1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng, hộ sinh tại trung tâm y tế huyện kinh môn, tỉnh hải dương năm 2019

120 230 20

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng, hộ sinh tại Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương

Trang 1

ĐỖ THỊ LAN

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ QUY TRÌNH THAY BĂNG VẾT THƯƠNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN

KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: : 8720802

Hà Nội, 2020

Trang 2

ĐỖ THỊ LAN

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ QUY TRÌNH THAY BĂNG VẾT THƯƠNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: : 8720802

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: GS.TS PHAN VĂN TƯỜNG

Hà Nội, 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành là kết quả đóng góp công sức của rất nhiều cá nhân và đơn vị

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến giáo viên

hướng dẫn GS.TS Phan Văn Tường đã tận tình giúp đỡ và theo sát tôi trong toàn

bộ quá trình nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường; Các thầy giáo, cô giáo; Các ban phòng trường Đại học Y tế công cộng đã góp phần công sức đào tạo, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện và nhiệt tình cộng tác với tôi trong quá trình triển khai nghiên cứu tại Trung tâm

Tôi xin cảm ơn các điều tra viên, các điều dưỡng trưởng khoa tại trung tâm

về việc hỗ trợ thu thập số liệu Đề tài này không thể hoàn thành nếu không có sự đóng góp của các đối tượng nghiên cứu tại trung tâm, tôi xin chân thành cảm ơn họ

Sau cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn dành cho tôi những tình cảm quý báu, chia sẻ khó khăn, chăm sóc động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 02 tháng 3 năm 2020

Tác giả

Đỗ Thị Lan

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 4

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.2 Quy trình thay băng vết thương (TBVT) tại Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn 6

1.2.1 Mục đích 6

1.2.2 Chỉ định 7

1.2.3 Lưu đồ các bước của quy trình TBVT 7

1.2.4 Nguyên tắc 9

1.2.5 Địa điểm 10

1.2.6 Những vật tư tiêu hao làm bằng vải, gạc sử dụng trong TBVT 11

1.2.7 Dung dịch rửa, sát khuẩn 11

1.3 Thực trạng tuân thủ quy trình thay băng vết thương 13

1.3.1 Trên thế giới 13

1.3.2 Tại Việt Nam 14

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình TBVT 16

1.5 Giới thiệu chung về Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn 20

1.6 Khung lý thuyết 23

Chương 2 24

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

2.3 Thiết kế nghiên cứu 25

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 25

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 26

2.6 Nhóm biến số chính 30

Trang 5

2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá (nếu có) 32

2.8 Phương pháp phân tích số liệu 33

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 34

Chương 3 35

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 35

3.2 Thực trạng tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS 36

3.2.1 Trước thay băng 36

3.2.2 Trong thay băng 39

3.2.3 Sau thay băng 40

3.2.4 Tỷ lệ tuân thủ chung quy trình TBVT của ĐD, HS 41

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS tại Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn năm 2019 43

3.3.1 Yếu tố về đặc điểm cá nhân của ĐD, HS 43

3.3.2 Các yếu tố về cơ sở vật chất 46

3.3.3 Nhóm yếu tố về quản lý 49

Chương 4 57

BÀN LUẬN 57

4.1 Thực trạng tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng, hộ sinh tại Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn 57

4.1.1 Thực hiện các bước trước thay băng vết thương 57

4.1.2 Thực hiện các bước trong thay băng 59

4.1.3 Thực hiện các bước sau thay băng 60

4.1.4 Thực trạng tuân thủ chung quy trình thay băng vết thương 62

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng, hộ sinh tại Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn năm 2019 63

4.3 Hạn chế của nghiên cứu 70

KẾT LUẬN 73

KHUYẾN NGHỊ 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 6

PHỤ LỤC 1: BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH QUY TRÌNH THAY

BĂNG VẾT THƯƠNG 80

PHỤ LỤC 2 83

PHIẾU HƯỚNG DẪN NỘI DUNG PHỎNG VẤN LÃNH ĐẠO 83

PHỤ LỤC 3 85

PHIẾU HƯỚNG DẪN NỘI DUNG PHỎNG VẤN 85

TRƯỞNG KHOA, ĐIỀU DƯỠNG TRƯỞNG 85

PHỤ LỤC 4 87

PHIẾU HƯỚNG DẪN NỘI DUNG PHỎNG VẤN TRƯỞNG KHOA DƯỢC, KHOA KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN 87

PHỤ LỤC 5 89

PHỤ LỤC 6 91

PHỤ LỤC 7 93

QUY TRÌNH THAY BĂNG VẾT THƯƠNG 93

PHỤ LỤC 8: GIẤY ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU 95

PHỤ LỤC 9: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 96

PHỤ LỤC 10: SỐ LIỆU HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN CỦA TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN KINH MÔN 101

PHỤ LỤC 11: DỰ TRÙ KINH PHÍ 102

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n=68) 35

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ tuân thủ từng bước chuẩn bị người bệnh của ĐD, HS 36

(n=204 lượt quan sát TBVT) 36

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ tuân thủ từng bước chuẩn bị nhân viên y tế của ĐD, HS 37

(n=204 lượt quan sát TBVT) 37

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ tuân thủ từng bước chuẩn bị dụng cụ của ĐD, HS 38

(n=204 lượt quan sát TBVT) 38

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ tuân thủ từng bước kỹ thuật TBVT 39

của ĐD, HS (n=204 lượt quan sát TBVT) 39

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ về tuân thủ đúng từng bước thu dọn dụng cụ và ghi chép hồ sơ bệnh án của ĐD, HS (n=204 lượt quan sát TBVT) 40

Bảng 3.2 Tỷ lệ tuân thủ chung từng phần của quy trình TBVT của ĐD, HS 41

(n=204 lượt quan sát) 41

Bảng 3.3 Tỷ lệ tuân thủ chung toàn bộ quy trình TBVT của ĐD, HS 41

(n=204 lượt quan sát) 41

Bảng 3.4 Tỷ lệ tuân thủ đúng theo số lượt quan sát 42

của một ĐD, HS khi TBVT (n=68) 42

Bảng 3.5 Tỷ lệ tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS theo từng đối tượng 42

tại Trung tâm Kinh Môn năm 2019 42

Bảng 3.6 Tỷ lệ tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS theo giới 43

tại Trung tâm Kinh Môn năm 2019 43

Bảng 3.7 Tỷ lệ tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS theo nhóm tuổi 44

tại Trung tâm Kinh Môn năm 2019 44

Bảng 3.8 Tỷ lệ tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS theo trình độ chuyên môn tại Trung tâm Kinh Môn năm 2019 45

Bảng 3.9 Tỷ lệ tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS theo thâm niên công tác 46

tại Trung tâm Kinh Môn năm 2019 46

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng, hộ sinh tại Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương năm 2019” với hai mục tiêu:1.Mô tả thực trạng tuân thủ quy trình

thay băng vết thương của điều dưỡng, hộ sinh 2.Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng, hộ sinh Phương pháp

nghiên cứu: sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định tính và

định lượng được thực hiện trên tổng số 68 điều dưỡng, hộ sinh tại Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn Số liệu thu thập thông qua quan sát trực tiếp 68 điều dưỡng, hộ sinh, mỗi người thực hiện 3 lần thay băng vết thương với tổng số 204 lượt quan sát trực tiếp và 09 cuộc phỏng vấn sâu, 2 cuộc thảo luận nhóm Thời gian nghiên cứu từ 01/2019 đến 08/2019 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh tuân thủ quy trình là 44,6%; chuẩn bị người bệnh đúng 53,4%, chuẩn bị nhân viên y tế đúng đạt tỷ lệ cao nhất là 85,8%, chuẩn bị dụng cụ đúng đạt 77,9%, mức độ đạt thực hành kỹ thuật thay băng vết thương đạt 53,9%, thực hành xử lý chất thải và ghi chép phiếu chăm sóc sau thay băng vết thương của điều dưỡng, hộ sinh viên đạt 67,6% Qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm cho thấy các yếu tố ảnh hưởng tích cực đến tuân thủ quy trình thay băng vết thương bao gồm: Lãnh đạo Trung tâm quan tâm, cán bộ được đào tạo về quy trình, tổ chức kiểm tra, giám sát và có sự giám sát của điều dưỡng trưởng, tuổi, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác của điều dưỡng,

hộ sinh và quy trình của trung tâm Nhóm yếu tố ảnh hưởng tiêu cực bao gồm: phương tiện, vật tư y tế còn thiếu, công tác kiểm tra, giám sát chưa đảm bảo, chế tài khen thưởng, xử phạt cụ thể cho tuân thủ quy trình Nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị: có kế hoạch cụ thể tổ chức kiểm tra, giám sát và đưa hình thức giám sát chéo giữa những người trực tiếp thay băng, đào tạo, tập huấn lại về kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp ứng xử, hướng dẫn cách ghi chép phiếu chăm sóc trong hồ sơ bệnh án, duy trì hội thi tay nghề điều dưỡng, hộ sinh, đưa nội dung tuân thủ thực hành quy trình thay băng vết thương vào bình thi đua hàng tháng tại khoa

