung Quốc tại Biển Đông, các bước tiến của họ bắt đầu với những hoạt động bất hợp pháp của ngư dân
Trang 38Trung Quốc trong vùng nước đang bị tranh chấp, có lẽ với sự đồng ý ngầm của chính phủ Trung Quốc Một khi những hành động này gây ra đụng độ với các nước có lực lượng hải quân yếu hơn, các tàu chính thức thuộc các đơn vị hải giám của Trung Quốc như Cục Hải dương Quốc gia, và Cục Ngư nghiệp, hoặc kể cả tàu hải quân trong một
số trường hợp, đã thực hiện các hành vi đe doạ bằng cách đến các vùng nước đó trên danh nghĩa bảo vệ ngư dân Nếu có bất kỳ khoảng trống quyền lực nào giữa các siêu cường, hoặc bất kỳ khủng hoảng hay bế tắc chính trị nào xảy ra ở các nước khác, Trung Quốc sẽ chiếm đóng một vài hòn đảo hoặc các rặng san hô Nếu sự phản ứng đối với các hành vi đó là yếu hơn, Trung Quốc sẽ tiếp tục leo thang, đầu tiên bằng cách xây dựng các cơ sở quân sự như đài quan sát, sân bay, hay bến cảng v.v… cũng trên danh nghĩa bảo vệ ngư dân Bước thứ hai, họ sẽ bố trí quân đội, triển khai các lực lượng quân sự và đẩy mạnh các hành vi đe dọa Nhằm ngăn chặn các hành động tương tự sẽ xuất hiện ở Biển Hoa Đông, bao gồm cả Quần đảo Senkaku, Nhật Bản đang có những hành động đáp trả mạnh mẽ đối với các hành vi cưỡng bức của Trung Quốc đối với vấn đề Quần đảo Senkaku
Giống như trong trường hợp Biển Hoa Đông, Biển Đông có vị trí địa lý nằm trong khu vực giao nhau quan trọng của một “Châu Á mở rộng theo trục Bắc - Nam” và một
“Châu Á mở rộng theo trục Đông - Tây” Trong khía cạnh về an ninh biển, đây là một
vị trí vô cùng quan trọng trong cả phương diện địa chính trị và chiến lược, nằm trong
“Mạng lưới hàng hải “hay “các tuyến hàng hải nối liền nhau kết nối Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương và Châu Đại Dương Có vẻ như Trung Quốc đang cố gắng liên kết các vấn
đề tại Biển Đông và Biển Hoa Đông để quan sát xem những vấn đề này sẽ thu hút sự quan tâm của các quốc gia liên quan và cộng đồng quốc tế đến mức nào, và từ đó chia
rẽ nhóm các quốc gia liên quan theo hướng có lợi cho Trung Quốc Để phá vỡ tham vọng bá chủ của Trung Quốc trên Biển Đông và Biển Hoa Đông, và để khôi phục lại các vùng biển thực sự tự do được đảm bảo bằng luật lệ quốc tế đã được thiết lập, tất cả các quốc gia biển có chung suy nghĩ và hiểu biết lý lẽ trong khu vực bắt buộc phải cùng nhau tập hợp lực lượng
4 Quan hệ tiểu đa phương với Úc và Ấn Độ với trung tâm là Liên minh Nhật - Mỹ:
Liên minh Mỹ - Nhật về căn bản là một liên minh biển trong quá khứ, hiện tại và tương lai gần Tuy nhiên, xét tình hình an ninh hiện tại, việc đảm bảo an ninh cho toàn
bộ “Mạng lưới hàng hải” rõ ràng là một điều không thể nếu chỉ có một mình Mỹ hay Liên minh Nhật - Mỹ thực hiện Điều đó cho thấy cả Nhật và Mỹ đều phải phối hợp với các quốc gia biển đáng tin cậy khác để hình thành nên một khuôn khổ mới cho việc đảm bảo an ninh cho các tuyến giao thông trên biển Hướng tới mục tiêu này, Úc hay
Ấn Độ đều được mong đợi sẽ đóng những vai trò quan trọng hơn và các Hợp tác An ninh Đa phương hẹp Nhật - Mỹ - Úc hay Nhật - Mỹ - Ấn Độ cũng được mong đợi sẽ trở nên mạnh mẽ hơn
Do Trung Quốc có các bước tiến hiếu chiến trên biển như đã được nêu ở trên, các chủ thể khác trong khu vực như Hàn Quốc, Đài Loan, Nga và các thành viên của
Trang 39Tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông và các tuyến giao thông trên biển
