Nghiên cứu của Dương Thị Bình Minh tại các khoa lâm sàng bệnh viện Hữu Nghị, năm 2012 cho thấy một số mặt ĐD thực hiện chưa tốt: kết quả thực hiện công tác tư vấn, hướng dẫn GDSK chỉ đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI MỘT SỐ KHOA LÂM SÀNG, BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM TIỀN GIANG,
NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720702
Hà Nội - 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI MỘT SỐ KHOA LÂM SÀNG, BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM TIỀN GIANG, NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720702
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THANH HƯƠNG
Hà Nội - 2020
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về điều dưỡng và chăm sóc người bệnh 4
1.2 Vai trò, chức năng của người điều dưỡng và một số văn bản liên quan đến chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên trong bệnh viện 5
1.3 Thực trạng chăm sóc người bệnh của điều dưỡng 8
1.4 Một số yếu tố liên quan đến chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại bệnh viện 11
1.5 Khung lý thuyết 16
1.6 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 17
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
2.3 Thiết kế nghiên cứu 20
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 20
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.6 Phương pháp phân tích số liệu 25
2.7 Biến số và chủ đề nghiên cứu 26
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 27
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 30
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh của điều dưỡng lâm sàng qua khảo sát ý kiến người bệnh 31
3.2 Kết quả quan sát thực hành chăm sóc người bệnh của điều dưỡng 50
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chăm sóc người bệnh của điều dưỡng lâm sàng 52
Trang 4Chương 4 BÀN LUẬN 58
4.1 Công tác chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, năm 2019 58
4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại 5 khoa lâm sàng, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang 67
4.3 Hạn chế của nghiên cứu 70
KẾT LUẬN 72
KHUYẾN NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Phụ lục 1: Biến số nghiên cứu 79
Phụ lục 2: Phiếu khảo sát ý kiến người bệnh về chăm sóc của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2019 81
Phụ lục 3: Hướng dẫn phỏng vấn sâu về chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2019 (Dành cho Lãnh đạo bệnh viện) 88
Phụ lục 4: Hướng dẫn phỏng vấn sâu về chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2019 (Dành cho Điều dưỡng trưởng bệnh viện, Trưởng/Phó khoa) 90
Phụ lục 5: Hướng dẫn thảo luận nhóm về chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2019 (Dành cho nhóm Điều dưỡng trưởng khoa) 92
Phụ lục 6: Hướng dẫn thảo luận nhóm về chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2019 (Dành cho nhóm Điều dưỡng viên) 94
Phụ lục 7: Bảng quan sát công việc hàng ngày của điều dưỡng 96
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tiêu chuẩn chức danh và nhiệm vụ nghề nghiệp điều dưỡng………6 Bảng 1.2: Số lượng điều dưỡng viên tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2019……… 18 Bảng 2.1: Số lượng người bệnh tại từng khoa chọn vào nghiên cứu 21Bảng 2.2: Số lượng điều dưỡng viên tại các khoa lâm sàng tham gia nghiên cứu 22Bảng 3.1: Thông tin chung của người bệnh tham gia nghiên cứu (n=150) 31Bảng 3.2: Công tác tiếp đón người bệnh của điều dưỡng qua khảo sát người bệnh (n=150) 32Bảng 3.3: Điều dưỡng hỗ trợ cụ thể người bệnh trong chăm sóc dinh dưỡng qua khảo sát người bệnh (n=150) 34Bảng 3.4: Chăm sóc, hỗ trợ người bệnh vệ sinh cá nhân qua khảo sát người bệnh (n=150) 36Bảng 3.5: Công tác chăm sóc, hỗ trợ về tâm lý, tinh thần cho người bệnh qua khảo sát người bệnh (n=150) 37Bảng 3.6: Kết quả thực hiện nhiện vụ theo dõi, đánh giá người bệnh của các điều dưỡng viên qua khảo sát người bệnh (n=150) 39Bảng 3.7: Phân bổ mức độ thực hiện quy trình kỹ thuật của điều dưỡng viên khi thực hiện các chăm sóc cơ bản qua quan sát điều dưỡng viên (n=30) 41Bảng 3.8: Hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh Bác sĩ của điều dưỡng viên qua khảo sát người bệnh (n=150) 41Bảng 3.9: Phân bổ mức độ thực hiện quy trình kỹ thuật của điều dưỡng viên khi thực hiện hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh bác sỹ qua quan sát điều dưỡng viên (n=30) 44Bảng 3.10: Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe cho người bệnh của điều dưỡng viên qua khảo sát người bệnh (n=150) 45Bảng 3.11: Phân bổ mức độ thực hiện quy trình kỹ thuật của điều dưỡng viên khi thực hiện tư vấn, giáo dục sức khỏe về ăn uống, theo dõi, chăm sóc, tập luyện cho người bệnh qua quan sát điều dưỡng viên (n=30) 47 Bảng 3.12: Bảo đảm an toàn phòng ngừa sai xót chuyên môn cho người bệnh (n=30)……… 48
Trang 7Bảng 3.13: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu là điều dưỡng (n=30) 50Bảng 3.14: Mối liên quan giữa tuân thủ quy trình chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên với các yếu tố nhân khẩu học 52
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Đánh giá chung về công tác tiếp đón người bệnh của điều dưỡng viên 33Biểu đồ 3.2: Đánh giá chung về chăm sóc, hỗ trợ về tâm lý, tinh thần của điều dưỡng viên 38Biểu đồ 3.3: Đánh giá chung về theo dõi, đánh giá người bệnh của điều dưỡng viên 40Biểu đồ 3.4: Đánh giá chung về hỗ trợ, thực hiện theo y lệnh của Bác sĩ 43Biểu đồ 3.5: Đánh giá chung về công tác tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe cho người bệnh 47Biểu đồ 3.6: Đánh giá chung thực hiện 5/8 nội dung chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên qua khảo sát người bệnh* 49Biểu đồ 3.7: Đánh giá chung về thực hiện chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên qua quan sát điều dưỡng viên 51
Trang 9PGS.TS Nguyễn Thanh Hương, người thầy hết lòng hướng dẫn, chia sẽ với lòng nhiệt tình, nhiệt huyết của cô giúp tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các khoa phòng, nhân viên điều dưỡng nơi tôi công tác Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn tham gia vào nghiên cứu này
Những người thân, bạn bè đã giúp đỡ, chia sẽ trong suốt quá trình học hơn 2 năm để tôi hoàn thành khóa học
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Nguyễn Thị Thu Hường
Trang 10TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Công tác chăm sóc người bệnh (CSNB) của điều dưỡng viên (ĐDV) đóng vai trò quan trọng và là một trong những trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm mô tả thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác CSNB của (ĐDV) tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, năm 2019 Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính Số liệu định lượng được thu thập qua khảo sát ý kiến của 150 người bệnh được chọn ngẫu nhiên theo tỷ lệ giường bệnh tại 10 khoa lâm sàng và quan sát 30 ĐDV thực hiện các hoạt động CSNB tại 5 khoa lâm sàng Số liệu định tính có được qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm với 24 người: đại diện lãnh đạo bệnh viện, điều dưỡng trưởng bệnh viện, trưởng/phó khoa, điều dưỡng trưởng khoa và các ĐDV Số liệu định lượng được phân tích mô tả bằng phần mềm SPSS 18.0, số liệu định tính được gỡ băng và phân tích theo chủ đề
Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 53,3% ĐDV tại 10 khoa lâm sàng thực hiện đạt về các nội dung CSNB khi đánh giá chung về mức độ thực hiện các nội dung chính theo 8 nội dung CSNB của ĐDV Trong đó, nhiệm vụ phối hợp thực hiện y lệnh của bác sĩ đạt kết quả cao nhất (84,0%), tiếp đến là công tác đón tiếp người bệnh (77,3%), theo dõi đánh giá NB (75,3%), chăm sóc tâm lý và hỗ trợ tinh thần cho người bệnh (71,3%) và công tác tư vấn giáo dục sức khỏe đạt kết quả thấp nhất chỉ là 54,7% Nghiên cứu định tính đã chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả CSNB của ĐDV như: nhân lực điều dưỡng chưa đáp ứng được đầy đủ các nhiệm vụ CSNB; Quá tải NB, các thủ tục hành chính giấy tờ, hồ sơ bệnh án cho người bệnh vào điều trị chiếm nhiều thời gian của ĐDV; Công tác kiểm tra, giám sát CSNB của ĐDV chưa thực hiện được thường xuyên và hiệu quả; Cơ sở vật chất, máy móc trang thiết bị còn thiếu và không đồng bộ cũng hạn chế công tác CSNB của ĐDV
Để cải thiện công tác CSNB của ĐDV của bệnh viện cần tăng cường đào tạo, cập nhất kiến thức, kỹ năng về CSNB cho ĐDV đặc biệt về tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe, tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện CSNB, xây dựng cơ chế phối hợp giữa các khoa phòng và cải thiện cơ sở vật chất đáp ứng đồng bộ trong thực
hiện nhiệm vụ CSNB
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc người bệnh (CSNB) là nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng nhằm đáp ứng các nhu cầu của người bệnh (NB) và góp phần nâng cao chất lượng bệnh viện Vai trò của điều dưỡng trong CSNB là rất quan trọng, đòi hỏi điều dưỡng cần phải làm việc chủ động, sáng tạo, phải có cả kiến thức lẫn kỹ năng Trong chiến lược phát triển công tác điều dưỡng, Tổ chức Y tế thế giới đã khẳng định: dịch vụ do điều dưỡng, hộ sinh cung cấp là một trong những trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế (DVYT) [8]
Tại các bệnh viện, điều dưỡng viên (ĐDV) là lực lượng trực tiếp cung cấp các dịch vụ chăm sóc trong suốt quá trình NB đến khám và điều trị, là những người cung cấp dịch vụ liên tục 24 giờ/ngày do đó có vai trò rất lớn trong việc bảo đảm và nâng cao chất lượng các dịch vụ khám chữa bệnh của tất cả các bệnh viện cũng như các cơ
sở khám chữa bệnh
Năm 2013, Bộ Y tế ban hành Chiến lược hành động quốc gia về tăng cường công tác điều dưỡng, hộ sinh đến năm 2020 với mục tiêu các dịch vụ chăm sóc sức khỏe do điều dưỡng, hộ sinh viên cung cấp bảo đảm an toàn, chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân và sự hài lòng của NB tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh(KBCB); ngành điều dưỡng và hộ sinh phát triển đạt theo chuẩn nghề nghiệp khu vực và quốc tế [22] Cùng với sự phát triển của kinh tế-xã hội, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng tăng cao Sự cạnh tranh giữa các bệnh viện ngày càng mạnh mẽ đặt ra nhiều thách thức với hệ thống DVYT của bệnh viện Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng bệnh viện cần phải quan tâm nâng cao chất lượng và hiệu quả các dịch vụ chăm sóc của điều dưỡng.Trên thực tế, do tình trạng quá tải bệnh viện, thiếu nhân lực nên những nhiệm vụ chuyên môn trong CSNB như: cho ăn qua ống thông, thay dịch truyền, bóp bóng oxy, vận chuyển NB, gửi bệnh phẩm điều dưỡng vẫn còn giao cho thân nhân NB Hiện nay, việc thực hiện chăm sóc của các điều dưỡng tại các bệnh viện còn thụ động, chỉ thực hiện y lệnh là chủ yếu, việc dành thời gian thăm hỏi, động viên tinh thần và tư vấn giáo dục sức khỏe còn rất hạn chế [2] Đã có nhiều nghiên cứu về CSNB của điều dưỡng nhưng chủ yếu ở cấp độ các khoa lâm sàng, các nghiên cứu đánh giá toàn bộ công tác CSNB ở cấp bệnh viện
Trang 12cònkhá ít hoặc chỉ tập trung nghiên cứu ở một vài lĩnh vực CSNB của điều dưỡng Nghiên cứu của Dương Thị Bình Minh tại các khoa lâm sàng bệnh viện Hữu Nghị, năm 2012 cho thấy một số mặt ĐD thực hiện chưa tốt: kết quả thực hiện công tác tư vấn, hướng dẫn GDSK chỉ đạt 66,2%; tỉ lệ người CSNB cho ăn qua sonde là 8,1%; việc vệ sinh cá nhân cho NB do người CSNB thực hiện tới 46,2%; một số yếu tố liên quan được chỉ ra là do lực lượng mỏng, quá tải, hạn chế trong công tác kiểm tra, giám sát [5]
Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) Trung tâm Tiền Giang là bệnh viện hạng I tuyến tỉnh trực thuộc Sở Y tế với quy mô 780 giường bệnh kế hoạch (thực kê là 1.245 giường) gồm: 08 phòng chức năng, 18 khoa lâm sàng và 07 khoa cận lâm sàng Bệnh viện có 126 Bác sĩ, 486 điều dưỡng trong đó có 03 CKI điều dưỡng, 61 điều dưỡng đại học, 165 điều dưỡng cao đẳng, 256 điều dưỡng trung cấp, 01 điều dưỡng sơ cấp Trong đó, ĐDVtại các khoa lâm sàng là 306 người [3] Năm 2018, bệnh viện khám bệnh cho 650.440 lượt NB và điều trị nội trú 65.610 lượt NB, công suất sử dụng giường bệnh tới 139% [1] Năm 2019, thực hiện theo chủ trương của Bộ Y tế về cơ chế tự chủ tại các cơ sở y tế, BVĐK Trung tâm Tiền Giang bắt đầu thực hiện tự chủ hoàn toàn; bệnh viện cũng có trách nhiệm thực hiện chăm sóc sức khỏe cán bộ lão thành và cán bộ trung cao cấp của Đảng và Nhà nước trong tỉnh Cho đến nay tại bệnh viện chưa có nghiên cứu về CSNB và các yếu tố ảnh hưởng đến CSNB của ĐDV Vì vậy, để trả lời cho câu hỏi hiện nay thực trạng hoạt động CSNB của ĐDV tại khoa lâm sàng như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động CSNB
của ĐDV tại khoa lâm sàng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu "Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, năm 2019", nhằm mô tả hoạt
động CSNB của ĐDV tại khoa lâm sàng và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng, từ đó cung cấp các bằng chứng chính xác, cập nhật giúp bệnh viện lựa chọn các giải pháp phù hợp để cải thiện chất lượng chăm sóc, đáp ứng nhu cầu chăm sóc NB trong bối cảnh bắt đầu tự chủ hoàn toàn tại bệnh viện
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng chăm sóc NB của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, năm 2019
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến chăm sóc NB của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, năm 2019
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về điều dưỡng và chăm sóc người bệnh
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện
Điều 2, Thông tư 07/2011/TT-BYT ghi rõ: “CSNB trong bệnh viện bao gồm
sự hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi NB nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều trị và tránh nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho NB” [9]
1.1.1.2 Khái niệm về chăm sóc điều dưỡng
Trong lĩnh vực chăm sóc điều dưỡng chương 2, tài liệu hướng dẫn đánh giá chất lượng CSNB trong các bệnh viện của Hội Điều dưỡng Việt Nam (tài liệu ban hành kèm theo Thông tư 07/2011/TT-BYT) năm 2011, ghi rõ: “Chăm sóc điều dưỡng là những chăm sóc chuyên môn của người điều dưỡng đối với NB từ khi vào viện cho tới lúc ra viện Nội dung chính bao gồm: chăm sóc thể chất, tinh thần, dinh dưỡng, lập kế hoạch chăm sóc, theo dõi, sử dụng thuốc, phục hồi chức năng, giáo dục sức khỏe (GDSK) cho NB Chăm sóc điều dưỡng bắt đầu từ lúc NB đến khám, vào viện và cho đến khi NB ra viện hoặc tử vong” [9]
1.1.1.3 Phân cấp chăm sóc người bệnh