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khi lựa chọn cơ sở y tế để khám, chữa bệnh đặc biệt là có liên quan đến phẫu thuật, có chấn thương, có vết thương phải thay băng người bệnh đã đặt niềm tin và giao tình trạng sức khỏe của mình cho đội ngũ nhân viên y tế, đổi lại người bệnh luôn luôn mong muốn và kỳ vọng được điều trị, chăm sóc khỏi bệnh, an toàn và tránh những tổn hại sức khỏe khác Vì vậy đảm bảo an toàn trong điều trị, chăm sóc, tránh nhiễm khuẩn với những bệnh nhân sau phẫu thuật, bệnh nhân có vết thương là trách nhiệm của các cơ sở y tế, các nhà lãnh đạo và toàn bộ nhân viên y tế Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn xác định đây là nhiệm vụ và cố gắng hoàn thành sứ mệnh trên Trung tâm rất quan tâm đến 2 chuyên khoa mũi nhọn là ngoại - sản, phát triển những danh mục kỹ thuật mới đi đôi đảm bảo an toàn người bệnh Một trong những biện pháp để đảm bảo an toàn là tuyệt đối tuân thủ đúng các phác đồ điều trị, quy trình chuyên môn kỹ thuật trong đó có tuân thủ đúng quy trình thay băng vết thương Hiện nay tại các đơn vị y tế việc xây dựng và ban hành áp dụng các quy trình

kỹ thuật dựa trên tài liệu của Bộ Y tế đang là vấn đề cấp thiết để nâng cao chất lượng chuyên môn Để giải quyết vấn đề cấp thiết trên, Bộ Y Tế ban hành Hướng dẫn quy trình chăm sóc người bệnh tập I, II áp dụng cho các bệnh viện trong toàn quốc và Thông tư 07/2011/TT-BYT về công tác Điều dưỡng trong bệnh viện [2]

Thay băng vết thương là một trong những quy trình kỹ thuật điều dưỡng cơ bản trong Hướng dẫn quy trình chăm sóc người bệnh của Bộ Y tế nhằm giữ cho vết thương sạch sẽ, thúc đẩy quá trình liền thương Thay băng vết thương đúng quy trình có tác dụng phòng ngừa nhiễm khuẩn thứ phát, giúp vết thương chóng hồi phục Trong chăm sóc, điều trị bệnh nhân sau phẫu thuật, người bệnh có vết thương, thủ thuật thay băng vết thương giữ một vai trò nhất định trong thành công kết quả điều trị [7] [9]

Thay băng vết thương không tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật có thể là một trong các nguyên nhân dẫn đến nhiễm khuẩn vết thương, để lại nhiều hậu quả như tăng thời gian, tăng chi phí điều trị, tăng nguy cơ cho người bệnh, tăng gánh nặng làm việc cho nhân viên y tế [7]

Kết quả một số nghiên cứu về thực trạng tuân thủ quy trình thay băng vết thương cho thấy tỷ lệ tuân thủ đúng còn chưa cao Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện

Trang 11

Việt Đức của Ngô Thị Huyền năm 2012 chỉ có 38,9% điều dưỡng thực hành đúng toàn

bộ các bước quy trình thay băng vết thương [15] Nghiên cứu của Phùng Thị Huyền và cộng sự tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2012 cho kết quả điều dưỡng thực hành quy trình thay băng đạt điểm giỏi là 51,6%, khá là 43,0% [14] Nghiên cứu của Đỗ Hương Thu và cộng sự cho thấy 79% thực hành đúng toàn bộ các tiêu chí đánh giá quy trình thay băng; 10% thực hành đúng từ 70%-80% các tiêu chí đánh giá [32]

Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương là đơn vị y tế công lập hạng

II, với quy mô 255 giường kế hoạch, 365 giường thực kê, trực thuộc Sở Y tế Hải Dương Cùng với sự phát triển của Trung tâm, khoa Ngoại và Phụ Sản cũng ngày càng lớn mạnh với số lượng người bệnh phẫu thuật, người bệnh có thủ thuật thay băng trong những năm gần đây ngày một tăng và đây cũng là hai khoa tập trung gần như toàn bộ thủ thuật thay băng của toàn Trung tâm Cụ thể: Năm 2016, có tổng số

1066 ca phẫu thuật và 2982 ca thủ thuật có thay băng Năm 2018, có tổng số 1210

ca phẫu thuật và 5840 ca thủ thuật có thay băng vết thương [25], [26], [27] Mặc dù

đã được chú trọng quan tâm trong công tác điều dưỡng chăm sóc người bệnh trong

đó có đánh giá tuân thủ quy trình kỹ thuật điều dưỡng nói chung, quy trình thay băng vết thương nói riêng, tuy nhiên mọi đánh giá, báo cáo về công tác này mới chỉ dừng lại ở việc đi giám sát và kiểm tra thường quy chứ chưa có đánh giá nào cụ thể

về thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình thay băng vết thương Thực trạng trên đang tồn tại ở Trung tâm chúng tôi, nhưng chúng tôi thiếu các

dữ liệu đánh giá cụ thể và chưa có nghiên cứu nào công bố về vấn đề này Chính vì

vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu:“Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng, hộ sinh tại Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương năm 2019 Nghiên cứu này tạo tiền đề cho sự

phát triển, xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng hệ thống quản lý điều dưỡng, nâng cao kỹ năng chuyên môn cũng như kỹ năng mềm của điều dưỡng trong thời

gian tới

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng,

hộ sinh tại Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương năm 2019

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng, hộ sinh tại Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn, tỉnh Hải

Dương năm 2019

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm

Vết thương: Là dạng thương tổn khi da bị rách, cắt hoặc đâm thủng (vết

thương hở) hoặc bị tác động bởi một lực gây ra chấn thương (vết thương đóng)

Trong bệnh lý, nó được xem là vết thương mạnh gây tổn hại lớp biểu bì da [7]

Phân loại vết thương

* Theo cơ chế vết thương

– Vết thương do rạch: do dụng cụ sắc, bén, nhọn, có tổn thương giải phẫu như đứt cơ, mạch máu… nhưng nguy cơ chính là nhiễm khuẩn [7]

– Vết thương bầm giập: do vật tù, đặc trưng như tổn thương phần mềm có chảy máu, tổn thương giải phẫu nhiều, sưng, nhiễm trùng, có nhiều mô giập nát [7]

– Vết thương rách nát: là vết thương bờ lởm chởm không đều, tổn thương giải phẫu nhiều, nhiễm trùng tăng cao, lành vết thương chậm và sẹo xấu [7]

– Vết thương thủng: do dao đâm, đạn bắn, lỗ vào nhỏ nhưng lỗ ra lớn và tổn thương giải phẫu nhiều [7]

* Theo mức độ nhiễm khuẩn

– Vết thương sạch: là vết thương ngoại khoa không bị nhiễm khuẩn Vết thương không nằm trong vùng của hô hấp, bài tiết, sinh dục, tiết niệu [7]

– Vết thương sạch nhiễm: là vết thương nằm trong vùng của hô hấp, bài tiết, sinh dục, tiết niệu nhưng có sự kiểm soát nhiễm trùng, vết thương không có dấu hiệu nhiễm khuẩn [7]

– Vết thương nhiễm: vết thương nhiễm khuẩn, vết thương do tai nạn, vết thương trên vùng có nhiễm khuẩn trước mổ Ví dụ: viêm phúc mạc, chấn thương ruột…[7]

– Vết thương bẩn: vết thương có mủ và có nguồn gốc bẩn trước [7]

* Theo nguyên nhân

- Phẫu thuật: do vết rạch hay cắt lọc

- Chấn thương: do cơ học, do nhiệt độ, do hoá chất [7]

Trang 14

* Theo thời gian

– Vết thương cấp tính: là vết thương do chấn thương, do phẫu thuật Chăm sóc vết thương cấp tính với môi trường tốt thì khả năng lành vết thương sau 4 –

14 ngày Vết thương cấp tính thường nhiễm khuẩn, chảy máu, vết thương nứt nẻ, vết thương hở, rò sẽ có nguy cơ chậm lành vết thương [7]

– Vết thương mạn tính: loét do nằm lâu, bàn chân tiểu đường, rò vết thương

do lao thường kéo dài thời gian lành vết thương Nguyên nhân chậm lành vết thương do tiểu đường, tuần hoàn kém, tình trạng dinh dưỡng kém, giảm sức đề kháng [7]

– Vết thương mạn tính thường có nhiều mô hoại tử, vì thế việc điều trị thường kèm theo cắt lọc vết thương và chăm sóc tốt [7]

* Tại Trung tâm: Trong thực tế tại Trung tâm tiếp nhận và điều trị người

bệnh có thủ thuật thay băng vết thương đối với người bệnh sau phẫu thuật, người bệnh có vết thương, mỗi loại có một biểu hiện tính chất khác nhau Ta có thể chia ra các loại sau:

- Vết thương sạch: Là vết thương không nhiễm khuẩn, trong vết thương sạch

ta lại chia làm 2 loại:

+ Vết thương mới khâu biểu hiện:

Nếu là vết thương cũ thì có tổ chức hạt phát triển tốt

- Vết thương nhiễm khuẩn: Cũng chia làm 2 loại:

+ Vết thương khâu

Biểu hiện: sưng tấy, đỏ xung quanh vết thương và chân chỉ

Trang 15

Bệnh nhân có các triệu trứng nhiễm khuẩn: Tại chỗ có biểu hiện sưng, nóng,

đỏ, đau; Toàn thân thường có sốt [28]

+ Vết thương không khâu: Có biểu hiện: Xung quanh tấy đỏ, trong vết thương có nhiều mủ, hoặc có tổ chức hoại tử, thối [28]

Nhiễm khuẩn

Nhiễm khuẩn: là sự tăng sinh của các vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng dẫn tới phản ứng tế bào, tổ chức hoặc toàn thân, thông thường biểu hiện trên lâm sàng là một hội chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc[5]