ASEAN có thể cần phải hợp tác đa phương quy mô hẹp hoặc rộng trong các vấn đề về
an ninh biển tại khu vực Trong khi mối quan hệ an ninh quan trọng nhất sẽ là mối quan
hệ đa phương hẹp Nhật - Mỹ - Úc trong khu vực Châu Á mở rộng theo trục Bắc - Nam
và quan hệ đa phương hẹp Nhật - Mỹ - Ấn Độ trong khu vực Châu Á mở rộng theo trục Đông - Tây; chúng sẽ tạo nền tảng cho các quốc gia cùng hợp tác và chia sẻ gánh nặng, như là động lực của một khuôn khổ vững chắc cho an ninh hàng hải khu vực
(i) Liên minh biển Nhật - Mỹ
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Mỹ đã đóng một vai trò vô cùng trọng yếu như một “hòn đá tảng” của nền an ninh khu vực và trên toàn thế giới
Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, và đặc biệt là sau vụ khủng bố ngày 11/9, Mỹ đang kiệt sức khi phải ứng phó với nhiều mối hiểm nguy mới như các cuộc xung đột quốc gia xoay quanh các vấn đề về tôn giáo và sắc tộc, các hoạt động không ngừng nghỉ của các nhóm khủng bố quốc tế, và sự kết nối của các nhóm Hồi giáo cực đoan cũng như sự mở rộng ảnh hưởng của họ Đặc biệt quan trọng là các đối phó với vấn đề ở Iraq
và Afghanistan, nơi mà rất nhiều lực lượng quân sự đã được gửi đi nhưng không mang lại chuyển biến rõ ràng, và vấn đề tại Iran và Triều Tiên, nơi gần như công khai theo đuổi phát triển vũ khí hạt nhân Một vấn đề quan trọng khác đối với Mỹ là làm thế nào
để tạo nên một quan hệ mang tính xây dựng với Trung Quốc, khi mà hai nước này có nhiều khả năng sẽ trở thành đối thủ mạnh mẽ của nhau trong tương lai
Để giải quyết những vấn đề phức tạp và nghiêm trọng này, Mỹ không thể tiếp tục trông cậy một cách đơn giản vào “thanh thế của một quốc gia siêu cường” được nữa Hơn bao giờ hết, Mỹ cần xây dựng một liên minh đa phương quy mô hẹp hoặc một liên minh
đa phương để đạt được những kết quả nhất định Do vậy, Mỹ đang cố gắng giải quyết những vấn đề này dựa vào Liên Hợp Quốc, hay các khuôn khổ khu vực như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Thượng định Đông Á (EAS) hay Đàm phán Sáu Bên Tuy nhiên, trong thực tế, giải quyết những vấn đề này là một việc không hề đơn giản và các nước cần phải dự trù các lựa chọn mang tính thuần quân sự hoặc bán quân sự Do vậy,
Mỹ đang cố gắng để phát triển các liên minh đa phương trong nhiều lĩnh vực bao gồm cả các biện pháp thuần quân sự và bán quân sự ngay cả trong thời bình để ứng phó lại các hoạt động phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt như vũ khí hạt nhân hay tên lửa đạn đạo.Cùng lúc đó, Mỹ đã liên tục thúc đẩy cải cách quân đội nhằm cho phép nước này
có thể thực hiện tốt các biện pháp trên Đặc biệt, với mục đích nhằm tăng cường năng lực phản ứng và cơ động trên phạm vi toàn cầu, Mỹ rất mong muốn không những thắt chặt hơn nữa quan hệ với các liên minh hiện tại, mà còn xây dựng các liên minh quốc gia-với-quốc gia dưới hình thức liên minh khu vực trong các đối tác thân thiện, hay các lực lượng đa phương hẹp hoặc đa phương trong khu vực
Đặt trong bối cảnh như vậy, quân đội Mỹ đã coi Nhật Bản là cốt lõi trong chiến lược quân sự mới của nước này tại Châu Á với tầm nhìn khu vực và toàn cầu, và đã lên kế hoạch nhằm tăng cường vị thế của Quân đội Mỹ tại Nhật Bản trở thành “lực lượng khu vực vượt khỏi phạm vi Viễn Đông”, với các căn cứ có thể xem là “căn cứ quân sự cốt lõi” Không cần phải nói, Nhật Bản là một quốc gia có chủ quyền, vì thế sẽ là quyết định của