NB cần chăm sóc cấp I là NB nặng, nguy kịch, hôn mê, suy hô hấp, suy tuần hoàn, phải nằm bất động và yêu cầu có sự theo dõi, chăm sóc toàn diện và liên tục của ĐDV;
NB cần chăm sóc cấp II là NB có những khó khăn, hạn chế trong việc thực hiện các hoạt động hằng ngày và cần sự theo dõi, hỗ trợ của ĐDV;
NB cần chăm sóc cấp III là NB tự thực hiện được các hoạt động hằng ngày
và cần sự hướng dẫn chăm sóc của ĐDV [9]
1.1.1.4 Thủ thuật xâm lấn và thủ thuật không xâm lấn
Thủ thuật xâm lấn: thủ thuật có đưa dụng cụ gây xuyên/làm rách da hoặc vào một khoang/tổ chức trong cơ thể [8]
Trang 15Thủ thuật không xâm lấn: thủ thuật không gây xuyên cơ học cũng như không gây rách da hoặc một khoang trong cơ thể, nghĩa là nó không gây rách trong cơ thể hoặc không làm mất các tổ chức sinh học cơ thể [8]
1.2 Vai trò, chức năng của người điều dưỡng và một số văn bản liên quan đến chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên trong bệnh viện
Trước đây, chức năng nhiệm vụ của điều dưỡng là thực hiện y lệnh và phụ thuộc vào chỉ định của bác sĩ nên công tác chăm sóc của điều dưỡng chưa đáp ứng được nhu cầu cơ bản của NB Hầu hết công tác chăm sóc cơ bản cho NB được người nhà NB đảm nhiệm Tuy nhiên, hiện nay ngành điều dưỡng đã khẳng định được vị trí của mình và được xem là độc lập như các ngành khác và được qui định
cụ thể trong các văn bản dưới đây
Theo quyết định 41/2005/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ năm 2005, người điều dưỡng có ba chức năng: Chức năng phụ thuộc là thực hiện các chỉ định điều trị của bác sĩ Chức năng phối hợp là phối hợp với bác sĩ và các nhân viên y tế khác trong CSNB Chức năng chủ động là chủ động CSNB theo nhiệm vụ đã quy định [5]
Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua quy định quyền và nghĩa vụ của NB Trong đó, “Quyền được khám bệnh, chữa bệnh có chất lượng phù hợp điều kiện thực tế” được quy định tại Điều 7: (1) Được tư vấn, giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp điều trị và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với bệnh; (2) Được điều trị bằng phương pháp an toàn, hợp lý và có hiệu quả theo các quy định chuyên môn kỹ thuật [12]
Ngày 26 tháng 11 năm 2011, Bộ Y tế ban hành Thông tư 07/2011/TT-BYT [9] hướng dẫn công tác Điều dưỡng về CSNB trong bệnh viện và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 3 năm 2011, thay thế Quy chế CSNB toàn diện trong Quy chế bệnh viện ban hành kèm theo Quyết định số 1895/1997/BYT-QĐ ngày 19/9/1997 Thông
tư này là sự cập nhật phù hợp giữa các văn bản pháp luật, tình hình thực tế, nâng cao vị thế nghề nghiệp, đặt công tác điều dưỡng trong mối quan hệ mang tính hệ thống, quy định cụ thể về nhiệm vụ chăm sóc nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng chăm sóc ngày càng cao Theo đó, thông tư 07/2011/TT-BYT quy định 12 nhiệm vụ chuyên môn của ĐDV trong chăm sóc NB [9], gồm 1) Tư vấn, hướng dẫn giáo dục
Trang 16sức khỏe; 2) Chăm sóc về mặt tinh thần; 3) Chăm sóc vệ sinh cá nhân cho NB; 4) Chăm sóc dinh dưỡng; 5) Chăm sóc phục hồi chức năng; 6) Chăm sóc NB có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật; 7) Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho NB; 8) Chăm sóc NB giai đoạn hấp hối và NB tử vong; 9) Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng; 10) Theo dõi và đánh giá NB; 11) Đảm bảo an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn
kỹ thuật trong chăm sóc NB; 12) Ghi chép hồ sơ bệnh án
Ngày 03 tháng 12 năm 2013, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra quyết định số 4858/QĐ-BYT về việc ban hành thí điểm Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện [10] Hoạt động điều dưỡng và CSNB được quy định tại mục C6 Bộ tiêu chí chất lượng được xây dựng và ban hành là bộ công cụ để các bệnh viện áp dụng tự đánh giá chất lượng và cho các đoàn kiểm tra của cơ quan quản lý y tế tiến hành đánh giá chất lượng bệnh viện định kỳ và hằng năm hoặc đột xuất
Nhằm mục đích quy định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ theo chuẩn chức danh nghề nghiệp của điều dưỡng, đến ngày 07 tháng 10 năm 2015, Bộ Y tế và Bộ Nội
vụ đã ký thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV về việc qui định mã số, tiêu chuẩn chức danh và nhiệm vụ nghề nghiệp Điều dưỡng cụ thể như sau [11]:
Bảng 1.1: Tiêu chuẩn chức danh và nhiệm vụ nghề nghiệp điều dưỡng
Điều dưỡng hạng II Điều dưỡng hạng III Điều dưỡng hạng IV
định chăm sóc, theo dõi
Với nhiệm vụ CSNB tại
cơ sở y tế qui định cụ thể tại mục a, khoản 1 Điều 5 của thông tư này như sau:
(1) Khám, nhận định, xác định vấn đề, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả CSNB;
(2) Theo dõi, phát hiện,
ra quyết định, xử trí về chăm sóc và báo cáo kịp
Với nhiệm vụ CSNB tại
cơ sở y tế qui định cụ thể tại mục a, khoản 1 Điều 6 của thông tư này như sau:
(1) Khám, nhận định, xác định vấn đề, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả CSNB; (2) Theo dõi, đánh giá diễn biến hằng ngày của NB; phát hiện, báo cáo
Trang 17phù hợp với NB;
(3) Tổ chức thực hiện,
kiểm tra, đánh giá diễn
biến hằng ngày của NB;
phát hiện, phối hợp với
kiểm tra, đánh giá việc
thực hiện kỹ thuật điều
dưỡng cơ bản, kỹ thuật
chuyên sâu, kỹ thuật
phục hồi chức năng cho
NB giai đoạn cuối và hỗ trợ tâm lý cho người nhà NB;
(4) Thực hiện kỹ thuật điều dưỡng cơ bản, kỹ thuật điều dưỡng chuyên sâu, phức tạp,
kỹ thuật phục hồi chức năng đối với NB;
(5) Nhận định nhu cầu dinh dưỡng, thực hiện
và kiểm tra đánh giá việc thực hiện chăm sóc dinh dưỡng cho NB;
(6) Thực hiện và tham gia việc ghi chép hồ sơ theo quy định;
(7) Tham gia xây dựng
và thực hiện quy trình CSNB
kịp thời những diễn biến bất thường của NB; (3) Tham gia chăm sóc giảm nhẹ cho NB giai đoạn cuối và hỗ trợ tâm
lý cho người nhà NB; (4) Thực hiện kỹ thuật điều dưỡng cơ bản cho
NB theo chỉ định và sự phân công;
(5) Nhận định nhu cầu dinh dưỡng, tiết chế và thực hiện chỉ định chăm sóc dinh dưỡng cho NB; (6) Ghi chép hồ sơ điều dưỡng theo quy định
Trang 18kiểm tra đánh giá việc
ghi chép hồ sơ theo quy
1.3 Thực trạng chăm sóc người bệnh của điều dưỡng
1.3.1 Thực trạng chăm sóc người bệnh của điều dưỡng trên thế giới
Tác giả Anita Karaca và Zehra Durna (2018) tiến hành nghiên cứu trên 635
NB đánh giá sự hài lòng của NB với chất lượng chăm sóc của điều dưỡng tại 1 bệnh viện tư nhân của Thổ Nhĩ Kỳ trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015, kết quả nghiên cứu cho thấy 63,9% NB rất hài lòng với việc chăm sóc của điều dưỡng Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra tỷ lệ NB hài lòng về sự quan tâm và chăm sóc của điều dưỡng cao hơn so với tỷ lệ hài lòng về các thông tin và hướng dẫn, tư vấn của điều dưỡng dành cho NB [33]
Nghiên cứu của tác giả Mahmoud Al-Hussami (2017) trên 148 NB tại 8 bệnh viện ở Jordan [37] chỉ ra mức độ hài lòng của NB về chất lượng chăm sóc của ĐDV đạt tương đối thấp, chỉ đạt 3,4/5 điểm và tác giả Mohammed M.A và Odetola Titilayo Dorothy (2014) trên 250 NB tại 4 cơ sở y tế thuộc tiểu bang Edo, Nigeria [36] đã cho thấy tỷ lệ NB hài lòng với chăm sóc, tư vấn và GDSK của ĐDV đạt 88% Các nghiên cứu này đều đã chỉ ra rằng sự hài lòng của NB là một chỉ số quan trọng về chất lượng chăm sóc sức khỏe Nghiên cứu của tác giả Muhammad