Nhiễm khuẩn bệnh viện

Theo Tổ chức Y tế thế giới nhiễm khuẩn bệnh viện được định nghĩa là những nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian người bệnh (NB) điều trị tại bệnh viện và nhiễm khuẩn này không hiện diện cũng như không nằm trong giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện Nhiễm khuẩn bệnh viện thường xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi

người bệnh nhập viện [4], [5]

Nhiễm khuẩn vết thương

Nhiễm khuẩn vết thương xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập vào da Nhiễm khuẩn

có thể chỉ liên quan đến da hoặc ảnh hưởng đến các mô hoặc cơ quan sâu hơn gần vết thương [8]

Các biến chứng của vết thương bị nhiễm khuẩn có thể thay đổi phạm vi từ tại chỗ đến toàn thân Các biến chứng tại chỗ nghiêm trọng nhất của một vết thương bị nhiễm khuẩn là vết thương chậm lành dẫn đến không lành được Điều này thường gây đau đớn, khó chịu và ảnh hưởng xấu đến tâm lý cho bệnh nhân Các biến chứng toàn thân có thể bao gồm viêm mô tế bào (nhiễm khuẩn da hoặc dưới da), viêm tủy xương (nhiễm trùng xương hoặc tủy xương) hoặc nhiễm khuẩn huyết (sự hiện diện của vi khuẩn trong máu có thể dẫn đến tình trạng viêm toàn thân) [8]

1.2 Quy trình thay băng vết thương (TBVT) tại Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn

Quy trình TBVT là công việc làm sạch vết thương, ngăn ngừa nhiễm khuẩn

và làm vết thương chóng lành cho NB [7], [28]

1.2.1 Mục đích

Trang 16

- Đánh giá mức độ tổn thương, tiến triển của vết thương

- Rửa, thấm hút dịch, cắt lọc tổ chức hoại tử, đắp thuốc vào vết thương

- Phòng ngừa nhiễm khuẩn thứ phát

- Tạo điều kiện tốt nhất để vết thương nhanh chóng hồi phục [7], [28]

1.2.2 Chỉ định

- NB sau phẫu thuật, NB có vết thương

- Vết thương bị sưng tấy, đỏ và dính dịch tiết

- Vết thương được tạo ra trong điều kiện không vô khuẩn như: tai nạn giao thông, tai nạn nghề nghiệp,… [7], [28]

1.2.3 Bảng các bước của quy trình TBVT

thực hiện

Thời gian

1

Chuẩn bị người bệnh (NB):

- - Thực hiện 5 đúng

- - Khai thác tiền sử dị ứng

- - Thông báo và giải thích cho

NB về công việc sắp tiến hành

Điều dưỡng,

hộ sinh

5 phút

2

Chuẩn bị nhân viên y tế:

- ĐD, HS mặc đúng trang phục

y tế, đội mũ, đeo khẩu trang

- Rửa tay thường quy hoặc sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn

Điều dưỡng,

hộ sinh

- Dịch/thuốc thay băng: 1 lọ NaCl 0.9%, 1 lọ Povidone 10%

- Vật tư tiêu hao: Bông, băng, gạc, băng dính, túi nilon, tấm lót nilon

- Xô đựng chất thải: 02 chiếc màu vàng

- Hộp đựng dung dịch khử nhiễm: 01 hộp màu vàng

Điều dưỡng,

hộ sinh

5 phút

Chuẩn bị người bệnh

Chuẩn bị nhân viên y

tế

Chuẩn bị dụng cụ

Trang 17

- Điều dưỡng đi găng tay sạch

- Sắp xếp dụng cụ thuận tiện cho việc thay băng

- Trải tấm nilon lót dưới vùng thay băng

- Đặt khay quả đậu hoặc túi nilon đựng gạc bẩn

- Dùng tay hoặc pank không mấu nhẹ nhàng bóc băng bẩn tùy theo nhận định của vết thương, sau đó bỏ pank bẩn vào chậu có dung dịch khử nhiễm

- Đánh giá tình trạng vết thương và thông báo cho NB

- Điều dưỡng rửa tay thường quy hoặc sát khuẩn tay nhanh

- Rửa vết thương bằng nước muối sinh lý NaCl 0.9%

+ Dùng gạc củ ấu (bông) thấm nước muối bắt đầu chấm từ bờ mép vết thương theo hình xoáy trôn ốc ra ngoài (miết sát gạc

ấu vào da để lấy hết bẩn) theo:

* Phía đối diện

* Phía bên điều dưỡng

* Trực tiếp trên vết thương Lưu ý: Làm như vậy cho đến khi quan sát gạc củ ấu sạch Rửa đến khi sạch

- Sát khuẩn vết thương bằng Povidone, kỹ thuật như rửa vết thương bằng nước muối sinh lý(tùy theo tình trạng vết thương mà thay pank hay không, giữa các thì phải thay gạc củ ấu mới)

- Thấm khô Povidone

- Đặt miếng gạc vô khuẩn lên trên vết thương, băng kín bằng băng dính hay băng cuộn

- Cho NB nằm tư thế thoải mái

dưỡng,

hộ sinh

phút

Thu dọn dụng

cụ và ghi chép

Trang 18

hồ sơ bệnh án

- Phân loại và thu gom chất

thải đúng quy định

- Tháo bỏ găng tay, rửa tay

thường quy hoặc sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn

- Ghi chép hồ sơ bệnh án:

Ghi trong phiếu chăm sóc của điều dưỡng: Ngày giờ làm thủ thuật, tình trạng cụ thể của vết thương (số lượng dịch, màu sắc, tính chất) và ký tên người thay băng

dưỡng,

hộ sinh

1.2.4 Nguyên tắc thực hiện quy trình thay băng vết thương

Trong thực hiện các quy trình kỹ thuật việc tuân thủ từng thao tác trong từng bước của quy trình là rất quan trọng Trong quy trình TBVT tuân thủ quy trình là rất cần thiết, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự lành vết thương, sự tiến triển vết thương của NB Để phòng tránh các biến chứng vết thương người điều dưỡng (ĐD), hộ sinh (HS) khi thực hiện quy trìnhTBVT cần lưu ý:

- Tại chỗ: Thẩm định thường xuyên các dấu hiệu nhiễm khuẩn vết thương như màu sắc niêm mạc tái, nhiều mủ trên vết thương, có mùi hôi hơn, có mô hoại tử nhiều hơn Để đẩy nhanh quá trình lành vết thương, ĐD phải áp dụng thay băng đúng kỹ thuật vô khuẩn, dẫn lưu mủ tốt, lấy hết dị vật, cắt lọc mô hoại tử theo y lệnh Nhận định tình trạng vết thương trước khi thay băng ĐD cần nhẹ nhàng khi tháo băng, cần làm ướt băng trước khi tháo để tránh tạo vết thương mới Chọn dung dịch và sử dụng dung dịch thích hợp, thực hiện y lệnh về dung dịch rửa nếu có Không làm chảy máu khi thay băng Khi rửa vết thương tránh để lại dị vật trên vết thương như: gòn, chỉ, bột phấn vì nếu còn sót lại ở vết thương thì chính chúng cản trở sự lành vết thương Cách băng vết thương cũng ảnh hưởng đến tình trạng vết thương như nếu băng chặt làm máu tới nuôi kém, nếu băng quá hẹp cho phép vi

khuẩn xâm nhập vào vết thương [11]

Trang 19

- Toàn thân: NB cần được cung cấp nhiều chất dinh dưỡng

Theo dõi nhiệt độ để đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn của NB Stress cũng làm chậm lành vết thương, vì thế ĐD giúp người bệnh thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý Thực hiện thuốc giảm đau khi cần thiết, tránh làm người bệnh đau khi thay băng Thực hiện kháng sinh theo y lệnh Cần theo dõi tác dụng phụ thuốc steroid, thuốc kháng đông, kháng sinh phổ rộng, chống ung thư là những thuốc làm chậm lành vết thương Giáo dục hướng dẫn người bệnh tự chăm sóc vết thương Vệ sinh cá nhân

sạch sẽ, nhất là vùng da gần vết thương [11]

- Thực hiện đảm bảo vô trùng tuyệt đối trong từng thao tác kỹ thuật

- Áp dụng 1 khay dụng cụ thay băng vô khuẩn cho một bệnh nhân

- Chuẩn bị người bệnh chu đáo trước khi tiến hành thay băng vết thương, vô khuẩn triệt để dụng cụ, vật tư tiêu hao và tay thủ thuật viên

- Rửa vết thương theo chiều từ trên-xuống, trong – ngoài và rộng xung quanh vết thương 5cm

- Thứ tự rửa: vết thương vô trùng – vết thương sạch – vết thương nhiễm

- Che chở vết thương bằng gạc vô trùng, đảm bảo che kín rộng 5cm vùng ngoài vết thương Dùng băng dính hoặc băng cuộn băng cho gạc không bung

- Nếu vùng xung quanh vết thương có lông hoặc tóc cần cạo sạch

- Đảm bảo thời gian bộc lộ vết thương khi chăm sóc càng ngắn càng tốt

- Sau khi thay băng điều dưỡng phải ghi vào phiếu chăm sóc trong hồ sơ bệnh án tình trạng của vết thương, phương pháp xử trí, thuốc, dung dịch rửa đã sử dụng và ghi tên người thay băng [7], [11], [28]