Trang 40chính Nhật Bản xem liệu việc bố trí căn cứ và quân đội của Mỹ tại Nhật Bản có phù hợp hay không với tình hình và lợi ích quốc gia của mình, mặc dù liên minh Nhật - Mỹ vẫn được duy trì Tuy nhiên, có một sự thừa nhận ngày càng tăng ở cả Nhật Bản và Mỹ rằng Liên minh Nhật - Mỹ phải tiếp tục được phát triển một cách sâu rộng hơn và chuyển hoá để nâng cao tính tương hỗ, để phù hợp hơn với một môi trường quốc tế mới
Là kết quả của các cuộc đàm phán song phương các cấp để khẳng định liên minh Nhật - Mỹ, và phục hồi từ bế tắc trong vụ di dời căn cứ không quân Futenma, trong tháng 06/2011, Ủy ban Tham vấn An ninh Nhật - Mỹ (“2+2”), được tổ chức từ năm
2007, đã họp tại thủ đô Washington Tại hội nghị, hai bên đã khẳng định những thành quả của quá trình thảo luận về các lĩnh vực hợp tác an ninh và quốc phòng Bản Tuyên
bố Chung tại hội nghị “2+2” đã xem xét lại và sửa đổi các mục tiêu chiến lược chung được quy định trong các Bản Tuyên bố chung tại Hội nghị năm 2005 và 2007, và đã thể hiện sự quyết tâm của cả hai nước trong việc phát triển sâu rộng hơn các hợp tác an ninh và quốc phòng
Về phương diện này, Nhật Bản và Mỹ cần phải tăng cường các hoạt động phối hợp của liên minh Nhật - Mỹ từ cả góc độ khu vực và toàn cầu Nhật Bản đã triển khai một loạt các hoạt động cùng với Quân đội Mỹ trong các chiến dịch hợp tác quốc tế theo Luật các Biện pháp Đặc biệt về Viện trợ Nhân đạo và Tái thiết Iraq, và Luật các Biện pháp Đặc biệt mới về chống Khủng bố, và trong khuôn khổ các hoạt động của Sáng kiến An ninh Chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt(PSI) Hơn nữa, Nhật Bản đã phát triển một khuôn khổ hợp tác với Quân đội Mỹ theo Luật về các Biện pháp Đảm bảo Hòa Bình và An ninh của Nhật Bản trong các tình huống ở các khu vực bao quanh Nhật Bản Gần đây, hoạt động hợp tác của quân đội Nhật-Mỹ đã được mở rộng sang lĩnh vực biển như chống cướp biển tại Tây Ấn Độ Dương cũng như cứu hộ y tế ở khu vực Biển Đông theo Sáng kiến Đối tác Thái Bình Dương Những hoạt động kiểu này có nhiều khả năng sẽ tăng tầm quan trọng trong tương lai
Gần đây, chính phủ hai nước đã xác định những lĩnh vực hợp tác cụ thể cho đến cuối năm 2012 liên quan đến việc phát triển của các khu vực tập luyện tại Guam và Thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana Thêm vào đó, sự di chuyển của các đơn
vị Hải quân Lục chiến Mỹ hiện đang đóng tại Okinawa đến Đảo Guam trong tương lai gần được mong đợi sẽ cung cấp địa điểm cho các căn cứ đào tạo và triển khai, giúp tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác quốc phòng với các quốc gia trong khu vực, chẳng hạn như Úc, trên cơ sở dẫn dắt bởi Liên Minh Nhật - Mỹ
Mặt khác, cuộc chiến chống lại khủng bố quốc tế đòi hỏi các biện pháp toàn diện hơn trong dài hạn Do các nhóm khủng bố quốc tế có nhiều khả năng sẽ phát triển các chiến thuật phức tạp và tinh vi hơn, đó sẽ là một cơ hội lớn để hợp tác quốc tế trong các hoạt động chống tấn công khủng bố Những phân tích về hoạt động khủng bố cho thấy có nhiều hợp tác và kết nối hơn giữa các tổ chức khủng bố quốc tế và các tổ chức khủng bố khu vực trong khu vực Đông Nam Á Điều này có nghĩa là sẽ có nhu cầu lớn hơn trong việc phát triển hợp tác an ninh biển ở khu vực với mục đích bảo vệ các tuyến hàng hải trọng yếu để đối phó các cuộc tấn công khủng bố và các hoạt động phi pháp khác ở Eo biển Malacca-Singapore và khu vực biển đảo Đông Nam Á