Trang 19Azhar và cộng sự (2017) tại Pakistan [38] cũng cho thấy giao tiếp ứng xử của điều dưỡng có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng của NB Kết quả của nghiên cứu tại Nigeria cũng cho thấy có mối tương quan rất lớn và tích cực giữa điều dưỡng và NB qua giao tiếp và chăm sóc điều dưỡng Điều này khẳng định, nơi mà điều dưỡng thực hiện tốt nhiệm vụ và NB được truyền thông đầy đủ sẽ được NB đánh giá tích cực và thỏa đáng [36]
Tác giả Lain Ghiwet và Kalayou Kidanu (2014), khoa Điều dưỡng, trường Đại học khoa học sức khỏe tại Mekelle University, Tigray, North Ethiopia cho thấy hầu như NB hài lòng với phản ứng nhẹ nhàng của điều dưỡng, 44% NB mong đợi điều dưỡng không cáu gắt, quát mắng, 40% NB mong đợi điều dưỡng thân thiện, hòa nhã, giúp đỡ NB [30].Nghiên cứu của tác giả Bekele Chaka nghiên cứu về công tác chăm sóc điều dưỡng thông qua mức độ hài lòng của NB ở 3 bệnh viện công Tikur Anbessa, Saint Paul năm 2005 cũng cho thấy tỷ lệ NB hài lòng với khả năng chuyên môn của người Điều dưỡng đạt 70% nhưng tỷ lệ NB hài lòng với lượng thông tin nhận được từ điều dưỡng về tình trạng bệnh tật, cách thức điều trị bệnh của họ chỉ đạt 40% Đồng thời tác giả đã khuyến cáo cần ưu tiên tăng cường cải thiện mối quan hệ cá nhân giữa điều dưỡng với NB [31]
Năm 2002, tác giả L.H Aiken đã tiến hành với 10.319 điều dưỡng tại 303 bệnh viện ở Mỹ, Canada, Anh và Scotland để đo lường sự không hài lòng, mệt mỏi với công việc và đánh giá chất lượng CSNB của ĐDV Kết quả cho thấy tỷ lệ điều dưỡng có điểm trung bình về sự mệt mỏi với công việc trên mức bình thường thay đổi từ 54% ở Mỹ đến 34% ở Scotland Sự hỗ trợ về mặt tổ chức đối với công tác điều dưỡng và việc bố trí ca kíp hợp lý liên quan chặt chẽ đến chất lượng CSNB của ĐDV Kết quả phân tích đa biến cho thấy các điều dưỡng cho rằng khi họ không được hỗ trợ và sắp xếp ca kíp không hợp lý thì CSNB kém hơn 3 lần so với những điều dưỡng được hỗ trợ và sắp xếp ca kíp tốt Tác giả đưa ra khuyến cáo rằng bố trí công việc hợp lý và hỗ trợ tốt công tác điều dưỡng là chìa khóa cải thiện chất lượng CSNB, làm giảm sự không hài lòng và mệt mỏi với công việc của điều dưỡng [35]
Trang 201.3.2 Tình hình thực hiện chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại Việt Nam
Tình hình thực hiện CSNB của điều dưỡng đã được khá nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu tại một số bệnh viện lớn ở các tỉnh phía Bắc chủ yếu thông qua phỏng vấn trực tiếp NB và một số nghiên cứu có kết hợp với quan sát thực hành CSNB của các ĐDV, nhưtác giả Phạm Thị Loan và cộng sự (2006) tiến hành trên
213 NB nằm điều trị nội trú tại bệnh viện C - Thái Nguyên [18]; Nguyễn Thị Thanh Điều (2007) nghiên cứu thực trạng và một số giải pháp tăng cường công tác điều dưỡng trong CSNB tại Viện Chấn thương - Chỉnh hình quân đội 108 [14]; Bùi Thị Bích Ngà (2011) đã tiến hành đánh giá thực trạng công tác CSNB của điều dưỡng qua nhận xét của 266 NB điều trị nội trú tại bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương [27]; Dương Thị Bình Minh (2012) đã nghiên cứu tại Bệnh viện Hữu Nghị về thực trạng công tác chăm sóc điều dưỡng NB tại các khoa lâm sàng [19] Các nghiên cứu này đã cho thấy một số kết quả chính sau:
Các nội dung CSNB của điều dưỡng được đánh giá cao từ 70 đến 80% là:
NB đánh giá được Điều dưỡng thông báo và hướng dẫn sử dụng thuốc; Điều dưỡng giải thích động viên NB khi thực hiện tiêm truyền và thủ thuật; NB đánh giá được điều dưỡng hướng dẫn về chế độ ăn uống và NB đánh giá được đón tiếp chu đáo, nhanh chóng, hướng dẫn nội quy và xếp giường ngay khi vào viện; Điều dưỡng thực hiện các thủ thuật chăm sóc cơ bản như lấy mạch, nhiệt độ, đo huyết áp; công tác chuẩn bị cho NB trước mổ; NB được điều dưỡng động viên, giải thích khi thực hiện chăm sóc và y lệnh; Điều dưỡng có hướng dẫn giải thích cho NB trước khi làm xét nghiệm cận lâm sàng; hướng dẫn NB tự chăm sóc, phòng bệnh và điều dưỡng
có hướng dẫn NB luyện tập PHCN sớm phòng biến chứng [19], [20], [26], [27]
ĐDV chỉ làm tương đối tốt các công tác như: công tác chăm sóc, hỗ trợ tâm lý tinh thần NB đạt 66,2%; chăm sóc hỗ trợ dinh dưỡng ăn uống đạt 55,6%; công tác tư vấn GDSK cho NB chỉ đạt 49,6%; chăm sóc hỗ trợ NB nặng làm vệ sinh cá nhân hàng ngày chủ yếu do người nhà (86,3%) [20], ĐDV trực tiếp giúp NB nặng trong chăm sóc vệ sinh cá nhân chỉ là 11,5%; NB được giáo dục sức khỏe chỉ đạt 66,2% [19].Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là vẫn còn 0,94% điều dưỡng được đánh giá thờ
ơ, lạnh lùng với NB [27] Mặc dù, nghiên cứu tiến hành đánh giá công tác CSNB qua
Trang 21quan sát trực tiếp Điều dưỡng thực hiện các hoạt động CSNB, tuy nhiên nghiên cứu chỉ tiến hành đánh giá việc thực hiện quy trình tổng quát theo các tiêu chuẩn đánh giá (đánh giá theo chiều rộng) mà chưa lựa chọn các quy trình kỹ thuật cơ bản để đánh giá sâu Bên cạnh đó, việc quan sát trực tiếp điều dưỡng thực hiện các hoạt động CSNB cơ bản, có thể các điều dưỡng biết và phần nào thay đổi hành vi của mình, vì vậy thực hiện chăm sóc tốt hơn, dẫn đến ảnh hưởng đến kết quả đánh giá so với thực
tế
Ở tại các bệnh viện phía nam,cho đến nay chúng tôi chưa tìm thấy có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực CSĐD Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Thùy Trâm thực hiện nghiên cứu đánh giá công tác chăm sóc NBtheo 12 nhiệm vụ CSNB của ĐDV tại 10 khoa lâm sàng bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre qua khảo sát 213 ĐDV thông qua phỏng vấn điều dưỡng Nghiên cứu cho kết quả không caonhư ở Bệnh viện Hữu Nghị Khi đánh giá chung về mức độ hoàn thành 12 nhiệm vụ CSNB của ĐDV chỉ đạt 60,6% [25] Cụ thể, có 7/12 nhiệm vụ chăm sóc được điều dưỡng thực hiện hoàn thành đạt từ 71,4% đến 89,2% Nhiệm vụ được thực hiện kém nhất là tư vấn, hướng dẫn GDSK (20,2%) và chăm sóc vệ sinh cá nhân cho NB (27,2%)
Dựa trên kết quả của một số nghiên cứu tại Việt Nam qua quá trình tổng quan tài liệu mà học viên tham khảo có thể thấy rằng, các nghiên cứu này tiến hành trong một phạm vị hẹp của hoạt động chăm sóc người bệnh của ĐDV, và dừng ở cấp khoa phòng; các nghiên cứu đánh giá toàn bộ công tác CSNB ở cấp bệnh viện còn khá ít và hầu hết được tiến hành đánh giá thông qua góc nhìn từ phía NB đang điều trị tại bệnh viện mà chưa thực hiện khảo sát, đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu của NB và chăm sóc thực tế của ĐDV Kết quả từ các nghiên cứu trên cũng chỉ
ra nhiều hoạt động CSNB của điều dưỡng còn rất hạn chế như tư vấn GDSK, hướng dẫn NB tự chăm sóc, hỗ trợ về tâm lý tinh thần, chăm sóc ăn uống và vệ sinh
1.4 Một số yếu tố liên quan đến chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại bệnh viện
1.4.1 Yếu tố về đặc điểm nhân lực điều dưỡng của bệnh viện
Các nghiên cứu cho thấy các yếu tố liên quan đến CSNB của điều dưỡng như tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn và thâm niên công tác.Ngoài ra, các yếu tố nhân
Trang 22lực điều dưỡng (như thâm niên công tác, cơ cấu trình độ điều dưỡng, số lượng phân
bố điều dưỡng), thời gian làm việc, số NB mà điều dưỡng chăm sóc cũng ảnh hưởng đến CSNB của điều dưỡng
Nghiên cứu của Phạm Anh Tuấn (2011) tại Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí cho thấy độ tuổi, giới và thâm niên công tác có liên quan đến mức độ hoàn thành một số nhiệm vụ của ĐDV, cụ thể ĐDV có thâm niên công tác trên 15 năm, thực hiện các nhiệm vụ chăm sóc tốt hơn so với ĐDV có thâm niên công tác ít hơn;