1.2.5 Địa điểm thay băng vết thương

- TBVT được thực hiện riêng trong phòng thủ thuật của khoa Buồng TBVT phải đảm bảo các tiêu chuẩn: sạch sẽ, dễ lau rửa hàng ngày, thoáng khí, có đủ ánh sáng và thuận tiện cho việc tiệt khuẩn định kỳ

- Trong trường hợp người bệnh người bệnh không thể đến được phòng thay băng ta tiến hành thay băng cho người bệnh tại giường, trong trường hợp phải có bình phong che để kín đáo cho người bệnh [7], [11], [28]

Trang 20

1.2.6 Những vật tư tiêu hao làm bằng vải, gạc sử dụng trong TBVT

- Gạc miếng:

Gạc miếng được làm bằng vải gạc trắng (không hoặc ít hồ vải), có thể kết hợp với một lớp bông thấm nước mỏng ở giữa Sau khi tiệt khuẩn, gạc được sử dụng để đắp lên bề mặt vết thương đã rửa sạch, có tác dụng thấm hút dịch, máu, bảo

vệ vết thương Tùy theo yêu cầu của vết thương mà người ta tạo nên những miếng gạc có kích thước khác nhau để đảm bảo phát huy được hết tính năng tác dụng của miếng gạc và sử dụng tiện lợi

+ Gạc miếng có kích thước lớn:

Là những mảnh gạc có kích thước khoảng 30 x 40cm có thể gấp được 2 ÷ 3 lượt gạc lớn được sử dụng đắp lên các vết thương rộng, có nhiều dịch tiết (vết thương bỏng)

+ Gạc miếng có kích thước vừa:

Là loại gạc có kích thước vừa phải 15 x 20cm có thể gấp được 2 ÷ 3 lượt, được sử dụng đắp lên các vết thương vừa

+ Gạc miếng có kích thước nhỏ:

Là miếng gạc hình vuông, có kích thước nhỏ, chiều dài mỗi cạnh khoảng 5 x

10 cm được sử dụng đắp lên các vết thương nhỏ để thâm hút máu, dịch

- Gạc củ ấu:

Gạc củ ấu là gạc làm bằng vải màn (gạc) gấp thành những viên gạc nhỏ có hình như củ ấu gọi là gạc củ ấu Gạc củ ấu được sử dụng thấm hút dung dịch rửa, để rửa và làm sạch vết thương [7], [28]

1.2.7 Dung dịch rửa, sát khuẩn sử dụng trong TBVT

- Dung dịch rửa vết thương chuyên dụng là nước muối sinh lý 0.9%

Trang 21

- Dung dịch sát khuẩn vết thương hay dùng là loại povindin, là phức hợp của iốt với polyvilronlidon chứa 9 đến 12 iốt, dễ tan trong nước và cồn có tác dụng sát khuẩn vết thương [7], [28].

Trang 22

1.3 Thực trạng tuân thủ quy trình thay băng vết thương

1.3.1 Trên thế giới

Thay băng vết thương là một thủ thuật không những ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiến triển vết thương, kết quả điều trị mà còn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của NB Tại Anh có khoảng 11 triệu ca phẫu thuật hay các can thiệp y học được thực hiện mỗi năm trong đó Chi phí dành cho chăm sóc vết thương chiếm khoảng 3% tổng chi ngân sách cho dịch vụ y tế tương đương khoảng 2,3 đến 3,1 tỷ bảng Anh mỗi năm Đây là chi phí không bao gồm các chi phí không tính được như biến chứng, giảm đau hay trầm cảm cho NB [36]

Nghiên cứu tại Mỹ cho kết quả có khoảng hơn 5,7 triệu người có vết thương mãn tính mà có thể can thiệp được bởi nhân viên y tế nếu đánh giá, nhận định, chăm sóc, điều trị dựa trên thực tế lâm sàng của vết thương, bên cạnh đó còn có một số vết thương của người bệnh bị biến chứng nhiễm khuẩn, cắt cụt chi, loét do tỳ đè có thể được giảm thiểu nếu được tuân thủ đúng quy trình TBVT [39]

Thay băng vết thương được coi là một bước quan trọng trong việc phòng ngừa biến chứng nhiễm khuẩn vết thương (NKVT) Nhiều nghiên cứu không chỉ đánh giá tình trạng NKVT mà còn đánh giá tác động của con người về kiến thức thực hành thay băng của nhân viên y tế Trong quy trình TBVT việc nhận định vết thương có vai trò rất quan trọng, từ đó đánh giá được sự liền vết thương hoặc tiên lượng những biến chứng có thể xảy ra để chủ động trong việc phòng ngừa Tuy nhiên trên thực tế không phải nhân viên y tế nào cũng ý thức và tuân thủ đúng quy trình TBVT mà thường bỏ qua một số bước Năm 2012 Geraldine đã nghiên cứu với 150 đối tượng là điều dưỡng kết quả có đến 23,4% là không thực hiện bước nhận định vết thương [40] Sanjees Singh (2014) nghiên cứu trên1189 NB tại 10 bệnh viện của 6 thành phố Ấn Độ cho thấy NKVT chiếm từ 4.3% đến 8.35% theo từng loại phẫu thuật [49] Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có nhiều yếu tố liên quan đến NKVT, trong

đó nhấn mạnh vai trò quan trọng của tuân thủ quy trình TBVT của điều dưỡng và khuyến cáo cần nâng cao năng lực điều dưỡng trong tuân thủ thực hành TBVT [49]

Trang 23

Tornvall E và Wilhelmsson S qua phỏng vấn người bệnh có vết loét ở chân cho thấy người bệnh đánh giá chất lượng chăm sóc vết thương củađiều dưỡng rất cao, tuy nhiên người bệnh cho rằng họ cần được chăm sóc liên tục và giảm đau tốt hơn khi thực hiện thay băng [53]

Tại Canada qua nghiên cứu của HuynhT cho thấy tầm quan trọng của điều dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự liền vết thương và cần tuân thủ vô khuẩn trong TBVT [48] Theo tác giả Irena.Gribovskaja-Rupp chăm sóc da tại chỗ đã có biến chứng viêm nhiễm khuẩn là một khâu quan trọng góp phần thành công quá trình điều trị biến chứng NKVT thông qua việc nhận định tổn thương da, nguyên nhân từ

đó lập kế hoạch chăm sóc cụ thể [54]

1.3.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam trong công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân ĐD, HS có vai trò nhất định Để có thể làm tốt công việc đó cũng như nâng cao chất lượng chăm sóc NB thì những kỹ năng đưa ra quyết định, tự tin, không ngừng học tập để trau dồi năng lực chuyên môn của điều dưỡng không thể thiếu [18] Tác giả Phan Thị Dung từ năm 2013 đến năm 2016 nghiên cứu tại Bệnh viện Việt Đức cho thấy thực hành thay băng chưa đảm bảo chất lượng do điều dưỡng chưa có quy trình chuẩn về quy trình thay băng từ đó đề xuất đưa ra khung đào tạo theo năng lực để nâng cao chất lượng chăm sóc vết thương trong đó có tuân thủ quy trình TBVT [10]

Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Nhâm (1999) cho thấy việc quản lý tuân thủ thực hiện quy trình TBVT đóng một vai trò rất quan trọng cũng như việc nâng cao kiến thức chẩn đoán, điều trị, sử dụng kháng sinh hợp lý [20]

Điều dưỡng khi tiến hành thay băng sẽ kết hợp giữa kiến thức chuyên môn

và kinh nghiệm khi sử dụng các dụng cụ, vật tư tiêu hao trong TBVT như gạc miếng, băng cuộn, các dung dịch rửa, dung dịch sát khuẩn tạo điều kiện liền thương thuận lợi cho quá trình liền thương [54]

Đối với NB có vết thương thì thủ thuật TBVT chiếm một phần rất quan trọng đối với kết quả điều trị của người bệnh Vì vậy tuân thủ quy trình TBVT là nhiệm

vụ của ĐD, HS góp phần vào kết quả điều trị NB sau phẫu thuật, NB có vết thương Thông qua TBVT người ĐD, HS nhận định được quá trình liền vết thương Trong

Trang 24

trường hợp vết thương bị thấm dịch nhiều có thể tiến hành thay băng nhiều hơn 1 lần/ngày tùy theo từng trường hợp cụ thể của người bệnh [11]

Theo nghiên cứu của Lê Minh Luân (2006) tại Bệnh viện Việt Đức về phẫu thuật tiêu hóa cho thấy tỷ lệ NKVT sau mổ là 6,5% trong đó có 39,3% NKVT sâu

và 54.5% là NKVT nông [17] Sau đó Bệnh viện Việt Đức cùng với sự giúp đỡ của

tổ chức JICA Nhật Bản đã tiến hành đánh giá tỷ lệ NKVT qua 1004 bệnh nhân cho kết quả tỷ lệ NKVT chung là 8,5% trong đó có 35,3% là NKVT sâu, 64,7% là NKVT nông [24]

Một số nghiên cứu khác về NKVT cho kết quả tương đồng Nghiên cứu của Tống Vĩnh Phú trên 456 bệnh nhân sau phẫu thuật tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định có 10,1% bệnh nhân NKVT sau mổ [22] Nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Ninh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định ở khoa Ngoại thần kinh thì tỷ lệ này là 6.3% [21] Theo báo cáo của Cao Văn Vinh tại Bệnh viện Thanh Nhàn tỷ lệ NKVT sau mổ là 5,5% [34] Nghiên cứu của Đặng Hồng Thanh trên 500 người bệnh tại khoa ngoại có phẫu thuật tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình có 5.1% có NKVT [30] Tại Bạch Mai qua nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng tìm hiểu về một số nguy

cơ nhiễm khuẩn bệnh viện liên quan đến phẫu thuật từ đó có các biện pháp để giảm

tỷ lệ NKVT như cải tiến qui trình chăm sóc NB cũng như cơ sở vật chất [13]

Trong một nghiên cứu khác của Lê Đại Thanh và cộng sự tại Bệnh viện đa khoa Chương Mỹ về tuân thủ quy trình TBVT qua quan sát trực tiếp 200 lần thực hành quy trình TBVT với 30 tiêu chí cho thấy không có lần nào ĐD thực hiện đúng 100% các tiêu chí trong quy trình TBVT, thực hiện đúng > 90% tiêu chí đạt 77.5%

và 22.5% số lần thực hiện đúng gần 80% các tiêu chí đưa ra Trong các bước của quy trình đặc biệt bước tiến hành rửa tay thường quy hoặc sát khuẩn tay nhanh lần

2 trước khi tiến hành kỹ thuật TBVT thì 100% không thực hiện đúng, đủ và có 10% không thực hiện rửa tay sau khi kết thúc quy trình[31]

Nghiên cứu đánh giá tuân thủ quy trình TBVT của Đỗ Hương Thu và cộng

sự được thực hiện quan sát trên 200 lần thực hành quy trình TBVT kết quả: thực hành đúng toàn bộ các tiêu chí đánh giá quy trình thay băng đạt 77.9%; có 90% thực hành đúng >80% các tiêu chí đánh giá, 10% thực hành đúng từ 70-80% các

Trang 25

tiêu chí đánh giá, và 1,5% thực hành đúng <70% các tiêu chí đánh giá quy trình thay băng [32]

Theo báo cáo hàng năm của Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn số bệnh nhân phẫu thuật tăng lên đáng kể, từ 1066 ca năm 2016 lên đến 1210 ca năm 2018, bệnh nhân có thực hiện thủ thuật TBVT tăng từ 2982 ca năm 2016 lên 5840 ca năm 2018 [27]

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình TBVT

Theo nhiều nghiên cứu của các tác giả về kiến thức, kỹ năng, thực hành chăm sóc điều dưỡng cũng như tuân thủ quy trình TBVT có một số yếu tố tác động hoặc ảnh hưởng như: tuổi, giới tính, thâm niên công tác, trình độ chuyên môn, công tác kiểm tra, giám sát, các văn bản hướng dẫn quy trình, hình thức khen thưởng, kỷ luật…có thể kể đến như sau:

* Giới tính

Ở nước ta ngành điều dưỡng đặc thù đa số là nữ, tuy nhiên nếu so sánh với cùng một môi trường làm việc kết quả cho thấy điều dưỡng nam làm việc hiệu quả hơn Nghiên cứu về kiến thức kiểm soát nhiễm khuẩn tại phòng mổ của Angelillo của điều dưỡng nam giới là cao hơn nữ giới [37] Tác giả Mohammad YNSaleh et

al (2012) tiến hành nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành về chăm sóc vết thương do tỳ đè, kết quả cho thấy điều dưỡng nam có điểm kiến thức và thực hành cao hơn so với điều dưỡng nữ, nhưng điều dưỡng nữ có điểm dự định cao hơn [50]

* Thâm niên công tác

Về thâm niên công tác cũng là một yếu tố có tác động đến chất lượng chăm sóc của điều dưỡng Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, điều dưỡng có nhiều năm kinh nghiệm thực hành kỹ thuật thay băng trong chăm sóc vết thương tốt hơn so với nhóm điều dưỡng ít năm kinh nghiệm Theo Hadcock (2002), có một số lượng lớn điều dưỡng có kiến thức về chăm sóc vết thương, đặc biệt là các điều dưỡng lâu năm có nhiều kinh nghiệm tốt hơn không chỉ lĩnh vực chăm sóc vết thương [38] Hassan H và cộng sự (2009) khi tiến hành nghiên cứu nhận thức của 92 điều dưỡng

về những thiếu sót trong thực hiện thuốc ở Malaysia kết quả có 93.75% điều dưỡng

Trang 26

cho rằng thiếu sót thường xảy ra trong 5 năm làm việc đầu tiên của họ, những nhóm

có thâm niên làm việc lâu hơn có kiến thức cải thiện [51]

Nhưng trong nghiên cứu của Williamson và Gupta lại chỉ ra điều ngược lại, những nhân viên có số năm công tác >10 năm lại thực hành về ngăn ngừa nhiễm khuẩn vết

mổ kém hơn nhóm mới làm việc, tác giả nhận định có thể do nhân viên cũ hay chủ quan và ảnh hương gia đình làm họ sao nhãng công việc [41] Một nghiên cứu khác của Pancorbo lại cho thấy không có mối liên quan giữa số năm công tác và thực hành lâm sàng của điều dưỡng [44]

* Trình độ chuyên môn

Trình độ đào tạo đóng vai trò quan trọng trong thực hành các quy trình kỹ thuật của điều dưỡng nói chung và quy trình TBVT nói riêng Trong nghiên cứu Williamson và Gupta (2001)cho thấy điều dưỡng có trình độ đại học thì có kiến thức và thực hành chăm sóc tốt hơn so với nhóm trình độ cao đẳng [41] Tác giả Phan Thị Dung đã nghiên cứu qua can thiệp 9 tháng sau đào tạo cho điều dưỡng tại bệnh viện Việt Đức cho thấy trình độ và kiến thức về TBVT của điều dưỡng được cải thiện rõ rệt [10]

* Tuổi

Không chỉ trong ngành y tế mà trong nhiều ngành nghề khác cho thấy tuổi có thể ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả công việc Nghiên cứu của Ngô Thị Huyền tại Bệnh viện Việt Đức (2012) đã cho kết luận tuổi của điều dưỡng càng cao thì tỷ lệ TBVT đạt các tiêu chí trong quy trình càng cao [15]

Tuy chưa có nghiên cứu nào chỉ ra cụ thể mối liên quan giữa thực hiện đúng quy trình thay băng với tình trạng NKVM, nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu tuân thủ đúng quy trình chăm sóc vết thương chuẩn (trong đó có thực hiện quy trình thay băng) thì tỷ lệ NKVM sẽ giảm hơn rõ rệt Kết quả nghiên cứu của Parver 25% nhiễm khuẩn vết mổ có thể ngăn ngừa được trong quá trình chăm sóc NB của điều dưỡng, đối với vết thương của người bị bỏng giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn và làm quá trình liền thương tốt hơn nếu vết thương được rửa hàng ngày [45]

Trang 27

Nghiên cứu tại India khi đánh giá kiến thức và thực hành về chăm sóc vết thương mãn tính chỉ ra rằng điểm kiến thức của điều dưỡng đạt 73% trong khi đó thực hành chỉ đạt 63%, như vậy giữa kiến thức và thực hành có mối liên quan tỷ lệ nghịch [41] Một nghiên cứu khác của Mc Fadden năm 1994 số điều dưỡng thực hành sai quy trình TBVT lên tới 85% do họ khó áp dụng kiến thức vào thực tế lâm sàng [36]

Nhiều nghiên cứu chứng minh về mối liên quan giữa thực hành và kiến thức của điều dưỡng Theo nghiên cứu của Chizoma M Ndikom về kiến thức và hành vi của điều dưỡng, hộ sinh trong phòng ngừa HIV cho thấy kiến thức có liên quan đến hành vi [42] Trong khi đó nghiên cứu của Haumuan Kabir tại Banglades năm 2010 lại chỉ ra kiến thức và thực hành trong ngăn ngừa nhiễm khuẩn vết mổ có mối tương quan rất yếu [46] Nghiên cứu khác của Mbanya DN trên 107 điều dưỡng về kiến thức, thái độ và thực hành và cho kết quả kiến thức không có mối liên quan với thái

độ và hành vi của họ [35] Kết quả nghiên cứu của Winterstein A.G và cộng sự (2004) cho biết nguyên nhân chính dẫn đến những thiếu sót trong việc chăm sóc người bệnh, chăm sóc vết thương cũng như tuân thủ quy trình TBVT là do thiếu kiến thức (39%) [52]

* Trang thiết bị, dụng cụ

Trong TBVT các sản phẩm sử dụng trong quy trình TBVT cũng rất quan trọng Tính sẵn có của từng vật tư y tế, dụng cụ cũng ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình TBVT [8] TBVT còn giúp đánh giá sự phù hợp của từng loại băng, gạc với vết thương, để từ đó có các sản phẩm sử dụng trong quy trình TBVT hợp lý góp

Trang 28

phần nâng cao chất lượng điều trị Ngoài việc sử dụng các loại băng, gạc vô khuẩn trong khi TBVT, hiện nay có sáng kiến, cải tiến các sản phẩm khác như dùng tăm bông để rửa vết thương Trong nghiên cứu của Tạ Thanh Thủy đã tiến hành so sánh hiệu quả của quy trình TBVT thông thường dùng bông, gạc, cồn với hiệu quả của

sử dụng tăm bông cho thấy sử dụng tăm bông tiết kiệm được thời gian từ 3.04 phút nếu sử dụng dụng cụ thông thường xuống còn 2.23 phút khi sử dụng tăm bông và thời gian xử lý dụng cụ khi dùng phương pháp thông thường là 1.45 phút còn sử dụng tăm bông không mất chi phí xử lý dụng cụ Và sử dụng tăm bông cũng rất thuận tiện đối với nhân viên y tế khi phải TBVT ở bất kỳ vị trí nào và số lượng người bệnh tăng đột ngột [33]