tỷ lệ thực hiện đạt các nhiệm vụ CSNB ở nhóm ĐDV lớn tuổi cao hơn so với ĐDV
ít tuổi hơn [26] Trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Nga (2015) tại bệnh viện Phổi trung ương tiến hành đánh giá công tác CSNB trên 207 điều dưỡng tại các khoa lâm sàng chỉ ra mối liên quan giữa thâm niên công tác của ĐDV với thực hiện chăm sóc cơ bản (p<0,05) Cụ thể, ĐDV có thâm niên công tác từ 10 năm trở lên thực hiện chưa đúng chăm sóc cơ bản cao gấp 2 lần ĐDV có thâm niên công tác dưới 10 năm (OR=1,99; 95%CI: 0,93-4,07) [21]
Đồng thời, nghiên cứu tại bệnh viện Phổi trung ương của Nguyễn Thị Bích Nga năm 2015, cũng cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tuân thủ quy trình của ĐDV khi thực hiện các chăm sóc cơ bản và đặc thù làm ca (p<0,05) Cụ thể, nhóm ĐDV không làm theo ca thực hiện các chăm sóc cơ bản chưa đúng cao gấp 2,06 lần nhóm ĐDV làm theo ca (OR = 2,06, 95%CI: 0,94-4,62) [21]
1.4.2 Yếu tố về điều kiện làm việc của điều dưỡng bệnh viện
Nghiên cứu của tác giả Li–ming You và cộng sự thực hiện năm 2012 đã đánh giá một cách toàn diện nguồn lực điều dưỡng tại 181 bệnh viện ở Trung Quốc
và mối liên hệ giữa nguồn lực điều dưỡng với chất lượng CSNB Kết quả cho thấy: 38% điều dưỡng Trung Quốc đã làm việc quá sức và 45% không hài lòng với nghề nghiệp của mình Tăng tỷ lệ NB so với Điều dưỡng có mối liên quan với chất lượng chăm sóc thấp và tăng tỷ lệ chất lượng chăm sóc thấp và trung bình (OR = 1,05) Có mối liên quan chặt chẽ giữa tăng tỷ lệ cử nhân Điều dưỡng với kết quả điều trị tốt hơn [34]
Tác giả Ansari và Hajbaghery (2013) nghiên cứu về chăm sóc vệ sinh răng miệng cho NB được tiến hành tại một bệnh viện ở trường đại học ở Iran Kết quả nghiên cứu cho thấy những rào cản quan trọng nhất để chăm sóc răng miệng cho
Trang 23NB là quá nhiều nhiệm vụ ghi chép, tiếp theo là thiếu thời gian, thiếu nhân lực, thiếu kiến thức và sự nhận thức rằng chăm sóc răng miệng không là nhiệm vụ ưu tiên của điều dưỡng [30]
Nghiên cứu của tác giả Mahmoud Al-Hussami và cộng sự năm 2017 tại Jordan cũng chỉ ra cần cải thiện điều kiện làm việc cho điều dưỡng tại bệnh việnqua
đó giúp nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cũng như dịch vụ chăm sóc của điều dưỡng [37]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy Trâm (2014) tại 10 khoa lâm sàng bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre chỉ ra rằng các yếu tố cá nhân của ĐDV có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ hoàn thành chung nhiệm vụ CSNB như: tuổi, thâm niên công tác, vị trí được phân công CSNB (với p < 0,05) Trong
đó, có mối liên quan về mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB giữa ĐDV nam và nữ
ở các nhiệm vụ: chăm sóc vệ sinh cá nhân, chăm sóc dinh dưỡng, CSNB có chỉ định phẫu thuật/thủ thuật, theo dõi và đánh giá NB, ghi chép hồ sơ bệnh án Thâm niên công tác và vị trí được phân công CSNB của ĐDV có mối liên quan với mức độ hoàn thành nhiệm vụ: CSNB có chỉ định phẫu thuật/thủ thuật, thực hiện kỹ thuật điều dưỡng và tư vấn GDSK Trình độ chuyên môn của ĐDV cũng có mối liên quan với mức độ hoàn thành nhiệm vụ tư vấn GDSK cho NB [25]
Kết quả các nghiên cứu về CSNB của điều dưỡng cho thấy những vấn đề cần được quan tâm như tư vấn GDSK, hướng dẫn NB tự chăm sóc, chăm sóc vệ sinh cá nhân, chăm sóc dinh dưỡng, CSNB có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật để nâng cao chất lượng CSNB Trong đó, NB phải được tư vấn GDSK là nhiệm vụ đầu tiên trong 12 nhiệm vụ và Bộ Y tế cũng đã đặt các nhiệm vụ này trong tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện [9]
1.4.3 Sự phối hợp của đồng nghiệp tại khoa, phòng
Sự phối hợp giữa các đồng nghiệp với nhau và giữa các khoa phòng trong bệnh viện đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến công tác CSNB của điều dưỡng Nghiên cứu của Dương Thị Bình Minh năm 2012 chỉ ra sự phối hợp tốt giữa bác sĩ - điều dưỡng và các điều dưỡng, từ đó việc điều dưỡng thực hiện tốt các y lệnh của bác
sĩ, chủ động báo cáo tình hình diễn biến bệnh tật của NB kịp thời cho bác sĩ cũng như việc tự điều chỉnh nhân lực hỗ trợ nhau giữa các nhóm chăm sóc khi cần Tuy nhiên,
Trang 24công tác phối hợp với một số khoa phòng còn gặp nhiều khó khăn do cung ứng máy móc, vật tư quá chậm trễ, việc báo sửa chữa, hỏng hóc ở các khoa lâm sàng nhiều khi không được sửa chữa ngay, điều dưỡng phải đi lại báo sửa chữa nhiều lần, từ đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến thời gian chờ đợi, đi lại và công việc của điều dưỡng và cuối cùng ảnh hưởng đến kết quả công tác CSNB [19]
Trong quá trình CSNB, sự phối hợp tốt giữa điều dưỡng với bác sĩ, giữa điều dưỡng với điều dưỡng, đặc biệt trong các trường hợp NB diễn biến đã cùng nhau xử trí, cấp cứu kịp thời Đồng thời việc điều dưỡng các khoa hỗ trợ nhau trong công việc thông qua sự điều đồng của bệnh viện đã phần nào giảm áp lực công việc cho điều dưỡng [21]
1.4.4 Sự quan tâm của lãnh đạo
Để nâng cao chất lượng công tác CSNB thì không thể thiếu được sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện Trong đó, vai trò kiểm tra, giám sát của bệnh viện cũng như tại các khoa phòng, đặc biệt là sự kiểm tra, giám sát của trưởng, phó khoa và ĐDTK là rất cần thiết với công tác CSNB của điều dưỡng Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Nga (2015) và Dương Thị Bình Minh (2012) đều chỉ ra công tác kiểm tra, giám sát của bệnh viện có ảnh hưởng đến công tác CSNB của điều dưỡng tại bệnh viện, cụ thể tâm lý ngại va chạm của các cán bộ phòng ban, do lãnh đạo khoa vừa làm công tác quản lý vừa làm công tác chuyên môn nên thiếu thời gian kiểm tra, giám sát công tác CSNB của điều dưỡng Điều đó đã khiến hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát chưa đúng với yêu cầu đặt ra dẫn đến vẫn còn tình trạng vi phạm quy chế chuyên môn như để cho người CSNB thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng [19], [21]
1.4.5 Các chế độ đãi ngộ
Chế độ đãi ngộ tại khoa/phòng, bệnh viện có ảnh hưởng đến công tác CSNB của điều dưỡng Nghiên cứu của Aiken và cộng sự (2002) tại 303 bệnh viện ở Mỹ, Canada, Anh và Scotland, kết quả phân tích đa biến chỉ ra rằng có sự liên quan đến chất lượng chăm sóc của ĐDV giữa những điều dưỡng không được hỗ trợ và sắp xếp
ca kíp kém thì cao gấp 3 lần so với những điều dưỡng được hỗ trợ và sắp xếp ca kíp tốt [31] Nghiên cứu của Dương Thị Bình Minh năm 2012 cũng cho thấy chế độ đãi ngộ tại bệnh viện, khoa có ảnh hưởng tích cực đến công tác CSNB của điều dưỡng
Trang 25Cụ thể, chế độ đãi ngộ tại khoa tạo điều kiện cho điều dƣỡng đi học tập nâng cao trình độ, phân công công việc hợp lý, khuyến khích tinh thần làm việc và đảm bảo thu nhập giúp điều dƣỡng tại bệnh viện yên tâm công tác, thực hiện tốt nhiệm vụ CSNB của mình [19]
Trang 261.5 Khung lý thuyết
Từ tổng quan tài liệu và dựa theo tiêu chuẩn của Thông tư 07/2011/TT-BYT, Thông tư liên tịch quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y số 26/2015/TTLT-BYT-BNV, kết hợp với tham khảo nghiên cứu của các tác giả Dương Thị Bình Minh [19], Nguyễn Thị Bích Nga [21] chúng tôi xây dựng khung lý thuyết và các biến số nghiên cứu như sau:
Trong nghiên cứu này chúng tôi đề cập 8 nhiệm vụ trong tổng số 12 nhiệm
vụ, nghiên cứu không đề cập đến các nhiệm vụ chăm sóc NB giai đoạn hấp hối và