* Các văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế, quy định, quy trình của Trung tâm về quy trình thay băng vết thương đã triển khai thực hiện tại Trung tâm Y

tế huyện Kinh Môn

- Hướng dẫn quy trình chăm sóc người bệnh tập II ban hành kèm theo Quyết định số 1108/2004/QĐ-BYT ngày 29 tháng 03 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Y tế gồm 11 chương có 187 quy trình để đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng chăm sóc

và điều trị cho người bệnh, hạn chế sai sót xảy ra trong quá trình chăm sóc phục vụ người bệnh

- Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 năm 2011 hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong các bệnh viện

- Quy trình kỹ thuật thay băng vết thương ban hành kèm theo Quyết định số 118/2014/QĐ-BV ngày 10 tháng 03 năm 2014 của Bệnh viện đa khoa huyện Kinh Môn

- Quy trình kỹ thuật thay băng vết thương cùng bảng kiểm quy trình TBVT ban hành kèm theo Quyết định 486/2018/QĐ-TTYT ngày 28/10/2018 của Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn

* Đào tạo, tập huấn

Nghiên cứu của Phan Thị Dung tại Bệnh viện Việt Đức về nâng cao chuẩn năng lực điều dưỡng cho thấy việc đào tạo cần thường xuyên bên cạnh thay đổi hành vi và sự tuân thủ quy trình đóng vai trò quan trọng trong TBVT Việc tập

Trang 29

huấn, đào tạo so sánh sau can thiệp 6 tháng và 9 tháng thấy rõ trình độ của điều dưỡng được nâng cao rõ rệt sau tham dự các buổi tập huấn [12]

1.5 Giới thiệu chung về Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn

Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn được thành lập theo Quyết định số 1997/QĐ-TTYT ngày 20/6/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương trên cơ sở sáp nhập Bệnh viện đa khoa huyện, Trung tâm Y tế huyện, Bệnh viện đa khoa khu vực Nhị Chiểu và Trung tâm Dân số- Kế hoạch hóa gia đình huyện Kinh Môn Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn hoạt động theo mô hình mới từ ngày 01/9/2018

Trung tâm được giao chỉ tiêu 255 giường bệnh kế hoạch, thực kê 365 giường Trong đó, tại trụ sở chính 175 giường kế hoạch, 265 giường thực kê; tại Cơ

sở 2 Nhị Chiểu 80 giường kế hoạch, 100 giường thực kê

* Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Y tế gồm: 03 phòng chức năng; 13 khoa chuyên môn; 25 trạm y tế xã, thị trấn

* Một số hoạt động chuyên môn tại trụ sở chính của Trung tâm

Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu chuyên môn tại trụ sở chính của Trung tâm

Tổng số bệnh nhân điều trị nội

Tổng số ngày điều trị nội trú Ngày 74153 75086 63.423 Công suất sử dụng giường

Trang 30

Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn là một trung tâm chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong huyện và các vùng lân cận Trung tâm đã phát triển nhiều kỹ thuật mới đặc biệt các kỹ thuật mũi nhọn chuyên ngành ngoại - sản Điều trị ngoại khoa, sản khoa là thế mạnh của Trung tâm, ngoài việc khám và điều trị ngoại khoa, sản khoa thông thường trong điều trị Trung tâm đã mạnh dạn áp dụng và triển khai các danh mục kỹ thuật mới như phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa, phẫu thuật nội soi cắt chửa ngoài tử cung…các kỹ thuật đã mang lại niềm tin và hạnh phúc cho nhiều người bệnh, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng tăng cao Chỉ tính riêng năm 2017 tổng số ca mổ là 1099 ca, số thủ thuật có thay băng vết thương 3270 ca đến năm 2018 tổng số ca mổ là 1210, số thủ thuật có thay băng là 5840 [26] Do đó chăm sóc người bệnh có vết thương, người bệnh sau phẫu thuật là một lĩnh vực rất được quan tâm đặc biệt là thay băng vết thương Do đặc thù của ngành ngoại - sản, người bệnh được phẫu thuật theo bất kỳ một hình nào từ mổ nội soi cho đến mổ mở,

mổ phiên hay mổ cấp cứu thì người bệnh đều có vết mổ trên cơ thể

Bên cạnh việc điều trị và theo dõi người bệnh thì vấn đề chăm sóc vết thương trong đó có thay băng vết thương cũng cần phải được quan tâm chú ý Thay băng vết thương hàng ngày đúng cách sẽ giúp vết thương nhanh liền, tránh nhiễm khuẩn

và hoại tử, từ đó góp phần cải thiện chất lượng điều trị, làm giảm số ngày nằm viện giúp giảm chi phí cho NB

Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn có 13 khoa chuyên môn, tuy nhiên do đặc thù mô hình bệnh tật của mỗi khoa khác nhau nên đa số chỉ có khoa Ngoại tổng hợp

và khoa Phụ sản thực hiện thay băng vết thương Hệ Ngoại – Sản của trung tâm với tổng số nhân lực là 91, trong đó có 13 bác sỹ, 75 điều dưỡng, hộ sinh và 2 nhân viên khác phụ trách toàn bộ thủ thuật thay băng vết thương chung của toàn Trung tâm Tại Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn những người bệnh có sử dụng dịch vụ thay băng vết thương được áp dụng bảng kiểm quy trình thay băng vết thương từ năm 2012, Trung tâm đã xây dựng và triển khai quy định đảm bảo an toàn người bệnh trong đó có thực hiện đúng các quy trình kỹ thuật nói chung và quy trình thay băng vết thương nói riêng, nhưng bảng kiểm áp dụng hoàn toàn của Bộ Y tế, tuy nhiên việc thực hiện đối với cán bộ là nghĩa vụ, nhân viên trong khoa chưa hiểu

Trang 31

được tầm quan trọng của việc áp dụng này nhằm đảm bảo an toàn chuyên môn trong điều trị để hạn chế những sự cố có thể xảy ra, việc giám sát quá trình thực hiện quy trình này còn hạn chế, và chưa có chế tài trong việc tuân thủ quy trình này

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại đây để đánh giá thực trạng và một số yếu

tố ảnh hưởng đến thay băng vết thương

Trang 32

1.6 Khung lý thuyết

Khung lý thuyết tìm hiểu thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng, hộ sinh được xây dựng dựa trên quy trình thay băng vết thương của Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn và Hướng dẫn quy trình chăm sóc người bệnh tập 2 ban hành theo Quyết định số 1108/2004/QĐ-BYT ngày 29/03/2004 của Bộ Y tế [2], [28], [29] cũng như từ kết quả của một số nghiên cứu về thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng, hộ sinh trong nước và trên thế giới

- Đào tạo, tập huấn

- Giám sát, kiểm tra

- Công tác khen

thưởng, xử phạt

- Tài liệu hướng

dẫn của Trung tâm

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Cấu phần định lượng

Tất cả điều dưỡng (ĐD), hộ sinh (HS) trực tiếp thực hiện quy trình TBVT tại

2 khoa Ngoại tổng hợp và Phụ sản của Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn năm 2019

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

- ĐD, HS trực tiếp thực hiện quy trình TBVT

- ĐD, HS đã được ký hợp đồng lao động

- ĐD, HS đồng ý tham gia nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- ĐD, HS không trực tiếp thực hiện quy trình TBVT

- Các ĐD, HS không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Các ĐD, HS không có mặt tại các khoa được chọn trong khoảng thời gian thu thập số liệu của nghiên cứu

2.1.2 Cấu phần định tính

+ Lãnh đạo của Trung tâm, Điều dưỡng trưởng Trung tâm

+ Lãnh đạo quản lý các khoa, bộ phận có liên quan: Ngoại tổng hợp, khoa Phụ Sản, khoa Dược, khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, tổ Quản lý chất lượng

✓ Tiêu chuẩn lựa chọn: Đối tượng tham gia là các nhà quản lý nhằm bổ sung thông tin lý giải cho thực trạng tuân thủ quy trình TBVT và tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ quy trình TBVT, tranh thủ những ý kiến giải pháp cho hoạt động TBVT trong thời gian tiếp theo, đồng ý tham gia nghiên cứu

✓ Tiêu chuẩn loại trừ: là những người không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2019 đến tháng 8/2019

Trang 34

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Tại khoa Ngoại tổng hợp, khoa Phụ Sản của Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính

Cấu phần nghiên cứu định lượng nhằm đáp ứng mục tiêu 1 Nghiên cứu định tính được tiến hành sau nghiên cứu định lượng, nhằm bổ sung kết quả định lượng và đáp ứng mục tiêu 2

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cấu phần định lượng

- Chọn toàn bộ các ĐD, HS trực tiếp thực hiện quy trình TBVT tại khoa Ngoại tổng hợp, khoa Phụ sản trong thời gian từ tháng 4/2019 đến tháng 6/2019 Tổng số có 68

ĐD, HS đáp ứng tiêu chí chọn mẫu

- Tiến hành quan sát ngẫu nhiên mỗi ĐD, HS thực hiện 3 lần TBVT để tăng

độ tin cậy, giảm sai số và tham khảo nghiên cứu khác [12], [19] Như vậy số đã quan sát trực tiếp quy trình TBVT là: 68 x 3 = 204 (lần thực hiện quy trình TBVT)

2.4.2 Nghiên cứu định tính :

Sau khi có kết quả sơ bộ quan sát thực hiện quy trình TBVT của ĐD, HS chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) có chủ đích bao gồm:

* Lựa chọn chủ đích các đối tượng để phỏng vấn sâu 09 cuộc sau đây:

+ Lãnh đạo của Trung tâm phụ trách công tác điều dưỡng: 01

+ Điều dưỡng trưởng Trung tâm: 01

+ Trưởng khoa Ngoại tổng hợp và khoa Phụ sản: 02

+ Trưởng khoa Dược và khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn: 02

+ Tổ trưởng tổ Quản lý chất lượng: 01

+ Điều dưỡng trưởng (ĐDT) khoa Ngoại tổng hợp và ĐDT khoa Phụ sản: 02

* TLN có chủ đích với 2 cuộc cho 2 nhóm:

Trang 35

+ 01 cuộc cho: 06 đối tượng gồm 03 ĐD khoa Ngoại tổng hợp, 03 HS khoa

Phụ sản thuộc nhóm có tuân thủ đúng (Đối tượng chọn là những người có điểm thực hành lấy từ cao nhất trở xuống ở mỗi khoa cho đến đủ 03 người)

+ 01 cuộc cho: 06 đối tượng gồm 03 ĐD khoa Ngoại tổng hợp, 03 HS khoa Phụ sản thuộc nhóm tuân thủ không đúng (Đối tượng chọn là những người có điểm thực hành lấy từ thấp nhất trở lên ở mỗi khoa cho đến đủ 03 người)

Mục đích của PVS và TLN nhằm bổ sung thông tin lý giải cho thực trạng tuân thủ quy trình TBVT đang diễn ra tại trung tâm và tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng tới công tác TBVT đồng thời tranh thủ những ý kiến giải pháp cho hoạt động TBVT trong thời gian tiếp theo

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Xây dựng bộ công cụ nghiên cứu

* Định lượng

- Xây dựng bảng kiểm quan sát thực hành quy trình TBVT dựa trên nội dung hướng dẫn quy trình chăm sóc của Bộ Y tế, Bảng kiểm kỹ thuật điều dưỡng cơ bản

của Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn [2], [28], [29] (xem chi tiết tại phụ lục 1)

Mỗi bảng kiểm sử dụng quan sát cho một lần TBVT Bảng kiểm có 29 bước chia ra làm 3 phần:

Phần 1: Trước thay băng (gồm 11 bước)

+ Chuẩn bị người bệnh (3 bước)

+ Chuẩn bị nhân viên y tế (2 bước)

+ Chuẩn bị dụng cụ (6 bước)

Phần 2: Trong thay băng (gồm 12 bước)

+ Tiến hành kỹ thuật (8 bước)

+ Rửa vết thương (4 bước)

Phần 3: Sau thay băng ( gồm 6 bước)

+ Thu dọn dụng cụ (5 bước)

+ Ghi chép hồ sơ bệnh án (1 bước)

- Thử nghiệm bộ công cụ: Sau khi xây dựng xong bộ công cụ tiến hành điều tra thử 09 ĐD, HS để kiểm tra tính phù hợp và khả thi của bộ công cụ trước khi tiến

Trang 36

hành thu thập số liệu Sau thử nghiệm, tiến hành đánh giá lại nội dung bộ công cụ

và điều chỉnh lại, sau đó in ra để tập huấn và thực hiện quan sát thu thập số liệu

* Định tính

Hướng dẫn nội dung PVS lãnh đạo Trung tâm (phụ lục 2), PVS trưởng khoa, điều dưỡng trưởng khoa Ngoại, khoa Phụ sản (phụ lục 3), PVS trưởng khoa Dược, khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn (phụ lục 4), TLN với nhóm ĐD, HS tuân thủ đúng (phụ lục 5), TLN với nhóm ĐD, HS tuân thủ không đúng (phụ lục 6) Với các câu hỏi tìm hiểu tầm quan trọng của việc thực hiện quy trình xem các bước kém tuân thủ là những bước nào (từ kết quả định lượng), lý do vì sao và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình TBVT của nhân viên y tế (công tác đào tạo, tập huấn, kiểm tra, giám sát, sự sẵn có của trang thiết bị); những biện pháp của trung tâm đã

áp dụng để thúc đầy NVYT tuân thủ quy trình TBVT

2.5.2 Tổ chức thu thập số liệu

- Thời gian 2 tháng từ tháng 04/2019 đến tháng 06/2019 trong giờ hành chính: sáng từ 7h00 đến 11h30; chiều từ 13h30 đến 17h00

- Địa điểm: Tại 2 khoa Ngoại tổng hợp và khoa Phụ sản

Thu thập số liệu định lượng

Thu thập thông tin cá nhân của

ĐTNC

Chọn điều tra viên

Tập huấn điều tra viên

Trang 37

Thu thập thông tin định lượng

Quan sát tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS được tiến hành quan sát kín bằng bảng kiểm

Bước 1: Dựa vào danh sách ĐD, HS trực tiếp thực hiện quy trình TBVT do điều dưỡng trưởng 2 khoa lập lên, bao gồm họ tên, thời gian và lịch phân công công việc của các ĐD, HS, Điều tra viên (ĐTV) tiến hành thu thập thông tin cá nhân qua phòng Tổ chức – Hành chính, quan sát mỗi ĐD, HS thực hiện TBVT ĐTV sử dụng bảng kiểm quan sát để đánh giá thực hành quy trình thay băng của ĐD, HS và điền vào bảng kiểm đầy đủ các thông tin theo 29 tiêu chí đánh giá Mỗi ĐD, HS được tiến hành quan sát ngẫu nhiên 03 lần thay băng liên tiếp sau đó tổng hợp để điền vào

01 bảng kiểm, mỗi bảng kiểm sử dụng đánh giá 01 lần thay băng của 01 ĐD, HS ĐTV đứng ở vị trí phù hợp dễ quan sát, không ảnh hưởng đến việc thực hiện chuyên môn của NVYT Việc quan sát không được thông báo trước

Bước 2 : Chọn điều tra viên

- Số lượng : Nhóm ĐTV gồm 3 thành viên (nghiên cứu viên và 2 người trong

tổ Quản lý chất lượng) thực hiện quan sát tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS Nhóm ĐTV không nằm trong đối tượng nghiên cứu, có trình độ cử nhân đại học điều dưỡng và có kinh nghiệm trong lâm sàng nhiều năm đặc biệt là nắm chắc quy trình TBVT, đã từng tham gia nhiều vào công tác kiểm tra đánh giá tại Trung tâm nên có kiến thức và kỹ năng về điều tra

- Tập huấn cho ĐTV về nội dung bảng kiểm quan sát thực hành TBVT

+ Người tập huấn là nghiên cứu viên

+ Đối tượng tập huấn là ĐTV

+ Nội dung : Mục đích của cuộc điều tra, thống nhất với nhau cách đánh giá từng tiêu chí trong bảng kiểm quan sát thực hành để đảm bảo tính thống nhất, chính xác và khách quan

+ Hướng dẫn kỹ năng quan sát, các ĐTV được xem trước nội dung bảng kiểm quan sát và cần thảo luận nếu thấy có điểm nào chưa rõ để nghiên cứu viên giải thích thêm

Trang 38

ĐTV đứng ở vị trí phù hợp dễ quan sát, không ảnh hưởng đến việc thực hiện chuyên môn của nhân viên y tế Việc quan sát không được thông báo trước Chỉ có lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo khoa phòng và ĐTV biết mục đích, ĐD, HS không biết mình được quan sát

Sử dụng bảng kiểm quan sát (phụ lục 1) để đánh giá tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS, điền vào bảng kiểm đầy đủ 29 tiêu chí tương ứng với 29 bước Mỗi bảng kiểm sử dụng quan sát cho một lần thay băng

Hai ĐTV cùng quan sát một lần TBVT và đánh giá độc lập Sau mỗi lần

quan sát thay băng 2 ĐTV tiến hành đối chiếu số điểm và phải được thống nhất (số điểm chấm của 2 ĐTV không chênh lệch quá 10% tổng số điểm) Nếu trường hợp

không thống nhất được với nhau có thể thảo luận để thống nhất hay hủy kết quả đó tiến hành quan sát lại vào các thời điểm khác Thời điểm quan sát trong giờ hành

chính

Nghiên cứu viên thực hiện giám sát hỗ trợ các ĐTV trong suốt quá trình quan sát đồng thời kiểm tra sự phù hợp của các thông tin trong bảng kiểm từ ĐTV qua mỗi buổi điều tra Nếu thấy các thông tin có sự không phù hợp, nghiên cứu viên

sẽ gửi ngay thông tin lại cho ĐTV để tiến hành quan sát bổ sung Các ĐTV tiến hành quan sát cho đến khi thu thập đủ 3 lần thay băng trên một ĐD, HS như kế hoạch đề ra

Thu thập thông tin định tính

1 biên bản phỏng vấn riêng và được lưu giữ lại làm tài liệu thu thập được

Tác giả giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu rồi trực tiếp phỏng vấn sâu 9 đối tượng theo phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu, nội dung mỗi cuộc

Trang 39

phỏng vấn được bám sát trọng tâm vào chủ đề đã đề cập trong nghiên cứu Nội dung PVS được ghi âm, gỡ băng và phân tích theo chủ đề.Bộ công cụ: Phiếu hướng

dẫn phỏng vấn sâu: gồm các câu hỏi mở được xây dựng (phụ lục 2,3, 4)

2.6 Nhóm biến số chính

Nhóm biến số nghiên cứu định lượng

- Nhóm thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (tuổi, giới, trình độ chuyên

môn cao nhất, chuyên ngành đào tạo, thâm niên công tác)