NB tử vong, do tỷ lệ tử vong trong toàn bệnh viện năm 2018 là 0,4% và tại thời điểm nghiên cứu để quan sát được rất hiếm gặp các trường hợp chăm sóc NB ở giai đoạn này Nhiệm vụ chăm sóc phục hồi chức năng; chăm sóc NB có chỉ định phẫu thuật thủ thuật; ghi chép hồ sơ đạt kết quả tốt dựa vào kết quả báo cáo cuối năm
ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC
- Khối lượng công việc
- Tính chất công việc
QUAN TÂM CỦA LÃNH ĐẠO
- Kiểm tra, giám sát
- Đào tạo, tập huấn
- Bố trí công việc hợp lý
- Động viên, khuyến khích
ĐÃI NGỘ
- Thu nhập
- Đào tạo nâng cao trình độ
- Cơ hội thăng tiến
- Trao đổi thông tin
2) Chăm sóc dinh dưỡng, hỗ trợ NB ăn uống;
3) Chăm sóc, hỗ trợ vệ sinh cá nhân cho NB;
4) Chăm sóc, hỗ trợ tâm lý, tinh thần cho NB;
5) Theo dõi đánh giá NB;
6) Hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bác sĩ;
7) Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe cho NB;
8) Đảm bảo an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc
NB
Trang 27phòng Quản lý chất lượng [1] và thời gian của nghiên cứu này có hạn, nên chúng tôi không lựa chọn nghiên cứu trong khuôn khổ nguồn lực của nghiên cứu này
1.6 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Tiền Giang là tỉnh thuộc Vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km và thành phố Cần Thơ 90 km, diện tích 2508,6 km2, với hơn 1.7 triệu dân Tiền Giang có 11 đơn vị hành chính gồm: 01 thành phố, 02 thị xã và 8 huyện Thành phố Mỹ Tho là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh, có diện tích 8.154 ha và 17 đơn vị hành chính cơ sở (11 phường và 6 xã) Dân số 242.000 người, có 4 nhóm tộc người chính: Kinh, Hoa, Ấn và Khơme Có 4 tôn giáo chính: Công giáo, Tin lành, Phật giáo và Cao đài
BVĐK Trung tâm Tiền Giang được thành lập ngày 20/12/1978, nằm trong khuôn viên 27.493 m2 đất Tiền thân của BVĐK Trung tâm Tiền Giang được khởi công xây dựng năm 1921 và đi vào hoạt động năm 1925, với tổng diện tích mặt bằng gần 3 ha, ngụ tại trung tâm thành phố Mỹ Tho Từ lúc thành lập đến nay, bệnh viện không ngừng đổi mới, vươn lên theo phương châm “chất lượng và tình thương, hướng về người bệnh phục vụ”
Hiện tại BVĐK Trung tâm Tiền Giang là Bệnh viện hạng 1, với tổng số giường bệnh của bệnh viện là 780 giường kế hoạch (thực kê là 1245 giường) Công suất sử dụng giường bệnh của bệnh viện năm 2018 là 132,2% Bệnh viện có 8 phòng chức năng, 26 khoa (gồm 18 khoa lâm sàng và 08 khoa cận lâm sàng) Trong
18 khoa lâm sàng, gồm khối Nội (11 khoa): Cấp cứu, Hồi sức tích cực người lớn, Nội A, Nội B, Nội Tim mạch, Nội Thần kinh, Nội tiết, Nhiễm, Nhi, Hồi sức tích cực Nhi, Y học cổ truyền; khối Ngoại (07 khoa): Ngoại tổng quát, Ngoại Thần kinh, Ung bướu, Chấn thương chỉnh hình, Phẫu thuật gây mê hồi sức, Răng hàm mặt, Tai mũi họng; với 855 cán bộ viên chức Về trình độ chuyên môn chung, bệnh viện có
126 Bác sĩ, 486 điều dưỡng trong đó có 03 CKI điều dưỡng, 61 điều dưỡng đại học,
165 điều dưỡng cao đẳng, 256 điều dưỡng trung cấp, 01 điều dưỡng sơ cấp Hiện nay, mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận từ 1.600 đến 1.800 lượt người đến khám, chữa bệnh, trong đó số bệnh nhân nội trú trung bình là 1200 lượt
Trang 28Bảng 1.2 Số lƣợng điều dƣỡng viên tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2019
TT Tên khoa Tổng số ĐD ĐD thực hiện
CSNB
ĐD hành chính
Trang 29Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng
Đối tượng nghiên cứu định lượng gồm:
- Số liệu thứ cấp: báo cáo thống kê nhân lực của Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018, báo cáo kết quả kiểm tra của Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018
- Điều dưỡng trực tiếp làm công tác CSNB tại khoa lâm sàng của bệnh viện vào thời điểm nghiên cứu (gồm 5 khoa được lựa chọn Nội A, Nội B, Nội tim mạch, Ngoại tổng quát, Ngoại chấn thương)
- NB được thông báo ra viện và có thời gian điều trị nội trú từ 3 ngày trở lên tại các khoa lâm sàng được chọn nghiên cứu vào thời điểm nghiên cứu Với thời gian nội trú ít nhất là 3 ngày NB sẽ có thời gian quan sát, trải nghiệm và có ý kiến nhận định đầy đủ hơn về công tác CSNB của điều dưỡng (gồm 10 khoa được lựa chọn Nội A, Nội B, Nội tim mạch, Nội thần kinh, Nội tiết, Nhiễm, Ngoại tổng quát, Ngoại chấn thương, Ngoại thần kinh, Ung bướu)
- Đối với NB là trẻ chưa đủ 18 tuổi hoặc NB còn mệt/yếu (không thể giao tiếp) lựa chọn đối tượng người nhà hoặc người chăm sóc chính tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Đối với NB hoặc người nhà/người chăm sóc chính: không đủ năng lực, không có khả năng tiếp xúc; không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Đối với điều dưỡng: Các điều dưỡng nghỉ (nghỉ thai sản, nghỉ đi học dài hạn) không có mặt tại bệnh viện trong thời điểm nghiên cứu
2.1.2 Nghiên cứu định tính
Đối tượng nghiên cứu định tính gồm: Giám đốc bệnh viện, Điều dưỡng trưởng bệnh viện, Trưởng/phó khoa lâm sàng, các điều dưỡng trưởng khoa và các điều dưỡng trực tiếp thực hiện CSNB tại khoa lâm sàng vào thời điểm nghiên cứu
Trang 302.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02 đến tháng 08 năm 2019
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang
2.3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định
tính theo trình tự Nghiên cứu định lượng tiến hành trước nhằm mô tả thực trạng CSNB của ĐDV và thu thập một số thông tin về nhân lực điều dưỡng của bệnh viện Nghiên cứu định tính tiến hành sau để giải thích sâu hơn về kết quả của mục tiêu 1 và tập trung tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến CSNB của điều dưỡng (mục tiêu 2)
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng
p p
Z
2 /
n: số NB điều trị nội trú tại bệnh viện để điều tra
= 1,96 với độ tin cậy 95%
p: theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy Trâm (2014) kết quả tỷ lệ ý kiến của NB về mức độ hoàn thành 12 nhiệm vụ CSNB của ĐDV là 60,6% [25] Nghiên cứu của chúng tôi lấy làm cơ sở để ước lượng giá trị p Vì vậy p = 0,61
d: sai số dự kiến 8%, d = 0,08
Dựa vào các chỉ số và công thức trên, tính được cỡ mẫu là 145
Cộng thêm 5% để dự phòng một tỷ lệ nhất định số NB được chọn từ chối
Trang 31hoặc không tiếp cận được, do vậy cỡ mẫu của nghiên cứu cuối cùng là n = 150
- Phương pháp chọn mẫungười bệnh:
Sau khi tính được cỡ mẫu n = 150, chọn mẫu theo tỷ lệ với số giường bệnh thực kê của10 khoa lâm sàng được chọn vào nghiên cứu
Bảng 2.1: Số lượng người bệnh tại từng khoa chọn vào nghiên cứu
STT Tên khoa Số giường Số NB chọn vào nghiên cứu
NB, nếu trong trường hợp NB không thể trả lời, ĐTV phỏng vấn người nhà NB (là người trực tiếp chăm sóc NB trong thời gian điều trị tại BV) Trong trường hợp NB là bệnh nhân nhi, ĐTV phỏng vấn cha mẹ hoặc người trực tiếp chăm sóc chính cho trẻ khi nằm điều trị tại BV
Tại mỗi khoa trung bình có khoảng 2-3 NB ra viện trong ngày, như vậy với khoa có số lượng NB được lựa chọn nhiều nhất (như khoa Nội B với 27 NB) mất 10 – ngày liên tục để lấy danh sách NB, lựa chọn và thu thập số liệu
Trang 322.4.1.3 Cỡ mẫu và phương pháp cho quan sát trực tiếp điều dưỡng
Căn cứ vào đặc trưng của từng khoa, cũng như lượng NB quá tải/tỷ lệ điều dưỡng dể xảy ra sai xót trong quá trình thực hiện chăm sóc NB nên chúng tôi chọn
ưu tiên chủ đích 05 khoa đại diện trong số 10 khoa lâm sàng để quan sát trực tiếp,