- Tuân thủ phần 1 (trước khi thay băng) gồm 11 bước: Thực hiện 5 đúng, khai thác tiền sử dị ứng, thông báo và giải thích cho người bệnh về công việc sắp tiến hành, đội mũ đeo khẩu trang, thực hiện rửa tay thường quy hoặc sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn, xe thay băng, dụng cụ thay băng, dịch hoặc thuốc thay băng, vật tư tiêu hao, xô đựng chất thải, hộp đựng dung dịch khử nhiễm dụng

cụ

- Tuân thủ phần 2 (trong khi thay băng) gồm 12 bước: Điều dưỡng đi găng sạch, mở hộp dụng cụ sắp xếp các dụng cụ cần thiết, dặt bệnh nhân ở tư thế thích hợp, đặt tấm lót dưới vùng thay băng, đặt túi nilon nhỏ đựng băng bẩn vào vị trí thuận lợi, bóc băng bẩn bằng găng hoặc pice, đánh giá vết thương và thông báo tình trạng cho người bệnh, sát khuẩn tay nhanh, rửa bằng nước muối, sát khuẩn bằng betadin, thấm khô betadin, đặt gạc và băng lại vết thương

Trang 40

- Tuân thủ phần 3 (sau khi thay băng) gồm 6 bước: Ngâm toàn bộ dụng cụ vào dung dịch khử khuẩn, gập tấm lót nilon bỏ vào túi đựng gạc bẩn, buộc túi bẩn

bỏ vào thùng rác, đặt lại tư thế bệnh nhân thông báo cho bệnh nhân công việc đã xong, rửa tay thường quy hoặc sát khuẩn tay nhanh, ghi vào hồ sơ bệnh án phần phiếu chăm sóc

- Kiến thức của điều dưỡng, hộ sinh có ảnh hưởng gì đến việc tuân thủ quy trình thay băng vết thương

2 Nhóm yếu tố về

cơ sở vật chất

- Số lượng, chất lượng phương tiện, dụng cụ, vật tư y

tế (xe thay băng, bông, băng, gạc, kéo, dung dịch rửa, dung dịch sát khuẩn…), sự đáp ứng đầy đủ và sự sẵn

có trong chăm sóc NB có thay băng vết thương có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động thay băng vết thương

- Vai trò của khoa Dược – Kiểm soát nhiễm khuẩn – Trang thiết bị vật tư y tế có ảnh hưởng như thế nào đến sự tuân thủ quy trình thay băng vết thương của

điều dưỡng, hộ sinh?

3 Nhóm yếu tố về

quản lý, điều hành

- Quy trình, hướng dẫn, bảng kiểm thực hiện thay băng vết thương;

- Công tác đào tạo, tập huấn cho điều dưỡng, hộ sinh

- Công tác giám sát, kiểm tra của các cấp quản lý

Ngày đăng: 29/01/2021, 23:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Y tế (2004), Hướng dẫn quy trình chăm sóc người bệnh tập 2, ban hành theo Quyết định số 1108/2004/QD-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quy trình chăm sóc người bệnh tập 2
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2004
3. Bộ Y tế (2011), Thông tư 07/2011/TT-BYT hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư "07/2011/TT-BYT
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
4. Bộ Y tế (2012), Hướng dẫn phòng ngừa chuẩn trong các cơ sở khám chữa bệnh, ban hành kèm theo Quyết định số 3671/2012/QĐ-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng ngừa chuẩn trong các cơ sở khám chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
5. Bộ Y tế (2012). “ Kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Y tế (2012). “ "Kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
6. Bô Y tế (2012), Kỹ năng thực hành điều dưỡng, Nhà xuất bản Y học, tr.425- 427 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng thực hành điều dưỡng
Tác giả: Bô Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2012
7. Bộ Y tế (2013), Kỹ năng thực hành điều dưỡng, Nhà xuất bản Y học, tr. 699- 700 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng thực hành điều dưỡng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2013
8. Bộ Y tế (2014), Tài liệu đào tạo liên tục an toàn người bệnh, Cục Quản lý khám chữa bệnh, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội tr. 61-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đào tạo liên tục an toàn người bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2014
9. Phan Thị Dung và các cộng sự (2012), Đánh giá kết quả thực hiện chăm sóc vết thương của nhóm điều dưỡng tham gia chương trình đào tạo giảng dạy lâm sàng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Kỳ Hội nghị Khoa học lần thứ IV Điều dưỡng Bệnh viện Việt Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả thực hiện chăm sóc vết thương của nhóm điều dưỡng tham gia chương trình đào tạo giảng dạy lâm sàng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Tác giả: Phan Thị Dung và các cộng sự
Năm: 2012
10. Phan Thị Dung (2016), Đánh giá kết quả chương trình đào tạo chăm sóc vết thương theo chuẩn năng lực của điều dưỡng tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 2013-2015, Tạp chí Y học thực hành 99 (1)-2016 trang 200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả chương trình đào tạo chăm sóc vết thương theo chuẩn năng lực của điều dưỡng tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 2013-2015
Tác giả: Phan Thị Dung
Năm: 2016
11. Điều dưỡng Ngoại khoa (2014), Chăm sóc vết thương, những nguyên tắc cơ bản dành cho Điều dưỡng, truy cập ngày 15-01-2019, tại trang wed http://dieuduongngoai.com/cham-soc-vet-thuong-nhung-nguyen-tac-co-ban-danh-cho-dieu-duong_n58360_g785.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc vết thương, những nguyên tắc cơ bản dành cho Điều dưỡng
Tác giả: Điều dưỡng Ngoại khoa
Năm: 2014
12. Nguyễn Thị Hoan (2017), Đánh giá thực trạng thực hành quá trình thay băng vết thương sau mổ của điều dưỡng khoa ngoại và hộ sinh khoa Phụ sản bệnh viện đa khoa Đan Phượng từ 3/5/2017 đến 31/7/2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng thực hành quá trình thay băng vết thương sau mổ của điều dưỡng khoa ngoại và hộ sinh khoa Phụ sản bệnh viện đa khoa Đan Phượng từ 3/5/2017 đến 31/7/2017
Tác giả: Nguyễn Thị Hoan
Năm: 2017
13. Nguyễn Việt Hùng (2002), "Đặc điểm nhiễm khuẩn vết mổ ngoại khoa,các yếu tố nguy cơ và tác nhân gây bệnh ở các bệnh nhân phẫu thuật tại bệnh viện Bạch Mai", Công trình nghiên cứu khoa học. Tập 2, tr. 113 - 128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm nhiễm khuẩn vết mổ ngoại khoa,các yếu tố nguy cơ và tác nhân gây bệnh ở các bệnh nhân phẫu thuật tại bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Nguyễn Việt Hùng
Năm: 2002
14. Bùi Thị Huyền, Nguyễn Hoa Pháp, Chu Văn Tuyến, Hoàng Thị Huyền Trang, Trương quang Trung, Đỗ Thị Kim Oanh (2012), Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quy trình của điều dưỡng bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2012, Y học thực hành (897), số 9/2013 trang 112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quy trình của điều dưỡng bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2012
Tác giả: Bùi Thị Huyền, Nguyễn Hoa Pháp, Chu Văn Tuyến, Hoàng Thị Huyền Trang, Trương quang Trung, Đỗ Thị Kim Oanh
Năm: 2012
15. Ngô Thị Huyền (2012), Đánh giá thực hành chăm sóc vết thương và tìm hiểu một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Việt Đức năm 2012, Tạp chí y học thực hành (857), số 1/2013 trang 117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ánh giá thực hành chăm sóc vết thương và tìm hiểu một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Việt Đức năm 2012
Tác giả: Ngô Thị Huyền
Năm: 2012
17. Lê Minh Luân (2006), Nghiên cứu sử dụng kháng sinh dự phòng và một số yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ trong phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện Việt Đức Hà Nội, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng kháng sinh dự phòng và một số yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ trong phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện Việt Đức Hà Nội
Tác giả: Lê Minh Luân
Năm: 2006
18. Phạm Đức Mục (2012), Đào tạo phát triển năng lực Điều dưỡng viên, Hội điều dưỡng Việt Nam, tr.45-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo phát triển năng lực Điều dưỡng viên
Tác giả: Phạm Đức Mục
Năm: 2012
19. Nguyễn Minh Nguyệt (2018), Tìm hiểu thực hành quy trình thay băng thường quy của điều dưỡng khối ngoại tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2017, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thực hành quy trình thay băng thường quy của điều dưỡng khối ngoại tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2017
Tác giả: Nguyễn Minh Nguyệt
Năm: 2018
20. Nguyễn Mạnh Nhâm (1998), Kháng sinh và kháng sinh dự phòng trong ngoại khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kháng sinh và kháng sinh dự phòng trong ngoại khoa
Tác giả: Nguyễn Mạnh Nhâm
Năm: 1998
21. Nguyễn Thị Ninh (2005), "Tình hình nhiễm khuẩn vết mổ giữa băng và không thay băng Khoa ngoại thần kinh bệnh viện Đa khoa Bình Định ", Hội nghị khoa học Điều dưỡng toàn quốc lần thứ 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm khuẩn vết mổ giữa băng và không thay băng Khoa ngoại thần kinh bệnh viện Đa khoa Bình Định
Tác giả: Nguyễn Thị Ninh
Năm: 2005
25. Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn (2018), Báo cáo nhân lực của Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn tháng 12 năm 2018, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nhân lực của Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn tháng 12 năm 2018
Tác giả: Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn
Năm: 2018

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w