cụ thể như sau:
+ Khối Nội: Nội A, Nội B, Nội Tim mạch
+ Khối Ngoại: Ngoại tổng quát, Ngoại chấn thương
- Chọn ngẫu nhiên 30 điều dưỡng trực tiếp CSNB tại 5 khoa lâm sàng thuộc khối Nội và khối Ngoại (Bảng 2.2)
Bảng 2.2: Số lượng điều dưỡng viên tại các khoa lâm sàng tham gia nghiên cứu
số ĐD
ĐD thực hiện CSNB(Thực hiện quan sát)
ĐD hành chánh (Không thực hiện quan sát)
2.4.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu định tính
- Phỏng vấn sâu (PVS): chọn chủ đích Giám đốc bệnh viện, Điều dưỡng trưởng bệnh viện, 5Trưởng/Phó khoa lâm sàng (Nội A, Nội B, Nội Tim mạch, Ngoại Tổng quát, Ngoại Chấn thương) là những khoa vừa thực hiện khảo sát trên cả
NB và quan sát ĐDV, được lựa chọn vào nghiên cứu
- Tổ chức 03 cuộc thảo luận nhóm (TLN), bao gồm:
+ TLN 1: 5 ĐD trưởng khoa các khoa lâm sàng được lựa chọn vào nghiên cứu bao gồm: Nội A, Nội B, Nội Tim mạch, Ngoại Tổng quát, Ngoại Chấn thương
Trang 33+ TLN 2: Chọn chủ đích 6 điều dưỡng trực tiếp CSNB khối nội (mỗi khoa chọn 02 Điều dưỡng): Nội A, Nội B, Nội Tim mạch, Nội Thần kinh
+ TLN 3: Chọn chủ đích 06 Điều dưỡng trực tiếp CSNB khối ngoại (mỗi khoa chọn 03 Điều dưỡng): Ngoại Tổng quát, Ngoại Chấn thương
- Điều dưỡng CSNB được lựa chọn TLN để đảm bảo mỗi nhóm đều có các điều dưỡng với các đặc điểm sau:
+ Trình độ: Đại học, Cao đẳng, Trung cấp
+ Thâm niên công tác: < 5 năm; 5-15 năm; >15 năm
+ Giới: nam, nữ
+ Sẵn sàng tham gia và chia sẽ thông tin
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
Bảng kiểm được xây dựng để quan sát trực tiếp ĐDV dựa theo 08/12 nhiệm
vụ CSNB của điều dưỡng được quy định tại Thông tư 07/2011/TT -BYT, và một số nội dung đề cập trong Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV [8] và tham khảo từ nghiên cứu của tác giả Dương Thị Bình Minh [23] (Phụ lục 7) Bảng kiểm được tiến hành quan sát thử nghiệm và chỉnh sửa lại một số từ ngữ cho phù hợp trước khi thực hiện nghiên cứu chính thức Mỗi bảng kiểm sử dụng cho quan sát một ĐDV
- Quan sát viên (QSV) gồm: 01 nhân viên phòng Điều dưỡng đã có kinh nghiệm quan sát trong các cuộc kiểm tra, giám sát thường kỳ về công tác CSNB tại các khoa lâm sàng và giám sát viên là nghiên cứu viên thực hiện
- QSV được tập huấn kỹ về nội dung bộ công cụ, thống nhất cách quan sát, cách đánh giá mức độ đạt dựa theo hướng dẫn tiêu chí đánh giá được thiết kế sẵn (tại mục 2.8.1) và một số bảng kiểm quy trình kỹ thuật điều dưỡng hiện đang áp dụng tại bệnh viện [3]
Trang 34- Thời điểm quan sát: thời điểm mà hoạt động CSNB của ĐDV diễn ra nhiều nhất và vào các ngày làm việc Tiến hành quan sát trong giờ hành chính và ngoài giờ hành chính, không thực hiện quan sát vào thứ 7, CN và các ngày nghỉ lễ
- QSV sử dụng bảng kiểm quan sát trực tiếp đã được thiết kế, mỗi bảng kiểm
sử dụng quan sát 01 ĐDV tại 01 khoa lâm sàng trong khoảng thời gian giờ hành chính khi các ĐDV thực hiện CSNB Mỗi ĐDV được quan sát 3 lần và yêu cầu cần đạt 2/3 lần quan sát “đạt” thì người ĐDV đó mới được đánh giá là đạt về thực hành CSNB
- Qui trình quan sát: QSV tiến hành thực hiện quan sát liên tục từng khoa, và không thông báo trước cho ĐDV tại các khoa để đảm bảo tính chính xác và khách quan của thông tin thu được, thực hiện quan sát cho đến khi đảm bảo đủ số lượng điều dưỡng chăm sóc tại khoa cần được quan sát
- Nghiên cứu viên là giám sát viên đồng thời là người kiểm tra thông tin ngay khi nhận phiếu quan sát từ các QSV vừa quan sát xong
+ Phỏng vấn người bệnh:
Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn được xây dựng dựa trên nội dung liên quan của Thông tư 07/2015/TT-BYT, Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07/10/2015 và tham khảo từ nghiên cứu của tác giả Dương Thị Bình Minh [23] Bộ câu hỏi phỏng vấn gồm có 2 phần: thông tin cá nhân và các nội dung chăm sóc của 8 nhiệm vụ của điều dưỡng được nghiên cứu (Phụ lục 2) Bộ câu hỏi được tiến hành điều tra thử nghiệm với 10 NB và chỉnh sửa một số từ ngữ sử dụng trong
bô câu hỏi trước khi nghiên cứu chính thức
ĐTV là 02 cán bộ của phòng điều dưỡng được phổ biến về nội dung nghiên cứu, được tập huấn về thực hành phỏng vấn NB Giám sát viên (GSV) là nghiên cứu viên chính
- Tổ chức thu thập số liệu:
+ NB của từng khoa sau khi đã hoàn tất thủ tục thanh toán ra viện, ĐTV mời
NB tham gia trả lời phỏng vấn tại một phòng riêng tại khoa
+ ĐTV thông báo mục đích của nghiên cứu và hướng dẫn cách trả lời phiếu khảo sát theo quy định cho các đối tượng nghiên cứu Sau đó tiến hành phỏng vấn từng NB
Trang 35+ ĐTV điền vào phiếu điều tra khi đối tượng nghiên cứu trả lời câu hỏi, kiểm tra và làm sạch số liệu trước khi đối tượng nghiên cứu ra về Sau đó nộp lại cho giám sát viên
- Nghiên cứu viên thực hiện giám sát hỗ trợ các ĐTV trong quá trình khảo sát đồng thời kiểm tra sự phù hợp các thông tin trong các phiếu khảo sát từ ĐTV Khi thấy các thông tin có sự không phù hợp sẽ yêu cầu ĐTV rà soát và đối chiếu sau khi kết thúc phỏng vấn
2.5.2 Thu thập số liệu định tính
- Hướng dẫn PVS được sử dụng để phỏng vấn Giám đốc, ĐD trưởng BV, Trưởng khoa hoặc Phó trưởng khoa và hướng dẫn TLN được sử dụng thảo luận với nhóm ĐD trưởng khoa, các ĐDV trực tiếp thực hiện CSNB Nội dung hướng dẫn PVS/TLN được xây dựng dựa trên mục tiêu nghiên cứu
- Hướng dẫn PVS Giám đốc bệnh viện (Phụ lục 2) và hướng dẫn PVS ĐD trưởng BV, Trưởng khoa hoặc Phó trưởng khoa (Phụ lục 3) Các cuộc phỏng vấn này được thực hiện tại phòng làm việc của các đối tượng vào thời gian thích hợp và
có tiến hành ghi âm sau khi đối tượng phỏng vấn đã đồng ý
- Hướng dẫn TLN dành cho nhóm ĐD trưởng khoa (Phụ lục 4) và hướng dẫn TLN dành cho nhóm ĐDV (Phụ lục 5) Mỗi cuộc TLN trong tổng thời gian khoảng 60-90 phút tại phòng họp giao ban, đều được ghi chép lại diễn biến của cuộc thảo luận và ghi âm cuộc thảo luận (sau khi các đối tượng đã đồng ý)
2.6 Phương pháp phân tích số liệu
2.6.1 Số liệu định lượng
Số liệu sau khi thu thập được làm sạch, nhập vào máy tính bằng phần mềm Epi Data 3.1 Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0
- Phần mô tả: thể hiện tần số, tỷ lệ % các biến nghiên cứu
- Phần phân tích: sử dụng các test thống kê để kiểm định Khi bình phương, tỷ suất chênh (OR) và khoảng tin cậy 95% được sử dụng để tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến hoạt động CSNB của điều dưỡng như tuổi, giới, trình độ, thâm niên công tác,
Trang 362.6.2 Số liệu định tính
- Băng ghi âm được gỡ và ghi chép bằng bản Word một cách trung thực, sau
đó được phân tích và mã hóa theo chủ đề
- Trích dẫn ý kiến tiêu biểu theo chủ đề tương ứng đáp ứng mục tiêu nghiên cứu
2.7 Biến số và chủ đề nghiên cứu
Các biến số về CSNB của ĐDV tại các khoa lâm sàng BVĐK Trung tâm Tiền Giang được xây dựng dựa trên 08/12 nhiệm vụ chuyên môn CSNB quy định tại Thông tư 07/2011/TT-BYT của Bộ Y tế và Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện được ban hành theo Quyết định số 4858/QĐ-BYT ngày 03 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế và Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07 tháng 10 năm 2015 Các biến số nghiên cứu về thực hiện nhiệm vụ CSNB của Điều dưỡng được xây dựng và tham khảo từ nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Nga [21],
Dương Thị Bình Minh [19] (Chi tiết các biến số nghiên cứu được trình bày tại
Phụ lục 1)
Các nhóm biến số chính bao gồm:
- Nhóm biến số chung thông tin của NB tham gia nghiên cứu (tuổi, giới, trình
độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú, số lần nằm viện, đặc điểm bệnh tật)
- Nhóm biến số chung thông tin của điều dưỡng được lựa chọn quan sát (tuổi, giới, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, số NB chăm sóc)
- Nhóm biến số thực hiện nhiệm vụ chăm sóc NB của điều dưỡng lâm sàng Các chủ đề nghiên cứu định tính (Mục tiêu 2: Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác CSNB của điều dưỡng)
Yếu tố về nhân lực điều dưỡng:
- Cơ cấu nhân lực
- Trình độ chuyên môn
- Sự phân bổ điều dưỡng tại các khoa
Điều kiện làm việc:
- Khối lượng công việc, áp lực công việc
- Cơ sở vật chất nơi làm việc
Sự quan tâm của lãnh đạo:
Trang 37- Sự quan tâm đến công tác chuyên môn, công tác đào tạo điều dưỡng
- Kiểm tra, giám sát công tác CSNB của điều dưỡng
- Đào tạo các quy trình kỹ thuật, quy trình CSNB (đào tạo liên tục, đào tạo nâng cao trình độ,…)
- Tập huấn các quy định về CSNB
- Khuyến khích, động viên
Chính sách đãi ngộ:
- Thu nhập của điều dưỡng
- Đào tạo nâng cao trình độ
Sự phối hợp với đồng nghiệp:
- Sự phối hợp với đồng nghiệp (bác sĩ với điều dưỡng, điều dưỡng với điều dưỡng)
- Sự hỗ trợ, giúp đỡ của đồng nghiệp
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá
2.8.1 Cách tính điểm qua quan sát trực tiếp
Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi tập trung quan sát nội dung liên quan đến các nhiệm vụ CSNB của ĐDV gồm: i) Chăm sóc cơ bản cho NB (cho ăn,
vệ sinh, đo DHST, hút đờm); ii) Hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh bác sĩ (tiêm truyền, thay băng, phụ giúp bác sĩ; iii) Tư vấn, giáo dục sức khỏe về ăn uống, theo dõi, chăm sóc, tập luyện; iv) Công việc khác (vệ sinh xe tiêm, ghi phiếu chăm sóc)
Do điều kiện hạn chế về thời gian và nguồn lực nên khi thực hiện quan sát công việc của ĐDV, chúng tôi không đánh giá ĐDV thực hiện từng bước nhỏ của quy trình kỹ thuật mà chỉ tiến hành đánh giá việc thực hiện quy trình tổng quát theo các tiêu chuẩn sau:
a Đối với các thủ thuật xâm lấn (tiêm, truyền, thay băng, chọc dò…), Điều dưỡng thực hiện đủ, đúng 5 bước sau sẽ được đánh giá “đúng”, không thực hiện hoặc thực hiện nhưng không đúng bất kỳ 1 bước nào trong 5 bước sau sẽ được đánh giá “chưa đúng”:
Bước 1: Chào hỏi, động viên và giải thích cho NB;
Bước 2: Chuẩn bị đầy đủ thuốc/phương tiện/dụng cụ;
Trang 38Bước 3: Thực hiện 5 đúng và công khai thuốc/vật tư tiêu hao;
Bước 4: Tiến hành đúng kỹ thuật;
Bước 5: Phân loại chất thải đúng và ghi chép hồ sơ/đánh dấu thực hiện
* Lưu ý: Đối với thủ thuật tiêm tĩnh mạch, truyền tĩnh mạch: Làm đúng được tính khi ĐDV thực hiện đảm bảo đủ 5 bước trên và phải thực hiện được tiêm, truyền được vào tĩnh mạch cho NB
b Đối với các thủ thuật không xâm lấn (đo mạch, nhiệt độ, huyết áp, hướng dẫn lấy đờm…), điều dưỡng phải thực hiện đủ, đúng 4 bước sau sẽ được đánh giá
“đúng”, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng bất kỳ 1 bước nào trong 4 bước sau sẽ được đánh giá “chưa đúng”:
Bước 1: Chào hỏi, động viên và giải thích cho NB;
Bước 2: Chuẩn bị đầy đủ thuốc/phương tiện và dụng cụ;
Bước 3: Tiến hành đúng kỹ thuật;
Bước 4: Thu dọn dụng cụ/ghi chép hồ sơ điều dưỡng
c Thực hiện y lệnh cho NB uống thuốc, điều dưỡng phải thực hiện đủ 4 bước sau sẽ được đánh giá “đúng”, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng bất
kỳ 1 bước nào trong 4 bước sau sẽ được đánh giá “chưa đúng” :
Bước 1: Chào hỏi, thực hiện kiểm tra, đối chiếu;
Bước 2: Phát thuốc đúng giờ theo chỉ định;
Bước 3: Cho NB uống thuốc trước sự chứng kiến của điều dưỡng;
Bước 4: Thực hiện công khai thuốc/đánh dấu thực hiện
Việc đánh giá các nội dung CSNB của ĐDV với 03 mức độ đánh giá, được xếp theo thứ tự 1, 2, 3:
1 Thực hiện tốt/đầy đủ
2 Thực hiện nhưng chưa tốt/chưa đầy đủ
3 Không thực hiện
Các nội dung CSNB của ĐDV thông qua phiếu quan sát gồm 20 mục, trong
đó tất cả các mục phải được đánh giá ở mức 1 - “thực hiện tốt/đầy đủ” mới được đánh giá là thực hành CSNB đạt
Mỗi ĐDV được quan sát 3 lần và yêu cầu cần đạt 2/3 lần quan sát “đạt” thì người ĐDV đó mới được đánh giá là tuân thủ “tốt” về CSNB
Trang 392.8.2 Cách đánh giá các nội dung chăm sóc dựa vào phỏng vấn
Việc đánh giá các nội dung chăm sóc khi khảo sát ý kiến NB về CSNB của ĐDV với 03 mức độ đánh giá, được xếp theo thứ tự 1, 2, 3:
- Mục B: Chăm sóc dinh dưỡng, hỗ trợ ăn uống cho NB gồm 06 câu hỏi, trong đó có 02 câu hỏi chuyển, 02 câu có thể có người không phù hợp nên chỉ mô tả kết quả chăm sóc dinh dưỡng riêng theo từng câu mà không tổng hợp chung để đánh giá “Đạt” hay “Không đạt”
- Mục C: Chăm sóc, hỗ trợ NB vệ sinh cá nhân gồm 05 câu hỏi, trong đó có
02 câu hỏi chuyển, 02 câu có thể có người không phù hợp nên chỉ mô tả kết quả chăm sóc dinh dưỡng riêng theo từng câu mà không tổng hợp chung để đánh giá
“Đạt” hay “Không đạt”
- Mục D: Chăm sóc, hỗ trợ về tâm lý, tinh thần cho NB gồm 04 câu hỏi, được tính “Đạt” khi cả 04 câu (D1- D4) đều được NB đánh giá đạt mức độ 1 Chỉ một câu mức độ 2 là “Không đạt”
- Mục E: Theo dõi đánh giá NB gồm 04 câu hỏi, được tính “Đạt” khi cả 3 câu (E1, E3, E4) đều được NB đánh giá đạt mức độ 1 Chỉ một câu mức độ 2 tính
“Không đạt” hoặc nếu NB trả lời câu E2 (Nếu ĐDV không đo mạch, nhiệt độ hàng ngày cho NB thì ai đo?) là “Không đạt”
- Mục F: Hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bác sĩ, gồm 11 câu hỏi trong đó có 2 câu hỏi chuyển, 1 câu hỏi cho biết người chuyển NB đến nơi phẫu thuật, được tính “Đạt” khi:
+ Cả 11 câu (F1, F2, F3, F4, F5, F7, F8, F9, F11) đều được NB đánh giá đạt mức độ 1 Câu F6, F10 là câu hỏi chuyển không đưa vào đánh giá
Trang 40+ Trong trường hợp NB không trả lời câu F10 (vì không phù hợp) thì chỉ tính kết quả của 08 câu (F1, F2, F3, F4, F5, F7, F8, F9) Chỉ một câu trong 08 câu ở mức
độ 2 tính “Không đạt”
+ Trong trường hợp NB không trả lời câu F6 và F10 (vì không phù hợp) thì chỉ tính kết quả của 05 câu (F1-F5) Chỉ một câu trong 05 câu ở mức độ 2 tính
“Không đạt”
- Mục G: Tư vấn, hướng dẫn GDSK cho NB, gồm 08 câu hỏi, được tính
“Đạt” khi cả 8 câu (từ G1- G8) được NB đánh giá đạt mức độ 1 Chỉ 01 câu được
NB đánh giá đạt mức độ 2 tính “Không đạt”
- Mục H: Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong CSNB, gồm 04 câu hỏi, trong đó có 1 câu hỏi chuyển, 2 câu có thể có người không phù hợp nên chỉ mô tả kết quả riêng theo từng câu mà không tổng hợp chung để đánh giá “Đạt” hay “Không đạt”
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu
- Đối tượng NB tham gia vào nghiên cứu được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của đối tượng nghiên cứu và người bảo hộ (là cha mẹ, người thân đối với trường hợp NB chưa đủ 18 tuổi
- Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được bảo mật Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác
- Nghiên cứu được tiến hành sau khi được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua theo QĐ số 019-199/QĐ-YTCC
- Nội dung nghiên cứu phù hợp, được Ban Giám đốc bệnh viện quan tâm và ủng hộ Kết quả nghiên cứu được phản hồi và báo cáo cho Ban lãnh đạo bệnh viện, khoa Kết quả nghiên cứu làm cơ sở nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động CSNB của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng trong bệnh viện